Thư viện

Đẩy mạnh giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên

(ĐCSVN)- Mỗi một giai cấp trong lịch sử, mỗi một dân tộc, một cộng đồng dù lớn, hay nhỏ đều có giá trị và chuẩn mực đạo đức riêng. Đạo đức thuộc phạm trù ý thức xã hội, cũng như các loại hình thái ý thức xã hội khác, nó được hình thành và phát triển trên một cơ sở kinh tế – xã hội nhất định và điều kiện lịch sử nhất định.

Đạo đức của giai cấp vô sản – đạo đức cộng sản – được hình thành và phát triển trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp những người lao động, giải phóng dân tộc và nhân loại khỏi áp bức, bất công. Đạo đức ấy tác động góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh đó. Lênin cho rằng đạo đức cộng sản góp phần cải tạo xã hội cũ và xây dựng một xã hội mới tốt đẹp. Trên ý nghĩa đó đạo đức mang tính cách mạng.

Nhận thức vai trò chủ động, tích cực của đạo đức, ngay khi chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, năm 1927 trong tác phẩm Đường kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đặt lên trang đầu nội dung về tư cách một người cách mệnh. Có thể coi đó là chuẩn mực đầu tiên cần có cho những ai bước vào con đường cách mạng. Tư cách ấy có 3 nhóm vấn đề: tự mình phải làm gì; đối với người phải thế nào; làm việc phải như thế nào. Trong 14 điểm tự mình phải làm gì rất đáng chú ý như: Giữ chủ nghĩa cho vững; không hiếu danh, không kiêu ngạo; nói thì phải làm; ít lòng tham muốn về vật chất; cần kiệm; vị công vong tư … Có ý nghĩa sâu sắc, bền vững. Nhiều thế hệ các chiến sĩ cách mạng, những đảng viên cộng sản đã giữ vững khí tiết cộng sản, ý chí đấu tranh trên nền đạo đức đó.

Ngay từ khi đi tìm đường cứu nước và chuẩn bị thành lập Đảng, chính Nguyễn Ái Quốc là hiện thân của những tư cách đạo đức đó. Mùa xuân năm 1930 Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam. Từ đó Đảng được trang bị lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, những tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc và cả đạo đức mới – đạo đức cách mạng.

Với thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền ở Việt Nam. Ngay sau đó, trong bộ máy chính quyền cách mạng các cấp đã xuất hiện những tiêu cực, những căn bệnh cần phải loại trừ. Trong thư gửi chính quyền các cấp ngày 17-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những căn bệnh như: Trái phép, Cậy thế, Hủ hoá, Tư túng, Chia rẽ, Kiêu ngạo. Người nhấn mạnh: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa, nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc vô cùng khó khăn gian khổ đặt ra những yêu cầu nghiêm khắc về tu dưỡng đạo đức cách mạng. Trong tác phẩm sửa đổi lối làm việc (10-1947) Chủ tịch Hồ Chí Minh nghiêm khắc chỉ ra những khuyết điểm, sai lầm của một số cán bộ, đảng viên với các bệnh tham nhũng, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, hẹp hòi địa phương chủ nghĩa, bè cánh cá nhân… Người nhấn mạnh 5 đức tính tốt cần rèn luyện đó là: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Đó là đạo đức cách mạng.
Sau ngày miền Bắc được giải phóng (1954) và tiến lên chủ nghĩa xã hội, Đảng cầm quyền đứng trước những nhiệm vụ mới mẻ, nặng nề. Điều đó đòi hỏi cán bộ, đảng viên của Đảng phải có trình độ học vấn và lý luận nhất là lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội, hiểu biết về kinh tế, nắm bắt quy luật và đặc điểm thực tiễn. Mặt khác phải tu dưỡng đạo đức nhiều hơn để khắc phục những nguy cơ của Đảng cầm quyền. Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm quan trọng: Đạo đức cách mạng. Người nêu rõ, đạo đức cách mạng là: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”.

Ngày 3-2-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Người cho rằng: “Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”. “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và kỷ luật”. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ.

Trong bản Di chúc lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Làm theo Di chúc của Người, trong công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn chú trọng đổi mới, chỉnh đốn Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Quan điểm nhất quán của Đảng là coi trọng đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đảng viên cả về đức và tài trong đó đức là gốc.

Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam (4-2006) nhấn mạnh nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng nhằm đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Nội dung xây dựng, đổi mới, chỉnh đốn Đảng được Đại hội đề cập toàn diện từ nâng cao trình độ trí tuệ, lý luận, bản lĩnh chính trị đến đổi mới tổ chức, bộ máy, công tác cán bộ, từ thực hiện tốt nhất những nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng đến kiện toàn và đổi mới tổ chức hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, từ đổi mới phương thức lãnh đạo đến nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Chất lượng đội ngũ đảng viên thể hiện ở trình độ học vấn, hiểu biết lý luận, ở năng lực tổ chức thực tiễn, năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, ở khả năng, trình độ chuyên môn cao và ở phẩm chất, đạo đức tốt. Rèn luyện về phẩm chất đạo đức, nâng cao đạo đức cách mạng trở thành yêu cầu và nội dung rất quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đại hội X cũng thẳng thắn chỉ ra rằng “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ công chức diễn ra nghiêm trọng”.

Để khắc phục tình trạng đó, đẩy mạnh công tác xây dựng, đổi mới, chỉnh đốn Đảng, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã và đang kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, tệ quan liêu, vô cảm, vô trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức. Từ ngày 1-6-2006 Luật Phòng, chống tham nhũng, lãng phí có hiệu lực, là cơ sở pháp lý quan trọng để chống tham nhũng, lãng phí có hiệu quả. Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X (7-2006) đã ra nghị quyết Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Trung ương Đảng nhấn mạnh quan điểm, vừa tích cực, chủ động phòng ngừa, vừa kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, trong đó phòng ngừa là chính. Làm sao để tệ nạn tham nhũng, lãng phí bị đẩy lùi, không còn diễn ra nữa. Đó là mong muốn của toàn Đảng, toàn dân. Các giải pháp cơ bản đã được đề ra. Trong các giải pháp đó, vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên là rất quan trọng và cần thiết và phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, sâu sắc.

Ngày 7-11-2006 Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 06-CT/TƯ về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Toàn Đảng thực hiện Chỉ thị đó với đợt sinh hoạt chính trị học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh từ ngày 3-2-2007. Hồ Chí Minh không chỉ nêu ra những nội dung, tiêu chuẩn của đạo đức cách mạng để mọi đảng viên, cán bộ phấn đấu, rèn luyện, mà chính Người là hiện thân và nêu tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng.

Đạo đức Hồ Chí Minh trước hết là Người đã suốt đời “hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”, là tận trung với nước, tận hiếu với dân. Độc lập cho Tổ quốc, hạnh phúc cho đồng bào là mục tiêu phấn đấu của Người. Ham muốn tột bậc của Người là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Một ngày mà đất nước chưa độc lập, thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày Bác ăn không ngon, ngủ không yên. Người đau nỗi đau của nhân dân, vui niềm vui và hạnh phúc của nhân dân. Yêu nước, thương dân, một lòng tận tụy vì nước, vì dân, mở lòng mình hoà vào cuộc sống của nhân dân.

Đạo đức Hồ Chí Minh là ý chí, nghị lực vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, chấp nhận mọi hiểm nguy với niềm tin vào tương lai của cách mạng, của đất nước, dân tộc, tin vào con người. Đó là một con người mà uy vũ không thể khuất phục, gian khó chẳng thể chuyển lay, vật chất không thể cám dỗ. Ở Hồ Chí Minh sáng ngời lý tưởng cộng sản, phấn đấu cho một xã hội tốt đẹp, công bằng, căm ghét những gì xấu xa, hư hỏng. Người kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, vì chủ nghĩa cá nhân là nguồn gốc của mọi tiêu cực và những căn bệnh xấu, chủ nghĩa cá nhân làm tha hoá con người:
Hồ Chí Minh đã sống “một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”. Người là hiện thân của lòng nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, của “muôn vàn tình thân yêu” để lại cho muôn đời con cháu. Người là bậc đại trí, đại nhân, đại dũng nhưng lại vô cùng khiêm tốn, giản dị, càng vĩ đại vì giản dị. Người luôn luôn sống như một người bình thường, hoà đồng, gần gũi với nhân dân và không chấp nhận bất cứ một đặc ân, đặc quyền, đặc lợi gì cho riêng mình, không ham danh lợi, chức vụ, tiền tài. Hồ Chí Minh không có của cải, tài sản riêng và trên ngực không một tấm Huân chương, “một đời thanh bạch chẳng vàng son”.

Hồ Chí Minh là mẫu mực về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Suốt đời Người học tập và làm việc không mệt mỏi để phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Trí tuệ Hồ Chí Minh là kết quả của sự học tập, nghị lực tự học phi thường, học từ thực tiễn, từ sách vở, từ giá trị văn hoá của dân tộc và nhân loại. Người vừa lao động vừa hoạt động cách mạng. Khi ở cương vị lãnh đạo cao nhất vẫn tiết kiệm từng đồng tiền, hạt gạo, từng mẩu giấy, mẩu bút chì, tranh thủ từng phút, từng giờ cho công việc. Ở Hồ Chí Minh là sự công minh, chính trực, không thiên tư, thiên vị, đồng thời chứa chan tình yêu thương đối với gia đình, họ hàng, quê hương, xứ sở, một con người trung hiếu vẹn toàn.

Đạo đức Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa nói và làm. Người coi trọng công việc thực tế mà nói ít. Đã nói là phải làm. Người trân trọng, khích lệ những điều tốt đẹp những gương người tốt việc tốt. Người phê phán thói ba hoa, nói suông, hứa suông mà không làm hoặc nói hay mà làm dở, nói một đằng làm một nẻo. Người kết hợp mật thiết giữa lý luận với thực tiễn, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn Việt Nam và luôn luôn tổng kết thực tiễn để trở thành lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên ý nghĩa đó, đạo đức đúng như Lênin nói đã góp phần cải tạo, đẩy lùi cái xấu và xây dựng một xã hội tốt đẹp.

Học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh chắc chắn làm cho Đảng ta, Nhà nước ta mạnh lên, chế độ ta và mỗi con người tốt đẹp thêm lên và tin rằng sẽ ngăn chặn, đẩy lùi được tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và mọi thói hư, tật xấu khác làm cho công cuộc đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa có thêm nhiều thành tựu mới, thực hiện thành công nguyện ước của Bác Hồ.

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc

dalat.gov.vn

Nói thật, làm thật để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên

Những ngày áp Tết Nhâm Thìn vừa qua, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng đã ban hành Nghị quyết: Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay và các bài phát biểu khai mạc, bế mạc Hội nghị của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thu hút sự quan tâm đặc biệt, sự kỳ vọng lớn lao của toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta.

Từ khi  thành lập đến nay, Ðảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta đứng lên đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, giành chính quyền, thiết lập Nhà nước dân chủ nhân dân, tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thống nhất đất nước, đưa đất nước ta từng bước tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Ðảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Quá trình lãnh đạo cách mạng biết bao thăng trầm, lúc thuận lợi, lúc khó khăn, lúc thành công, có lúc vấp phải những khuyết điểm sai lầm, nhưng Ðảng ta đã dũng cảm nhận rõ những sai lầm ấy và được nhân dân tha thứ, bởi vì Ðảng ta trước sau như một tuyệt đối trung thành với dân tộc với giai cấp (như trong cải cách ruộng đất hoặc sau năm 1975…). Ðại hội Ðảng lần thứ VI với sự chuyển biến mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới, Ðảng ta mở ra một bước ngoặt xây dựng đất nước trong hòa bình, với những tiền đề mới để đến Ðại hội lần thứ VII đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Và từ đó, qua năm kỳ Ðại hội, đến Ðại hội XI, Cương lĩnh 91 được bổ sung và phát triển. Trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo chiến lược; hoạch định đường lối, xây dựng củng cố đội ngũ, Ðảng đã làm nhiều việc với nhiều quyết định đúng đắn cho nên đất nước ta, dân tộc ta ngày càng phát triển, được nhân dân ta và bạn bè thế giới khâm phục. Tuy nhiên, đánh giá về sự phát triển và sự trưởng thành của Ðảng, đối chiếu với bản chất Ðảng, yêu cầu nhiệm vụ cách mạng đang diễn ra trong nước và trên thế giới thì còn những khuyết điểm, thậm chí có những khuyết điểm nghiêm trọng, nổi lên là công tác xây dựng Ðảng chưa tương xứng với vị trí, vai trò của một đảng cách mạng tiền phong cầm quyền.

