Thư viện

Vai trò và ý nghĩa lịch sử của tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”

Nhân dịp kỷ niệm 79 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2009), cũng là ngày kỷ niệm 40 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (3/2/1969-3/2/2009), việc phát động học tập nghiên cứu tác phẩm đó để rút ra những bài học cần thiết trong tình hình hiện nay là một hành động dũng cảm, có tính cách mạng. Khẳng định như vậy là trên cơ sở nhận thức đúng đắn về giá trị lý luận và thực tiễn của tác phẩm, để từ đó đi thẳng vào vấn đề, vạch ra những phương sách và biện pháp thích hợp nhằm giải quyết những tồn tại, vướng mắc, cản trở trên con đường đi lên của cách mạng lúc này đây được đặt ra một cách cấp thiết.

Nói về tác phẩm: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, có một đặc tính chung với các tác phẩm khác của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là được viết rất ngắn gọn, súc tích. Chỉ với chưa đầy 700 từ (684 từ) Chủ tịch Hồ Chí Minh đi ngay vào vấn đề, nêu rõ mục đích cụ thể của việc viết tác phẩm. Ngay tên tác phẩm đã cho thấy căn bệnh trầm kha, gốc của mọi tệ hại, đó là “chủ nghĩa cá nhân” và khẳng định phương thuốc cơ bản, lợi hại nhất để diệt trừ căn bệnh là “nâng cao đạo đức cách mạng”.

Mở đầu bài viết là những dòng tổng kết ngắn gọn về truyền thống yêu nước cách mạng của nhân dân ta, mà tiêu biểu là đảng viên cán bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng. “Đảng ta lãnh đạo rất sáng suốt, để đưa dân tộc ta tiến lên không ngừng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác… Đảng ta đã đào tạo một thế hệ thanh niên cách mạng, gái cũng như trai, rất hăng hái, dũng cảm trong mọi công tác…”. “Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào vì có những người con xứng đáng như thế”. Chuyển sang phần 2, bài viết đã đi vào nhận định, đánh giá tình hình, nêu rõ bên cạnh mặt tốt còn một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém vì mang nặng “chủ nghĩa cá nhân”, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “ mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình… Tóm lại do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”. Cuối cùng khẳng định phía Đảng phải làm những gì, mỗi cán bộ, đảng viên phải xác định tư tưởng và hành động ra sao để nâng cao đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ cách mạng, góp sức nhiều hơn nữa cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước toàn thắng và xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công.

Để nhận thức đầy đủ giá trị lý luận và thực tiễn của tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” điểm đầu tiên cần làm rõ là tại sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết tác phẩm và cho công bố tác phẩm này vào năm 1969. Đối chiếu với lịch sử nước ta, năm 1969 mở đầu cho một thời kỳ đấu tranh đầy gay go, gian khổ, đòi hỏi một tinh thần đấu tranh quyết liệt đầy hy sinh gian khổ – một sự hy sinh cao cả, không bờ bến. Trong cuộc đấu tranh “cuối cùng” này mọi tư tưởng riêng tư, quyền lợi ích kỷ của cá nhân đều phải lùi bước.

Sau cuộc Tổng tấn công và nổi dậy năm 1968, mở đầu bằng cuộc tập kích chiến lược Tết Mậu Thân, một đòn bất ngờ góp phần quyết định chiều hướng của cuộc chiến tranh ở Việt Nam, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, làm chấn động dư luận nước Mỹ và thế giới. Tổng thống Mỹ là Nichxơn đã đưa ra chiến lược quân sự “Ngăn đe thực tế”, một chiến lược toàn cầu mới nhằm khôi phục lại sức mạnh của Mỹ, cố giữ vai trò “sen đầm quốc tế”, vai trò lãnh đạo “thế giới tự do”. “Học thuyết Nicxơn” được thực hiện thí điểm ở Việt Nam, đó là chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” với âm mưu cơ bản là dùng người Việt đánh người Việt với bom đạn, đô la Mỹ, do người Mỹ chỉ huy và vì lợi ích của Mỹ. Với chiến lược “Việt Nam hoá”, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam với mục đích tránh những tồn thất lớn hơn đối với quân viễn chinh Mỹ, nhưng vẫn cố tình bám giữ miền Nam Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, với âm mưu độc ác của đế quốc Mỹ như vậy, tất nhiên cuộc chiến đấu của dân tộc ta cho Độc lập, thống nhất càng trở nên quyết liệt, gian khổ hơn. Ngay từ trong những năm đầu (1960-1970) của “Việt Nam hoá chiến tranh”, Mỹ đã gây cho ta không ít khó khăn: cơ sở của ta ở nông thôn bị tổn thất, căn cứ cách mạng bị phá hoại, phong trào quần chúng bị giảm sút. Để vượt qua nhưng khó khăn to lớn do đế quốc Mỹ và tay sai gây ra, quân dân ta trên cả hai miền Nam – Bắc nghe theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 15 năm ký Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương (21-7-1954), đã (và phải) nêu cao hơn nữa chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ hy sinh, gian khổ, quyết kiên trì đẩy mạnh cuộc kháng chiến, quyết chiến quyết thắng, đánh cho quân Mỹ phải rút hết sạch, đánh cho ngụy quân và ngụy quyền phải sụp đổ hết, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà.

Đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, miền Nam tiếp tục giành thêm nhiều thắng lợi trong cuộc chiến đấu chống “Việt Nam hoá chiến tranh” trên tất cả các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao và đã thu được những thắng lợi to lớn, đáng phấn khởi, tự hào. Ngay năm 1969 đã được mở đầu bằng những cuộc phản công chiến lược của quân dân ta, liên tiếp đánh bại 3 cuộc hành quân lớn của Mỹ – ngụy. Bước sang năm 1970 đến năm 1971, quân dân ta trên đà thắng lợi đã phối hợp với quân đội giải phóng Lào và Cămpuchia đánh bại cuộc hành quân của 10 vạn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn.

Bài học lịch sử cao quý đó vẫn không ngừng phát huy giá trị và gần như là một quy luật, là cứ mỗi khi cuộc chiến đấu của nhân dân ta sắp bước vào một giai đoạn ác liệt, đạt tới đỉnh điểm thì bài học lịch sử đó vẫn giữ nguyên giá trị ban đầu của nó. Liên hệ đến tình hình hiện tại, rõ ràng là cách mạng Việt Nam đã có nhiều thuận lợi so với các thời kỳ trước. Từ sau đại thắng mùa Xuân (năm 1975), miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, lãnh thổ Tổ quốc đã giành lại trọn ven, đất nước bước đầu đi lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam bắt đầu thực hiện đổi mới, rồi bước vào thời kỳ hội nhập. Đó là các điều kiện tốt tạo đà cho Việt Nam phát triển. Tuy nhiên, không phải chỉ có các thuận lợi đưa tới các thành tựu và tiến bộ, mà vẫn có những khó khăn to lớn, những mặt yếu kém và hạn chế nặng nề. Các yếu kém và hạn chế nặng nề đó có nhiều loại, khách quan có, chủ quan có, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” vẫn chỉ đề cập tới loại mang tính chủ quan, là “chủ nghĩa cá nhân” mà Người đánh giá nguy hiểm nhất, là nguyên nhân của mọi sai lầm, sa ngã. Và theo Người để chữa trị tận gốc căn bệnh nguy hiểm đó, chỉ có những phương thuốc hiệu nghiệm – một thần dược – đó là nâng cao đạo đức cách mạng. Thực ra phương thuốc này đã được dùng trong các giai đoạn cách mạng trước. Trước đây, cứ mỗi khi cách mạng có một yêu cầu mới, đòi hỏi một nhận thức đúng đắn và đầy đủ về nhiệm vụ, về ứng xử và hành động thì đều có tổ chức học tập nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cán bộ và đảng viên. Các lớp chỉnh huấn cho cán bộ, chỉnh huấn cho bộ đội được tổ chức trước kia chính là để nhằm mục đích nâng cao nhận thức, đi tới hành động đúng đắn.

Liên hệ tới hiện nay, rõ ràng là yêu cầu của cách mạng đối với mỗi cán bộ, mỗi đảng viên là rất cao. Cách mạng đòi hỏi ở mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải có lòng trung thành tuyệt đối, phải toàn tâm toàn ý phục vụ cách mạng. Thế mà đối chiếu với thực tế xã hội, thực tế cơ quan, tình hình đội ngũ cán bộ và đảng viên vẫn còn nhiều hiện tượng rất đáng lo ngại. Đó là tệ nạn quan liêu, tham nhũng và tình trạng suy thoái về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm cho bộ máy Đảng và Nhà nước suy yếu, lòng tin của nhân dân đối với Đảng, đối với chế độ bị sói mòn, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bị thi hành sai lệch, dẫn tới chệch hướng xã hội chủ nghĩa là mảnh đất thuận lợi cho “diễn biến hoà bình”.

Tất cả các hiện tượng trên là nguy cơ lớn đối với sự nghiệp cách mạng. Phân tích mổ sẻ các tệ nạn trên, đi tới tận cùng thì vẫn là “chủ nghĩa cá nhân” được trá hình dưới muôn hình vạn trạng. Cần phải có một tinh thần sắc bén cách mạng, một ý chí cảnh giác thường trực và cao độ – các tính năng này chỉ có khi được đặt trên nền tảng một chủ nghĩa yêu nước chân chính, mới có thể phanh phui, vạch trần.

Nâng cao đạo đức cách mạng, đó là mục tiêu phấn đấu và lý tưởng hướng tới của người cán bộ, người đảng viên. Có sự bồi dưỡng tự nguyện đạo đức cách mạng với sự hỗ trợ của tổ chức, của đoàn thể thì người cán bộ, người đảng viên mới chiến thắng được “chủ nghĩa cá nhân” nguy hại, để có thể vững tiến trên con đường cách mạng gập ghềnh quanh co, lắm thác nhiều ghềnh, nhưng cũng đầy hoa thơm quả ngọt.

Đó là những lời dạy dỗ ân cần và tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên bước đường đi lên của cách mạng.

