Thư viện

Bản lĩnh văn hoá Hồ Chí Minh với đội ngũ cán bộ lãnh đạo – quản lý hiện nay

1. Nhận ra chính mình là khó nhất

Phải có bản lĩnh mới nhận ra chính mình, đúng mình. Điều này tưởng dễ nhưng thể hiện nó trong cuộc sống hằng ngày thì rất khó. Mà nếu không nhận ra chính mình thì cũng không thể hiểu đúng người khác. Không nhận ra mình, không làm cho người khác hiểu mình, và không hiểu được người khác là lãnh đao-quản lý không có văn hóa. Đó là một cách tiếp cận văn hóa thông minh và khoa học.

Là lãnh tụ tối cao của Đảng và dân tộc, đứng ở đỉnh cao quyền lực 24 năm liên tục, nhưng Hồ Chí Minh luôn nhận ra chính mình, coi mình là người của nhân dân. Người thường nói với các đồng sự “không có nhân dân thì không có Bác”. Người tự nhận mình là công bộc của dân và thực tế cả cuộc đời Người chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Những khi Người phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo, đều vì mục đích đó. Người xác định chức vụ Chủ tịch nước mà Người đảm trách là do nhân dân ủy thác và vì vậy Người phải gắng sức làm như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận. Dám công khai chức vụ của mình là do dân ủy thác là bản lĩnh. Nhưng bản lĩnh hơn là vui lòng rời khỏi chức vụ đó khi nhân dân không tín nhiệm nữa để về với cuộc sống điền viên, dân giã, câu cá trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi. Chúng ta hiện nay có được cán bộ nào như thế?

Người tự coi mình là một trong những đồng chí già, và có những việc không làm được, rất cần những cán bộ trẻ để làm. Đã già thì theo quy luật, rồi chết. Hoặc là khi tiến lên máy móc, nếu không biết kỹ thuật, có lãnh đạo được không? “Nếu không biết, phải mời anh ra, cho người khác giỏi hơn vào làm… chớ không phải như ngày xưa: “sống lâu lên lão làng”Khi viết thư gửi các đồng chí tỉnh nhà sau ngày nước nhà độc lập, Hồ Chí Minh nói rõ “không dùng danh nghĩa Chủ tịch của Chính phủ, chỉ lấy danh nghĩa của một đồng chí già mà viết để san sẻ ít nhiều kinh nghiệm với các đồng chí”. Trong Thư gửi các phụ lão, Người viết “đây tôi lấy danh nghĩa là một người già mà nói chuyện với các cụ”. Gửi thiếu nhi Việt Nam đêm Trung thu đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người mở đầu “đây là Hồ Chí Minh nói chuyện với các em”. Người xưng hô cháu với cụ Phụng Lục, một phụ lão cứu quốc ở huyện Ứng Hòa, Hà Đông. Trao đổi với phóng viên báo Granma (Cuba) Người nói: “Ở miền Nam, tôi không phải là Chủ tịch Hồ Chí Minh mà là Bác Hồ”. Nói chuyện với cán bộ, đảng viên hoạt động lâu năm ở Nghệ An, Hồ Chí Minh trao đổi một cách thẳng thắn: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học. Việc lớn, việc nhỏ, tôi phải tham gia. Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau. Chúng ta là đảng viên già, hiểu biết của chúng ta hồi 30 tuổi so với sự hiểu biết của lớp trẻ bây giờ, kể cả ở Liên Xô, Trung Quốc, thì chúng mình dốt lắm. Tôi cũng dốt lắm”[1]. [2].

BacHo.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ. Ảnh: Tuấn Anh

Một nét nổi bật trong bản lĩnh văn hóa Hồ Chí Minh là tự phê bình. Chỉ mấy tháng sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, trong bài Tự phê bình, Hồ Chí Minh viết một cách rất thật lòng. Người xác định phận sự của Người như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bờ hạnh phúc của nhân dân. Người đánh giá rất cao cố gắng của đồng bào, trước hoàn cảnh khó khăn đó, người giúp sức, kẻ giúp tiền. “Còn tôi thì lo lắng đêm ngày để làm tròn nhiệm vụ của mình, sao cho khỏi phụ lòng đồng bào toàn quốc. Chỉ vì tôi tài hèn đức mọn, cho nên chưa làm đầy đủ những sự mong muốn của đồng bào”[3]. Thật ra lúc đó, Chính phủ do Người đứng đầu đã làm được rất nhiều việc. Đó là xây dựng nền độc lập của nước nhà; lãnh đạo cuộc kháng chiến miền Nam; ra sức kêu gọi tăng gia sản xuất và tìm mọi cách cứu nạn đói ở miền Bắc; tổ chức cuộc Tổng Tuyển cử đầu tiên ở nước ta, chuẩn bị thành lập Quốc hội. Nhân dân biết và ghi nhận những điều đó nhưng quan trọng hơn là nhân dân thấy rõ sự chân thành của người đứng đầu Chính phủ thật sự muốn đáp ứng khát vọng của lòng dân, vì hạnh phúc của dân. Người đứng đầu Chính phủ dám nhận mình là “tài hèn đức mọn” trong khi đã làm được bao nhiêu điều thể hiện tài cao đức rộng thì đúng là một thái độ “vô tiền khoáng hậu”. Người thẳng thắn chỉ ra “cái tệ tham ô, nhũng lạm chưa quét sạch; nhiều nơi chính trị vẫn chưa vào lề lối”. Chỉ ra ưu, khuyết điểm, Người kết luận: “Tôi phải nói thật: những sự thành công là nhờ đống bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi”.

Những trình bày trên không chỉ là thái độ khiêm nhường, một trong những nét nổi bật của phong cách ứng xử văn hóa Hồ Chí Minh mà điều đó thể hiện bản lĩnh văn hóa, phẩm chất văn hóa theo tinh thần văn hóa Lão Tử: Thánh nhân cao hơn thiên hạ vì biết đứng sau thiên hạ.

Trong cuộc sống hôm nay, chúng ta không thấy một cán bộ lãnh đạo-quản lý nào nhận ra được chính mình theo thái độ, tấm gương Hồ Chí Minh. Chúng ta đang thiếu phẩm chất và bản lĩnh văn hóa Hồ Chí Minh. Không ít cán bộ lãnh đạo-quản lý đang tự huyễn hoặc mình khi có một một chút quyền lực. Họ tưởng rằng cứ ngồi ở ghế lãnh đạo-quản lý thì đương nhiên có lòng cao thượng, có văn hóa. Họ quên mất lời dạy của Bác, rằng “ai giữ được đạo đức thì người đó có lòng cao thượng”. Trớ trêu hơn là không ít người có quyền nhưng đó là chức vụ qua mưu mẹo, thủ đoạn, bằng công nghệ nịnh hót, mua chức, chạy quyền chứ không phải do cán bộ công chức, nhân dân tín nhiệm, không phải do thật sự có đức có tài. Nhưng khi có chức vụ rồi thì lại “lên mặt làm quan cách mạng” như Bác đã chỉ ra. Họ không nhận ra được hay cố tình không nhận ra điểm xuất phát “thường thường bậc trung” của mình, và đi lên từ đâu. Rõ ràng đó là những người tài hèn đức mọn. Nghịch lý đời thường là những kẻ dốt nát lại hay cao ngạo, thích lộng ngôn, lộng hành và say mê quyền lực, những người tài giỏi lại rất khiêm nhường, không thích dùng quyền lực.

Nhiều cán bộ khi có chút chức quyền thì hay thao thao bất tuyệt, nói “hết giờ này qua giờ khác, nhưng điều nhân dân, cán bộ nhân viên cần lại không nói đến”. Đáng phê phán hơn là cách nói vô thưởng vô phạt đang rất phổ biến hiện nay. Những cụm từ như “về cơ bản”, “nhìn chung là”, “một bộ phận không nhỏ”, “chúng ta cũng phải thẳng thắn thừa nhận rằng một số cán bộ chưa thật sự quán triệt”; v.v.. Rõ ràng là chẳng có một chút thẳng thắn, thật sự, thật thà nào trong các cụm từ nói trên. Trong trường hợp người lãnh đạo nhắc tới khuyết điểm của đơn vị thì bộc lộ kiểu tư duy trong cụm từ “chúng ta” không có mặt người đứng đầu.

Bác Hồ đã dạy “Đảng ta là một Đảng chân chính, cách mạng, là đạo đức, là văn minh”. Ngoài vấn đề bản chất của Đảng phải thể hiện điều đó thì mỗi cán bộ, đảng viên phải thể hiện sự văn minh của mình. Văn minh của người cán bộ lãnh đạo-quản lý hoàn toàn xa lạ với cách ứng xử không bao giờ dám nhận khuyết điểm một cách thật lòng về mình; hoặc nhận khuyết điểm một cách chung chung theo kiểu “những khuyết điểm đó lãnh đạo chúng tôi xin nhận trách nhiệm”; “lãnh đạo chúng tôi đã kiểm điểm nghiêm khắc và xin rút kinh nghiệm”…. Cách ứng xử đó là một trò đùa xem khinh dư luận, xem khinh quần chúng, xem thường cán bộ nhân viên cấp dưới. Tại sao trong nhiều trường hợp như nhận thành tích của đơn vị, nhận các hình thức khen thưởng, “cái tôi” lớn thế nhưng khi nói tới khuyết điểm, sai lầm thì lại chẳng thấy “cái tôi” đâu? Tại sao cán bộ lãnh đạo-quản lý hôm nay không soi vào tấm gương Hồ Chí Minh để thấy rằng Người không nhận phần thưởng cao quý do Đảng, Nhà nước trao tặng vì Người cho rằng thành tích là do nhân dân làm nên, còn Người tự cho mình chưa xứng đáng nhận các phần thường cao quý đó, bởi nhiệm vụ nhân dân giao cho chưa hoàn thành. Khi qua đời, trên ngực Người không có một tấm huân chương nào. Mỗi khi nhận phần thưởng cao quý, chúng ta có cầm thấy xấu hổ với Bác Hồ?

Trong khi đánh giá thành tích của đơn vị cũng vậy, chúng ta đang xa rời cách ứng xử của Bác Hồ. Với Hồ Chí Minh, bao giờ Người cũng nhấn mạnh có được thành tích là nhờ đồng bào cố gắng, tức là nhờ sự đóng góp sức người, sức của, trí tuệ của nhân dân, của cán bộ công chức. Còn chúng ta hiện nay thường có cách nói về những kết quả đã đạt được là nhờ sự lãnh đạo của cấp ủy, sự cố gắng nhiệt tình, nhiều kinh nghiệm của các đồng lãnh đạo, nguyên lãnh đạo. Tuy nhiên, cả về mặt lý luận và thực tiễn, thì như Bác Hồ đã chỉ ra “không có Đảng và Chính phủ thì nhân không ai dẫn đường; không có nhân dân thì Đảng và Chính phủ không đủ lực lượng”. Nhưng khi nói Người thường chỉ nhấn mạnh vế sau. Theo tinh thần Hồ Chí Minh thì chất lượng khoa học của tư duy này là ở chỗ phải xác định: Vì ai mà làm? Phụ trách trước ai?. Trong một nước thì Chính phủ và Đảng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước dân. Trong một đơn vị thì cán bộ lãnh đạo-quản lý vì cán bộ nhân viên mà làm và chịu trách nhiệm trước cán bộ công chức.

Chỉ thấy lãnh đạo-quản lý mà không thấy dân; chỉ thấy ưu điểm mà không thấy khuyết điểm, yếu kém; chỉ thích chức này, quyền nọ mà không chịu rèn đức luyện tài; chỉ thích lên mà không thích xuống; thiếu và xa rời tư duy về dân, về cán bộ công chức; không đi đúng đường lối quần chúng theo cách ứng xử của Hồ Chí Minh để chạy theo tư duy quyền lực là một sai lầm lớn, nhất định thất bại. Bài học vô giá mà Bác Hồ dạy chúng ta là gì? Đó là “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sữa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”[4]. Bác nói về Đảng cũng là nói về Chính phủ, về mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo-quản lý. Điều này rất khó, nhưng khó dễ là tại mình. Chúng ta nói học và làm theo tư tưởng, tấm gương Hồ Chí Minh thì không thể lãng tránh. Vì lãng tránh là thất bại.

2. “Phò chính, trừ tà”, đấu tranh chống tiêu cực, bảo vệ nhân tố tích cực

Bản “lĩnh phò chính trừ tà” gắn chặt với bản lĩnh nhận ra chính mình. Chỉ có nhận ra chính mình thì mới có thể phò được chính, trừ được tà, mới dám có tư duy khoa học và cách mạng trong xây và chống. Bởi vì, nếu mình không cần kiệm liêm chính mà bảo người khác làm thì vô lý. Tất nhiên như trên đã nói, hiện nay có tình trạng mình không chính mà vẫn dạy người khác chính, mình không liêm vẫn bảo người khác liêm theo tinh thần “tôi yêu cầu và mong rằng các đồng chí (trừ tôi ra) sẽ thực hiện tốt cần kiệm liêm chính theo tấm gương Hồ Chí Minh”. Đó là một trong những vấn nạn cần phải được loại bỏ ra khỏi đội ngũ cán bộ-lãnh đạo quản lý của chúng ta ngày hôm nay.

Lúc sinh thời, Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về “phò chính trừ tà”. Phải là người thật sự có trí tuệ, bản lĩnh và luôn nhận thức đúng mình trên cái nền, cái gốc vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân thì mới dám “phò chính trừ tà”. Có những vấn đề lớn nhiều người đã biết ở những mức độ khác nhau, bài viết này không có ý định đi sâu, nhưng cũng xin được điểm qua mấy nét nổi bật. Đó là bản lĩnh ra đi một mình, vượt đại dương để tìm đường cứu nước cứu dân. Kiên quyết chống thực dân phương Tây, nhưng Hồ Chí Minh lại không choáng ngợp trước văn minh phương Tây. Ngược lại, Người muốn khám phá, tìm hiểu và khai thác các giá trị của các nền văn minh đó để về giải phóng đồng bào. Nếu nói rằng Hồ Chí Minh có bản lĩnh sử dụng chủ nghĩa tư bản để chống chủ nghĩa thực dân- một kiểu trá hình của chủ nghĩa tư bản- trên đất nước mình thì cũng đúng. Nhưng thật sự khoa học thì lúc đó Hồ Chí Minh đã có nhãn quan sáng suốt, sự nhạy cảm chính trị tuyệt vời khi coi Tự do- Bình đẳng-Bác ái là giá trị chung của nhân loại. và Người muốn tìm hiểu những gì ẩn giấu đằng sau các khái niệm đó, xem các nước tư bản làm thế nào rồi trở về giúp đồng bào tôi. Một người kiên quyết chống thực dân phương Tây xâm lược lại chủ động tìm đến văn hóa phương Tây, hiện thân cho nền văn hóa đó, là một hiện tượng kỳ lạ không chỉ về bản lĩnh văn hóa mà cả bản lĩnh chính trị. Ở Hồ Chí Minh, bản lĩnh cách mạng và bản lĩnh văn hóa hòa quyện vào nhau.

Hồ Chí Minh là con người đề cao tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Trong mọi ứng xử văn hóa ngoại giao, Người luôn luôn lấy lợi ích dân tộc làm trọng. Đứng trước muôn vàn đối thủ, Hồ Chí Minh đều thể hiện bản lĩnh của nhà chính trị- văn hóa-ngoại giao lịch lãm và tự chủ, bình tĩnh và đĩnh đạc, chủ động và tỉnh táo để vượt qua mọi cạm bẫy, đẩy lùi mọi đòn tiến công hiểm độc và mọi thủ đoạn xảo trá của đối phương. Trong các mối quan hệ song phương, đa phương với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là các nước lớn, Người ứng xử theo phong cách Hồ Chí Minh “có lý có tình, hài hòa nhuần nhị”, không làm mất lòng bè bạn và vẫn nhận được sự ủng hộ to lớn của các nước trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược. Người là sứ giả và hiện thân cho nền văn hóa hòa bình.

Trước nay, khi bàn tới xây dựng đội ngũ cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thường chỉ nói tới đức tài một cách chung chung. Hồng chuyên là cần nhưng không thể thiếu phong cách lãnh đạo, bản lĩnh chính trị-văn hóa, nhất là khi công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu. Hiện nay, hằng ngày chúng ta đang phải đối mặt với nhiều cái giả, cái ác, cái xấu, cái sai, cái cũ kỹ, lạc hậu, tiêu cực biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Bên cạnh đó cũng xuất hiện những điển hình tiên tiến, nhân tố tích cực, nhiều tiếng nói thẳng thắn, chân thành chống lại sức ỳ, bảo thủ, loại này thường không giữ chức vụ lãnh đạo-quản lý. Noi theo tấm gương Hồ Chí Minh, công cuộc đổi mới đang rất cần những cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo- quản lý, dám đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, bảo vệ những nhân tố tích cực.

Vì quá say sưa với chức vụ, trong hệ thống quyền lực của chúng ta hầu như đang thiếu vắng những con người có bản lĩnh “phò chính trừ tà” như Hồ Chí Minh. Có chăng thì đó lại là “nhân dân”- những người không có chức quyền lãnh đạo-quản lý. Đáng lên án hơn, không ít cán bộ lãnh đạo-quản lý lại cổ súy, định hướng cho tư tưởng “dĩ hòa vi quý” theo tinh thần “giữ đoàn kết nội bộ”. Nhiều cán bộ lãnh đạo-quản lý xếp những cán bộ hay tìm tòi, phát hiện cái mới, phê phán (chứ chưa nói gì tới đấu tranh) tiêu cực, tư duy bảo thủ, trì trệ vào hàng những người khó hợp tác, không ủng hộ (nặng hơn là chống) lãnh đạo, gây mất đoàn kết (?!). Nếu Hồ Chí Minh dám tự phê bình, động viên và thực hành “phò chính trừ tà” là một hiện tượng hiếm thấy, kỳ lạ thì cũng thật kỳ lạ là trong bối cảnh hiện nay, nhiều cán bộ lãnh đạo-quản lý không có khí khái, không dám chống tiêu cực, không dám bảo vệ những nhân tố tích cực, a dua với với cái giả, cái xấu, cái sai, theo kiểu “thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi”, “theo gió bẻ buồm”. Người ta đang có cách ứng xử khá phổ biến, thiếu văn hóa theo kiểu “ngậm miệng giữ ghế’ tức là ngậm miệng ăn tiền. Người thì hành xử theo tư duy “ăn cây nào rào cây đấy”, kẻ thì nhân danh tổ chức, tập thể để lộng hành, đạt được mục đích cá nhân. Đây đó trong họp hành có những diễn văn, bài phát biểu, nếu suy ngẫm có trách nhiệm thì đó là tư duy cũ kỹ, lạc hậu trước đổi mới. Vẫn theo xu hướng bệnh thành tích, tụng ca nhau, kể lể những việc đã làm được. Có những đơn vị có những hoạt động “yếu kém bền vững” nhưng vẫn được coi là thành tích vì ổn định. Vì thích “ổn định trì trệ”, cán bộ lãnh đạo-quản lý không thích nói tới khuyết điểm, không thích bàn và thực hành dân chủ, không thích nghe những tiếng nói “trái chiều”, không thích có những ý kiến mới mang tính đột phá về tư duy. Cán bộ lãnh đạo-quản lý ở Việt Nam còn quá xa lạ với hai từ “trách nhiệm” và tệ quan liêu, trong lúc đó chính Hồ Chí Minh đã chỉ ra quan liêu đẻ ra tham ô, lãng phí, và muốn trừ sạch tham ô, lãng phí thì trước hết phải tẩy sạch bệnh quan liêu. Người ta ngại đụng chạm, thích “đóng cửa bảo nhau”, “chín bỏ làm mười”, “một sự nhịn chín điều lãnh”. Người ta cần lá phiếu (để cuối cùng là lợi ích) hơn là sự phát triển của đơn vị. Vì vậy, không ít những biểu hiện vuốt ve loại cán bộ vừa vừa, hạng ở giữa- mà theo Hồ Chí Minh thì loại cán bộ này bao giờ cũng nhiều hơn hết- mà không chú ý những nhân tố tích cực, những tiếng nói tâm huyết vì sự phát triển. Đây là loại cán bộ say sưa với chữ “nhẫn” theo kiểu nhẫn nhục chờ thời, vụ lợi, chứ không phải là “kiên trì và nhẫn nại”. Người ta sẵn sàng hy sinh tất cả để đổi lấy chút lợi ích vật chất tầm thường. Đó là loại cán bộ lãnh đạo-quản lý thiếu văn hóa, dưới văn hóa. Bản lĩnh Hồ Chí Minh là trọng dụng người hiền tài, muốn nghe nhiều loại ý kiến khác nhau, tạo bầu không khí dân chủ trong sinh hoạt. Cán bộ lãnh đạo hiện nay thì hầu như thích kẻ khéo ninh hót mình, ghét người chính trực, ghen ghét, đố kỵ, dìm người giỏi để giữ địa vị và danh tiếng của mình (Bác Hồ gọi là “đạo vị”).

