Thư viện

Kỷ niệm về những lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tiến Sĩ Ngữ Văn Nicôlai Niculin

Tôi và Yuri Cuznhexôv được đưa tới một phòng ngủ rộng rãi với chăn đệm tuyệt vời, nơi mà ngày trước chỉ có các viên tướng toàn quyền Pháp ở Đông Dương mới được sử dụng. Tới lúc đó tôi hết sức ngạc nhiên về tất cả những gì đã diễn ra với mình. Cuộc gặp gỡ tuyệt vời đó với Bác Hồ đã đem lại cho tôi niềm vui và sự khai ngộ, cảm hóa chúng tôi bởi lòng nhân hậu, sự quan tâm của con người vĩ đại mà chúng tôi đã quen nhìn qua chân dung và phim ảnh tài liệu.

Từ những năm 1970-2000, Nicôlai Niculin là Tiến sĩ Ngữ văn, chuyên gia cao cấp của Liên Xô và Liên bang Nga về văn học Việt Nam. Nhân kỷ niệm lần thứ 120 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã in bài viết này trong sách “Người Nga nói về Hồ Chí Minh” xuất bản 2010 ở Moskva. Nhân kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 100 năm Người ra đi tìm đường cứu nước, chúng tôi xin chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Nga bài viết của ông.

Vào một ngày hè đẹp trời năm 1954, tôi được mời tới gặp Alêxanđr Anđrêevich Lavrisev – người vừa được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đại sứ dáng người cao, hơi mập, tiếp tôi rất lịch sự, chăm chú nhìn tôi, rồi hoàn toàn bất ngờ là đến cuối cuộc đàm luận ông thân mật và cởi mở mỉm cười với tôi. Những câu hỏi và câu trả lời cô đọng, ngắn gọn diễn ra trong vòng năm phút. Tôi đã sống và có thể nói là rất mê say Việt Nam, nên khi nói về đất nước này, đặc biệt là với Đại sứ, thì đó là một niềm hứng thú lớn với tôi. Tôi bước ra ngoài phòng khách, một phút sau người thư ký của Đại sứ xuất hiện. “Anh sẽ đến Việt Nam” – anh tươi cười nói với tôi.

Bác Hồ với thiếu nhi Liên Xô khi Bác thăm đất nước Lênin – 1957.

Còn tôi thì thật bàng hoàng vì hạnh phúc quá bất ngờ. Người thư ký bắt chặt tay tôi: “Chúc may mắn! Anh sẽ được nhìn thấy đất nước của Hồ Chí Minh. Tôi cũng rất muốn, nhưng… Tôi khuyên anh một điều: Trong những cuộc gặp gỡ với Hồ Chí Minh sắp tới, mà anh sẽ luôn luôn được gặp, hãy tự nhiên, chân thành, giản dị và hoạt bát như hôm nay với đồng chí Đại sứ. Chúc lên đường may mắn!”.

Ngày 29/10/1954, hai tuần rưỡi sau khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Đại sứ đầu tiên của Liên Xô đã tới thủ đô cổ kính của Việt Nam. Dọc đường suốt từ biên giới Việt – Trung đến Hà Nội là những cổng chào cao bằng tre được dựng lên, bên trên là những băng rôn chữ vàng trên nền vải đỏ thắm chào mừng lãnh đạo, nhân dân Liên Xô, Tòa đại sứ đầu tiên của Liên Xô ở Việt Nam và vị Đại sứ đầu tiên A.A.Lavrisev.

Tới Thủ đô, một cuộc mittinh nhanh gọn chào đón đã diễn ra. Chúng tôi được đưa về nơi ăn chốn ở và làm việc. Nhưng Đại sứ quán thì sửa chữa chưa xong. Mà ngày 7/11, ngày kỷ niệm lần thứ 37 Cách mạng Tháng Mười vĩ đại – ngày quốc lễ của nhân dân Liên Xô thì đang đến gần.

Dĩ nhiên là tất cả mọi người đều nghĩ rằng, trong tình hình quốc tế như thế này không thể chỉ tổ chức kỷ niệm trong khuôn khổ tiếp khách ngoại giao hạn hẹp, mà cần phải tổ chức với quy mô lớn và trọng thể. Bởi vì đó không chỉ là uy tín của Nhà nước Xôviết. Trong những ngày đó, báo chí phương Tây rất muốn mô tả cuộc sống của những người tham gia kháng chiến trở về Hà Nội và ban lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam như ở trong một pháo đài bị bao vây không thể hoạt động bình thường và cả với các cơ quan nhà nước cũng như các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài.

Theo tôi nhớ thì lúc đó, đầu tháng 11/1954, ngoài Đại sứ quán Liên Xô ở Hà Nội còn có Đại sứ quán nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và còn có khá nhiều phái đoàn đại diện từ Ấn Độ, Canada, Ba Lan đến Việt Nam theo Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Do vậy, Đại sứ quán Liên Xô dù thế nào thì cũng phải được tổ chức tốt theo các điều luật và nghi thức ngoại giao quốc tế, và tiếp đón trọng thể trên diện rộng với các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam, với Ủy ban quốc tế giám sát thực hiện Hiệp định Giơnevơ cũng như với các nhà ngoại giao quốc tế.

Bác Hồ gặp gỡ các chuyên gia Liên Xô sang giúp Việt Nam năm 1960.

Rõ ràng là những buổi tiếp như vậy trên phương diện chính trị không thể tiến hành giống như những hoạt động thông thường, làm quen theo nghi thức bình thường để thắt chặt mối hợp tác quốc tế. Mà buổi tiếp khách trọng thể của Đại sứ quán Liên Xô cần phải thực hiện một vai trò quan trọng khác nữa. Nó sẽ phải là một sự kiện thể hiện khẳng định vị thế mới của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trẻ tuổi trên trường quốc tế, vị thế ổn định vững chắc của nó ở miền Bắc Việt Nam. Và một sự trùng hợp thật đặc biệt mang tính biểu tượng là ngày lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười.

Điều hiển nhiên là toàn bộ nhân viên của Đại sứ quán đều tham gia công tác chuẩn bị. Vấn đề địa điểm tổ chức buổi tiếp khách nhanh chóng được quyết định: Cả ban lãnh đạo Việt Nam và Đại sứ quán Liên Xô đều nhất trí chọn hội trường rộng rãi của Câu lạc bộ quốc tế cạnh Phủ Chủ tịch. Việc này đã được sắp xếp xong. Tuy nhiên vấn đề là sẽ có hàng trăm vị khách mời và sẽ tổ chức bữa tiệc chiêu đãi lớn, mà khu nhà bếp nơi đây chật hẹp quá, bất lợi.

Thì bỗng nhiên có một đề xuất rất hay mà khó có ai nghĩ tới (mà theo tôi chắc là của Hồ Chí Minh). Có lẽ đây là một việc “chưa từng có trong lịch sử” mà không một nước nào hay một ai nghĩ ra. Trong các hồi ức của mình tôi thường phải dùng cụm từ “chưa từng có trong lịch sử”. Vì quả thực đây là một quãng thời gian thật đặc biệt mà chúng tôi lúc đó mới bắt đầu nhận thấy. Nhận thức rõ điều này không phải để ngạc nhiên hay giải trí, mà là để hiểu rõ hơn nữa quá khứ, hiện đại và hình dung cho mình cả tương lai.

Một đề nghị khác thường đã được đưa ra: dùng phòng bếp tầng trệt của Dinh Chủ tịch để làm nơi nấu nướng vì tại đây đã có đầy đủ tiện nghi, cho dù đã cũ. Dinh thự này trước đây là nơi làm việc của các viên toàn quyền Pháp, do đó mà khu bếp của viên toàn quyền rất rộng rãi và thoáng đãng.

Người chủ mới của dinh thự này là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ núi rừng Việt Bắc trở về Hà Nội, vẫn với thói quen khiêm tốn và bản tính giản dị, tính dân chủ tự nhiên, sự tinh tế và văn hóa ứng xử cao mang tính truyền thống của Việt Nam nên Người không muốn làm việc tại các gian phòng sang trọng của dinh thự này mà chỉ dùng làm nơi tiếp khách và tổ chức các sự kiện trọng đại của nhà nước. Còn chính Chủ tịch thì sống và làm việc tại một ngôi nhà khiêm tốn trong khu vườn cách đó không xa.

Vậy là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho phép sử dụng nhà bếp của Dinh Chủ tịch làm nơi Đại sứ quán Liên Xô chuẩn bị tiệc chiêu đãi khách vào ngày 7/11 tới. Người đầu bếp của Đại sứ quán Xôviết là chị Nhina Yanôvna chỉ huy nhóm đầu bếp giỏi của Việt Nam. Chị còn trẻ, đầy sức sống, nhân hậu và đáng yêu, cởi mở, dáng người hơi cao và mập như nhiều đầu bếp khác.

Nhưng lại có một trục trặc bất ngờ: Chị Nhina không biết một ngoại ngữ nào, còn các người Việt phụ giúp chị thì không biết tiếng Nga. Nhưng đã nhanh chóng tìm ra cách giải quyết. Đã có hai chàng trai được đưa tới giúp chị: đó là thực tập sinh Nicôlai Niculin và tùy viên Yu.Cuznhexôv. Phải công nhận rằng, chúng tôi rất sẵn sàng vào nhà bếp với tâm trạng rất hào hứng, nhưng cũng rất lo lắng vì vốn tiếng Việt còn hạn chế, nhất là những từ và thuật ngữ về món ăn Việt Nam với chúng tôi hoàn toàn còn chưa biết.

Tuy nhiên những lo lắng của chúng tôi là vô ích. Trong gian bếp rộng của Dinh Chủ tịch, dù mọi người chưa biết tiếng của nhau nhưng lại tràn ngập bầu không khí sôi nổi, hiểu biết lẫn nhau và háo hức làm việc. Chị Nhina đã quen dần và giải thích, hướng dẫn cho các bạn Việt Nam chủ yếu bằng cử chỉ, động tác. Còn các bạn Việt Nam thì đã học được một số từ tiếng Nga cần thiết.

Nhina Yanôna cũng đã đạt được mấy thành công bước đầu về tiếng Việt. Khi chị nói được những từ “tot lam” hay “khong tot”, “them ơt”, “them nươc”… thì ai cũng hiểu được và không ai để ý tới những lỗi phát âm. Tôi và Yu.Cuznhexôv bị cuốn hút vào công việc không chỉ với vai trò phiên dịch mà còn là người giúp việc nấu nướng. Tất cả cùng làm việc vui vẻ và thân mật.

Thế rồi tới gần 1 hay 2 giờ đêm, Bác Hồ nhẹ nhàng bước vào nhà bếp. Tôi nghĩ rằng các vị Tổng thống của các nước rất ít, thậm chí là chẳng bao giờ xuống nhà bếp. Nhưng đây lại chính là vị Chủ tịch của nhân dân – Bác Hồ! Đây quả thật là một sự kiện rất bất ngờ đối với chúng tôi – những cán bộ của Đại sứ quán Liên Xô và cả các đầu bếp Việt Nam. Và chúng tôi đã đi hết từ bất ngờ này đến ngạc nhiên khác.

Nói hay không thì ai cũng thấy rằng, sự xuất hiện của Bác Hồ ở đây chứng tỏ rằng cuộc tiếp khách ngày mai có ý nghĩa rất trọng đại.

Hôm đó không phải là lần đầu tôi được gặp Hồ Chí Minh. Cuộc gặp lần đầu của tôi với Người là trước đó một ngày, ngày 5 tháng 11, khi Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tất cả các nhà ngoại giao của Đại sứ quán Liên Xô. Lúc đó tôi đang là thực tập sinh nên không có trong danh sách được mời và chỉ nhận được giấy mời trước buổi tiếp 30 phút.

Những dòng chữ vàng lấp lánh duyên dáng ghi trong thiếp mời: “Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rất hân hạnh mời thực tập sinh N.I.Niculin tới dự buổi tiếp đón nhân dịp Đại sứ Liên Xô đến Việt Nam”.

Cụm từ “rất hân hạnh” là một nghi thức ngoại giao bình thường. Nhưng khi nó được kết hợp với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh thì âm hưởng của nó thiêng liêng biết bao. Buổi tiếp diễn ra dưới hình thức chiêu đãi chính thức cùng với việc trao đổi diễn từ của hai bên. Là thành viên trẻ nhất trong đoàn Đại sứ quán Xôviết, tôi ngồi cách xa Hồ Chí Minh, nhìn Người trò chuyện với A.A.Lavrisev và các chiến hữu của mình.

Còn bây giờ thì trong nhà bếp của Dinh Chủ tịch là một Bác Hồ hoàn toàn khác. Bác mặc chiếc áo cổ bẻ đã bạc màu, miệng ngậm điếu thuốc lá, mỉm cười sảng khoái và đôn hậu. Bác Hồ đi quanh khắp bếp, bắt tay chào bếp trưởng Nhina Yanovna, tôi và Yuri Cuznhexôv. Bác chăm chú nhìn khắp gian bếp, hỏi thăm công việc chuẩn bị tới đâu. Được biết rằng tất cả công việc đã hoàn tất, Bác gật đầu hài lòng và ân cần nhìn chúng tôi với ánh mắt của một người cha.

– Các cháu có chỗ ngủ đâu chưa? – Bác Hồ đột nhiên hỏi chúng tôi thật ân cần và đơn giản.

Bối rối trước sự quan tâm chu đáo của vị Chủ tịch tới tiện nghi sinh hoạt của mình, chúng tôi thưa rằng sẽ đi bộ về nơi ở của mình.

– Không được, giờ đã muộn rồi, – Chủ tịch dịu dàng nói. – Ở Dinh Chủ tịch vẫn còn chỗ cho hai chàng trai Xôviết đấy! Thành phố đã vào đêm yên tĩnh nhưng cần nên cảnh giác. Các chú hãy thu xếp chu đáo cho hai thanh niên này nhé! Người nói và gật đầu với mấy cán bộ cùng đi.

Cũng như khi đi vào đây, Người thư thả nhìn tất cả khắp lượt rồi đi ra khỏi nhà bếp.

Tôi và Yuri Cuznhexôv được đưa tới một phòng ngủ rộng rãi với chăn đệm tuyệt vời, nơi mà ngày trước chỉ có các viên tướng toàn quyền Pháp ở Đông Dương mới được sử dụng. Tới lúc đó tôi hết sức ngạc nhiên về tất cả những gì đã diễn ra với mình. Cuộc gặp gỡ tuyệt vời đó với Bác Hồ đã đem lại cho tôi niềm vui và sự khai ngộ, cảm hóa chúng tôi bởi lòng nhân hậu, sự quan tâm của con người vĩ đại mà chúng tôi đã quen nhìn qua chân dung và phim ảnh tài liệu. Trong tôi trào dâng lòng biết ơn về sự quan tâm mà Bác Hồ đã dành cho chúng tôi. Chiều hôm sau, ngày 7/11, tôi lại được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh ở cửa vào Câu lạc bộ quốc tế, nơi sắp diễn ra buổi tiếp khách trọng thể. Người đã nhận ra tôi và chào tôi như gặp người quen cũ.

– Cháu trẻ quá!

Người nói với tôi như với người thân, rồi tới gặp vị Đại sứ

Hồng Nhật (Dịch từ nguyên bản tiếng Nga)

cand.com.vn

Những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực hoạt động của UNESCO (*)

Tại Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay”, bà Katherine Muller-Marin – Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội đã có bài phát biểu nêu bật những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các hoạt động của tổ chức này.

Tôi có mặt tại đây ngày hôm nay để hoàn thành sứ mệnh của Nghị quyết được Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp lần thứ 24 của cơ quan này tại Pa-ri năm 1987, về việc kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn. Đại hội đồng cho rằng việc thế giới kỷ niệm ngày sinh của những nhà văn hóa và trí thức kiệt xuất sẽ góp phần đạt được những mục tiêu của UNESCO và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia.

Đại hội đồng cũng coi Người là một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc bởi Người đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và dân tộc Việt Nam, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại vì hòa bình, độc lập dân chủ và tiến bộ xã hội. Đại hội đồng cũng cho rằng những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Người trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật kết tinh truyền thống văn hóa của Việt Nam, một truyền thống có từ nhiều nghìn năm trước, và những lý tưởng của Người tiêu biểu cho khát vọng các dân tộc khác trên thế giới bởi họ đấu tranh nhằm khẳng định bản sắc văn hóa của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau.