GS. Đinh Xuân Lâm
Trường ĐH KH XH & NV

bqllang.gov.vn

Nghĩ về nét độc đáo trong Tư tưởng Hồ Chí Minh

Đến nay ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu về Tư tưởng Hồ Chí Minh dưới nhiều góc độ khác nhau; nhưng về cơ bản các nhà nghiên cứu đã thống nhất chung về nền tảng của Tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình hình thành hệ tư tưởng đó; đồng thời phân chia hệ tư tưởng ra làm 3 bộ phận lớn: Tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức Hồ Chí Minh và phương pháp phong cách Hồ Chí Minh.

Trong khuôn khổ phạm vi bài viềt này xin nói lên cảm nghĩ về một trong 3 bộ phận nói trên của hệ Tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là đạo đức Hồ Chí Minh. Thiết nghĩ đây là nét độc đáo nhất trong hệ tư tưởng của Người. Bởi lẽ bộ phận đạo đức trong hệ tư tưởng nói trên được thế hiện là đặc trưng kết hợp giữa tinh hoa dân tộc với tinh hoa thời đại, trong đó bao trùm là tính tư tưởng nhân văn được diễn đạt một cách khái quát: độc lập và thống nhất cho Tổ quốc, tự do và dân chủ cho nhân dân, công bằng và hạnh phúc cho mọi người; hòa bình và hữu nghị cho các dân tộc, sự phát triển các quan hệ văn hóa và nhân dân cho thời đại.

Đạo đức Hồ Chí Minh được các nhà nghiên cứu khẳng định là tấm gương đạo đức lớn, là sức mạnh chính trị, tinh thần to lớn cho toàn Đảng, toàn dân noi theo. Đạo đức Hồ Chí Minh bao gỗm 2 bộ phận là tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức.

Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh đã đóng góp làm phong phú thêm tư tưởng đạo đức cách mạng của đạo đức học Mác-Lênin, được biểu hiện vận dụng nhuần nhuyễn giữa tính nhân văn của các dân tộc Việt Nam với đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân.

Tấm gương đạo đức của Nguời là đỉnh cao đặc trưng con người mới. Đó là: Suốt đời hy sinh cho dân tộc không một chút riêng tư, hết lòng yêu thương nhân dân, lấy dân làm gốc; chí công vô tư, cần kiệm liêm chính; giản dị, khiêm tốn; suỗt đời học tập rèn luyện vươn lên. Từ đó Người đã hết lòng vì sự nghiệp giải phóng con người bao gổm: đồng bào bị đau khổ, nhân loại bị áp bức không phân biệt màu da, chủng tộc… yêu con người, tin vào sức mạnh con người và đem lòng chí công vô tư để đối xử với con người.

Đạo đức Hồ Chí Minh còn được thể hiện rõ nét và độc đáo trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc qua 2 thời kỳ, Người đã kế thừa và nâng cao truyền thóng đạo đức của dân tộc Việt Nam trong đấu tranh với kẻ thù: “Lấy chí nhân thay cường bạo, lấy đại nghĩa thắng hung tàn. Người không những thế hiện lòng nhân đạo đối với kẻ thù, cảm thông đối với những ai lầm đường lạc lối và với cả những người lính viễn chinh, công cụ của giai cấp bóc lột cũng là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Người vẫn mời Vĩnh Thụy (Bảo Đại) và giám mục Lê Hữu Từ làm cồ vấn cho Chính phủ.

Khi lập ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người đa chủ trương thực hiện chính sách thêm bạn bớt thù; đã cử các ông Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch Chính phủ, NguyễnTườngTam, làm Bộ trưởng Ngoại giao, Vũ Hồng Khanh làm Phó Chủ tịch Quân ủy hội, cùng nhiều nhân vật khác của Quốc dân Đảng tham gia vào Ban Thường trực Quốc hội. Điều đó nói lên đức khoan hồng, đại độ và bản lĩnh của Người. Ngày 31-5-1946, trong thư gởi đổng bào Nam Bộ, Người viết: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay có ngón ngắn, ngón dài. Nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay, trong mấy triệu người cũng có người thế này, người thế khác, nhưng cả thảy đều là dòng dõi tổ tiên ta.

Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ; có thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang. Trong công cuộc giải phóng miền Nam, Đảng và quân đội ta thực hiện tư tưởng của Người: Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Tuy nhiên, phải đánh như thế nào đề miền Nam ít tổn thất về sinh mạng và của cải nhân dân. Thể hiện tính nhân đạo của Người, lúc sinh thời là đánh thế nào làm tan rã về tỗ chức của quân ngụy, đánh sụp đổ về tinh thần và ý chí, đồng thời mở con đường sống cho quân ngụy còn có ngày cải tà qui chính quay về với dân tộc.

Ngày nay, đất nước đang tiếp tục sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc phát huy nâng cao Tư tưởng Hồ Chí Minh là rất to lớn. Điều đó sẽ giúp cho việc đổi mới chỉnh đốn Đảng trong sạch vững mạnh; đồng thời đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân và kiều bào ở nước ngoài, cũng như mở ra chính sách ngoại giao làm bầu bạn các nước trên thế giới; nhằm huy động sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

(Thành đoàn TP HCM)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh

“Tư tưởng Hồ Chí Minh” không khép kín, tự đủ, không nhất thành bất biến mà luôn luôn phát triển với dân tộc và thế giới.

Nói về thế kỷ XX vừa lùi vào quá khứ, có người đã khái quát bằng một hình ảnh thật độc đáo có ý nghĩa khơi gợi rất lớn: Nếu lịch sử hơn 4 triệu năm của loài người thu lại trong 1 năm thì thế kỷ XX chỉ là 13 phút, từ 23h47’ đến 24h của ngày 31/12 . Trong 13 phút ấy, đặc biệt trong 5 phút cuối cùng, loài người đã hiểu biết nhiều hơn toàn bộ hệ thống kiến thức tích luỹ trước đó, tức là từ khi trên trái đất bắt đầu có con người! Bình minh của thiên niên kỷ mới với những năm đầu của thế kỷ XXI đã cho ta những cảm nhận thật sống động, những biến động dữ dội khó mà tiên liệu được! Một sự dồn nén như vậy tất sẽ đưa đến những đột biển lớn lao trong lịch sử tư tường của loài người, “lượng” sẽ biển thành “chất”. Đúng là, “chúng ta đang làm biến đổi môi trường của ta đến tận gốc rễ đến mức rồi ta phải tự biến đổi chính mình để tồn tại được trong môi trường đó” (Nobert Wiener)

Chính những diễn biển của cuộc sống ở buổi bình minh của thiên niên kỷ đang khẳng định một sự thật: Chuẩn mực chính là sự thay đổi!

Với Hồ Chí Minh, chúng ta có tấm gương tuyệt vời vế sự nhất quán từ trước đến sau, từ lúc khởi đầu cuộc tìm đường cứu nước, với bao sức ép từ mọi phía cho đến khi Đảng ra đời qua bao thăng trầm, thử thách khốc liệt để có cách mạng Tháng Tăm 1945, ra đời nước cộng hoà non trẻ giữa vòng vây trùng điệp của kẻ thù, tiến hành hai cuộc kháng chiến với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đó là sự dân quyền về mục tiêu độc lập cho dân tạc, tự do cho nhân.

Với mục tiêu đó, Hồ Chí Minh đã đấu tranh cho sự hợp nhất và ra đời của Đảng năm 1930, thậm chí có lúc vì mực tiêu đó mà dám có quyết định táo bạo cho dù đau đớn là tuyên bố Đảng tự giải tán. Thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật chính vào lúc giành được chính quyền vào năm 1945. Rồi cũng vì mục tiêu đó mà sáng suốt và kiên quyết đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam vào năm 1951.

Tên tuổi và sự nghiệp của Hồ Chí Minh đã thực sự là ngọn cờ trong khối óc và trái tim cửa người Việt Nam của dân tộc Việt Nam. Giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh để vẫy gọi và quy tụ mọi tấm lòng Việt Nam vốn nặng lòng vì quê hương, đất nước. Những người đã trải qua sự thử thách trong gần nửa thế kỷ chiến đấu và chiến thắng. Những người với những hoàn cảnh và điếu kiện khác nhau đã gửi gắm tình yêu nước thương nòi của mình trong nhiều hành động và nghĩa cử không ai giống ai. Làm cho mọi giọt máu của mỗi người Việt Nam cùng chảy về trái tim của dân tộc để rồi toả đi khắp bốn phương nuôi dưỡng hành động vì nghĩa lớn đất nước. Làm được điều đó cũng là cách tao nên được sự đồng thuận xã hội sâu sắc và rộng lớn, có sức vẫy gọi và hội được khối đại đoàn kết toàn dân tộc hường về mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng văn minh.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh” không khép kín, tự đủ, không nhất thành bất biến mà luôn luôn phát triển với dân tộc và thế giới. Phải biết làm cho tư tường Hồ Chí Minh sống trong cuộc sống của mọi người Việt Nam, tiếp tục cho nghị lực và tâm hồn của mỗi con người đang xây dựng cuộc sống của mình, gia đình mình và góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước. Có thể làm được điều đó vì tư tưởng Hồ Chí Minh gần gũi với mọi tấm lòng Việt Nam, gần gũi như khí trời, như cơm ăn nước uống trong mạch sống Việt Nam từ túp lều tranh cho đến ngôi biệt thự.

Tư tưởng Hồ Chí Minh gần gũi với người nông dân còn bao gian khó, đổ mồ hôi, sôi nước mắtt trên cánh đồng chưa có mấy trợ lực của khoa học và công nghệ, cũng như với bà con nghèo đô thị nơi xóm thợ nghèo khổ của những công nhân làm việc tại các khu chế xuất, các xí nghiệp liên doanh… với bao nỗi lo toan trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn. Hồ Chí Minh đến được với họ vì bình sinh Người chỉ có một “ham muốn, ham muốn tột bậc là làm cho cuộc sống của họ được no ấm, con em của họ được học hành. Những người lao động lam lũ ấy hiểu Hồ Chí Minh vì tư tưởng của người lãnh tự nhân dân, đã quy tụ được những khát vọng, những mong mỏi hàng ngày vốn bình dị và nghiệt ngã như chính cuộc sống của họ vậy thôi.

