Thư viện

Cán bộ phải biết so sánh

Lời của Bác - Lời của non sôngTrong Tiết 3, Chương V của sách “Cách lãnh đạo” được Bác đặt tên “Học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng”.

Trong bài có đoạn Bác nhấn mạnh rằng “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được”. “Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”. “Mà muốn hiểu biết, học hỏi dân chúng, thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm, phải khiêm tốn, phải chịu khó. Nếu không vậy, thì dân chúng sẽ không tin chúng ta. Biết, họ cũng không nói. Nói, họ cũng không nói hết lời”.

Đề cập đến đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay “so sánh”, Bác viết rất cụ thể: “Họ so sánh bây giờ và họ so sánh thời kỳ đã qua. Họ so sánh từng việc và họ so sánh toàn bộ phận. Do sự so sánh, họ thấy chỗ khác nhau, họ thấy mối mâu thẫu. Rồi lại do đó, họ kết luận, họ đề ra cách giải quyết.

Dân chúng so sánh đúng, giải quyết đúng, là vì tai mắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy. Vì sự so sánh kỹ càng đó, mà cách giải quyết của dân chúng bao giờ cũng gọn gàng, hợp lý, công bình”. “Dân chủ cũng do cách so sánh mà họ biết rõ ràng (cán bộ)…”.

Bác còn dặn: “Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau”, “cố nhiên, không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”.

Và Bác Hồ dạy cán bộ cũng phải biết so sánh. “So đi sánh lại, sẽ lòi ra một ý kiến mà mọi người đều tán thành, hoặc số đông người tán thành”, “thành một ý kiến đầy đủ, ý kiến đó tức là cái kích thước nó tỏ rõ sự phát triển trình độ của dân chúng trong nơi đó, trong lúc đó. Theo ý kiến đó mà làm, nhất định thành công”.

“So đi sánh lại, phân tích rõ ràng là cách làm việc có khoa học”. Cuối cùng Bác Hồ căn dặn và mong muốn: “Làm như thế mới tránh khỏi cái độc đoán, mới tránh khỏi sai lầm”.

Bác kết luận: Cán bộ là “Trung tâm của vấn đề”, rường cột của tổ chức, “cán bộ quyết định tất cả”. Cần phải “so sánh lại” để chọn đúng cán bộ cần cho Đảng, cho quân đội. “Làm như thế, chính sách, cán bộ và nhân dân sẽ nhất trí, mà Đảng ta sẽ phát triển rất mau chóng và vững vàng”.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ lời Bác dạy phấn đấu không ngừng

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Thúc Bá ở phường Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia cách mạng từ thuở thiếu niên, chưa tròn 20 tuổi đã trở thành y tá trưởng của Đại đội 1, Tiểu đoàn 72, tỉnh Quảng Nam và nổi bật bởi tinh thần chiến đấu bảo vệ thương binh, tử sĩ.

Có trận, ông ra vào cửa mở đến tám lần để cõng thương binh, tử sĩ về phía sau. Qua 65 trận đánh, ông tiêu diệt và bắt sống hơn 60 tên địch, thu nhiều chiến lợi phẩm, được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 17-9-1967. Ông Bá kể:

…Tháng 3 năm 1968, tôi và đồng chí Trần Đình ở Sư đoàn 2 được cử ra Bắc học tập. Cuối tháng 4 năm ấy, chúng tôi đến Thủ đô Hà Nội và nghỉ tại Trạm khách Bộ Quốc phòng ở 83 Lý Nam Đế. Sáng sớm ngày 19-5-1968, Trạm trưởng thông báo: “Hai đồng chí Bá và Đình 9 giờ đi công tác, mặc quần áo quân giải phóng”. Chúng tôi phấp phỏng đoán là sự kiện quan trọng, vì theo quy định, tất cả cán bộ miền Nam ở đây đều mặc thường phục.

…Chiếc ô tô chở chúng tôi chạy được một lát, anh cán bộ phụ trách mới phổ biến ngắn gọn: “Bác Hồ muốn gặp một số anh hùng ở miền Nam. Trạm chọn hai đồng chí vào báo cáo với Bác”. Chao ôi! Hai chúng tôi ngập tràn niềm vui mừng, hạnh phúc, vì được gặp Bác là điều mơ ước của biết bao đồng bào, chiến sĩ miền Nam!

nhoAnh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Thúc Bá (người vuốt chòm râu Bác) và một số Anh hùng dũng sĩ miền Nam thăm Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch (3-1969)

Bác và đồng chí Vũ Kỳ đón chúng tôi tại vườn hoa bán nguyệt trong Phủ Chủ tịch. Không biết đã được báo trước nhân dạng, hay là do sự cảm nhận tài tình, mà vừa bắt tay tôi, Bác đã hỏi:

Chú là Huỳnh Thúc Bá?

– Dạ! – Tôi lễ phép thưa.

Bác tiếp tục bắt tay đồng chí Đình và bảo:

– Hai cháu là anh hùng của quê hương “Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

Bác ân cần hỏi chúng tôi về việc ăn, nghỉ, sinh hoạt. Tôi cảm nhận rất rõ tình thương yêu của Bác khi Người hỏi về bệnh sốt rét và các vết thương của tôi. Bác âu yếm cầm tay tôi, thấy tay tôi gầy, nổi lên những đường gân xanh, Bác xúc động, rơm rớm nước mắt. Ôi! Bác là lãnh tụ thiên tài của dân tộc, mà sao gần gũi, hiền từ như người ông, người cha của mình. Bác dặn chúng tôi phải cố gắng ăn uống, nghỉ ngơi, dưỡng bệnh để có đủ sức khỏe học tập và nhớ phải bền bỉ phấn đấu không ngừng. Bác đãi bánh ga-tô và còn bảo chúng tôi mang về cho anh em trong Trạm.

Lần thứ hai, tôi được gặp Bác vào dịp kỉ niệm ngày Quốc khánh 2-9-1968. Tại hội trường Ba Đình, tôi và 50 anh hùng, dũng sĩ, cán bộ miền Nam được nghe Bác dặn dò, động viên phấn đấu, học tập cho tốt và sẵn sàng nhận nhiệm vụ trở về chiến đấu giải phóng quê hương.

Tháng 3 năm 1969, tôi lại được vinh dự gặp Bác trước khi trở vào miền Nam. Lần này, tôi là thành viên trong Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc. Khi Đoàn đang nghỉ tại nhà 103 phố Quán Thánh thì được thông báo đi gặp Bác. Đồng chí phụ trách căn dặn: “Sức khỏe của Bác hiện nay rất yếu, nhưng Bác muốn gặp các đồng chí. Yêu cầu tất cả ngồi xa, kẻo Bác mệt”. Hôm ấy, Bác Hồ và Bác Tôn cùng các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đón chúng tôi tại Phủ Chủ tịch. Nhớ lời dặn, chúng tôi ý tứ đứng xa, nhìn lên Bác. Vừa thấy tôi, Bác đã vẫy lại, trìu mến hỏi:

– Cháu Bá đã hết sốt chưa? Học tập có tốt không?

Quá xúc động, tôi không sao cầm được nước mắt. Bác bận biết bao công việc trọng đại mà vẫn nhớ đến bệnh sốt rét của tôi! Lần đó, cả Đoàn được chụp ảnh với Bác. Tôi hoàn toàn không ngờ đó là lần cuối cùng được nhìn thấy Bác!

Ba lần được gặp Bác Hồ là kỉ niệm sâu sắc, không thể nào phai mờ của Anh hùng Huỳnh Thúc Bá, là nguồn sức mạnh to lớn để ông tiếp tục chiến đấu, công tác, lập nhiều chiến công xuất sắc. Ông về hưu năm 2002, với quân hàm Đại tá. Nhớ lời Bác dạy “phải bền bỉ phấn đấu không ngừng”, ông hăng hái tham gia công tác địa phương và nhiều năm được bầu làm Bí thư Chi bộ. Ông đã dẫn dắt phong trào thi đua của khu phố đạt nhiều thành tích tiêu biểu.

Theo baomoi.com
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Ra đi, Bác dặn lời non nước…

“Bác ơi, tim Bác mênh mông thế. Ôm cả non sông, mọi kiếp người”. Tôi nhớ mãi những câu thơ da diết của cố thi sĩ Tố Hữu khi viết về Bác Hồ kính yêu. Trái tim Bác vẫn nhịp đập cùng non sông đất nước, với dân tộc ngay cả khi Người đã lặng lẽ ra đi cách đây hơn 40 năm. Bác để lại bản Di chúc lịch sử. Bản Di chúc ấy chính là trái tim Người đã, đang và sẽ đập nhịp với toàn Đảng, toàn dân ta; là cốt cách Hồ Chí Minh; là ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường dẫn lối.

71Bác Hồ với các cháu thiếu niên.

Cả cuộc đời Người dành cho dân tộc, cho giang sơn đất nước. Người đã dành hơn nửa cuộc đời mình qua 3 đại dương, đến 4 châu lục, 28 nước, bôn ba trên một đoạn đường ước tính 20 vạn km cũng chỉ nhằm “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành“. Ngay cả khi từ biệt thế giới này, Người cũng chỉ có một điều hối tiếc là “không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa” cho Đảng, cho dân.

Bác ơi, tim Bác mênh mông thế. Ôm cả non sông, mọi kiếp người“. Bác căn dặn bao điều trước lúc đi xa – từ điều gần đến điều xa, từ việc hôm nay cho tới việc ngày mai. Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vô cùng ác liệt, giữa bao toan tính của nước lớn nước bé, giữa ai lòng dạ đổi thay, lời Bác thật đanh thép “Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn“. Bác nhắc nhở về Đảng cầm quyền: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân“. Bác còn lo xa bao điều. Ấy là “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết“. Ấy là: “Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân“…

Bác ơi, tim Bác mênh mông thế”. Trước lúc đi xa, Người còn để lại “Muôn vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng, gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế“.