Trên cơ sở những suy xét này, Đại hội đồng đã khuyến nghị các quốc gia thành viên tham gia vào việc kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua việc tổ chức các sự kiện thể hiện tưởng nhớ về Người nhằm phổ biến tầm vóc lớn lao của lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người.

Đại hội đồng cũng đề nghị Tổng Giám đốc UNESCO có những biện pháp thích hợp để kỷ niệm ngày sinh của Người và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức trong dịp này, đặc biệt là những sự kiện diễn ra tại Việt Nam.

Quyết định của UNESCO cũng căn cứ vào những đóng góp của Hồ Chí Minh cho năm lĩnh vực hoạt động của UNESCO. Tôi xin được nhắc lại một vài đóng góp đó:

Trong lĩnh vực văn hóa, chúng ta thấy Hồ Chí Minh bên cạnh tư cách là một nhà thơ, rất quan tâm đến việc bảo vệ và bảo tồn di sản. Sắc lệnh Số 65 được Chủ tịch Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành tháng 11 năm 1945 quy định rằng việc bảo tồn di tích lịch sử là một nhiệm vụ rất cần thiết để xây dựng nước Việt Nam.

Quyết định này còn cấm phá hủy đình, chùa, đền đài, điện thờ, hoặc những nơi thờ cúng, các lâu đài, thành quách, và lăng mộ, cũng như các đồ vật, sắc chỉ, văn bằng, tư liệu, sách báo có giá trị cho lịch sử, dù có tính tín ngưỡng hoặc không. Người cũng quan tâm đến việc khôi phục nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống trên khắp đất nước.

Bảo vệ và bảo tồn là những nhiệm vụ rất quan trọng trong UNESCO. UNESCO khuyến khích việc nhận diện, bảo vệ và bảo tồn di sản văn hóa cũng như di sản thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên khắp thế giới – những di sản được coi là có giá trị nổi bật đối với nhân loại, như đã được thể hiện trong Công ước của UNESCO liên quan đến việc Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và trong Công ước 2003 của UNESCO về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể.

Một ví dụ khác của Hồ Chí Minh liên quan đến công tác bảo vệ và bảo tồn này là Sắc lệnh công nhận Lễ hội Giỗ tổ Hùng vương, một sự kiện yêu nước nhằm mục đích ghi nhớ công lao to lớn của ông cha, đồng thời nhấn mạnh sức mạnh tinh thần của một dân tộc thống nhất.

Từ thuở ban đầu, Hồ Chí Minh đã nhận ra bản chất hỗn hợp của nền văn hóa Việt Nam. Người nói: “Văn hoá Việt Nam là kết quả của sự tác động qua lại giữa Đông và Tây”. Người cũng tin rằng văn hóa là kim chỉ nam cho mọi dân tộc với ý nghĩa là nó giúp nâng cao nhận thức của công chúng, phục hồi sức sống của dân tộc, và đảm bảo các quyền con người, trong khi khẳng định các quyền kinh tế, chính trị và Người cũng quan tâm đặc biệt tới mối quan hệ giữa văn hóa, kinh tế và chính trị và tin rằng văn hóa phải thẩm thấu vào toàn xã hội và đến với từng thành viên để phát huy tiềm năng sáng tạo của họ.

Trong lĩnh vực truyền thông và thông tin. chúng ta thấy vai trò của Người trong việc phát triển báo chí. Ví dụ như: Người đã lập ra tờ báo riêng của mình, Tờ Le Paria, có nghĩa là “Người cùng khổ” vào năm 1921 và sáng lập ra Báo Thanh niên – tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam vào năm 1925 và trở thành Tổng Biên tập đầu tiên của ấn phẩm này. Người cũng lập ra tờ báo quốc gia chính của Đảng Cộng sản Việt Nam – Báo Nhân Dân, được xuất bản tại Hà Nội và là cơ quan ngôn luận chính thức của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hồ Chí Minh đã đưa một phong cách làm báo mới ở Việt Nam, lấy dân tộc và người dân làm chủ đề thời sự chính. Viết cho giai cấp lao động, các tờ báo cách mạng phải lột tả thực tế đời sống của người lao động và hướng dẫn họ trong cách cư xử và hành động nhằm giúp họ cải thiện điều kiện sống của mình.

Một số người nói rằng Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho nền báo chí Việt Nam, một giả định hợp với logic bởi suốt đời mình, Người là một nhà báo. Người viết nhiều thể loại văn chương và báo chí: Bút ký, truyện thời sự, xã luận, thơ, cùng các thể loại khác. Các bài báo của Người, đi thẳng vào vấn đề và được viết một cách giản dị, rõ ràng và súc tích, rất dễ hiểu với độc giả đông đảo của Người.

Hội Nhà báo Việt Nam cũng được thành lập dưới sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; khởi đầu chỉ với 200 hội viên nhưng giờ đây đã lên đến hơn 16.000 người.

Tôi nhận thấy một điều lý thú là vào năm 1946, trên cương vị Chủ tịch lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh thành lập Bộ Kinh tế quốc gia, trong đó có một đơn vị thống kê chịu trách nhiệm tập hợp các số liệu về dân số, tình hình tài chính, kinh tế, chính trị, và lý thú hơn nữa là cả các số liệu về văn hóa.

Giờ đây, chúng ta đang làm việc với sự hỗ trợ của Viện Thống kê UNESCO cùng Tổng cục Thống kê và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch của Việt Nam để xây dựng một Khung hành động cho Thống kê Văn hóa Việt Nam nhằm trợ giúp cho việc xây dựng và triển khai chính sách dựa vào thực tiễn, bởi lẽ văn hóa đang trở thành một nhân tố chủ chốt của phát triển bền vững.

Trên những lĩnh vực khác, tôi nhận thấy trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn chú ý đến các vấn đề của phụ nữ. Người cho rằng để giúp chị em tham gia vào các hoạt động xã hội, sự phân biệt giữa nam và nữ cần xóa bỏ và chính phủ cần phải có chính sách khuyến khích phụ nữ cùng nam giới tham gia vào sản xuất, quản lý kinh tế và hoạt động văn hóa. Người cũng viết trong Di chúc là Đảng và Chính phủ nên có những kế hoạch để đảm bảo ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực hoạt động, kể cả lãnh đạo, và rằng chị em cần phải phấn đấu vươn lên.

Đối với UNESCO, bình đẳng giới là một quyền cơ bản của con người, một giá trị chung, và cũng là một điều kiện cần thiết để đạt được các mục tiêu phát triển quốc tế, trong đó có tất cả các mục tiêu phát triển của thiên niên kỷ. Suy cho cùng, việc nâng cao quyền lực của phụ nữ và bình đẳng giới là những vấn đề chính trị cần có sự hưởng ứng và cam kết của các nhà lãnh đạo thế giới và những người làm chính sách.

Liên quan đến khoa học xã hội và với những khái niệm về hợp tác hòa bình và hiểu biết lẫn nhau trên thế giới được UNESCO quảng bá, Việt Nam đang ra sức đóng góp cho khu vực và thế giới. Một phong cách mới của ngoại giao Việt Nam đã xuất hiện khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh. Bộ Ngoại giao được thành lập trong tháng 8 năm1945 khi nội các lâm thời được công bố. Ý thức được tầm quan trọng của ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiêm nhiệm chức Bộ trưởng Ngoại giao cho đến tháng 3 năm 1947.

Về khoa học tự nhiên, Hồ Chí Minh đã sớm thể hiện sự quan tâm của Người đối với các vấn đề liên quan đến môi trường và tới mối quan hệ hòa hợp giữa con người và thiên nhiên trong sự phát triển của một quốc gia. Người ủng hộ sự cần thiết phải chống thiên tai, duy trì và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cùng môi trường sinh thái và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trồng rừng, thủy lợi và cải thiện chất đất.

Sự quan tâm của Người đối với việc trồng cây và bảo vệ môi trường đã vượt qua biên giới tới mức, trong các chuyến thăm nước ngoài hoặc mỗi khi tiếp đón khách ngoại quốc, Người hay tổ chức lễ trồng cây và gọi những cây này là “cây hữu nghị”, biểu tượng cho quan hệ giữa Việt Nam và thế giới cũng thể hiện thái độ tích cực đối với môi trường. Tôi có thể hiểu được tại sao chúng tôi luôn được mời tới các lễ trồng cây. Ngay cả trong Di chúc của mình, Hồ Chí Minh khuyến nghị những người viếng thăm trồng cây tưởng niệm.

Người còn kêu gọi mọi người “trồng và bảo vệ rừng, như bảo vệ ngôi nhà của mình”. Để nêu gương, Người đã tạo ra một môi trường tự nhiên tuyệt vời quanh nơi ở của mình và chăm sóc cây cối, hồ cá, và chim chóc, nhấn mạnh là chúng cần được bảo vệ bởi chúng là những báu vật của thiên nhiên.

Trong lĩnh vực giáo dục, tôi nhận thấy điều thú vị là Người cho rằng xóa bỏ nạn mù chữ có nghĩa là tạo nên một phong trào giáo dục đại chúng. Người chỉ ra rằng học đọc và học viết có thể được tiến hành ở bất cứ đâu, dùng than, mặt đất, hoặc lá chuối làm bút và giấy. Người sáng suốt khi chỉ ra rằng một người đã biết đọc, người đó cần tiếp tục học tập bởi người biết chữ có thể quên cách đọc nếu họ không có gì đễ đọc. Người tuyên bố rõ ràng rằng Chính phủ và Bộ Giáo dục có nhiệm vụ cung cấp sách báo phù hợp với từng cấp độ của người đọc.

Từ khi được thành lập vào năm 1946, UNESCO đã đi đầu trong nỗ lực xóa bỏ nạn mù chức trên toàn cầu với những chương trình như Giáo dục cho mọi người. Đây là một yếu tố cần thiết cho việc xóa nghèo, giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em, kiềm chế sự phát triển dân số, đạt được sự bình đẳng giới, và đảm bảo phát triền bền vững, hòa bình và dân chủ. Hơn thế, thật thú vị khi đọc trong Công báo quốc gia Việt Nam 1945 thấy rằng Bộ Giáo dục được thành lập ngay sau khi Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Có một mối tương liên giữa ý nghĩ của Hồ Chí Minh rằng “mục tiêu cuối cùng của việc học là trở thành con người theo đúng nghĩa của từ này với bốn trụ cột của việc học đã được Ủy ban về Giáo dục cho thế kỷ XXI xác định trong báo cáo của họ trình lên UNESCO trong thập kỷ 1990 như là những nguyên tắc cơ bản cho việc định hình lại giáo dục. Ủy ban cảm thấy là giáo dục suốt đời dựa trên bốn trụ cột:

Học để biết, ngụ ý cung cấp những công cụ nhận thức cần có dễ hiểu thế giới và những điều phức tạp của nó một cách tốt hơn, và để có nền tảng đủ và phù hợp để học tập trong tương lai.

Học để làm, có nghĩa là cung cấp các kỹ năng giúp các cá nhân tham gia một cách có hiệu quả vào nền kinh tế và xã hội toàn cầu.

Học để làm người có nghĩa là cung cấp những kỹ năng tự phân tích và kỹ năng xã hội để giúp các cá nhân phát huy đầy đủ nhất tiềm năng của mình về mặt tâm lý – xã hội, về tình cảm cũng như thể chất, để trở thành một “con người toàn diện” về mọi mặt.

Học để chung sống ngụ ý là hướng các cá nhân vào những giá trị tiềm ẩn trong các nguyên tắc dân chủ, sự hiểu biết giữa các nền văn hóa, tôn trọng và hòa bình ở mọi cấp bậc xã hội và quan hệ giữa người với người nhằm giúp cho các cá nhân và các xã hội cùng sống trong hòa bình và hòa thuận.

Tôi xin kết thúc bài phát biểu của mình với những ý nghĩ sau:

Nếu một con thuyền ra khơi mà không định trước bến đỗ, thì gió thổi hướng nào là không quan trọng? Con thuyền có thể cập bất kỳ bến nào. Biết được bến đỗ mà ta muốn đến có nghĩa là ta có một tầm nhìn rõ ràng về nơi đó. Điều đó có nghĩa là kiểm soát tốc độ gió và sức lực để tới được bến đỗ đó.

Có được một vị Chủ tịch như Hồ Chí Minh, người được nhiều người không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới tôn vinh như anh hùng dân tộc, giống như có được một biểu tượng giúp chúng ta có được một tầm nhìn, chỉ cho đất nước một bến đỗ an toàn cho đất nước. Và hơn thế, một lãnh tụ như thế cũng chỉ cho ta cách kiểm soát phong ba bão táp thông qua lòng tự hào, lao động cần cù và quan hệ hòa hiếu.

Giờ đây, tôi xin cùng dân tộc Việt Nam kỷ niệm ngày sinh của một nhân vật vĩ đại, người đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại và trong lịch sử của đất nước này. Xin chúc tất cả quý vị một tương lai phồn thịnh và thái bình./.

Katherine Muller-Marin
Theo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ trong lòng nhân dân thế giới

Bảo tàng Hồ Chí Minh được xây dựng theo nguyện vọng của nhân dân Việt Nam nhằm tỏ lòng biết ơn và đời đời ghi nhớ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng với Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Khu di tích Phủ Chủ tịch, đây là nơi hội tụ tình cảm thiêng liêng của toàn dân ta và bạn bè quốc tế với Người. Trong những ngày tháng 5 lịch sử này, nhân kỷ niệm lần thứ 115 Ngày sinh của Bác (19/5/1890 – 19/5/2005), Hànộimới xin trích đăng những tình cảm chân thành và xúc động mà bạn bè khắp năm châu khi đến thăm, nghiên cứu và hiểu thêm về cuộc đời của Bác Hồ đã lưu lại tại bảo tàng.

Suthichai Youn- Tổng biên tập Tập đoàn Xuất bản quốc gia, Băng Cốc – Thái Lan

“Chúng tôi có ấn tượng sâu sắc về chuyến tham quan Bảo tàng Hồ Chí Minh. Chúng tôi đã có được sự hiểu biết rõ ràng và sâu sắc về lịch sử và cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Chúng tôi, lớp người của thế hệ sau chắc chắn có thể học được những bài học quý báu từ sự cống hiến, lòng quyết tâm và tình yêu của Người dành cho dân tộc, đất nước và những con người đang đấu tranh vì tự do và hòa bình trên thế giới”.

Tôn Hồng Tuyền (Trung Quốc)

“Bác Hồ, Người là tập trung của những phẩm chất cao đẹp, đấu tranh gian khổ, cần cù, tiết kiệm của người Việt Nam, là tập trung của ý chí kiên cường, đoàn kết một lòng; Người đã đoàn kết và lãnh đạo nhân dân Việt Nam, trải qua cuộc đấu tranh gian khổ, trường kỳ, cuối cùng đã chiến thắng kẻ thù xâm lược; Người đã có cống hiến to lớn cho nhân dân Việt Nam, nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới”…

Lô-xép (LB Nga)

“Lịch sử dân tộc không thể tách rời lịch sử của những người đại diện vĩ đại của dân tộc đó. Điều này càng được khẳng định khi tham quan Bảo tàng Hồ Chí Minh. Một dân tộc cần phải hiểu và trân trọng gìn giữ lịch sử của mình, tôn kính ký ức về những người đã cống hiến cả cuộc đời mình phụng sự Tổ quốc”.

An-đu Rơ-bê-lô – UVBCT BCHTƯ Đảng CS Bra-xin

“Nhân dân Bra-xin xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn nhân dân Việt Nam và người con vĩ đại của nhân dân Việt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang nêu gương cho nhân loại.

Chúng tôi tin tưởng rằng, trên cơ sở những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam sẽ giữ vững tinh thần cách mạng và quyết tâm trong xây dựng hòa bình, chủ nghĩa xã hội như đã từng giữ vững tinh thần cách mạng và quyết tâm trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong khi lãnh đạo nhân dân Việt Nam chiến thắng những kẻ áp bức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm thức dậy trong trái tim các dân tộc toàn thế giới những tình cảm kỳ vọng vào tự do và bác ái giữa các dân tộc. Sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong tâm trí chúng ta”.