Và, với những nhà doanh nghiệp đang có vai trò lớn trong xây dựng nến kinh tế thị trường lành manh, dấn bước trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế, Hồ Chí Minh không xa lạ với họ. Từ những ngây đầu của chính quyến cách mạng Hồ Chí Minh đã nhận rõ vi trí của các nhà công thương trong khối đại đoàn kết dân tộc để làm cho đất nước phú cường. “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam mới được có trong căn phòng của một nhà tư sản lớn giàu lòng yêu nước.

Hơn ai hết, những người trí thức Việt Nam hiểu rõ Hồ Chí Minh, nhận ra tầm vóc lãnh tụ của dân tộc ở trí tuệ một nhà văn hoá lớn cùng trái tim ấp ủ những khát vọng nhân văn của một con người khao khát tự do: “Trên đời ngàn vạn điều cay đắng/ Cay đắng chi bằng mất tự do”. Hồ Chí Minh đã biết cách trả về lại cho người trí thức Việt Nam ngọn nguồn yêu nước truyền thống vốn nằm sâu trong tâm thức của họ, khơi dậy năng lực cống hiến của tiềm lực trí tuệ trong họ. Với Hồ Chí Minh, người trí thức Việt Nam hiểu được chỗ đứng của họ trong lòng dân tộc.

Thời gian đủ để kiểm nghiệm độ chính xác và sự tường minh của một tư tưởng, trải qua những biến động dồn dập cả trong nước và trên thế giới vẫn chứng minh được sức bền, độ “chín” của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là sự kết tinh trí tuệ và khí phách của một dân tộc, là sự tiếp nhận và hội tụ những tinh hoa của tư tưởng mà loài người đã giữ lại qua quá trình tiếp biến, thanh lọc và kiểm nghiệm. Vì thế nó đủ tầm cao của sự khái quát của lý luận và đường hướng phát triển, vừa gần gũi, đi thẳng vào lòng người Việt Nam vì nó diễn đạt được chân lý của cuộc sống.

Chân lý thì luôn luôn đơn giản, song hiểu được chân lý, đến được với chân lý thì thường lại cực kỳ gian chuân.

Cuộc sống đang sải những bước đi táo bạo và quyết đoán trong thời đại của những biến động dồn dập. Tầm mắt không ít người dã được mở rộng hơn nhờ vào “sự xé toang một tấm màng bưng bít, sự hiện ra và sáng lên của sự thật, sự tan vỡ một số huyền thoại, sự phá sản nhiều giáo điều, sự bộc lộ những sai lầm trầm kha, sự nhận thức mới, không phải về tưởng mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tế đời sống, sự khơi dậy những niềm hy vọng mới, sự bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn” (trích từ bài viết thế kỷ XX của Việt Phương – thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ).

Để bắt đầu một quá trình thanh lọc và tái tạo đầy hứa hẹn ấy, mở rộng tầm mắt là điều kiện tiên quyết. Đó cũng là đòi hỏi trước tiên đề có thể chủ động đón nhận sự thách thức mới trong qúa trình hội nhập quốc tế. Tính chất gay gắt và chưa có tiền lệ của những thách thức ấy đang đòi hỏi một bản lĩnh mới của những người đang gánh trên vai mình trách nhiệm nặng nề của lịch sử. Bản lĩnh ấy, xét đến cùng lại cũng được quyết định quyết định bởi tầm nhìn mới, bởi “đôi mắt mới nhìn vào thế giới”.

Không phải là không có lý khi người ta cho rằng: thế giới đã thay đổi và kiểu tư duy tuyến tính không con thích hợp với một thế giới phi tuyến. Không có một bản đồ vạch sẵn cho con đường phía trước. Những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống không còn đủ cho hành trình của dân tộc đi về phía trước. Vì thế, sáng tạo và linh hoạt trong tư duy cũng như trong hành động phải là phẩm chất hàng đầu của con người Việt Nam đang sống trong thế kỷ XXI. Để có được phẩm chất đó, đỏi hỏi phải có “sự nhận thức mới, không phải về lý tưởng mà về lý luận cách mạng, thực tiễn hoạt động và thực tế đời sống”. Để làm được điều đó, phải biết khai thác cái lợi thế vô song của chúng ta, đó là uy tín của tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hoá mà thế giới từng biết và đã tỏ lòng ngưỡng mộ.

Theo Báo Lao Động

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác phụ nữ trong xây dựng chủ nghĩa xã hội

Chào mừng Ngày Phụ nữ Việt Nam 20 – 10

oOo

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu nữ trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III

Phụ nữ chiếm một nửa dân số trên thế giới. Lịch sử đã chứng minh phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trước kia, phụ nữ ở nhiều quốc gia chủ yếu làm công việc nội trợ. Ngày nay, phụ nữ đã vươn lên về mọi mặt, đóng góp to lớn trên mọi lĩnh vực khoa học và xã hội.

Ở nước ta hiện nay, đội ngũ cán bộ nữ được tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của sự nghiệp xây dựng đất nước. Phong trào phụ nữ đã có bước phát triển, các tầng lớp phụ nữ tỏ rõ có năng lực, phẩm chất, nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, phát huy tiềm năng, sức sáng tạo trong học tập, lao động sản xuất và công tác, đạt những thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. Đội ngũ cán bộ nữ đã có bước trưởng thành rõ rệt. Số lượng và chất lượng cán bộ nữ phát triển không ngừng. Trong các cấp uỷ đảng và ở các vị trí lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở đều có cán bộ nữ tham gia.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới vị trí, vai trò của người phụ nữ, đặc biệt là trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), coi chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ nữ là một nhiệm vụ quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến một nửa số dân, đến từng gia đình trong cộng đồng xã hội.

Chính vì thế, những tư tưởng của Người về công tác phụ nữ trong xây dựng CNXH cần được quán triệt một cách sâu sắc và toàn diện, nhằm giúp cho mọi người có nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của phụ nữ. Qua đó, các cấp uỷ đảng đề ra nhiều biện pháp cụ thể hơn, tạo điều kiện cho phụ nữ phát huy hết tiềm năng của mình. Đồng thời, đối với phụ nữ Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước, đây là một dịp tốt nhằm ôn lại và thực hiện những di huấn thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần cùng nhân dân cả nước hoàn thành các nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra.

Mấy nét chính trong tư tưởng của Người về công tác phụ nữ

Thấm nhuần truyền thống văn hoá dân tộc đồng thời tiếp thu sâu sắc Chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh rất hiểu và đặc biệt quan tâm đến vai trò, vị thế của người phụ nữ trong phong trào cách mạng. Người không chỉ nêu lên tình cảnh khổ nhục của người phụ nữ dưới chế độ thực dân phong kiến mà còn chỉ ra khả năng cách mạng của họ.

Trong bộ “Hồ Chí Minh toàn tập” (12 tập), trong tổng số 1.941 bài nói và viết, đã có nhiều bài Người nhắc đến phụ nữ. Trong bài Phụ nữ Phương Đông, Người viết: “Phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ tham gia bảo vệ đất nước chống sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Phụ nữ Ấn Độ vùng lên chống sự đô hộ của Anh. Phụ nữ Trung Quốc tham gia cuộc cách mạng năm 1912. Phụ nữ Triều Tiên đã và đang đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc. Phụ nữ Nhật Bản đã buộc Chính phủ phải huỷ bỏ đạo luật cấm phụ nữ tham gia đời sống chính trị và v.v.

Trong đời sống kinh tế những “bông hồng” của phương Đông bắt đầu tỏ cho chủ nghĩa tư bản thấy ở họ có những chiếc gai nhọn. Những cuộc bãi công của nữ công nhân ở các nhà máy và xưởng dệt lụa không còn là hiện tượng hiếm nữa”.

Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người đã chỉ ra rằng cách mệnh Pháp dạy cho chúng ta, đàn bà và trẻ con cũng giúp làm việc cách mệnh được nhiều.

Trong tác phẩm này, Người cũng dành một phần nói về “Phụ nữ quốc tế”. Trong đó, Người nói: “Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà, con gái tham gia. Cách mệnh Pháp có những người như cô học trò Sáclốt Coócđây rút dao đâm chết người tể tướng hung bạo, như bà Luy Misen ra giúp tổ chức Pari Công xã. Khi Nga cách mệnh, đàn bà ra tình nguyện đi lính; sau tính lại lính cách mệnh đàn bà chết hết 1854 người. Nay cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế, cũng vì đàn bà, con gái hết sức giùm vào. Vậy nên muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà, con gái công nông các nước”. (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN,1995, t.2, tr.288).

Người nêu gương chiến đấu của bà Trưng Trắc và kêu gọi: như buổi ấy là buổi phong kiến mà đàn bà, con gái còn biết cách mệnh. Huống chi bây giờ hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế giới, chị em ta lại gặp cảnh nước suy vi, nỡ lòng nào ngồi yên được! Chị em ơi! Mau mau đoàn kết lại!

Người nói với đại biểu phụ nữ các nước rằng: lúc kháng chiến, chị em phụ nữ hăng hái tham gia. Từ ngày dân Việt Nam tranh được chính quyền, phụ nữ đều ra sức gánh vác công việc. Nào giúp đỡ chiến sĩ, tăng gia sản xuất. Nào chống nạn mù chữ, tham gia tuyển cử, Tuần lễ vàng, Đời sống mới, v.v, việc gì phụ nữ cũng hăng hái.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng vô cùng phong phú của mình, Người luôn quan tâm tới các phong trào của phụ nữ. Dù bận trăm công ngàn việc khác nhau, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc vẫn dành thì giờ tham dự nói chuyện tại các hội nghị và đại hội của tổ chức phụ nữ, ít nhất Người cũng gửi thư căn dặn với tấm lòng của một người Cha, người Bác thân yêu trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Nhiều chị em là cán bộ lãnh đạo, là anh hùng, chiến sĩ thi đua trong lao động và chiến đấu, là dũng sĩ từ tiền tuyến lớn miền Nam… đã được Người ân cần đón tiếp, tặng hoa và quà, được ăn cơm hoặc xem văn nghệ cùng Người.