Đã có nhiều học giả quốc tế nghiên cứu về bản Di chúc của Bác để hiểu thêm cuộc đời vĩ đại của người. Thật chẳng có gì lạ khi Bác được tôn vinh là Danh nhân văn hoá thế giới, là Anh hùng giải phóng dân tộc. Cả thế giới ngợi ca Bác. A.Min – nhà cách mạng Yêmen viết: “Chính Người – Bác Hồ – đã đóng hàng ngàn mũi đinh lên chiếc quan tài của chủ nghĩa đế quốc Mỹ ở trên đất nước Việt Nam”. Một cụ bà người Mỹ da đen ở thành phố Niuooclêông trong  thư gửi đồng chí Xuân Thuỷ tại Pari tháng 9 năm 1969 đã giãi bày: “Cụ Hồ Chí Minh là một lãnh tụ vĩ đại. Một lãnh tụ có phẩm chất như Người chỉ xuất hiện một lần trong thế kỷ”. Rồi: “Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này” (P.Hanbôxtan). Và: “Việt Nam có thể có những bước thăng trầm nhưng ký ức về vị lãnh tụ cộng sản Hồ Chí Minh sinh ra từ cuối thế kỷ XIX sẽ tồn tại mãi mãi”. (Dems Gray – Hãng tin AP).

Đã bốn thập kỷ Bác đi xa, đã qua bốn thập kỷ bản Di chúc thiêng liêng. Từng lời của Người vẫn văng vẳng nhắc nhở dạy dỗ chúng ta, vẫn thôi thúc, giục giã chúng ta trên con đường mới. Chúng ta dường như vẫn thấy Bác hàng ngày dõi theo, cổ vũ.

Lòng dân nước mở từng trang Di chúc.
Thấy Bác từng ngày trong mỗi sáng mai lên.

Một nhà thơ đã viết vậy. Còn cố thi sĩ Tố Hữu đã gói gọn mong ước của chúng ta:

Nhớ lời Di chúc, theo chân Bác
Lên những tầng cao, thẳng cánh bay!
Bác ơi, chúng con nguyện:
Đời sẽ tươi hơn, xây dựng mới
Đàng hoàng to đẹp, sáng trời đông
Tuổi xanh vững bước lên phơi phới
Đi tới như lòng Bác ước mong.

Theo Giáp Nhật Nguyệt/Báo Bắc Giang
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thực hiện những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam – Người đã để lại những di sản tư tưởng vô giá trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, trong đó đặc biệt là những lời dạy có giá trị bền vững, mang ý nghĩa hiện thực to lớn đối với cuộc đấu tranh phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường hiện nay.

Trên thế giới, hiếm có vị lãnh tụ cách mạng nào lại bàn và chỉ đạo hoạt động nhiều về phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường như Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Tại Hội nghị Tổng kết công tác nông – lâm – ngư nghiệp năm 1956, Người nhấn mạnh: “Nghề nông luôn phải đấu tranh chống những tai nạn của thiên nhiên: Hạn hán, lũ lụt, sâu bọ, chuột, dịch… lại còn phải đấu tranh với tập quán bảo thủ lạc hậu”. Người đã chỉ rõ nội dung, biện pháp phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường là phải toàn diện và chú ý phòng chống cả 3 loại giặc nguy hiểm đó là: “Giặc hạn hán”, “giặc bão lụt” và “giặc sâu bệnh”.

thực hiện

Phòng chống “giặc hạn hán”

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định, hạn hán là một “loại giặc” nguy hiểm, phá hoại mùa màng, môi trường sinh thái. Theo Người, chống hạn là một chiến dịch, một công tác cách mạng, một cuộc thử thách đầy cam go. Người luôn tin tưởng vững chắc rằng, với ý chí, quyết tâm, sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nhất định nhiệm vụ chống hạn sẽ đạt được thắng lợi. Tại Hội nghị Chống hạn năm 1958, Người phân tích: “Chống hạn là một chiến dịch cần phải cố gắng, phải kiên quyết, phải tin tưởng chống hạn thắng lợi, giúp đỡ nhau, thi đua lập công giữa địa phương này với địa phương khác … có đoàn kết, quyết tâm, giúp đỡ lẫn nhau, lại có thi đua thì nhất định thắng lợi”. Người đã đưa ra các biện pháp chống hạn là: “Phải tùy từng địa phương mà làm các việc đào mương, đào giếng, tát nước, giữ nước. Mỗi xã phải có kế hoạch nhỏ của xã mình; huyện, tỉnh phải có kế hoạch chung để điều hòa, phối hợp”.

Người kêu gọi mọi lực lượng, mọi lứa tuổi đều phải tham gia chống hạn: “Mỗi người phải ra sức chống hạn. Ai ai cũng thi đua tham gia chống hạn. Các cụ già có kinh nghiệm, thanh niên có sức lực làm đầu tàu. Các cháu thiếu nhi ra đồng động viên, nấu nước cho đồng bào uống. Mỗi người một tay, già trẻ góp sức, nhất định chống hạn thắng lợi”.

Phòng chống “giặc bão, lụt”

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã xác định, bão, lụt là “loại giặc” nguy hiểm hơn cả “giặc hạn hán”, không chỉ tàn phá môi trường, mà còn đe dọa nghiêm trọng tới tính mạng, tài sản của nhân dân, gây nên những thảm họa khủng khiếp. Theo Người, vấn đề quan trọng trước hết của công tác phòng chống bão, lụt là làm tốt công tác phòng hộ đê, chủ động chăm lo xây dựng, bảo vệ hệ thống đê vững chắc. Người cho rằng, giữ đê, chống lụt là nhiệm vụ khó khăn, quyết liệt, cần phải có ý chí quyết tâm cao, tổ chức chặt chẽ, chuẩn bị chu đáo. Trong thư gửi đồng bào các tỉnh có đê, Người chỉ rõ: “Trong việc giữ đê, tổ chức phải chặt chẽ, chỉ huy phải vững vàng, dụng cụ phải đầy đủ. Các đoàn thể Nông hội và Thanh niên phải xung phong, các đơn vị bộ đội phải tranh thủ thời gian giúp sức đồng bào”.

Trong hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai thường đi liền với địch họa, sự “phá hoại kép” này luôn gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng. Năm 1968, Người đã chỉ thị: “Các ngành và các địa phương cần coi trọng hơn nữa việc phòng và chống lụt, bão, chống địch đánh phá đê, kè … phải vận động đồng bào làm nhiều thuyền, mảng, ụ đất, sàn gác, chằng chống nhà cửa cho vững, phòng khi lụt to,bão lớn. Phải giữ gìn và sửa sang hầm hố, phòng máy bay giặc Mỹ”. Thực hiện lời dạy của Người, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, lao động quên mình, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ đê, kè trong các mùa mưa bão.

Phòng chống “giặc sâu bệnh”

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng xác định, sâu bệnh là một “loại giặc” không thể xem thường. Chúng có thể nhanh chóng tàn phá cây cối, phá hoại mùa màng, hủy diệt từng đàn gia cầm, gia súc. Theo Hồ Chí Minh, trừ sâu, diệt chuột là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao năng suất cây trồng. Chính vì thế, nói chuyện với cán bộ, nhân dân các tỉnh Sơn Tây, Nam Định, Kiến An, Hải Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Đông, Cao Bằng … Người đã nhắc nhở, phải tích cực trừ sâu, diệt chuột để nâng cao năng suất mùa vụ.

Để nâng cao hiệu quả phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm chỉ đạo, giáo dục, động viên nhân dân ta tích cực trồng cây gây rừng và bảo vệ rừng. Trong 10 năm (1960-1969), Người đã có gần 20 bài nói, viết bàn về “Tết trồng cây”, bàn về trồng rừng và bảo vệ rừng. Từ rất sớm, Người đã có tầm nhìn chiến lược sâu sắc về mối quan hệ gắn bó giữa trồng rừng, bảo vệ rừng với bảo vệ môi trường sinh thái. Những lời dạy của Người về “Tết trồng cây”, về phong trào trồng rừng và bảo vệ rừng, có ý nghĩa hiện thực hết sức to lớn đối với sự nghiệp bảo vệ môi trường của Đảng và nhân dân ta trong thời kỳ mới.

Hiện nay, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với sự tàn phá thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường của con người, đã dẫn tới nguy cơ ngày càng lớn về biến đổi khí hậu và nước biển dâng, đồng thời làm gia tăng thiên tai về cả quy mô và mật độ. Để thực hiện thắng lợi những lời dạy của Người, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải tiến hành đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp, trong đó trước hết cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề chủ yếu sau:

Phát huy sức mạnh tổng hợp để phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường.

Sức mạnh tổng hợp để phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường là sức mạnh đoàn kết của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; Sức mạnh của nền kinh tế, khoa học – công nghệ; Sức mạnh trong nước và quốc tế… Trong mọi hoàn cảnh, để phòng chống thiên tai thắng lợi, cần phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, điều kiện, cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện có, ứng dụng vào phòng chống từng loại thiên tai cụ thể.

Trong điều kiện mới, để nâng cao hiệu quả phòng chống hạn, chúng ta phải kết hợp phát huy sức mạnh của Trung ương và địa phương; thực hiện chiến lược thủy lợi đồng bộ; xây dựng hệ thống những hồ chứa nước lớn theo nhu cầu canh tác của từng địa bàn. Đồng thời, kết hợp với các đập ngăn nước của các nhà máy thủy điện điều tiết nước canh tác theo thời vụ. Hiện đại hóa các trạm bơm ở từng vùng, từng địa phương, bê tông hóa hệ thống mương máng trên đồng ruộng, gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới.

Về phòng chống bão, lụt, cần thực hiện tốt Chiến lược hộ đê, củng cố, bảo vệ hệ thống đê điều vững chắc. Để kịp thời ứng phó với các tai họa do bão lụt gây ra, cần phát huy vai trò của các Ban Chỉ huy phòng lụt, bão và tìm kiếm – cứu nạn từ Trung ương tới từng địa phương và Cục cứu hộ, cứu nạn, Bộ Quốc phòng, nhất là vai trò ứng cứu của bộ đội biên phòng và lực lượng cảnh sát biển. Trong những năm tới, cần có những giải pháp đồng bộ, nhằm khắc phục tình trạng ngập úng tại các thành phố lớn, nhất là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Về phòng chống sâu bệnh, cần đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học để diệt sâu bệnh ở từng loại cây trồng thích hợp. Sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật phải đúng liều lượng, đúng quy trình hướng dẫn, hạn chế tối đa dư lượng thuốc hóa học trên đồng ruộng.