Sahih Abdu Mashamoun – Cựu Đại sứ Xu-đăng tại Việt Nam

“Tôi rất vui mừng được đến thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh và đây là cơ hội hiếm hoi để tôi học hỏi nhiều hơn nữa về Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của một dân tộc vĩ đại, một người có học thức và tầm nhìn rộng lớn. Chính điều này đã giúp Người lãnh đạo thắng lợi cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc Việt Nam vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Thời gian tham quan bảo tàng là vô cùng bổ ích và đã làm tăng thêm hiểu biết của tôi về lịch sử văn hóa và tư tưởng trên khắp thế giới thông qua lịch sử và cuộc đời của một lãnh tụ vĩ đại”.

Graham Kierath -(Ô-xtrây-li-a)

“Thật là một dịp tuyệt vời được tham quan và tìm hiểu về cuộc đời và thời đại của Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Tôi thật sự cảm nhận được không khí lịch sử và lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Tôi vô cùng xúc động trước những cuộc đấu tranh và sự gian khổ mà nhân dân Việt Nam đã trải qua trong công cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do”.

Lu-ít An-đa-ny-a (Pê-ru)

“Bảo tàng Hồ Chí Minh là một biểu tượng quan trọng thể hiện sự tưởng nhớ của nhân dân Việt Nam đối với người anh hùng dân tộc bất tử của mình, đồng thời cũng là một khu triển lãm về cuộc đời mẫu mực của Người.

Đây là một đóng góp quan trọng để bảo tồn lịch sử phong trào giải phóng dân tộc của các dân tộc trên thế giới và của phong trào cộng sản quốc tế, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những biểu tượng cao cả nhất”.

Một GS đại học Y khoa ở Giơ-ne-vơ, Thụy Sĩ

“Tôi thấy Hồ Chí Minh trước hết là một người yêu nước, một người giải phóng dân tộc Việt Nam, sau đó mới là một người cộng sản. Thấm nhuần tư tưởng của Lê-nin, Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời đấu tranh cho tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam bị áp bức và sự bình đẳng của giai cấp”.

HNM
ANHTHU

dantri.com.vn

Chuyện về Bác Hồ với Vua bếp huyền thoại Escoffier

(Dân trí) – Laura Lam tiếp tục có viết về quãng thời gian Bác Hồ – khi đó là chàng thanh niên Văn Ba, làm việc cùng đầu bếp huyền thoại người Pháp Escoffier, với những chi tiết ít người biết về vị lãnh tụ của chúng ta.

>> Hồ Chủ tịch và “Hành trình đi tìm tự do”
>> Nguyễn Ái Quốc những năm đầu tìm đường cứu nước

Bài viết trên tiếng Anh của báo điện tử Dân trí Dtinews tại đây

“Đứng trước tòa nhà mới xây trên nền đất cũ, tâm trí tôi lại trở về với Khách sạn Carlton, nơi chàng thanh niên Văn Ba (Hồ Chí Minh) đã làm việc. Tôi mường tượng ra khu bếp lớn của vua bếp Auguste Escoffier với đội ngũ 60 nhân viên của ông ấy, tất bật chạy quanh trong những bộ áo choàng trắng cùng mũ vải trắng tinh tươm.

Khách sạn Carlton năm 1920

Trước khi chuyển đến khách sạn Carlton lộng lẫy, Escoffier đã từng làm việc cho khách sạn Savoy, nơi ông xây dựng được danh tiếng là cha đẻ của phong cách nấu ăn Pháp. Escoffier là người cung cấp thực phẩm cho nhà bếp Hoàng gia Anh, cho các phụ nữ quý tộc châu Âu, cho những người nổi tiếng và những người siêu giàu. Được Hoàng tử xứ Wales đánh giá cao, nên khi Hoàng tử trở thành Vua Edward VII năm 1901, Escoffier được giao trọng trách chuẩn bị cho bữa tiệc đăng quang của nhà vua mới. Năm 1913, ông gặp Hoàng đế Wilhelm II tại bữa tiệc chiêu đãi cấp quốc gia dành cho 146 nhân vật quyền cao chức trọng Đức. Hoàng đế đã rất ấn tượng với phong cách nấu ăn của Escoffier và dành cho ông lời ca tụng: “Tôi là Hoàng đế của nước Đức, nhưng ông là ông vua của các đầu bếp”.

Thực đơn của Escoffier gồm những món xuất phát từ những ý tưởng chỉ có ở riêng ông. Như món thịt gà đông được làm từ ký ức của ông về con tàu Jeannette bị mắc cạn trên băng năm 1881; Món bánh làm bằng quả đào là để tỏ lòng tôn kính danh ca người Australia, Nellie Melba; Món làm từ dâu tây, dứa, kem chanh là món ăn tỏ lòng kính trọng với nghệ sĩ Pháp lừng danh Sarah Bernhardt. Nhiều món ăn của ông đã trở thành những món ăn kinh điển của người Pháp.

Bí quyết của người đầu bếp huyền thoại này là sử dụng những thành phần tươi nhất và nguyên chất nhất để làm nên những món ăn với kỹ thuật cao nhất cùng tính giản đơn. Ông cũng đề cao tiêu chuẩn vệ sinh trong khi chế biến. Năm 1919, Tổng thống Poincaré đã trao tặng Escoffier Bắc đẩu Bội tinh để ghi nhận tài năng đặc biệt cũng như công lao của ông quảng bá phong cách ẩm thực Pháp. Ba năm sau đó, ông được phong chức Sĩ quan Đội sĩ quan danh dự nhân một bữa tiệc quốc gia tại Palais d’Orsay.

Khách sạn Carlton bị phá hủy trong cuộc chiến Blitz ở London năm 1940

Khách sạn Carlton là nơi được Winston Churchill (sau này là Thủ tướng Anh) yêu thích. Ngày 4/8/1914, khi Churchill đang ngồi dùng bữa trong khách sạn này, Anh đã tuyên chiến với Đức và các đồng minh của Đức. Chiến tranh đã bùng nổ hai ngày trước đó, khi quân Đức tấn công lính Pháp. Escoffier và Văn Ba cũng có mặt tại khách sạn khi lời tuyên chiến được đưa ra. Văn Ba đã rất phấn chấn. Anh âm thầm hy vọng cuộc chiến này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Ở London, anh lặng lẽ chờ cơ hội để bộc lộ. Escoffier tiếp tục phụ trách công việc bếp núc của khách sạn Carlton cho đến hết Chiến tranh Thế giới Thứ I (8/1914 -11/1918).

Khi Văn Ba bắt đầu công việc của mình vào mùa Xuân năm 1913, anh chỉ là một chân trong nhóm rửa bát ở khu bếp của Escoffier. Với nhân viên này, không có gì hay ho khi chứng kiến những khách hàng giàu có và nổi tiếng để lại nhiều thức ăn trên đĩa sau mỗi bữa. Bất kỳ khi nào nhìn thấy một khoanh bít tết lớn hay miếng thịt gà to còn chưa được đụng đến, anh lại chuyển chúng sang một chiếc đĩa sạch và gửi trở lại nhà bếp. Một lần, Escoffier hỏi Ba “Tại sao anh không vứt những thức đó vào thùng rác như những người khác?, Ba trả lời “Những thứ này không nên vứt đi. Ông có thể mang chúng cho người nghèo”.

Escoffier lấy làm thích thú và tỏ ý rất hài lòng với câu trả lời này. “Chàng trai trẻ thân mến ơi, hãy nghe ta. Giờ thì gạt ý tưởng mang tính cách mạng đấy của anh sang một bên và ta sẽ dạy cho anh nghệ thuật nấu nướng. Nó sẽ mang đến cho anh rất nhiều tiền”.

Tấm bảng treo trên tòa nhà mới. Không có tài liệu nào của Khách sạn Carlton thoát khỏi cuộc chiến tranh. Các nhà sử học Nga và Việt Nam cùng những nguồn khác cho rằng chàng thanh niên Văn Ba đã làm việc ở Khách sạn Carlton từ năm 1913 đến 1917.

Ngay sau cuộc đối thoại này, Văn Ba được đưa lên khu vực làm bánh và Escoffier đã truyền cho anh nghệ thuật làm món tráng miệng của Pháp. Anh làm theo những hướng dẫn của vị vua bếp một cách siêng năng và với niềm thích thú thực sự. Ba học rất nhanh công thức làm các loại bánh ngọt của Pháp. Escoffier là người tiên phong trong kỹ thuật trộn các thành phần bánh, xử lý bột nhào và bí kíp nướng bánh sao cho ra lò được những chiếc bánh với lớp vỏ giòn và bóng mịn.

Ngay từ đầu, người thày thông thái của Ba đã chú ý đến sự thông minh nổi trội của cậu học trò và ông luôn đánh giá cao tính chín chắn, thái độ lịch thiệp của Ba. Năm 1917, Escoffier chuẩn bị cho sinh nhật lần thứ 71 của mình. Ông đã nghĩ đến việc nghỉ ngơi sau khi tìm được người sẽ kế thừa tài sản vô giá là những công thức làm món ăn của ông. Văn Ba đã theo học ông được 4 năm và là một trong những đầu bếp được ông quý mến nhất. Escoffier không nghi ngờ về việc Ba có được một sự nghiệp đầy hứa hẹn trong thế giới của các đầu bếp Pháp.

Tuy nhiên, một buổi tối, Ba đã nói chuyện với Escoffier. Tin tức về phong trào Duy Tân bị Pháp đàn áp đã đến với Ba và anh cảm thấy rất bồn chồn. Anh thông báo với Escoffier tin sẽ rời London và bắt tay vào một sứ mệnh mới. Có thể quyết định này bắt nguồn từ sự kiện ở Đông Dương, mà cũng có thể là do cuộc Cách mạng Nga bất ngờ nổ ra. Escoffier biết hoài bão chính trị của Ba rất tốt. Nhưng ông cũng cảm thấy buồn bã khi chàng thanh niên có vẻ ngoài thư sinh kia lại từ bỏ bộ đồ trắng để bắt đầu một cuộc sống mà khi ấy, ông cho là đầy những nguy cơ và không có gì chắc chắn.

Khách sạn Carlton bị Đức Quốc xã phá hủy hoàn toàn trong cuộc chiến tranh chớp nhoáng vào London, thường được gọi là cuộc chiến London Blitz, trong những năm đầu 1940, sau 57 đêm Hitler ra lệnh không kích liên tục thành phố này. Đây là giai đoạn đầu của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ II (tháng 9/1939-thang 8/1945).”

Laura Lam
(Việt Hà dịch)

dantri.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan hệ Việt – Trung – Xô

Một cách tổng quát, trong xử lý quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã kết hợp hài hoà giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa cương và nhu, giữa chiến lược và sách lược, giữa chủ động và sáng tạo, vô cùng linh hoạt trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, từ đó nhận biết, nắm bắt thời điểm để xử lý thành công quan hệ Việt Nam với Liên Xô, Trung Quốc, bảo vệ và thực hiện tốt nhất lợi ích của quốc gia, dân tộc.

TS. Nguyễn Thị Mai Hoa
Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,bên cạnh việc giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo, phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta chủ trương ra sức tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của bè bạn trên thế giới, mà trước hết là các nước XHCN, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc, tạo nên sức mạnh tổng hợp, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, đặt trong điều kiện tình hình thế giới diễn biến phức tạp tại thời điểm bấy giờ, khi mâu thuẫn Xô – Trung nảy sinh và ngày càng trở nên gay gắt, thì việc triển khai chiến lược đoàn kết quốc tế của Đảng, Nhà nước ta thực không hề đơn giản. Song nhờ trí tuệ thiên tài, kinh nghiệm hoạt động quốc tế phong phú, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với bộ não chỉ đạo cách mạng Việt Nam đã vượt qua thách thức, khó khăn, củng cố, giữ gìn và giữ gìn thành công tình hữu nghị lâu đời, thủy chung trước sau như một với Liên Xô, Trung Quốc.

1. Quan điểm giải quyết quan hệ Việt – Xô – Trung của Hồ Chí Minh

Nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy thử thách, gay go, ác liệt, cũng là lúc những bạn bè thân cận (Liên Xô, Trung Quốc) nảy sinh bất đồng, mâu thuẫn và quan hệ hai nước giảm sút một cách nghiêm trọng. Trong bối cảnh hai nước ra sức tập hợp lực lượng để củng cố vị trí của mình, Việt Nam trở thành “điểm nóng”, trở thành một trong những tiêu điểm thể hiện đối sách của mỗi nước và liên quan đến lợi ích của các cường quốc đại diện cho quyền lực của thế giới. Đương nhiên, Mỹ lập tức lợi dụng tình thế này, nhanh chóng nắm bắt cơ hội, tiến hành chính sách chia rẽ, khoét sâu mâu thuẫn, để giảm sự đồng tình, viện trợ, ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.

Trước những chuyển biến đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta không xem nhẹ tính chất khó khăn, phức tạp của tình hình, đặt ra nhiệm vụ làm giảm thiểu tối đa tác hại của sự tranh chấp giữa Liên Xô – Trung Quốc và tiềm năng lợi dụng của Mỹ, không ngừng củng cố, tăng cường quan hệ Việt – Xô – Trung. Quá trình xử lý quan hệ Việt – Xô – Trung của Đảng và Nhà nước ta trong điều kiện hết sức nhạy cảm đó, dựa chắc vào những quan điểm chỉ đạo của Hồ Chí Minh:

Thứ nhất, kiên trì tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô và Trung Quốc trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Quan điểm “củng cố không ngừng tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác”(1) được Hồ Chí Minh nêu lên ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Mỹ và hoạch định định đường lối đối ngoại chống Mỹ, cứu nước. Quan điểm này được đưa ra là kết quả nhận thức và thực tiễn hoạt động của một nhà cách mạng dày dặn kinh nghiệm, một nhà quốc tế lỗi lạc, dựa trên những cơ sở: (1). Đánh giá cao vai trò, tầm quan trọng sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam, “mọi thắng lợi của Đảng ta và của nhân dân ta không thể tách rời sự ủng hộ nhiệt tình của Liên Xô, Trung Quốc…”(2) – đó là cơ sở thiết yếu để luôn luôn giữ gìn quan hệ mật thiết với Liên Xô, Trung Quốc, bất kể mọi biến động của tình hình; (2). Đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo của cách mạng vô sản thế giới mà Liên Xô, Trung Quốc là những đại diện tiêu biểu, “cuộc đấu tranh củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất của nhân dân ta là một bộ phận của cuộc đấu tranh cho hòa bình thế giới”(3) – cơ sở tất yếu của sự kiên trì đoàn kết và “phối hợp chặt chẽ với các nước anh em trong phe ta”(4); (3). Mục tiêu chung, cao cả “cùng nhau chung sức phấn đấu cho tương lai tươi sáng của loài người”(5) – cơ sở bền vững để kiên trì đoàn kết, làm cho Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc đều là “anh em ruột thịt trong đại gia đình cộng sản quốc tế”(6).

Những cơ sở đó cho thấy tính nền tảng, chủ chốt, giá trị định hướng của quan điểm này trong quá trình xử lý quan hệ Việt – Xô – Trung. Quan điểm này cũng phản ánh nhu cầu khách quan, mang tính quy luật và lịch sử trong quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc.

Thứ hai, không can thiệp vào công việc nội bộ của Liên Xô, Trung Quốc.

Trước những sự kiện phức tạp trong tình hình Liên Xô, Trung Quốc; giữa Liên Xô – Trung Quốc…, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý Đảng và Chính phủ ta giữ thái độ đúng mực, mọi góp ý, trao đổi cần hết sức cẩn trọng. Để đảm bảo điều đó, Hồ Chí Minh đặt tâm sức vào hai việc quan trọng: (1). Luôn giáo dục, căn dặn cán bộ, đảng viên phải có thái độ không a dua, biệt phái, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước anh em, tránh “để Trung Quốc đừng hiều lầm. Trung Quốc và Liên Xô đừng hiểu lầm nhau”(7), gây tranh cãi không cần thiết; (2). Chỉ đạo sát sao công tác tuyên truyền và cán bộ tuyên truyền phải hết sức cẩn trọng trong tác nghiệp, trong đưa tin, bình luận…“ tranh đấu để đi đến đoàn kết chứ không nói xấu ai…”(8), không gây tổn thương cho quan hệ quốc tế của Việt Nam với cả hai người bạn lớn.

Cũng cần nói thêm rằng, quan điểm đó không đồng nhất với thái độ “dĩ hòa vi quý” hoặc thủ tiêu đấu tranh. Đây là biểu hiện ở mức cao nhất sự tôn trọng đối với hai nước lớn anh em, là sự tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc bang giao quốc tế – điều kiện quan trọng đảm bảo cho quan hệ Việt Nam với Liên Xô và Trung Quốc trong những giai đoạn khó khăn nhất không sứt mẻ.