Hồ Chí Minh luôn khẳng định: lực lượng phụ nữ là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng, một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm mọi thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Người tặng phụ nữ Việt Nam 8 chữ vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

Người nói: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Đó cũng là lời khẳng định vị trí, vai trò của phụ nữ là rất to lớn trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

Cần có kế hoạch thiết thực trong việc giúp đỡ phụ nữ

Trong nhiều bài viết, bài nói của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức phải tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia hoạt động.

Trong Thư gửi Hội nghị Nông dân cứu quốc toàn quốc lần thứ hai, Người kêu gọi Hội Nông dân cứu quốc phải thiết thực, tổ chức rộng rãi và chặt chẽ nhất là kết nạp thanh niên và phụ nữ nông thôn vào hội làm cho hội đông thêm, mạnh thêm và hăng hái thêm.

Khi nói chuyện tại Đại hội Giáo dục phổ thông toàn quốc, Người chỉ ra rằng sau này công tác giáo dục phần nhiều phải do phụ nữ đảm nhiệm. Muốn phụ nữ đảm nhiệm, thì phải bồi dưỡng cho phụ nữ.

Nói chuyện tại Đại hội Chiến sĩ thi đua ngành thương nghiệp lần thứ nhất, Người nhắc nhở: “đoàn thể phụ nữ, cơ quan phụ trách cần chú ý dìu dắt, giúp đỡ hơn nữa để nhiều chị em có thể thay cho nam giới trong công việc buôn bán”.Nói chuyện tại Hội nghị Các đại biểu phụ nữ tham gia công tác chính quyền toàn miền Bắc, Người căn dặn: từ nay, các cấp đảng, chính quyền địa phương, khi giao công tác cho phụ nữ, phải căn cứ vào trình độ của từng người và cần phải tích cực giúp đỡ phụ nữ nhiều hơn nữa.

Người quan tâm đến những phụ nữ có con nhỏ và để tạo điều kiện cho họ lao động sản xuất, Người đã chỉ ra: muốn cho người mẹ sản xuất tốt thì cần tổ chức tốt những nơi gửi trẻ và những lớp mẫu giáo.

Người rất quan tâm đến phụ nữ các dân tộc thiểu số, Người nhắc nhở đảng uỷ các cấp ở miền núi cần phải ra sức phát triển đảng viên và đoàn viên phụ nữ, cần phải đào tạo và giúp đỡ cán bộ phụ nữ các dân tộc.

Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc thiêng liêng, Người căn dặn Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo.

Như vậy, trong nhiều bài nói, bài viết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm, nhắc nhở Đảng và Nhà nước cùng các tổ chức chính trị – xã hội phải tạo điều kiện để phụ nữ tham gia đóng góp sức nhằm xây dựng CNXH thành công ở nước ta.

Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm nhưng cũng có yêu cầu cao đối với phụ nữ. Người luôn khuyên bảo chị em phải tự cố gắng vươn lên để khẳng định mình chứ không phải chờ Đảng, Chính phủ đề ra các chủ trương, chính sách.

Người kêu gọi:

Chị em phụ nữ nông thôn THI ĐUA góp sức hoàn thành tốt cải cách ruộng đất và lập những tổ đổi công tốt.

Chị em công nhân và công chức THI ĐUA làm tròn nhiệm vụ của mình.

Chị em trí thức THI ĐUA góp phần vào việc phát triển văn hoá.

Nữ thanh niên tuỳ theo cương vị của mình, THI ĐUA học và hành, xung phong trong mọi công việc.

Người chỉ rõ cấp trên có cất nhắc cán bộ phụ nữ nhưng chưa mạnh dạn, tức là còn phần nào chưa coi trọng trí tuệ, tài năng của phụ nữ. Vậy phụ nữ phải làm sao cho người ta thấy phụ nữ giỏi, lúc đó cán bộ không cất nhắc, anh chị em công nhân sẽ cử mình lên.

Nói chuyện tại Hội nghị Cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình, Người nói: Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Quốc tế Phụ nữ, Người khen ngợi phụ nữ Việt Nam ta sẵn có truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần cù. Trong kháng chiến, phụ nữ ta từ Bắc đến Nam đều hăng hái tham gia đánh giặc cứu nước. Nhưng phụ nữ ta cần phải cố gắng nhiều để theo kịp chị em các nước bạn, góp phần nhiều hơn nữa trong việc xây dựng CNXH.

Tại Hội nghị Phụ nữ lao động tiên tiến và chiến sĩ thi đua toàn thành phố Hà Nội lần thứ hai, Người chỉ rõ: “Hiện nay, trong các ngành, số phụ nữ tham gia còn ít. Đảng và Chính phủ rất hoan nghênh, sẵn sàng cất nhắc và giao cho phụ nữ những chức trách quan trọng. Muốn vậy, bản thân phụ nữ phải:

Gắng học tập chính trị, học tập văn hoá, kỹ thuật.

Nâng cao tinh thần yêu nước và giác ngộ xã hội chủ nghĩa.

Hăng hái thi đua thực hiện “cần kiệm xây dựng Tổ quốc, cần kiệm xây dựng gia đình.

Đoàn kết chặt chẽ, ra sức tham gia sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà và giữ gìn hoà bình thế giới” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.89).

Nói chuyện tại Hội nghị Các đại biểu phụ nữ tham gia công tác chính quyền toàn miền Bắc, Người phê bình: “Phụ nữ ta còn một số nhược điểm như bỡ ngỡ, lúng túng, tự ti, thiếu tin tưởng vào khả năng của mình; mặt khác, phụ nữ cũng gặp nhiều khó khăn về gia đình, con cái. Muốn giải quyết khó khăn không nên ỷ lại vào Đảng, Chính phủ mà phải quyết tâm học tập, phát huy sáng kiến, tin tưởng ở khả năng mình, nâng cao tinh thần tập thể, đoàn kết giúp đỡ nhau để giải quyết mọi khó khăn của phụ nữ trong công tác chính quyền”.

Người căn dặn: tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng CNXH. Muốn làm trọn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ ta phải xoá bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại; phải có ý chí tự cường, tự lập; phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hoá, kỹ thuật.

Trong Hội nghị Cán bộ phụ nữ miền núi, Người căn dặn chị em phải cố gắng học tập. Học văn hoá, học chính trị, học nghề nghiệp. Nếu không học thì không tiến bộ. Có quyết tâm thì nhất định học được.

Người luôn khuyến khích chị em tự mình cố gắng vươn lên khẳng định mình. Điều đó thể hiện sự quan tâm, thương yêu và đầy tinh thần trách nhiệm của một vị lãnh tụ luôn theo sát, cổ vũ các phong trào của phụ nữ.

Đấu tranh cho quyền bình đẳng nam nữ

Theo Hồ Chí Minh, công tác phụ nữ trong xây dựng CNXH, một trong những nội dung quan trọng là phải đấu tranh giành quyền bình đẳng cho phụ nữ.

Người chỉ rõ: “Đảng và Chính phủ ta luôn luôn chú ý nâng cao địa vị của phụ nữ. Hiến pháp định rõ “nam nữ bình đẳng” và luật lấy vợ lấy chồng, v.v. đều nhằm mục đích ấy”.

Trong bài Phải thật sự tôn trọng quyền lợi của phụ nữ, Người viết: “Phụ nữ chiếm một nửa tổng số nhân dân. Để xây dựng CNXH thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ. Hiến pháp và pháp luật của nước ta đã quy định rõ điều đó”.

Người nhắc nhở là phải kính trọng phụ nữ. “Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau. Lênin dạy chúng ta: phụ nữ là một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả. Phụ nữ thì phải tự mình phấn đấu giữ gìn quyền bình đẳng với đàn ông. Đàn ông phải kính trọng phụ nữ”.

Những lời dạy đó của Người thể hiện sự quan tâm sâu sắc, đồng thời cũng tỏ rõ rằng Người luôn đấu tranh để cho phụ nữ được hưởng quyền bình đẳng với nam giới.

Gắn sự nghiệp giải phóng phụ nữ với sự nghiệp xây dựng CNXH

Trong Hội nghị Cán bộ thảo luận dự thảo Luật hôn nhân và gia đình, Bác nói: “Bây giờ toàn dân ta ai cũng muốn xây dựng CNXH. Muốn xây dựng CNXH phải làm gì? Nhất định phải tăng gia sản xuất cho thật nhiều. Muốn sản xuất nhiều thì phải có nhiều sức lao động. Muốn có nhiều sức lao động thì phải giải phóng sức lao động của phụ nữ.

Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người.Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng CNXH chỉ một nửa”. (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.523).

Trong xây dựng CNXH, phụ nữ phải được giải phóng khỏi những tàn dư của hủ tục, định kiến hẹp hòi của tư tưởng phong kiến; vươn lên đóng góp sức mình xây dựng CNXH.Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho phụ nữ. Người luôn đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ, yêu cầu Đảng, Chính phủ và các tổ chức đoàn thể tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia hoạt động, nghiêm khắc nhắc nhở chị em phải cố gắng tự vươn lên trong học tập và công tác. Thấm nhuần lời dạy của Người, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách cụ thể, thiết thực nhằm phát huy khả năng của phụ nữ trong công cuộc xây dựng đất nước.