Phải nói ngay rằng những vấn đề Nghị quyết nêu lên là rất đúng, rất trúng, vì tình hình thực tế trong Ðảng ta, nếu tính từ năm 1991 đến nay không lúc nào Ðảng  không đề cập vấn đề xây dựng, củng cố đảng, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Ðảng: Hội nghị Ðại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Ðảng tháng 1-1994, Ðảng ta đã chỉ ra bốn nguy cơ lớn đe dọa tới sự tồn vong của Ðảng và chế độ ta, trong đó tình trạng suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, cửa quyền thiếu ý thức phục vụ nhân dân của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là nguyên nhân bên trong làm cho bộ máy Ðảng và Nhà nước suy yếu, niềm tin của nhân dân đối với Ðảng, với chế độ bị xói mòn. Ðến văn kiện các Ðại hội VIII, IX, X, XI những vấn đề này tuy có thực hiện, có thu được những kết quả nhưng tình hình chuyển biến rất chậm, một số mặt còn có những diễn biến phức tạp và nghiêm trọng hơn. Ngay Văn kiện Ðại hội XI của Ðảng cũng nêu: “tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp”, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Ðảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định và phát triển của đất nước. Trong nội bộ Ðảng, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp.

Tình trạng tiêu cực hiện nay trong Ðảng đang diễn ra đúng như Nghị quyết đề cập. Chúng ta không thể xem thường, đó là vấn đề cấp bách nhất phải tập trung giải quyết và phải giải quyết cho bằng được. Mục tiêu, phương châm và các giải pháp thực hiện được xác định trong Nghị quyết là đầy đủ. Có nghĩa là Nghị quyết T.Ư 4 đã xem mạch bắt đúng bệnh, kê đúng đơn thuốc. Vấn đề còn lại là có dám uống thuốc đắng để chữa bệnh hay không. Có theo phác đồ điều trị là bệnh nào thuốc nấy, đau ở đâu chữa ở đó hay không? Ðau ở não bộ, lại chữa ở chân tay là sai, hậu quả sẽ khôn lường.

Chúng ta cần phải làm rõ: Sự suy thoái về tư tưởng chính trị là gì? Nghiêm trọng đến mức nào? Tôi cho rằng, BCH T.Ư, trước hết là Bộ Chính trị, Ban Bí thư và đội ngũ cán bộ chủ chốt của các Ðảng bộ trực thuộc Trung ương cần tự phê bình và phê bình để làm rõ có hay không có sự mơ hồ, dao động về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta? Có hay không tình trạng nói và viết thì tỏ ra kiên định mục tiêu và con đường đi lên CNXH; vững vàng trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng khi lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối thì làm ngược lại. Từ đó, cần phải soi rọi mọi chủ trương, chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội đã đề ra, đã thấm nhuần đến đâu bản chất tốt đẹp của CNXH mà toàn Ðảng, toàn dân ta đang xây dựng? Sự suy thoái về tư tưởng chính trị trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, như Nghị quyết T.Ư đề cập dẫn đến sự suy thoái trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống. Phải chăng đó là sự suy thoái từ ý thức hệ, là sự phai nhạt lý tưởng XHCN. Làm gì và làm thế nào để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, tiếp tục kiên định con đường phát triển đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH mà Cương lĩnh 1991 đã xác lập và được bổ sung, phát triển năm 2011?

Sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên với các biểu hiện phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc là tàn dư của chế độ phong kiến. Ðảng ta vẫn thường xuyên đấu tranh ngăn chặn, nhưng làm chưa đến nơi đến chốn. Do vậy, căn bệnh cá nhân chủ nghĩa đã trở nên trầm trọng ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Do quyền lực chi phối dẫn đến tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy huân chương, chạy tội… Quyền và tiền tài gắn liền với nhau. Tiền tài, danh lợi đã biến cán bộ, đảng viên thoái hóa thành tù binh của nó. Vậy làm gì và làm thế nào để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp?

Về mặt tổ chức, Ðảng xác định nguyên tắc tập trung dân chủ; tự phê bình và phê bình là nguyên tắc tối thượng của một Ðảng kiểu mới, nhờ đó Ðảng ta đã vượt qua mọi thử thách, thật sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân, mới phòng tránh được bệnh cá nhân chủ nghĩa, quan liêu xa rời quần chúng, mới phát huy được dân chủ, Ðảng ngày càng vững mạnh trong sạch. Bác Hồ đã nói, trong Ðiều lệ Ðảng đã xác định như vậy. Trong mỗi con người đảng viên vẫn có hai mặt – mặt tích cực là chủ yếu, là cơ bản nhưng có cả mặt tiêu cực, tùy ở động cơ giác ngộ lý tưởng, ở sự rèn luyện trong thực tiễn cuộc sống mà mức độ tích cực hoặc tiêu cực cao hay thấp, ít hay nhiều, chính vì vậy mà Ðảng ta lấy tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển. Nếu như trong từng tổ chức và trong mỗi cá nhân đều nhận thức đúng và nghiêm túc chấp hành các nguyên tắc trên thì sức chiến đấu của Ðảng ngày càng cao, những tiêu cực sẽ được khắc phục hiệu quả, chủ nghĩa cá nhân không thể làm mục ruỗng được nhân cách của người cách mạng.

Trong quá trình tham gia cách mạng, mỗi tổ chức, mỗi đảng viên đều được Ðảng phân công nhiệm vụ công tác nhất định, khi thực hiện có ưu điểm, có khuyết điểm, có đúng có sai, tất nhiên đúng nhiều hơn, không thế thì làm sao cách mạng phát triển và có được thành quả như ngày nay, ta có quyền tự hào nhưng không được chủ quan, tự mãn. Thấy sai phải nghiêm chỉnh khắc phục. Người đảng viên chân chính là người biết nghe lời nói thẳng, biết nghiêm túc nhìn ra cái sai của mình và quyết tâm khắc phục, gần gũi nhân dân, học tập dân, nếu xa dân, xa thực tiễn, xa phong trào cách mạng thì người đó không phải là người đảng viên chân chính.

Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình hiện nay, có hiện tượng chỉ nói cái hay và nói đi nói lại, còn cái dở thì cứ giấu và giấu thật kỹ, né tránh, có khi ở dưới báo cáo lên, nhưng rồi để vào “im lặng đáng sợ”, “tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lạiể. Cho nên đã nói đến vấn đề cấp bách thì phải có biện pháp cấp bách để giải quyết, nói là củng cố, chấn chỉnh thì mọi người đảng viên phải tự “củng cố, tự chấn chỉnh” mình trước. Tự phê bình và phê bình như là người rửa mặt; là đảng viên, kể cả đảng viên thường hay đảng viên cấp cao trước hết mình phải nhìn lại mình, cái gì ưu thì phát huy, cái gì khuyết điểm thì sửa chữa. Ðồng thời phải giúp đồng chí mình sửa chữa, có ưu thì mình nói cho đồng chí biết, có khuyết thì giúp cho đồng chí nhận ra.

Ðối với tổ chức thì phải tôn trọng giữ vững và chấp hành nguyên tắc một cách triệt để, từ đảng viên thường cho đến các đồng chí lãnh đạo cấp cao, mà trước hết phải từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành T.Ư Ðảng – Bộ Tham mưu tối cao của Ðảng, vì đây là một Ðảng duy nhất cầm quyền, Bộ Tham mưu tối cao ở đây là Ban Chấp hành Trung ương trong đó Bộ Chính trị phải là mẫu mực thực thi những nguyên tắc này. Bản thân Trung ương cũng như các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải làm rõ vì sao tình hình suy thoái trong Ðảng kéo dài và khắc phục mãi chưa được? Trách nhiệm của Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư như thế nào, đã rút ra được những kết luận gì, bài học gì về tình hình Ðảng hiện nay và biện pháp khắc phục ra sao?

Ðảng ta là Ðảng duy nhất cầm quyền, cho nên dù chỉ là một vài hiện tượng cá biệt hoặc một bộ phận không nhỏ suy thoái nhưng mà tính chất nghiêm trọng và tác hại của nó ảnh hưởng lớn đến uy tín của toàn Ðảng, đến vị trí, vai trò của đảng  cầm quyền, nhất là những đảng viên giữ trọng trách cao trong Ðảng, trong bộ máy Nhà nước mà hư hỏng thì tác hại sẽ rất lớn. Một đảng viên ở dưới thôn mà hư hỏng thì chỉ ảnh hưởng đến thôn đó, còn một người đứng đầu tổ chức đảng, đứng đầu một cơ quan nhà nước, thì ảnh hưởng đến cả quốc gia, dân tộc. Nghĩa là tính chất, tác hại sẽ khác nhau. Cho nên trong tự phê bình, phê bình, cấp trên phải làm gương trước “trên trước dưới sau”, “đã tắm thì phải biết gội đầuể. Tôi đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân chủ trong Ðảng. Bác Hồ đã căn dặn “Trong Ðảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Ðảngể. Chúng ta chưa làm được bao nhiêu so với những điều Bác đã căn dặn. Ở cấp chiến lược, cần phải trả lời câu hỏi các chủ trương, đường lối chính sách do Ðảng ban hành đã thật sự là kết tinh trí tuệ của tập thể chưa? Chúng ta đã thật sự dân chủ trong tự phê bình và phê bình chưa hay chỉ là hình thức, không thực chất do sợ bị trù dập. Làm thế nào để thực hành dân chủ rộng rãi trong hoạch định đường lối, chính sách; dân chủ trong tự phê bình và phê bình; dân chủ trong việc bố trí, sắp xếp cán bộ một cách công khai, minh bạch? Vậy nên Trung ương Ðảng phải có những kế hoạch thật cụ thể để thực hiện nghiêm túc các vấn đề đã nêu trên.

Về xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng. Tôi cho rằng, vấn đề then chốt để thực hiện tốt nhiệm vụ này là ở chỗ phải xây dựng các quy chế, quy định phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu để khuyến khích đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Ðồng thời ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện độc đoán chuyên quyền, thiếu trách nhiệm trước Ðảng, trước dân; tình trạng tranh công đổ lỗi cho nhau của không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Khi nói đến việc củng cố, chỉnh đốn Ðảng, trong Di chúc Bác Hồ có nói, sau chiến tranh việc trước tiên là củng cố lại Ðảng. Chúng ta đã làm theo di huấn của Bác Hồ về vấn đề này, nhưng làm chưa đến nơi đến chốn, cho nên những tiêu cực trái với bản chất cách mạng của Ðảng vẫn đang hoành hành trong nội bộ Ðảng ta. Khi nói đến củng cố Ðảng hoặc chỉnh đốn Ðảng thì người đảng viên của Ðảng từ cấp cao đến cơ sở, người đảng viên trước hết phải tự rà soát mình, củng cố mình, cái tốt thì phát huy, cái xấu thì phải gột rửa cho bằng được. Về tổ chức thì từ chi bộ, đảng bộ, xã, huyện, tỉnh, thành phố, trung ương, Ban cán sự đảng các cấp… tự mình cũng phải chỉnh đốn bản thân mình. Làm như thế là đúng bài bản. Nhưng tình hình Ðảng ta lúc này phải tập trung làm trước hết cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành. Trung ương phải phất cao ngọn cờ tự chỉnh đốn, tự củng cố bản thân mình; trong đó Bộ Chính trị đi tiên phong, đối chiếu với nguyên tắc tổ chức của Ðảng, với chức năng, trọng trách của cấp Trung ương, của Bộ Chính trị, của Ban Bí thư để soi rọi vào công việc mình đã làm, đang làm; mối quan hệ với quần chúng nhân dân, quan hệ trong nội bộ Ðảng; xem xét tinh thần tự phê bình và phê bình, tính chiến đấu của mỗi thành viên đã cao chưa hay là có gì nể nang, dĩ hòa vi quý như nhận định trong Văn kiện Ðại hội XI của Ðảng.

Sau một thời gian tiến hành tự phê bình và phê bình, củng cố chấn chỉnh trong nội bộ, Trung ương sẽ rút kinh nghiệm triển khai xuống cấp tỉnh. Làm tốt ở hai cấp này sẽ thông báo kết quả đến toàn Ðảng, toàn dân, đồng thời cũng là gắn với việc chuẩn bị Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ XII.

Chúng ta đã nhiều lần xây dựng, củng cố, chỉnh đốn Ðảng, những kết quả thu được đã thúc đẩy đất nước phát triển và củng cố niềm tin của nhân dân, nhưng những hạn chế khuyết điểm trong Ðảng chậm được khắc phục cũng ảnh hưởng rất lớn đến lòng tin của dân và lòng tin của chính ngay trong nội bộ Ðảng. Vì vậy, lần này Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy phải tiên phong đi trước trong xây dựng củng cố Ðảng, nếu làm tốt, thành công thì niềm tin của toàn Ðảng và nhân dân sẽ nâng lên, nếu làm không tốt, làm nửa vời thì tác hại sẽ rất lớn, không thể lường hết được.

Hơn lúc nào hết, toàn Ðảng ta, từ Trung ương đến chi bộ, mọi cán bộ, đảng viên nghiêm túc tự phê bình và phê bình với tinh thần “Phải trái phân minh, nghĩa tình trọn vẹn” để giải quyết thật tốt những vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng đã được Nghị quyết T.Ư 4 đề ra.