Tăng cường nghiên cứu, không ngừng nâng cao chất lượng công tác khí tượng, thủy văn và môi trường.

Nâng cao chất lượng công tác khí tượng, thủy văn và môi trường là điều kiện cơ bản để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống thiên tai. Trên thực tế, công tác phòng chống thiên tai luôn gắn liền với dự báo, cảnh báo thiên tai. Tuy nhiên, để có những dự báo kịp thời , chính xác, cần tăng cường nghiên cứu trên các lĩnh vục khoa học, cụ thể là: Nghiên cứu khí tượng nhiệt đới và bão, tương tác biển – khí quyển; khí hậu ứng dụng, dự báo khí hậu, biến đổi khí hậu, tài nguyên khí hậu, khí hậu địa phương; khí tượng nông nghiệp và dự báo; khí tượng thủy văn và tài nguyên nước, tính toán lũ lụt và tiêu thoát nước; môi trường không khí và chất lượng nước, đánh giá tác động môi trường; nghiên cứu động đất lãnh thổ và sóng thần, lãnh hải Việt Nam và các vùng kế cận; nghiên cứu vật lý khí quyển và ứng dụng trong công tác bảo vệ môi trường, phòng chống giảm nhẹ thiên tai; nghiên cứu đặc trưng ô nhiễm môi trường, an toàn đê đập; đánh giá độ nguy hiểm và độ rủi ro của động đất… Kết quả nghiên cứu về những lĩnh vục trên là cơ sở trọng yếu để dự báo, cảnh báo thiên tai kịp thời, chính xác, giúp cho nhân dân ta chủ động phòng chống, nhằm giảm thiểu tối đa những thiệt hại do thiên tai gây ra.

Đẩy mạnh trồng rừng, ngăn chặn, khắc phục nạn cháy rừng, phá rừng.

Hiện nay, cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, các loại rừng của nước ta ngày càng bị tàn phá nặng nề, nguy cơ thiên tai đe dọa ngày càng lớn. Để thực hiện lời dạy của Bác Hồ, Đảng ta đã đề ra Chiến lược trồng rừng với mục tiêu, đến năm 2015, tỷ lệ rừng che phủ đạt 43% và đến năm 2020 đạt 45%.

Để đạt mục tiêu, toàn Đảng, toàn dân ta phải đẩy mạnh công tác trồng rừng, phát triển rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Nhà nước phải có cơ chế, chính sách hỗ trợ để người dân có thể sống, làm giàu từ trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Đối với các tỉnh ven biển, cần động viên nhân dân trồng cây phi lao để chống bão cát và chống xói mòn. Đồng thời, tăng cường bảo vệ rừng, nỗ lực khắc phục nạn cháy rừng và phá rừng. Các địa phương cần phát huy vai trò của chính quyền, lực lượng kiểm lâm, lực lượng công an, bộ đội biên phòng… để đấu tranh ngăn chặn, kiên quyết loại bỏ nạn lâm tặc.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường, chúng ta cần phải tiến hành đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp, trong đó trước hết là phát huy sức mạnh tổng họp để phòng chống thiên tai; Tăng cường nghiên cứu, nâng cao chất lượng công tác khí tượng, thủy văn và môi trường; Đẩy mạnh trồng rừng, khắc phục nạn cháy rừng, phá rừng. Các vấn đề trọng yếu trên, được thục hiện tốt, nhất định cuộc đấu tranh phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường của nhân dân ta sẽ đạt được nhiều thành công.

PGS.TS Hà Huy Thông –  TCMT 07/2012
Theo http://vea.gov.vn
Đỗ Long Văn
(st)

bqllang.gov.vn

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 6)

“Muốn xây dựng một xã hội mới và tốt đẹp, thì cần phải tiêu diệt những thói hư, tật xấu của xã hội cũ còn sót lại. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải bồi dưỡng con người xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa là con người có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng”.

“Bài nói tại Hội nghị phổ biến Nghị quyết của Bộ Chính trị về cuộc vận động “Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”, 27-7-1963,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr. 110.

“Vì sao Cao Bằng, Lạng Sơn chỉ còn có được khoảng 50% số hộ vào hợp tác xã? Có phải vì đồng bào nông dân không thích Hợp tác xã không? – Không phải. Thế thì vì ai?

Các chú phải trả lời: Là vì tôi. Mỗi người phải nhận lấy phần trách nhiệm của mình, mà không nên nói lãnh đạo chung chung. Trung ương cũng lãnh đạo, Tỉnh ủy cũng lãnh đạo”.

“Bài nói tại Hội nghị truyên giáo miền núi”, 31-8-1963,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr. 131.

“Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí Bộ trưởng, Thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải gìn giữ tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hoà bình thống nhất nước nhà.

Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”.

“Nói chuyện tại phiên họp Hội đồng Chính phủ cuối năm 1963”, 26-12-1963,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.186.

“Cán bộ phải gương mẫu, chí công vô tư, cần, kiệm, liêm, chính, hết lòng vì dân, thực hành dân chủ, làm trọn công việc, tham gia lao động, luôn luôn rèn luyện lập trường, tư tưởng và đạo đức cách mạng, đi sâu vào nghiệp vụ, kỹ thuật”.

“Thư gửi Đại hội Hợp tác xã và đội sản xuất nông nghiệp tiên tiến vùng đồng bằng miền Bắc”, 13-1-1964,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.197.

“Hết lòng hết sức phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Đặt lợi ích của Đảng và lợi ích của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân.

… Luôn luôn thắt chặt quan hệ với quần chúng, học tập quần chúng, tìm hiểu, lắng nghe nguyện vọng và ý kiến của quần chúng để phản ánh cho Đảng và kịp thời giải quyết một cách thích đáng. Ra sức tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối, chính sách của Đảng trong quần chúng, tổ chức quần chúng thực hiện các chủ trương, chính sách và nghị quyết của Đảng; phát triển ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng.

… Gương mẫu trong lao động sản xuất, trong công tác, trong việc chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ, trong việc bảo vệ tài sản của Nhà nước và của tập thể; thực hành tiết kiệm, tích cực đấu tranh chống lãng phí, tham ô.

… Thực hành tự phê và phê bình; kiên quyết đấu tranh với mọi tư tưởng và hành động ở trong Đảng và ngoài Đảng có hại đến lợi ích chung của Đảng, của cách mạng”.

“Mừng Đảng ta 34 tuổi”, 3-2-1964,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.203.

“Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng. Đạo đức cách mạng là triệt để trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân”.

“Bài nói chuyện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”, 21-10-1964.
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.329.

“Biết bao đảng viên cộng sản là anh hùng, chiến sĩ trên mặt trận sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và trong các ngành hoạt động khác. Họ không đòi danh đòi lợi. Họ một lòng một dạ phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Họ là những đảng viên bình thường nhưng phẩm chất cách mạng của họ thật là cao quý. Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng ấy của giai cấp và của dân tộc”.

“Bài nói tại Hội nghị chỉnh huấn do Trung ương triệu tập”, 22-1-1965,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.373.

“Các chú vẫn thường nói: Nhân dân ta rất anh hùng, ra ngõ gặp anh hùng. Điều đó rất đúng. Có thể nói trong mỗi nhà đều có anh hùng, như thế ra ngõ mới gặp anh hùng chứ! Nhìn lại lịch sử mấy nghìn năm của ông cha ta, ta cũng thấy điều đó. Cứ mỗi lần có những thử thách lớn thì nhân dân ta lại tỏ rõ khí phách, nêu cao phẩm chất tốt đẹp của mình”.

“Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt””, tháng 6 năm 1968,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.547.

“Từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc!”.

“Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt””, tháng 6 năm 1968,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.549.

“Chúng ta đánh giặc và xây dựng xã hội mới bằng những việc làm muôn hình muôn vẻ của hàng chục triệu con người như thế, chứ không phải chỉ bằng một vài việc làm nổi bật và vang dội của một số cá nhân anh hùng”.

“Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt””, tháng 6 năm 1968,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.550-551.

“Người cộng sản chúng ta không được phút nào quên lý tưởng cao cả của mình là: Suốt đời làm cách mạng phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thắng lợi hoàn toàn trên Tổ quốc ta và trên thế giới. Một ngày nào mà miền Nam ta chưa được giải phóng, Tổ quốc ta chưa được thống nhất, nhân dân ta chưa được sung sướng, yên vui thì tất cả chúng ta vẫn phải đem hết tinh thần và nghị lực mà phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng hoàn toàn thắng lợi”.

“Bài nói ở lớp huấn luyện đảng viên mới”, 14-5-1966,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.93.

“Các cán bộ và chiến sĩ Công an nhân dân phải ra sức trau dồi:

+ Đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân.

+ Tác phong phải thật khách quan, thiết thực, phải tăng cường công tác điều tra nghiên cứu tổng kết và trao đổi kinh nghiệm giữa các ngành công an”.

“Bài nói tại Đại hội thi đua lực lượng Công an nhân dân”, 12-10-1966,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.145-146.

“… đảng viên gương mẫu trong mọi công việc, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, nội bộ thực sự đoàn kết; chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng, lãnh đạo tốt sản xuất và chiến đấu; một lòng một dạ phục vụ nhân dân, thiết thực chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; đối với Đảng thì cũng cố tốt và phát triển tốt”.

“Bài nói tại Hội nghị tổng kết ba năm xây dựng chi bộ và đảng bộ cơ sở “bốn tốt””, tháng 4 năm 1966,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.77.

“1- Trung với nước, hiếu với dân, vì sự nghiệp chống Mỹ, vì chủ nghĩa xã hội, luôn luôn nêu cao tinh thần hy sinh chiến đấu, lao động quên mình.

2- Chấp hành triệt để đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, hăng hái thi đua yêu nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống.