Công cuộc đổi mới của đất nước đang đi vào chiều sâu. Trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững, mọi vấn đề đang phát triển theo quy luật. Sau giải phóng miền Nam đến trước đổi mới, sự tồn tại của đất nước cơ bản là do sự áp đặt quyền lực, duy ý chí. Trong bối cảnh lúc đó, nhiều nhận thức ấu trĩ, nhiều sự bằng lòng, thỏa mãn ngây thơ vẫn còn có đất tồn tại. Sau 25 đổi mới, theo xu thế phát triển của thời đại, cuộc sống đang vận động theo quy luật, không có đất cho những kiểu tư duy cũ kỹ, lạc hậu. Những cán bộ lãnh đạo-quản lý thiếu bản lĩnh văn hóa vẫn có thể còn tồn tại một thời gian nữa, nhưng đó chính là nỗi đau cho dân tộc. Bởi vì, mỗi ngày còn tồn tại những loại cán bộ đó là tạo thêm một cản lực, làm chậm con đường phát triển của đất nước. Tất nhiên theo quy luật, họ sẽ phải rời khỏi vị trí. Dưới ánh sáng Đại hội XI của Đảng, sự thắng lợi của công cuộc đổi mới không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh loại bỏ tư duy cũ kỹ, lạc hậu, kém bản lĩnh trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo-quản lý./.


PGS.TS Bùi Đình Phong
Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

[1] Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, H, 1996, t.10, tr.465.
[2] Hồ Chí Minh, Sdd, t.10, tr.469.
[3] Hồ Chí Minh, Sdd, t.4, tr.165.
[4] Hồ Chí Minh, Sdd, t.5, tr.261.

hochiminhhoc.com

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh – một giá trị đặc trưng cho văn hoá hoà bình

Thế kỷ XX đã qua với hai cuộc chiến tranh thế giới và hàng trăm cuộc chiến tranh khu vực lớn nhỏ. Nỗi khủng khiếp trước thảm họa Hirốima và Nagasaki đến nay vẫn chưa thôi nhức nhối trong trái tim nhân loại. Trái đất càng trở nên mong manh hơn khi vũ khí hủy diệt ngày càng được hoàn thiện, sự tích lũy ngày càng lớn, đủ sức làm nổ tung cả hành tinh bé nhỏ của chúng ta.

Hòa bình là khát vọng của nhân loại, bởi trong thực tế tồn tại mấy nghìn năm qua, loài người chưa bao giờ được sống trong một thế giới hòa bình. Sau nhiều nỗ lực tìm kiếm, bước vào thiên niên kỷ mới, loài người càng thấm thía nhận ra rằng không thể giải quyết mọi tranh chấp, xung đột bằng vũ khí mà phải bằng thông cảm, hiểu biết, đối thoại, bằng văn hóa khoan dung. Muốn có hòa bình lâu dài phải tạo lập trước hết một nền văn hóa hoà bình mà linh hồn của nó chính là lòng nhân ái, khoan dung.

“Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng bác ái”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói như vậy, và chính Người là biểu tượng, là tinh hoa của khoan dung, nhân ái Việt Nam.

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh biểu hiện ở lòng yêu thương mênh mông, sâu sắc đối với con người, ở niềm tin vào phần tốt đẹp, phần thiện trong mỗi con người, dù nhất thời họ có lầm lạc, còn nhỏ nhen, thấp kém; từ đó Người nhắc nhở chúng ta “phải biết làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”. “Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải dùng tình thân ái mà cảm hóa họ”.

Đối với những quan lại cũ, cả với những người từng có nợ máu với cách mạng, Người cũng khuyên “không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới,… mà nên dùng chính sách cảm hóa, khoan dung”. Để làm được điều đó, Người nhắc nhở chúng ta phải vượt qua những thiên kiến, hẹp hòi. “Sông to, bể rộng thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của nó rộng và sâu”.

Chính sách đại đoàn kết và tấm lòng khoan dung, độ lượng của Bác Hồ đã làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù, đã cảm hoá được nhiều nhân sĩ, trí thức có tên tuổi, kể cả các quan lại cao cấp của chế độ cũ, một lòng một dạ đi theo cách mạng và kháng chiến, không quản ngại gian khổ, hy sinh.

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh biểu hiện ở thái độ trân trọng, cái nhìn rộng lượng đối với những giá trị khác nhau của văn hoá nhân loại, là chấp nhận giao lưu, đối thoại, tìm ra cái chung, nhằm đạt tới sự hoà đồng, cùng phát triển.

Hồ Chí Minh xa lạ với mọi thói kỳ thị văn hoá. Trong khi chống Pháp, Người vẫn yêu mến và đề cao văn hoá Pháp; chống Mỹ và vẫn ca ngợi truyền thống đấu tranh cho độc lập, tự do của nhân dân Mỹ. Bản thân Người là hình ảnh kết tinh của tinh hoa văn hóa nhân loại Đông và Tây. Trong một thế giới cộng sinh về văn hóa, có sự giao lưu giữa cái chung và cái riêng, cái đồng nhất và cái dị biệt, khoan dung Hồ Chí Minh là chấp nhận đối thoại về giá trị, là truy tìm cái chung, cái nhân loại để hòa đồng. Người đã viết: “Tuy phong tục mỗi dân tộc mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau. ấy là dân nào cũng ưa sự lành, ghét sự dữ”.

Là một nhà ngoại giao biết thương lượng, có đầu óc thực tế, Hồ Chí Minh biết tìm ra mẫu số chung cho mọi cuộc đối thoại. Người nói với người Pháp: “Người Việt và người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức tự do, bình đẳng, bác ái độc lập”.

Với các tôn giáo, Hồ Chí Minh thành thật tôn trọng đức tin của người có đạo, khẳng định lẽ sống cao đẹp, những giá trị đạo đức – nhân văn của các vị sáng lập, không hề bài bác, phủ định mà khéo hướng lý tưởng của các tôn giáo vào mục tiêu giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân.

Mùa hè năm 1946 tại Paris, Người đã tiếp một nhóm linh mục công giáo đến thăm, trong đó có linh mục Cao Văn Luận, một người công giáo xác tín, chống cộng. Sau này, ông ta đã thuật lại trong cuốn hồi ký của mình lời của Hồ Chí Minh trong buổi gặp: “Mục đích của Chính phủ ta là đeo đuổi chiến đấu vì nền độc lập và đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Để đạt hạnh phúc đó mọi người cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nếu đức Giễu sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình trước những nỗi đau của người đồng thời, chắc Ngài sẽ là một người xã hội chủ nghĩa đi tìm cứu khổ loài người”.

Tại cuộc họp mặt đại biểu các tôn giáo, đảng phái tại Chùa Bà Đá mừng Chính phủ liên hiệp lâm thời vừa thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tín đồ Phật giáo tin ở Phật, tín đồ Giatô giáo tin ở Đức Chúa Trời, cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng. Nhưng đối với nhân dân, ta đừng có làm gì trái ý dân. Dân muốn làm gì, ta phải theo nấy”.

Nói về khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh, chính J.Sainteny thừa nhận: “Về phần tôi, phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ để thấy nơi các chương trình của cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dù rất nhỏ, của sự công kích, đa nghi hoặc chế diễu bất kỳ một tôn giáo nào'”.

Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh được xây dựng trên nguyên tắc công lý, chính nghĩa, tự do, bình đẳng, không chấp nhận thỏa hiệp vô nguyên tắc với tội ác, bất công, xã hội và tất cả cái gì chà đạp lên “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” của mỗi con người và mỗi dân tộc. Người nói: “Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu sự nghiệp cách mạng của mình bằng một cử chỉ hòa bình: đưa yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Vecxay (1919). Nhưng Người biết: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu”, bởi vậỵ, Người cũng đã nói từ rất sớm: “Nếu chúng ta không đạt được (việc tự giải phóng) bằng phương pháp ôn hòa thì chúng ta không ngần ngại hành động quyết liệt để trả thù nhà, nợ nước và để chen vai, thích cánh với năm châu”.

Trong cuộc xung đột Việt – Pháp, giữa hai giải pháp hòa bình và bạo lực, Hồ Chí Minh luôn luôn chọn giải pháp hòa bình, nên Người đã chấp nhận thỏa hiệp, nhân nhượng: ký Hiệp định sơ bộ 6.3 rồi “Tạm ước 14.9; không quản bất trắc, hiểm nguy, Người sang tận thủ đô nước Pháp để tìm kiếm hòa bình. Rất tiếc, thiện chí đó đã không được đáp lại.

Đến khi đối phương buộc chúng ta phải cầm súng đứng lên tự vệ, Người đã luôn luôn giáo dục chúng ta biết phân biệt bọn thực dân xâm lược phản động Pháp với nhân dân Pháp yêu chuộng hòa bình và công lý. Người đã tìm mọi cách để hạn chế đến mức thấp nhất những thương vong trên chiến trường, cho quân ta và cho cả quân địch. Người nói một cách xúc động: “Trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt đều là máu, người Pháp hay là người Việt đều là người”. Người nhắc nhở mục tiêu của chúng ta là đánh bại, đánh sập ý chí xâm lược của địch chứ không phải là đánh tiêu diệt hoàn toàn chúng trên chiến trường. Ta hiểu vì sao Người không tán thành cách gọi một trận đánh chết nhiều người là một trận đánh “đẹp”! Người nói: “Đánh mà thắng là giỏi, nhưng không đánh mà thắng lại giỏi hơn”, nên theo binh pháp của cha ông, “đánh vào lòng người là hơn hết, đánh vào thành trì là thứ hai”, vì vậy Người tất coi trọng địch vận, ngụy vận, coi “khéo ngụy vận thì đó cũng là một cách tiêu diệt sinh lực địch”.

Đối với những tù binh và thường dân Pháp bị ta bắt trong chiến tranh, Người kêu gọi đồng bào và chiến sĩ ta phải nêu cao lý tưởng chính nghĩa, nhân đạo, phải đối xử khoan hồng đối với họ để “cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước”. Người chỉ thị cho Bộ tài chính của ta cấp cho mỗi người lính hay thường dân Pháp bị bắt 200 đồng/mỗi tháng, trong khi mức ăn của bộ đội ta chỉ có 150 đồng/tháng, với lý do “ta có thể chịu kham khổ được, nhưng đối với họ cần phải rộng rãi hơn”. Một lần đến thăm trại tù binh Pháp bị bắt trong chiến dịch Biên giới, thấy một đại úy quân y Pháp ở trần, đang run lên vì lạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cởi chiếc áo người đang mặc, trao cho anh ta.

Trong thư gửi cho tướng R.Xalăng, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, (6-1947), một người đã từng tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt chuyến Người sang thăm nước Pháp, đã từng được Người coi là bạn, có đoạn viết: “Chúng ta đã từng là những người bạn tốt… Nhưng hoàn cảnh ngoài ý muốn đã biến chúng ta thành hai kẻ đối địch. Điều đó thật đáng tiếc!… Vì chúng ta buộc phải chiến đấu, thì các ngài hãy tỏ ra là những chiến binh hào hiệp, những đối thủ quân tử, trong khi chờ đợi chúng ta trở thành bạn hữu của nhau”.

Thật là ngôn luận của một hiệp sĩ, một chính nhân quân tử! Chúng ta chiến đấu vì những mục tiêu cao cả hòa bình, độc lập dân tộc, chứ không vì lý do nào khác. Hoàn cảnh đã buộc phải chiến đấu thì hãy chiến đấu ra trò, cao thượng và chính trực, để sau chiến đấu, lại trở lại là những người bạn! Người đã làm hết sức mình để không gây ra mối hận thù đối với dân tộc Pháp, một dân tộc mà Người luôn luôn yêu mến và kính trọng.

Qua đó, có thể thấy: khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh không phải là một sách lược mà là sự kế tục và phát triển truyền thống khoan dung, nhân ái của dân tộc ta qua hàng ngàn năm lịch sử và cũng là sự thể hiện bản chất nhân văn, chính nghĩa của cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Khoan dung cũng là một biểu hiện sức mạnh của cách mạng, chỉ có những cuộc cách mạng chân chính, được lòng dân, mới có sức thuyết phục, cảm hóa trái tim, khối óc của quần chúng, bao gồm cả những người lầm lạc và chống đối.

Ngày nay, trên thế giới, chiến tranh lạnh đã qua đi, nhưng loài người vẫn đang phải sống trong “một nền hòa bình nóng”. Nhiều nơi vẫn đang diễn ra những cuộc chiến tranh, xung đột đẫm máu về lãnh thổ, dân tộc, sắc tộc và tôn giáo. Do thiếu một thái độ khoan dung, người ta tự coi mình là độc tôn, đi tới dị hóa, kỳ thị với tất cả cái gì không phải là mình! Ngược lại, cũng đang có những thế lực mưu toan lợi dụng cái gọi là “bản chất chung của con người” để áp đặt cho các dân tộc khác những giá trị xa lạ với truyền thống văn hóa của họ. Khi không áp đặt được, họ sẵn sàng dùng sức mạnh của bom đạn, sắt thép để khuất phục ý chí của một dân tộc có chủ quyền. Chủ nghĩa khủng bố quốc tế đang đe dọa quyền được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc trong hòa bình, tự do, độc lập; quyền được lựa chọn con đường phát triển riêng theo lý tưởng và truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc. Chính trong điều kiện đó, giáo dục, bồi dưỡng và phát triển lòng nhân ái, khoan dung đang là một yêu cầu cấp bách, trong đó tấm gương khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh đang được nhắc nhở như một giá trị tiêu biểu cho đặc trưng văn hóa của thế kỷ XXI – văn hóa hoà bình.

GS. Song Thành, Viện Hồ Chí Minh

quangbinh.gov.vn

Bản sắc văn hóa dân tộc trong hành trình cách mạng Hồ Chí Minh

Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi rõ: “Sự đóng góp về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hoá hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc văn hoá dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”(1).

Bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc được kết tinh từ truyền thống lịch sử của chính dân tộc đó. Trải qua hàng ngàn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước, cùng với kết quả giao lưu và tiếp thụ tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới, nền văn hoá Việt Nam đã hình thành và phát triển. Bằng lao động cần cù, thông minh và ý chí đấu tranh kiên cường, bền bỉ, nhân dân ta đã hun đúc nên một nền văn hoá kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn bản sắc của dân tộc với những giá trị bền vững. “… Đó là lòng yêu nước nồng nàn; ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Bản sắc văn hoá dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo”(2).

Hồ Chí Minh được thế giới suy tôn cùng một lúc với hai danh hiệu cao quý vừa là Anh hùng giải phóng dân tộc, vừa là Nhà văn hoá lớn. Sự ghi nhận này đã làm sáng tỏ ý nghĩa của những danh hiệu cao quý mà nhân loại trao tặng cho người con vĩ đại đã làm rạng danh đất nước Việt Nam. Đồng thời, cũng là sự đánh giá hết sức khách quan những cống hiến của Hồ Chí Minh trong việc đưa những giá trị bền vững, những tinh hoa văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần đã làm nên sắc thái riêng của dân tộc Việt Nam trong lịch sử và trong phát triển hoà nhập cùng những giá trị của nền văn hoá của nhân loại và sự tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại để làm giàu thêm bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam của Hồ Chí Minh trong hành trình hoạt động cách mạng của chính Người.

Chịu sự tác động của phương thức sản xuất kinh tế thuộc về văn minh lúa nước nên xã hội Việt Nam được tạo ra chủ yếu bởi ba yếu tố có quan hệ gắn kết chặt chẽ với nhau: Nhà, làng, nước. Đây là một cấu trúc độc đáo của tổ chức xã hội Việt Nam phản ánh sắc thái văn hoá riêng có ở Việt Nam được lưu truyền từ ngàn xưa cho tới ngày nay. Bản chất của kết cấu xã hội này là sự hình thành tư tưởng cộng đồng, yêu thương, đoàn kết, đùm bọc, hoà hợp với nhau; là sự gắn kết giữa cá nhân và tập thể, giữa cái riêng và cái chung để chống chọi với thiên tai và bảo vệ quyền bất khả xâm phạm từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận định: “Hồ Chí Minh là người Việt Nam, Việt Nam hơn người Việt Nam nào hết”(3). Vì vậy, nét tinh tuý làm nên bản sắc riêng trong kết cấu Nhà – Làng – Nước này đã thâm nhập vào tiềm thức của Người, trở thành một trong những hành trang Người mang theo mình lúc ra đi tìm chân lý cách mạng và theo sát toàn bộ sự nghiệp hoạt động của Người khi ở trong nước cũng như ở nước ngoài.

Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890, trong một gia đình nhà Nho nghèo giàu lòng yêu nước, mọi người trong gia đình sống hoà thuận, êm ấm, trên kính, dưới nhường, luôn quan tâm và thương yêu lẫn nhau. Thân mẫu của Người, bà Hoàng Thị Loan là biểu tượng điển hình của những người phụ nữ Việt Nam truyền thống: Cần cù, chịu khó, đảm đang, tháo vát, thương yêu chồng con vô hạn, sống nhân hậu với bà con làng xóm… Những đức tính quý báu hết lòng vì chồng, vì con của Bà đã có ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ, đến tâm hồn, tình cảm của người con Nguyễn Sinh Cung. Với vai trò của người mẹ, Bà đã giáo dục và hướng thiện trực tiếp tới người con của mình bằng câu hát ru:

Làm người đói dạy, rách thơm.
Công danh phủi nhẹ, nước non phải đền.

Và lời hát ru mang đậm âm hưởng giá trị truyền thống văn hoá đó giống như những sợi tơ dệt nên nhân cách của Hồ Chí Minh ngay từ thời thơ ấu. Thân phụ của Người, cụ Nguyễn Sinh Sắc là một nhà Nho yêu nước thương dân. Cụ học rộng, đã đỗ Phó bảng nhưng từ chối không ra làm quan vì Triều đình phong kiến làm tay sai cho giặc, “quan trường thị nô lệ, trung chi nô lệ, hựu nô lệ” (làm quan ở chốn nô lệ, đã nô lệ, lại càng nô lệ hơn). Khi bị thúc ép nhiều lần, Cụ bắt buộc phải ra làm quan với quan điểm riêng tiến bộ của Cụ “trung quân, ái quốc” là phải yêu nước, thương dân. Cho nên, dù ở cương vị nào Cụ cũng đều thông cảm với người nghèo, luôn dành những tình cảm ưu ái cho trẻ mồ côi, những gia đình bị bọn địa chủ, phong kiến và thực dân đẩy vào hoàn cảnh điêu đứng, khổ ải, lầm than.

Nghệ An – quê hương nơi Hồ Chí Minh cất tiếng khóc chào đời là vùng đất “địa linh, nhân kiệt”, mang đậm chất văn hoá truyền thống chung của dân tộc và những nét đặc trưng riêng của dải đất miền Trung. Đất nghèo và phải luôn vật lộn mưu sinh trước sự hà khắc của thiên nhiên, địch hoạ nên người dân Xứ Nghệ sớm biết thương yêu, đùm bọc, đoàn kết với nhau để vượt qua mọi thử thách. Đặc biệt, môi trường này đã hun đúc để hình thành tính cách của người dân Xứ Nghệ với các đặc điểm: Lý tưởng trong tâm hồn, trung kiên trong bản chất, cần cù trong lao động, khắc khổ trong sinh hoạt, cứng cỏi trong thử thách, linh hoạt trong quan hệ, tinh tế trong ứng xử… và nổi bật hơn cả là truyền thống giàu lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh cách mạng.

Như vậy, trước khi ra đi tìm đường cứu nước (năm 1911), ở Hồ Chí Minh đã hình thành các giá trị và chuẩn mực văn hoá định hướng cho con đường cách mạng của Người với tâm điểm là lòng nhân ái, yêu nước thương dân. Chính từ trong lòng mái ấm gia đình thanh cao cùng với một vùng quê đậm đà câu hát dân ca – nơi ươm trồng nhiều yếu tố văn hoá con người ấy đã nuôi dưỡng trong tâm hồn Hồ Chí Minh một khởi điểm nhân cách trọng nhân nghĩa theo triết lý của Nho gia là “gốc” trong đạo làm người, để rồi sau này, trong chiều sâu tâm linh của Người những đức tính khiêm nhường, ôn hoà, trọng nghĩa, trọng tình, không ham phú quý, không màng danh lợi, ham học hỏi, ham hiểu biết… và đặc biệt là đạo đức “lấy mình làm gương” đều do ảnh hưởng của nếp nhà chân nho ấy.

Dân tộc Việt Namlà dân tộc có truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm. Trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh chống quân xâm lược, dân tộc ta đã sinh ra những người con đất Việt giàu lòng yêu quê hương, đất nước, căm thù quân xâm lược, có khí phách quật cường, có lòng dũng cảm, anh hùng bất khuất trước mọi kẻ thù. Tinh thần ấy, khí phách ấy đã hun đúc và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý chí và nghị lực của người thanh niên Nguyễn Tất Thành và bồi dưỡng cho Nguyễn Tất Thành những tư tưởng, tình cảm lớn của dân tộc mà cốt lõi vẫn là tinh thần yêu nước, thương dân. Không chỉ biết đấu tranh bất khuất trước mọi kẻ thù, con người Việt Nam có truyền thống trọng nhân nghĩa, có nếp sống giản dị, chân thành, nhân ái, chịu thương, chịu khó, cần cù, sáng tạo, càng trong khó khăn, hoạn nạn lại càng thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Chính nét đẹp truyền thống của con người và đất nước Việt Nam đã tác động sâu sắc đến tâm tư, tình cảm và tâm hồn của Nguyễn Tất Thành và gieo mầm cho những tư tưởng nhân văn và tinh thần quốc tế vô sản của Hồ Chí Minh về sau này.