Tôi hoan nghênh Báo Nhân Dân mở chuyên mục “Những việc cần làm ngay về xây dựng Ðảng” và kêu gọi đồng chí, đồng bào cả nước tích cực tham gia chuyên mục này để hiến kế, hiến công xây dựng Ðảng ta ngày càng trong sạch, ngày càng vững mạnh.

LÊ KHẢ PHIÊU
Nguyên Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng

nhandan.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đảng viên

Vấn đề phát triển Đảng là vấn đề quan trọng trong xây dựng Đảng. Quan điểm, tư tưởng của Người về vấn đề này có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định Đảng “cũng ở trong xã hội”. Đảng là một cơ thể sống, tồn tại và phát triển theo quy luật khách quan, có hấp thụ, có đào thải. Đảng phải có một số lượng đảng viên nhất định mới hình thành nên tổ chức đảng. Sự nghiệp lãnh đạo cách mạng của Đảng là sự nghiệp vĩ đại lâu dài phải do nhiều thế hệ chiến sĩ cộng sản tham gia gánh vác. Đảng phải liên hệ mật thiết với quần chúng, phải không ngừng nâng cao chất lượng lãnh đạo, sức chiến đấu tương xứng với đòi hỏi khách quan của tình hình nhiệm vụ cách mạng. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu chỉ có thể có trên cơ sở số lượng, chất lượng đội ngũ đảng viên tương ứng. Do đó, Đảng phải thường xuyên làm tốt công tác phát triển đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích: “Nếu Đảng ta không biết chọn lọc, kết nạp, đề bạt đồng chí mới thì đâu có như ngày nay”(1). Người vạch rõ tính tất yếu, yêu cầu, phương châm, phương pháp của công tác phát triển đảng: “Để làm tròn nhiệm vụ rất nặng nề nhưng rất vẻ vang… Đảng phải phát triển tổ chức của mình một cách thận trọng, vững chắc và rộng rãi trong quần chúng”(2).

Tư tưởng quán xuyến trong quan điểm của Hồ Chí Minh về phát triển Đảng là “coi trọng chất lượng”. Người dạy rằng, Đảng mạnh không phải chỉ do số lượng đảng viên quyết định; số lượng đảng viên chỉ trở thành sức mạnh một khi nó đạt những yêu cầu về chất lượng. Theo Người, nếu không quán triệt và thực hiện đúng đắn vấn đề có tính nguyên tắc đó, thì dù có kết nạp được nhiều đảng viên, dù số lượng đảng viên tăng, vẫn không làm cho tổ chức đảng mạnh lên mà trái lại có khi còn làm cho tổ chức đảng trở nên lỏng lẻo, biến Đảng thành câu lạc bộ, không làm tròn vai trò người lãnh đạo. Do vậy, Người luôn nhắc nhở: “Đảng không phải chỉ cần số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên”(3). Người đặc biệt nhấn mạnh khi tiến hành phát triển đảng “phải nắm vững phương châm phát triển Đảng là trọng chất hơn lượng”(4).

Ngày nay, đất nước ta bước vào thời kỳ hội nhập, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Thắng lợi của sự nghiệp này gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo và hoạt động của Đảng. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định tạo nên những thành tựu đổi mới to lớn hơn. Điều đó đòi hỏi Đảng hơn bao giờ hết phải tiếp tục nâng cao phẩm chất cách mạng và khoa học, không ngừng củng cố sức mạnh chiến đấu, lãnh đạo có kết quả công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong những tình huống mới hết sức phức tạp. Yêu cầu xây dựng Đảng ngang tầm đòi hỏi của thời kỳ mới đặt ra cho công tác phát triển đảng những yêu cầu mới. Để quán triệt và thực hiện đúng đắn những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo chúng tôi, cần tập trung làm tốt mấy vấn đề sau:

Một là, phải xác định và vận dụng đúng đắn tiêu chuẩn đảng viên. Đây là vấn đề then chốt. Tiêu chuẩn đảng viên là những chuẩn mực phản ánh bản chất của người đảng viên, là căn cứ để phân biệt sự khác nhau giữa người đảng viên với quần chúng, là cơ sở để cho từng đảng viên tự tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện và là căn cứ để thu nạp những quần chúng tốt vào Đảng, loại bỏ những đảng viên thoái hoá ra khỏi Đảng. Tiêu chuẩn đảng viên trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ cách mạng biểu hiện tuy có khác nhau, song bản chất của nó không hề thay đổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những tiêu chuẩn cơ bản thể hiện bản chất đó:

“Từ nay về sau, tất cả các đảng viên, cán bộ và chi bộ cần thường xuyên ôn lại, tự liên hệ và giữ cho đúng những tiêu chuẩn của người đảng viên.

1. Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

2. Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa những tư tưởng sai lầm, kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong chân ngoài.

3. Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Biết đem lợi ích riêng, lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng.

4. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết và đường lối của Đảng.

5. Liên hệ chặt chẽ với quần chúng.

6. Luôn luôn cố gắng học tập, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình”(5).

Khi vận dụng tiêu chuẩn đảng viên để xem xét kết nạp quần chúng vào Đảng, Người căn dặn các tổ chức đảng phải đặc biệt quan tâm đến sự giác ngộ, lòng trung thành, thái độ trách nhiệm với Đảng, với nhân dân của người xin vào Đảng, Người nhấn mạnh: “Gọi là đảng viên thì phải nhận rõ, phải biết rõ Đảng ta phải làm gì, vào Đảng để làm gì”(6).

Hai là, phải thực hiện tốt phương hướng phát triển đảng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phương hướng phát triển Đảng là yếu tố quan trọng đảm bảo cho công tác phát triển đảng có chất lượng, giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng.

Trong khi khẳng định phải coi trọng việc phát triển Đảng trong công nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng không nên hẹp hòi với các thành phần lao động khác. Theo Người, nếu những người xuất thân từ các thành phần lao động khác đó tự nguyện rèn luyện tư tưởng, lập trường giai cấp công nhân, muốn đứng trong hàng ngũ của Đảng để phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, xét thấy có đủ điều kiện thì kết nạp vào Đảng. Có như vậy mới thường xuyên tăng thêm nguồn sinh lực và sức chiến đấu mới cho Đảng, tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Vì vậy, Đảng phải chú trọng phát triển toàn diện vào các vùng, các ngành, các giới, đặc biệt đẩy mạnh việc phát triển Đảng vào thanh niên, phụ nữ, vào các vùng xung yếu, các cơ sở còn ít đảng viên.

Ba là, phát triển Đảng phải tích cực, thận trọng, phát triển phải luôn luôn đi đôi với củng cố. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu các tổ chức đảng phải có kế hoạch phát triển Đảng trong từng thời kỳ, bảo đảm đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng của Đảng; phải tiến hành thật tích cực, chủ động, không bị động, ỷ lại ngồi chờ người có đủ điều kiện rồi kết nạp theo lối ăn sẵn, phải gây dựng, đẩy mạnh phong trào cách mạng để trên cơ sở đó mà phát hiện, tìm hiểu, tuyên truyền, giáo dục và rèn luyện các phần tử tích cực, nâng cao dần trình độ của họ từ thấp đến cao, tạo cho họ có đủ điều kiện trở thành người đảng viên. Khi xét kết nạp người vào Đảng, phải xem xét toàn diện cả trình độ giác ngộ, động cơ vào Đảng, cả phẩm chất đạo đức và năng lực hành động thực tế, cả lý lịch gia đình, bản thân và uy tín trước quần chúng…; phải xem xét sự rèn luyện, tu dưỡng và kết quả hoàn thành nhiệm vụ trong một quá trình liên tục với những đều kiện, hoàn cảnh và những thử thách khác nhau; phải thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc, thủ tục kết nạp đảng, hết sức cảnh giác đề phòng các phần tử thù địch, cơ hội chui vào Đảng. Chống giản đơn, phiến diện, chạy theo chỉ tiêu số lượng, kết nạp ẩu, hoặc vin vào thận trọng sinh ra rụt rè, bảo thủ, hẹp hòi, cục bộ.

Phát triển Đảng phải luôn luôn đi đôi với củng cố đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đây là hai vấn đề của xây dựng Đảng, có quan hệ hữu cơ với nhau. Củng cố Đảng tốt là điều kiện để tiến hành phát triển Đảng có chất lượng. Phát triển Đảng có chất lượng là cơ sở để củng cố Đảng tốt hơn. Do đó, cấp ủy đảng cần phải xem công tác củng cố và phát triển đảng là một công tác quan trọng và thường xuyên. Phải coi trọng giáo dục rèn luyện đội ngũ đảng viên để mỗi đảng viên vừa là “người lãnh đạo” vừa là “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, là tấm gương để quần chúng ngưỡng mộ, muốn vào Đảng, được là đồng chí của những người tiên tiến. Đồng thời, kiên quyết loại ra khỏi Đảng những phần tử thoái hoá, biến chất.

Bốn là, thực hiện tốt các bước phát triển Đảng. Phát triển Đảng là quá trình lựa chọn, chuyển hoá những quần chúng ưu tú trong đấu tranh cách mạng thành những chiến sĩ cộng sản, quá trình đó chỉ đạt hiệu quả cao khi nó được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ.

– Bước thứ nhất là thông qua phong trào cách mạng của quần chúng, phát hiện, lựa chọn đưa vào nguồn phát triển Đảng những quần chúng ưu tú “có lịch sử chính trị rõ ràng”, “đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong việc đấu tranh”, “liên lạc mật thiết với quần chúng”, tin tưởng vào Đảng và có nguyện vọng muốn gia nhập Đảng để phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Việc tạo nguồn phát triển Đảng do tổ chức có thẩm quyền quyết định, dựa trên cơ sở phát hiện, giới thiệu của đảng viên, tổ đảng và tổ chức quần chúng của Đảng.

– Bước thứ hai là tuyên truyền, giác ngộ, giáo dục, rèn luyện, thử thách. Nội dung giáo dục, rèn luyện phải toàn diện, cả phẩm chất và năng lực, cả chính trị, đạo đức và nghiệp vụ chuyên môn, trong đó “lấy đức làm gốc”. Phương pháp cơ bản để giáo dục, chuyển hoá quần chúng là: Động viên quần chúng tự giác, rèn luyện theo tiêu chuẩn đảng viên; đồng thời, thông qua hoạt động sản xuất, đấu tranh cách mạng và bằng giáo dục, thuyết phục, nêu gương, tự phê bình và phê bình trong các đoàn thể cách mạng mà cảm hoá, xây dựng, nâng dần trình độ giác ngộ của quần chúng từ thấp lên cao, từ giác ngộ dân tộc đi đến giác ngộ giai cấp, từ tán thành những chủ trương, chính sách của Đảng đi đến ủng hộ, đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và tự nguyện xin gia nhập Đảng.

– Bước thứ ba là kết nạp quần chúng vào Đảng theo đúng thủ tục mà Điều lệ Đảng đã quy định.

– Bước thứ tư là tiếp tục bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện đảng viên mới và làm đúng, đủ các thủ tục chuyển đảng viên dự bị thành đảng viên chính thức.

Để thực hiện có hiệu quả quy trình trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn các tổ chức đảng phải có kế hoạch, có kiểm tra, đôn đốc và thường xuyên tổng kết đúc rút kinh nghiệm. Đồng thời, phải gắn kết hoạt động phát triển Đảng với các hoạt động xây dựng đảng, xây dựng đơn vị và thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các ngành, các giới, các lực lượng tham gia xây dựng, phát triển Đảng n

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 10, tr.467. (2) Sđd, tập 10, tr.20,21. (3) Sđd, tập 12, tr.222. (4) Sđd, tập 11, tr.155. (5) Sđd, tập 10, tr.69. (6) Sđd, tập 12, tr.221.

Trần Thông
Học viện Chính trị quân sự Bắc Ninh

xaydungdang.org.vn

Hồ Chí Minh về nhân cách cán bộ cách mạng

Hồ Chí Minh am hiểu rất sâu sắc về con người, tâm lý con người và vận dụng một cách khoa học vào việc giáo dục, đào tạo người cán bộ cách mạng nhằm giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn của đất nước. Theo Người, đức tài là hai mặt không thể thiếu ở người cán bộ cách mạng. Người lý giải một cách giản dị, dễ hiểu nhưng sắc sảo, khoa học về mối quan hệ giữa tài và đức: “Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người”(1). Bàn về giáo dục, phát triển nhân cách cho một con người, Người chỉ rõ dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng, nếu không có đạo đức cách mạng “thì có tài mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(2). Khi nói đến đức và tài, Người thường gắn với người cán bộ, không nói đức tài chung chung.