Thứ ba, nỗ lực hóa giải, thu hẹp bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc, coi đó là cơ sở để củng cố quan hệ hữu nghị Việt – Xô – Trung.

Một khi Liên Xô, Trung Quốc bất hòa, mẫu thuẫn, việc củng cố quan hệ Việt – Xô – Trung chắn chắn gặp nhiều trở ngại – đó là điều mà Hồ Chí Minh ý thức đầy đủ hơn ai hết. Gạt bỏ những rào cản trên con đường thắt chặt quan hệ Việt – Xô – Trung, hàn gắn quan hệ giữa hai nước lớn – trụ cột của phong trào cách mạng thế giới là yêu cầu thực tế, nhất là trong điều kiện “bọn đế quốc đang âm mưu phá hoại sự nhất trí của các nước xã hội chủ nghĩa, âm mưu gây một cuộc chiến tranh mới”(9), thì hơn bao giờ hết, “sự nhất trí của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu có một ý nghĩa đặc biệt to lớn”(10). Điều này được minh chứng bằng một chân lý hết sức giản đơn, nhưng giầu tính thuyết phục: “Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta”(11). Vì thế, yêu cầu cũng là trọng trách nặng nề, Hồ Chí Minh đặt ra cho Đảng Cộng sản Việt Nam là “ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em”(12). Dù trước khi đi xa, vẫn còn canh cánh bên lòng nỗi đau về “sự bất hoà hiện nay giữa các Đảng anh em”(13), thì Người vẫn luôn hy vọng và lưu giữ một niềm tin son sắt rằng, “các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại”(14).

Thứ tư, kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, ứng xử linh hoạt, có lý, có tình trong quan hệ với Liên Xô và Trung Quốc.

Khi mâu thuẫn Xô- Trung ngày càng gia tăng, cả hai nước đều muốn tranh thủ mở rộng ảnh hưởng của mình đối với Việt Nam, lái Việt Nam đi theo đường lối của mình, thậm chí có lúc còn lôi kéo và gây sức ép. Trước tình thế không mấy dễ dàng này, Hồ Chí Minh chủ trương giải quyết quan hệ Việt – Xô – Trung trên quan điểm độc lập, tự chủ, chống khuynh hướng áp đặt; kiên định lập trường đoàn kết với cả hai nước. Cách thức đạt mục tiêu được Hồ Chí Minh xác định rõ: (1). Sách lược hết sức mềm dẻo, “làm việc phải thật khôn khéo, thận trọng”(15), “nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì phải linh hoạt”( 16), chú trọng phát huy, thúc đẩy mặt tích cực trong chính sách đối ngoại của Liên Xô, Trung Quốc; (2). Thuyết phục, vận động, hướng việc đoàn kết song phương Việt- Xô, Việt – Trung “trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình”(17), trên nền tảng chính nghĩa của cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam.

2. Tài trí ngoại giao Hồ Chí Minh trong cân bằng quan hệ với Liên Xô và Trung Quốc

Với kinh nghiệm hoạt động quốc tế nhiều năm, với uy tín quốc tế, tài trí ngoại giao và sự hiểu biết sâu sắc các nước anh em, với mục tiêu tăng cường vững chắc quan hệ Việt – Xô – Trung, Hồ Chí Minh đã cùng với Chính phủ ta tiến hành hàng loạt những hoạt động ngoại giao có trọng điểm, đặt vào trọng tâm đối ngoại: Giữ quan hệ cân bằng với cả Liên Xô và Trung Quốc – điều kiện tiên quyết để củng cố quan hệ với hai nước anh em. Đây là yêu cầu quan trọng, nhiệm vụ cấp thiết, đồng thời cũng là thử thách to lớn trong điều kiện các quan hệ quốc tế vào thời điểm đó chồng chéo, đan xen nhau trong một tổng thể quan hệ của các siêu cường, không dễ phân định tách bạch và vượt qua được quả không hề dễ dàng. Sự thành công trong giải bài toàn khó hoàn toàn trông đợi vào tài trí ngoại giao Hồ Chí Minh.

Để giữ gìn quan hệ cân bằng, đoàn kết, hữu nghị với cả Liên Xô và Trung Quốc, dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta chủ trương ứng phó nhanh nhạy, mềm dẻo với mọi biến chuyển của tình hình, đạt tới sự tế nhị và cân bằng. Điều đó được thể hiện một cách linh hoạt qua các sự kiện sau:

Thứ nhất, các chuyến thăm những năm 1956 – 1960 do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu khá là liên tục và đồng đều với cả Liên Xô, Trung Quốc: Năm 1956, thăm chính thức Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ; năm 1957, thăm 9 nước, trong đó có Liên Xô, Trung Quốc; trong hai năm 1959-1960, hai lần thăm Trung Quốc và Liên Xô. Còn trong hai năm 1965 và 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Trung Quốc hai lần, thì Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A.N. Kosygin cũng được Việt Nam đón tiếp trọng thị và thân thiết (2-1965), đồng thời hai đoàn đại biểu cấp cao của Đảng và Nhà nước ta cũng được cử đi thăm Liên Xô (4-1965, 3-1966).

Thứ hai, với phương châm “chưa hiểu thì chưa nên bầy tỏ thái độ” của Hồ Chí Minh, suốt thời kỳ mâu thuẫn Xô – Trung diễn ra gay gắt, trên các phương diện chính thống, Đảng và Nhà nước ta đã không bàn luận, không bày tỏ thái độ đồng tình hay phản đối cuộc đấu tranh nội bộ trong Đảng Cộng sản Liên Xô (1956), hay đối với Cách mạng văn hóa của Trung Quốc, cũng như không tham gia các cuộc tranh luận công khai giữa hai bên, tránh gây ra những hiểu lầm không cần thiết.

Thứ ba, những năm 1960-1964, khi Trung Quốc thường xuyên nêu vấn đề “chống chủ nghĩa xét lại”, “tách khỏi Liên Xô”, còn Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô liên tiếp gửi thông điệp (13 bức thư và thông báo(18)) đề cập đến bất đồng Xô – Trung, đề nghị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam phải thay đổi lập trường với Trung Quốc, thì Hồ Chí Minh vẫn luôn mềm mỏng và kiên định giải thích: “Đảng chúng tôi luôn luôn giáo dục cho cán bộ, đảng viên và cho quần chúng nhân dân lòng yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản, luôn luôn tăng cường đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và các nước anh em khác”(19); đồng thời, khi lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta trao đổi và thông báo về các vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam với lãnh đạo Liên Xô, thì cũng đồng thời thông báo, trao đổi với lãnh đạo Trung Quốc.

Thứ tư, năm 1965, Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta hoan nghênh ý kiến của Liên Xô đề nghị lập Mặt trận thống nhất và lập cầu hàng không để giúp đỡ Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, nhưng khi Trung Quốc không đồng ý, thì ta tạm thời gác vấn đề này lại, đồng thời công khai cải chính những tin tức nói Trung Quốc cản trở hàng viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam quá cảnh qua Trung Quốc. Việt Nam không tiếp nhận công binh Trung Quốc làm đường vào miền Nam, không nhận chuyên gia Trung Quốc bên cạnh Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, thì cũng không tiếp nhận quân tình nguyện và bộ đội phòng không Liên Xô giúp Việt Nam bảo vệ bầu trời.

Một cách tổng quát, trong xử lý quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã kết hợp hài hoà giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa cương và nhu, giữa chiến lược và sách lược, giữa chủ động và sáng tạo, vô cùng linh hoạt trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, từ đó nhận biết, nắm bắt thời điểm để xử lý thành công quan hệ Việt Nam với Liên Xô, Trung Quốc, bảo vệ và thực hiện tốt nhất lợi ích của quốc gia, dân tộc.

3. Nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh và quan hệ bền chặt với Liên Xô, Trung Quốc

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao là một mặt trận quan trọng. Ngoại giao vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật – nghệ thuật của các khả năng, khả năng nắm vững điều có thể, mở rộng giới hạn của điều có thể, thu hẹp giới hạn của điều không thể, ở đó, phong cách, phương pháp, phương cách ngoại giao Hồ Chí Minh trong xử lý quan hệ Việt – Xô – Trung đã đạt đến tầm nghệ thuật.

Trong điều kiện mâu thuẫn Xô – Trung, tăng cường, cũng cố quan hệ hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc vừa là yêu cầu chiến lược, vừa là mục tiêu bất biến của Đảng, Nhà nước ta – mục tiêu đó đạt được bằng nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh. Nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện sự tổng hoà các phương pháp luận, xem xét sự vật theo quan điểm lịch sử, cụ thể, toàn diện, phát triển và sự vận dụng những cái biết: Biết mình, biết người, biết thời thế, biết chừng mực, biết biến đổi, để chủ động tận dụng mọi thời cơ, chọn đúng những công việc, giới hạn cần làm trong mỗi thời điểm lịch sử. Trong xử lý quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã kết hợp hài hoà giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa chiến lược và sách lược, giữa cương và nhu, giữa chủ động và sáng tạo, vô cùng linh hoạt trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, từ đó nhận biết và nắm bắt cơ hội để bảo vệ và thực hiện tốt nhất lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Với nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh, đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin, tinh thần quốc tế vô sản và bằng sự nỗ lực cao độ, Đảng, Nhà nước ta đã giữ gìn tình cảm quốc tế thủy chung, trước sau như một, không ngừng củng cố quan hệ, tranh thủ được Liên Xô, Trung Quốc từng bước đồng tình, đi đến ủng hộ đường lối, mục tiêu, lập trường, quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta, giành cho ta sự giúp đỡ to lớn, quý báu về mọi mặt, đặc biệt là viện trợ quân sự. Liên Xô – nước có nền công nghiệp quốc phòng hùng mạnh đã viện trợ cho Việt Nam ngoài một số vũ khí thông thường, còn phần lớn là những vũ khí hiện đại như máy bay, xe tăng, xe bọc thép, tên lửa, pháo phòng không, pháo binh….Tên lửa “đất đối không” của Liên Xô đã được sử dụng lần đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 24-7-1965 và đã bắn rơi máy bay Mỹ (20). Những năm 1955-1960, Liên Xô đã viện trợ cho ta một khối lượng hàng quân sự là 29.996 tấn (21), gồm hàng hậu cần, vũ khí, trang bị kỹ thuật. Từ năm 1961-1964, Liên Xô gửi sang Việt Nam 47.223 tấn hàng quân sự (22) – số viện trợ quân sự trong một thời gian ngắn đã tăng gần gấp đôi. Trong giai đoạn 1965-1968, khi quan hệ Việt Nam – Liên Xô có bước phát triển đáng kể, số hàng viện trợ quân sự của Liên Xô cũng tăng vọt: 226.969 tấn (23). Trong những năm 1969-1972, mức viện trợ quân sự của Liên Xô cho ta đạt 143.793 tấn (34). Từ năm 1973-1975, Liên Xô chuyển sang Việt Nam 65.601 tấn hàng hậu cần và trang bị vũ khí, kỹ thuật (25).

Trung Quốc cũng đã giành cho nhân dân ta sự ủng hộ, viện trợ quý báu trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá. Tính chung trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, tổng khối lượng viện trợ quốc tế ước tính 2.362.682 tấn, trị giá 7 tỷ rúp (26), thì viện trợ của Trung Quốc chiếm khoảng trên 50% tổng số viện trợ nói trên. Trong lĩnh vực quân sự, Trung Quốc viện trợ cho ta chủ yếu là vũ khí bộ binh, quân trang, quân dụng, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, một phần nhiên liệu, phương tiện vận tải và một số xe quân sự, pháo và đạn pháo, mặc dù trong khoảng thời gian trên, Trung Quốc còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, mức thu nhập bình quân tính theo đầu người còn thấp.

Các con số viện trợ cho thấy, lực lượng đồng minh chiến lược của Việt Nam trong lúc khó khăn, hay thuận lợi chủ yếu đứng về phía ta, kiên định sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế, đã tạo ra cho cuộc kháng chiến của ta một sức mạnh tổng hợp cần và đủ để hạn chế một phần sức mạnh của đế quốc Mỹ, bảo đảm cho nhân dân ta đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn của chúng. Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã hạn chế đến mức thấp nhất tác động tiêu cực của mâu thuẫn Xô-Trung, đánh bại mưu đồ của Mỹ, lợi dụng mâu thuẫn trong hệ thống XHCN, đặc biệt là giữa Liên Xô, Trung Quốc để cô lập và làm suy yếu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Sau này Mỹ phải thừa nhận, một trong những nguyên nhân đưa đến thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam là đã quá tin vào việc thông qua thủ đoạn hoà hoãn tay đôi với Liên Xô và Trung Quốc, lợi dụng bất đồng, đối địch giữa Liên Xô và Trung Quốc, thực hiện “chiến tranh bóp nghẹt” ở Việt Nam. Có lẽ, trong thực tiễn lịch sử, hiếm có trường hợp hai nước đối địch nhau lại cùng cung cấp viện trợ cho một nước thứ ba, như mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc và Liên Xô thời kỳ này. Tài trí ngoại giao Hồ Chí Minh, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh đã làm nên điều kỳ diệu ấy. “Ôn cố tri tân” – Đó là bài học lịch sử, một mẫu mực ngoại giao mà thời kỳ hiện tại, hơn bao giờ hết, cần kế thừa, phát huy và phát triển.


Chú thích:

(1) Biên bản Hội nghị BCH TƯ lần thứ 7 (khoá II), Đơn vị bảo quản 29, Cục lưu trữ Trung ương Đảng.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 10, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 18.
(3) Biên bản họp Bộ Chính trị, tháng 9-1954, Đơn vị bảo quản 92, Cục lưu trữ Trung ương Đảng, tr.28.
(4) Biên bản họp Bộ Chính trị, tháng 9-1954, Sđd, tr.28.
(5) Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr. 127.
(6) Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế, Sđd, tr.127.
(7) Biên bản họp Bộ Chính trị, tháng 3-1966, Đơn vị bảo quản 173, Cục lưu trữ Trung ương Đảng.
(8)Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 490.
(9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 577.
(10) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Sđd, tr. 577.
(11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 287.
(12) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Sđd, tr. 511.
(13) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Sđd, tr. 511.
(14) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Sđd , tr. 511.
(15) Biên bản họp Bộ Chính trị, tháng 3-1966, Đơn vị bảo quản 173, Cục lưu trữ Trung ương Đảng.
(16) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Sđd tr. 319.
(17) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Sđd, tr. 511.
(18)Quan hệ Việt- Xô trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước (7.1954-4.1975), Bản đánh máy, lưu tại Vụ Trung Quốc, Bộ Ngoại giao, tr. 18.
(19) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 10, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 604.
(20])Gaiđuk. V.I (1998), Liên bang Xô-viết và chiến tranh Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, H, 1998, tr.127.
(21) Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Thống kê số liệu viện trợ quốc tế, Hồ sơ 795, sô 15.
(22) Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Sđd.
(23) Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Sđd.
(24) Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Sđd.
(25) Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Sđd..
(26) Chiến tranh cách mạng Việt Nam, thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 601.

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Nguyễn Tất Thành và hành trình tìm đường cứu nước qua nhận định của các học giả nước ngoài

“Hồ Chí Minh là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta. Có thể nói rằng: không có Người, lịch sử có thể đã đi theo một con đường khác. Nhưng lịch sử đã đặt Người vào đúng chỗ của mình mà trong quá trình phát triển đó, Người là nhân vật sáng tạo quyết định” – UNESCO

Đỗ Hoàng Linh
PGĐ Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

Loài người tiến bộ đánh giá rất cao và ngợi ca chủ nghĩa nhân văn đích thực, phong cách sống chuẩn mực, phẩm chất đạo đức cao đẹp Hồ Chí Minh, khi: “Cần phải nhìn nhận thế giới như một quá trình phát triển mà sự thay đổi là cội nguồn của giàu có, tiến bộ và nhằm tìm kiếm ước muốn nhân đạo trong lĩnh vực đạo đức. Vì thế mà những con người như Hồ Chí Minh ngày càng trở nên vĩ đại, vì họ đã cho chúng ta lý do để sống và khả năng để thực hiện những giấc mơ của chính mình”(1). Hơn thế nữa, sự kiện UNESCO tôn vinh Người với danh hiệu cao quý: Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất đã khẳng định:“Hồ Chí Minh là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta. Có thể nói rằng: không có Người, lịch sử có thể đã đi theo một con đường khác. Nhưng lịch sử đã đặt Người vào đúng chỗ của mình mà trong quá trình phát triển đó, Người là nhân vật sáng tạo quyết định” (2).