Phụ nữ Việt Nam ta đã luôn làm theo lời dạy của Người, cố gắng học tập, công tác và đang dần khẳng định vị thế của mình trong xã hội. Trong 4 kỳ đại hội toàn quốc của Đảng gần đây đều có cán bộ nữ tham gia Bộ Chính trị hoặc Ban Bí thư. Nhiệm kỳ khoá X, số Uỷ viên Trung ương là nữ có 16/181 người, chiếm tỷ lệ 8,83%. Trong các cấp chính quyền, phụ nữ cũng đã có mặt ở tất cả các vị trí lãnh đạo, cương vị phó chủ tịch nước, phụ nữ vẫn duy trì trong cả hai khoá. Tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội tăng từ 18,5% ở khoá IX lên 26,2% ở khoá X và 27,3% ở khoá XI. Đặc biệt, phụ nữ giữ cương vị chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội tăng nhanh từ 22,2% ở khoá IX lên 33,3% ở khoá X và đến khoá XI có tỷ lệ khá cao 40%. Tỷ lệ đảng viên nữ tăng đều theo từng năm. Năm 1994 chỉ có 16,4% đảng viên nữ. Năm 1999 có 19,3%; nếu năm 2002 là 21,7% thì năm 2005 tỷ lệ này là 25%. Điều đó nói lên vai trò của phụ nữ ngày càng quan trọng.Người phụ nữ hiện đại trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá rất cần sự quan tâm của gia đình và xã hội. So với nam giới, phụ nữ đã bị chi phối nhiều thời gian và công sức vào công việc gia đình. Thực hiện bình đẳng giới đã tạo điều kiện khích lệ phụ nữ vươn lên trong mọi lĩnh vực. Phụ nữ ngày nay về cơ bản không còn bị ràng buộc bởi những định kiến, những quy ước lạc hậu, cổ hủ ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc. Tuy nhiên, ở nông thôn, phụ nữ vẫn chịu nhiều thiệt thòi bởi đời sống còn khó khăn, nhận thức của gia đình cũng như thôn xóm còn hạn chế về quyền bình đẳng nam nữ. Vì vậy, phát huy tính tích cực của tổ chức hội phụ nữ ở nông thôn để chị em có điều kiện giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm là điều vô cùng cần thiết.Tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia trên mọi lĩnh vực của xã hội, đó là trách nhiệm của toàn xã hội. Phụ nữ chiếm một nửa dân số, phụ nữ là người nuôi dạy trực tiếp các thế hệ tương lai của đất nước. Nếu như người phụ nữ được học hành, được nâng cao kiến thức về mọi mặt sẽ tác động tích cực tới chất lượng thế hệ tương lai. Phụ nữ có thể hoàn thành nhiệm vụ tốt hay không, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào người chồng trong mỗi gia đình. Chỉ khi nào có sự cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ của gia đình thì người phụ nữ mới có điều kiện hoàn thành mọi công việc với hiệu quả cao nhất.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, ngọn cờ chỉ đường chiến thắng của quân và dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước

Ðại thắng mùa Xuân 1975 để lại những bài học sâu sắc về sức mạnh toàn dân đánh giặc, sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, được xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng lùi xa với thời gian, ý nghĩa tư tưởng đó của Người càng lung linh tỏa sáng.

Tư tưởng chiến tranh nhân dân là một bộ phận trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại. Ðó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân…

Tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn cờ lãnh đạo, ngọn cờ tập hợp, ngọn cờ động viên, cổ vũ nhân dân ta, quân đội ta làm nên kỳ tích vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám, những chiến công lừng lẫy suốt 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân được phát huy lên những đỉnh cao mới. Tư tưởng ấy xuất phát từ tính chất cuộc chiến tranh chống xâm lược, chiến tranh yêu nước, chính nghĩa, cách mạng của thời đại. Ðó là chiến tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, tự do, dân chủ, hạnh phúc cho nhân dân, mở đường đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Ðảng CS Việt Nam.

Mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, Bác Hồ viết: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Bước vào cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ðảng ta đề ra hai chiến lược cách mạng là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc và giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. Ở thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, xây dựng quyết tâm giành độc lập cho dân tộc, giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc là đặc điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân. Trước tội ác “trời không dung, đất không tha” của giặc Mỹ – tay sai, Bác Hồ khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Lúc này chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước”, “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi”, “Vì độc lập, Vì tự do,/ Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Với quyết tâm ấy, dưới ngọn cờ của Ðảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta đã xốc tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 lịch sử.

Từ khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta hiểu sâu hơn tư tưởng của Người về chiến tranh nhân dân. Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò to lớn của quần chúng trong chiến tranh nhân dân Việt Nam hiện đại. Trước thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam đã từng tiến hành nhiều cuộc chiến tranh với sự tham gia của nhân dân ở mức độ khác nhau, đã đánh bại nhiều thế lực xâm lược hung bạo, trong đó có cả kẻ thù sừng sỏ Mông – Nguyên. Nhưng sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, dân tộc ta lại phải lần lượt đương đầu với những kẻ thù hoàn toàn mới, khác hẳn với các kẻ thù thời trước. Ðiều kiện lịch sử mới phải có lý luận mới về chiến tranh nhân dân hiện đại, trong đó việc xác định đặc điểm thời đại, tính chất chiến tranh, nguồn lực cơ bản để tiến hành kháng chiến được đặt lên hàng đầu. Bởi vậy, ngay trong thời kỳ chuẩn bị cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong phạm vi cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ sự khác nhau giữa chiến tranh hiện đại và chiến tranh trước đây, qua đó xác định vai trò và nguồn lực chủ yếu trong chiến tranh hiện đại.

Người viết “Trước kia, chỉ có quân đội đánh nhau ở tiền tuyến và trên mặt đất hay trên mặt nước, nên người ta gọi là bình diện chiến tranh. Ngày nay, đánh nhau ở cả trên không và cả ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, nên người ta gọi là lập thể chiến tranh. Trước kia, chỉ đánh nhau về mặt quân sự, ngày nay đánh nhau về đủ mọi mặt: quân sự, kinh tế, chính trị, tư tưởng nên người ta gọi là toàn diện chiến tranh. Chiến tranh ngày nay phức tạp và hết sức khó khăn. Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể thắng lợi được”(1).

Bước sang thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Người phát triển quan điểm trên và nhấn mạnh: Phải nâng cao kiến thức quân sự cho toàn dân, “Giáo dục nhân dân từ các cháu đến ông già, bà cả về chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân”, tạo điều kiện cho nhân dân phát huy cao độ tinh thần yêu nước và mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu. Người còn căn dặn: Nói giành thắng lợi quân sự, nhưng phải chú ý đến giữ sức dân, người của kiệt thì quân nhiều không đánh được.

Quán triệt tư tưởng của Người, trong suốt thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Ðảng và Nhà nước ta hết sức chăm lo cho nhân dân về đủ mọi mặt. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nhân dân cả nước trở thành một khối thống nhất, cao trào cách mạng dâng cao trong mọi giới, mọi ngành. Ðó là phong trào hành động cách mạng: “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền nam ruột thịt”, “Chắc tay súng, vững tay cày”, “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”, “Làm nghìn việc tốt”. Nhờ vậy, sức mạnh chiến đấu của toàn dân Việt Nam trên cả hai miền nam – bắc được nhân lên gấp bội, phát triển mạnh mẽ. Sự đóng góp sức của, sức người “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” của nhân dân miền bắc là tấm lòng, là quyết tâm của cả nước đối với sự nghiệp giải phóng miền nam.

Trong giai đoạn cuối chiến tranh “toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt” được phát huy cao độ, kết hợp với sức mạnh của thời đại, thực lực cách mạng ngày càng lớn mạnh. Nhờ có thực lực cách mạng mạnh, ta đã tạo ra thời cơ và khi thời cơ đến, ta nhanh chóng mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Thứ hai, Người nhấn mạnh phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, giữ vững chủ động trong chiến tranh: Ðộc lập, tự chủ và giữ vững chủ động là hai quan điểm nổi tiếng mà Người đã nêu ra. Từ quan điểm đó, Người xác định sức mạnh của công cuộc giải phóng: “Công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng nỗ lực của bản thân anh em.”

Quán triệt sâu sắc tư tưởng đó của Người, trong các chặng đường cách mạng, Ðảng ta luôn luôn chủ động, độc lập, tự chủ trong việc hoạch định đường lối cách mạng cũng như trong việc tổ chức lực lượng và chỉ đạo thực tiễn sắc bén để giải quyết các vấn đề trọng đại của đất nước.

Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, phát biểu tại Hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ sáu (7-1954), Người khẳng định: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”(2). Năm 1956, viết bài đăng trên báo Sự Thật (Liên Xô) Người nêu rõ là trong tình hình quốc tế hiện nay, những đặc điểm dân tộc và những điều kiện riêng biệt ở từng nước ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong việc vạch ra chính sách của mỗi Ðảng cộng sản. Người giải thích với bạn bè quốc tế: “Dân tộc Việt Nam phải vạch ra những phương pháp và biện pháp riêng của mình để chống âm mưu của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai hòng vĩnh viễn chia cắt đất nước cũng như để quá độ dần dần lên chủ nghĩa xã hội là điều thật rõ ràng…”(3).

Cân nhắc tất cả những nhân tố liên quan, theo định hướng lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định là con đường giải phóng miền nam chỉ là con đường cách mạng, đầu năm 1959, Hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ 15 đã xác định con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Dưới ánh sáng Nghị quyết của Ðảng, phong trào “đồng khởi” của nhân dân đã nổ ra, phát triển thành chiến tranh cách mạng; vừa đấu tranh chính trị vừa đấu tranh quân sự, làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

Hòng cứu vãn tình thế thất bại, đầu năm 1965, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào trực tiếp tham chiến ở miền nam, đồng thời dùng không quân, hải quân mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền bắc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đứng trước thử thách nghiêm trọng chưa từng thấy. Nhiều nước lo ngại Việt Nam khó có thể đương đầu nổi với Mỹ. Song, với tư duy biện chứng, khoa học, Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá đúng sức mạnh của Mỹ, đồng thời cũng nhận rõ những hạn chế và chỗ yếu của đối phương, nên đã nhận định: Ðế quốc Mỹ đưa vào miền nam hàng chục vạn quân viễn chinh, nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn. Từ nhận định đó, Ðảng ta chủ trương động viên lực lượng cả nước kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào.

Sau thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1972 và chiến công vang dội của quân và dân ta đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng, giới cầm quyền Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris về Việt Nam, rút hết quân Mỹ về nước. Tuy nhiên, với bản chất cực kỳ tàn bạo và ngoan cố, đối phương đã phá hoại Hiệp định Paris một cách hệ thống. Trước tình hình đó, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, Hội nghị lần thứ 21 BCH T.Ư Ðảng (10-1973) khẳng định: “Bất kể trong tình hình nào ta cũng phải nắm vững thời cơ, nắm vững đường lối chiến lược tiến công”.