Người tóm tắt đạo đức cách mạng gồm năm điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm trong đó Người nhấn mạnh:

Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân; sẵn lòng chịu cực khó trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ; không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền. Những người đã không ham, không e, không sợ thì việc gì là việc phải, họ đều làm được.

Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy; Đảng, Nhà nước giao cho việc, thì bất kỳ việc to nhỏ, đều ra sức làm; thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn.

Trí đầu óc trong sạch, sáng suốt vì không có việc tư túi làm mù quáng. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người. Biết xét việc. Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, cho nước, cho dân, biết vì Đảng mà cân nhắc người tốt, đề phòng người gian.

Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những vinh hoa, phú quý không chính đáng. Nếu cần, có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.

Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không ham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình.

Năm đức tính ấy phải gắn kết chặt chẽ tạo nên nhân cách người cán bộ cách mạng của Đảng. Người cán bộ không chỉ có đức mà còn phải có tài. Tài được Người cụ thể hoá và gắn liền với từng người cán bộ, từng loại hoạt động cụ thể. Người nói: “Ngay nay, Đảng yêu cầu cán bộ và đảng viên chẳng những thành thạo về chính trị mà còn phải giỏi về chuyên môn”(3). Theo Người, năng lực cán bộ phải được phát triển toàn diện. Người nói: “Quân nhân phải võ, phải biết văn, võ là như tay phải, văn là như tay trái của quân nhân. Biết võ, biết văn, mới là quân nhân hoàn toàn”(4). Người chỉ rõ, khi sử dụng cán bộ, phải biết năng lực của họ là để giao việc cho phù hợp. Người nói: “Nếu dùng không đúng, người giỏi nghề thợ mộc thì giao cho việc thợ rèn, người giỏi nghề rèn thì giao cho việc thợ mộc, như thế thì hai người đều thất bại cả hai”(5)… “Thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao. Thành thử hai người đều lúng túng. Nếu biết tuỳ tài mà dùng người, thì hai người đều thành công”(6). Người luôn nhắc nhở phải biết rõ từng người, từng mặt, mạnh yếu ở một người, mà giao nhiệm vụ cho phù hợp. “Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc”(7).

Hồ Chí Minh chỉ rõ: Người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng cong đều tuỳ chỗ mà dùng được. Biết được mặt mạnh, mặt hạn chế ở một người, giúp họ phát huy mặt mạnh, khắc phục mặt hạn chế, sử dụng đúng năng lực của họ thì bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào, hoạt động của họ cũng đạt hiệu quả, hiệu suất cao.

Hồ Chí Minh chú trọng cả năng lực nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn. Luôn coi trọng kết hợp lý luận với thực tiễn. Người chỉ rõ: “Chỉ thực hành mà không có lý luận cũng như có một mắt sáng, một mắt mù”(8). Người đồng thời nhấn mạnh yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển năng lực là yếu tố xã hội, trong đó giáo dục đào tạo và điều kiện hoạt động là yếu tố cơ bản nhất, quyết định nhất: “năng lực của người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có mà một phần lớn do công tác, do tập luyện mà có”(9). Trong khi chỉ rõ vai trò to lớn của giáo dục đào tạo đối với sự phát triển năng lực, Người đặc biệt đề cao tính tích cực, chủ động trong học tập, rèn luyện cảa mỗi người, luôn nhắc nhở mọi người cố gắng, không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao năng lực bản thân. Người chỉ rõ học phải gắn liền với hành, với thực hiện nhiệm vụ được giao, học để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Mỗi người tự rèn luyện, học tập nâng cao phẩm chất, năng lực của mình cũng đồng thời góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức mạnh chiến đấu của Đảng trong công cuộc đổi mới và hội nhập hiện nay.

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 9, tr.172. (2) Hồ Chí Minh về kinh tế và quản lý kinh tế, NXB Thông tin lý luận, 1990, tr.90. (3) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 10, tr.313. (4,5,6,7,8,9) Sđd, tập 5, tr.588, 633, 274, 276, 280.

Trần Thông
Học viện Chính trị quân sự, Bắc Ninh

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân là một trong những di sản lý luận quan trọng nhất mà Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Đó là một hệ thống lý luận, nguyên tắc với những nội dung phong phú, từ việc xác định vai trò lãnh đạo của Đảng đến quy luật ra đời; từ tư cách đảng viên cho đến những yêu cầu xây dựng đảng ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế chậm phát triển nhưng có nền văn hiến và truyền thống văn hóa đặc sắc.

Một trong những nguyên tắc hàng đầu mà Người đề cập đến đó là nguyên tắc tập trung dân chủ. Đây là nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của Đảng Cộng sản, nhằm làm cho Đảng Cộng sản trở thành Đảng có sức mạnh chiến đấu to lớn trong một tổ chức chặt chẽ. Theo Người, tập trung và dân chủ là “hai vế của một nguyên tắc” có mối quan hệ khăng khít với nhau. Tập trung trên nền tảng dân chủ; dân chủ phải dưới sự chỉ đạo tập trung.

Tập trung trong Đảng là: thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, bộ phận phải phục tùng toàn thể, tất cả các đảng viên phải chấp hành vô điều kiện nghị quyết của Đảng. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”1. Tức là đề cao vai trò của tập trung, thực hiện tập trung trong Đảng để tạo sự thống nhất ý chí và hành động, tạo thành sức mạnh lãnh đạo to lớn trong tiến trình cách mạng. Đây là biểu hiện cụ thể tính tiên phong, tính chiến đấu của giai cấp công nhân. Cùng với tập trung phải chú ý thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Dân chủ là làm cho mọi người mạnh dạn có ý kiến, làm cho Đảng tập trung được trí tuệ, tăng cường sức mạnh lãnh đạo của Đảng. Người khẳng định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do, bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lí. Đó là một quyền lợi, cũng là một nghĩa vụ của mỗi người”2…

Nguyên tắc thứ hai Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh là nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách phải luôn đi đôi với nhau. Chỉ có tập thể lãnh đạo mới phát huy được toàn bộ trí tuệ đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Người lý giải một cách vắn tắt: “Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo? Vì một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy được một hoặc nhiều mặt của vấn đề, không thể thấy hết tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy, cần phải có nhiều người, nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó. Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người thì vấn đề đó được thấy rõ khắp mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt thì vấn đề ấy được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm.

Theo Hồ Chí Minh, cá nhân phụ trách là nhằm tạo ra tính chuyên trách, gắn trách nhiệm để giải quyết công việc một cách tốt nhất. Người giải thích: “Việc gì đã được đông người bàn bạc kĩ rồi, thì cần phải giao cho một người hoặc một nhóm người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới chuyên trách, công việc mới chạy… Nếu không có cá nhân phụ trách, thì sẽ sinh ra cái tệ người này ủy cho người kia, người kia ủy cho người nọ, kết quả không ai thi hành. Như thế thì việc gì cũng không xong”3. Người còn lưu ý, trong thực hiện nguyên tắc này phải chống lại bệnh độc đoán, chuyên quyền, vi phạm dân chủ trong Đảng; đồng thời chống lại tệ dựa dẫm tập thể, không dám chịu trách nhiệm. Đây là hiện tượng thường thấy hàng ngày, khi có thành tích thì nhận về mình, còn khuyết điểm sai lầm thì đổ lỗi cho tập thể. Không chú ý đến lãnh đạo tập thể thì sẽ bao biện, độc đoán, chủ quan; đồng thời không chú ý đến cá nhân phụ trách thì sẽ dẫn đến bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ.

Nguyên tắc thứ ba được Hồ Chí Minh đề cập trong xây dựng Đảng là nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Có lúc, Hồ Chí Minh coi nguyên tắc tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển Đảng. Cũng có khi Người coi đó là nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng, là vũ khí sắc bén để làm cho Đảng ta trong sạch vững mạnh. Hồ Chí Minh nói: “Mỗi người đều có thiện, có ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”; vì vậy, “thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”4.

Nguyên tắc thứ tư được Người nhắc đến trong xây dựng Đảng kiểu mới là kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Tính nghiêm minh của kỷ luật Đảng là đòi hỏi tất cả mọi tổ chức đảng, mọi đảng viên đều phải bình đẳng trước Điều lệ Đảng, trước pháp luật Nhà nước, Nghị quyết của Đảng. Đảng ta là một tổ chức gồm những người tự nguyện phấn đấu cho lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa, cho nên tự giác là một yêu cầu bắt buộc đối với mọi tổ chức đảng và đảng viên. Theo đó, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi đảng viên dù ở cương vị nào, làm bất cứ việc gì cũng phải chấp hành nghiêm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước. Việc coi thường kỷ luật Đảng, không tự giác chấp hành kỷ luật Đảng sẽ làm suy yếu và tan rã Đảng.

Trong hệ thống các nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới, Hồ Chí Minh không quên đề cao nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Đoàn kết, thống nhất là một thuộc tính cơ bản, một nguyên tắc hoạt động quan trọng của Đảng, quyết định sức mạnh của Đảng. Trong Di chúc, Người viết: “Đoàn kết là một truyền thống cực kì quý báu của đảng và nhân dân ta. Các đồng chí từ trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”5. Đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin; đường lối, chủ trương của Đảng; Điều lệ Đảng. Thực hành dân chủ rộng rãi, nghiêm chỉnh thực hiện tự phê bình và phê bình, thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, chống mọi biểu hiện tiêu cực trong Đảng.

Việc nắm vững và vận dụng sáng tạo những nguyên tắc trong xây dựng Đảng kiểu mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là vấn đề có tính quy luật nhằm xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Đỗ Đình Cường

1. Hồ Chí Minh toàn tập, t5, NXB CTQG, H. 2009, tr.553
2. Hồ Chí Minh toàn tập, t8, NXB CTQG, H. 2009, tr.216
3. Hồ Chí Minh toàn tập, t5, NXB CTQG, H. 2009, tr.505
4. Hồ Chí Minh toàn tập, t5,NXB CTQG, H.2009, tr262
5. Hồ Chí Minh toàn tập, t12, NXB CTQG, H. 2009, tr.510

baobacninh.com.vn

Xây dựng Đảng ta là đạo đức, là văn minh theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Với bản chất cách mạng và khoa học, Đảng ta đã không ngừng chăm lo xây dựng Đảng, kiên cường lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi gian nan thử thách, đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, viết tiếp những trang sử vẻ vang của dân tộc. Có thể nói, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản – một Đảng đạo đức và văn minh, cách mạng và khoa học – là vấn đề có tính nguyên tắc, là quy luật của cách mạng XHCN, là nhân tố bảo đảm sự phát triển đúng đắn của đất nước. Không có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì không thể có độc lập dân tộc vững chắc, không có quyền làm chủ thực sự của nhân dân, không có Nhà nước của dân, do dân và vì dân theo đúng nghĩa của nó và càng không thể có CNXH.

Hiện nay, nhân loại đã trải qua thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, một kỷ nguyên có nhiều diễn biến hết sức phức tạp và sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã khẳng định thế và lực đi lên của chúng ta. Điều ấy đòi hỏi Đảng ta phải vững mạnh, đủ tầm, đủ bản lĩnh, trí tuệ để đưa đất nước phát triển bền vững cả về chính trị và kinh tế trong thời đại toàn cầu hóa; xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh theo đúng lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Nhiều lần, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: Là người cộng sản không thể viết lên trán mình chữ cộng sản là đã được quần chúng tin yêu, mà phải bằng hành động gương mẫu, bằng phẩm chất, đạo đức, tài năng của mình thể hiện ở những việc làm ích nước, lợi dân, thực sự phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người… thì mới được quần chúng yêu mến, tin tưởng. Và Người khẳng định: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc mình và thời đại. Chỉ khi nào Đảng Cộng sản thực sự là tổ chức của những người có đạo đức và văn minh cao, thì Đảng mới có thể làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong xây dựng xã hội mới – xã hội XHCN. Đó là sự lựa chọn khách quan của lịch sử. “Đảng mạnh là do các chi bộ mạnh. Chi bộ mạnh là do các đảng viên hăng hái và gương mẫu”.

Do vậy, để xây dựng Đảng là đạo đức, là văn minh thì những người cộng sản Việt Nam nhất thiết phải nâng mình lên một tầm cao mới về tri thức và văn minh của thời đại.

1. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần và thường xuyên trau dồi đạo đức của người cộng sản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: đạo đức cách mạng là nền tảng, là tiêu chuẩn đầu tiên của người cách mạng. Cốt lõi của đạo đức cách mạng là gì? Theo Hồ Chí Minh, đó là: cần, kiệm, liêm, chính. Trong lời khuyên đối với anh em viên chức ngày 17-1-1946, Người nói: để giúp công việc Chính phủ một cách đắc lực, để nâng cao tinh thần kháng chiến, anh em viên chức bây giờ phải có bốn đức tính là cần, kiệm, liêm, chính.

Và Người ví:

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính

Người còn nhấn mạnh: Thiếu một mùa thì không thành trời. Thiếu một phương thì không thành đất, thiếu một đức thì không thành người.