Trong bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, sự kiện ngày 5/6/1911 không chỉ là một bước ngoặt trong cuộc đời anh thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, mà còn có ý nghĩa lịch sử đối với đất nước và dân tộc Việt Nam. Thời điểm lịch sử, diễn biến sự kiện và kết quả thực tế đã lý giải chính xác quyết định quan trọng, táo bạo và trí tuệ sáng suốt của anh thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành lúc đó, nhưng phân tích về sự kiện xuất ngoại kéo dài ba thập kỷ này, không chỉ có những nhà nghiên cứu, sử gia, học giả trong nước mà rất nhiều tác giả nước ngoài, các nhà nghiên cứu quốc tế đã đưa ra quan điểm, nhận định, suy nghĩ riêng của mình.

William J. Duiker- nhà ngoại giao, giáo sư sử học Đại học Penn State đã viết: “Chỗ ở của Thành ở gần bến Nhà Rồng nơi các con tàu xuyên đại dương thường xuyên lui tới. Thành quyết định tìm việc làm trên một trong những con tàu đó để ra nước ngoài. Ngày 2/6/1911, một anh thanh niên tên là Ba xuất hiện ở cầu tàu Đô đốc Latouche Treville. Thuyền trưởng Louis Eduard Maisen e ngại nhìn khuôn mặt thông minh nhưng thân hình khá mảnh khảnh của anh. Ba quả quyết là việc gì anh cũng làm được và đã thuyết phục được Maisen cho một chân phụ bếp. Ngày hôm sau, anh bắt tay ngay vào công việc rửa bát, giặt quần áo, lau sàn, nhặt rau và đốt lò. Ngày 5/6, Đô đốc Latouche Treville rời Sài gòn ra biển Đông, thẳng tiến tới Singapore lúc đó đang thuộc Anh. Tại sao Nguyễn Tất Thành lại quyết định rời đất nước? Các nhà viết sử ở Hà Nội cũng thường nhắc đến những hồi ức của Hồ Chí Minh về việc rời đất nước như một sứ mệnh cứu nước. Tuy nhiên, không nghi ngờ gì, khi rời Sài gòn tháng 6/1911, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đã hoàn toàn nhận thức được những bất công mà đất nước mình đang phải gánh chịu và trong nước không có lời giải. Biết đâu, anh có thể tìm kiếm được những lời giải ở nước ngoài”(3).

Bernard Fall, nhà văn, nhà báo, giáo sư khoa Quan hệ quốc tế trường Đại học Howard, Washington D.C, người đã hoàn thành luận văn tiến sĩ về Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét rằng: “ Là một nhà hoạt động chính trị hơn là một lý thuyết gia, ông Hồ nhanh chóng bỏ nghề dạy học. Năm 1911, ông đi Sài Gòn theo một vài khoá dạy nghề rồi trở thành phụ bếp trên chiếc tàu buôn của người Pháp. Lúc này ông đổi tên là Ba, có lẽ vì ông là người con thứ ba trong gia đình, nhưng đây chưa phải là lần đổi tên cuối cùng. Bằng việc chọn một tàu biển của Pháp trên tuyến đường châu Âu, ông Hồ đã có một quyết định chính trị cơ bản: ông đã hướng về phương Tây chứ không phải phương Đông. Bởi vì, vào thời kỳ này có một số người Việt Nam nhất là những người dân tộc chủ nghĩa bảo thủ thường nhìn về phía Trung Quốc của Quốc dân đảng để tìm thấy gợi ý, một sự dẫn dắt hoặc hướng về Nhật Bản đang mở rộng bành trướng, những nhà lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa như Phan Bội Châu đã thành lập phong trào Đông Du, tức là đi về phía Đông- một phong trào có nhiều người Việt Nam trẻ tuổi noi theo trong vòng hơn 20 năm” (4).

David Halberstam, phóng viên chiến trường, nhà văn, nhà báo Mỹ suy nghĩ về bản chất sự kiện Nguyễn Tất Thành sang phương Tây năm 1911 như sau: “Ông Hồ không theo Phan Bội Châu sang Nhật, nhưng ông đã nghe rất kỹ một lời khuyên của người ái quốc lão thành: để chống Pháp thành công cần phải có một đảng phái vững mạnh, một tổ chức theo đúng nghĩa của nó… Ông nghĩ có thể học được rất nhiều điều qua những cuộc viễn du ở thế giới bên ngoài hơn là ngồi học trong khuôn khổ do người Pháp tạo ra. Sau khi dừng chân tại làng chài Phan Thiết, ông quyết định rời Việt Nam đi sang phương Tây để nghiên cứu thế giới của người châu Âu. Sau này, những người Pháp, Mỹ khá bối rối không hiểu tại sao ông Hồ sau khi trải qua nhiều năm tháng ở nước ngoài lại có thể quay về và ngay lập tức nắm quyền lực chính trị tại Việt Nam? Nguyên nhân bởi thời điểm rời Việt Nam lúc đó rất thích hợp vì hai từ tự do không chỉ một người ra đi mong muốn mà tất cả đồng bào của ông đều đang khao khát”(5)

Sử gia người Đức Hellmut Kapfenberger có cách lý giải riêng; “Trên bến cảng có con tàu Amiral Latouche Treville của công ty Chargeurs Reunis. Một chàng thanh niên gày gò bước lên con tàu hơi nước này tự giới thiệu tên mình là Ba với những người Việt ở trên tàu. Nguyễn Tất Thành đã bắt đầu dùng bí danh lần đầu tiên mà sau này trở thành tên anh trong một vài năm. Bởi bộ máy của cơ quan an ninh Pháp ở Đông Dương biết rõ ràng không chỉ về Nguyễn Sinh Sắc mà còn về các con ông, nên ta có thể giải thích cho chuyện này: đi sang Pháp, chàng thanh niên muốn đánh lạc hướng của các cảnh sát mật, để có thể có một khoảng thời gian tự do không bị sách nhiễu. Một trong ý nghĩa của việc đổi tên theo đạo Nho có thể hiểu anh chọn tên đơn giản để không làm tổn hại đến thanh danh của gia đình, do phải làm công việc thấp kém trên một con tàu. Vài năm sau đó, người ta biết rằng quả thật anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đã từng là đối tượng theo dõi của mật thám Pháp tại quê hương mình”(6)

Phóng viên tạp chí Người New York, nhà nghiên cứu chuyên về châu Á Robert Sharplen phân tích theo khía cạnh khá đơn giản: “Ông Hồ là một người trung thành với lý thuyết của Đảng, một người tuân thủ kỷ luật nhưng cũng là người quốc gia chủ nghĩa, nhiệt thành và tự tin… Năm 1911, sau khi theo học trường trung học Huế, Hồ Chí Minh đã rời bỏ quê hương, xuống làm bồi bếp trên một chiếc tàu thuỷ đi sang Pháp. Trong ba năm tiếp theo, ông đi vòng quanh thế giới, làm nhiệm vụ của người phụ bếp và dành thời gian rảnh rỗi để đọc bất cứ cuốn sách nào có trong tay, từ Shakespeare, Tolstol cho tới Marx. Thời gian đi ngao du khắp nơi đã giúp ông phát triển tài năng ngôn ngữ đặc biệt của mình. Ông nói được tiếng Pháp, Anh, Nga, Đức, Thái và ba thổ ngữ Trung Quốc”(7). Tổng biên tập tạp chí Triển vọng Việt Nam của Pháp Dominique de Miscault liên tưởng và so sánh: “Vào năm 1911, Nguyễn Tất thành rời khỏi Sài Gòn. Nước mất nhà tan, Người chọn cuộc sống lưu vong, bôn ba nơi xứ người để tìm con đường cứu nước. Nguyễn Tất Thành lên tàu sang Pháp, mang theo bức thư xin vào học ở các trường thuộc địa, gửi tới Tổng thống cộng hoà và Bộ thuộc địa. Đối với người dân Pháp chúng tôi, cử chỉ này phản ánh một chủ nghĩa lý tưởng và sự mạo hiểm ngoài sức tưởng tượng!”(8)

Nhà nghiên cứu người Pháp Daniel Hémery lại cho rằng tình cảm gia đình chiếm phần chủ đạo trong lý do xuất ngoại: “Về phần mình, Nguyễn Tất Thành dường như đã bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa cải lương của Phan Chu Trinh hơn là sự bạo động được thể hiện một cách kiềm chế trong Đông Du. Việc tham gia vào các hoạt động của trường Dục Thanh mà Phan Chu Trinh lập ra khi qua Phan Thiết và nhất là ở quyết định sang Pháp của anh theo gương nhà nho lớn này… Việc lên đường sang Pháp hẳn có một lý do kép: tình cảm của lòng hiếu thảo, niềm hy vọng rằng ở đó có thể thực hiện được sự phục quyền cho cha mình. Chẳng phải ông Phan Chu Trinh đã thoát khỏi Côn Đảo nhờ hành động của Hội nhân quyền Đông Dương đó sao? Và cũng là kiên trì với ước muốn được hoà nhập vào tầng lớp tinh hoa mới, tận dụng điều kiện tốt bên ngoài mà người chịu trách nhiệm công cuộc khai thác thuộc địa như Albert Sarraut đã bộc lộ với những người theo cải cách”(9). Epghenhi Kobelep, nhà sử học người Nga lại tìm cách giải đoán bằng chiều sâu tri thức thông qua một nhân vật trung gian khác: “Nếu nhiều thanh niên cùng tuổi với Thành được Phan Bội Châu hướng về phương Đông, về nước Nhật, coi nước Nhật là hình mẫu của nước Việt Nam độc lập trong tương lai thì Thành lại hướng về một thế giới khác… Chắc hẳn ý tưởng đó lần đầu tiên nảy sinh ở Thành khi anh đọc các tác phẩm của Russo. Qua tác phẩm của ông, Thành được biết chàng thanh niên Russo trước khi trở thành nhà khai sáng vĩ đại đã có tới 10 năm lưu lạc trên các nẻo đường châu Âu. Vậy là ông đã học được nhiều ở một ngành khoa học quan trọng và cũng khó khăn nhất: khoa học cuộc sống. Rồi chính cuộc sống cũng như thế giới bất bình đẳng, đau khổ, nghèo đói xung quanh đã giúp ông sau này trở thành người đề xướng những tư tưởng cao quý về tự do, bình đẳng, bác ái và trở thành sứ giả của đại cách mạng Pháp”(10). Còn Lady Borton, nữ tác giả chuyên viết về Việt Nam của Đại học Ohio nói ngắn gọn: “Thế hệ những nhà yêu nước điển hình như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đã tìm sự phản kháng thông qua học bổng và quản lý nhà nước. Thế hệ kế cận tiêu biểu là Hồ Chí Minh nhận thấy rằng muốn lật đổ người Pháp cần phải tổ chức lực lượng vững mạnh. Mặc dù Phan Bội Châu đã mời Hồ Chí Minh tham gia phong trào Đông Du nhưng Hồ Chí Minh đã chọn Tây Du để thâm nhập vào trung tâm quyền lực của chủ nghĩa thực dân. Và năm 21 tuổi, Người rời Việt Nam”(11).

Giáo sư sử học Josephine Stenson trường Đại học Florida Atlantis, người đã tự bỏ kinh phí đi khắp thế giới theo dấu chân hành trình của Nguyễn Ái Quốc để kiểm chứng lại lịch sử thì nhận định: “Chính từ việc biết đến câu châm ngôn của cách mạng Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái mà Hồ Chí Minh quyết định rời Việt Nam đi tìm hiểu những thực tế khác và nguồn gốc triết học của câu châm ngôn đó. Bởi vậy, tháng 6/1911, Hồ Chí Minh xin vào làm thuỷ thủ trên con tàu biển La Touche Treville như một người phục vụ trên tàu”(12). Miguel De Stephano, giáo sư Viện nghiên cứu châu Á của Cuba viết: “Khi còn là một thanh niên rất trẻ, Nguyễn Tất Thành đã phải rời Tổ quốc, hoà nhập vào thế giới để tìm hiểu con quỷ thực dân ngay trong sào huyệt của nó. Người tin tưởng sâu sắc là sẽ tìm thấy con đường xoá bỏ nghèo đói mà dân tộc mình đang phải chịu đựng”(13). Cốc Nguyên Dương, chuyên viên Viện khoa học xã hội Trung Quốc đưa ra một góc nhìn rộng hơn: “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết tâm rời Tổ quốc thân yêu, bôn ba khắp năm châu, bốn bể để đi tìm chân lý cách mạng và con đường cứu nước cứu dân. Hình bóng và dấu chân Người đã lưu lại từ châu Âu, châu Phi đến châu Á và châu Mỹ Latinh. Dù đi tới đâu, Người đều cùng sống với quần chúng lao khổ, nhóm lên ngọn lửa cách mạng ở đó”(14).

Không chỉ những nhà nghiên cứu lịch sử, nhà văn, nhà báo hay phóng viên chuyên nghiệp bày tỏ nhận định, hiểu biết của mình về cuộc đời, sự nghiệp và những mốc thời gian quan trọng trong quá trình hoạt động của Hồ Chí Minh mà ngay cả những người lính, cựu chiến binh từng đến Việt Nam cũng dành một phần ghi chép từ cuộc chiến tranh một số suy nghĩ về một đối thủ lớn đáng kính, người lãnh đạo cuộc kháng chiến của Việt Nam, Ngài Hồ Chí Minh. Nếu như Jean Sainteny, sĩ quan tình báo, đại diện Chính phủ Pháp đàm phán với Việt Nam giai đoạn 1945- 1946 nói lướt qua sự kiện này trong hồi ký: “Nguyễn Văn Thành, tức Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Sinh Cung, Lý Thuỵ rồi từ 1944 là Hồ Chí Minh xuống tàu Latouche Treville làm bồi bếp khởi đầu một cuộc hành trình dài đến Mỹ, Anh, Đức rồi Paris là nơi ông định cư ở đó. Ông làm rất nhiều nghề, đặc biệt là nghề thợ ảnh. Đó là những cách để ông kiếm sống và để có điều kiện say sưa tham gia các vấn đề chính trị”(15). Dixee Batholomew Feis, chỉ huy cao nhất của tổ chức tình báo chiến lược OSS năm 1945 (tiền thân của CIA) đặt vấn đề một cách thẳng thắn: “Sinh năm 1890 tại Nghệ An, một tỉnh có truyền thống cách mạng, phần lớn thời trai trẻ Hồ Chí Minh bôn ba năm châu bốn biển, phải làm đủ nghề lặt vặt và thử nghiệm một loạt triết lý chính trị. Ngày 5/6/1911, Thành rời Việt Nam với mục đích khám phá thế giới bên ngoài sự thống trị của thực dân Pháp bằng cách nhận việc làm trên một con tàu Pháp”(16). Tuy có sai sót về lịch sử, nhầm lẫn về cả không gian, thời gian nhưng viên sĩ quan tình báo Mỹ Archimedes Patty vẫn mạnh dạn cho rằng: “Trong những năm sau khi mẹ ông mất vào khoảng 1900, ông Hồ không chịu đựng nổi sự kiêu ngạo của người Pháp cũng như thái độ thụ động của người Việt nên đã quyết định sang Pháp, đất nước của tự do, bình đẳng, bác ái. Mùa đông năm 1911- 1912, ông đã xin làm nhân viên trên một tàu buôn Pháp ở bến Sài Gòn”(17).