Nét vượt trội độc đáo ở Hồ Chí Minh là Người vừa bảo tồn và vừa phát triển những giá trị của nền văn hoá dân tộc hoà quyện hài hoà và nhuần nhuyễn với việc tiếp thu và xử lý giá trị văn hoá của nhân loại phù hợp với đặc tính truyền thống của văn hoá Việt Nam. Vì vậy, trong hành trình cách mạng, Hồ Chí Minh luôn kế thừa những giá trị tinh hoa thuộc về nền văn hoá thế giới để làm phong phú, làm giàu cho bản sắc văn hoá dân tộc mình. Điển hình là học thuyết về “Nhân” – học thuyết nhằm giải quyết đạo làm người và xây dựng xã hội có kỷ cương, trật tự… của Nho giáo; lòng nhân ái của Đạo Phật – tinh hoa văn hoá của Ấn Độ; lòng từ bi, bác ái, tính nhân từ và đức hy sinh… của Tôn giáo; tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng tư sản Pháp… nhưng đặc biệt hơn cả là khi Người đến và tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, đỉnh cao tư tưởng nhân văn của nhân loại. Trên tinh thần hiểu biết và nhận thức khoa học, Hồ Chí Minh đã thực hiện và lãnh đạo thành công quá trình tiếp biến và thu nhận các giá trị văn hoá của Chủ nghĩa Mác-Lênin như một nhân tố bảo đảm sự cân bằng và tính ổn định để từng bước nâng nền văn hoá của dân tộc ngang tầm thời đại. Nhờ đó, đã kết tinh trong Người những giá trị văn hoá vừa dân tộc, vừa hiện đại, vừa nhân văn. Mà cốt lõi nhất là lòng yêu nước, thương dân, thương yêu con người và niềm tin đối với con người đã trở thành nguồn lực để Hồ Chí Minh trọn đời chiến đấu quên mình vì độc lập tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì hòa bình của nhân loại.

Lòng yêu nước – hạt nhân kết tinh truyền thống văn hoá hàng ngàn năm, là giá trị vĩnh hằng khẳng định bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế. Và đó cũng là tài sản có giá trị nhất trong hành trang cứu nước của Hồ Chí Minh. Người cho rằng: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của dân tộc ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Chỉ có tinh thần yêu nước thì dân tộc ta dù phải trải qua nghìn năm Bắc thuộc và 80 năm dưới chế độ đô hộ của thực dân Pháp nhưng vẫn khẳng định được bản lĩnh anh hùng, không chịu khuất phục trước kẻ thù. Tinh thần yêu nước đó cũng là cơ sở, động lực, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hành trình cách mạng của Hồ Chí Minh và trở thành nền tảng vững chắc để Người gửi gắm lại niềm lạc quan và tin tưởng vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta dù có “phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn”(4).

Yêu nước là phải thương dân, đó là mối quan hệ gắn bó chặt chẽ phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử. Trong con người Hồ Chí Minh, tình yêu nước thương dân, đạo đức thuỷ chung và sâu sắc của lớp lớp cha ông trước kia luôn hiện hữu nhưng đã được Người vận dụng sáng tạo cho phù hợp với thời đại. Với người cách mạng thì sức thuyết phục và cảm hoá hiệu quả nhất là phải làm gương qua hành động, “lời nói đi đôi với việc làm”chứ không bằng lý thuyết suông. Hồ Chí Minh khẳng định sự ham muốn tột bậc của mình là làm sao cho “nước ta được độc lập, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(5), “mọi người được ăn no, mặc ấm, được sung sướng, tự do” thì trong suốt cuộc đời, từ lúc cất bước ra đi tìm đường cứu nước – ngày 5/6/1911 cho đến khi về với thế giới Người hiền gặp cụ Lênin và Các-Mác, Người đã cống hiến không ngừng nghỉ, chấp nhận mọi khó khăn, gian khổ, thậm chí là cả tính mạng của mình để kiên quyết thực hiện cho bằng được ham muốn đã trở thành mục tiêu, lý tưởng và khát vọng của Người: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. Những khi tôi ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo là vì mục đích đó”(6). Khi đất nước mới giành được độc lập, tự do, trước nạn “giặc đói” đang đe doạ trầm trọng đến tính mạng của người dân nghèo, Hồ Chí Minh đã phát huy giá trị truyền thống “cộng đồng dân tộc Việt”, tương thân, tương ái “lá lành đùm lá rách”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Ngưòi trong một nước phải thương nhau cùng” hay “Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”… thành phương châm hành động cụ thể, kêu gọi mọi người cùng nhường cơm, sẻ áo giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn, hoạn nạn và chính Người cũng đã gương mẫu thực hiện 10 ngày nhịn ăn một bữa. Khi đất nước còn chiến tranh, miền Nam chưa được giải phóng và còn phải đổ máu ngày nào thì ngày đó Người ăn không ngon, ngủ không yên. Và cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc đời Người vẫn trọn vẹn “để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”(7).

Lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý là nền tảng của giá trị văn hoá Việt Nam: “dân vi bang bản, bản cố bang ninh” (dân là gốc của nước, nước có vững dân mới yên ổn), “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ)… Nền tảng giá trị này đã được Hồ Chí Minh sử dụng xuyên suốt trong hành trình hoạt động cách mạng của Người mà trước hết được biểu hiện ở lòng tôn quý của Hồ Chí Minh về vai trò của con người và được Người khái quát qua triết lý của cuộc sống: nghĩ cho cùng, mọi vấn đề là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải yêu nước, thương dân, thương nhân loại bị đau khổ, áp bức. Người khẳng định: “Lòng thương yêu nhân dân và nhân loại của tôi không bao giờ thay đổi”(8). Như vậy, từ “thương người như thể thương thân” vốn là một khía cạnh đặc sắc trong bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam đã được Hồ Chí Minh tiếp nối và phát huy ở một tầm cao mới, mang một nội dung mới, sâu sắc và toàn diện. Tình thương đó, trước hết dành cho nhân dân lao động, cho những người cùng khổ bị áp bức, đoạ đày. Từ tình thương yêu đồng bào mình, dân tộc mình, Người mở rộng lòng yêu thương đó đến tất cả nhân loại khổ đau bởi áp bức, bóc lột, bất công. Đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, tình yêu thương con người đã được Hồ Chí Minh nâng lên thành chủ nghĩa nhân văn cách mạng. Người quan niệm: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân và:

“Gốc có vững cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(9).

Do đó, dù bận trăm công nghìn việc, Người vẫn dành thời gian gặp gỡ các tầng lớp nhân dân, chân thành lắng nghe ý kiến, cũng như quan tâm đến đời sống của người dân. Không những thế Người còn hoà đồng, đi sâu, đi sát với nhân dân trong cuộc sống, trong công việc, để từ đó, ân cần chỉ rõ, động viên, khuyến khích họ tự vươn lên, phấn đấu làm cho cái tốt nảy nở lấn át cái xấu và làm cho cái xấu từng bước bị mất đi. Với quan điểm, người cách mạng phải biết hy sinh cái “tôi” của chính mình và “Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”(10), Người luôn căn dặn, giáo dục Đảng ta “một lòng, một dạ phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân” (11), đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết và “phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(12).

Chiều sâu của mọi giá trị văn hoá quy tụ lại ở giá trị con người. Vì vậy, đào tạo nguồn lực con người “hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, chăm lo đến thế hệ trẻ được coi là nét nổi bật trong truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam. Thẩm thấu quan điểm đúng đắn của cha ông nên trong sự nghiệp hoạt động cách mạng, bên cạnh việc luôn quan tâm đến vấn đề con người thì Hồ Chí Minh cũng rất chú trọng đến sự nghiệp trồng người “vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” với niềm tin vào vai trò làm chủ đất nước của thế hệ tương lai “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không? Dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(13).

Nhân và nghĩa luôn gắn với nhau trong nền văn hoá dân tộc, “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” hay “phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu” (Nguyễn Trãi), “Khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc, bền rễ” (Trần Quốc Tuấn)… cùng với lòng khoan dung, độ lượng, vị tha… là những đức tính thể hiện sự tinh tế trong văn hoá ứng xử, là cái gốc để “đối xử với người” và “tự xử với mình”. Nếu trước đây, trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh, ông cha ta không chỉ tha cho kẻ thù bại trận mà còn cấp cho chúng hàng trăm chiếc thuyền, hàng nghìn cỗ ngựa để cho chúng trở về nước thì ở Hồ Chí Minh sự khoan dung, độ lượng và vị tha của Người đã làm cảm hoá khối óc và trái tim của không ít những người đứng bên kia trận tuyến. Những người ngày hôm qua vẫn còn là kẻ thù không đội trời chung của dân tộc, đến ngày hôm nay đã trở thành những kẻ chiến binh thất bại thì Người cũng đã lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn, lấy trí nhân để thay cường bạo, Ngườicăn dặn: “…Phải chăm sóc hết sức chu đáo, đối xử thật nhã nhặn để tỏ rõ sự ân cần của ta đối với người Pháp, để cho họ thấy rõ: Ta chiến đấu vì tiền đồ của quốc gia và dân tộc Việt Nam, chứ không có ý ghét bỏ người Pháp. Khẩu phần ăn của họ phải hơn người Việt Nam. Tổ chức việc nấu ăn và chăm nom họ cho kỹ lưỡng”(14). Đến thăm trại tù binh trong chiến dịch Biên giới, thấy một sĩ quan Pháp đang run lên vì lạnh, Hồ Chí Minh đã cởi chiếc áo ấm Người đang mặc đưa cho anh ta. Viên sĩ quan Pháp giơ tay nhận chiếc áo mà cảm động rơi nước mắt. Giăng Xanhtơny, người đại diện cho Chính phủ Pháp đảm nhiệm việc đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh thời kỳ 1945-1946, đã viết về Hồ Chí Minh bằng những lời rất trân trọng trong tập hồi ký Một nền hoà bình bị bỏ lỡ: “Hồ Chí Minh – đó là một nhân vật đang phải đối đầu và tôi là người đối thoại trong suốt 16 tháng. Do hiểu biết rộng, thông minh, hoạt động rất tích cực, tuyệt đối không nghĩ tới chuyện riêng tư, ông đã được nhân dân kính yêu, tin tưởng không ai sánh kịp. Rất tiếc là hồi đó Chính phủ Pháp đã đánh giá thấp nhân vật này và đã không hiểu được giá trị cũng như uy lực của ông”(15). Đến cuối đời, Giăng Xanhtơny đã phải thú nhận: Hồ Chí Minh là người đã đánh đắm cả chế độ thực dân Pháp nhưng vẫn là bạn của nước Pháp.

Bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện độc đáo của văn hoá đạo đức thông qua cách ứng xử, nếp sống, lối sinh hoạt mang tính cộng đồng “mình vì mọi người”, theo khuôn mẫu giá trị xã hội. Ở Hồ Chí Minh thì ngay từ năm 1923, khi tiếp xúc với Người, nhà thơ Xô viết Mandenstam đã cảm nhận thấy qua Nguyễn Ái Quốc, mọi người có thể hiểu dân tộc Việt Nam là “một dân tộc rất lịch thiệp và độ lượng, rất ghét những gì thái qua. Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc cũng đang toát ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị”. “Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”. “Từ Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một thứ văn hoá, không phải văn hoá Âu Châu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai”(16). Như vậy, Hồ Chí Minh đã thực sự là một hiện tượng văn hoá độc đáo của dân tộc và thế giới trong thời đại ngày nay. Hiện tượng văn hoá độc đáo ấy thể hiện chân thực và cảm động trong toàn bộ con người, sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh thông qua cuộc sống đời thường bình dị nhưng vĩ đại của Người. Đúng như nhà báo Mỹ Đavít Hanbớtstem đã viết: “Đó là sức mạnh của ông Hồ, vì Ông là người Việt Nam của quần chúng và bởi thế cho nên Ông không thích dinh thự và đồng phục của thống chế, của các vị tướng. Ông thường mặc bộ quần áo đơn giản chỉ khác người nông dân nghèo nhất, phong cách mà người phương Tây đã chế diễu nhiều năm. Cho đến một ngày nọ, họ mới hiểu mà nhận ra rằng, chính cái giản dị ấy là cơ sở cho sự thành công của Ông. Địa vị càng cao, Ông càng giản dị, trong sạch hơn. Hình như Ông luôn luôn giữ được những giá trị vĩnh viễn của người Việt Nam”(17).

Một dân tộc đánh mất bản sắc văn hoá là dân tộc đó đã tự đánh mất chính mình. Trong tiến trình lịch sử của dân tộc, ông cha ta đã kiên cường, thông minh và sáng tạo để bảo vệ và chuyển giao cho thế hệ mai sau những di sản văn hoá vô giá mang đậm bản sắc dân tộc độc đáo của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Trong thời đại Hồ Chí Minh, bản sắc văn hoá của dân tộc tiếp tục in đậm trong Nhà văn hoá lớn Hồ Chí Minh và Người là hiện thân của tất cả những gì là tinh hoa nhất trong truyền thống văn hoá hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Không những thế, Hồ Chí Minh còn khẳng định được những giá trị cao quý của nền văn hoá dân tộc trong sự phát triển chung của nền văn hoá nhân loại và trên nền tảng đó Người đã tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại để làm phong phú và phát triển hơn nữa nền văn hoá Việt Nam.

Văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Vì vậy, trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới hiện nay để tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại, Đảng luôn quan tâm đến công tác văn hoá và phát triển sự nghiệp văn hoá của nước nhà. “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa kế thừa, phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại để văn hoá thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội. Xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khoẻ, lao động giỏi, sống có văn hoá, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính”(18).

“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân và đất nước ta. Người là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam suốt bốn nghìn năm lịch sử”(19). Tiếp bước con đường vinh quang của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ người Việt Nam nhất định sẽ bảo vệ, kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới những giá trị văn hoá truyền thống mà cha ông ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã để lại, tạo nền tảng thúc đẩy sự nghiệp đổi mới toàn diện của dân tộc ta phát triển nhanh, mạnh, bền vững, thực hiện thắng lợi mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

Th.s Cao Hải Yến
Khu Di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Tâm Trang (st)

(1). Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXBKHXH, Hà Nội-1990, Tr.9-10
(2). Đảng CSVN, Văn kiện Hội nghị lần thứ Năm BCHTW khoá VIII, NXBCTQG, Hà Nội-1998, Tr.56
(3). Phạm Văn Đồng, “Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc Việt Nam”, Học tập đạo đác cách mạng Hồ Chí Minh, NXB Thông tấn, Hà Nội-2007, Tr.315.
(4). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd, Hà Nội-1996, T.12, Tr.509.
(5). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd, Hà Nội-1995, T.4, Tr.161.
(6). Hồ Chí Minh, Về văn hoá, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội-1997
(7) . Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd, Hà Nội-1996, T.12, Tr.512..
(8). Võ Nguyên Giáp, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quá trình hình thành và nội dung cơ bản, Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh xuất bản, Hà Nội-1993, T.1, Tr.47
(9). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd, Hà Nội-1995, T.5, Tr.79
(10) . Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd, Hà Nội-1996, T.7, Tr.544.
(11) .Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd, Hà Nội-1996, T.6, Tr.416.
(12) . Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd, Hà Nội-1996, T.12, Tr.510.
(13) . Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXBCTQG, Hà Nội-1995, T.4, Tr.33
(14) . Lê Văn Hiến, Nhật ký của một Bộ trưởng, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng -1995, Tr.6.
(15). Lê Kim, Bác Hồ tiếp xúc với tình báo đối phương, NXB Đà Nẵng – 1990, Tr.81
(16). Nhiều tác giả (biên soạn), Danh nhân Hồ Chí Minh, NXB Lao động – 2000, Tr.143.
(17) . Vũ Kỳ, Bác Hồ viết Di chúc, NXB Văn hoá, Hà Nội-1998, Tr.19.
(18). Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XI, NXBCTQG, Hà Nội-2011, Tr.40
(19) . Hồ Chí Minh, Toàn tập, “Điếu văn của BCHTƯ Đảng Lao động Việt Nam”, Sdd, Hà Nội-1996, T.12, Tr.510.

bqllang.gov.vn

Vấn đề văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đất nước

TCCS – Chúng ta đang sống trong một thời đại mà khoa học, kỹ thuật và công nghệ đã đem đến những biến đổi cực kỳ lớn lao cho cuộc sống của con người, trở thành động lực vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Nhưng cũng chính ở thời điểm này, nhiều vấn đề tiêu cực và khủng hoảng về xã hội đã nảy sinh trong đời sống, buộc chúng ta phải nhìn nhận lại yêu cầu phát triển bền vững với vai trò, vị trí đặc biệt của văn hóa. Vì lẽ đó, trở lại với quan điểm văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đất nước là một vấn đề vừa có ý nghĩa chiến lược vừa mang ý nghĩa thời sự quan trọng.

14-03-2010 09-1236-59 111copy.jpg

1

Hơn nửa thế kỷ trước, trong một số ghi chép ở trang cuối cùng của tập thơ “Nhật ký trong tù” lãnh tụ Hồ Chí Minh viết “ý nghĩa của văn hóa: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Từ nhận thức ấy, Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm về văn hóa: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”(1). Có thể nói, đây là một cách tiếp cận văn hóa từ ý nghĩa khái quát, đặc trưng nhất của nó, một định nghĩa cô đọng và chính xác về văn hóa.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa là xuất phát từ cách tiếp cận mác-xít và rất gần gũi với nhận thức hiện đại, khi coi văn hóa không chỉ đơn thuần là đời sống tinh thần của con người – xã hội (theo cách phân khúc rời rạc), mà từ trong bản chất của mình, nó chính là linh hồn, là hệ thần kinh của một xã hội, là sức mạnh trường tồn của cả dân tộc, là sức sống vươn lên của thời đại. Văn hóa không phải là toàn bộ đời sống con người xã hội, mà là phần cốt tử, là tinh hoa được chưng cất, kết tụ nên cái bản chất, bản sắc, tính cách của dân tộc, của thời đại. Nó được thăng hoa từ hơi thở cuộc sống, từ năng lực, trình độ và phương thức sống của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng. Và đến lượt mình, văn hóa hiện diện trong mọi hoạt động từ suy tư đến hành động thực tế, từ hoạt động cá nhân đến những vận động xã hội, từ hoạt động vật chất đến những sáng tạo tinh thần những phát minh, sáng chế, tạo ra những giá trị mới của sản xuất vật chất, khoa học – kỹ thuật – công nghệ, văn học – nghệ thuật.

Năm 1970, nghĩa là gần 30 năm sau thời điểm Hồ Chí Minh viết những lời này, tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp ở Vơ-ni-dơ (I-ta-li-a), UNESCO đã thừa nhận khái niệm do Ph.Mây-ơ (F. Mayor) – nguyên Tổng Giám đốc của tổ chức này đưa ra là khái niệm chung, chính thức của cộng đồng quốc tế về văn hóa: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”. Nếu so sánh, có thể thấy, khái niệm này của UNESCO về văn hóa có nội dung cơ bản như nội dung khái niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cái khác nhau của hai khái niệm này là ở chỗ, khái niệm của ông Ph.Mây-ơ chỉ nhấn mạnh đến tính đặc thù của các giá trị văn hóa, tức là “cái làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác”. Còn trong khái niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa, văn hóa không chỉ là cái tạo nên tính đặc thù của dân tộc, mà còn là những giá trị nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. “Nhu cầu đời sống” của con người luôn phát triển cũng như “đòi hỏi của sự sinh tồn” của xã hội loài người luôn luôn nâng cao, hoàn thiện. Cũng có nghĩa, nói đến văn hóa là nói đến giá trị, nhưng là những giá trị kết tinh lao động sáng tạo của con người trên các bình diện hoạt động nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân mình, hướng tới chân, thiện, mỹ, tức là hướng tới sự tốt đẹp, nhân văn và không ngừng hoàn thiện của nhân loại. Nói đến văn hóa không chỉ là nói đến những giá trị tĩnh, kết tinh ngưng đọng, mà còn là sự vận động, phát triển và hoàn thiện những giá trị ấy trong thời gian và không gian.

Từ nhận thức khái quát về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra một cách cụ thể về nội dung, yêu cầu xây dựng nền văn hóa dân tộc. Người viết tiếp: “Năm điểm lớn xây dựng nền văn hóa dân tộc.

1. Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường.

2. Xây dựng luận lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng.

3. Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội.

4. Xây dựng chính trị: dân quyền.

5. Xây dựng kinh tế”(2)

Việc chỉ ra những điểm lớn trên chứng tỏ rằng, khi phân định nội hàm khái niệm văn hóa, Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ rằng, xây dựng nền văn hóa dân tộc phải đặt trong mối quan hệ qua lại với các mặt khác của đời sống dân tộc như: “tâm lý”, “luận lý”, “xã hội”, “chính trị”, “kinh tế”. Xây dựng văn hóa phải gắn liền với từng bình diện ấy, làm cho văn hóa trở thành phẩm chất tốt đẹp, đặc trưng riêng có và ý nghĩa tích cực của những lĩnh vực đời sống đó.

Tóm lại, có thể nói rằng, ngay từ năm 1943, quan điểm về văn hóa và nền văn hóa dân tộc của Hồ Chí Minh đã tỏ rõ tính hiện đại. Quan điểm này thể hiện tầm chiến lược thiên tài của Người trong việc xác định vai trò, vị trí và những tiêu chí cơ bản nhằm định hướng phát triển nền văn hóa Việt Nam làm cơ sở cho sự phát triển toàn diện của xã hội Việt Nam tương lai.