3- Quyết tâm đi sâu vào khoa học- kỹ thuật và nghiệp vụ, phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ dám làm, ra sức học tập và vận dụng tốt sáng kiến và kinh nghiệm tiên tiến, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả chiến đấu.

4- Nêu cao ý thức tập thể và làm chủ tập thể, ý thức tổ chức và kỹ luật, đoàn kết đồng chí, đoàn kết nhân dân, đi đường lối quần chúng.

5- Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, khiêm tốn giản dị, gương mẫu về mọi mặt”.

“Nội dung chủ nghĩa anh hùng cách mạng của chúng ta”, tháng 4 năm 1966,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.90. 

“… đã là đảng viên thì phải cố thành một đảng viên “bốn tốt”, tức là phải hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, làm đúng chính sách của Đảng, nếu không thì vào làm gì? Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào.

Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên.

Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: Mình vào Đảng để làm đày tớ cho nhân dân, Bác nhấn mạnh: Làm đày tớ nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân.

Lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt”.

“Bài nói với cán bộ tỉnh Hà Tây”, 10-02-1967,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.22”

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tuỵ, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 2)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 3)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 4)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 5)

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 5)

63

“Chủ nghĩa xã hội là cái gì? Là mọi người được ăn no mặc ấm, sung sướng, tự do. Nhưng nếu muốn tách riêng một mình mà ngồi ăn no mặc ấm, người khác mặc kệ, thế là không tốt. Mình muốn ăn no mặc ấm, cũng cần làm sao cho tất cả mọi người được ăn no mặc ấm, như thế mới đúng. Muốn như vậy, phải ra sức công tác, ra sức lao động sản xuất.

Tiền đồ của mỗi người nằm trong tiền đồ chung của dân tộc”.

“Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục”, tháng 6-1957,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.8, tr.396.

…Đảng viên và cán bộ ta nói chung là trung thành, tận tụy, hăng hái. Nhưng một số đảng viên và cán bộ còn có bệnh công thần, suy tị, ỷ lại, tiêu cực không gương mẫu, đầy rẫy chủ nghĩa cá nhân.

Từ nay về sau, tất cả các đảng viên, cán bộ và chi bộ phải thường thường ôn lại, tự liên hệ và giữ đúng những tiêu chuẩn của người đảng viên:

1. Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

2. Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa những tư tưởng sai lầm. Kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong chân ngoài.

3. Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Biết đem lợi riêng, lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng.

4. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết và kỷ luật của Đảng.

5. Liên hệ chặt chẽ với quần chúng.

6. Luôn luôn cố gắng học tập, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình.

Phải giữ đúng những tiêu chuẩn đó mới xứng đáng là người đảng viên”.

Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ Kiến An”, 18-1-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 33-34.

Phải thấu suốt chính sách của Đảng và Chính phủ. Phải đi đúng đường lối quần chúng.

Phải thật sự gần gũi nhân dân, lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của nhân dân, học hỏi kinh nghiệm của nhân dân.

Phải biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của quần chúng.

Phải thiết thực quan tâm đến đời sống của nhân dân.

Phải cần, kiệm, liêm, chính. Phải gương mẫu. Phải có tinh thần trách nhiệm cao độ.

Phải chống quan liêu, mệnh lệnh, hình thức. Chống tham ô lãng phí.

Phải làm đúng những điều đó mới xứng là người đày tớ trung thành của nhân dân, người cán bộ tốt của Đảng và Chính phủ”.

Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ Kiến An”, 18-1-1960.
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 36.

“Những người được cử vào Quốc hội khóa II sẽ luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đày tớ trung thành của đồng bào, những đại biểu cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội”.

Lời phát biểu tại Đại hội nhân dân Thủ đô
chào mừng các vị ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội ra mắt cử tri”, 14-4-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 132.

“Đảng viên và cán bộ ta đều tốt, trung thành và hăng hái công tác, hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nhưng có một số ít đảng viên và cán bộ còn tư tưởng tiêu cực, suy tị, ỷ lại, ngại khó, ngại khổ, không gương mẫu. Đó là chủ nghĩa cá nhân, những đồng chí ấy phải quyết tâm sửa chữa”.

Bài nói tại Đại hội sản xuất tỉnh Hà Đông”, 7-6-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 143-144.

“Quốc hội khóa I của ta là Quốc hội kháng chiến. Quốc hội khóa II này là Quốc hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Vì vậy, để xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân, nhiệm vụ của mỗi vị đại biểu là phải:

– Thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư,

– Một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội,

– Làm gương mẫu trong việc thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô.

Nói tóm lại, phải lấy việc làm thực tế mà hướng dẫn nhân dân ta xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

“Quốc hội ta vĩ đại thật”, 10-7-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 172.

“Để xứng đáng với vinh dự to lớn là người đày tớ tuyệt đối trung thành của nhân dân, các đại biểu Quốc hội và cán bộ chính quyền cần phải:

Thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư.

Gương mẫu về mọi mặt: Đoàn kết, công tác, học tập, lao động.

Luôn giữ vững tác phong khiêm tốn, chất phác, và hòa mình với quần chúng thành một khối”.

“Nói chuyện tại buổi lễ bế mạc Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa II”, 15-7-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 175.

“Tất cả đại biểu Quốc hội hứa với đồng bào là được cử vào Quốc hội để làm đại biểu Quốc hội, không phải là để làm quan, không phải là để ngồi trên ăn trốc, mà làm người đày tớ tuyệt đối trung thành của đồng bào”.

“Nói chuyện với đồng bào Thủ đô nhân dịp mừng Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa II thắng lợi”, 15-7-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 177.

“Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân, đã lãnh đạo nhân dân phấn đấu dưới lá cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác – Lênin”.

“Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng của Đảng Lao động Việt Nam”, 5-9-1960, Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 197.

“Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân dân làm chủ. Tức là cán bộ và nhân viên từ cấp trên đến cấp dưới đều là đầy tớ của nhân dân, đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân”.

“Một lòng một dạ phục vụ nhân dân”, 18-1-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 251.

“Cán bộ và đảng viên càng phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh ra oai. Phải nắm vững quan điểm giai cấp, đi đúng đường lối của quần chúng, thành tâm học hỏi quần chúng, kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành mọi chủ trương, chính sách của Đảng và của Nhà nước. Phải thật thà ngay thẳng; không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm. Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo; phải thực sự cầu thị, không được chủ quan. Phải luôn luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải “chí công vô tư” và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Đó là đạo đức của người cộng sản”.

“Xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội”, tháng 3-1961,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 311.

“Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào – đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân. Tất cả cán bộ đều phải một lòng một dạ phục vụ  nhân dân; đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân; đều phải theo đúng chính sách của Đảng và đi đúng đường lối của quần chúng.

Do đó mà lãnh đạo phải dân chủ, thiết thực, cụ thể và toàn diện. Phải tránh cách lãnh đạo đại khái, phiến diện, chung chung. Cán bộ phải tuyệt đối tránh bệnh quan liêu mệnh lệnh, phải hết sức chống bệnh hình thức, chống lãng phí tham ô.

Trong mọi công việc, đảng viên và đoàn viên thanh niên phải làm gương mẫu để lôi cuốn nhân dân cùng tiến bộ”.

“Bài nói chuyện với đồng bào dân tộc tỉnh Tuyên Quang”, tháng 3-1961, Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 323.

“Đảng ta là Đảng lãnh đạo cách mạng. Ngoài lợi ích của nhân dân Đảng ta không có lợi ích nào khác. Vì vậy, cán bộ và đảng viên phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phải là người đày tớ hết sức trung thành của nhân dân”.

Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Bắc Giang”, tháng 3 năm 1961,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 337.

“… bảo vệ Bác nên các chú không muốn để đồng bào đến gần, cho nên đã xô đẩy đồng bào. Thái độ thế là không tốt. Đồng bào và các cháu nhi đồng muốn đến gần Bác. Nhưng các chú thì lại không muốn. Nó có mâu thuẫn, nhưng phải làm thế nào? Mình là dân chủ, Bác cũng như các chú, đều nói là phục vụ nhân dân. Cho nên phải khéo tổ chức, nếu không khéo tổ chức thì xô đẩy cũng không được; cho nên, phải làm thế nào để vừa bảo vệ được Bác, vừa không xô đẩy đồng bào.

Tóm lại, các chú muốn bảo vệ tốt phải có kỹ thuật, phải giữ được bí mật và phải có thái độ tốt với đồng bào”.

“Bài nói chuyện với Hội nghị Tổng kết công tác cảnh vệ”,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 516-517.

“Nhân dân ta rất cần cù, thông minh và khéo léo. Trong sản xuất và sinh hoạt, họ có rất nhiều kinh nghiệm quý báu cán bộ ta cần tham gia tổng kết những kinh nghiệm quý báu ấy. Việc này các cô, các chú làm được còn ít, cần phải làm tốt hơn nữa. Cán bộ ta lại phải học tập những đức tính cần cù, giản dị và thiết thực của công nhân, nông dân để trau dồi thêm tư tưởng và tác phong của mình”.

“Bài nói tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam”, 18-5-1963, Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr. 79.

“… cán bộ từ Trung ương đến xã đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân.

Cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần phải xung phong gương mẫu trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Đồng bào cần phải luôn luôn giúp đỡ và phê bình cán bộ để họ làm trọn nhiệm vụ”.

“Bài nói với nhân dân và cán bộ tỉnh Nam Định”, 22-5-1963.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, tr. 91.

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tuỵ, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn


>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 2)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 3)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 4)

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 4)

Nói về người cách mạng và Đảng cách mạng, nhà đại văn hào Trung Quốc là ông Lỗ Tấn có câu thơ:

“Hoành my lãnh đối thiên phu chỉ, Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu”.

Xin tạm dịch là:

“Trợn mắt xem khinh nghìn lực sĩ,

Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”.

“Nghìn lực sĩ” có nghĩa là những kẻ địch mạnh, thí dụ: Lũ thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ. Cũng có nghĩa là những sự khó khăn gian khổ.