Với tư tưởng chỉ đạo đó, từ cuối năm 1973, Quân khu 9 đã phản công địch lấn chiếm và đầu năm 1975, ta chủ động tiến công và giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, một tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng gần Sài Gòn. Thắng lợi đó giúp cho ta có thêm căn cứ thực tiễn quyết định mở chiến dịch Tây Nguyên. Tây Nguyên thắng lợi tạo thời cơ thuận lợi cho quân dân ta giải phóng Huế – Ðà Nẵng và hội tụ lực lượng giải phóng Sài Gòn.

Sau này, trên cơ sở phân tích những tài liệu thu thập được, giới nghiên cứu chiến lược Mỹ đã phải chua chát thừa nhận: “Ưu thế hơn hẳn của chiến tranh cách mạng Việt Nam là nằm trong thế chiến lược chủ động. Mỹ như phải nhảy theo điệu nhạc chiến lược của Bắc Việt Nam. Chiến lược chủ động của Bắc Việt có một giá trị đặc biệt. Chúng ta thừa nhận chiến lược chủ động của Việt cộng”(4).

Chiến lược chủ động của chiến tranh cách mạng Việt Nam “có giá trị đặc biệt” như đối phương thừa nhận, có cơ sở tư tưởng là quan điểm về tính chủ động “nắm vững chủ động” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ ba, Người khẳng định rằng chiến tranh nhân dân phải có lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, có hậu phương vững mạnh. Căn cứ vào mục tiêu và động lực của cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam hiện đại, tư tưởng chiến tranh nhân dân của Người đã đề cập một cách hệ thống các quan điểm về đoàn kết toàn dân, động viên sức mạnh toàn dân đánh giặc; vũ trang toàn dân đi đôi với việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân; phát huy ưu thế của chế độ mới và mọi nguồn lực của quốc gia, tranh thủ các nguồn lực quốc tế… Với hệ thống các quan điểm đó, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chống thực dân Pháp  phát triển mạnh.

Ðến thời kỳ chống Mỹ, do đặc điểm đất nước ta tạm thời chia làm hai miền, do đối tượng của cách mạng khác trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển thêm các quan điểm ở những khâu chủ yếu như: phát huy cao độ tinh thần quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược; xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng du kích và các hình thức đấu tranh của các lực lượng đó ở miền nam; sự phối hợp chiến đấu giữa các lực lượng chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền bắc, Người quan tâm nhiều đến hai khâu then chốt. Một là, phải xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện. Hai là, phải xây dựng hậu phương thật vững chắc.

Ở hai khâu then chốt này, Người lưu tâm việc xây dựng và phát triển các quân chủng, binh chủng kỹ thuật, nhất là không quân để “mở mặt trận trên không”, đến lực lượng cơ động và bộ đội tinh nhuệ, đến đội ngũ cán bộ cấp cao quân đội và cử những cán bộ có kinh nghiệm tác chiến tập trung vào chiến trường “cùng đồng bào miền nam đánh Mỹ cho kỳ thắng lợi”. Người nhiều lần dặn dò các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt ở chiến trường ra bắc họp là phải hết sức chăm lo xây dựng hậu phương tại chỗ ở miền nam. Người căn dặn các đồng chí hoạt động đối ngoại, nêu rõ là ta cần phát huy ưu thế chiến tranh chính nghĩa của ta, làm cho bạn tin vào cuộc chiến đấu của ta nhất định thắng lợi, để qua đó tranh thủ sự ủng hộ vật chất, tinh thần cao hơn trước. Người nhắc nhở các cấp ủy Ðảng phải quan tâm đến giao thông vận tải. Bởi vì, giao thông vận tải thắng lợi, tức là chiến tranh đã thắng lợi một phần rồi.

Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Người, Ðảng ta đã đưa cuộc chiến tranh nhân dân trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước phát triển nhảy vọt chưa từng thấy với nhiều nội dung và hình thức mới. Thêm vào đó, qua thực tiễn chiến đấu, quần chúng lại sáng tạo thêm nhiều  cách đánh hay, thắng gọn, làm cho cuộc chiến đấu của quân dân ta càng đa dạng về loại hình tác chiến, sâu đậm về tính nhân dân, phong phú về sự kết hợp giữa thô sơ với hiện đại. Quân Mỹ rơi vào thế trận đó, bị tiêu hao, bị tiêu diệt ngày càng nhiều, ý chí ngày càng suy sụp. Giới cầm quyền Mỹ, mặc dù nhiều cuồng vọng và mưu đồ, nhưng cuối cùng cũng nhận thấy Mỹ không thể thắng nổi đối phương, buộc phải rút quân về nước. Rơi vào thế trận chiến tranh nhân dân, quân ngụy bị đánh từ mọi phía, mọi nơi, tinh thần chiến đấu ngày càng giảm sút. Trong khi đó, ta càng đánh càng mạnh. Giai đoạn cuối chiến tranh, thế và lực của ta phát triển mạnh mẽ. Ðiều quan trọng là chất lượng chiến đấu của quân ta hơn hẳn quân địch. Các quân đoàn chủ lực cơ động chiến lược của ta đã đứng chân ở những địa bàn trọng yếu. Hệ thống đường giao thông vận tải, đường ống xăng dầu được nối thông suốt từ hậu phương đến tiền tuyến, đáp ứng nhu cầu chiến tranh hiện đại.

Xây dựng hậu phương theo tư tưởng Hồ Chí Minh, miền bắc đã phát huy sức mạnh to lớn của mình trong chiến tranh cách mạng. Vượt qua hai lần chiến tranh phá hoại khốc liệt của quân thù, miền bắc vẫn đứng vững và có bước phát triển mới. Trong chặng đường chống Mỹ, cứu nước, hợp tác xã nông nghiệp ở miền bắc giữ vững sản xuất và cung cấp hai triệu lao động cho lực lượng vũ trang và phục vụ chiến đấu. Trước khi vào Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, theo kế hoạch Bộ Chính trị thông qua, hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn 56 vạn tấn vật chất. Bằng sự cố gắng cao độ, hậu phương miền bắc đã hoàn thành vượt chỉ tiêu đó.

Bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, các đơn vị bộ đội chủ lực đã được trang bị đầy đủ về mọi mặt. Các trang bị chủ yếu như: vũ khí, xe cộ, lương thực, thực phẩm… đều vượt mức yêu cầu. Ðược như thế là do miền bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng cả nước. Từ sức mạnh đó, quân dân ta đánh địch trên thế mạnh, áp đảo, kết thúc chiến tranh hợp với quy luật mạnh thắng, yếu thua.

Ðại thắng mùa Xuân 1975 để lại những bài học sâu sắc về nguồn sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân chống xâm lược. Ðó là sức mạnh toàn dân đánh giặc, sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân được xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng lùi xa với thời gian, ý nghĩa tư tưởng đó của Người càng lung linh tỏa sáng.

Dưới ánh sáng tư tưởng chiến tranh nhân dân Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã làm nên chiến thắng vĩ đại mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, từng bước xây dựng Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh như lời dặn của Bác Hồ kính yêu.

———————-

1. Q.Th: “Hình thức chiến tranh ngày nay”. Báo Cứu quốc ngày 20-09-1946.

2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Sdd, 1996, trang 317.

3. Nghiên cứu Văn kiện Ðảng về chống Mỹ, cứu nước, Nxb Sự Thật, H, 1986, trang 325.

4. Davidson, Những bí mật của chiến tranh Việt Nam, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng 12-1994, trang 46.

LÊ VĂN THÁI
(Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)

nhandan.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh: Sinh khí của một học thuyết

Tư tưởng Hồ Chí Minh, sắc lại, vì con người, do con người. Suy thoái đạo đức là khởi điểm cho mọi suy thoái. Tư tưởng Hồ Chí Minh từng chấp nhận cái mềm dẻo cần thiết cho đại cục nhưng chính trong những hy sinh thông minh ấy, phẩm chất con người, xã hội phải được củng cố hơn bao giờ hết, nếu không, những bước lùi sẽ là quá trình tuột dốc “không phanh” chẳng hé ra tiền đề cho những bước tiến…

…………………………………………..

1. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, theo tôi nghĩ, là nghiên cứu đồng thời ba bộ phận hợp thành một tổng thể:

– Trước tác.

– Cuộc đời.

– Diễn biến của đất nước, xã hội và con người Việt Nam từ khi tư tưởng Hồ Chí Minh tác động tại đây cho đến hôm nay.

Cả ba bộ phận hợp thành đều mang tầm quan trọng như nhau, bổ sung cho nhau, cả ba cộng lại mới đủ sức vẽ lên trung thực toàn bộ và hệ thống một tư tưởng lớn của Việt Nam và thời đại.

Trước tác là mặt biểu thị trực tiếp nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua các bài báo, phát biểu, sách, sáng tác văn học, lời kêu gọi… suốt 5 thập kỷ (1919 – 1969), chúng ta biết được quan điểm của Người trước các vấn đề đặt ra cho vận nước và một số vấn đề đặt ra cho loài người. Tuy nhiên, sẽ chỉ tiếp cận một phần tư tưởng Hồ Chí Minh nếu chúng ta chủ yếu nghiên cứu tư tưởng của Người qua trước tác, Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng gắn chặt tư duy với hành động thực tiễn.

Cuộc đời của Người từ buổi thanh niên đến khi vĩnh biệt chúng ta nối dài một chuỗi hoạt động cách mạng không ngơi nghỉ. Tư tưởng của Người hóa thân vào các ứng xử cả tầm chiến lược lẫn trong giao tiếp đời thường. Chính phạm vi hoạt động của Người, công tác mà Người đảm trách, mối quan hệ của Người với đủ đối tượng và nhất là chính với tư cách con người mà Người sống với chung quanh đã nói thậm chí nhiều hơn những gì Người lưu lại cho chúng ta trong Toàn tập.