Như vậy, qua một số ý kiến, nhận định của các học giả, tác giả nước ngoài, chúng ta có thể thấy với nhiều nguyên nhân khác nhau được phân tích, sự kiện xuất ngoại của anh thanh niên Nguyễn Tất Thành chỉ hướng tới một mục đích duy nhất: vì đất nước, vì dân tộc. Và chính Nguyễn Tất Thành hay Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này trong những lần tiếp các nhà báo nước ngoài cũng đã nói rõ về quyết định ra đi này của mình. Trả lời những câu hỏi của phóng viên Mỹ Koei Tche năm 1919: “Anh đến Pháp với mục đích gì?” “Để đòi quyền tự do cho dân An Nam!”. “Bằng cách nào?”. “Bằng cách làm việc hết mình và luôn xông xáo tiến lên!”(18). Trả lời nhà báo Liên Xô Oxip Mandenstam năm 1923, Người nói: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: tự do- bình đẳng- bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thủa ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy. Vậy thì phải làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài”(19). Trả lời phỏng vấn của phóng viên Italy Giovani Germaneto năm 1924, Người nói: “Trước đây tôi có đọc một số tờ báo phát hành sang nước tôi, một vài tờ có tính chống đối ở An Nam, có những người lính lê dương do Poincare gửi sang để cải huấn. Những người lính lê dương này đọc đủ thứ. Họ là những kẻ chống đối về bản chất. Họ cho tôi đọc các báo Pháp. Vì thế tôi nảy ra ý muốn sang xem mẫu quốc ra sao và tôi đã tới Paris”(20). Trả lời nhà văn Mỹ Anna Lui Strong năm 1965, Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”(21).

Nhµ văn Australia Allan Asbolt nhận định: “Một trong những nét nổi bật về cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người đã sống nhiều năm ở nước ngoài – ở châu Âu, Anh, Liên Xô, Mỹ và Trung Quốc. Người không bao giờ có tham vọng cá nhân, phù phiếm; Người không cố công để trở thành một nhân vật xuất chúng, theo ngôn ngữ của các xã hội tư bản. Người dành thời gian chủ yếu cho việc nghiên cứu và học hỏi, nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong thực tế có phần dựa vào kinh nghiệm hằng ngày của bản thân trong giai cấp công nhân. Người luôn luôn suy nghĩ làm thế nào để giải phóng nhân dân nước mình khỏi ách đô hộ và bóc lột thực dân. Người cũng nhận thức sâu sắc rằng cần phải kết hợp sức chiến đấu của ý thức dân tộc Việt Nam đang trỗi dậy với những mục tiêu đồng cảm về cơ bản là hoà bình và nhân đạo của chủ nghĩa xã hội. Trong gần ba thập kỷ, Người đã sống và làm việc ở nước ngoài nhưng về ý thức, Người không hề xa Tổ quốc”(22).

Sự thật là Chân lý. Trong cuéc viÔn du 30 n¨m qua 29 quốc gia và vùng lãnh thổ, Nguyễn Tất Thành -Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc phù hợp với tiến bộ của lịch sử, theo đúng xu thế vận động của cách mạng thế giới. Và sự kiện này đã thêm một lần nữa khẳng định: “Hiếm người châu Á nào lại đóng một vai trò quan trọng như vậy trong việc tạo dựng một dân tộc mới như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khó có thể có được một người châu Á khác như Người ở thời đại của chúng ta cũng như trong các thế hệ mai sau. Người thực sự là một người châu Á của tất cả các thời đại với ý nghĩa đầy đủ nhất”(23)./


Chú thích:

1, Giá trị tư tưởng của Hồ Chí Minh trong thời đại hiện nay. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1990, tr 104
2, Chủ tịch Hồ Chí Minh- Anh hùng giải phóng dân tộc- nhà văn hoá lớn. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1990, tr 152
3, Ho Chi Minh- A life. Hyperion House, New York 2000.
4, Những suy nghĩ cuối cùng về một cuộc chiến tranh. Nxb Công an nhân dân 2004, tr 87- 88
5, Ho. Random House, New York 1971, tr 24-25
6, Hồ Chí Minh- một biên niên sử. Nxb Thế Giới 2010, tr 28
7, Anatomy of a conflict. Peacock Publisher Itasca, Illinois 1968
8, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay. Nxb Chính trị- Hành chính 2010, tr 718
9, Hồ Chí Minh- từ Đông Dương đến Việt Nam. Nxb Phụ nữ 2004, tr 23- 96
10, Đồng chí Hồ Chí Minh. Nxb Thanh Niên 2000, tr 49
11, Ho Chi Minh- a journey. Nxb Thế Giới 2010, tr 21
12, Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh của UNESCO và Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội Hà Nội 1990, tr 184
13, Sđd nt, tr 49
14, Sđd nt, tr 141
15, Câu chuyện về một nền hoà bình bị bỏ lỡ. Nxb CAND 2003, tr 221
16, OSS và Hồ Chí Minh- đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật. Nxb Thế Giới 2007, tr 15- 33
17, Tại sao Việt Nam. Nxb Đà Nẵng 2000, tr 705
18, Hồ Chí Minh. Biên niên tiểu sử. Nxb CTQG 2006. Tập I, tr 69
19, Bác Hồ sống mãi với chúng ta. Nxb Chính trị quốc gia 2005. Tập II, tr 1147
20, Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb CTQG 2000. Tập I, tr 480
21, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử. Nxb CTQG 2006. Tập I, tr 41
22, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Uỷ ban quốc gia UNESCO của Việt Nam, Hội thảo quốc tế Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1995, tr. 177-183
23, Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại. Nxb Lao Động 2001, tr 90

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan hệ đặc biệt Lào-Việt

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Kaysone Phomvihane (tháng 2-1966).

“Lào và Việt Nam là hai nước láng giềng, cùng sống chung trên bán đảo Đông Dương, núi liền núi, sông liền sông, cùng uống chung dòng nước Mekong, cùng dựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ và có mối quan hệ gắn bó với nhau từ lâu đời để cùng đấu tranh chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Những đặc điểm, hoàn cảnh đó đã gắn kết hai nước chúng ta lại với nhau thành một khối thống nhất, gắn bó chặt chẽ, cùng chia sẻ ngọt bùi và đồng cam cộng khổ với nhau trong suốt thời gian qua và đến tận ngày nay.

Ngay từ năm 1921, khi truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin trong phong trào giải phóng “Các dân tộc thuộc địa,” các dân tộc bị áp bức Á Đông, Nguyễn Ái Quốc đã bền bỉ tố cáo chế độ thực dân Pháp và đã mô tả nỗi khổ chung của nhân dân Lào và nhân dân Việt Nam trong chế độ bắt phu đi làm tạp dịch, làm đường tại Đông Dương thuộc Pháp.

Chế độ tạp dịch thường xuyên cùng với chế độ trưng tập phu làm đường làm cho nhân dân Lào khốn khổ, sống trong cảnh luôn luôn nơm nớp lo sợ… điều đáng chú ý là chế độ bắt phu làm đường của thực dân Pháp vô cùng hà khắc: chúng không hề phân biệt ai là Việt, ai là Lào, mà chỉ coi là dân Đông Dương thuộc Pháp; nếu trốn đi phu hay nổi dậy chống lại đều bị bắn chết, những ai ốm đau đều phải gửi xác lại nơi “rừng xanh núi đỏ.”

Trên các đoạn đường xuyên Đông Dương đều có xác phu Việt bên cạnh xác phu Lào. Đó là những con đường được gọi là đường Lào-Việt hoặc đường Việt-Lào, nối liền bờ Biển Đông của Việt Nam đến tận bờ sông Mekong, từ Tây Bắc Việt Nam đến Bắc và Đông Bắc Lào. Người viết: “ở Luang Prabang nhiều phụ nữ nghèo khổ thảm thương phải mang xiềng đi quét đường chỉ vì một tội không nộp nổi thuế.”

Không cam chịu ách nô lệ, từ đầu thế kỷ 20, nhân dân hai nước Lào-ViệtNam đã đoàn kết, cùng nhau đấu tranh chống Pháp. Đó là các cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Nam Lào dưới sự lãnh đạo của Ông Kẹo (1901), ông Kômmađăm (1907-1937); cuộc khởi nghĩa ở miền Bắc, từ Mường Thanh, Sơn La, Lai Châu của Việt Nam đến Houaphan, Xieng Khoang do Chạuphạ Pắtchay lãnh đạo (1918-1922).

Như vậy, trước 1930, đã xuất hiện đoàn kết Lào-Việt cùng chiến đấu chống kẻ thù chung, nhưng lúc đó chỉ dừng lại ở tính chất tự phát do hạn chế về trình độ nhận thức và điều kiện lịch sử. Nhưng tình đoàn kết đó đã được phát triển mạnh mẽ và liên tục từ khi có chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, đặc biệt là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng của hai dân tộc Lào-Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng tình đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt-Lào, đó vừa là nghĩa vụ quốc tế, vừa là lợi ích sống còn của mỗi nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm chú theo dõi và dìu dắt, giúp đỡ phong trào cách mạng ở Lào với tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”. Trong tư tưởng chỉ đạo và hoạt động thực tiễn, Người luôn luôn phát huy cao độ tính độc lập và chủ động của đồng bào các bộ tộc Lào.

Từ khi mới ra đời, tại Hội nghị Trung ương tháng 10-1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã xác định đường lối cách mạng của ba nước Đông Dương: ba nước đều là thuộc địa của Pháp… nên cần đoàn kết chống ách thống trị của bọn thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc…

Sau Hội nghị, thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một số đảng viên của Đảng từ Việt Nam và Thái Lan đã sang hoạt động xây dựng cơ sở cách mạng ở Lào, một số chi bộ cộng sản đã được thành lập ở Savannakhet, Thakhek, Vientiane, và đến tháng 9-1934 Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đã được thành lập tại Lào, chịu trách nhiệm lãnh đạo phong trào cách mạng Lào. Đó là những mốc son lịch sử trong quan hệ Lào-ViệtNam; cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân hai nước gắn bó với nhau và ngày càng phát triển trong tình đoàn kết chiến đấu và tạo nên cơ sở cho tình đoàn kết đặc biệt giữa hai Đảng và hai nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn gắn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản; luôn nhận thức sâu sắc mối quan hệ mật thiết cách mạng hai nước Lào-Việt Nam, nuôi dưỡng và phát huy sáng tạo sức mạnh chung của nhân dân hai nước để cùng tiến hành thắng lợi Cách mạng Tháng Tám ở Lào cũng như thắng lợi Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam, giành độc lập cho nhân dân mỗi nước năm 1945.

Ngày 2-9-1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời

Ngày 12-10-1945 tại Thủ đô Vientiane, Chính phủ lâm thời Lào Itsala được thành lập, thông qua Hiến pháp và tuyên bố nền độc lập trước thế giới. Ngày 14-10-1945, Việt Nam là nước đầu tiên gửi điện chúc mừng và tuyên bố thừa nhận Chính phủ Lào độc lập và ngày 30-10-1945, hai nước đã ký Hiệp ước Hợp tác tương trợ Việt-Lào. Với Hiệp ước này, quan hệ Việt-Lào đã chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn phát triển quan hệ đoàn kết giữa hai dân tộc anh em không chỉ trong quan hệ giữa nhân dân hai nước, mà còn trên tầm quan hệ gắn bó giữa hai nhà nước.

Chủ tịch Souphanouvong đã khái quát ý nghĩa trọng đại của sự kiện này: “Quan hệ LÀO-VIỆT từ nay sẽ mở ra một kỷ nguyên mới,” kỷ nguyên của mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Lào-ViệtNam giúp đỡ nhau vì mục tiêu chung của hai dân tộc. Cũng ngày 30-10-1945, Chính phủ hai nước quyết định thành lập Liên quân Lào-ViệtNam.

Thắng lợi đó dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương là thắng lợi của nhân dân hai nước cùng chung lý tưởng, cùng chung mục tiêu, đoàn kết gắn bó với nhau, cùng đấu tranh giành thắng lợi. Đó là bài học lịch sử đầu tiên vô cùng quý giá trong lịch sử cách mạng giải phóng của hai dân tộc anh em.

Sau ngày tuyên bố độc lập không được bao lâu, thì năm 1946 thực dân Pháp lại trở lại xâm lược hai nước Lào, Việt Nam lần thứ hai và hai dân tộc lập tức cùng sát cánh bên nhau chống ngoại xâm.

Trước tình hình đó, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương: cần phải xây dựng ở Việt Nam, Lào và Miên từng Đảng cách mạng thích hợp để lãnh đạo phong trào cách mạng và công cuộc kháng chiến thắng lợi; để đẩy mạnh cuộc kháng chiến ở Lào thì phải xây dựng tại đây một vùng căn cứ địa của cả nước, nơi tập trung các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Mặt trận và tổ chức bộ máy lãnh đạo công cuộc cách mạng; trên cơ sở lực lượng đã có tích cực xây dựng phát triển lực lượng vũ trang, trong đó có Quân đội quốc gia Lào.

Thực hiện chủ trương trên, Sam Nua (Houaphan) đã được chọn để xây dựng căn cứ địa trung ương của cách mạng Lào. Sau một quá trình chuẩn bị, ngày 20-1-1949 Quân đội Lào Itsala được thành lập, do đồng chí Kaysone Phomvihane trực tiếp chỉ huy. Ngày 13-8-1950 thành lập Mặt trận “Neo Lào Itsala” và thành lập “Chính phủ kháng chiến Lào,” Hoàng thân Souphanouvong được cử làm Chủ tịch Mặt trận kiêm Thủ tướng Chính phủ.

Ngày 11-3-1951, Hội nghị nhân dân ba nước Việt-Miên-Lào thành lập Mặt trận Liên minh nhân dân Việt-Miên-Lào, đề ra những nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Đông Dương là đánh đuổi thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, làm cho ba nước hoàn toàn độc lập. Tháng 9-1952, tại Hội nghị cán bộ Mặt trận Liên minh nhân dân Việt-Miên-Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Việt Nam đoàn kết chặt chẽ, Lào đoàn kết chặt chẽ, Miên đoàn kết chặt chẽ, cả ba nước đoàn kết chặt chẽ thì nhất định sẽ đánh tan bọn xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, giành độc lập, tự do cho mỗi nước.

Những sự kiện lớn đó là những bước đi quan trọng của cuộc đấu tranh cách mạng Lào, phối hợp cùng đấu tranh, cùng đoàn kết với nhân dân Việt Nam chiến đấu giành thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử 1954, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Geneva công nhận nền độc lập, tự do của ba nước Đông Dương.

Bằng việc xây dựng hệ thống quan điểm và chỉ đạo thực tiễn thực hiện liên minh đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa Việt Nam và Lào, cũng như sự quan tâm, phát hiện và xây dựng nhân tố bên trong cho cách mạng Lào, đã dẫn tới việc thành lập Đảng Nhân dân Lào ngày 22-3-1955, sau này là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (tháng 2-1972), Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh thật sự đã đặt nền móng cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào.

Đó là mối quan hệ vừa bảo đảm lợi ích dân tộc, vừa bảo đảm kết hợp hài hòa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, để cùng hướng tới mục tiêu chung là giải phóng dân tộc và tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa.

Đúng như Chủ tịch Kaysone Phomvihane đánh giá: “Năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương do đồng chí Hồ chí Minh sáng lập đã ra đời, là bước ngoặt lịch sử của cách mạng ba nước Đông Dương. Từ đó trở đi, dưới sự lãnh đạo của Đảng Mác-Lênin chân chính và với ngọn cờ cách mạng dân tộc, dân chủ cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân các bộ tộc Lào đã bước vào thời kỳ mới và với chất lượng mới hoàn toàn.”

Điều đó càng chứng tỏ, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đóng góp về lý luận, đường lối, phương hướng cách mạng mà Người còn quan tâm đến cả việc tổ chức, chỉ đạo thực tiễn cách mạng Lào. Trong điếu văn đọc tại Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức ngày 5-9-1969 tại Sam Neua, vùng giải phóng Lào, Tổng bí thư Đảng Nhân dân Lào nói: “Đối với cách mạng Lào chúng ta, đồng chí Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm chỉ đạo cho Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương tại Lào trước đây, cũng như sau này cho Đảng Nhân dân Lào khi Đảng đã được thành lập.”

Chủ tịch trực tiếp giúp cho chúng ta những ý kiến quan trọng về chiến lược, sách lược, về phương thức hoạt động. Nhờ đó mà trong tình thế vô cùng gay go gian khổ, Đảng đã ra sức vận động quần chúng, tổ chức và lãnh đạo nhân dân Lào đứng lên làm Cách mạng Tháng Tám thành công giành chính quyền về tay mình, tuyên bố nền độc lập của Lào ngày 12-10-1945. Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tận tình cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân ta…

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý hướng dẫn việc chuyển hướng trọng tâm hoạt động trong từng thời kỳ, xây dựng cơ sở nhân dân, phát động quần chúng nông dân, xây dựng các khu căn cứ kháng chiến, xây dựng lực lương vũ trang cách mạng, mở rộng mặt trận thống nhất, xây dựng Đảng Mác-Lênin chân chính…

Trong các cuộc đấu tranh để thành lập Chính phủ liên hiệp dân tộc có lực lượng cách mạng Lào tham gia, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ân cần dặn dò: vào hòa hợp là thắng lợi về sách lược, vấn đề chủ yếu quan trọng, có ý nghĩa chiến lược là phải quan tâm củng cố và phát triển lực lượng cách mạng để sẵn sàng đối phó với mọi tình huống, không ngừng đưa cách mạng tiến lên.”