2

Hồ Chí Minh quan niệm, xây dựng về “tâm lý” là xây dựng “Tinh thần độc lập tự cường”, cũng có nghĩa là sự giáo dục, định hướng để hun đúc nên tình yêu đất nước, niềm tự hào dân tộc, ý chí tự chủ, tự cường. Đó chính là cơ sở nền tảng bảo đảm cho sự đoàn kết, đồng thuận dân tộc, điều kiện để tạo nên sức mạnh bảo vệ độc lập dân tộc, chống lại mọi sự xâm lược, phá hoại từ bên ngoài. Lịch sử tồn tại, phát triển của dân tộc Việt Nam đã là minh chứng hiển nhiên về bài học xương máu đó. Đối với các dân tộc khác trên thế giới, muốn tồn tại, vượt qua những nguy cơ xâm lược, đồng hóa hay chèn ép, xung đột để phát triển đều phải khẳng định một sức mạnh tinh thần to lớn từ độc lập tự cường. Chỉ có điều, biểu hiện của tinh thần độc lập tự cường ấy ở mỗi nước, tùy theo những điều kiện đặc điểm khác nhau mà thể hiện một cách sinh động, đa dạng. Đó cũng chính là một đặc tính văn hóa, một “cái làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác”.

Có thể nói, quan điểm xây dựng văn hóa về “tâm lý” với nội dung là “tinh thần độc lập tự cường” là xuyên suốt và nhất quán trong nhận thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tìm đến chủ nghĩa Mác – Lê-nin và Người nhận ra rằng, đó chính là con đường giải phóng dân tộc khỏi áp bức, lầm than. Sau này, cho dù trong những thời điểm thử thách khắc nghiệt nhất đối với quan điểm chính trị của mình hay trong thực tiễn cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược bảo vệ Tổ quốc cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh luôn kiên định quan điểm về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(3). Và chân lý nổi tiếng mà Hồ Chí Minh đã tổng kết từ thực tiễn lịch sử của thế giới và từ chính những bài học xương máu của lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là “không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Càng nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của vấn đề dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh càng thấu hiểu hơn ý nghĩa của chủ nghĩa quốc tế vô sản. Chính vì thế, Người đã khẳng định, một trong số bài học lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga là: “Kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới; cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”(4).

Cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu hiện sinh động, là tấm gương sáng rõ nhất về sự kết hợp hài hòa giữa những giá trị dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữa lòng yêu nước nồng nàn và chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Người đã đi khắp năm châu, bốn biển, hoạt động như một chiến sỹ quốc tế nhưng tình yêu nước, thương nòi cùng những bản sắc con người Việt Nam của Người không những không phai nhạt đi mà càng sâu sắc, đậm đà hơn lên. Trong khi tận tâm, tận lực vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Người cũng ý thức rất sâu sắc về chủ nghĩa quốc tế vô sản, về sự đoàn kết của phong trào công nhân, cộng sản thế giới và đã xử lý vô cùng khéo léo, có trách nhiệm mối quan hệ giữa các đảng cộng sản, các quốc gia và dân tộc khác trên thế giới.

Từ nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra bài học sâu sắc về quan hệ gắn bó giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, coi đó như một trong những điều kiện hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nhưng trở lại yêu cầu về xây dựng văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì vấn đề đặt ra là phải giáo dục, quán triệt nhận thức đó, bài học đó thành tư tưởng, tình cảm, thành hành vi, lối sống của mỗi con người, thành một giá trị xã hội của Việt Nam. Đó cũng chính là một kết quả, hướng tới của sự phát triển con người Việt Nam, đồng thời là một điều kiện sống còn bảo đảm cho sự thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

3

Xây dựng văn hóa về mặt “luận lý”, theo cách hiểu của Hồ Chí Minh, chính là sự hình thành và không ngừng hoàn thiện về tư tưởng, lối sống mà nội dung trung tâm, quan trọng nhất của nó là “biết hy sinh làm lợi cho quần chúng”. Đó cũng chính là nội dung quan trọng nhất của những chuẩn mực đạo đức xã hội mà con người chúng ta nói chung hay mỗi cán bộ cách mạng nói riêng cần hướng tới. Tiêu chuẩn con người cán bộ “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” chính là sự phát triển đầy đủ hơn từ tiêu chí xây dựng văn hóa này. Đây cũng chính là yêu cầu sống còn về xây dựng chủ nghĩa xã hội, bởi vì như sau này Hồ Chí Minh đã nhắc lại rất nhiều lần rằng, “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa” mà yêu cầu đầu tiên, quyết định của con người xã hội chủ nghĩa phải “đi đến hoàn toàn không có chủ nghĩa cá nhân”(5). Trong bài viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, nhân dịp kỷ niệm 39 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 3-2-1969, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa… Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật… Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”. Chính vì thế, Người yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật” (6).

Nói cách khác, xây dựng văn hóa về “luận lý” chính là xây dựng văn hóa sống của con người. Trong các chế độ xã hội dựa trên nền tảng của chế độ tư hữu thì chính quan hệ bóc lột, bất công bằng giữa người với người tạo thành những yếu tố, điều kiện một cách tự nhiên, thúc đẩy con người đi tới chủ nghĩa cá nhân, hình thành lối sống vụ lợi, ích kỷ. Sự thắng thế của quan hệ nhân đạo, của chủ nghĩa nhân văn, của sự hy sinh, xả thân cho lợi ích cộng đồng, đồng loại chỉ có ý nghĩa nhất thời, gắn với các giá trị yêu nước, dân tộc và về tổng thể, luôn chỉ giữ thế yếu so với sự vụ lợi, với chủ nghĩa cá nhân.

Nếu chủ nghĩa xã hội là một cuộc cách mạng thì ý nghĩa cách mạng sâu sắc nhất, cũng là gay gắt nhất chính là sự biến đổi trong văn hóa sống của con người, là sự giải thoát con người khỏi chủ nghĩa cá nhân để hình thành và dần dần hoàn thiện văn hóa sống nhân văn cao cả, đặt lợi ích của dân tộc, đất nước và của chế độ lên trên hết, đặt lợi ích cá nhân trong sự hài hòa với lợi ích của tập thể. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Phải đánh bạt những tư tưởng công thần, địa vị, danh lợi của chủ nghĩa cá nhân, làm cho tư tưởng của chủ nghĩa tập thể thắng lợi, tức là phát huy tinh thần cần kiệm xây dựng của nghĩa xã hội, bảo vệ của công, chống tham ô, lãng phí”(7). Đó cũng chính là cốt lõi văn hóa của con người mà chủ nghĩa xã hội hướng tới, là điều kiện, cơ sở cho sự phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa. ý nghĩa cách mạng vô cùng sâu sắc của sự biến đổi này chính là do sự phức tạp, gay cấn trong cuộc đấu tranh tư tưởng của mỗi cá nhân con người cũng như cả xã hội để vượt qua những tập quán sống đã hình thành, khắc sâu vào lối sống xã hội con người trong suốt chiều dài lịch sử đã qua, để hình thành và dần hoàn thiện một thang giá trị mới mẻ trong mỗi con người và trong cả cộng đồng xã hội. Đến lượt nó, chính sự hình thành văn hóa sống trở thành tiêu chí để đánh giá những kết quả của cách mạng, thành điều kiện của sự phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa.

4

Bàn đến nội dung xây dựng văn hóa về “xã hội”, Hồ Chí Minh coi đó là “Một sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội”. Ở bình diện này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến cả “một sự nghiệp”. Điều ấy có thể hiểu là việc phấn đấu cho phúc lợi của nhân dân là yêu cầu quyết định, thể hiện tính bản chất của chế độ. Nó phải được phản ánh trong mục tiêu, trong mô thức xây dựng, trong cơ chế vận hành của cả chế độ. Nó đồng thời phải trở thành một thể hiện tất yếu xã hội trong mỗi thành viên, mỗi bộ phận hợp thành của chế độ xã hội. Đây cũng chính là một nhận thức nhất quán, chỉ đạo hành động trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1946, ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Người khẳng định: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(8). Khi nói về chủ nghĩa xã hội, nhiều lần Hồ Chí Minh đã đặt “phúc lợi của nhân dân” như là ý nghĩa quan trọng nhất của khái niệm này. “Chủ nghĩa xã hội là mọi người dân được áo ấm cơm no, nhà ở tử tế, được học hành”(9); “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ”(10)… Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn nhận “phúc lợi” không đơn thuần là những giá trị vất chất, đương nhiên đó là những giá trị đầu tiên không thể thiếu. Đó còn là những yêu cầu về “tư do”, “dân chủ”, “học hành”, “nghỉ ngơi”, những điều kiện cần và đủ cho con người phát triển một cách toàn diện.

Từ nhận thức về văn hóa trong nội dung xây dựng về xã hội, càng thấy rõ ý nghĩa nhân văn như là cốt cách, là bản chất, quán xuyến trong tất cả các bình diện tư tưởng của Hồ Chí Minh. Xây dựng văn hóa về nội dung xã hội cũng có nghĩa là mang lại cho xã hội ý nghĩa nhân văn cao cả ấy. Điều ấy cũng có nghĩa không đơn thuần là đạt được những kết quả về phúc lợi xã hội, mà hơn thế, bao gồm cả cách thức đạt được những phúc lợi ấy như thế nào, sử dụng những phúc lợi ấy ra sao, những phúc lợi ấy mang lại gì cho sự phát triển tốt đẹp của con người. Sinh thời, khi nói đến vấn đề phân phối hàng hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”. Ở đây, phương thức phân phối “công bằng” được đánh giá về tầm quan trọng cao hơn số lượng nhiều hay ít sản phẩm phân phối. Đương nhiên, nói như thế không có nghĩa là số lượng sản phẩm không quan trọng. Nhưng trong hoàn cảnh cụ thể, rõ ràng cách phân phối sẽ quyết định mối quan hệ và thái độ của những người được tham gia phân phối. Đó cũng chính là một biểu hiện cụ thể của ý nghĩa văn hóa.

Đất nước ta còn không ít khó khăn, nền kinh tế chưa phát triển đến mức đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu phúc lợi phong phú của nhân dân. Chính vì thế, việc thúc đẩy phát triển kinh tế, làm giàu, không ngừng tăng thêm phúc lợi cho nhân dân là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết. Nhưng điều đó không cho phép chúng ta quên đi việc giáo dục về văn hóa trong phân phối, hưởng thụ các nguồn phúc lợi xã hội. Bởi chính văn hóa sẽ tạo nên chất kết dính các mối quan hệ xã hội, quy tụ và nhân lên những tiềm lực của xã hội. Việc tạo ra những của cải và mang lại những phúc lợi cho con người đã là khó khăn, đòi hỏi sự phát triển về lực lượng sản xuất, không ngừng nâng cao năng suất lao động, giảm thiểu tiêu hao nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu. Nhưng việc phân phối những của cải vật chất và phúc lợi ấy lại mang ý nghĩa văn hóa, mang triết lý xã hội đặc trưng, đòi hỏi một quá trình giáo dục, trải nghiệm và hoàn thiện thì càng phức tạp, khó khăn hơn. Điều ấy lý giải tại sao ngày nay, không phải cứ ở những nước giàu có nhất thì người dân cảm nhận cuộc sống hạnh phúc nhất và xã hội hòa hợp nhất.

Sự chia sẻ, tính tiết kiệm, sự công bằng, thái độ vô tư, ý thức cộng đồng, những điều ấy ở nghĩa sâu xa của nó, chính là sự biểu hiện sâu sắc của giá trị văn hóa, sự kết tinh văn hóa trong xã hội. Nó trở thành nền tảng cho việc sử dụng của cải, phúc lợi xã hội hợp lý nhất, mang lại nhiều hạnh phúc nhất cho con người. Ngày nay, đó cũng là một đòi hỏi của sự phát triển bền vững khi nguồn tài nguyên thiên nhiên của trái đất càng ngày càng cạn kiệt và môi trường sống của con người đang bị phá hoại nghiêm trọng. Từ nhận thức ấy càng thấy ý nghĩa thực tiễn to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng nền tảng văn hóa xã hội liên quan đến phúc lợi của nhân dân.

5

Về nội dung xây dựng “chính trị”, theo Hồ Chí Minh, đó chính là “dân quyền”. Văn hóa chính trị chính là mang lại và bảo đảm được “dân quyền”. Ở đây, dân quyền không chỉ là những quyền trên các lĩnh vực đời sống mà người dân được hưởng ngày càng đầy đủ, càng có ý nghĩa tốt đẹp cho sự phát triển toàn diện, mà còn là những quyền lợi – lợi ích mà xã hội mang lại cho nhân dân ngày càng đầy đủ hơn, ngày càng giúp cho cuộc sống của người dân hạnh phúc hơn, tiến bộ hơn. Có thể nói, toàn bộ lịch sử phát triển của xã hội loài người cũng chính là lịch sử đấu tranh, phấn đấu để mang lại cho người dân nhiều dân quyền hơn, nhiều tự do hơn. Chủ nghĩa xã hội về bản chất của nó, là chế độ xã hội bảo đảm đầy đủ nhất “dân quyền”, bởi vì đó là xã hội của dân, do dân và vì dân. Nhưng việc xây dựng một chế độ như thế không thể ngày một, ngày hai, mà là cả một quá trình phức tạp với không ít khó khăn. Bởi vì, dân quyền có được không chỉ do cơ chế quyền lực, chế độ chính trị, mà còn phụ thuộc vào sự tự giác, trình độ nhận thức của người dân và những điều kiện của môi trường xã hội.

Có nghĩa là, hiểu dân quyền theo nhận thức văn hóa không chỉ là những quyền và lợi mà nền chính trị mang lại cho người dân, đó còn là cách mà những quyền đó được mang lại như thế nào và ý nghĩa của những quyền và lợi ấy ra sao, có ý nghĩa tốt đẹp đến đâu đối với xã hội. Văn hóa chính là nền tảng để phát triển, mở rộng dân quyền, đồng thời dân quyền cũng tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển các giá trị văn hóa của xã hội.

Trong thiết chế xã hội nói chung, một mặt, vấn đề dân quyền gắn bó chặt chẽ hữu cơ với vấn đề nhà nước, là hệ quả của nhà nước, phản ánh tính chất, đặc điểm, trình độ phát triển của nhà nước; mặt khác, dân quyền không thể tách rời những điều kiện khách quan của tồn tại xã hội như: trình độ nhận thức của người dân, những tập quán và đặc điểm văn hóa của cộng đồng, các cơ sở kinh tế, kỹ thuật của xã hội. Trong mối quan hệ thứ hai, các yếu tố quy định hay ảnh hưởng đến dân quyền là những điều kiện lịch sử, cụ thể, gắn liền với tính chất, trình độ phát triển của từng quốc gia, dân tộc. Đối với mối quan hệ thứ nhất, vấn đề thực chất chính là nội dung, nhiệm vụ của việc xây dựng nhà nước. Khẳng định tính chất nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân thì đương nhiên nó phải thể hiện ý chí của dân, bảo vệ các quyền và lợi ích của dân, phục vụ cho các nhu cầu xã hội của dân.

Khi nói về tổ chức Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Để thực hiện tốt nhiệm vụ cách mạng, Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sức sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc Nhà nước, ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà”(11). Ở đây, “quyền dân chủ” gắn với “sinh hoạt chính trị của toàn dân” là yêu cầu đặt ra với Nhà nước như một đòi hỏi khách quan về quyền công dân. Nhưng đến lượt nó, “quyền dân chủ” và “sinh hoạt chính trị của toàn dân” lại trở thành điều kiện cho Nhà nước hoàn thành nhiệm vụ của mình với việc làm cho nhân dân tham gia tích cực giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn của Nhà nước. Từ bình diện văn hóa, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sự phát triển dân quyền vừa có ý nghĩa như đòi hỏi, điều kiện cho sự phát triển văn hóa, vừa thể hiện mục đích phục vụ cho con người công dân và sự phát triển toàn diện con người.

Hơn thế nữa, có thể nhận thấy rất rõ rằng, quán xuyến trong toàn bộ tư tưởng cũng như trong hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là chủ nghĩa trọng dân, ý thức tôn trọng, yêu thương, bảo vệ nhân dân. Đó cũng chính là lý tưởng, hoài bão, là mục đích sống của Hồ Chí Minh – Người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Đó cũng chính là cốt lõi văn hóa sống Hồ Chí Minh. Vấn đề dân quyền chỉ là một bình diện của tư tưởng ấy, một điều kiện để thực hiện mục đích phục vụ nhân dân, một thể hiện của văn hóa sống nhân văn cao cả của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Trở lại mối quan hệ thứ hai, tức là xem xét các yếu tố quy định hay ảnh hưởng đến dân quyền như: điều kiện lịch sử, cụ thể, gắn liền với tính chất, trình độ phát triển của từng quốc gia, dân tộc. Nói cách khác, nội dung, mức độ, hình thức và khả năng thực thi dân quyền không thể tách rời các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và truyền thống của các cộng đồng người, các dân tộc trong các thời đoạn lịch sử. Điều ấy cũng có nghĩa là, cùng với việc Nhà nước mang lại ngày càng nhiều quyền cho nhân dân thì cũng đồng thời phải tiến hành giáo dục, nâng cao nhận thức, không ngừng cải thiện môi trường xã hội cho nhân dân. Văn hóa chính là một yếu tố tạo nên môi trường xã hội. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng, “trình độ văn hóa của cán bộ và nhân dân còn thấp, do đó, còn hạn chế nhiều kết quả trong công tác, trong sản xuất” và nhiệm vụ đặt ra là “nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân”(12). Khi trình độ văn hóa của nhân dân được nâng lên thì những điều kiện cho dân quyền cũng được cải thiện. Việc này đồng nghĩa với việc không được áp đặt vô điều kiện những nội dung dân quyền mà không tính đến những dị biệt về trình độ, tính chất và năng lực của những chủ thể khác nhau.

6

Đối với nội dung “xây dựng kinh tế”, Hồ Chí Minh không đặt ra tiêu chí định hướng như những lĩnh vực khác. Nhưng theo cách đặt vấn đề từ những điểm trước đó có thể thấy, văn hóa được Hồ Chí Minh coi là mục tiêu của xây dựng kinh tế, đồng thời văn hóa cũng là nội lực mạnh mẽ của việc xây dựng nền kinh tế đó. Truyền thống văn hóa, sức mạnh văn hóa trong nguồn nhân lực, trong trình độ tổ chức lao động sản xuất, quản lý kinh tế xã hội, văn hóa trong kinh doanh, trong quan hệ doanh nghiệp là động lực bên trong của quá trình kinh tế, của sự phát triển xã hội và con người. Một nền kinh tế phát triển tốt đẹp, bền vững chỉ khi nó gắn bó với những giá trị văn hóa, kết tinh trong nó những giá trị văn hóa, làm giàu có thêm và thúc đẩy sự phát triển của những giá trị văn hóa của dân tộc, của đất nước. ở một khía cạnh nào đó, có thể thấy tư tưởng phát triển các lĩnh vực văn hóa của Hồ Chí Minh rất gần gũi với quan điểm phát triển bền vững hiện đại.

Từ năm 1953, trong bài “Thường thức chính trị”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau:

A – Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân).

B – Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội).

C – Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội).

D – Tư bản của tư nhân.

E – Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh)”(13).

Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn nhận từ rất sớm mô hình nền kinh tế đa thành phần sở hữu trong chế độ của chúng ta. Sự đa thành phần trong nền kinh tế tất yếu kéo theo những yếu tố văn hóa vốn có, vốn đang tồn tại cùng những mối quan hệ xã hội giữa các thành phần kinh tế đó. Vậy thì cái gì làm nên sự phân biệt giữa chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa với một chế độ xã hội phát triển kinh tế đa thành phần khác? Phải chăng đó chính là yêu cầu, đòi hỏi về xây dựng văn hóa, hướng con người tới một đời sống văn hóa cao thượng, nhân văn, một lối sống theo chủ nghĩa tập thể ở ý nghĩa tích cực của khái niệm đó.

Mục tiêu lý tưởng của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người, mang lại cho con người cuộc sống tự do, sự phát triển toàn diện và vì thế mà mang lại cho con người nhiều hạnh phúc nhất. Đó là một mục tiêu cao cả, nhân văn nhất. Nhưng: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa. Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực được đạo; vì thế kinh tế phải đi trước. Nhưng phát triển để làm gì? Phát triển kinh tế và văn hóa để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ta”(14). Nói cách khác, cần phải phát triển kinh tế để bảo đảm “cơm ăn”, đời sống vật chất cho nhân dân. Nhưng nền kinh tế ấy không tách rời các nội dung, ý nghĩa của việc xây dựng văn hóa và nói cho cùng thì nó phải phục vụ cho mục đích phát triển văn hóa của nhân dân. Và để thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải đấu tranh, xây dựng, phát triển, phải tiến hành một cuộc cách mạng thật sự. Trong cuộc cách mạng đó, văn hóa luôn có ý nghĩa trọng yếu, quyết định. Đó vừa là điều kiện, nền móng cho sự xây dựng, phát triển của đời sống xã hội, vừa là mục tiêu hướng tới trong quan hệ hài hòa với đời sống vật chất.

*

Tóm lại, có thể nói, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa có ý nghĩa sâu xa, đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của đất nước. Nó không chỉ là mục tiêu phấn đấu vươn tới những giá trị cao đẹp cho cuộc sống mà còn có vai trò nền tảng và sức mạnh động lực hết sức to lớn trong phát triển các bình diện đời sống xã hội. Văn hóa là sức sống của sự phát triển kinh tế – xã hội, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động sống của con người. Những quan điểm về văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là “kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam”(15), mà còn có ý nghĩa thời sự, là chỗ dựa, sự chỉ dẫn cho chúng ta trong nhận thức và giải quyết những vấn đề đặt ra trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay./.