Cái mà có người gọi là tác phong Hồ Chí Minh phản ánh một lối sống gần với tự nhiên, xuất phát từ sự chân thật trong cốt cách. Trước tác và cuộc đời của Hồ Chí Minh rất phong phú, song cũng chưa phản ánh trọn vẹn tư tưởng của Người. Không thể xem quá trình diễn biến của cách mạng, đất nước, xã hội và con người Việt Nam từ 1920, 1930, đặc biệt từ 1945 và nhất là hiện nay như ngoại biên của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Làm sao hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh nếu không hiểu cái gì là trung tâm dẫn đồng bào ta thực hiện toàn thắng cuộc cách mạng tháng Tám, hai cuộc kháng chiến và đang thực hiện thắng lợi bước đầu sự nghiệp Đổi mới. Sự đứng vững của Việt Nam trước cơn khủng hoảng cực kỳ gay gắt dẫn đến sự sụp đổ của nhiều nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Liên Xô, cơn thoái trào cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới và ngay những thành tựu kinh tế hiện nay của nước ta cũng không ra khỏi sự hướng dẫn của tư tưởng Hồ Chí Minh – có những thoát ly đấy và đã thoát ly tư tưởng Hồ Chí Minh thì không phải là thành tựu mà trái lại hoặc dự báo cho cái rất xấu khó tránh khỏi dù với toàn cục hay với từng cá nhân.

Như vậy, quỹ đạo của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Việt Nam hết sức rộng.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh được ấp ủ lâu dài trong cái nôi chủ nghĩa yêu nước, tẩm mình sâu sắc trong hồn dân tộc, là kết tinh của truyền thống nhiều nghìn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam. Trên cái nền kiên cố ấy, trên mảnh đất phì nhiêu ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh gạn lọc các hạt giống trí tuệ cổ kim phương Đông, phương Tây và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, sản phẩm khoa học hiện đại vào một đất nước cụ thể. Người ta không thể tìm thấy chủ nghĩa quốc gia cực đoan, thủ cựu, hẹp hòi, vị kỷ, cũng như người ta không thể tìm thấy chủ nghĩa quốc tế không tưởng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh – lúc còn là Nguyễn Ái Quốc – đã nói rõ chủ nghĩa Lênin cung cấp cho Người chủ yếu nhất là điều gì và tại đại hội Tours, một đại hội của những đảng viên xã hội và cộng sản, Người nhấn mạnh quan điểm của mình. Chủ nghĩa quốc tế vô sản đến với Người tức đến với nước Việt Nam thuộc địa, chậm tiến và Người thể hiện sự nghiệp quốc tế qua sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người – giải phóng tập thể dân tộc thoát khỏi ách nô lệ nước ngoài đồng thời giải phóng những “cùng đinh” thoát khỏi “giặc đói, giặc dốt”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng Mác-Lênin đã được tiêu hóa vào không gian và thời gian xác định, lấy cái cốt lõi giải phóng con người khỏi ách áp bức, tự do hóa tiềm năng con người bắt đầu từ một đối tượng cụ thể là đồng bào của Người. Để thực hiện nhiệm vụ đó, tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên nguyên lý giải phóng con người bị áp bức trong xã hội tư bản, trong các xứ thuộc địa nói chung để tìm ra phương thức giải phóng con người Việt Nam. Tất nhiên, trào lưu giải phóng vốn đa dạng, tư tưởng Hồ Chí Minh chọn khả năng tối ưu hơn cả.

Tư tưởng Hồ Chí Minh chấm dứt ở Việt Nam mặc cảm “nỗi buồn nhược tiểu” và trang bị cho những người dân Việt Nam bình thường niềm tự tin khả năng “đào núi lấp biển, có chí cũng làm nên”.

3. Tư tưởng Hồ Chí Minh tất nhiên là tư tưởng chính trị, định hướng chính trị song mang đặc thù dễ phân biệt với các tư tưởng đương thời khác ở phần lớn biểu hiện của tư tưởng dưới dạng văn hóa. Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh tác động vào xã hội như một sức mạnh văn hóa, sức mạnh hợp chất lý và tình, tổng quát và đơn lẻ, thuyết phục bằng cảm hóa. Đặc thù này bộc lộ rõ và trở thành xuyên suốt từ 1945, tức từ khi nước ta giành được độc lập, Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một thành tố quan trọng trong nền văn hóa dân tộc Việt Nam, là chuẩn mực bổ sung cho nền luân lý truyền thống. Cũng có thể xem tư tưởng Hồ Chí Minh đã hiện đại hóa nền luân lý lâu đời của Việt Nam. Cái đáng lưu ý là tư tưởng Hồ Chí Minh như giáo huấn xã hội chủ nghĩa mà không mâu thuẫn với giáo huấn dân tộc cổ truyền thậm chí dân gian. Gạch nối này tôn tạo văn hóa dân tộc, đồng thời truyền bá các tri thức hiện đại, các khái niệm đạo đức hiện đại.

Tự biểu hiện đến trình độ một nền văn hóa, tư tưởng Hồ Chí Minh thâm nhập vào xã hội, ảnh hưởng đến nếp nghĩ, nếp sống hàng chục triệu người, đến quan hệ cộng đồng và đến sự tu thân cá nhân. Đạo đức Hồ Chí Minh, phần kết tinh lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chúng ta có thể cắt nghĩa hiện tượng trên ở chỗ tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ chữ “Cứu” – cứu nước, cứu dân, cứu người – và ở chỗ một tư tưởng đạt mức xã hội hóa như thói quen cần phải giữ gìn, vun bồi của mọi người Việt Nam thuộc mọi giới, mọi lứa tuổi…

Theo tôi, về phương diện này, tư tưởng Hồ Chí Minh đã “đắc đạo”.

4. Tư tưởng Hồ Chí Minh coi rất trọng đoàn kết dân tộc trong các lĩnh vực đấu tranh. Việt Nam là nước nhỏ, luôn phải đối phó với nạn xâm lược nước ngoài, tồn tại trong điều kiện thiên nhiên có nơi rất khắc nghiệt. Cho nên, những “tình làng, nghĩa xóm”, “đồng bào”, “người chung một nước”, v.v… đã nối liền nhân dân ta suốt nhiều nghìn năm. Đó cũng là cái lẽ sinh tồn của dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh thừa kế gia tài đồ sộ, giàu có ấy, mở rộng biên độ khái niệm quần chúng đến tất cả những ai vẫn còn thừa nhận mình là con dân nước Việt Nam.

Sáng tạo này nắm được cái hồn của nhận thức đấu tranh giai cấp và nhờ đó đã hóa giải khôn ngoan những đối kháng về quyền lợi bộ phận trong những hoàn cảnh nhất định phục vụ tập trung cao nhất cho quyền lợi toàn cục, bởi vì mục tiêu của cách mạng đồng thời phải là mục tiêu của nhân dân lao động và, trong các trường hợp xác định, mục tiêu ấy thống nhất với đòi hỏi của dân tộc và tình thế. Chỉ có như vậy, hành động cho cái chung mới huy động được đông đảo người tham gia.

“Đại đoàn kết” của tư tưởng Hồ Chí Minh là một tư duy triết học, khác với một số nhà tư tưởng đương thời khi họ có quan điểm cực đoan về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, tách biệt hoặc đối lập một cách siêu hình các tầng lớp xã hội cơ bản với các tầng lớp xã hội khác, khiến quá trình cách mạng vừa chậm vừa khó khăn không đáng có. Tư tưởng Hồ Chí Minh cố tìm mẫu số chung của toàn dân tộc thay vì khoét sâu sự cách biệt, đặt tiến trình xoáy trôn ốc đi lên của lịch sử trên căn bản quy tụ thay vì loại trừ.

5. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiệm vụ lịch sử: Đưa Đảng Cộng sản trở nên chính đảng đại biểu của dân tộc mà không làm nhòa tính công nhân tiền phong. Chính ý thức thời đại cho phép tư tưởng Hồ Chí Minh thành đạt trong vấn đề mấu chốt này cả trên bình diện lý luận lẫn thực tiễn, cả trong quá trình giành độc lập dân tộc lẫn thời kỳ xây dựng xã hội mới.

Xử lý vấn đề mấu chốt này liên quan đến ba trọng điểm: một, Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân phải thể hiện cho được ý nghĩa tiền phong chính yếu là đi đầu một đội ngũ quần chúng đông đúc, gồm tuyệt đại đa số dân tộc, không biệt phái, không đứng trên mà đứng trong đội ngũ ấy; hai, chủ nghĩa quốc tế vô sản hòa nhập với dân tộc, cái phổ cập phải được đặc thù hóa, Đảng Cộng sản phải tự trở thành đảng của dân tộc; ba, khi đảng đã cầm quyền, sự thống nhất lên đến mức cao giữa giai cấp, nhân dân, dân tộc, quốc gia và đảng mà lợi ích bao trùm là lợi ích dân tộc – dân tộc không tự tôn, không tham vọng bá quyền, thông cảm và đoàn kết với mọi lực lượng tiến bộ, tán thành, ủng hộ cái đúng, chống cái sai bất kể từ đâu đến, khôn khéo (song tự trọng), tự xếp mình như mọi dân tộc khác trong cộng đồng thế giới.

6. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một khoa học, nó luôn tiếp nhận sự bồi bổ từ trí tuệ, thực tế phát triển của Việt Nam và thế giới. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh vào đầu thế kỷ XXI này tức nghiên cứu một tầng nấc cụ thể của tư tưởng ấy sau nhiều chục năm vận động. Cũng như nghiên cứu các học thuyết Phật, Lão, Khổng, Thiên Chúa, Mác… điều chúng ta quan tâm phát hiện là phương pháp tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù rằng trong tư tưởng Hồ Chí Minh không hiếm những giáo huấn đã dân gian hóa.

Giữa một thế giới biến động – và đảo lộn nữa – Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đôi phần khiêm tốn mà chúng ta vừa giành được trong những năm qua khẳng định rằng con đường chúng ta đi dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh là đúng. Tuy nhiên, nếu nhìn thực trạng Việt Nam hiện nay, chúng ta dễ dàng thấy sự tuân thủ tư tưởng Hồ Chí Minh chưa nghiêm, nếu không nói là lơi lỏng.