“Các nhi đồng” nghĩa là quần chúng nhân dân hiền lành, đông đảo. Cũng có nghĩa là những công việc ích quốc, lợi dân.

Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”.

“Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam”, 3-3-1951, Hồ Chí Minh toàn tập, t.6, tr.184-185.

“… người đảng viên, dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp – ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng.

Mỗi đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước quần chúng, để giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành. Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo.

Mà muốn cho quần chúng nghe lời mình, làm theo mình, thì người đảng viên, từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu. Thế là làm cho dân tin Đảng, phục Đảng, yêu Đảng và làm theo chính sách của Đảng và của Chính phủ.

Đảng viên nào không được dân tin, dân phục, dân yêu thì chưa xứng đáng là một người đảng viên của Đảng Lao động Việt Nam.

Vì vậy, mỗi đảng viên phải luôn luôn cố gắng”.

“Người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam phải thế nào?”, 25-3-1951.Hồ Chí Minh toàn tập, t.6, tr.189-190.

“Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân. Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc. Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân. Mỗi quân nhân phải là một cán bộ tuyên truyền bằng việc làm của quân đội. Trong mấy chiến dịch vừa qua, nói chung bộ đội ta đã biết giúp đỡ dân, thương yêu dân. Nhưng cũng còn có chú dọa nạt dân, mượn của dân không trả, mua rẻ của dân. Phải sửa chữa những khuyết điểm ấy. Dân như nước, quân như cá. Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc”.

“Bài nói tại Hội nghị Kiểm thảo chiến dịch đường số 18”, 04-5-1951, Hồ Chí Minh toàn tập, t.6, tr.207.

“Cách mạng cũng như một bộ máy, phải có phân công, người làm việc này, người làm việc khác nhưng việc nào cũng cần thiết, cũng quan trọng. Thí dụ trong một cái đồng hồ, những cái kim thì chạy suốt ngày đêm, những chữ số thì suốt đời đứng một chỗ. Nếu những chữ số cũng muốn chạy như cái kim, hay là cái kim cũng muốn đứng lại như chữ số thì không thành cái đồng hồ nữa”.

“Thư gửi lớp cán bộ cung cấp”, 02-9-1951.

Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.296.

“Có người cho đạo đức cũ và đạo đức mới không có gì khác nhau. Nói như vậy là lầm to. Đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều.

Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời. Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân”.

 “Bài nói chuyện tại Trường Chính trị  Trung cấp quân đội”, 25-10-1951, Hồ Chí Minh toàn tập, t.6, tr.320-321.

“Để thực hiện chính sách, làm trọn nhiệm vụ, cán bộ chẳng những phải chịu khó giải thích, tuyên truyền, cổ động mà còn phải bàn bạc với quần chúng, hỏi han ý kiến, gom góp sáng kiến của quần chúng. Lãnh đạo quần chúng và hoan nghênh quần chúng phê bình…Tóm lại, phải đi đúng đường lối quần chúng. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, đối với Chính phủ, đối với nhân dân.

Bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm”.

Tinh thần trách nhiệm”, 13-12-1951, Hồ Chí Minh toàn tập, t.6, tr.346.

“Quân đội ta là Quân đội nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của nhân dân. Đánh giặc để tranh lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, để bảo vệ tự do hạnh phúc của nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, quân đội ta không có lợi ích nào khác.

Quân đội ta biết rằng: cơm quân đội ăn, áo quân đội mặc, vũ khí quân đội dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân tăng gia sản xuất, đóng thuế nông nghiệp mà có. Nhân dân thức khuya dậy sớm, ăn gió nằm sương, để đắp đường sửa cầu cho bộ đội đi. Nhân dân không quản trèo đèo lội suối, không quản khó nhọc gian lao, để chuyên chở súng đạn cho bộ đội đánh giặc. Tóm lại, quân đội sinh trưởng, thắng lợi, là nhờ nhân dân ra sức giúp đỡ. Vì thế, bộ đội rất biết ơn và yêu mến nhân dân.

Về phía nhân dân thì ai cũng biết rằng: có quân đội đánh giặc và giữ làng giữ nước, mình mới được yên ổn làm ăn, Tổ quốc mới được thống nhất, độc lập. Trong công cuộc kháng chiến cứu nước, nhân dân hy sinh là hy sinh một phần của cải và thời giờ. Của cải hết, có thể lại làm ra; thời giờ qua, thời giờ lại đến. Nhưng bộ đội hy sinh là hy sinh xương máu, có khi hy sinh cả tính mệnh. Cụt chân, gẫy tay, chân tay không thể mọc lại; người chết không thể sống lại. Đó là một sự hy sinh tuyệt đối. Đồng bào biết rằng: Các chiến sĩ trong bộ đội ai cũng có cha mẹ anh em, ai cũng có gia đình thân thích. Nhưng họ đã hy sinh tiểu gia đình của họ, họ đã không ngại rời cha mẹ, bỏ quê hương, ra xông pha bom đạn, để phụng sự đại gia đình dân tộc gồm cả gia đình của mỗi đồng bào. Do đó nhân dân rất biết ơn và yêu mến bộ đội”.

“Tình đoàn kết quân dân ngày thêm bền chặt”, 3-3-1952, Hồ Chí Minh: toàn tập, t.6, tr.426-427.

“Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đày tớ cho dân.

Đó là vinh dự cao nhất. Nếu có thành tích gì thì Chủ tịch và người nấu cơm phải chia nhau cái vinh dự ấy. Tóm lại không có việc sang, hèn. Công việc gì làm tròn, bổ ích cho kháng chiến, cho nhân dân đều là công việc sang, công việc gì bên ngoài có vẻ loè loẹt mà không làm tròn là công việc xấu”.

“Bài nói tại Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất”, tháng 6-1952, Hồ Chí Minh toàn tập, t.6, tr.515.

“Quần chúng rất nhiều sáng kiến, họ hiểu biết rất mau, nhất là những cái thuộc về quyền lợi của họ. Cán bộ phải tìm hiểu quần chúng, phải học hỏi quần chúng để lãnh đạo quần chúng. Cán bộ phải kiên nhẫn, quyết tâm, phải chí công vô tư. Nếu tự tư tự lợi, lập trường không vững, tư tưởng không thông, thì tài giỏi gì cũng vô dụng, vì quần chúng rất thông minh. Ai ra sức phục vụ, ai tự tư tự lợi, họ biết ngay, không giấu được họ”.

“Bài nói tại Hội nghị nông vận và dân vận toàn quốc”, 5-2-1953, Hồ Chí Minh toàn tập, t.7, tr.28.

“Chính phủ ta là chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành tận tuỵ của nhân dân”.

“Lời kêu gọi nhân dân ngày Thủ đô giải phóng”, 10-10-1954, Hồ Chí Minh toàn tập, t.7, tr.361-362.

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tuỵ, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

——————————-

>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 2)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 3)

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 3)

Nói về người cách mạng và Đảng cách mạng, nhà đại văn hào Trung Quốc là ông Lỗ Tấn có câu thơ:

“Hoành my lãnh đối thiên phu chỉ, Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu”.

Xin tạm dịch là:

“Trợn mắt xem khinh nghìn lực sĩ,

Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”.

“Nghìn lực sĩ” có nghĩa là những kẻ địch mạnh, thí dụ: Lũ thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ. Cũng có nghĩa là những sự khó khăn gian khổ.

“Các nhi đồng” nghĩa là quần chúng nhân dân hiền lành, đông đảo. Cũng có nghĩa là những công việc ích quốc, lợi dân.

Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”.

“Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam”, 3/3/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.184-185).

“…người đảng viên, dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp – ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng.

Mỗi đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước quần chúng, để giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành. Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo.

Mà muốn cho quần chúng nghe lời mình, làm theo mình, thì người đảng viên, từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu. Thế là làm cho dân tin Đảng, phục Đảng, yêu Đảng và làm theo chính sách của Đảng và của Chính phủ.

Đảng viên nào không được dân tin, dân phục, dân yêu thì chưa xứng đáng là một người đảng viên của Đảng Lao động Việt Nam.

Vì vậy, mỗi đảng viên phải luôn luôn cố gắng”.

(“Người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam phải thế nào?”, 25/3/1951, Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.189-190).

“Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân. Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc. Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân. Mỗi quân nhân phải là một cán bộ tuyên truyền bằng việc làm của quân đội. Trong mấy chiến dịch vừa qua, nói chung bộ đội ta đã biết giúp đỡ dân, thương yêu dân. Nhưng cũng còn có chú dọa nạt dân, mượn của dân không trả, mua rẻ của dân. Phải sửa chữa những khuyết điểm ấy. Dân như nước, quân như cá. Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc”.

(“Bài nói tại Hội nghị kiểm thảo chiến dịch đường số 18”, 04/5/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.207).

“Cách mạng cũng như một bộ máy, phải có phân công, người làm việc này, người làm việc khác nhưng việc nào cũng cần thiết, cũng quan trọng. Thí dụ trong một cái đồng hồ, những cái kim thì chạy suốt ngày đêm, những chữ số thì suốt đời đứng một chỗ. Nếu những chữ số cũng muốn chạy như cái kim, hay là cái kim cũng muốn đứng lại như chữ số thì không thành cái đồng hồ nữa”.

(“Thư gửi lớp cán bộ cung cấp”, 02/9/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.296).

“Có người cho đạo đức cũ và đạo đức mới không có gì khác nhau. Nói như vậy là lầm to. Đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều.

Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngẩng lên trời. Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân”.

 (“Bài nói chuyện tại Trường Chính trị trung cấp quân đội”, 25/10/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.320-321).

“Để thực hiện chính sách, làm trọn nhiệm vụ, cán bộ chẳng những phải chịu khó giải thích, tuyên truyền, cổ động mà còn phải bàn bạc với quần chúng, hỏi han ý kiến, gom góp sáng kiến của quần chúng. Lãnh đạo quần chúng và hoan nghênh quần chúng phê bình…Tóm lại, phải đi đúng đường lối quần chúng. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, đối với Chính phủ, đối với nhân dân.

Bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm”.

(“Tinh thần trách nhiệm”, 13/12/1951, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.346).

“Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của nhân dân. Đánh giặc để tranh lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, để bảo vệ tự do hạnh phúc của nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, quân đội ta không có lợi ích nào khác.

Quân đội ta biết rằng: Cơm quân đội ăn, áo quân đội mặc, vũ khí quân đội dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân tăng gia sản xuất, đóng thuế nông nghiệp mà có. Nhân dân thức khuya dậy sớm, ăn gió nằm sương, để đắp đường sửa cầu cho bộ đội đi. Nhân dân không quản trèo đèo lội suối, không quản khó nhọc gian lao, để chuyên chở súng đạn cho bộ đội đánh giặc. Tóm lại, quân đội sinh trưởng, thắng lợi, là nhờ nhân dân ra sức giúp đỡ. Vì thế, bộ đội rất biết ơn và yêu mến nhân dân.

Về phía nhân dân thì ai cũng biết rằng: Có quân đội đánh giặc và giữ làng giữ nước, mình mới được yên ổn làm ăn, Tổ quốc mới được thống nhất, độc lập. Trong công cuộc kháng chiến cứu nước, nhân dân hy sinh là hy sinh một phần của cải và thời giờ. Của cải hết, có thể lại làm ra; thời giờ qua, thời giờ lại đến. Nhưng bộ đội hy sinh là hy sinh xương máu, có khi hy sinh cả tính mệnh. Cụt chân, gẫy tay, chân tay không thể mọc lại; người chết không thể sống lại. Đó là một sự hy sinh tuyệt đối. Đồng bào biết rằng: Các chiến sỹ trong bộ đội ai cũng có cha mẹ anh em, ai cũng có gia đình thân thích. Nhưng họ đã không ngại rời cha mẹ, xa quê hương, ra xông pha bom đạn, để phụng sự đại gia đình dân tộc gồm cả gia đình của mỗi đồng bào. Do đó nhân dân rất biết ơn và yêu mến bộ đội”.

(“Tình đoàn kết quân dân ngày thêm bền chặt”, 3/3/1952, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.426-427).

“Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là nhân công làm đày tớ cho dân.

Đó là vinh dự cao nhất. Nếu có thành tích gì thì Chủ tịch và người nấu cơm phải chia nhau cái vinh dự ấy. Tóm lại không có việc sang, hèn. Công việc gì làm tròn, bổ ích cho kháng chiến, cho nhân dân đều là công việc sang, công việc gì bên ngoài có vẻ loè loẹt mà không làm tròn là công việc xấu”.

(“Bài nói tại Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất”, tháng 6 năm 1952, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.6, tr.515).

“Quần chúng rất nhiều sáng kiến, họ hiểu biết rất mau, nhất là những cái thuộc về quyền lợi của họ. Cán bộ phải tìm hiểu quần chúng, phải học hỏi quần chúng để lãnh đạo quần chúng. Cán bộ phải kiên nhẫn, quyết tâm, phải chí công vô tư. Nếu tự tư, tự lợi, lập trường không vững, tư tưởng không thông, thì tài giỏi gì cũng vô dụng, vì quần chúng rất thông minh. Ai ra sức phục vụ, ai tự tư, tự lợi, họ biết ngay, không giấu được họ”.

(“Bài nói tại Hội nghị nông vận và dân vận toàn quốc”, 5/2/1953, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.7, tr.28).

“Chính phủ ta là chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành tận tuỵ của nhân dân”.

(“Lời kêu gọi nhân dân Ngày Thủ đô giải phóng”, 10/10/1954, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.7, tr.361-362).

“Chủ nghĩa xã hội là cái gì? Là mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do. Nhưng nếu muốn tách riêng một mình mà ngồi ăn no, mặc ấm, người khác mặc kệ, thế là không tốt. Mình muốn ăn no, mặc ấm, cũng cần làm sao cho tất cả mọi người được ăn no mặc ấm, như thế mới đúng. Muốn như vậy, phải ra sức công tác, ra sức lao động sản xuất.

Tiền đồ của mỗi người nằm trong tiền đồ chung của dân tộc”.

(“Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục”, tháng 6 năm 1957, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.8, tr.396).

…Đảng viên và cán bộ ta nói chung là trung thành, tận tụy, hăng hái. Nhưng một số đảng viên và cán bộ còn có bệnh công thần, suy tị, ỷ lại, tiêu cực không gương mẫu, đầy rẫy chủ nghĩa cá nhân.

Từ nay về sau, tất cả các đảng viên, cán bộ và chi bộ phải thường thường ôn lại, tự liên hệ và giữ đúng những tiêu chuẩn của người đảng viên:

1. Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

2. Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa những tư tưởng sai lầm. Kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong chân ngoài.

3. Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Biết đem lợi riêng, lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng.

4. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết và kỷ luật của Đảng.

5. Liên hệ chặt chẽ với quần chúng.

6. Luôn luôn cố gắng học tập, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình.

Phải giữ đúng những tiêu chuẩn đó mới xứng đáng là người đảng viên”.

(Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ Kiến An”, 18/1/1960, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.10, tr. 33-34).

Phải thấu suốt chính sách của Đảng và Chính phủ. Phải đi đúng đường lối quần chúng.

Phải thật sự gần gũi nhân dân, lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của nhân dân, học hỏi kinh nghiệm của nhân dân.

Phải biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của quần chúng.

Phải thiết thực quan tâm đến đời sống của nhân dân.

Phải cần, kiệm, liêm, chính. Phải gương mẫu. Phải có tinh thần trách nhiệm cao độ.

Phải chống quan liêu, mệnh lệnh, hình thức. Chống tham ô lãng phí.

Phải làm đúng những điều đó mới xứng là người đày tớ trung thành của nhân dân, người cán bộ tốt của Đảng và Chính phủ”.

(Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ Kiến An”, 18/1/1960, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.10, tr. 36).

“Những người được cử vào Quốc hội khóa II sẽ luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đày tớ trung thành của đồng bào, những đại biểu cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội”.

(Lời phát biểu tại Đại hội nhân dân Thủ đô chào mừng các vị ứng cử đại biểu Quốc hộitại Hà Nội ra mắt cử tri”, 14/4/1960, Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.10, tr. 132).

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn


>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 2)

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 2)

>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)

38

(Ảnh nguồn: Internet)

“Muốn dân chúng thành thật bày tỏ ý kiến, cán bộ phải thành tâm, phải chịu khó, phải khéo khơi cho họ nói. Do ý kiến và đề nghị lẻ tẻ của dân chúng, ta phải khéo gom góp lại, sắp đặt lại cho có ngăn nắp, thứ tự rồi cùng dân chúng ra sức thi hành. Như vậy, vừa nâng cao trình độ của dân chúng, mà cũng nâng cao kinh nghiệm của mình.

Đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay so sánh.

Họ so sánh bây giờ và họ so sánh thời kỳ đã qua. Họ so sánh từng việc và  họ so sánh toàn bộ phận. Do sự so sánh, họ thấy chỗ khác nhau, họ thấy mối mâu thuẫn. Rồi lại do đó, họ kết luận, họ đề ra cách giải quyết.

Dân chúng so sánh đúng, giải quyết đúng, là vì tai mắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy.

Vì sự so sánh kỹ càng đó, mà cách giải quyết của dân chúng bao giờ cũng gọn gàng, hợp lý, công bình.

Đối với cán bộ cũng vậy. Cán bộ nào tốt, cán bộ nào xấu, cán bộ nào có lầm lỗi mà có thể sửa đổi, ai làm việc gì hay, việc gì quấy, dân chúng cũng do cách so sánh đó, mà họ biết rõ ràng.

Vì vậy, để cho dân chúng phê bình cán bộ, dựa theo ý kiến họ mà cất nhắc cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư, thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng. Đồng thời, do sự dùi mài của dân chúng, cán bộ và dân chúng đều tiến bộ, lại do đó, cán bộ và dân chúng đoàn kết chặt chẽ thêm.

Cố nhiên, dân chúng không nhất luật như nhau. Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau. Có lớp tiền tiến, có lớp chừng chừng, có lớp lạc hậu.

Tuy vậy, khi đem vấn đề ra bàn trước dân chúng, họ đem các ý kiến khác nhau so sánh. So đi sánh lại, sẽ lòi ra một ý kiến mà mọi người đều tán thành, hoặc số đông người tán thành. Ý kiến đó, lại bị họ so sánh tỉ mỉ từng đoạn, họ thêm điểm hay vào, bỏ điểm dở đi. Ý kiến đó trở nên ý kiến đầy đủ, thiết thực.

Sau khi bàn bạc, so sánh, thêm thắt thành một ý kiến đầy đủ, ý kiến đó tức là cái kích thước nó tỏ rõ sự phát triển trình độ của dân chúng trong nơi đó, trong lúc đó. Theo ý kiến đó mà làm, nhất định thành công. Làm không kịp ý kiến đó, là đầu cơ, nhút nhát. Làm quá ý kiến đó là mạo hiểm, hẹp hòi, “tả”.

Có nhiều cách hỏi ý kiến dân chúng. Nói chuyện với từng người. Nói chuyện với đông người. Khai hội, nói chuyện với tầng lớp này, nói chuyện với tầng lớp khác, với mọi tầng lớp.

Nếu ta chịu khó, chịu suy nghĩ, bất kỳ nói chuyện với ai cũng có ích cho tư tưởng của ta. Cố nhiên, không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo. Người cán bộ cũng phải dùng cách so sánh của dân chúng mà tự mình so sánh. Nghĩa là đem các ý kiến khác nhau để so sánh kỹ, phân tích kỹ các nội dung của các tầng lớp xã hội có cái ý kiến đó. Tìm ra mối mâu thuẫn trong những ý kiến khác nhau đó. Xem rõ cái nào đúng, cái nào sai. Chọn lấy ý kiến đúng, đưa ra cho dân chúng bàn bạc, lựa chọn lại, để nâng cao dần dần sự giác ngộ của dân chúng.

Thế gọi là: Tập trung ý kiến, ra sức thi hành. So đi sánh lại, phân tích rõ ràng là cách làm việc có khoa học. Mỗi công việc, chúng ta đều phải làm như thế. Làm như thế mới tránh khỏi cái độc đoán, mới tránh khỏi sai lầm.