Mỗi khi chúng ta xa rời các đức ấy thì “dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”. Cùng với cấu trúc: Cần, kiệm, liêm, chính, Hồ Chí Minh còn đưa ra một kiểu cấu trúc khác: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm. Trong “Sửa đổi lối làm việc” khi nêu lên những tính tốt của người đảng viên, Người viết: “Tóm tắt tính tốt ấy gồm năm điều: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm… Đó là đạo đức cách mạng”. Cũng có khi Người dùng: Trí, Tín, Nhân, Dũng, Liêm để chỉ đạo đức cách mạng. Đó là một khái niệm có nội dung phong phú, nhiều mặt, nhiều nghĩa, nhiều khía cạnh khác nhau. Đối với người đảng viên, tùy theo hoàn cảnh cụ thể, tùy theo đối tượng mà Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm đạo đức cách mạng một cách linh hoạt.

Nhưng tóm lại, Người viết: “Đạo đức cách mạng là: Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất.

Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng.

Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình.

Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.

Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc.

Ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác”.

Với cách giải thích ngắn gọn mà đầy đủ, súc tích và dễ hiểu của Hồ Chí Minh, các “đức”, các “điều” ấy trở nên gần gũi, dễ nhớ đối với mọi người, mọi giới và ai ai cũng thấy rằng mình vẫn có thể thực hiện được và cố gắng thực hiện để góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp lớn lao của Đảng, của cách mạng.

Nhìn lại hơn 20 năm qua, chúng ta đã thu được nhiều thắng lợi có ý nghĩa quan trọng, tạo tiền đề để tiếp tục đi theo con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn. Đó cũng là kết quả tốt đẹp của việc rèn luyện đạo đức cách mạng; là quá trình làm mới đạo đức cách mạng cả về thực tiễn và ý thức, cả trong Đảng và trong dân. Chúng ta tự hào vì “Đa số cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò tiên phong, năng động sáng tạo trong công tác, lao động, rèn luyện phẩm chất năng lực, có bước trưởng thành, đóng vai trò nòng cốt trong công cuộc đổi mới, góp phần xứng đáng vào thành quả chung của sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc”.

Song, chúng ta rất hổ thẹn và bất bình khi: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp yếu kém cả về phẩm chất và năng lực… Thoái hóa biến chất về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân… diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi… Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”.

Trước tình hình ấy, mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới. Nâng cao đạo đức cách mạng trong tình hình mới, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt và vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cũng như những chỉ dẫn của Đảng về đạo đức cách mạng của người đảng viên trong thời kỳ mới. Có thể khái quát nội dung rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên hiện nay gồm:

Một là, cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, tin tưởng vào con đường đi lên CNXH; khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, không nao núng trước kẻ thù, không dao động trước khó khăn, thử thách; hăng say tham gia vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện dao động, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

Hai là, cán bộ, đảng viên phải gương mẫu về đạo đức, lối sống, thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; bất luận khi nào và nơi nào cũng nêu cao tinh thần “mình vì mọi người”, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm với công việc của mình; mọi lời nói việc làm đều vì mục đích chung là xây dựng thành công CNXH, lấy lợi ích của nhân dân là trên hết; kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, thói quan liêu, đặc quyền đặc lợi; mặt khác, phải biết gần gũi, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Ba là, cán bộ, đảng viên phải “học, học nữa, học mãi”; luôn khiêm tốn, cầu thị, tích cực học tập để không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt, có đủ phẩm chất và năng lực tham gia lãnh đạo, tổ chức hoạt động thực tiễn theo chức trách, nhiệm vụ được giao.

Bốn là, cán bộ, đảng viên phải biết nhận thức đúng và nghiêm túc chấp hành mọi quy định của tổ chức, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tự giác chấp hành kỷ luật, nêu cao ý thức tự phê bình và phê bình; dũng cảm và kiên quyết đấu tranh với những sai lầm khuyết điểm.

Như vậy, yêu cầu về đạo đức đối với người đảng viên của Đảng bao hàm trên nhiều khía cạnh khác nhau: đạo đức về chính trị tư tưởng, đạo đức trong sinh hoạt lối sống, đạo đức trong sinh hoạt đảng, đạo đức trong quan hệ giữa người và người, quan hệ với quần chúng nhân dân.

Rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên hiện nay là một cuộc đấu tranh rất phức tạp và khó khăn, kiên trì và lâu dài. Bởi vì, đó là đấu tranh giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu; giữa cái mới và cái cũ; giữa nhận thức và hành động… trong bối cảnh có nhiều thách thức, tiêu cực.

Do đó, phải sử dụng tổng hợp, đồng bộ nhiều giải pháp trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Có thể tập trung vào các biện pháp sau:

– Đổi mới công tác giáo dục chính trị, đạo đức.

– Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý kịp thời và chính xác các biểu hiện cá nhân chủ nghĩa của cán bộ, đảng viên.

– Nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình.

– Phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân và báo chí trong đấu tranh chống suy thoái đạo đức.

Đặc biệt, cần đẩy mạnh nêu gương, học tập người tốt, việc tốt; mà trước tiên là mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt, nhận thức đúng và hành động đúng theo Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

2. Cán bộ, đảng viên không ngừng học tập, nâng cao năng lực trí tuệ khoa học, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Cách mạng là một nghề, nghề gì cũng phải học, học lý luận Mác-Lênin, học văn hóa, học khoa học-kỹ thuật, học ngoại ngữ… Muốn xây dựng CNXH thì phải có học thức, phải có văn hóa. Với mọi cán bộ, đảng viên, Người yêu cầu “vững về chính trị, giỏi về chuyên môn” và “nghề nào cũng phải học, phải thông thạo”.

Hiện nay khi mà thời đại đã và đang tạo cho nhân loại thu được nhiều thành tựu kỳ diệu trên các lĩnh vực thì những chân lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các thành tựu do cuộc cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại đem lại chính là những thăng hoa của văn hóa, là đỉnh cao trí tuệ của loài người.

Các nhân tố đó đang và sẽ là hành trang và sức mạnh tinh thần không thể thiếu được để toàn Đảng, toàn dân ta vững bước tiến vào thế kỷ XXI, một thế kỷ chứa đầy triển vọng nhưng cũng không ít thách thức.

Nâng cao trí tuệ trong tình hình mới đòi hỏi Đảng và nhân dân ta tiếp tục đổi mới tư duy. Phải hiểu cho đúng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, biết vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết và tư tưởng đó, đặc biệt là những vấn đề về CNXH vào những điều kiện lịch sử cụ thể hiện nay. Phải hiểu cho đúng thực tiễn Việt Nam và thế giới, những xu thế lớn của thời đại khi nhân loại bước vào thế kỷ XXI, những kiến thức về khoa học-kỹ thuật, công nghệ hiện đại, và đặc biệt là về kinh tế thị trường định hướng XHCN còn mới mẻ đối với chúng ta.

Từ đó Đảng không ngừng hoàn chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng và bảo vệ đất nước; cán bộ, đảng viên phải quán triệt và lãnh đạo nhân dân biến những đường lối, chủ trương, chính sách ấy thành hiện thực.

“Kiến thiết cần có nhân tài”. Muốn có nhân tài thì phải đào tạo. Với ý nghĩa đó, cùng với khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu. Đảng cần đẩy mạnh hơn nữa trong phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, đào tạo ra những con người có khả năng đáp ứng nhu cầu trước mắt và chuẩn bị cho sự phát triển của đất nước trong tương lai.

Quả thật, mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ cách mạng bao giờ cũng đặt ra những nhiệm vụ mới, với những khó khăn, thử thách mới. Sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam hòa bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh là “một cuộc chiến đấu khổng lồ” để “chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”.

Và cái khó khăn của cuộc chiến đấu mới không phải chỉ ở tầm vóc và quy mô của sự nghiệp xây dựng mà còn ở chỗ mỗi cán bộ, đảng viên phải khắc phục những yếu kém của mình, chiến thắng “giặc ở trong lòng” mình, “giặc nội xâm” ở ngay trong tổ chức mình.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang tiến hành sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nhiều thời cơ và thách thức, vận hội và nguy cơ đan xen nhau, đang tác động qua lại hết sức phức tạp. Phải tranh thủ nắm bắt thời cơ, tận dụng vận hội, vượt qua mọi thử thách, đẩy lùi mọi nguy cơ để đưa đất nước đi lên.

Vì vậy, Đảng ta đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân phải có một sự nỗ lực phi thường. Sự nỗ lực ấy trước hết tập trung vào việc nâng cao hai mặt trí và đức của mỗi cán bộ, đảng viên, cũng như nâng cao mặt bằng trí-đức của toàn xã hội. Phải có cái trí ngang tầm thời đại và cái đức theo gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta mới thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển đất nước theo định hướng XHCN, chúng ta mới đi tới được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

Ôn lại những chặng đường mà Đảng ta đã trải qua cùng những thắng lợi vẻ vang mà nhân dân ta giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta càng thấm thía và biết ơn vô hạn công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu, càng hiểu thêm, tin yêu thêm và tự hào thêm về dân tộc ta – một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta – Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện – một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Với chặng đường lịch sử 81 năm vẻ vang của Đảng, chúng ta có quyền tự hào mà nhắc lại nhận định sáng suốt của lãnh tụ Hồ Chí Minh:

Đảng ta là đạo đức, là văn minh
Là thống nhất, độc lập, là hòa bình, ấm no.

ThS. Trương Thị Mỹ Trang
Khoa Xây Dựng Đảng – Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện nhân cách Đảng viên Cộng sản

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện phẩm chất đội ngũ đảng viên. Ngay từ năm 1925, bài giảng đầu tiên của Người cho những cán bộ cách mạng trẻ tuổi của Việt Nam là vấn đề “tư cách một người cách mệnh”.

Nghiên cứu những bài nói và viết của Người, chúng ta đều thấy mối quan tâm hàng đầu của Người là xây dựng một đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Sự giác ngộ lý tưởng cộng sản, lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của giai cấp công nhân, suốt đời hy sinh phấn đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là phẩm chất hàng đầu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra cho mỗi đảng viên cộng sản.

Người căn dặn mỗi đảng viên “không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới”; phải biết đặt lợi ích của giai cấp, của dân tộc lên trên lợi ích của cá nhân, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết; nếu khi “lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân thì phải quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng”. Người chỉ rõ: suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân “là phẩm chất cao quý của người cách mạng. Đó là đạo đức cách mạng. Đó là tính Đảng, tính giai cấp, nó bảo đảm cho sự thắng lợi của đảng, của giai cấp, của nhân dân”. Người đánh giá rất cao những đảng viên luôn luôn trung thành với sự nghiệp cách mạng của giai cấp và của dân tộc, suốt đời hy sinh phấn đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, đồng thời phê phán nghiêm khắc những kẻ lợi dụng địa vị để mưu cầu lợi ích cá nhân làm tổn hại đến lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lạo động.

Chủ tịch Hồ chí Mình đòi hỏi mỗi đảng viên cộng sản cùng với phẩm chất cách mạng cao quý còn phải có năng lực, vì có năng lực mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ của Đảng giao cho. Người dạy rằng, “Đảng yêu cầu cán bộ và đảng viên chẳng những thạo về chính trị, mà còn phải giỏi về chuyên môn, không thể lãnh đạo chung chung”. Muốn vừa thạo về chính trị, vừa giỏi về chuyên môn, mỗi đảng viên phải ra sức “học tập chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối, chính sách của Đảng, học tập văn hoá, kỹ thuật và nghiệp vụ; không ngừng nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng và năng lực công tác của mình”. Bởi vì, có học tập lý luận Mác – Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao hiểu biết và trình độ chính trị, mới làm tốt được công tác Đảng giao cho mình; “có nắm vững đường lối cách mạng mới hiểu rõ mình phải làm gì và đi theo phương hướng nào để thực hiện mục đích của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay”. Người cũng chỉ rõ rằng, muốn học tập có kết quả tốt, phải có thái độ đúng và phương pháp đúng, lý luận phải liên hệ với thực tế, phải “biến những điều đã học thành hành động cách mạng thực tế. Học phải đi đôi với hành, chứ không phải học để nói suông”.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, một yêu cầu quan trọng về phẩm chất đảng viên là liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy quyền làm chủ tập thể và sức mạnh sáng tạo to lớn của quần chúng. Bởi lẽ, Đảng là đội tiên phong của quần chúng, nhưng Đảng chỉ có sức mạnh nếu giữ vững được mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng. Muốn làm cho quần chúng phấn khởi, tin tưởng, người đảng viên “phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh, ra oai. Phải nắm vững quan điểm giai cấp, đi đúng đường lối quần chúng, thành tâm học hỏi quần chúng, kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành mọi chủ trương, chính sách của Đảng và của Nhà nước. Phải thật thà, ngay thẳng, không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm. Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo…Phải luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải “chí công, vô tư” và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. “Người nghiêm khắc phê phán những đảng viên “xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng…ngại làm việc tổ chức, tuyên truyền và giáo dục quần chúng…mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Kết quả là quần chúng không tin, không phục, không yêu…” và họ không làm nên trò trống gì.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách đảng viên cộng sản luôn nhấn mạnh vấn đề xây dựng ý thức tổ chức và kỷ luật, phục tùng nghiêm chỉnh kỷ luật của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Bởi lẽ, sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm. Người chỉ rõ: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người. Đó là nhờ có kỷ luật. Kỷ luật của ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác”. Người đòi hỏi mỗi đảng viên cần phải làm kiểu mẫu về phục tùng kỷ luật, chẳng những kỷ luật của Đảng mà cả kỷ luật của các đoàn thể nhân dân và của cơ quan chính quyền. Trong giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, người yêu cầu mọi đảng viên phải ra sức góp phần xây dựng và giữ vững sự đoàn kết nhất trí trong Đảng. Bởi lẽ, đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công. “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Do đó, tất cả cán bộ, đảng viên, dù ở cương vị khác nhau, làm công tác khác nhau, cũng đều phải đoàn kết nhất trí để làm tròn nhiệm vụ, “giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ những biện pháp thiết thực để mỗi đảng viên cộng sản phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng nhân cách của mình. Trước hết, mỗi đảng viên phải ra sức tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nếu để cho chủ nghĩa cá nhân ám ảnh, chi phối, người đảng viên sẽ mất dần tư cách, đi tới tự tước bỏ danh hiệu cao quý của mình. Vì vậy, muốn giữ được tư cách, đảng viên nhất thiết “phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi. Nếu không cố gắng để tiến bộ, thì tức là thoái bộ, là lạc hậu…sẽ bị xã hội tiến bộ sa thải”.