Trong thứ tự: tu thân, tề gia, trị quốc, chúng ta đã vấp hai cái đầu, do vậy, trị quốc rơi vào chỗ khó khăn – sẽ còn khó khăn hơn. Bên ngoài – những người Cộng sản, những người xã hội chủ nghĩa, những người tiến bộ và đương nhiên, luôn kẻ thù – theo dõi chúng ta với niềm tin, nỗi lo và sự đố kỵ. Tư tưởng Hồ Chí Minh giúp chúng ta vượt cơn thử thách một cách ngoạn mục, nhưng sự suy thoái đạo đức đe dọa chúng ta. Trong sự suy thoái ấy, óc độc tôn, độc quyền tất nhiên đẻ ra đẳng cấp “ăn trên ngồi trước”, hủy hoại thành quả cách mạng, nguy hiểm hơn mọi âm mưu thâm độc nhất của kẻ thù.

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời có nghĩa nghiên cứu về một thời sự: chủ nghĩa xã hội, chế độ định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển đất nước trong lúc cả phong trào xã hội chủ nghĩa gặp khó khăn nghiêm trọng ở một nước không đông lắm về dân số, không rộng lắm về đất đai, không phát triển lắm về kinh tế. Tất nhiên, đây là một chủ nghĩa xã hội xét từ thực chất, tức không phải mang trong nó chủ nghĩa bành trướng, không đối địch với nhân quyền, kết hợp dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và đạo lý trong một thể hài hòa, nói cách khác, phù hợp với tư trào hiện đại của loài người.

Tất nhiên, tư tưởng Hồ Chí Minh không thể cho tất cả đáp số của mọi bài toán nảy sinh trong mọi điều kiện lịch sử, đó cũng không phải là thánh kinh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh, sắc lại, vì con người, do con người. Suy thoái đạo đức là khởi điểm cho mọi suy thoái. Tư tưởng Hồ Chí Minh từng chấp nhận cái mềm dẻo cần thiết cho đại cục nhưng chính trong những hy sinh thông minh ấy, phẩm chất con người, xã hội phải được củng cố hơn bao giờ hết, nếu không, những bước lùi sẽ là quá trình tuột dốc “không phanh” chẳng hé ra tiền đề cho những bước tiến.

Đến nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời đã 34 năm. Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống với chúng ta. Nhưng, cần phải nhớ chính hôm nay, ngày mai, chính những người Cộng sản Việt Nam, chính nhân dân Việt Nam là tác giả nối tiếp trên tư duy, trong tình cảm và trên thực địa tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã bảo vệ thành công sự nghiệp xây dựng đất nước, xã hội, con người Việt Nam qua bao nhiêu giông tố – không phải lãnh tụ của quốc gia nào cũng làm được như thế.

Đó là một học thuyết đầy sinh khí.

Hạnh phúc đối với dân tộc Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam có tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng hạnh phúc khi tư tưởng ấy, học thuyết ấy được kế thừa theo tinh thần trung thành các nguyên lý bản chất và luôn được bổ sung, đổi mới.

TRẦN BẠCH ĐẰNG – 3-1993
(theo Đến với Tư tưởng Hồ Chí Minh – NXB Trẻ – 2-2007)

Tuổi trẻ Onlnie

Tư tưởng Hồ Chí Minh quy tụ mọi lực lượng để dựng nước và giữ nước

Nếu nghe ai ca tụng cái vĩ đại của Bác thì được Bác trả lời: một mình tôi thì làm được cái gì? Thiên tài của Bác chính là biết tập hợp lực lượng, biết quy tụ mọi sức mạnh có thể quy tụ được để dựng nước và giữ nước.

"Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" - Ảnh tư liệu.

Trong lịch sử dân tộc, cũng có thời kỳ chia rẽ nội bộ như “Thập nhị sứ quân”, Trịnh – Nguyễn phân tranh, “Nam Kỳ quốc” v.v… nhưng quy luật chung của sự phát triển vẫn là sự đồng tâm nhất trí, sự quy tụ lực lượng với hình tượng “bó đũa”, “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Nguyên lý đó dựa trên thực tế xã hội Việt Nam: sự phân hóa và đấu tranh giai cấp trong nội bộ xã hội bị chi phối và phụ thuộc vào mâu thuẫn lớn hơn: giữa dân tộc Việt Nam và giai cấp thống trị ngoại bang – mâu thuẫn đối kháng cao nhất.

Vốn mang truyền thống đại đoàn kết dân tộc, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trên lộ trình tìm đường cứu nước, nắm được học thuyết Mác–Lênin, phân tích rõ thực trạng xã hội Việt Nam, giải quyết chính xác mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc trong cách mạng Việt Nam.

Nếu trước kia Mác cho rằng giai cấp vô sản trước hết phải trở thành dân tộc, rằng đấu tranh để giải phóng nhân loại là tiền đề để giải phóng giai cấp vô sản thì Bác Hồ coi giải phóng dân tộc là tiền đề để giải phóng giai cấp bị áp bức bóc lột trong xã hội Việt Nam. Nếu dân tộc không được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột của giai cấp tư bản đế quốc thì muôn đời cũng không giải phóng được nhân dân lao động.

Sự sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trên hai mặt. Một mặt phải tìm mọi khả năng quy tụ nhân dân thuộc mọi tầng lớp xã hội có lòng yêu nước thương nòi vào một mặt trận rộng lớn, chống quan điểm biệt phái, quan điểm giai cấp cực đoan có hại cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Mặt khác, phải từng bước giải quyết mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ xã hội Việt Nam, chủ yếu là giữa nông dân với địa chủ, bằng những biện pháp thích hợp (hiến điền, giảm tô, tức, tạm cấp ruộng đất v.v…) để tăng cường sức dân nhưng không phá vỡ mặt trận đoàn kết dân tộc. Sự quy tụ lực lượng rộng rãi đó đã tạo nên sức mạnh quyết định thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Và cũng nhờ đó làm thất bại chính sách chia để trị của kẻ thù trong bất cứ giai đoạn nào.

Sau khi giành được độc lập, thống nhất Tổ quốc chuyển sang xây dựng xã hội mới, phải chăng chúng ta đã coi nhẹ sự quy tụ lực lượng toàn dân tộc theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh” và quá lo sợ, đề cao việc xóa bỏ ngay mâu thuẫn giai cấp trái quy luật lịch sử – tự nhiên, đốt cháy những giai đoạn quá độ cần thiết và lâu dài. Bị ám ảnh bởi những mô hình cải tạo xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa và quản lý kinh tế, quản lý xã hội của Liên Xô, chúng ta đã bỏ mất thời cơ lớn để tập hợp lực lượng, phát triển mạnh sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân, dẫn đến khủng hoảng kinh tế – xã hội.

Từ khi tiến hành đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường với sự phát triển của nhiều thành phần kinh tế, quan trọng nhất là sự giải phóng lực lượng sản xuất trong nông nghiệp quan hệ đến hàng chục triệu lao động cùng với sự khai thác khả năng tiềm tàng của các tầng lớp xã hội khác, bộ mặt kinh tế – xã hội của đất nước đã có nhiều thay đổi lớn.

Tuy nhiên, cũng phải từng bước giải quyết những mâu thuẫn giai cấp, đảm bảo lợi ích của nhân dân lao động nhưng không làm tổn hại đến sự quy tụ lực lượng rộng rãi. Chính sách của Đảng và luật pháp của Nhà nước phải đồng thời giải quyết tốt nhất cả hai mặt đó. Vừa qua, về mặt kinh tế, chúng ta chậm ban bố các luật đầu tư trong nước, luật chống độc quyền, luật lao động v.v… có liên quan đến việc quy tụ lực lượng và giải quyết mâu thuẫn giai cấp.

Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ nguyên lý phải biết kết hợp chặt chẽ sự quy tụ lực lượng trong nước với lực lượng tiến bộ trên thế giới để đấu tranh và xây dựng Tổ quốc. Ngay từ buổi ban đầu cách mạng cho đến lúc hoàn thành giải phóng dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn nhất quán đề cao ngọn cờ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam để tranh thủ rộng rãi sự đồng tình và giúp đỡ của cả nhân loại tiến bộ. Không chỉ riêng các nước xã hội chủ nghĩa mà cả các nước dân tộc chủ nghĩa, các chính phủ tiến bộ, các tầng lớp xã hội, nhân sĩ, một số nhân vật trong giới cầm quyền không tán thành chiến tranh xâm lược v.v… đã đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam.

Bước vào thời kỳ xây dựng đất nước, chúng ta đã đánh mất một phần sự ủng hộ quốc tế đó, mà đáng ra phải được tăng cường hơn trước. Cũng giống như tình trạng quy tụ lực lượng trong nước, chúng ta đã muốn làm trong sạch ngay các quan hệ kinh tế đối ngoại, quá lo sợ về sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân mới trong khi đã nắm vững chính quyền cả nước.

Từ một nước chậm phát triển, chúng ta bị cô lập với thế giới tư bản đang nắm khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nhất cùng với vốn đầu tư và thị trường rộng lớn. Điều kiện quốc tế của sự phát triển đất nước bị hạn hẹp và chịu chung số phận khủng hoảng cùng với các nước xã hội chủ nghĩa trước những cú sốc của thế giới và nội địa.

Chuyển sang thời kỳ đổi mới, nhất là từ sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, chúng ta đã điều chỉnh lại quan hệ đối ngoại, “làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”, nhất là các nước trong khu vực.

Muốn quy tụ lực lượng trong điều kiện quốc tế ngày nay, phải tìm được những mục tiêu chung với các đối tác, tạm gác những nét khác biệt, thậm chí cần phải bắt tay với những kẻ thù cũ đã biết tôn trọng lợi ích đôi bên. Cửa phải mở rộng nhưng phải thường xuyên quét sạch rác rưởi, vi trùng, đảm bảo môi trường trong sạch. Yếu tố quyết định thắng lợi của sự quy tụ lực lượng trên thế giới vẫn là sự lớn mạnh, trưởng thành của bản thân nhân dân ta.

Những thành tựu đạt được trong mấy năm qua là kết quả tổng hợp của sự quy tụ lực lượng trong nước và trên thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục soi sáng cho chúng ta trong một thời kỳ phát triển mới: công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo lời dặn của Bác:

Dân ta nên nhớ chữ đồng
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh.

TRẦN BẠCH ĐẰNG
5-1994
(theo Đến với Tư tưởng Hồ Chí Minh – NXB Trẻ, 2-2007)

Tuổi trẻ Online