Nghĩa là: Nói chuyện và bàn bạc với cán bộ như thế cũng chưa đủ, còn phải nói chuyện và bàn bạc với những phần tử hăng hái trong quần chúng. Nói chuyện và bàn bạc với những phần tử hăng hái trong quần chúng cũng chưa đủ, còn phải nói chuyện và bàn bạc với nhân dân. Đó là một vấn đề rất trọng yếu cho cách làm việc của Đảng.

Từ trước đến nay, nhiều nơi công việc không chạy, chính vì cán bộ không thực hành theo nguyên tắc đó. Nếu không làm theo nguyên tắc đó, thì dù chính sách hay trăm phần trăm, cũng hóa ra vô dụng.

Chúng ta phải kiên quyết bỏ sạch lối quan liêu, lối chật hẹp, lối mệnh lệnh. Chúng ta phải kiên quyết thực hành theo nguyên tắc sau đây:

1. Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng.

2. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta.

3. Chớ khư khư giữ theo “sáo cũ”. Luôn luôn phải theo tình hình thiết thực của dân chúng nơi đó và lúc đó, theo trình độ giác ngộ của dân chúng, theo sự tình nguyện của dân chúng mà tổ chức họ, tùy hoàn cảnh thiết thực trong nơi đó, và lúc đó, đưa ra tranh đấu.

4. Chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng. Nhưng phải khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hóa nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng. Phải đem cách nhân dân so sánh, xem xét, giải quyết các vấn đề, mà hóa nó thành cách chỉ đạo nhân dân.

5. “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Trước kia, việc gì cũng từ “trên dội xuống”. Từ nay việc gì cũng phải từ “dưới nhoi lên”.

Làm như thế, chính sách, cán bộ và nhân dân sẽ nhất trí, mà Đảng ta sẽ phát triển rất mau chóng và vững vàng”.

(“Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10 năm 1947, Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, tr.295-298).

“Tư cách người công an cách mệnh là :

Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính.

Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.

Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.

Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.

Đối với công việc, phải tận tụy.

Đối với địch, phải cương quyết, không khéo.

(“Tư cách người công an cách mệnh”,Tháng 3 năm 1948, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.2, tr.406-407).

“Gốc có vững cây mới bền,

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

(“6 điều không nên và 6 điều nên làm”, 05/4/1948, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.410).

“Trong mọi việc, chúng ta chỉ có một mục đích, là phụng sự đồng bào, phụng sự Tổ quốc. Chúng ta chỉ có một phương châm, là chí công vô tư”.

“Thư gửi các ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, các tỉnh, quận và xã ở Nam Bộ”, 15/9/1948, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.498).

“Học để làm việc, làm người, làm cán bộ.

Học để phụng sự Đoàn thể, “giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”.

Muốn đạt được mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”.

(“Lời ghi ở trang đầu quyển sổ vàng của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương”, tháng 9 năm 1949, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.684).

“NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

(“Dân vận”, 15-10-1949, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.698).

“Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng: Có đạo đức cách mạng thì mới hy sinh tận tụy với cách mạng, mới lãnh đạo được quần chúng đưa cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn”.

“Nói về công tác huấn luyện và học tập”, tháng 5 năm 1950, Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.50).

“Thang thuốc chữa bệnh quan liêu:

Phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết.

Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân.

Phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình.

Phải làm kiểu mẫu: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”.

“Phải tẩy sạch bệnh quan liêu”, 2/9/1950, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.498).

“Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Những người mà:

– Giàu sang không thể quyến rũ,

– Nghèo khó không thể chuyển lay,

– Uy lực không thể khuất phục.

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tuỵ, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)

38

“Lãnh đạo nhân dân vì sức mạnh của họ không thể thiếu được đối với sự thành công của sự nghiệp cách mạng. Dân chúng vốn ít học, ngây thơ, dễ bị lừa và bị mua chuộc. Vậy người cách mạng mẫu mực phải giáo dục họ, sửa chữa cho họ và chiếm được sự tin cậy của dân chúng để có thể sử dụng sức mạnh của họ đúng lúc.

… Xem thường danh vị, ngôi thứ và tiền bạc, vì chúng là cội sinh ra đố kỵ và hận thù và là nguyên nhân của những hành động chỉ điểm, phản bội làm tổn hại nghiêm trọng đến sự nghiệp cách mạng.

… Không cục bộ, bởi vì cách mạng phải vì lợi ích của dân tộc chứ không phải của một cá nhân. Vì vậy, nếu một người cách mạng tìm cách cục bộ thì tham vọng của anh ta sẽ khiến anh ta hành động vì mình chứ không vì mọi người.

… Không kiêu ngạo. Kẻ kiêu ngạo thì xa lánh nhân tâm quần chúng và tạo cho mình kẻ thù. Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hòa, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không bao giờ được quên rằng cuộc đời mình và sự nghiệp của mình thuộc về toàn nhân loại chứ không thuộc về mình.

… Kiên trì và nhẫn nại. Sự nghiệp cách mạng là lâu dài, khó khăn và nguy hiểm. Nếu người cách mạng thiếu kiên trì và nhẫn nại, thì những khó khăn sẽ làm anh ta thối chí và sẽ đào ngũ giữa trận tiền”.

(“Người cách mạng mẫu mực”, 18/9/1926, Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.2, tr.450).

“Người xưa nói: quan là công bộc của dân, ta cũng có thể nói: Chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì tránh.

Các Ủy ban nhân dân làng, phủ là hình thức Chính phủ địa phương phải chọn trong những người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm. Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui vào lọt vào các Ủy ban đó.

Ủy ban nhân dân là Ủy ban có nhiệm vụ thực hiện tự do dân chủ cho dân chúng. Nó phải hành động đúng tinh thần tự do dân chủ đó”.

“Chính phủ là công bộc của dân”, 19/9/1945, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.4, tr.22-23).

“Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dầu khó đến đâu mặc lòng, những vấn đề quan hệ tới đời sống của dân. Phải chấp đơn, phải xử kiện cho dân mỗi khi người ta đem tới. Phải chăm lo việc cứu tế nạn nhân cho chu đáo, phải chú ý trừ nạn mù chữ cho dân. Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được ta đặc biệt chú ý.

Ngoài ra, đối với tất cả mọi người trong các tầng lớp dân chúng, ta phải có thái độ mềm dẻo khôn khéo, biết nhân nhượng, biết trọng nhân cách người ta. Phải tỏ cho mọi người biết rằng công việc là công việc chung, thiếu người ra gánh vác thì mình ra, nếu có người thay, mình sẽ nghỉ để làm việc khác, sẵn sàng nhường lại cho ai muốn làm và làm được.

Nói tóm lại, muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”.

“Sao cho được lòng dân”, 12/10/1945, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.4, tr.47-48).

“Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối. Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì.

… Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc. Trong việc kiến thiết nước nhà, sửa sang mọi việc, phải làm dần dần, không thể một tháng, một năm mà làm được hết. Song ngay từ bước đầu, chúng ta phải theo đúng phương châm.

Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật.

Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm.

Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh.

Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.

(“Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, 17/10/1945.Hồ Chí Minh Toàn tập, t.4, tr.56-57).

“Đối với nhân dân: Phải nhớ Đoàn thể làm việc cho dân, Đoàn thể mình mạnh hay yếu là ở dân. Dân nghe theo là mình mạnh. Hiểu nguyện vọng của dân, sự cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân. Nhưng cũng có việc dân không muốn mà phải làm như tản cư, nộp thuế, những việc ấy phải giải thích cho dân rõ. Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân.

Muốn cho dân phục phải được dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết”.

(“Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa”, 20/2/1947, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.55).

“Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân, phải được dân tin cậy. Vì vậy, những người làm trong các công sở càng phải làm gương đời sống mới cho dân bắt chước.

Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”.

(“Đời sống mới”, 20/3/1947, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.104).

“Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.

… Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng. Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Mỗi công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng.

Chẳng những không nâng cao được dân chúng, mà cũng không biết ý kiến của dân chúng”.

(“Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10 năm 1947, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.249).

“Lợi ích của dân tộc, gồm có lợi ích của Đảng. Lợi ích của Đảng, gồm có lợi ích của đảng viên. Vì vậy, sự phát triển và thành công của Đảng, một mặt tức là thành công của dân tộc, một mặt tức là thành công của đảng viên. Vì vậy, chỉ có khi Đảng thành công và thắng lợi, thì đảng viên mới có thể thành công và thắng lợi. Chính vì vậy mà đảng viên cần phải hy sinh lợi ích của mình cho lợi ích chung của Đảng.

Không ai bắt buộc ai vào Đảng làm chiến sĩ xung phong. Đó là do sự “tự giác”, lòng hăng hái của mỗi người mà tình nguyện làm đảng viên, làm chiến sĩ xung phong. Đã vậy, thì mỗi người đảng viên phải cố gắng cho xứng đáng là một người trong những người đại biểu của dân tộc.

Nhất là những người cán bộ và lãnh tụ, càng phải làm cho xứng đáng lòng tin cậy của Đảng, của dân tộc. Càng phải làm gương cho tất cả đảng viên, tất cả quần chúng noi theo”.

(“Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10 năm 1947, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.5, tr.253).

““Chẳng những phải lãnh đạo quần chúng, mà lại phải học hỏi quần chúng”.

Câu đó nghĩa là gì ?

Nghĩa là: Người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng, để thêm cho kinh nghiệm của mình.

Nghĩa là một giây, một phút cũng không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng.

Nghĩa là phải lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người “không quan trọng””.

(“Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10 năm 1947, Hồ Chí Minh Toàn tập, t.2, tr.258).

“Làm theo cách quần chúng. Việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc. Giải thích cho dân chúng hiểu rõ. Được dân chúng đồng ý. Do dân chúng vui lòng ra sức làm.

Như thế hơi phiền một chút, phiền cho những người biếng học hỏi và giải thích. Nhưng việc gì cũng nhất định thành công.