Việc giữ gìn bản chất, tư cách đảng viên cộng sản cần gắn với xây dựng, củng cố các tổ chức của Đảng, nhất là chi bộ, vì chi bộ “là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt”. Thực tế đã chứng minh rất rõ: ở đâu chi bộ mạnh, cấp ủy mạnh thì đảng viên mạnh, ở đâu chi ủy, chi bộ rệu rã thì ở đó cán bộ, đảng viên tê liệt sức chiến đấu, dễ trở thành hư hỏng, thoái hoá. Cho nên, trong xây dựng tổ chức đảng, xây dựng chi bộ, các cấp ủy đảng phải thực hiện dân chủ nội bộ, quan tâm đến đời sống của cán bộ, đảng viên, kịp thời giúp họ giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong cuộc sống và công tác. Song, phải nghiêm khắc đối với những cán bộ, đảng viên phạm sai lầm, khuyết điểm; tẩy bỏ những phần tử hủ hoá nhằm giữ gìn nghiêm kỷ luật từ trên xuống dưới.

Cùng với việc giữ nghiêm kỷ luật, phải “mở rộng phong trào phê bình và tự phê bình ở trong Đảng, ở các cơ quan, các đoàn thể, trên các báo chí cho đến nhân dân. Phê bình và tự phê bình phải thường xuyên, thiết thực, dân chủ, từ trên xuống và từ dưới lên”. Người còn vạch rõ: “Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình”. Đồng thời, Người yêu cầu phải tăng cường công tác kiểm tra trong Đảng nhằm “thúc đẩy và giáo dục đảng viên làm trọn nhiệm vụ…,làm gương mẫu cho nhân dân” và xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao sức chiến đấu của Đảng.

Trong giai đoạn hiện nay, khi cả nước đứng trước những vận hội mới và thách thức mới, tiếp tục sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hơn bao giờ hết chúng ta phải giương cao ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, xây dựng các tổ chức chi bộ vững mạnh, rèn luyện tư cách đảng viên với phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ. Việc nghiên cứu, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng nói chung, trong rèn luyện phẩm chất, tư cách đảng viên cộng sản nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm củng cố tổ chức đảng, xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Đại tá, PGS.TS. Đinh Hùng Tuấn

vannghedanang.org.vn

Xây dựng Đảng ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh

(TCTG)- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cách mạng Việt Nam đã có người cầm lái. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác- Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

1. Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam

V.I. Lênin đã từng chỉ rõ: “Điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng là phải có một đảng cộng sản, có một đường lối chính trị đúng, có kỷ luật tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng và từng trải tranh đấu mà trưởng thành. Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, lấy chủ nghĩa Mác và Lênin làm gốc”. Và trên tinh thần kế thừa, phát triển những luận điểm của Lênin về Đảng Cộng sản, trên cơ sở nhận thức sâu sắc về chế độ chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa của các dân tộc phương Đông khác với phương Tây, đặc biệt là các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp chung của dân chúng, và muốn quần chúng đ­ược giác ngộ, đư­ợc tổ chức lại để tiến hành đấu tranh cách mạng, tất yếu phải có một tổ chức tiền phong lãnh đạo. Vì vậy, Người chỉ rõ: “Cách mạng trư­ớc hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững thì cách mệnh mới thành công, cũng nh­ư ng­ười cầm lái có vững thuyền mới chạy”[1].

Không dừng lại ở đó, cùng với những hoạt động về lý luận và thực tiễn, cùng với việc tổ chức, giảng bài tại những lớp Huấn luyện chính trị, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cốt cán, sáng lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và ra báo Thanh Niên làm cơ quan ngôn luận của Hội tại Quảng Châu trong những năm từ 1925- 1927, Hồ Chí Minh đã nỗ lực chuẩn bị một cách đầy đủ những tiền đề và điều kiện cho sự ra đời của một chính đảng vô sản kiểu mới ở Việt Nam.

Tiếp đó, như một tất yếu khách quan của lịch sử, luồng gió mới của thời đại, những nguyên lý của học thuyết Mác- Lênin về Đảng Cộng sản, về phương pháp đấu tranh cách mạng, vận động quần chúng, về vai trò của các tổ chức quần chúng,v.v.. đã theo những hội viên của hội Việt Nam cách mạng thanh niên, theo những tờ báo Thanh Niên được bí mật truyền về trong nước, góp phần làm cho đời sống chính trị – xã hội trong nước có những chuyển biến tích cực. Và phong trào công nhân phát triển từ tự phát đến tự giác, phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân ta đã ngả theo khuynh hướng vô sản,v.v.. đã dẫn đến sự ra đời của ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam trong những năm 1929- 1930.

Trong bối cảnh đó, để tránh nguy cơ phân liệt và mất đoàn kết, nhận thức rõ sứ mệnh lịch sử của mình, Hồ Chí Minh đã viết thư mời đại diện các tổ chức cộng sản và triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa xuân năm 1930. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cách mạng Việt Nam đã có người cầm lái. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác- Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đảng ta được thành lập, một hành trình đấu tranh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH bắt đầu.

Thấm nhuần những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin về Đảng của giai cấp vô sản, Hồ Chí Minh khẳng định: trong thời đại ngày nay, giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất và độc nhất có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng. Và trong cuộc đấu tranh giải phóng, dù là lực l­ượng cách mạng to lớn, nhưng do những hạn chế về mặt giai cấp, nên giai cấp nông dân không thể tự mình lãnh đạo cách mạng, mà phải liên minh với giai cấp công nhân, là đồng minh tin cậy của giai cấp công nhân.

Tuy nhiên, cũng theo quan điểm của Người, Đảng dù là tổ chức của những người con ưu tú nhất của giai cấp công nhân và của dân tộc, nhưng Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận và nhân dân thừa nhận quyền lãnh đạo của mình mà, Đảng “phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất, chân thực nhất; chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng thì Đảng mới giành đư­ợc địa vị lãnh đạo”[2].

Thực tiễn quá trình ra đời và hoạt động của Đảng ta trong 82 năm qua đã chứng minh rằng: Vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã không chỉ sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mà Người còn xây dựng thành công một Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, nhưng cũng đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam. Nhân tố quyết định bản chất của giai cấp công nhân của Đảng không chỉ là thành phần xuất thân của đảng viên, mà chính là nền tảng tư tưởng của Đảng – đó là chủ nghĩa Mác-Lênin, là mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, là đ­ường lối của Đảng thực sự vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người; đó không chỉ là việc tuân thủ những nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng kiểu mới, mà còn là thực tiễn đấu tranh cách mạng đầy vinh quang và gian khó của Đảng, nên trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ II (2/1951), Người nêu rõ: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”.

Xuyên suốt và nhất quán quan điểm này, khi Đảng lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và xây dựng CNXH ở miền Bắc, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư­, thiên vị” (9/12/1961). Ng­ười còn nói rõ thêm, Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những ngư­ời thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân, nên luôn luôn và nhất định: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung s­ướng”[3].

2. Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh trong điều kiện Đảng cầm quyền

Sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công, cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. Theo Hồ Chí Minh, là ng­ười lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, nhưng “Đảng cầm quyền, nhân dân là chủ” và mọi quyền hành, mọi lực lư­ợng đều ở nơi dân.

Ngay từ những ngày đầu của nền dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề này, và nhấn mạnh đó chính là điểm khác biệt, phân biệt bản chất của một chính Đảng vô sản kiểu mới với các chính đảng khác. Và dù là người lãnh đạo, song trong chế độ xã hội mới mà nhân dân ta đang xây dựng và tiếp tục xây dựng, thì quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân là vấn đề có tính nguyên tắc. Nguyên tắc đó khẳng định vai trò Đảng lãnh đạo cách mạng, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ, đồng thời chỉ rõ: cán bộ, đảng viên của Đảng nắm giữ những vị trí quan trọng trong các cơ quan công quyền thực sự là công bộc của dân, phải hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, v.v… Nếu làm trái với những điều này, nếu cậy quyền, cậy thế, quan liêu, tham nhũng, những “ông quan cách mạng”, những kẻ “vinh thân phì gia”, vì quyền lợi ích kỉ của bản thân, gia đình, giòng họ mà xa rời mối liên hệ máu thịt Đảng – Dân, thì những con “sâu mọt của dân” ấy đã làm cho nguy cơ thoái hóa, biến chất, đe dọa sự tồn vong của một Đảng cầm quyền đến rất gần.

Tiên liệu trước nguy cơ thoái hóa biến chất của một bộ phận cán bộ đảng viên trong Đảng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: để Đảng cầm quyền bao gồm những người con ưu tú nhất của dân tộc, đó là những người công nhân, nông dân, lao động trí óc, và những người ưu tú của các giai tầng khác trong xã hội (đã giác ngộ cách mạng, sẵn sàng hy sinh phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân), thì những đội ngũ cán bộ đảng viên phải là những người “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Muốn vậy, mỗi cán bộ đảng viên phải không ngừng phấn đấu, học tập, để một mặt nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý, phương thức lãnh đạo, mặt khác “mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải thật sự cần kiệm liêm chính chí công vô tư­, phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là ngư­ời lãnh đạo ng­ười đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[4]. Đây chính là một luận điểm quan trọng của Người về mối quan hệ giữa Đảng và Dân; Đảng và Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong điều kiện Đảng cầm quyền.

Và cũng theo lời Người, để xây dựng Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh trong điều kiện Đảng cầm quyền, tất yếu và thư­ờng xuyên phải tiến hành xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Về vấn đề này, Hồ Chí Minh đã từng nói: “Phải chỉnh đốn nội bộ Đảng… Đảng ví nh­ư cái máy phát điện, các công việc trên ví như­ những ngọn đèn, máy mạnh thì đèn sáng” (1/1949); “Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc. Để làm tròn nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc, Đảng phải mạnh, toàn Đảng tư­ t­ưởng phải nhất trí, hành động phải nhất trí”(4/1952); và trong bản Di chúc lịch sử, Ng­ười nhấn mạnh: “Việc phải làm tr­ước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm đ­ược như­ vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”(5/1968),v.v..

Trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng, cán bộ, đảng viên phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư­ t­ưởng và kim chỉ nam cho hành động; nâng cao trình độ nhận thức, nắm vững bản chất cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, nắm vững lập tr­ường, ph­ương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin để giải quyết những vấn đề của thực tiễn. Cán bộ, đảng viên phải không ngừng nâng cao trình độ lý luận, trình độ chuyên môn, năng lực trí tuệ, nắm chắc thực tiễn cách mạng để hoạch định và kịp thời bổ sung chủ trư­ơng, đường lối của Đảng; chống giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa,v.v..Đặc biệt, cán bộ, đảng viên phải luôn tuân thủ và vận dụng một cách linh hoạt các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng: nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình; kỷ luật nghiêm minh và tự giác; đoàn kết thống nhất trong Đảng về tư­ t­ưởng, ý chí và hành động, và trong mọi hoàn cảnh phải kiên quyết chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

Đồng thời, để Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh, để xây dựng và chỉnh đốn Đảng thành công, một công việc không kém phần quan trọng, đó là Đảng phải phải loại bỏ những phần tử cơ hội, thoái hoá, biến chất ra khỏi Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, để Đảng luôn là bộ tham mưu tối cao, ưu tú của giai cấp và dân tộc, luôn luôn giữ vững đạo đức cách mạng, tận tâm, tận lực phục vụ Tổ quốc và nhân dân.