______________________________

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t 3, tr 431
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t 3, tr 431
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 314
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t 12, tr 304
(5) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 448
(6) Hồ Chí Minh: Sđd, t 12, tr 438 – 439
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 159
(8) Hồ Chí Minh: Sđd, t 4, tr 161
(9), (10) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 72, 91
(11) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 590
(12) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 60
(13) Hồ Chí Minh: Sđd, t 7, tr 247 – 248
(14) Hồ Chí Minh: Sđd, t 10, tr 59
(15) Nghị quyết của UNESCO kỷ niệm trên toàn thế giới 100 năm ngày sinh anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh

hochiminhhoc.com

Hồ Chí Minh – Nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam

PGS.TS. Bùi Đình Phong
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng

(TCTG)- Đại hội đồng UNESCO khóa họp lần thứ 24 tại Pari từ ngày 20 tháng 10 đến ngày 20 tháng 11 năm 1987 đã thông qua Nghị quyết 24 C/18.65 về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh- Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Nghị quyết có đoạn viết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

14-03-2010 09-1236-59 111copy.jpg

Nhận thấy những đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật chính là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”(1).

Ở đây có mấy điểm quan trọng cần nhấn mạnh. Trước hết, không phải bất cứ ai hoạt động và sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa cũng đều được công nhận là “nhà văn hóa”, mà chỉ được thừa nhận là “nhà văn hóa” nếu chủ thể hoạt động và sáng tạo đó vươn tới tầm cao của tri thức văn hóa của thời đại, đưa những tri thức rộng rãi mình có ra phục vụ dân tộc mình và các dân tộc trên thế giới, đem lại cho họ những lợi ích thiết thực, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển phong phú đa dạng của nền văn hóa dân tộc, sự tiến bộ và văn minh nhân loại. Thứ hai, trong lịch sử Việt Nam cũng như lịch sử các dân tộc trên thế giới, có nhiều danh nhân nhưng hiếm có trường hợp nào vừa là anh hùng giải phóng dân tộc vừa là nhà văn hóa(2). Trường hợp Hồ Chí Minh là một “hiện tượng hiếm thấy”, cùng một lúc đạt “hai lần danh nhân” như cách nói của bè bạn thế giới. Đó là một trong những viên ngọc hiếm, sáng lấp lánh trong bầu trời dân tộc và nhân loại của thời đại chúng ta. Thứ ba, cần nhận thức đúng đắn chất “anh hùng” và chất “văn hóa” luôn luôn hòa quyện trong con người Hồ Chí Minh. Nếu hiểu văn hóa là toàn bộ những sáng tạo và phát minh của con người nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn; văn hóa là hiểu biết làm người, hiểu biết xử sự, xử thế và trong xã hội còn áp bức, bóc lột, bất công thì xử sự, xử thế có ý nghĩa nhất là làm cách mạng để xua tan bóng tối của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, của dốt nát, đói nghèo, bệnh tật đè nặng lên cuộc sống của các dân tộc bị áp bức, thì Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa lớn đúng theo nghĩa chân chính và trọn vẹn nhất của khái niệm đó. Thứ tư, chính vì vậy, một khía cạnh văn hóa ở nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh là văn hóa cách mạng. Ngay từ đầu cuộc đời cách mạng, Người đã hiểu tầm quan trọng của văn hóa đối với đời sống con người, đối với sự nghiệp giải phóng xã hội và canh tân đất nước, đối với việc xây dựng tình đoàn kết và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Người ý thức sâu sắc bước khởi đầu của cuộc tìm đường là phải trang bị một bản lĩnh văn hóa để có được sự soi sáng về nhận thức và lý luận. Từ khi ra đi tìm đường cứu nước cho đến cuối đời, Người luôn luôn hăng hái chiến đấu trên mặt trận văn hóa, kết hợp chặt chẽ văn hóa với cách mạng theo tinh thần “kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”. Và chính vì vậy, sự nghiệp văn hóa quan trọng nhất của Người là đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một trong những học trò xuất sắc của Bác Hồ khẳng định: “Sự nghiệp văn hóa quan trọng nhất của Người là đã lãnh đạo toàn dân đánh đuổi giặc ngoại xâm trong thời đại mới, giành lại cho nhân dân những quyền sống của con người, một cuộc sống có văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với loài người loại trừ một trở lực to lớn trên con đường tiến lên thế giới văn minh, xóa đi một vết nhơ trong lịch sử là chế độ thuộc địa”(3).

Nhận thức về văn hóa cách mạng, văn hóa hành động để thức tỉnh quần chúng, giúp cho con người năng lực tự giải phóng và sự giải phóng con người đã được các nhà văn hóa trên thế giới bàn đến từ sớm. Nhà văn hóa lớn Côlômbia là G.G. Macket (Gbriel Garcia Market), người được giải thưởng Nôben về văn học, tại cuộc gặp lần thứ hai các nhà trí thức Mỹ Latinh, đầu tháng 12-1985 đã phát biểu: “Bản thân cách mạng cũng là một sự nghiệp văn hóa, nó biểu hiện trọn vẹn một thiên hướng và khả năng sáng tạo, chứng minh và đòi hỏi ở tất cả chúng ta một niềm tin sâu sắc ở tương lai”(4). Ngay từ năm 1983, để chuẩn bị cho sự ra đời của tác phẩm loại từ điển tiểu sử mang tên Văn hóa thế kỷ XX (XX Century culture) do Alan Bullock và R.B Wodinger chủ biên (do Harper and Row xuất bản năm 1983), 300 nhà khoa học trên thế giới đã được hỏi ý kiến để bình chọn danh nhân văn hóa thế kỷ XX. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được chọn là một nhân vật tra cứu trong công trình đó với lý do: “Hồ Chí Minh là người khởi xướng và giương cao ngọn cờ giải phóng các dân tộc thuộc địa và trở thành người dẫn đường chủ chốt mặc nhiên thừa nhận và kính trọng của châu Á và của thế giới thứ ba”(5).

Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh có sự kết hợp đẹp đẽ, hài hòa giữa tinh hoa văn hóa dân tộc với tinh hoa văn hóa của nhân loại. Người là sản phẩm vừa của lịch sử dân tộc, vừa của thời đại.

Là sản phẩm của lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh không những đã kết tinh truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam, giữ vững và phát triển liên tục dòng chảy của văn hóa dân tộc, mà còn kích thích cho nền văn hóa và cộng đồng các dân tộc Việt Nam phát triển, tạo ra một sức mạnh văn hóa mới, một khuôn mặt lịch sử mới trong thời kỳ giải giáp chủ nghĩa thực dân. Chính sức mạnh văn hóa đó đã làm nên những chiến công kỳ diệu trong khởi nghĩa giành chính quyền, kháng chiến chống xâm lược và bước đầu xây dựng xã hội mới.

Là sản phẩm của thời đại, trên bước đường học tập và nghiên cứu, Hồ Chí Minh đã được tôi luyện trong môi trường của văn hóa phương Tây với các dòng tư tưởng tự do, dân chủ, tiến bộ mà cội nguồn là chủ nghĩa nhân văn cổ Hy Lạp- La Mã thời Phục Hưng, Thế kỷ Ánh sáng và đỉnh cao là chủ nghĩa nhân văn mácxít. Người luôn tiếp nhận có chọn lọc văn hóa phương Tây nói riêng, văn hóa nhân loại nói chung, kết hợp với truyền thống văn hóa của gia đình, quê hương, dân tộc, để biến thành một vũ khí có lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mình và giải phóng các dân tộc khác cùng chung số phận. Chính vì vậy, Bác Hồ đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại, hiện thân cho một nền văn hóa hòa bình và thấm đượm tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc. Người là điểm hội tụ của các giá trị về Chân – Thiện – Mỹ – Dân chủ – Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Đúng như một nữ đại biểu đã phát biểu trong Hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1990 tại Hà Nội: “Chúng tôi đến đây, có người theo đạo Hồi, có người theo đạo Phật, đạo Tin Lành, đạo Thiên chúa, trước chúng tôi không hiểu nhau, qua hai ngày hội thảo, chúng tôi có thể ngồi lại nói chuyện vui vẻ với nhau, vì chúng tôi có cái chung là lý tưởng Hồ Chí Minh: muốn cho nhân loại được tự do, hạnh phúc”.

Hồ Chí Minh có sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn, biện chứng giữa truyền thống với hiện đại, dân tộc với nhân loại, phương Đông với phương Tây. Người đã tìm thấy cái “cốt” trong sắc thái văn hóa Đông và Tây. Trong văn hóa phương Đông, đó là tính hòa đồng, “cầu đồng tồn dị” (lấy điểm tương đồng chế ngự sự dị biệt); “quốc dĩ dân vi bản” (nước lấy dân làm gốc); đề cao tính cộng đồng, tập thể; v.v.. Văn hóa phương Tây thường lấy lý tính và khoa học làm tiêu chuẩn chân lý, nặng về cá nhân. Nhưng điểm đặc sắc nổi bật của Hồ Chí Minh là trên nền tảng phép biện chứng duy vật mácxít , Người đã tìm thấy mẫu số chung của các nền văn hóa, từ đó thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại trên căn bản quy tụ thay vì loại trừ. Bằng chứng hùng hồn là những ngày trên đất nước có kẻ thù xâm lược, đáp từ trong buổi chiêu đãi của Thủ tướng Pháp là G. Biđôn ngày 2-7-1946, Hồ Chí Minh nói: “Chúng ta chẳng đã ruồng bỏ được cái chủ nghĩa đế quốc xâm lược và cái chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi không còn thích hợp với thế giới hiện tại đấy ư? Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần. Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (Điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác)(6). Đúng như nhà triết học Pháp Patxcan (Pascal) đã viết, “người ta không vĩ đại khi chỉ đứng ở một cực, mà phải nối liền hai cực và lấp đầy khoảng giữa”.

Là nhà cách mạng đồng thời là nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhà giáo dục lớn, Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta một sự nghiệp văn hóa vô cùng trong sáng và đẹp đẽ, mang chất lượng cách mạng hóa và hiện đại hóa nền văn học, nghệ thuật Việt Nam. Là tác giả của hơn 250 bài thơ, khoảng 2000 bài báo, nhiều truyện ngắn, văn chính luận, tiểu phẩm văn học, nhưng Người khước từ mọi danh hiệu văn hóa- văn nghệ mà mọi người gắn cho mình, chỉ nhận là nhà cách mạng chuyên nghiệp. Văn, thơ, báo chí của Người luôn luôn mang hơi thở của cuộc sống, của thời đại. Từ khát vọng của dân tộc và mục tiêu của cách mạng, Hồ Chí Minh luôn đặt ra cho mình và cũng là những lời nhắc nhở ân cần đối với những người viết văn, làm báo những câu hỏi: “Viết cho ai?” “Viết để làm gì?” “Viết như thế nào?”. Câu trả lời của Người có điểm chung là viết cho quần chúng số đông, để giác ngộ và nâng cao dân trí, giúp quần chúng hiểu và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ của mình. Với một vốn liếng ngoại ngữ phong phú, Người đã sử dụng ngòi bút làm một vũ khí sắc bén lên án chế độ thực dân đế quốc, tuyên truyền tổ chức quần chúng nhân dân đứng lên làm cách mạng. Là nhà văn hóa kiệt xuất, suốt đời Người miệt mài đi gieo ánh sáng văn hóa, ánh sáng cách mạng cho nhân dân ta và góp phần đem lại ánh sáng cho nhân dân nhiều nước khác để xua tan bóng tối của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, của dốt nát, đói nghèo, bệnh tật đè nặng lên cuộc sống của các dân tộc bị áp bức.

Với sự hiểu biết sâu sắc ý nghĩa của sự kết hợp văn hóa với cách mạng, ngay sau ngày tuyên bố độc lập, Bác Hồ đã đích thân phát động toàn dân chống giặc dốt, đi đôi với chống giặc đói và chống giặc ngoại xâm. Người coi dốt nát cũng là một loại giặc và chống giặc dốt cũng như chống giặc ngoại xâm. Nhận thức rõ “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”; “dốt thì dại, dại thì hèn”, Hồ Chí Minh đề cập trước hết nhiệm vụ phải xóa nạn mù chữ, tất cả mọi người Việt Nam phải biết đọc biết viết, phải có kiến thức mới để giữ vững nền độc lập dân tộc và tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà. Học để làm việc, làm người, bảo vệ và xây dựng đất nước. Học phải đi đôi với hành. Người nói: “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”(7). Không chỉ như vậy, giáo dục còn có một sứ mệnh cao cả là làm cho “non sông Việt Nam trở nên tươi đẹp, dân tộc Việt Nam bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu ”(8).

Cùng với cuộc đấu tranh chống nạn mù chữ, Bác Hồ phát động phong trào xây đời sống mới, cải cách lối sống và phong cách làm việc, nhằm đưa văn hóa đi sâu vào cuộc sống vào tâm lý của quốc dân, dùng văn hóa mới “sửa đổi tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ”. Theo Người, “văn hóa phải làm thế nào cho mọi người dân Việt Nam, từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà, ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc mà mình nên hưởng”. Cuộc vận động xây dựng đời sống mới theo tinh thần của Người từng bước đi vào đời sống nhân dân, dần dần hình thành những phong trào với những thuần phong mỹ tục mới như xây dựng gia đình văn hóa mới; “tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”; “tết trồng cây”; “rèn luyện thân thể”; “người tốt việc tốt”; v.v.. Phong trào văn hóa quần chúng do Người phát động thật sự tạo ra cái nền vững chắc để giữ vững chính quyền cách mạng thời kỳ trứng nước, nhằm đánh thắng kẻ thù xâm lược, xóa bỏ từng bước tình trạng lạc hậu nghèo nàn, xây dựng xã hội mới.

Là nhà văn hóa kiệt xuất, Hồ Chí Minh chăm lo việc “trồng người”, gieo mầm cách mạng, đào tạo những thế hệ con người mới. Quan điểm xuyên suốt của Người là con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng; “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Đào tạo con người mới, đặc biệt là thế hệ trẻ, là để nắm vững kiến thức vô tận của loài người; để có lý tưởng và đạo đức cách mạng, có khả năng làm chủ đất nước, đưa dân tộc nhịp bước cùng thời đại.

Văn hóa là hiểu biết xử sự, xử thế, hiểu biết làm người. Một khía cạnh của nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh là ứng xử văn hóa. Là nhà văn hóa, mỗi người có một vẻ độc đáo trong ứng xử và thể hiện lòng nhân ái, nhưng ứng xử văn hóa của Bác Hồ mang cốt cách, diện mạo, sắc thái Hồ Chí Minh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét, Người “vừa dân tộc, vừa quốc tế. Vừa rất mực nhân từ, vừa triệt để cách mạng. Rất uyên bác mà cực kỳ khiêm tốn. Rất nguyên tắc về chiến lược lại rất linh hoạt về sách lược. Vừa nhìn xa trông rộng, vừa thiết thực cụ thể. Vừa vĩ đại vừa vô cùng bình dị. Vừa là chiến sĩ, vừa là nhà thơ. Trong phong ba bão tố Người vẫn ung dung tự tại, lạc quan nhìn về tương lai. Trong khó khăn gian nguy, Người vẫn thanh thản chủ động, vững tin vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Ở Người là sự thống nhất giữa nước với dân, giữa dân tộc với giai cấp, giữa quốc gia với quốc tế. Ở Người, lòng yêu nhân dân, yêu nhân loại không bao giờ thay đổi. Người là một hình mẫu cao đẹp của con người mới trong thời đại mới, một biểu tượng của chủ nghĩa nhân văn với đầy đủ ý nghĩa của nó. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại có một cách nhìn tinh tế, cho rằng “phong cách riêng của nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh là lòng nhân ái bao la, sự hồn nhiên giản dị, khiến cho tâm hồn Hồ Chí Minh vượt qua không gian và thời gian, đến với con người dễ dàng và thấm thía lạ lùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người thương yêu, kính trọng, tin tưởng, biết đòi hỏi và nâng đỡ con người, đối với từng người và đối với đông đảo nhân dân lao động, quan tâm đến số phận của mọi người, dù ai đó hôm qua là kẻ thù, hoặc là người lầm đường lạc lối nay hối cải. Trái tim yêu thương Hồ Chí Minh dành cho đồng bào mình cũng dành cho cả loài người tiến bộ. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh nhằm mục đích phát huy các khả năng vô tận của con người, tôn trọng quyền và phẩm giá con người, nâng cao con người lên đỉnh cao của trí tuệ và đạo đức. Câu khẩu hiệu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” là chân lý, là tiếng nói của lương tri phục hồi và phát triển những tư tưởng về nhân quyền và dân quyền đã được nêu trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn của cách mạng Pháp năm 1789”.

Năm nay, trong không khí hướng tới Đại lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long- Hà Nội, kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ôn lại sự nghiệp văn hóa cao quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh -Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, chúng ta lại nhớ tới nhận xét của nhà báo Liên Xô Oxíp Manđenxtam: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. Quả đúng như vậy! Bác Hồ có một cuộc sống cần kiệm về vật chất nhưng rất giàu đẹp về văn hóa. Đó là cuộc sống vì tự do, hạnh phúc của con người. Người biết tìm hạnh phúc trong sự gắn bó với con người và thiên nhiên; trong cuộc đấu tranh không mệt mỏi cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ và tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc.

Di sản văn hóa của Người sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!./.

————————–

(1) Nghị quyết 24C/18.65 của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh
(2) Lê Lợi (1385-1433) là anh hùng giải phóng dân tộc nhưng không phải là nhà văn hóa. Lê Qúy Đôn (1726-1784) là nhà văn hóa, không phải là anh hùng giải phóng dân tộc.
(3) Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia- Ủy ban quốc gia UNESCO của Việt Nam: Chủ tịch Hồ Chí Minh-Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995, tr.21.
(4) Dẫn trong bài của Bộ trưởng Văn hóa Trần Văn Phác, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật, số 4-1989.
(5) Dẫn theo Tạp chí Heral Tribune, số 8-10-1993.
(6), (7), (8) Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.4, tr.267, 8, 33

hochiminhhoc.com

Bác Hồ tặng thơ cụ Võ Liêm Sơn

SGTT.VN – Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà cách mạng chuyên nghiệp, nhưng cũng là một nhà văn hoá, một nhà văn, nhà thơ đúng nghĩa, mặc dù Người có nói: “Lão phu nguyên bất ái ngâm thi. Nhân vị tù trung vô sở vi” (Ngâm thơ ta vốn không ham – Nhưng mà trong ngục biết làm chi đây… – Nhật ký trong tù).

14 tháng bị giải khắp các nhà tù ở Quảng Tây (Trung Quốc) thời gian 1942 – 1943 dường như đã luyện thêm ngòi bút của một nhà nho am hiểu Hán học, và các thể thức thơ cổ. Vượt lên trên hết là thái độ ung dung tự tại của một chiến sĩ khát vọng tự do và tấm lòng trắc ẩn với người lao khổ. Mạch thơ ấy được tiếp nối trong những năm đầu của cuộc kháng chiến ở Việt Bắc, đặc biệt là năm 1948, Bác có chùm thơ chữ Hán như Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng), Tặng Bùi Công (tặng cụ Bùi Bằng Đoàn), Thu dạ (Đêm thu), Báo tiệp (Tin thắng trận). Ý thơ phát triển: ung dung, vững tin ở kháng chiến, trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi.

Nhà chí sĩ cách mạng Võ Liêm Sơn (1888-1949)

Bài Tặng Võ Công (tặng cụ Võ Liêm Sơn) theo thể năm chữ, tám câu là thi phẩm hoà quyện giữa ý và tình, giữa cách mạng và nhân dân, giữa lý tưởng và hiện thực, không còn cách bức. Nguyên văn: Võ Liêm Sơn lão tiên sinh nhã chính. Thiên lý công tầm ngã / Bách cảm nhất ngôn trung / Sự dân nguyện tận hiếu / Sự quốc nguyện tận trung / Công lai ngã hân hỉ / Công khứ ngã tư công / Tăng công chỉ nhất cú: /Kháng chiến tất thành công.

Bản dịch thơ:
Ngàn năm cụ tìm đến
Một lời trăm cảm thông
Thờ dân trọn đạo hiếu
Thờ nước vẹn lòng trung
Cụ đến tôi mừng rỡ
Cụ đi tôi nhớ nhung
Một câu xin tặng cụ:
Kháng chiến ắt thành công

(Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXB Chính Trị Quốc Gia, 1995)

Bác viết tặng cụ Võ, nhưng cũng là viết cho mình, chăm chút đạo hiếu trung thờ dân, thờ nước. Thật quý hoá biết bao giữa phong cảnh thiên nhiên của thủ đô kháng chiến gió ngàn, hai mái đầu điểm bạc có dịp hàn huyên trò chuyện. Cụ Võ là bạn học ở Huế với Bác những năm 1908 – 1910. Nguyễn Tất Thành quê Nam Đàn (Nghệ An), Võ Liêm Sơn quê Can Lộc (Hà Tĩnh). Vốn là người ngay thẳng, bộc trực, thông minh, có bằng thành chung và cử nhân (Hán học) nhưng đường hoạn lộ của cụ Võ trúc trắc. Bị huyền chức tri huyện Duy Xuyên (Quảng Nam) do chống lại tên thương chánh người Pháp và Tổng đốc Quảng Nam lúc đó bắt cụ phải đàn áp nhân dân trong các vụ sưu thuế. Từ đấy cụ chuyển sang giáo dục, viết văn, làm thơ. Những năm dạy ở trường Quốc học Huế, cụ Võ được nhiều học trò yêu mến, sau này là các nhà cách mạng và văn hoá nổi tiếng như Trần Phú, Hà Huy Tập, Võ Nguyên Giáp, Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Khoa Văn… Cụ Võ có thời gian gần gũi và giúp đỡ Phan Bội Châu khi nhà chí sĩ thúc thủ an trí ở Huế. Cụ Võ cùng các học trò ở Huế tổ chức truy điệu cụ Phan Chu Trinh. Lòng yêu nước ở cụ Võ được thử thách khi bị Pháp bắt tù, và cuốn sách Hài văn – tiểu phẩm viết theo lối hài hước, châm biếm bị cấm (1928). Từ đấy, nhà nho, người thầy giáo nuôi chí phản kháng chế độ thực dân, phong kiến, để rồi sau năm 1945 – cách mạng thành công, cụ Võ tích cực tham gia chính quyền mới và được tín nhiệm bầu làm chủ tịch Mặt trận Liên Việt tỉnh Hà Tĩnh và liên khu 4.