Thấm nhuần chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Nhân dân Lào (Đảng Nhân dân Cách mạng Lào) đã lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Lào phát triển mạnh mẽ, giành những thắng lợi ngày càng to lớn và tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975.

Sự nghiệp cách mạng của hai nước Lào-Việt Nam có mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau một cách đặc biệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rõ điều đó và thường xuyên căn dặn: “Cách mạng Lào không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Việt Nam và cách mạng Việt Nam cũng không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Lào.”

Với quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu Việt Nam-Lào, với thiện chí chân tình, thông cảm nhau sâu sắc trên tình đồng chí anh em, giúp bạn là tự giúp mình, Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã cử hàng chục vạn con em yêu quý của mình sang công tác và phối hợp với quân và dân Lào chiến đấu tại các chiến trường của Lào, máu của biết bao anh hùng, liệt sĩ Việt Nam hòa quyện với máu của quân và dân Lào để đem lại thắng lợi vẻ vang cho hai dân tộc.

Cũng với tình cảm đặc biệt, Đảng, Chính phủ và nhân dân Lào đã dành phần đất của mình để giúp Việt Nam xây dựng “Đường Hồ Chí Minh,” “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,” giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975 và tạo điều kiện cho cách mạng Lào giành thắng lợi hoàn toàn và thiết lập nên nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ngày 2-12-1975.

Thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử trọng đại đó là minh chứng hùng hồn cho tình hữu nghị đoàn kết đặc biệt, thủy chung, trong sáng và khẳng định lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việt Nam kháng chiến có thành công, thì kháng chiến Miên, Lào mới thắng lợi; và kháng chiến Miên, Lào có thắng lợi, thì kháng chiến Việt Nam mới hoàn toàn thắng lợi.”

Tình hữu nghị và đoàn kết đặc biệt Lào-Việt Nam là kết quả của việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin của Đảng Công sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và Lào, là một trong những thành quả cách mạng của hai dân tộc, do nhân dân hai nước cùng nhau xây dựng nên và được xây đắp bằng công sức, xương máu của nhân dân hai nước. Đó là di sản vô cùng quý giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta.

Kế thừa di sản quý báu của Chủ tịch Hồ chí Minh, từ sau ngày hai nước được hoàn toàn giải phóng, quan hệ hai nước bước vào giai đoạn mới chặt chẽ hơn, toàn diện hơn, giúp nhau khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh, xây dựng đất nước hoà bình, độc lập, dân chủ với nền kinh tế, văn hóa, khoa học phát triển, giữ vững quốc phòng-an ninh, làm thất bại âm mưu bao vây cấm vận, phá hoại của các thế lực thù địch.

Ngày 18-7-1977, Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam-Lào được ký kết, là cơ sở pháp lý quan trọng, đánh dấu mốc phát triển mới của mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước, nhằm khai thác tiền năng, thế mạnh bảo đảm cho sự nghiệp xây dựng phát triển và bảo vệ đất nước của mỗi nước.

Trải qua hơn 30 năm thực hiện, nhất là từ khi hai nước thực hiện công cuộc đổi mới, trong tình hình hội nhập với nhiều biến động, nhiều khó khăn và thách thức do tác động của tình hình thế giới và khu vực, nhưng với truyền thống tốt đẹp của mối quan hệ đặc biệt và dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam, quan hệ giữa hai nước ngày càng được tăng cường, mở rộng và nhất định sẽ giành được những thắng lợi to lớn hơn, chất lượng và hiệu quả cao hơn, thiết thực góp phần vun đắp cho mối quan hệ hữu nghị đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện Lào-Việt Nam mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững như câu thơ bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Thương nhau mấy núi cũng trèo,

Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.

Việt-Lào hai nước chúng ta,

Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”

Chủ tịch Kaysone Phomvihane cũng đã khẳng định: “Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng tình đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam-Lào mãi mãi bền vững.”

Trong suốt cuộc hành trình lịch sử này, Đảng, Chính phủ và nhân dân Lào chúng tôi mãi mãi ghi nhớ công ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam. Chúng tôi nguyện cùng với nhân dân Việt Nam tiếp tục tăng cường củng cố và vun đắp tình hữu nghị giữa hai nước; tăng cường tuyên truyền giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, cho thế hệ trẻ hiểu biết sâu sắc và bảo vệ, phát triển mối quan hệ hữu nghị đặc biệt đó, vì quan hệ hữu nghị đặc biệt Lào-Việt Nam mãi mãi là tài sản vô giá, là hành trang không thể thiếu của hai dân tộc trên con đường xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

(Nguồn:TTXVN)

xaydungdang.org.vn

Bác Hồ trong ký ức của nhà báo Nga

May mắn được ba lần gặp Bác Hồ vào các năm 1961, 1964 và 1969 tại Hà Nội, nhà báo Nga Sergey Afonin thực sự ấn tượng với sự thông thái, nắm vững tình hình thế giới, trân trọng Lenin và Cách mạng tháng Mười Nga của Người.

>> Hồi ức về bức ảnh chụp cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh
>> Ký ức đẹp soi sáng cả cuộc đời

Nhân Kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đất Việt trân trọng giới thiệu bài viết của nhà báo Nga Sergey Afonin.

Nhà báo Sergey Afonin, sinh năm 1939 tại Kiev, Ucraina, tốt nghiệp Khoa tiếng Việt, Viện ngôn ngữ phương Đông,  Đại học tổng hợp quốc gia Moskva. Ông là phóng viên thường trú Hãng thông tấn Itar Tass và báo Sự thật đoàn viên tại Việt Nam từ năm 1967 – 1971.

Cũng như nhân dân Việt Nam vô cùng yêu mến người con huyền thoại của mình, nhân dân Nga ghi nhớ và kính trọng Bác Hồ – người bạn lớn của Liên Xô và của nước Nga. Tôi là người tận mắt chứng kiến lời kêu gọi “Nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quí hơn độc lập tự do!” của Bác Hồ tháng 6/1966 trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước cổ vũ nhân dân Việt Nam đạt được những chiến công rực rỡ trong chiến đấu cũng như trong lao động. Đối với tôi, Lời Di chúc của Hồ Chí Minh là một trong những tài liệu quan trọng nhất chứng minh rõ tư duy triết học của Người, tình yêu vô bờ bến đối với đồng bào, niềm tin không gì lay chuyển nổi vào thắng lợi cuối cùng của cuộc cách mạng, tính lạc quan và niềm tin vào bạn bè trên thế giới.

Nhà báo Sergey Afonin. Ảnh do ông Afonin cung cấp

Tiếp xúc với người dân trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ở Việt Nam, tôi cảm nhận được tình yêu và sự kính trọng từ trong lòng mình của toàn thể nhân dân Việt Nam đối với lãnh tụ của mình. bất chấp những lời vu khống và bịa đặt, hình ảnh gần gũi và giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ mãi là tấm gương mẫu mực cho tất cả những ai có thiện chí trên thế giới này. Chỉ cần tập hợp tất cả những hồi ký, bài viết về Hồ Chí Minh của mọi tầng lớp trong xã hội Việt Nam cũng như của nhân loại tiến bộ yêu hòa bình trên toàn thế giới, tôi chắc rằng đó sẽ là một thư viện khổng lồ và chân thực nhất về Người. Tôi và Tiến sỹ sử học Nga Evgheny Kobelev đã viết hai cuốn sách về Hồ Chí Minh, đọc hầu hết những tác phẩm của Người và những hồi ký về lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Suốt hơn 50 năm qua, cuộc đời tôi đã gắn liền với Việt Nam, vì vậy, tất cả những gì liên quan đến đất nước này, đến nhân dân Việt Nam anh hùng, lịch sử hiện tại và tương lai của Việt Nam đều khiến tôi quan tâm. Việt Nam đã trở thành một nước độc lập, tự do, thống nhất, hòa bình, ổn định, đi theo con đường dân chủ và phồn vinh, đúng như ước nguyện của Hồ Chủ tịch. Điều đó đã khiến tất cả những người bạn của nhân dân Việt Nam, trong đó có tôi cảm thấy vui mừng.

Nhiều hoạt động kỷ niệm Ngày sinh nhật Bác

Sáng 18/5, nhân Kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại (19/5/1890 – 19/5/2011), Đoàn đại biểu BCH TƯ Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, UBTƯ MTTQ Việt Nam đã đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dự lễ viếng có Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm, Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang, cùng các vị nguyên là lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước.

Cùng ngày, đoàn đại biểu Đảng ủy Quân sự TƯ, Bộ Quốc phòng; Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an; Thành ủy, HĐND, UBND, MTTQ TP Hà Nội và các bộ, ngành, đoàn thể TƯ, địa phương, các tầng lớp nhân dân Thủ đô và các địa phương cũng đã đến đặt vòng hoa, vào Lăng viếng Bác.

* Ngày 18/5, tại Bảo tàng Hồ Chí Minh tỉnh Thừa Thiên – Huế, Sở VH-TT-DL tỉnh đã tổ chức triển lãm Chủ tịch Hồ Chí Minh với các kỳ bầu cử Quốc hội và HĐND  nhân dịp kỷ niệm 121 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 – 5/6/2011) và chào mừng Ngày hội bầu cử Quốc hội khoá XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016. Triển lãm trưng bày gần 200 tư liệu, hình ảnh, hiện vật với các phần chính: Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự ra đời của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng Hoà (1945 – 1946); Chủ tịch Hồ Chí Minh với các kỳ bầu cử Quốc hội và HĐND (1946 – 1969); Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục cổ vũ nhân dân cả nước thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình, bầu cử những đại biểu xứng đáng vào Quốc hội và HĐND các cấp.

* Sáng 18/5, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ tỉnh Nghệ An đã về Khu di tích lịch sử văn hóa Kim Liên nằm trên địa bàn xã Kim Liên, huyện Nam Đàn và đến Quảng trường Hồ Chí Minh ở thành phố Vinh dâng hương, dâng hoa, báo công với Bác. Đây là một trong những hoạt động của tỉnh Nghệ An nhân kỷ niệm 121 năm Ngày sinh của Bác, 30 năm Lễ hội Làng Sen và hướng tới kỷ niệm 100 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

* Ngày 18/5, Sở VH-TT-DL tỉnh Đồng Tháp phối hợp với Đài Truyền hình TP.HCM đã tổ chức lễ trồng cây quý Sa La tại Khu di tích mộ cụ phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân kỷ niệm 121 năm Ngày sinh của Người. Đây là hoạt động thể hiện niềm tôn kính, biết ơn của nhân dân Đồng Tháp và TP HCM với cụ phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc và chủ tịch Hồ Chí Minh. Được biết, Ban tổ chức đã mang cây Sa La đến Đồng Tháp cùng với đất lấy từ bốn tỉnh, đại diện các miền của đất nước là Hà Nội, Nghệ An, Cao Bằng và TP HCM. Nhóm PV

Sergey Afonin (từ Moskva, Nga)

baodatviet.vn

“Tình cảm của nhân dân thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh”

(Dân trí) – Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 – 5/6/2011), Bộ Ngoại giao Việt Nam vừa tổ chức họp báo giới thiệu cuốn sách ảnh “Tình cảm của nhân dân thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Cuốn sách dày hơn 200 trang, gồm hai phần: Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất; do Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Ngoại giao, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và Bảo tàng Hồ Chí Minh sưu tầm, tập hợp tư liệu.

Cuốn sách cung cấp nhiều hình ảnh quý (trong đó nhiều hình ảnh tư liệu lần đầu tiên được công bố) về tình cảm chân thành của nhân dân thế giới đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các chặng đường hoạt động đối ngoại của Người. Cùng với đó là những trích đoạn bài viết, cảm tưởng của các chính khách, bạn bè, nhân dân thế giới về tư tưởng, đạo đức và tài năng của Người. Đó là minh chứng sống động về tình cảm yêu mến của nhân dân thế giới đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn tại buổi họp báo giới thiệu cuốn sách ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Không dừng ở sự ngưỡng mộ, Bác Hồ của chúng ta đã được nhiều người coi như tấm gương về ý chí và nhân cách để noi theo. Thông qua cuốn sách, những người biên soạn đã mang tới một góc nhìn mới và nhiều điều chưa biết về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong cuốn sách còn có nhiều bức ảnh quý ghi lại những khoảnh khắc bình dị, trải theo cuộc đời của Người mà ở đó ta nhận thấy những tình cảm của bạn bè thế giới dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tự nhiên mà cũng rất sâu sắc. Đó là hình ảnh đón tiếp trang trọng của các chính khách dành cho Người; là niềm vui được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh của những phóng viên, nhà báo, đại biểu phụ nữ, nông dân; là những bó hoa tươi thắm, nụ cười rạng rỡ của các em thiếu nhi thế giới chào đón Người…

Đặc biệt, trong cuốn sách ảnh có những bức ảnh lần đầu tiên được công bố như: Bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp G.Xanhtơny – đại diện Chính phủ Pháp và tướng Lơcléc – Trưởng phái đoàn quân sự Pháp đến chào Người tại Bắc Bộ Phủ, tháng 3/1946; Bức ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tạp chí nước ngoài, năm 1968; bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Ấn Độ tháng 2/1958…

Tại cuộc họp báo, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn cho biết, ngoài phát hành trong nước, ấn phẩm sẽ được phát hành thông qua con đường ngoại giao đến với bạn bè quốc tế và kiều bào ta ở nước ngoài.

Một số bức ảnh lần đầu tiên công bố trong cuốn sách:

Quốc Đô

dantri.com.vn

Để lịch sử tiếp tục được kể

SGTT.VN – “Tôi đã tổ chức năm triển lãm ảnh về Cụ Hồ. Tất cả đều được công chúng Việt Nam và Pháp đón nhận. Nhưng chính từ các triển lãm đó, tôi nhận thấy có rất nhiều con người trong lịch sử đã bị quên trong khi họ rất đáng được nhớ…” – bà Dominique de Miscault tâm sự (ảnh).

Ngày 15.11 vừa qua, nữ ký giả Dominique de Miscault đã trao cuốn băng bộ phim tài liệu Hồ Chí Minh – Ước vọng hoà bình cho đại diện của kênh truyền hình VTV4 thuộc đài Truyền hình Việt Nam. Đây là bộ phim do bà tổ chức sản xuất từ tháng 10.2010 và hoàn thành vào tháng 10.2011. Nội dung phim dựa theo cuốn sách Je reviens au Vietnam libre (Tôi trở lại đất nước Việt Nam tự do) cùng những ghi chép về chuyến đi trên 20.000 cây số để đến Việt Bắc trong chiến tranh và những cảm nhận của nhà báo Léo Figuèrre (nguyên uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, phó chủ tịch liên đoàn Thanh niên dân chủ thế giới, tổng biên tập báo Tiền Phong – Pháp) về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến khu Việt Bắc năm 1950. Qua hình thức phỏng vấn, lồng ghép những cảnh chiến khu Việt Bắc, bộ phim còn thể hiện những ấn tượng của ông Léo Figuèrre về đất nước, con người Việt Nam yêu chuộng tự do và độc lập, những suy nghĩ, trải nghiệm của ông về Việt Nam ngày nay và niềm tin vào tương lai quan hệ Việt – Pháp nói riêng, các nước khác nói chung.

“Tôi cảm thấy mình và Léo Figuèrre có một cái duyên nào đó với nhau. Tất nhiên, tôi đã biết ông từ trước nhưng trực tiếp gặp mặt là năm 2004 khi tôi giúp một đoàn làm phim của đài Truyền hình TP.HCM sang phỏng vấn ông ấy. Trong một số triển lãm ảnh mà tôi tham gia tổ chức, cũng có những tư liệu ảnh về Léo. Nhưng chúng tôi không xác định được những người Việt Nam chụp chung với ông ấy là ai. Khi ảnh được trưng bày, chính những người đó hoặc con cháu họ lại nhận ra và hỏi về Léo”, bà Dominique nói.