3. Tiếp tục xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

Tiến hành công cuộc đổi mới, chúng ta từng b­ước tiến hành đổi mới chính trị, nhằm thực hiện mục tiêu dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ và sức mạnh của nhân dân. Trong khi đổi mới tổ chức và hoạt động của cả hệ thống chính trị, chúng ta đã coi trọng xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo đối với toàn bộ hệ thống chính trị và cả xã hội. Đảng phải thư­ờng xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ và năng lực lãnh đạo, trên tinh thần: 1/ Xác định đúng mục đích xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững và nâng cao năng lực hiệu quả, uy tín lãnh đạo xã hội về mọi mặt của Đảng. 2/ Xác định đúng chức năng của Đảng trong sự lãnh đạo xã hội về mọi mặt. 3/ Xác định đúng phương thức lãnh đạo của Đảng chủ yếu bằng hệ t­ư t­ưởng, lý luận, đư­ờng lối, chủ trư­ơng, và xác định đúng ph­ương pháp lãnh đạo tuyên truyền, giáo dục thuyết phục, kiểm tra và nêu g­ương của cán bộ, đảng viên, của tổ chức Đảng.

Trên tinh thần đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ XI ghi rõ: Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị nhưng đồng thời cũng là một bộ phận của hệ thống đó, nên “Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”[5]. Để Đảng đảm đương được vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng phải mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải giữ vững truyền thống đoàn kết, thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình, luôn xây dựng và tự chỉnh đốn, v.v…

Đồng thời để đội ngũ cán bộ đảng viên xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế đến thành công, thấm nhuần lời dạy của Người: “Đảng có vững cách mạng mới thành công”, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng một cách nghiêm túc trên tinh thần đổi mới. Đó là thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới trong hơn tám thập kỷ; là cùng với sự nghiệp đổi mới toàn diện, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân đã thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ư­ơng VI (lần thứ 2) của Ban Chấp hành Trung ư­ơng Đảng khoá VIII “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng“, trên cả ba lĩnh vực (nhận thức, tư­ t­ưởng, chính trị; đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên và một số vấn đề tổ chức); là triển khai thực hiệnHọc tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI (2011) và Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị và đặc biệt là thực hiện Nghị quyết 12- khóa XI: “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” sâu rộng trong cả nước,v.v..

Trên tinh thần,”xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta hiện nay”, và nhất là “chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, có năng lực, có sức chiến đấu cao theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ XI, mỗi cán bộ đảng viên của Đảng “phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; phê phán, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”. Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng”[6].

Đó là yêu cầu, là nhiệm vụ bức thiết, thường xuyên của một Đảng cầm quyền, đó cũng là thực hiện theo những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, để Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh” đưa sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của nhân dân ta đi đến thành công./.

Ths. Văn Thị Thanh Hương
Nxb. Chính trị Quốc gia

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.2, tr. 268

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.138

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.249

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.510

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.89

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.57

tuyengiao.vn

Để Đảng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó tư tưởng Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân là một nội dung có giá trị to lớn cả về lý luận và thực tiễn, đặc biệt trong điều kiện Đảng cầm quyền.

Đảng ta là đảng cầm quyền, cán bộ, đảng viên là những người nắm giữ nhiều cương vị chủ chốt trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Đó là điều kiện thuận lợi để họ đem khả năng của mình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng. Nhưng nếu Đảng không thường xuyên quan tâm giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên thì dễ dẫn đến nguy cơ quan liêu, xa rời quần chúng, đặc quyền đặc lợi, thoái hoá biến chất về đạo đức, lối sống. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thường xuyên quan tâm rèn luyện đạo đức cách mạng, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(1).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Người lãnh đạo và người đày tớ luôn thống nhất với nhau trong hoạt động lãnh đạo của Đảng. Là người lãnh đạo, mọi đường lối, chính sách của Đảng phải thực sự đúng đắn, cách mạng và khoa học, phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, thực sự dẫn đường chỉ lối cho nhân dân hành động. Đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải thực sự tiên phong, gương mẫu đi trước nhân dân, nói đi đôi với làm. Người cũng chỉ rõ: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(2). Theo Người, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải có cái tâm, cái đức, cái trí. Đảng chỉ thực sự làm tròn vai trò người lãnh đạo khi Đảng luôn tiêu biểu cho trí tuệ, lương tâm, danh dự của dân tộc, đạo đức, văn minh của toàn xã hội. Đảng phải là người lãnh đạo sáng suốt của nhân dân, không “theo đuôi” quần chúng.

Đảng là người đày tớ thật trung thành của nhân dân, đây chính là điểm phát triển sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với học thuyết Mác – Lênin về xây dựng Đảng ở Việt Nam. Tư tưởng này chỉ đạo xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác. Khi ra đi tìm đường cứu nước, Người đã theo đuổi mục đích cao cả là đấu tranh giải phóng đồng bào khỏi đoạ đày, đau khổ. Khi trở thành lãnh tụ của Đảng, của cách mạng, Người luôn phấn đấu để cho đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Khi phải từ biệt thế giới này, Người vẫn còn nuối tiếc là không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân.

Quan điểm Đảng là người đày tớ thật trung thành của nhân dân nói lên mục đích hoạt động của Đảng là phục vụ nhân dân, chứ không nhằm mục đích nào khác. Đảng phải thường xuyên lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân, mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải hướng vào phục vụ lợi ích của nhân dân, phấn đấu vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đảng phải chăm lo đến đời sống hàng ngày, thậm chí quan tâm tới cả tương, cà, mắm, muối của nhân dân. Người cho rằng: “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc thì Đảng không có lợi ích gì khác. Cho nên Đảng phải ra sức tổ chức nhân dân, lãnh đạo nhân dân để giải phóng nhân dân và để nâng cao sinh hoạt, văn hóa, chính trị của nhân dân”(3).

Trong tình hình hiện nay, khi mà “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn đẩy lùi, mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp”(4), ảnh hưởng rất lớn đến mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân thì tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân càng có ý nghĩa sâu sắc. Tư tưởng ấy tiếp tục định hướng, soi sáng để Đảng ta đổi mới công tác quần chúng trong tình hình mới nhằm góp phần đưa mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và nhân dân lên một tầm cao mới, làm cho ý Đảng phù hợp với lòng dân. Để Đảng làm tròn vai trò vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân, theo chúng tôi cần phải thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự tiêu biểu cho trí tuệ, lương tâm, đạo đức, danh dự của dân tộc và thời đại.

Hai là, Đảng đề ra đường lối, chính sách đúng đắn, sáng tạo, phản ánh tâm tư, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân.

Ba là, mỗi cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào cũng cần xây dựng tác phong quần chúng, phương pháp công tác phù hợp, tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân để tiến hành sự nghiệp cách mạng.

Bốn là, xây dựng đội ngũ đảng viên có phẩm chất, năng lực đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, thực sự tiền phong, gương mẫu trước nhân dân, nói đi đôi với làm, không quan liêu, tham nhũng.

Đã 42 năm kể từ ngày Bác đi xa, nhưng những lời Người dạy năm xưa vẫn còn nguyên giá trị, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng ta cần phải phấn đấu để vừa là người lãnh đạo giỏi, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

—————————-

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2002, tr.510. (2) Sđd, tập 5, tr.552. (3) Sđd, tập 5, tr.250. (4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2011, tr.173.

Phạm Văn Phong
Trường Đại học Chính trị

xaydungdang.org.vn

Bác Hồ với công tác tuyên giáo

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Cộng sản Việt Nam đầu tiên đã truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, đồng thời cũng là người trực tiếp tiến hành công tác tuyên truyền, giáo dục và huấn luyện cán bộ cho Đảng ta. Người khẳng định: “Công việc thành hay bại một phần lớn là do nơi tư tưởng đạo đức, thái độ và lề lối làm việc của các đồng chí”, do đó “Toàn Đảng phải tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí, đoàn kết nhất trí mới làm tròn nhiệm vụ của Đảng”.

Thật vây, sớm thấy được tầm quan trọng của công tác tư tưởng, sinh thời trong muôn vàn công việc Bác vẫn luôn quan tâm theo dõi hoạt động của Ban tuyên giáo, kịp thời động viên, cổ vũ và hướng dẫn nghiệp vụ cho anh em làm nhiệm vụ trên mặt trận tư tưởng văn hoá.
Trong hành trình suốt 30 năm tìm đường cứu nước, chính Bác Hồ là người tiên phong trong công tác tuyên giáo. Năm 1919, Bác gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Năm 1920, Bác đã đọc tác phẩm của Lênin: “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” đăng trên báo L Humanité số ra ngày 17/7/1920. Tác phẩm này đã giải đáp cho Bác con đường giành độc lập, tự do cho đồng bào.

Thời gian này, Bác đã tìm cách thông qua hoạt động báo chí để tố cáo tội ác của thực dân Pháp gây ra cho nhân dân Đông Dương, tranh thủ sự ủng hộ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, thức tỉnh tinh thần yêu nước của bà con Việt Kiều và cũng qua họ tìm cách đưa một số tài liệu báo chí về nước bằng nhiều con đường khác nhau để giác ngộ tinh thần độc lập dân tộc của nhân dân ta. Bác đã lựa chọn một số thanh niên tiêu biểu sang đào tạo tại Liên Xô, mở nhiều lớp bồi dưỡng chính trị ngắn ngày cho một số thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc), chuẩn bị đội ngũ cán bộ trở về nước để tổ chức hoạt động, đón thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền.

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Từ đây một số Ban của Đảng cũng ra đời. Uỷ ban kiểm tra, Ban Tổ chức, Tuyên giáo, Văn phòng để tham mưu cho Trung ương và cấp uỷ trên các mặt công tác của Đảng. Qua từng giai đoạn cách mạng, các ban tham mưu của Đảng cũng có những thay đổi thêm, bớt, tách, chia để phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng, song Ban Tuyên giáo vẫn là một trong những Ban đi suốt cả quá trình 80 năm thành lập Đảng và đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc đấu tranh giành độc lập, đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đã và đang góp phần vào công cuộc đổi mới của đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Sau khi cách mạng thành công, Bác đã căn dặn đội viên tuyên truyền xung phong: “Phải biết rõ mục đích tuyên truyền của mình và trước khi định công tác ở đâu phải đặt rõ kế hoạch. Phải biết chịu kham khổ.

Phải biết nhẫn nại. Nói với người nghe một lần người ta không hiểu thì nói đến hai lần, ba lần. Về đức tính này, phải học theo những người đi truyền giáo. Chớ có lên mặt “Quan cách mạng”.

Chớ có tưởng đi tuyên truyền đây là đi dạy người ta chứ không cần học lại người ta, lãnh đạo người ta chứ không chịu người ta phê bình. Chú ý đến cách phổ biến ý tưởng. Hết sức phổ thông.

Cố vào sâu trong quần chúng. Lấy những thí dụ tầm thường trông thấy trước mắt mà nói. Tránh những danh từ khó hiểu. Làm cho được 50 người hiểu rõ còn hơn là được 500 người chỉ hiểu lờ mờ”.

Một lần khác nói chuyện với anh em cán bộ tuyên truyền Bác lại căn dặn: “Tuyên truyền, anh em nên chú ý một điều này nữa là bao giờ ta cũng tôn trọng sự thực. Có nói sự thực thì việc tuyên truyền của mình mới có nhiều người nghe.

Ta chớ bắt chước những nước tuyên truyền tin chiến tranh quá sai lạc sự thực”. Trong công tác tuyên truyền liên quan đến chính sách đối ngoại, Bác nhắc: “Các báo và các ban tuyên truyền nên hướng dẫn lòng yêu nước và chí cương quyết cố giành độc lập hoàn toàn của đồng bào một cách ôn hoà, bình tĩnh có lợi cho ngoại giao…”.

Không chỉ vậy, Bác còn nhấn mạnh: Công tác tuyên giáo phải xuất phát từ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng mà xác định nhiệm vụ, nội dung, phương pháp hoạt động; phải phục vụ đắc lực cho việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng ta, dân tộc ta.

Tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi, ngày 31-8-1963, Bác đã nói: “Nhiệm vụ công tác tuyên huấn có thể chia ra hai mặt: Một mặt là làm sao mưu lợi cho đồng bào; một mặt nữa là làm sao tránh được tệ hại cho đồng bào”. Để mưu lợi cho nhân dân và tránh tệ hại cho nhân dân, Bác chỉ rõ: Tính Đảng là nguyên tắc và nền tảng của công tác tuyên giáo, nó bảo đảm cho các hoạt động tuyên giáo của Đảng giữ vững lập trường giai cấp công nhân, phục vụ nhân dân; tính khoa học của công tác tuyên giáo phải luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, từ quy luật phát triển của xã hội, lấy đó làm cơ sở giải thích cho nhân dân hiểu một cách có căn cứ khoa học những vấn đề thực tiễn cách mạng đặt ra, để từ đó, họ hành động tự giác, có hiệu quả. Bác còn chỉ rõ: Quá trình tiến hành công tác tuyên giáo phải đảm bảo tính chân thực, để nhân dân nhận thức đúng và hành động đúng đường lối của Đảng.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác Hồ nêu một tấm gương sáng, một mẫu mực tuyệt vời về công tác tuyên giáo phục vụ đắc lực nhiệm vụ chính trị của Đảng, phục vụ nhân dân, nêu cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng, nêu cao ý chí của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trước vận mệnh đất nước, ở mỗi thời kỳ cách mạng, mỗi chặng đường lịch sử dân tộc. Để hoạt động tuyên giáo có hiệu quả, Bác đòi hỏi cán bộ tuyên giáo phải nói và viết sao cho “phổ thông, dễ hiểu, ngắn gọn, dễ đọc”, làm cho người nghe, người đọc “hiểu được, nhớ được và làm được”. Bác còn đòi hỏi cán bộ tuyên giáo phải có phong cách đi sâu, đi sát cơ sở, đến những mũi nhọn của mặt trận sản xuất và chiến đấu, nơi có phong trào khá và cả những nơi có phong trào kém, phát hiện và giải đáp được những vấn đề do cuộc sống đặt ra. Bác nhấn mạnh: Chỉ có đi sâu vào thực tiễn đời sống xã hội thì mới tìm hiểu, đánh giá đúng thực chất tình hình công tác tuyên giáo của địa phương, đơn vị, mới phát hiện được những vấn đề mới, nhân tố mới, những điển hình tốt, người tốt việc tốt để cổ vũ, biểu dương, nhân rộng, đồng thời vạch ra những hiện tượng, những biểu hiện sai trái để phê phán, uốn nắn nhằm đẩy mạnh việc phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ được giao.

Ngay cả những ngày đau nặng và sắp đi xa, Bác vẫn dành thời gian làm việc với các đồng chí lãnh đạo Ban Tuyên huấn Trung ương nghe báo cáo tình hình chiến trường miền Nam, tình hình lũ lụt ở sông Hồng và không quên nhắc phải quan tâm việc phát hành loại sách: “Người tốt, việc tốt” để tuyên truyền, nhân rộng những điển hình tiên tiến trên các mặt sản xuất, chiến đấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Tư tưởng của Bác, tấm gương đạo đức cách mạng của Bác và những lời dạy của Bác đã và đang tiếp sức cho những người làm công tác tuyên giáo phấn đấu để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới của đất nước trong quá trình hội nhập và phát triển.

Làm theo lời dạy của Bác Hồ, 80 năm qua, trên suốt chặng đường dài cách mạng, trong kháng chiến và kiến quốc, Đảng ta luôn khảng định công tác tuyên giáo có vai trò đặc biệt, là một lĩnh vực trọng yếu trong công tác lãnh đạo, tuyên truyền, giáo dục, động viên nhân dân và tổ chức nhân dân thực hiện nhiệm vụ cách mạng ở mọi thời kỳ, mọi chặng đường đất nước. Những năm qua, trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, công tác tuyên giáo đã có nhiều tiến bộ, từng bước vươn lên hoàn thành nhiệm vụ, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, khơi dậy phong trào cách mạng của nhân dân, tạo ra những nhân tố cơ bản để cả nước phấn đấu đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng về kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng. Những năm qua, công tác tuyên giáo đã thực sự giúp cán bộ, đảng viên, nhân dân có nhận thức sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác – Lênin, về tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó, kiên định và nỗ lực phấn đấu thực hiện lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đưa nước ta sớm thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển.

Những năm sắp tới, sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế sẽ có bước phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ. Mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của công tác tuyên giáo là tăng tường sự nhất trí tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận về chính trị và tinh thần trong nhân dân, phát huy cao độ sức mạnh của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, của đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững và mở rộng trận địa tư tưởng của Đảng, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Công tác tuyên truyền giáo dục càng phải được đẩy mạnh để làm cho toàn Đảng, toàn dân nắm vững, nhất trí với các mục tiêu, quan điểm, định hướng, nhiệm vụ lớn về xây dựng và phát triển đất nước; kiên trì đấu tranh bảo vệ tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, khả năng sáng tạo, tạo ra phong trào hành động cách mạng của toàn dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới./.

Theo soctrang.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tám mươi năm ấy… Biết bao nhiêu tình

Ảnh: T.L

Đời người như một giấc mơ, thoáng một cái đã 80 năm trôi qua. Nếu tính tháng thì tôi sinh sau Đảng 5 tháng. Tính tuổi thì tôi cùng tuổi với Đảng. Tôi là một cá nhân nhỏ bé, Đảng là một tổ chức to lớn. Tuy vậy, vẫn có một điểm chung Tám mươi năm ấy… biết bao nhiêu tình. Tình đối với một cá nhân như tôi có lẽ đơn giản hơn nhiều. Trước tiên là tình gia đình, sau là tình làng nghĩa xóm, sau nữa mới là tình bạn bè, đồng nghiệp. Còn tình yêu đất nước, tình dân tộc với một cá nhân chắc chỉ cảm nhận được khi quốc gia hữu sự, hoặc trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó mà thôi. Thường ngày, cái tình lớn lao ấy nó được giấu kín trong tâm khảm người ta, ít khi lộ ra bằng lời nói hay hành động phô trương bởi vì cái thiêng liêng thì không thể đem ra phô diễn hàng ngày. Ở tuổi tám mươi này, cái tình lớn lại là cái tình với quá khứ, cái tình với tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những người đã khuất nhưng công ơn với mình thì cứ lớn lên theo tuổi. Nhớ công ơn mà chẳng biết nói sao cho thấu nên chỉ có nén nhang thành tâm khấn vái, mà cũng chẳng dám cầu xin vì cha ông đã cho mình cả đời người rồi còn gì!

Với cá nhân là vậy, với Đảng thì sao? Tám mươi năm ấy… biết bao nhiêu tình! Cái tình đối với Đảng trước tiên phải kể đó là cái tình của nhân dân, cái tình của Bác Hồ.

Bác Hồ – Người sáng lập Đảng và dìu dắt Đảng ta lớn mạnh không ngừng. Khi ra đi, Bác dành tình cảm đặc biệt cho Đảng, tình cảm ấy thể hiện trong Di chúc của Bác : “Trước tiên nói về Đảng : Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Bác khẳng định mọi thắng lợi của Đảng bắt nguồn từ việc đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân! Chính vì vậy mà Bác yêu cầu : Phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”, “ Phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Nói về Đảng, Bác nói về nhân dân. Nói về thắng lợi Bác nói về sự đoàn kết toàn dân tộc. Ý tưởng thật rõ ràng, tư duy, triết lý thật mạch lạc! Cả đời học tập làm theo lời Bác, tuổi càng cao càng thấu hiểu lẽ cao sâu của tư tưởng Hồ Chí Minh trong đó có tư tưởng về Đảng, về Nhân dân. Nhân dân là gốc. “ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công!”. Điểm lịch sử Tám mươi năm của Đảng càng sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh – Người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Ngay từ ngày mới ra đời, Đảng có bao nhiêu đảng viên?! Vậy mà chống chọi với cả bộ máy thực dân, phong kiến để tồn tại và phát triển. Sức mạnh ở đâu? Sức mạnh từ nơi nhân dân mà ra, từ “ một lòng một dạ phục vụ nhân dân” của Đảng. Mới mười năm tuổi, Đảng đã lãnh đạo toàn dân giành chính quyền từ tay ngoại bang, thành lập Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, đồng thời giữ vững nền cộng hòa dân chủ non trẻ ấy trước muôn vàn khó khăn thử thách. Từ sự thực đó ta càng thấu hiểu hơn lời Người: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Tư tưởng nhân dân là gốc, nhân dân là sức mạnh vô địch luôn nhất quán trong hoạt động thực tiễn cách mạng cũng như trong các tác phẩm của Người. Các nhà nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh chắc chắn có thể viện dẫn và thuyết trình nhiều trang về điều này. Sự thật lịch sử lại giúp chúng ta những bài học không chỉ có giá trị trong quá khứ mà vô cùng quý giá trong hiện tại và tương lai. Trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, đã có lúc vị chỉ huy tối cao của Đảng tạm rút vai trò của Đảng vào “hậu trường”  đề cao Mặt trận toàn dân tộc để tạo sức mạnh to lớn đưa cách mạng đến thành công. Điều đó có nghĩa là Đảng vẫn lãnh đạo, Đảng trong lòng dân tộc, Đảng trong lòng nhân dân. Thậm chí ngay cả khi tuyên bố có tính sách lược “ tự giải tán” Đảng vẫn tồn tại, Đảng vẫn lãnh đạo và cách mạng vẫn tiến lên. Bài học lịch sử ấy còn được phát huy cao độ trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tinh thần ấy còn nguyên giá trị làm nên những thành công to lớn trong sự nghiệp đổi mới, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Lịch sử 80 năm của Đảng cần phải ôn lại, làm sáng tỏ giá trị của những bài học sâu sắc đó để mỗi cán bộ, Đảng viên và mỗi công dân phải thực hành hàng ngày trong từng việc cụ thể mới mong có kết quả tốt đẹp. Đảng ơn nhân dân, mọi người dân ơn Đảng, đó là đạo lý,  là nguyên tắc ứng xử : 80 năm ấy biết bao nhiêu tình! Là công dân Việt Nam mà không hiểu được công lao to lớn của Đảng, người đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đuổi giặc ngoại xâm, thống nhất đất nước, xây dựng Nhà nước Việt Nam độc lập và dân chủ, chấm dứt ách nô lệ hàng trăm năm cho toàn dân tộc, thì thật không phải là người có tình, có gốc đạo lý dân tộc: Ăn quả nhớ người trồng cây. Ngược lại, người cán bộ, đảng viên tham ô, nhũng nhiễu, ức hiếp người dân, không “một lòng một dạ phục vụ nhân dân”, thì những người đó cũng không có tình, không có gốc đạo lý: Uống nước nhớ nguồn! Thử hỏi không có nhân dân làm sao có cán bộ, làm sao có đảng viên?! Nhân dân là gốc mà không được phục vụ hết lòng, lại còn quấy nhiễu, thì làm sao có sâu rễ bền gốc được. Tưởng cái triết lý đơn giản, sáng tỏ đó không khó nhận ra. Nhưng tiếc thay trong thực tế vẫn tồn tại một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất gây tổn hại đến uy tín của Đảng, làm xói mòn đạo lý Đảng ơn nhân dân, mọi người dân ơn Đảng; Làm lệch lạc cái tình sâu thẳm trong tâm mỗi người Việt Nam truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác suốt 80 năm ấy… biết bao nghĩa tình!

Năm 2010, kỷ niệm tám mươi năm ngày thành lập Đảng, đồng thời chuẩn bị Đại hội Đảng các cấp, thật là một dịp hiếm có để kiểm lại 80 năm ấy… biết bao nhiêu tình. Trước tiên, phải nhớ cái tình đồng chí, cái tình thiêng liêng cao quý, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho đồng đội. Thậm chí, sẵn sàng hy sinh thân mình để đồng chí sống và tiếp tục chiến đấu vì sự nghiệp cao cả giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Trong sự nghiệp đổi mới, với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh không đòi hỏi sự hy sinh tính mạng, nhưng đòi hỏi sự chiến thắng chủ nghĩa cá nhân của từng đảng viên, một đòi hỏi không dễ trong điều kiện hiện nay. Đại hội Đảng các cấp phải là Đại hội của tinh thần đoàn kết, nhất trí vì sự nghiệp vinh quang của Đảng lãnh đạo toàn dân tộc, xây dựng đất nước thịnh vượng và hùng cường. Vì quyền, vì chức, vì lợi ích cá nhân mà kéo bè, kéo cánh gây mất đoàn kết là làm mất đi cái tình 80 năm ấy, là trái với lời dạy cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là trái với lòng mong mỏi của nhân dân.

Tôi chỉ là một công dân, nhưng với trải nghiệm thăng trầm lịch sử suốt gần một thế kỷ qua, để có niềm tin sâu sắc rằng người dân nước Việt Nam luôn tin tưởng và đặt kỳ vọng vào Đảng cộng sản Việt Nam. Niềm tin và mong đợi ấy bắt nguồn từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, từ tám mươi năm ấy… biết bao nhiêu tình!

Mùa xuân 2010
Khổng Duy Dương
daidoanket.vn