Năm 1948, Võ Liêm Sơn được đi dự hội nghị Kháng chiến toàn quốc và hội nghị Văn hoá toàn quốc ở Việt Bắc. Đó cũng là cơ duyên cụ Võ được gặp Bác Hồ. Lần ấy Bác đã mời cụ Võ về ở với mình bảy ngày. Khi nhận được thơ tặng của bạn cũ, cụ Võ Liêm Sơn có thơ hoạ lại, cũng theo lối thể thơ năm chữ, tám câu. Nguyên văn: Kính tặng Hồ Chủ tịch. Phùng công hỉ công kiện / Chiến sự bách mang trung / Đối thoại duy dân quốc / Tương kỳ tại hiếu trung / Hùng tài nguyên bất thế / Đại đạo bản vi công / Tương kiến trùng lai nhật / Kháng chiến dĩ thành công.

Nguyên bản Hán tự của bài thơ Tặng Võ Công (trái) và bài cụ Võ hoạ lại

Tạm dịch thơ:

Gặp cụ mừng cụ khoẻ
Việc quân bận vô cùng
Chuyện trò chỉ dân nước
Cùng tỏ một hiếu trung
Tài hùng đâu dễ có
Đạo lớn cốt vì chung
Ngày ta gặp nhau lại
Kháng chiến đã thành công

Cả hai bài thơ tặng và hoạ lại đều chung một sợi chỉ đỏ: tin ở thành công của kháng chiến.

Khi chia tay người bạn cũ để về lại khu 4, Hà Tĩnh, cụ Võ được Bác Hồ tặng chiếc gậy có khắc dòng chữ: “Tặng Võ Liêm Sơn tiên sinh”.

Tiếc rằng không được nhìn thấy ngày chiến thắng năm 1954, do bị bệnh, cụ qua đời năm 1949 tại quê nhà. Nhớ đến người bạn cũ, hễ biết có cán bộ đi qua Hà Tĩnh, bao giờ Bác cũng trân trọng nhờ đến thắp hương trước mộ cụ Võ tỏ mối thâm tình đồng chí đồng hương.

TRẦN ĐÌNH VIỆT

sgtt.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đền Hùng

Khu di tích Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, TP Việt Trì, Phú Thọ là nơi thờ các Vua Hùng – Tổ Tiên chung của dân tộc Việt Nam. Đây là một khu di tích đặc biệt quan trọng, qua các thời kỳ lịch sử luôn được Nhà nước và nhân dân quan tâm, gìn giữ. Trong cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chủ Tịch đã 2 lần về thăm Khu di tích này.

Sau hiệp định Geneva, ngày 19.9.1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn Đền Hùng làm nơi gặp gỡ và nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ Đại đoàn quân Tiên Phong – Sư đoàn 308, căn dặn về nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô. Cuộc gặp mặt của lãnh tụ Hồ Chí Minh với cán bộ, chiến sỹ Đại đoàn quân Tiên Phong không phải là sự tình cờ, mà là chủ đích của Người. Lần đầu tiên, cả chặng đường dài mấy ngàn năm của lịch sử dân tộc, được Người tổng kết trong một câu nói lịch sử nổi tiếng:

Các Vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước

Trong thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhiệm vụ lịch sử và nhiệm vụ cách mạng của dân tộc là dựng nước và giữ nước, lúc đó việc nghiên cứu khoa học về thời đại Hùng Vương chưa có điều kiện để tiến hành; Quy luật dựng nước và giữ nước trong lịch sử chưa được tổng kết. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định thời đại Hùng Vương là thời kỳ lịch sử có thật của dân tộc; Các Vua Hùng là người đã khai sinh ra đất nước Việt Nam. Sự khẳng định quy luật dựng nước và giữ nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đền Hùng không những có ý nghĩa giáo dục lớn, mà còn là sự quan tâm và ý thức tôn vinh Tổ Tiên – Các Vua Hùng – của người đứng đầu Nhà nước thời hiện tại. Sự nghiệp cách mạng rất đỗi vẻ vang nhưng còn nhiều gian khổ, đòi hỏi những hy sinh vô cùng to lớn, niềm tự hào vững chắc về Tổ Tiên dựng nước là nguồn cổ vũ hết sức lớn lao của nhân dân cả nước. Chọn Đền Hùng để khẳng định nhiệm vụ của Cách mạng Việt Nam, Hồ Chủ tịch đã tôn vinh Đền Hùng lên một tầm cao mới của lịch sử.

Trong lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “các Vua Hùng đã có công dựng nước”, Người đã viện dẫn đến những con người có thật trong buổi đầu của lịch sử dân tộc, đồng thời cũng là một biểu tượng cao quý mà các thế hệ con cháu người Việt Nam đời này qua đời khác tôn thờ. Nói về Các Vua Hùng ngay tại nơi thiêng liêng mà bao đời người Việt trở về trong tâm thức cũng như trong đời sống thường nhật – Đền Hùng – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi gợi cho chúng ta ý thức dân tộc, ý thức cội nguồn. Trên thế giới không có một dân tộc nào lại không có bề dày lịch sử của dân tộc mình, điều đó quyết định sức sống, sự thống nhất và phát triển của mỗi một dân tộc. Dân tộc Việt Nam đã trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước. Hôm nay tất yếu của sự phát triển là nhiệm vụ tiếp tục dựng nước và giữ nước của các thế hệ con cháu người Việt Nam. “Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Năm 1962, Đế quốc Mỹ chuẩn bị cuộc chiến tranh đánh phá cả miền Bắc. Cả nước thành chiến trường chống Mỹ. Một lần nữa, Đền Hùng lại đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào ngày 19.8.1962. Trong hồ sơ Di tích lưu niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng có ghi lời dặn của Người khi lên tới đỉnh núi Hùng: Đã đi là phải tới đích, leo núi là phải lên đến đỉnh, cũng như người làm cách mạng không được bỏ dở chừng. Người còn dặn phải trồng thêm hoa, cây cối để Đền Hùng trở thành một công viên lịch sử cho con cháu sau này đến thăm viếng. Cả 2 lần Người về Đền Hùng, cả 2 lần Người đều lên đến đỉnh cao mà ngày xưa Tổ Tiên của người Việt Nam từng mơ ước cầu Trời cho mưa thuận gió hòa, an dân hạnh phúc.

Điểm lại sự kiện 2 lần Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Đền Hùng không phải vì sợ hãi trước những khó khăn của lịch sử mà phải mượn tới vong linh của Tổ Tiên, để tìm một sức mạnh bởi niềm tin huyễn hoặc vào cõi thánh thần. Nhân dân ta vốn coi trọng nguồn gốc, tha thiết ở tình cảm “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả không quên ơn người trồng cây”, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đền Hùng, viện dẫn đến “Các Vua Hùng đã có công dựng nước”, chính là để ca ngợi sự cố gắng quyết tâm dựng nước và giữ nước trong thời đại mới, từ đó khơi dậy những tình cảm thiêng liêng của dân tộc, để từ truyền thống lịch sử tạo ra những điều bất diệt, tạo lên sức mạnh và nguồn sinh lực mới cho cuộc sống, để dân tộc hoàn thành nhiệm vụ của cách mạng, đi đến đích của mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong lịch sử hiện đại, bắt đầu bằng ý chí và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã hướng đạo cho chúng ta quan tâm xây dựng tôn tạo Khu di tích lịch sử Đền Hùng ở tầm cao của thời đại mới. Kỳ họp thứ 11 của Quốc hội Khóa XI đã thông qua sửa đổi Điều 73 của Bộ luật Lao động, cho phép người lao động cả nước được nghỉ ngày mùng 10.3 âm lịch. Đó là điều kiện tốt để đồng bào cả nước về thăm viếng Đền Hùng, dự lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương, tri ân công đức của Tổ Tiên, tạo động lực tinh thần yêu nước, gắn kết khối đại đoàn kết toàn dân. Khu di tích lịch sử Đền Hùng trong thời hiện tại, không chỉ gắn với Các Vua Hùng – Tổ tiên của dân tộc Việt Nam, mà còn gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người con ưu tú nhất của dân tộc, người thầy vĩ đại nhất của Cách mạng Việt Nam, những tiền nhân có công dựng nước và giữ nước.

Ts  Nguyễn Thị Tuyết Hạnh
Phó giám đốc Khu di tích lịch sử Đền Hùng

daibieunhandan.vn

Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh là nhà cách mạng, là danh nhân lịch sử, đó là điều hiển nhiên. Nhưng đồng thời, Hồ Chí Minh còn là danh nhân văn hóa, không phải chỉ ở khối lượng rộng lớn các kiến thức mà Người đã huy động để làm một nhà văn hóa phương Đông hoặc phương Tây, hoặc Đông – Tây kết hợp; mà là nhằm vào một sự nghiệp cao cả, với sự nghiệp đó, cả một dân tộc và cả một nền văn hóa được phục hưng.

Trong bối cảnh cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức và trước yêu cầu lịch sử của cách mạng dân tộc và dân chủ nhân dân buổi đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, bước khởi đầu của công cuộc tìm đường phải là sự trang bị một bản lĩnh văn hóa, để được soi sáng về nhận thức và lý luận. Ở những cuộc cách mạng của các dân tộc phương Đông – nơi phải chìm đắm trong đêm trường phong kiến và chịu quá nặng chính sách ngu dân của chủ nghĩa thực dân, công cuộc tìm đường được trao cho người trí thức, và Nguyễn Ái Quốc đã đón nhận trách nhiệm lịch sử đó, ở tư cách người trí thức, và do thế Nguyễn đã quyết tâm tự đào tạo mình thành trí thức. Khác trước đây, Lê Lợi tìm đến Nguyễn Trãi, Quang Trung tìm đến các sĩ phu, Nguyễn Ái Quốc, rồi Hồ Chí Minh của thế kỷ XX phải kết hợp cả hai trọng trách và thực hiện cùng lúc hai quá trình trí thức hóa cách mạng và cách mạng hóa trí thức. Khía cạnh văn hóa ở danh nhân Hồ Chí Minh, do nhu cầu lịch sử như trên, tất yếu và tự nhiên gắn với cách mạng; trở thành văn hóa cách mạng. Nói cách khác, Nguyễn Ái Quốc phải lo cách mạng hóa văn hóa, để văn hóa trở thành công cụ trực tiếp của cách mạng.

Trọn vẹn quá trình hoạt động cách mạng hơn nửa thế kỷ, tất cả những gì Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh nói và viết, bằng nhiều ngôn ngữ, trên nhiều loại văn, đều nhằm vào mục tiêu cách mạng. Câu hỏi hàng đầu Nguyễn Ái Quốc đặt ra cho hoạt động viết của mình là Viết cho ai? Và câu trả lời ở mọi thời điểm viết của tác giả, cũng là điều tác giả mong mọi người Việt Nam nhất trí là viết cho quần chúng số đông – để đưa quần chúng vào trường đấu tranh cách mạng, để nâng cao dân trí, để giúp quần chúng hiểu và thực hiện có hiệu quả mọi hoạt động nhằm tồn tại và tự giải phóng bản thân.

Khía cạnh văn hóa ở danh nhân Hồ Chí Minh là văn hóa cách mạng; và để đạt hiệu quả cách mạng, nó phải là văn hóa hành động, văn hóa nhằm thức tỉnh quần chúng, văn hóa gắn với nhu cầu thực tiễn theo hướng giúp cho con người năng lực tự giải phóng, và sự giải phóng con người.

Chính do bản thân đã là sự kết hợp nhuần nhuyễn văn hóa với cách mạng, nên Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên có nhu cầu và khả năng, bằng hoạt động lý luận và thực tiễn của mình, đi đầu và góp phần tiến hành công cuộc cách mạng văn hóa ở Việt Nam. Cuộc cách mạng văn hóa mà Hồ Chí Minh khởi xướng và lãnh đạo được bắt đầu bằng một loạt chủ trương và biện pháp – từ cuộc vận động thanh toán nạn mù chữ và phong trào Bình dân học vụ nhằm chống giặc dốt, đến các cuộc vận động Đời sống mới, cải cách lối sống và phong cách làm việc; từ yêu cầu phát triển nền giáo dục và y tế quốc dân đến từng bước gây dựng phong trào văn nghệ nhân dân… Mọi hoạt động trên lĩnh vực báo chí, ngôn luận, tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ đều phải nhằm vào nhân dân, lấy dân làm đối tượng phục vụ, từng bước nâng cao trình độ quần chúng, theo hướng kết hợp phổ cập và nâng cao…

Ở tư cách một nhà hoạt động cách mạng rồi trở thành lãnh tụ của dân tộc, Hồ Chí Minh đã có tầm nhìn chiến lược để nắm được các nhu cầu cơ bản và cấp thiết của quần chúng, tạo những khởi động quyết định nhằm giải phóng nhân dân lao động, giải phóng con người. Ở phạm vi hẹp của hoạt động văn hóa, chính Nguyễn Ái Quốc là tác giả Việt Nam đầu tiên, từ những năm 1920 đã góp công đầu vào việc giải quyết hai yêu cầu lịch sử đặt ra cho nền văn hóa mới Việt Nam nói chung và văn học nghệ thuật Việt Nam nói riêng là cách mạng hóa và hiện đại hóa – cơ sở để khắc phục những so le lịch sử giữa dân tộc và thời đại.

Thế kỷ XX đối với Việt Nam là thế kỷ cách mạng hóa một dân tộc, đưa dân tộc thoát khỏi số phận nô lệ; Đồng thời, là thế kỷ khoa học hóa, đưa trình độ nhân dân thoát khỏi một thời điểm quá thấp, trên 95% số dân mù chữ. Người đã viết và sử dụng sành sỏi tiếng Pháp, tiếng Hán cũng chính là người quan tâm hơn ai hết đến khả năng của tiếng Việt, sao cho tiếng Việt đến được với mọi tầng lớp đồng bào. Khi chưa có một cuộc cách mạng đem lại quyền sống, cơm áo và tự do cho đồng bào thì việc làm báo (Từ Le Paria, Việt Nam hồn đến Việt Nam độc lập) là nhằm đưa lại một ánh sáng văn hóa để soi cho họ con đường đến với cách mạng chính trị. Người biết viết cho một công chúng chọn lọc bằng cách huy động tất cả vốn kiến thức của nhiều chục năm tích lũy từ nhiều nền văn hóa, như trong Bản án chế độ thực dân Pháp và Nhật ký trong tù, cũng chính là người biết viết cho một công chúng đang thanh toán nạn mù chũ. Trong Sửa đổi lối làm việc, trong Cách viết, trong những bài nói chuyện, bài viết của Hồ Chí Minh với các giới văn hóa, khoa học, nghệ thuật, Người đã góp công lớn xây dựng nền tảng cơ bản cho quá trình khoa học hóa, văn hóa hóa nền dân trí Việt Nam.

Văn hóa và Cách mạng; Văn hóa cách mạng và cách mạng văn hóa; Văn hóa phục vụ nhân dân và đưa nhân dân lên một trình độ cao của văn hóa; Văn hóa kiến thức và văn hóa đạo đức – lối sống… tất cả những khía cạnh đó ta đều có thể tìm thấy trong tầm bao quát của danh nhân Hồ Chí Minh, và cũng được biểu hiện trong toàn bộ hoạt động của nhà cách mạng Hồ Chí Minh. Không chỉ trên các bài viết, bài nói chuyện – thường rất ngắn gọn, mà chủ yếu là sự gắn bó với hành động, sự hòa thấm vào hành động, hơn nữa, sự nêu gương trong hành động – đó cũng là khía cạnh nổi bật, trở thành nét độc đáo, nét riêng của Hồ Chí Minh, làm thành phong cách sống của Hồ Chí Minh.

Phong Lê

daibieunhandan.vn

Giá trị nhân văn cao quý trong sự nghiệp văn hóa Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh được thế giới công nhận là Nhà văn hóa kiệt xuất bằng cả một sự nghiệp văn hóa đồ sộ mà Người đã cống hiến cho dân tộc và nhân loại.

Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh được công nhận là Nhà văn hóa kiệt xuất vì Người đã khởi xướng phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, giải phóng các dân tộc thuộc địa, giành lại độc lập, tự do . Ðó không chỉ là một sự nghiệp chính trị phi thường, mà còn là một sự nghiệp văn hóa cao cả.

“Ðổi người nô lệ thành người tự do”, phát động lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng của một dân tộc phần đông còn mù chữ và thất học vùng dậy đấu tranh giành độc lập, đó là một sự nghiệp gian nan và phi thường, đồng thời cũng là một sự nghiệp văn hóa vĩ đại. Bởi vì, giải phóng con người khỏi thân phận nô lệ, khỏi cái đói, cái rét, cái dốt, là một sự nghiệp văn hóa có ý nghĩa cao cả nhất, đầy đủ nhất, một ước mơ ngàn đời của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà văn hóa kiệt xuất vì Người đã sớm thấy vai trò và sức mạnh của văn hóa, đã sớm đưa văn hóa vào chiến lược phát triển của đất nước .

Giành được độc lập rồi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng dân tộc mình lên một tầm văn hóa mới. Người đề nghị mở ngay chiến dịch chống giặc dốt . Người coi dốt nát cũng là một thứ giặc, xem thói quen và những truyền thống lạc hậu cũng là một loại kẻ thù. Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”… “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta… phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”(1).

Người phát động phong trào Ðời sống mới , xây dựng và phát triển những thuần phong, mỹ tục mới trong nhân dân; mỗi ngành, mỗi giới đều có phong trào riêng của mình. Công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người đã đưa văn hóa đi sâu vào quần chúng, tác động như một sức mạnh vật chất, biến đổi phong hóa, cải tạo con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho việc xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam. Người là kiến trúc sư vĩ đại của công cuộc cải cách và xây dựng nền văn hóa Việt Nam , tạo ra một cách nhìn mới, một thế giới quan mới, tạo lập một ý thức chính trị, ý thức đạo đức, ý thức pháp luật, ý thức nghệ thuật mới… chưa từng có trong lịch sử văn hóa Việt Nam.

Trên cơ sở đó, Người đã đánh thức các tiềm năng tinh thần truyền thống Việt Namđịnh hướng cho sự ra đời một nền đạo đức mới, một xã hội nhân cách mới. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, xã hội nhân cách – đạo đức ấy được tạo dựng trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước  chân chính, kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, theo nhân cách luận của người chiến sĩ cách mạng kiểu mới: trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư … Sau khi đã lãnh đạo toàn dân giành lại quyền độc lập, tự do cho Tổ quốc, Người đã đưa văn hóa Việt Nam lên vị trí xứng đáng trong nền văn hóa thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà văn hóa kiệt xuất vì bản thân Người là một nhà hoạt động và sáng tạo văn hóa lớn .

Hồ Chí Minh là biểu tượng của sự kết hợp hài hòa tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại, Ðông và Tây . Từ nhỏ, Người đã được hấp thụ một nền văn hóa dân tộc và văn hóa phương Ðông sâu sắc. Trên đường học tập và nghiên cứu, Người đã từng bước hấp thụ văn hóa nhân đạo và dân chủ của phương Tây, đặc biệt là tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái của truyền thống văn hóa cách mạng Pháp. Chính trí tuệ siêu việt, vốn sống thực tế phong phú và vốn văn hóa rộng lớn đã dẫn Người đến với Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, kết tinh thành tựu văn hóa của loài người. Người đã làm chủ được nhiều ngôn ngữ khác nhau, sử dụng một cách thành thạo trong viết văn, viết báo, làm thơ, viết kịch…; khi xuất hiện như một nhà báo phương Tây sành sỏi, khi lại trầm tĩnh, hàm súc như một thi sĩ cổ điển phương Ðông.

Trải qua mấy chục năm học tập và rèn luyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước vươn lên tầm cao của trí tuệ thời đại, để từ đó vận dụng và phát triển, sáng tạo và đổi mới, đóng góp vào kho tàng văn hóa thế giới những giá trị đặc sắc, in đậm dấu ấn Việt Nam – Hồ Chí Minh.

Bản thân Hồ Chí Minh là nhà thơ, nhà văn, nhà báo cách mạng vĩ đại . Thơ Hồ Chí Minh có bài viết bằng tiếng Việt, có bài viết bằng  chữ Hán, song không bài thơ nào vắng bóng con người. Khát vọng tự do, công lý, cơm áo, hòa bình… sự cổ vũ cho cái đẹp và mối quan hệ nhân văn giữa người với người, đó là những nội dung chủ yếu trong thơ Hồ Chí Minh.

Vì vậy, những bài thơ ngẫu hứng, sản phẩm của một thời, trong đó không ít bài đã ra đời trong cảnh tù đày, biệt xứ, đã trở thành “thơ của muôn đời”, đã làm “xáo trộn cả tâm hồn nhân loại” bởi những giá trị nhân văn cao quý, tỏa sáng từ một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

Là một nhà thơ lớn của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời là nhà văn lớn , là người mở đầu và đặt nền móng cho nền văn xuôi cách mạng Việt Nam. Người đã tìm tòi và viết nhiều thể loại: tiểu thuyết du ký, truyện viễn tưởng, truyện ngắn, thư từ, ký, kịch, tiểu phẩm, văn chính luận.