Có lẽ mười năm trước, chính Dominique không hề nghĩ có ngày bà sẽ làm hẳn một bộ phim về Hồ Chí Minh. Trong cuộc gặp gỡ báo chí, bà dí dỏm giải thích mình đã “bị dẫn vào câu chuyện này” khi nhận lời giúp đỡ chị Nguyễn Thu Hà, cán bộ bảo tàng Hồ Chí Minh khi chị Hà sang Pháp tìm kiếm tư liệu về Bác. “Tôi từ một người mà những hiểu biết về Hồ Chí Minh gần như là con số không tròn trịa, đi cùng với chị Hà, gặp các nhân chứng, tiếp xúc những tư liệu, tôi đã tò mò rồi thích thú và cuối cùng là ngưỡng mộ con người vĩ đại này”.

Bác Hồ và ông Léo Figuèrre tại Việt Bắc năm 1950 – hình ảnh từ bộ phim Hồ Chí Minh – Ước vọng hoà bình.

Cách đây một năm, khi một hội thảo quốc tế về Hồ Chí Minh được tổ chức tại Việt Nam, người viết đã có dịp được lần đầu tiếp xúc và nói chuyện với bà Dominique. Người phụ nữ 64 tuổi đã thẳng thắn phát biểu: “Ở Pháp rất nhiều người không biết Hồ Chí Minh. Đừng nói những người trẻ, chính tôi là một ví dụ đây. Và cũng vì thế tôi mới quyết định làm bộ phim này”. Phim đã làm xong nhưng bà Dominique đang lo một chuyện nữa là làm sao phim được chiếu rộng rãi. Chính vì thế, ngoài những nỗ lực để bộ phim được chiếu tại Pháp trong thời gian sớm nhất, bà đã quyết định tặng kênh VTV4, “vì đây là kênh truyền hình phát toàn cầu nên sẽ có rất nhiều người trên thế giới xem được, nếu như phim được chiếu”. Ông Bạch Ngọc Chiến, trưởng ban truyền hình đối ngoại, đã hứa sẽ đưa bộ phim lên sóng sớm nhất và vào một dịp phù hợp.

“Khi tôi và chị Thu Hà đi tìm kiếm tư liệu về Cụ Hồ tại Pháp cách đây mấy năm, chúng tôi thấy rằng chính chúng tôi, một thế hệ có thể coi đã bắt đầu già, cũng đang bị mất dấu lịch sử. Có những khoảng trống không – thời gian, có những con người vô danh nhưng thực ra lại rất cần được biết tên, nhưng chúng tôi không thể xác định nổi. Vậy thì thế hệ sau chúng ta liệu sẽ còn mất mát quá khứ như thế nào. Tôi chỉ nghĩ rằng mỗi người một phần, một cách khác nhau nhưng đều nên nỗ lực để lịch sử lại tiếp tục được kể”, bà Dominique nói.

DUNG P.

sgtt.vn

Hình ảnh về Bác ở khắp nơi trên thế giới

Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (05/06/1911 – 05/06/2011), chúng ta hãy tìm hiểu xem thế giới đã lưu danh Người như thế nào nhé!

Một con người lỗi lạc, một nhà cách mạng, một tri thức, một văn hào vĩ đại của Việt Nam và thế giới, Hồ Chí Minh là hình tượng sống mãi trong lòng người Việt và cộng đồng những người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.

Nhiều nước trên thế giới đã dựng tượng, quảng trường, đặt tên đường phố, trường học để lưu niệm về Người – vị cha của cả dân tộc Việt Nam. Hiện nay, Hồ Chí Minh là một trong số ít những danh nhân kiệt xuất được kỷ niệm và lưu danh rộng khắp trên cả năm châu lục.

Lăng Hồ Chí Minh tại Ba Đình, Hà Nội

Chúng ta hãy thực hiện một hành trình vòng quanh trái đất và tìm hiểu về niềm tự hào to lớn này tại các nước nhé.

Người bạn, người đồng đội, đồng chí của dân tộc Việt Nam. Cuba là đất nước theo thể chế Xã hội chủ nghĩa và đã giúp đỡ rất lớn cho quá trình đấu tranh của dân tộc Việt Nam chống lại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Như một điều tất yếu, được dựng tượng Hồ Chí Minh, được lưu niệm những gì liên quan về Người là niềm mong muốn, tự hào của đất nước Cuba anh em. Hiện nay, tại Cuba bạn bắt gặp rất nhiều công trình tưởng niệm Hồ Chí Minh.

+ Tượng chủ tịch Hồ Chí Minh ở thủ đô Lahabana

Tượng đài Hồ Chí Minh bằng đồng do kiến trúc sư Joel Diaz, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Cuba Việt Nam thiết kế khánh thành vào năm 2003. Được xây dựng nổi bật giữa Công viên Acapulco cạnh Đại lộ 26, một trong những công viên đẹp nhất ở trung tâm Thủ đô Lahabana (nhân dịp này được đổi thành Công viên Hòa Bình).

+ Trường cấp II Hồ Chí Minh ở tỉnh Jarugo (được thành lập năm 1974).

+ Trường cấp I Bác Hồ ở Lahabana (khánh thành năm 1976).

Đây chính là những địa điểm đại diện cho tình bằng hữu, tình cảm mà nhân dân hai nước muốn hướng về nhau. Đồng thời nó cũng thể hiện niềm kính trọng, biết ơn của nhân dân Cuba đối với Hồ Chí Minh.

Mêxicô

Hiện nay, tại đất nước Mêxicô cổ kính và huyền bí này, cái tên Hồ Chí Minh chắc hẳn rất quen thuộc.

+ Tượng Hồ Chí Minh tại thành phố Mêxicô

Ngày 16/01/2009, thị trưởng thành phố Mêxicô – Marcelo Ebrad và ông Phạm Văn Quê, đại sứ Việt Nam tại Mêxicô, đã chính thức vén khăn khánh thành công viên “Tự do cho các dân tộc” và tượng đài chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đây là bức tượng toàn thân chủ tịch bên bộ bàn ghế mây giản dị, đằng sau phía trên là dòng chữ vàng “không có gì quý hơn độc lập tự do” bằng tiếng Tây ban Nha với chữ ký của Bác rực rỡ.

+ Tượng Hồ Chí Minh tại thành phố Acapulco, thuộc bang Guerrereo (miền Nam Mêxicô).

Tượng đài chân dung Hồ Chí Minh được đặt đối diện tượng đài người anh hùng dân tộc vĩ đại của châu Mỹ Latin Simon Bolivar, tại đại lộ Miguel Aleman, đại lộ chính và lớn nhất thành phố Acapulco.

Mêxicô là một trong những quốc gia Mỹ latin đã xem Hồ Chí Minh như là một anh hùng của toàn nhân loại, một danh nhân kiệt xuất đã đấu tranh trọn đời cho sự nghiệp của các dân tộc bị áp bức.

Pháp

Có lẽ Pháp là đất nước ghi dấu nhiều ký ức nhất về hành trình bôn ba của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành. Như một phần của niềm hãnh diện ấy, nước Pháp đã gìn giữ những gì liên quan đến Hồ Chí Minh như một báu vật vô giá giữa thời đại chúng ta.

+ Di tích: Nhà số 9, ngõ Compoint, Quận 17 (Paris). Tại đây Hồ Chí Minh đã từng sinh sống và làm việc trong thời gian dài trên đất nước Pháp.

+ Bảo tàng lịch sử sống Montreuil. Đây là một khu bảo tàng về toàn bộ cuộc đời sự nghiệp Hồ Chí Minh, quá trình Người sinh sống và làm việc tại nước Pháp.

Bức tượng chân dung Hồ Chí Minh duy nhất trên nước Pháp được đặt trong khuôn viên của bảo tàng.

Liên Bang Nga

Nếu Việt Nam – Cuba là anh em, thì Liên Bang Nga (Liên Xô trước đây) chính là người anh cả của cả hai nước. Đất nước Xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Cũng từ đây Hồ Chí Minh đã tìm tới ánh sáng của chủ nghĩa, của lý luận cách mạng mà Lênin là hiện thân tiêu biểu nhất.

Hiện nay, tại Nga có rất nhiều công trình tưởng niệm Hồ Chí Minh, như là một vĩ nhân của thế giới nói chung và hệ thống xã hội chủ nghĩa nói riêng.

+ Quảng trường và Tượng đài Hồ Chí Minh ở thủ đô Matxcova.

Nằm ở nơi giao nhau giữa phố Dmitri Ulianov (mang tên em trai V. I. Lênin) và phố “Sáu mươi năm Cách mạng Tháng Mười”, quảng trường Hồ Chí Minh sáng bừng trong nắng tháng 5, khi mùa xuân Nga đang thời điểm rực rỡ nhất. Tại đây được dựng một bức tượng lớn tưởng niệm về Hồ Chí Minh.

Tượng đài Hồ Chí Minh đặt trong quảng trường là tác phẩm Vladimir Efimovich Tsigal, nghệ sĩ nhân dân, viện sĩ Viện hàn lâm Mỹ thuật Liên Xô, tác giả của hơn 40 nhóm tượng đài nổi tiếng.

+ Đại lộ Hồ Chí Minh, ở Ulianopxco.

+ Tháng 5-2010, một bức tượng Hồ Chí Minh được khánh thành trong khuôn viên khoa ngữ văn Trường đại học Tổng hợp Saint Petersburg. Trong dịp này, Viện Hồ Chí Minh được thành lập do tiến sĩ khoa học lịch sử Vladimir Kolotov, nhà Việt Nam học, chủ nhiệm bộ môn lịch sử các nước Viễn Đông thuộc Đại học Tổng hợp Saint Petersburg, làm Giám đốc.

Hungari

Tại Hungary, đài tưởng niệm Hồ Chí Minh (có từ năm 1976) được dựng tại công viên thành phố Zalaegerszey, cách thủ đô Budapest khoảng 220 km.

Ấn độ

+ Đường Hồ Chí Minh ở thành phố Cancutta.

+ Tượng đài Hồ Chí Minh, được đặt tại giao điểm đường Hồ Chí Minh và đường Nêru thành phố Cancutta.

+ Ngay tại thủ đô Niu Đêli cũng có một đại lộ lớn được đặt tên Hồ Chí Minh.

Madagascar

Tại đất nước châu Phi này, quảng trường và tượng đài Hồ Chí Minh đặt tại trung tâm thủ đô Antananarivo.

Angola

Cộng hòa Angola đã đặt tên Hồ Chí Minh cho một con phố lớn ngay tại trung tâm Thủ đô.

Ngoài những đất nước trên, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa của nhân loại thế kỷ XX – Hồ Chí Minh, được nhiều nước khác lưu danh, kỷ niệm. Trong đó có Trung Quốc, Thái Lan và một số nước châu Phi khác. Đặc biệt, rất nhiều quốc gia còn in hình chân dung Hồ Chí Minh lên tem bưu chính như một cách thể hiện thiện chí trân trọng nhất.

Chân dung Hồ Chí Minh trên tem các nước trên thế giới.

Hiện nay, rất nhiều nước tỏ ý muốn được đặt tượng và xây dựng công trình tưởng niệm Hồ Chí Minh tại chính quốc. Điều này đã một lần nữa thể hiện được tầm, trí, dũng, khí của người Việt Nam mà tiêu biểu là Hồ Chí Minh đã vươn xa, và sẽ còn xa mãi cả về không gian và thời gian.

NamBun

phapluatxahoi.com.vn

Nữ họa sĩ Pháp làm phim về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nữ họa sĩ, nhà báo Đô-mi-ních đờ Mi-xcôn trong một buổi gặp gỡ báo chí Việt Nam. Ảnh: PL

QĐND – Yêu mến đất nước Việt Nam và lòng kính trọng đặc biệt tới Chủ tịch Hồ Chí Minh, nữ họa sĩ, nhà báo người Pháp Đô-mi-ních Đờ Mi-xcôn (Dominique de Miscault) đã dành toàn bộ tâm huyết của mình để cho ra đời bộ phim tài liệu “Hồ Chí Minh – Ước vọng hòa bình”. Bộ phim này đã được trao tặng cho kênh truyền hình đối ngoại VTV4 của Đài Truyền hình ViệtNam và dự kiến sẽ ra mắt công chúng vào những dịp kỷ niệm sắp tới.

Đối với một nhà làm phim chuyên nghiệp, sản xuất phim tài liệu là việc không dễ dàng, chứ chưa nói đó lại là một bộ phim chính trị-lịch sử. Trong khi đó, bà Đô-mi-ních, vốn là một nghệ sĩ chỉ quen cầm cọ vẽ, bút viết, chụp ảnh, quen ghi lại cuộc sống bằng tâm hồn lãng mạn, thì việc làm phim quả là vô cùng khó khăn. Ngay bản thân nữ họa sĩ cũng chưa bao giờ nghĩ, sẽ có ngày làm một bộ phim về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thế nhưng, mối duyên nợ làm phim về Chủ tịch Hồ Chí Minh bất ngờ đến khi bà nhận lời giúp đỡ chị Nguyễn Thu Hà, cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh, khi vào năm 2003-2004, chị Hà sang Pháp tìm kiếm tư liệu về Bác. “Nhờ việc đi cùng chị Hà vòng quanh nước Pháp để tìm tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ những hiểu biết không nhiều về Hồ Chí Minh, tôi đã tò mò rồi thích thú và cuối cùng là ngưỡng mộ con người vĩ đại này”, bà Đô-mi-ních chia sẻ.

Để thực hiện bộ phim tài liệu trên, bà Đô-mi-ních đã tiến hành thu thập tư liệu, hình ảnh về Bác Hồ và Việt Nam tại Trung tâm lưu trữ vùng E-xơ Prô-văng-xơ, Xuy-xi, Mông-mô-răng-xi, Pa-ri và một số địa điểm khác ở Pháp; gặp gỡ và mời nhà báo Lê-ô Phi-guy-e-rơ (nguyên Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, người vừa mất hồi tháng 8-2011) tham gia làm phim và trả lời phỏng vấn; phối hợp với phóng viên Hãng truyền hình Arte của Pháp tiến hành quay phim tại Pa-ri và một số địa phương của Pháp; phối hợp với các cơ quan hữu quan Việt Nam để tiến hành thu thập và thẩm định các thông tin, tài liệu, cứ liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Việt Nam phục vụ xây dựng phim.

Tháng 10-2010, bộ phim “Hồ Chí Minh – Ước vọng hòa bình” chính thức được bấm máy và hoàn thành đúng sau một năm. Bộ phim có nội dung dựa theo cuốn sách “Tôi trở lại đất nước Việt Nam tự do” (Je reviens au Vietnam libre) cùng những ghi chép về chuyến đi hơn 20.000km để đến Việt Bắc trong chiến tranh và những cảm nhận của nhà báo Lê-ô Phi-guy-e-rơ về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến khu Việt Bắc năm 1950. Bộ phim đã tập trung khắc họa sự tài tình trong lãnh đạo, tinh tế trong văn hóa ứng xử và tinh thần yêu chuộng hòa bình, lòng yêu thương con người của Bác Hồ. Bộ phim được tổ chức theo hình thức phỏng vấn, lồng ghép những cảnh chiến khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp nhằm thể hiện những ấn tượng tốt đẹp cũng như những suy nghĩ, trải nghiệm của ông Lê-ô Phi-guy-e-rơ về đất nước, con người Việt Nam ngày nay yêu chuộng tự do và độc lập.


Một cảnh trong phim “Hồ Chí Minh – Ước vọng hòa bình”. Nguồn: VTV4

Với thời lượng chưa đầy 50 phút, bộ phim đã thể hiện những giá trị tình cảm lớn lao và khát vọng hòa bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như những tiên đoán tài tình của Người trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến và tình cảm yêu mến, kính trọng của bạn bè quốc tế nói chung và nhân dân Pháp nói riêng đối với vị lãnh tụ của dân tộc Việt Nam. “Thật khó khăn với tôi, bởi tôi là một nghệ sĩ nên đối tượng tôi hướng tới và thường thích là những gì mang vẻ đẹp thẩm mỹ, còn đây lại là danh nhân chính trị, lịch sử. Nhưng dù vậy, tôi vẫn muốn cố gắng mang đến một cách nhìn hết sức nhân văn và đậm tính thẩm mỹ về nhân vật Hồ Chí Minh. Vì với tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết là một Con người”, bà Đô-mi-ních nói.

Phương Linh

qdnd.vn