Ở lĩnh vực nào Người cũng đạt được những thành tựu đặc sắc, đem lại những yếu tố rất mới, rất hiện đại và giữ nguyên giá trị trong sự đổi mới văn học hôm nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một bậc thầy của báo chí cách mạng Việt Nam . Người rất khiêm tốn, không nhận mình là nhà thơ, nhà văn, chỉ nhận mình là “người có nhiều duyên nợ với báo chí”. Chính Người đã sáng lập và là linh hồn của nhiều tờ báo cách mạng đầu tiên ở nước ta.

Những bài báo ngắn gọn của Người đã góp phần thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin, lên án chủ nghĩa thực dân, chỉ đạo phong trào cách mạng ở thuộc địa. Tất cả những gì Người viết ra đều là sự phản ánh trung thực, hồn nhiên vẻ đẹp cao quý trong đạo đức, trí tuệ và tâm hồn của một nhân cách lỗi lạc, vì vậy, tất cả đều hiện ra chân thực, giản dị, tự nhiên, vốn là những chuẩn mực tiêu biểu cho cái đẹp – cái hoàn thiện của con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất bởi Người còn là mẫu mực của tinh thần khoan dung văn hóa. Người nhắc nhở phải giữ gìn, phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng không tự bó mình trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, thiển cận, mà kêu gọi phải ra sức nghiên cứu, học tập tinh hoa văn hóa của thế giới, xưa và nay. Người trân trọng mọi giá trị văn hóa nhân loại, tôn trọng và chấp nhận những giá trị khác biệt với sự lựa chọn của mình. Người từng thừa nhận mình là học trò của Các Mác, Giê-su, Khổng Tử, Tôn Dật Tiên, vì “các vị ấy đều có điểm chung giống nhau là mưu cầu hạnh phúc cho loài người… Nếu họ còn sống và ở gần nhau, tôi tin họ sẽ chung sống thoải mái với nhau như những người bạn tốt”.

Ðối với các tôn giáo, Người thành thật tôn trọng đức tin của người có đạo, khẳng định ý tưởng cao đẹp và những giá trị nhân bản của các vị sáng lập ra các tôn giáo đó, không hề bài bác hay phủ định, mà biết khéo hướng lý tưởng của các tôn giáo vào phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất vì Người còn là hiện thân rực rỡ của văn hóa hòa bình, của đường lối ngoại giao hòa bình , luôn luôn chủ trương giải quyết mọi tranh chấp, xung đột bằng thương lượng, đối thoại với thái độ hiểu biết và nhân nhượng lẫn nhau.

Tóm lại, có thể khẳng định Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hóa mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, cũng là những giá trị đóng góp vào sự phát triển văn hóa của thế giới.

Nhiều chủ trương văn hóa được Người đề ra rất sớm – từ giữa những năm 40 và 50 của thế kỷ 20, như: xóa mù chữ, trồng cây phủ xanh đồi trọc, cải tạo môi trường sinh thái, yêu mến và kính trọng người già, v.v. đến đầu những năm 90 đã được Liên hợp quốc đề lên thành những cuộc vận động lớn trên toàn thế giới. Ðúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Ðồng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một kho tàng đầy của báu, là di sản chứa đựng bao giá trị, giá trị đó, nói cho cùng, là giá trị văn hóa mà chúng ta khai thác chưa được bao nhiêu”(2).

Sự nghiệp văn hóa Hồ Chí Minh vô cùng phong phú: có văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa giao tiếp – ứng xử, văn hóa khoan dung, văn hóa – văn nghệ,… Văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc với những yếu tố tích cực trong văn hóa phương Ðông, văn hóa các tôn giáo, văn hóa dân chủ – cách mạng phương Tây, văn hóa mác-xít,… để trở thành văn hóa tiên tiến, mang những giá trị nhân văn sâu sắc, vốn là nội dung cốt lõi của văn hóa nhân loại.

Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh là văn hóa yêu nước, thương dân, hướng tất cả vào phục vụ sự nghiệp đấu tranh cho độc lập của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân; là văn hóa trọng dân “lấy dân làm gốc”.

Với tâm niệm “có dân là có tất cả”, nên Người thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên phải lo “sao cho được lòng dân”, phải phấn đấu trở thành người công bộc  trung thành và tận tụy của nhân dân. Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh vượt lên trên mọi sáo ngữ, giáo điều (nói nhiều làm ít, nói hay làm dở), đó là sự chung đúc những giá trị của các học thuyết trị nước tiến bộ mà các bậc anh hùng dân tộc, các minh quân, lương tướng đã theo đuổi trong lịch sử dân tộc và nhân loại. Chính vì thế nó chứa đựng những giá trị nhân văn cao quý.

Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh là văn hóa hành thiện, cổ vũ làm điều thiện, sống với nhau có tình, có nghĩa, muốn thế phải thực hiện cho tốt 8 chữ vàng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, biết kết hợp hài hòa lợi ích chung với lợi ích riêng, sống trung thực, giản dị, khiêm tốn, nói đi đôi với làm, ít lòng tham muốn về vật chất,… nhờ đó mà có thể “sống oanh liệt, chết vẻ vang”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chính là hiện thân sinh động của văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh. Như một người từng đối đầu với Hồ Chí Minh – tướng Valluy thừa nhận: “Hoàn toàn xả thân vì nhiệm vụ, không một chút lợi riêng tư, dưới con mắt những người chung quanh và những người đối thoại, Hồ Chí Minh là một người vô cùng đức độ”(3).

Thắng lợi của cách mạng, vinh quang của quyền lực, hay danh vọng của cá nhân không thể nào làm lu mờ tấm gương đạo đức của Người. Vì vậy, trong thế giới của những người cầm quyền, hình ảnh Hồ Chí Minh lại càng nổi bật hơn bao giờ hết.

Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh , nói rộng ra là phương châm xử thế, Hồ Chí Minh luôn luôn là người trung hậu, thủy chung với nhân dân, với đồng chí, đồng bào và với bạn bè quốc tế: Người thấy rừng và thấy cả từng cây, không bỏ sót một ai cả, không quên bất cứ một nghĩa cử nào, dù nhỏ, đã từng ủng hộ, giúp đỡ cách mạng Việt Nam; nhưng Hồ Chí Minh lại không bao giờ nhắc đến người cũ, chuyện cũ đã từng có lúc đối xử không đúng với Người; nếu có ai nhắc đến. Người cũng gạt đi. Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh cực kỳ tinh tế, uyển chuyển, có lý có tình, khiêm tốn, nhã nhặn, lịch thiệp.

Ứng xử văn hóa của Hồ Chí Minh đã tranh thủ được trái tim, khối óc của bạn bè năm châu, làm cho kẻ thù cũng phải khâm phục.

Văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh là kết tinh của truyền thống nhân ái, độ lượng Việt Nam và cũng là nét đặc trưng của văn hóa hòa bình trong thời đại ngày nay. Người nói: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái”. Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển những giá trị khoan dung của dân tộc và nhân loại, nâng lên thành một chất lượng mới, ở một tầm cao mới.

Là người cộng sản, Hồ Chí Minh có thái độ tôn trọng, không bao giờ tỏ ra kỳ thị, bài bác mà luôn luôn có ý thức khai thác, vận dụng những yếu tố tích cực của các học thuyết chính trị và tôn giáo như Nho, Phật, Lão, Thiên chúa giáo,… vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.

Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở chữ “nhân”, nhưng là một chữ nhân sáng suốt, có nguyên tắc, lấy công lý, chính nghĩa là nền tảng, chủ trương giải quyết những vấn đề dân tộc và quốc tế trên cơ sở “có lý, có tình”.

Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh là thái độ trân trọng đối với mọi giá trị văn hóa nhân loại, là không ngừng rộng mở, thâu hóa những yếu tố tích cực, tiến bộ và nhân văn của loài người để làm giàu cho văn hóa ViệtNam. Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh là chấp nhận giao lưu và đối thoại bình đẳng về giá trị để đạt tới cái chung, cái nhân loại, để cùng tồn tại và phát triển. Trong khi chống thực dân Pháp xâm lược, Người vẫn đề cao văn hóa Pháp. Trong khi chống đế quốc Mỹ, Người vẫn ca ngợi truyền thống văn hóa dân chủ và cách mạng Mỹ.

Nói về văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh, nhà báo Mỹ D. Halberstam đã thừa nhận: “Cụ Hồ đã làm được một điều đáng chú ý: biết dùng tới văn hóa và tâm hồn kẻ thù để chiến thắng”(4).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản văn hóa cao đẹp và phong phú, trong đó không thể không nhắc tới những tư tưởng chỉ đạo của Người về xây dựng một nền văn hóa mới: dân tộc, khoa học và nhân văn , một nền văn hóa “lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”, “làm cho ai cũng có lý tưởng độc lập, tự chủ”, “văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa xa xỉ”, “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”(5)… Những phương châm đó vẫn giữ nguyên giá trị chỉ đạo đối với việc xây dựng nền văn hóa dân tộc, cho hôm nay và cả mai sau.

Khẳng định những giá trị nhân văn cao quý trong sự nghiệp văn hóa và con người Hồ Chí Minh, nhà báo Jean Lacouture- người được coi là một nhà viết tiểu  sử Hồ Chí Minh hay nhất ở phương Tây, đã viết: “Ðó là một tấm trí minh mẫn, ít ham thích bạo lực, một thái độ rất độc đáo về quan hệ giữa người với người, một trình độ văn hóa tự học khá rộng nhưng rất thông hiểu, một tinh thần hài hước, trong đó bám rễ vào các tập quán châu Á luôn luôn kết hợp với những ảnh hưởng phương Tây, một tinh thần thanh bạch, một sự khắc khổ tự nhiên được ý chí làm cho vững chắc thêm lên, một nghị lực có một không hai. Vâng, tất cả những nét đó trở thành bí quyết của Cụ Hồ trước những thử thách của đời sống xã hội”(6).

Ðúng như Jean Lacouture đã dự báo, tư tưởng và sự nghiệp văn hóa của Hồ Chí Minh đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt của lịch sử và vẫn đang tiếp tục tỏa sáng, đặc biệt là ở vào thời điểm hiện nay, trong một thế giới đang biến động và đầy lo âu; khi mà sự sa sút về đạo đức, sự phản trắc, lừa đảo, hãm hại lẫn nhau,… đang có nguy cơ tăng lên; khi mà hình ảnh của một số lãnh tụ cầm quyền ở nơi này, nơi khác đang bị phê phán và hạ bệ, thì hình ảnh Hồ Chí Minh lại càng nổi bật lên trước con mắt của nhân loại hơn bao giờ hết.

Một nhà báo Venezuelađã viết rất thuyết phục: “Bộ máy tuyên truyền của đế quốc và các thế lực phản động đã rất nổi tiếng trong nghệ thuật vu khống xấu xa, hòng làm mất uy tín những địch thủ của họ. Họ đã chi tiêu rất nhiều tiền hòng bôi nhọ trước dư luận quốc tế đối với những ai, bằng cách này hay cách khác chống lại sự thống trị của họ… Tất cả những lãnh tụ cộng sản nổi tiếng trên thế giới đều được các hãng thông tấn của họ dán cho những “nhãn hiệu” như là những kẻ cướp hoặc khủng bố đáng tội treo cổ! Duy chỉ có Bác Hồ, do tấm gương cuộc đời và đạo đức của Người, đã làm cho những kẻ chuyên nghề vu cáo phải kính nể”(7).

Theo Nhân dân

cpv.org.vn

Sự giản dị tinh khiết

Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa. Người là tấm gương sáng ngời về đạo đức. Hồ Chí Minh đã và đang tạo nên một nền văn hóa truyền thống và hiện đại Việt Nam, văn hóa Hồ Chí Minh. 

Hồ Chí Minh tâm niệm và phấn đấu để: “…Dân ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Từ mục đích sống đó, Hồ Chí Minh xây dựng nên đạo đức văn hóa. Văn hóa vì nhân dân! Sự nghiệp cách mạng sôi nổi, Bác Hồ viết rất nhiều với hầu hết các thể loại: báo chí chính luận, truyện ngắn, kịch, thơ ca, mỹ thuật…

Đã có hàng triệu trang viết nghiên cứu, tổng kết, khẳng định về văn hóa Hồ Chí Minh. Là lãnh tụ, khi nói về Đảng, nói cách khác là khi đề cập đến nhiệm vụ chính trị, Bác thường sử dụng “mệnh lệnh thức” – phải, cần… Là nhà văn hóa, khi nói về văn hóa văn nghệ, Bác luôn có cách nói “ tu từ” của người trong cuộc, cảm thông, động viên, khuyến khích… cũng, nên, hãy…

Chúng ta nhớ lại một vài quan niệm của Người về văn hóa ai cũng nhớ.

– “Làm thơ ta vốn không ham”

– “Nay ở trong thơ nên có thép/Nhà thơ cũng phải biết xung phong”ù

– “Văn hóa văn nghệ cũng là một mặt trận. Anh chị em văn nghệ là những chiến sĩ trên mặt trận ấy”

– “Tôi chỉ là học trò nhỏ của nhà văn L.Tolstoi…”

Tài sản và giá trị văn hóa Hồ Chí Minh được ghi nhận và khẳng định bằng số lượng sáng tác của Hồ Chí Minh, đồng thời qua Người, những giá trị văn hóa truyền thống, tinh hóa văn hóa thế giới, có điều kiện tỏa sáng trong cuộc sống hiện đại. Hồ Chí Minh là sự kết tinh, hội tụ văn hóa diệu kỳ, thú vị.

Để hiểu thêm giá trị văn hóa Hồ Chí Minh, chúng ta cần tìm hiểu đạo đức Hồ Chí Minh. Trước hết, chúng ta tìm hiểu khái niệm đạo đức trong phạm trù mỹ học. Đạo đức là “những tiêu chuẩn, nguyên tắc sống được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội”. “Đạo đức cộng sản chủ nghĩa là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng, rèn luyện theo tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp tiên phong mà có”. Như vậy có thể hiểu đạo đức Hồ Chí Minh là phẩm chất tốt đẹp của truyền thống dân tộc và tính hiện đại của giai cấp công nhân trong thời đại cách mạng mới.

Ngắn gọn, rõ ràng, chân thành, luôn có chủ đích trong sáng tác… là thể hiện tính tiết kiệm, trong sáng, hiệu quả trong đời sống xã hội… tạo dựng nên sự giản dị tinh khiết, là nét đẹp đạo đức văn hóa Hồ Chí Minh. Cho nên khi đọc sáng tác của Hồ Chí Minh, chúng ta thưởng thức “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”.

Ở đây, chúng ta cần phân định giá trị văn hóa Hồ Chí Minh. Gia tài văn hóa Hồ Chí Minh cực kỳ đa dạng phong phú. Và toàn bộ gia tài đó là văn hóa, có những cấp độ, tầng văn hóa khác nhau. Ví dụ như thơ, có loại là thơ bác học, chuyên nghiệp, có loại là thơ ca dân gian, thậm chí có những loại ở dạng nói vần cho dễ nhớ, dễ thuộc.

Nói đến sáng tác văn học nghệ thuật là nói đến cá tính, phong cách và tác động xã hội… Hồ Chí Minh biết hòa mình vào hình tượng nhân vật và hình tượng cảm xúc, nhưng vẫn lộng lẫy một cá nhân nhà văn hóa. Ngày nay, chúng ta yêu cầu văn nghệ sĩ trước khi là nhà văn hóa hãy là công dân. Nói cách khác, xã hội yêu cầu cá nhân nhà văn hóa phải văn hóa như sáng tác của họ. Hồ Chí Minh là biểu tượng hài hòa tuyệt vời giữa trách nhiệm công dân và giá trị sáng tác.

Sự giản dị tinh khiết của đạo đức văn hóa Hồ Chí Minh là sản phẩm của lịch sử, thời đại thể hiện trong một con người “đại trí, đại nhân, đại dũng Hồ Chí Minh” (lời Quách Mạt Nhược, Trung Quốc).

BTK-theo báo SGGP

cpv.org.vn

Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa của thế kỷ XX

* Giá trị nhân văn cao quý trong sự nghiệp văn hóa Hồ Chí Minh

a) Chủ tịch Hồ Chí Minh được thế giới thừa nhận là Nhà văn hóa kiệt xuất (éminent homme de culture) bằng cả một sự nghiệp văn hóa đồ sộ mà Người cống hiến cho dân tộc và nhân loại.

Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh được thừa nhận là Nhà văn hóa kiệt xuất vì Người khởi xướng phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, giải phóng các dân tộc thuộc địa, giành lại độc lập, tự do. Đó không phải chỉ là một sự nghiệp chính trị phi thường mà còn là một sự nghiệp văn hóa cao cả.

“Đổi người nô lệ thành người tự do”, phát động lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng của một dân tộc phần đông còn mù chữ và thất học vùng dậy đấu tranh đòi giải phóng, đó là một sự nghiệp gian nan và phi thường, đồng thời cũng là một sự nghiệp văn hóa vĩ đại. Bởi vì giải phóng con người khỏi thân phận nô lệ, khỏi cái đói, cái rét, cái dốt là một sự nghiệp văn hóa có ý nghĩa cao cả nhất, đầy đủ nhất, một ước mơ ngàn đời của nhân loại.

b) Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà văn hóa kiệt xuất vì Người đã sớm thấy vai trò và sức mạnh của văn hóa, đã sớm đưa văn hóa vào chiến lược phát triển của đất nước.

Giành được độc lập rồi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng dân tộc mình lên một tầm văn hóa mới. Người đề nghị mở ngay chiến dịch chống giặc dốt. Người coi dốt nát cũng là một thứ giặc, xem thói quen và những truyền thống lạc hậu cũng là một loại kẻ thù. Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”… “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta… phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập” .

Người phát động phong trào Đời sống mới, xây dựng và phát triển những thuần phong, mỹ tục mới trong nhân dân; mỗi ngành, mỗi giới đều có phong trào riêng của mình. Công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người đã đưa văn hóa đi sâu vào quần chúng, tác động như một sức mạnh vật chất, biến đổi phong hóa, cải tạo con người.

c) Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho việc xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam. Người là kiến trúc sư vĩ đại của công cuộc cải cách và xây dựng nền văn hóa Việt Nam, tạo ra một cách nhìn mới, một thế giới quan mới, tạo lập một ý thức chính trị, ý thức đạo đức, ý thức pháp luật, ý thức nghệ thuật mới,… chưa từng có trong lịch sử văn hóa Việt Nam.

Trên cơ sở đó, Người đã đánh thức các tiềm năng tinh thần truyền thống Việt Nam, định hướng cho sự ra đời một nền đạo đức mới, một xã hội nhân cách mới. Với Hồ Chí Minh, xã hội nhân cách – đạo đức ấy được tạo dựng trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước chân chính, kết hợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, theo nhân cách luận của người chiến sĩ cách mạng kiểu mới: trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư,… Sau khi đã lãnh đạo toàn dân giành lại quyền độc lập, tự do cho Tổ quốc, Người đã đưa văn hóa Việt Nam lên vị trí xứng đáng trong nền văn hóa thế giới.

d) Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nhà văn hóa kiệt xuất vì bản thân Người là một nhà hoạt động và sáng tạo văn hóa lớn.

– Hồ Chí Minh là biểu tượng của sự kết hợp hài hòa tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại,Đông và Tây. Từ nhỏ, Người đã được hấp thụ một nền văn hóa dân tộc và văn hóa phương Đông sâu sắc. Trên đường học tập và nghiên cứu, Người đã từng bước hấp thụ văn hóa nhân đạo và dân chủ của phương Tây, đặc biệt là tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái của truyền thống văn hóa cách mạng Pháp. Chính trí tuệ siêu việt, vốn sống thực tế phong phú và vốn văn hóa rộng lớn đã dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, kết tinh thành tựu văn hóa của loài người. Người đã làm chủ được nhiều ngôn ngữ khác nhau, sử dụng một cách thành thạo trong viết văn, viết báo, làm thơ, viết kịch…, khi xuất hiện như một nhà báo phương Tây sành sỏi, khi lại trầm tĩnh, hàm súc như một thi sĩ cổ điển phương Đông. Trải qua mấy chục năm học tập và rèn luyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước vươn lên tầm cao của trí tuệ thời đại, để từ đó mà vận dụng và phát triển, sáng tạo và đổi mới, đóng góp vào kho tàng văn hóa thế giới những giá trị đặc sắc, in đậm dấu ấn Việt Nam – Hồ Chí Minh.

– Bản thân Hồ Chí Minh là nhà thơ, nhà văn, nhà báo cách mạng vĩ đại. Thơ Hồ Chí Minh có bài viết bằng tiếng Việt, có bài viết bằng chữ Hán, song không bài thơ nào vắng bóng con người. Khát vọng tự do, công lý, cơm áo, hòa bình… sự cổ vũ cho cái đẹp và mối quan hệ nhân văn giữa người với người, đó là những nội dung chủ yếu trong thơ Hồ Chí Minh. Vì vậy, những bài thơ ngẫu hứng, sản phẩm của một thời, trong đó không ít bài đã ra đời trong cảnh tù đày, biệt xứ ,đã trở thành “thơ của muôn đời”, đã làm “xáo trộn cả tâm hồn nhân loại” bởi những giá trị nhân văn cao quý, toả sáng từ một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

Là một nhà thơ lớn của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời là nhà văn lớn, là người mở đầu và đặt nền móng cho nền văn xuôi cách mạng Việt Nam. Người đã tìm tòi và viết nhiều thể loại: tiểu thuyết du ký, truyện viễn tưởng, truyện ngắn, thư từ, ký, kịch, tiểu phẩm, văn chính luận. ở lĩnh vực nào Người cũng đạt được những thành tựu đặc sắc, đem lại những yếu tố rất mới, rất hiện đại và giữ nguyên giá trị trong sự đổi mới văn học hôm nay.

– Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một bậc thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Người rất khiêm tốn, không nhận mình là nhà thơ, nhà văn, chỉ nhận mình là “người có nhiều duyên nợ với báo chí”. Chính Người đã sáng lập và là linh hồn của nhiều tờ báo cách mạng đầu tiên ở nước ta. Những bài báo ngắn gọn của Người đã góp phần thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, lên án chủ nghĩa thực dân, chỉ đạo phong trào cách mạng ở thuộc địa. Tất cả những gì Người viết ra đều là sự phản ánh trung thực, hồn nhiên vẻ đẹp cao quý trong đạo đức, trí tuệ và tâm hồn của một nhân cách lỗi lạc, vì vậy, tất cả đều hiện ra chân thực, giản dị, tự nhiên, vốn là những chuẩn mực tiêu biểu cho cái đẹp – cái hoàn thiện của con người.

e) Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất bởi Người còn là mẫu mực của tinh thần khoan dung văn hóa. Người nhắc nhở phải giữ gìn, phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng không tự bó mình trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, thiển cận, mà kêu gọi phải ra sức nghiên cứu, học tập tinh hoa văn hóa của thế giới, xưa và nay. Người trân trọng mọi giá trị văn hóa nhân loại, tôn trọng và chấp nhận những giá trị khác biệt với sự lựa chọn của mình. Người từng thừa nhận mình là học trò của Các Mác, Jésus, Khổng Tử, Tôn Dật Tiên, vì “các vị ấy đều có điểm chung giống nhau là mưu cầu hạnh phúc cho loài người… Nếu họ còn sống và ở gần nhau, tôi tin họ sẽ chung sống thoải mái với nhau như những người bạn tốt”. Đối với các tôn giáo, Người thành thật tôn trọng đức tin của người có đạo, khẳng định lý tưởng cao đẹp và những giá trị nhân bản của các vị sáng lập ra các tôn giáo đó, không hề bài bác hay phủ định, mà biết khéo hướng lý tưởng của các tôn giáo vào phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân.

g) Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất vì Người còn là hiện thân rực rỡ của văn hóa hòa bình, của đường lối ngoại giao hòa bình, luôn luôn chủ trương giải quyết mọi tranh chấp, xung đột bằng thương lượng, đối thoại với thái độ hiểu biết và nhân nhượng lẫn nhau.

Tóm lại, có thể khẳng định Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hóa mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, cũng là những giá trị đóng góp vào sự phát triển văn hóa của thế giới. Nhiều chủ trương văn hóa được Người đề ra rất sớm – từ giữa những năm 40 và 50 của thế kỷ XX, như: xoá mù chữ, trồng cây phủ xanh đồi trọc, cải tạo môi trường sinh thái, yêu mến và kính trọng người già, v.v. đến đầu những năm 90 đã được Liên hợp quốc đề lên thành những Cuộc vận động lớn trên toàn thế giới. Đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một kho tàng đầy của báu, là di sản chứa đựng bao giá trị, giá trị đó, nói cho cùng, là giá trị văn hóa mà chúng ta khai thác chưa được bao nhiêu” .

*
* *

Sự nghiệp văn hóa Hồ Chí Minh vô cùng phong phú: có văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa giao tiếp – ứng xử, văn hóa khoan dung, văn hóa – văn nghệ,… Văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc với những yếu tố tích cực trong văn hóa phương Đông, văn hoá các tôn giáo, văn hóa dân chủ – cách mạng phương Tây, văn hóa mácxít,… để trở thành văn hóa tiên tiến, mang những giá trị nhân văn sâu sắc, vốn là nội dung cốt lõi của văn hóa nhân loại.

Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh là văn hóa yêu nước, thương dân, hướng tất cả vào phục vụ sự nghiệp đấu tranh cho độc lập của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân; là văn hóa trọng dân “lấy dân làm gốc”. Với tâm niệm “có dân là có tất cả”, nên Người thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên phải lo “sao cho được lòng dân”, phải phấn đấu trở thành người công bộc trung thành và tận tụy của nhân dân. Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh vượt lên trên mọi sáo ngữ, giáo điều (nói nhiều làm ít, nói hay làm dở), đó là sự chung đúc những giá trị của các học thuyết trị nước tiến bộ mà các bậc anh hùng dân tộc, các minh quân, lương tướng đã theo đuổi trong lịch sử dân tộc và nhân loại. Chính vì thế nó chứa đựng những giá trị nhân văn cao quý.

Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh là văn hóa hành thiện, cổ vũ làm điều thiện, sống với nhau có tình, có nghĩa, muốn thế phải thực hiện cho tốt 8 chữ vàng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, biết kết hợp hài hòa lợi ích chung với lợi ích riêng, sống trung thực, giản dị, khiêm tốn, nói đi đôi với làm, ít lòng tham muốn về vật chất,… nhờ đó mà có thể “sống oanh liệt, chết vẻ vang”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chính là hiện thân sinh động của văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh. Như một người từng đối đầu với Hồ Chí Minh – tướng Valluy thừa nhận: “Hoàn toàn xả thân vì nhiệm vụ, không một chút lợi riêng tư, dưới con mắt những người chung quanh và những người đối thoại, Hồ Chí Minh là một người vô cùng đức độ” . Thắng lợi của cách mạng, vinh quang của quyền lực, hay danh vọng của cá nhân không thể nào làm lu mờ tấm gương đạo đức của Người. Vì vậy, trong thế giới của những người cầm quyền, hình ảnh Hồ Chí Minh lại càng nổi bật hơn bao giờ hết.

Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh, nói rộng ra là phương châm xử thế, Hồ Chí Minh luôn luôn là người trung hậu, thủy chung với nhân dân, với đồng chí, đồng bào và với bạn bè quốc tế; Người thấy rừng và thấy cả từng cây, không bỏ sót một ai cả, không quên bất cứ một nghĩa cử nào, dù nhỏ, đã từng ủng hộ, giúp đỡ cách mạng Việt Nam; nhưng Hồ Chí Minh lại không bao giờ nhắc đến người cũ, chuyện cũ đã từng có lúc đối xử không đúng với Người; nếu có ai nhắc đến, Người cũng gạt đi. Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh cực kỳ tinh tế, uyển chuyển, có lý có tình, khiêm tốn, nhã nhặn, lịch thiệp. Phương châm xử thế mà Hồ Chí Minh thường nhắc nhở cán bộ và nhân dân ta là:

“Bình tĩnh, sáng suốt khi nguy nan,
Nhẫn nại, ôn hòa khi tức giận.
Linh hoạt, khéo léo tùy trường hợp,
Nguyên tắc quá thường hay lỡ việc,
Cương quyết khi hành động,
Gác lợi riêng mưu nghiệp lớn”…

Hồ Chí Minh là hiện thân sinh động của những phương châm này. Ứng xử văn hóa của Hồ Chí Minh đã tranh thủ được trái tim, khối óc của bạn bè năm châu, làm cho kẻ thù cũng phải khâm phục.

Văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh là kết tinh của truyền thống nhân ái, độ lượng Việt Nam và cũng là nét đặc trưng của văn hóa hòa bình trong thời đại ngày nay. Người nói: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái”. Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển những giá trị khoan dung của dân tộc và nhân loại, nâng lên thành một chất lượng mới, ở một tầm cao mới.

Là người cộng sản, Hồ Chí Minh có thái độ tôn trọng, không bao giờ tỏ ra kỳ thị, bài bác mà luôn luôn có ý thức khai thác, vận dụng những yếu tố tích cực của các học thuyết chính trị và tôn giáo như Nho, Phật, Lão, Thiên chúa giáo,… vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.

Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở chữ “nhân”, nhưng là một chữ nhân sáng suốt, có nguyên tắc, lấy công lý, chính nghĩa là nền tảng, chủ trương giải quyết những vấn đề dân tộc và quốc tế trên cơ sở “có lý, có tình”.

Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh là thái độ trân trọng đối với mọi giá trị văn hóa nhân loại, là không ngừng rộng mở, thâu hóa những yếu tố tích cực, tiến bộ và nhân văn của loài người để làm giàu cho văn hóa Việt Nam. Khoan dung văn hóa Hồ Chí Minh là chấp nhận giao lưu và đối thoại bình đẳng về giá trị để đạt tới cái chung, cái nhân loại, để cùng tồn tại và phát triển. Trong khi chống thực dân Pháp xâm lược, Người vẫn đề cao văn hóa Pháp. Trong khi chống đế quốc Mỹ, Người vẫn ca ngợi truyền thống văn hóa dân chủ và cách mạng Mỹ.

Nói về văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh, nhà báo Mỹ David Halberstam đã thừa nhận: “Cụ Hồ đã làm được một điều đáng chú ý: biết dùng tới văn hóa và tâm hồn kẻ thù để chiến thắng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản văn hóa cao đẹp và phong phú, trong đó không thể không nhắc tới những tư tưởng chỉ đạo của Người về xây dựng một nền văn hóa mới: dân tộc, khoa học và nhân văn, một nền văn hóa “lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”, “làm cho ai cũng có lý tưởng độc lập, tự chủ”, “văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa xa xỉ”, “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” ,… Những phương châm đó vẫn giữ nguyên giá trị chỉ đạo đối với việc xây dựng nền văn hóa dân tộc, cho hôm nay và cả mai sau.

Khẳng định những giá trị nhân văn cao quý trong sự nghiệp văn hóa và con người Hồ Chí Minh, nhà báo Jean Lacouture – người được coi là một nhà viết tiểu sử Hồ Chí Minh hay nhất ở phương Tây, đã viết: “Đó là một tấm trí minh mẫn, ít ham thích bạo lực, một thái độ rất độc đáo về quan hệ giữa người với người, một trình độ văn hóa tự học khá rộng nhưng rất thông hiểu, một tinh thần hài hước, trong đó bám rễ vào các tập quán châu á luôn luôn kết hợp với những ảnh hưởng phương Tây, một tinh thần thanh bạch, một sự khắc khổ tự nhiên được ý chí làm cho vững chắc thêm lên, một nghị lực có một không hai. Vâng, tất cả những nét đó trở thành bí quyết của Cụ Hồ trước những thử thách của đời sống xã hội” .

Đúng như J. Lacouture đã dự báo, tư tưởng và sự nghiệp văn hóa của Hồ Chí Minh đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt của lịch sử và vẫn đang tiếp tục tỏa sáng, đặc biệt là ở vào thời điểm hiện nay, trong một thế giới đang biến động và đầy lo âu; khi mà sự sa sút về đạo đức, sự phản trắc, lừa đảo, hãm hại lẫn nhau,… đang có nguy cơ tăng lên; khi mà hình ảnh của một số lãnh tụ cầm quyền ở nơi này, nơi khác đang bị phê phán và hạ bệ, thì hình ảnh Hồ Chí Minh lại càng nổi bật lên trước con mắt của nhân loại hơn bao giờ hết.

Một nhà báo Vênêxuêla đã viết rất thuyết phục: “Bộ máy tuyên truyền của đế quốc và các thế lực phản động đã rất nổi tiếng trong nghệ thuật vu khống xấu xa, hòng làm mất uy tín những địch thủ của họ. Họ đã chi tiêu rất nhiều tiền hòng bôi nhọ trước dư luận quốc tế đối với những ai, bằng cách này hay cách khác chống lại sự thống trị của họ… Tất cả những lãnh tụ cộng sản nổi tiếng trên thế giới đều được các hãng thông tấn của họ dán cho những “nhãn hiệu” như là những kẻ cướp hoặc khủng bố đáng tội treo cổ!. Duy chỉ có Bác Hồ, do tấm gương cuộc đời và đạo đức của Người, đã làm cho những kẻ chuyên nghề vu cáo phải kính nể”./.

Nguồn: TTXVN

cpv.org.vn

Một danh nhân văn hoá có tầm nhân loại

Đã có nhiều cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng tác phẩm “Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa” của Đào Phan (NXB Văn hóa Thông tin, 2005) có vị trí khá đặc biệt, trước hết vì “xuất xứ” của nó. Chính đồng Vũ Kỳ, thư ký riêng của Hồ Chủ tịch, đã tin cậy chọn Đào Phan là người viết công trình “Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hóa” để kịp công bố vào dịp UNESCO tổ chức Hội thảo về “Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh” tại Hà Nội. (Theo hồi ký của Phan Bội Hoàn, người bạn đời của Đào Phan). 

Có lẽ cũng nên giới thiệu đôi dòng về tác giả cuốn sách. Đào Phan tên thật là Đào Duy Dếnh, sinh ngày 10/7/1920, quê quán Khúc Thuỷ, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Anh ruột của ông là học giả Đào Duy Anh, tham gia Đảng Tân Việt – tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam – đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh; chị Đào Thị Quyền, là cơ sở của cách mạng, các đồng chí Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng Bí thư, Trần Đình Tri nguyên Thường trực Quốc Hội… từng được gia đình chị che chở; anh Đào Duy Kỳ vào Đảng Cộng sản từ năm 1936, từng làm việc trực tiếp với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh…, có lúc là Quyền Bí thư Xứ uỷ Bắc kỳ, từng bị tù ở Hoả Lò, Sơn La, Côn Đảo, sau làm Trưởng ban Huấn học Trung ương…; cô em út Đào Thị Đính hoạt động bí mật cùng đồng chí Tố Hữu, từng ngồi tù 5 năm tại Huế, sau 1945 là Thành uỷ viên Huế, rồi Trưởng ban Tổ chức TW Hội Phụ nữ Việt Nam… Từ trước Cách mạng Tháng Tám, lúc 16 tuổi, ông đã tham gia chống Pháp trong phong trào thanh niên, học sinh ở Huế; năm 1937 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam; năm 1941 là Bí thư Hà Nội, từng bị thực dân Pháp bắt và lưu đày tại nhiều nhà tù ở Thừa Thiên, Phan Rang, Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, thoát khỏi ngục tù đế quốc, ông được đồng chí Nguyễn Chí Thanh cử làm Đội trưởng Đội Tuyên truyền xung phong Việt Minh Trung Bộ, tập hợp những thanh niên trí thức đi đến tận những vùng rừng núi, những thôn xóm xa xôi hẻo lánh diễn thuyết, diễn văn nghệ tuyên truyền cho chính phủ Cụ Hồ…Từng viết báo “Suối Reo” – tờ báo của các chiến sĩ cộng sản trong nhà tù Sơn La, năm 1947, ông được Trung ương điều ra phụ trách Nhà xuất bản và báo “Quân du kích” – tiền thân của NXB và báo “Quân đội nhân dân” hôm nay…

Năm 2005, cùng một lúc, cả 3 công trình nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh của ông được xuất bản nhân kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Người. (Ngoài tác phẩm kể trên, là 2 cuốn “Hồ Chí Minh – một nhân cách lớn” – NXB Văn hóa thông tin, 510 trang và “Đạo Khổng trong văn Bác Hồ”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 375 trang).
Về tác phẩm “Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa” đồng Vũ Kỳ đã trân trọng viết Lời giới thiệu như sau:

“…Cuốn “Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hóa” đã được viết bằng công phu nghiên cứu của tác giả trong hai chục năm qua…Là một người phục vụ Bác Hồ lâu năm, tôi càng sung sướng khi thấy cuốn sách đã nêu được những đường nét sống động và chân thật của Người…” 

Nhận xét nêu trên đã nói lên phần nào giá trị của công trình. Cuốn sách gồm có 5 chương: Hồi tưởng về một dự báo; Nền văn hoá mới; Triết nhân và nghệ sĩ; Chiến lược con người – nhà giáo dục; Truyền thống và hiện đại. Qua 5 chương sách, với hàng trăm dẫn chứng cụ thể và sinh động – trong đó có ý kiến của nhiều trí thức, văn nghệ sĩ nổi tiếng thế giới nhận xét, ca ngợi những phẩm cách đặc biệt về nhiều phương diện của Hồ Chí Minh, từ khi Người còn là chàng trai Nguyễn Ái Quốc đi tìm đường cứu nước đến lúc trở thành vị lãnh tụ tối cao của dân tộc – tác giả đã chứng minh một cách thuyết phục Hồ Chí Minh thật sự là một danh nhân văn hoá có tầm nhân loại. Đạt được điều đó, trước hết là nhờ công phu sưu tầm tài liệu của tác giả, nhưng quan trọng hơn là nhờ tác giả có cách nhìn mới mẻ và đúng đắn, xứng tầm với vĩ nhân, vượt qua được cách nghĩ hạn hẹp, công thức khi nêu gương một nhà cách mạng. Chỉ cần đọc mấy trang đầu, khi tác giả dẫn bài viết của nhà thơ Liên Xô Ô-xíp Man-đen-xtam sau khi gặp Người năm 1923 đủ rõ: “…Cả diện mạo của Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp và sự tế nhị. Từ Nguyễn Ái Quốc toả ra một nền văn hoá, không như văn hoá châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai…Qua cử chỉ cao thượng và tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương…”. Tác giả Đào Phan đã nhấn mạnh: Quả rất đáng ngẫm nghĩ khi nhà thơ nước Nga vốn chủ định tới thăm một “Chiến sĩ quốc tế” nhưng“vừa gặp gỡ đã nhận diện được ngay một con người Việt Nam, ở sự giản dị và thanh lịch, chuộng nếp điều độ và ghét thói thái quá…những nét truyền thống văn hoá lâu đời của một diện mạo dân tộc…” 

Và gần 10 năm sau, trước sự kiện vị luật sư và bà vợ Tổng đốc nước Anh tư bản ở Hương cảng (Hồng Công) cùng góp sức cứu “Ông Nguyễn”, tác giả đã viết: “…Trong những trường hợp như thế không ai nhìn nhận con người qua những dáng dấp giai cấp. Lòng tin của nhà cách mạng quốc tế đối với một vị luật sư Hoàng gia, và ngược lại, lòng tin của vị luật sư Hoàng gia đối với nhà cách mạng quốc tế, phải chăng đều đã bắt nguồn từ “nhân tính” hoặc “nhân tình”?… Nếu không do những tín hiệu nào đó của nền văn hoá toả ra từ một con người mắc cạn, thì điều gì đã thuyết phục cả người phụ nữ sang trọng ấy có thể dùng ngay chiếc ca-nô của chồng mình để bí mật đưa nhà cách mạng Việt Nam đi thoát khỏi vòng vây của mật thám Đông Dương…” 

Một điểm đáng chú ý nữa của tác phẩm là tác giả đã phân tích những giá trị văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân tộc từ Nguyễn Trãi, đến Phan Bội Châu…, cũng như những giá trị văn hoá của nhân loại đã thể hiện trong danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh như thế nào; nói cách khác, chính nhờ Người biết tiếp thu và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và biết thu nhận, kết hợp những tinh hoa văn hoá của nhân loại, chứ không độc tôn thờ một “Ông Thánh” nào, nên mới trở thành “danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh”.

Tác giả cũng đã nêu bật được nét đặc sắc của “văn hoá” Hồ Chí Minh là nói đi đôi với làm; bằng những hoạt động và cách cư xử hàng ngày, Người đã nêu một tấm gương cụ thể và sinh động. Chỉ xin dẫn một ví dụ: Nhân Quốc khánh 2/9/1955, một thương binh từ miền Nam ra, được mời dự chiêu đãi tại Phủ Chủ tịch. Tên thật của anh là Nguyễn Trản, bị cụt mất hai tay khi phụ trách một xưởng quân giới rất thô sơ tại Nam Bộ thời chống Pháp, nên còn có bí danh là Vương Nhị Chi. Trong lúc chờ đợi, anh hỏi thăm lối đi tới nhà vệ sinh. Với hai cánh tay cụt, anh đang loay hoay chưa biết tính sao thì bỗng nghe tiếng hỏi nhẹ nhàng sau lưng: “Chú làm sao cởi khuy?…” Anh còn lúng túng chưa biết trả lời ra sao thì một ông già bước tới cởi khuy giúp anh rồi đứng tránh sang một bên, chờ anh tiểu tiện xong rồi lại lặng lẽ đến cài khuy giúp. Ông già ấy là vị Chủ tịch Nước. Thì ra đúng lúc anh hỏi thăm lối vào nhà vệ sinh đã tình cờ gặp Người. Sau khi dẫn anh trở lại phòng lễ tân, Hồ Chủ tịch liền nghiêm khắc quở trách mấy cán bộ hồi nãy “chỉ trỏ” bàn tán khi anh đi vào nhà vệ sinh: “Người ta mất cả hai cánh tay, mà không ai đi theo giúp đỡ…” 

Không chỉ nêu gương, Người đã tổ chức, phát động mọi người cùng làm theo, tạo nên diện mạo một nền “văn hoá mới” của đất nước. Vì thế, tuy Người “đi xa” đã mấy chục năm qua, những giá trị văn hoá Người để lại không chỉ hiện diện trên những trang sách của Đào Phan mà còn toả sáng trên mỗi bước đường cách mạng của dân tộc, của đất nước Việt Nam đang không ngừng đổi mới, “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Người đã từng mong đợi.

Nguyễn Khắc Phê

cpv.org.vn