Có người nói rằng: Mọi việc họ đều phụ trách trước Đảng, trước Chính phủ. Thế là đúng, nhưng chỉ đúng một nửa. Họ phụ trách trước Đảng và Chính phủ, đồng thời họ phải phụ trách trước nhân dân. Mà phụ trách trước nhân dân nhiều hơn phụ trách trước Đảng và Chính phủ, vì Đảng và Chính phủ vì dân mà làm các việc, và cũng phụ trách trước nhân dân. Vì vậy, nếu cán bộ không phụ trách trước nhân dân, tức là không phụ trách trước Đảng và Chính phủ, tức là đưa nhân dân đối lập với Đảng và Chính phủ.

Nếu trong những chính sách, những chỉ thị, những khẩu hiệu của cấp trên, có gì khuyết điểm, cán bộ phải có tinh thần phụ trách trước nhân dân mà đề nghị những chỗ nên sửa đổi. Không làm như vậy, tức là cán bộ không phụ trách trước nhân dân, mà cũng không phụ trách trước Đảng và Chính phủ.

Việc gì cũng bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân. Thế là phụ trách trước nhân dân.

Trái lại việc gì cũng dùng cách quan liêu, cũng chỉ ra mệnh lệnh, thế là không phụ trách trước nhân dân. Thế là đem hai chữ “mệnh lệnh” làm thành một bức tường để tách rời Đảng và Chính phủ với nhân dân, tách rời lợi ích của nhân dân với chính sách của Đảng và Chính phủ.

Có nhiều cán bộ không bàn bạc, không giải thích với dân chúng, không để cho dân chúng phát biểu ý kiến, giải quyết các vấn đề, chỉ bắt buộc dân chúng làm theo mệnh lệnh. Thậm chí khi dân chúng đề ra ý kiến và nêu rõ vấn đề, họ cũng tìm cách dìm đi. Họ chỉ làm theo ý kiến của họ. Kết quả làm cho dân chúng nghi ngờ, uất ức, bất mãn.

Làm cách đó, thì dù việc đó có lợi cho dân chúng, nhưng một là vì không có ý kiến và lực lượng của dân chúng giúp đỡ nên làm rõ, nên việc đó không được lâu dài, bền vững.

Vì vậy, việc gì cũng phải hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc, và giải thích cho dân chúng.

Có người thường cho dân là dốt không biết gì, mình là thông thái tài giỏi. Vì vậy, họ không thèm học hỏi dân chúng, không thèm bàn bạc với dân chúng.

Đó là một sự sai lầm nguy hiểm lắm. Ai có sai lầm đó, phải mau mau sửa đổi. Nếu không sẽ luôn luôn thất bại”.

(“Sửa đổi lối làm việc”, tháng 10 năm 1947, Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, tr. 294-295).

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tuỵ, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Muốn thành cán bộ tốt phải có tinh thần tự chỉ trích

Là người học trò, người cộng sự gần gũi và tin cậy, nhiều năm được sống và làm việc bên Bác Hồ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã viết:

“Xem một đôi bức ảnh Hồ Chủ tịch, có người nói mắt Người có hai con ngươi và tin rằng vì chỗ đó Người là một ông thánh. Làm gì có chuyện hoang đường như thế! Mắt Hồ Chủ tịch cũng như mắt mọi người, sáng hơn mắt mọi người nhiều lắm đã đành, nhưng sáng hơn vì Người biết nhìn, nên nhìn thấy những điều người khác không nhìn thấy: Hiện tại, tương lai…”.

Là người sáng lập và xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy trước những điều mà một đảng cầm quyền nếu không quyết tâm rèn luyện, giáo dục, nếu không thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình thì rất dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân, làm hại cho sự nghiệp cách mạng.

Không biết bao nhiêu lần, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, đã viết, đã căn dặn chúng ta về phê bình và tự phê bình. Bác nói: “Trước ta nói phê bình và tự phê bình, bây giờ ta phải nói tự phê bình và phê bình. Nói như thế nghĩa là phải chú trọng phê bình mình trước, phê bình người sau, phê bình mình là chính”.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” tháng 10 năm 1947, Bác Hồ đã viết:

“Ngay từ bây giờ, các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người, mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công.

Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”.

Và Bác nhấn mạnh:

“Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó”.

Nói về tư cách của một đảng chân chính cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra 12 điều. Trong đó, điều thứ 8 là: “Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa để tiến bộ và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”. Điều thứ 10 là: “Đảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hoá ra ngoài”.

Cũng trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ viết:

“Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư, mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít, mà những tính tốt ngày càng thêm ra”.

Và những tính tốt ấy theo Bác Hồ gồm có 5 điều: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm.

1. Nhân: Là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào. Vì thế mà cương quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân… Vì thế mà không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền.

Những người đã không ham, không e, không sợ gì thì việc gì là việc phải, họ đều làm được.

2. Nghĩa: Là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn.

3. Trí: Vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng. Biết xem người, biết xét việc, vì vậy biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian.

4. Dũng: Là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ, khó khăn có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng. Nếu cần thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc.

5. Liêm: Là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá.

Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.

Học tập và nghiên cứu các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta thấy Bác luôn luôn coi trọng phẩm chất con người. Đồng thời chúng ta cũng thấy Người luôn luôn có thái độ dứt khoát, kiên quyết, thể hiện một quyết tâm chính trị lớn trước những tệ nạn quan liêu, tham ô, lãng phí và những biểu hiện của những suy thoái đạo đức khác. Không bao giờ thấy Bác nói “Đẩy lùi tham nhũng” mà chỉ thấy Bác nói: Phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù hung ác của chủ nghĩa xã hội. Tham ô, lãng phí là một tội ác, là kẻ thù của nhân dân, người cách mạng phải tiêu diệt nó.

Song Bác Hồ cũng nói:

“Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo” lên lợi ích cá nhân, nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể. Lợi ích của cá nhân luôn gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích của cá nhân mâu thuẫn với lợi ích của tập thể thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”.

Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI của Đảng đề ra là hợp với lòng dân. Nhân dân ta đang hy vọng và chờ đợi. Tất nhiên đây là một công việc khó khăn, song dù khó khăn cũng phải phấn đấu làm cho thành công, vì xây dựng Đảng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta và chế độ ta.

Một Đảng cách mạng, một người cách mạng phải luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng!

Mác đã từng nói: “Hạnh phúc chân chính của con người là phải hoà nhịp với hạnh phúc của hàng triệu người khác”.

Còn Lê-nin trong những ngày khó khăn của Cách mạng Tháng Mười, Hội đồng dân uỷ được phân phối mỗi người một pút khoai tây. Khi đọc bảng phân phối thấy ghi: “Lê-nin 2 pút, Crupxcaia 1 pút” Crupxcaia là vợ Lê-nin. Lê-nin đã lấy bút chữa lại: “Lê-nin 1 pút, Crupxcaia 0” và ông ghi Crupxcaia không ở Hội đồng dân uỷ.

Những người cách mạng chân chính bao giờ cũng biết quên mình vì hạnh phúc của nhân dân. Và để trở thành những người cán bộ tốt, đảng viên tốt, chúng ta hãy nhớ lời Bác căn dặn: “Muốn thành cán bộ tốt phải có tinh thần tự chỉ trích”.

Một nhà thơ đã viết:

“Ta hãy tự trả lời ta – Bạn hỡi

Khi ta vui và cả lúc ta buồn

Tâm hồn ta có trong sáng đẹp hơn

Trước phút đi xa, Bác Hồ căn dặn

Không đáng sợ kẻ thù trước mặt

Sợ nhất kẻ thù ẩn náu trong ta!”.

Theo Bùi Công Bính/ baonamdinh.com.vn
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Muốn lãnh đạo nhân dân phải lãnh đạo chính mình, cán bộ càng cao càng cần phải gương mẫu

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đánh giá cao tác dụng của sự nêu gương. Trong sự nghiệp trồng người, trong rèn luyện, giáo dục cán bộ, đảng viên, Bác luôn luôn nhắc nhở đến vai trò của sự gương mẫu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:

“Nhân dân ta sẵn có truyền thống tốt đẹp là lao động cần cù, sinh hoạt giản dị, lại có tinh thần yêu nước nồng nàn. Chúng ta cần phát huy truyền thống và tinh thần ấy. Cán bộ phải ra sức tuyên truyền, giải thích và làm gương mẫu…”.

Có thể nói, nhiều lần, rất nhiều lần, Bác Hồ đã nhắc nhở chúng ta về sự gương mẫu.

7.muon lanh dao can phaiBác Hồ đến thăm hội nghị phổ biến máy cấy công cụ cải tiến ở
 Từ Liêm, Hà Nội, tháng 7 năm 1960. Ảnh Tư liệu.

Đọc các bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta thấy Bác thường hay dùng hai từ: Gương mẫu và kiểu mẫu. Gương mẫu và kiểu mẫu cũng là những tấm gương mẫu mực, tốt đẹp để mọi người noi theo. Và theo Bác Hồ thì ai cũng phải cố gắng làm gương mẫu. Mỗi người, mỗi nhà, mỗi làng, mỗi cơ quan, mỗi tỉnh… đều phải phấn đấu trở thành gương mẫu. Và gương mẫu phải từ việc nhỏ đến việc lớn. Gương mẫu trong tư tưởng, trong đạo đức, trong sinh hoạt, trong cách ứng xử…

Đối với cán bộ, đảng viên, đoàn viên các đoàn thể thì không những tự mình phải gương mẫu thực hiện đúng Điều lệ Đảng, Nghị quyết của các đoàn thể, pháp luật của Nhà nước, hăng hái tham gia các phong trào thi đua, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, mà còn phải vận động, giáo dục cho gia đình mình, con cái mình cũng phải trở thành gương mẫu.

Phải giáo dục mọi người bằng chính tấm gương sống của mình trước đã, sau đó mới giáo dục bằng lời nói. Nói đến sự gương mẫu là nói đến trách nhiệm, nói đến sự hy sinh. Như Bác Hồ đã nói:

“Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào”.

Bác Hồ cũng thường nói với chúng ta, muốn làm cách mạng trước hết phải cách mạng tấm lòng, muốn cải tạo xã hội trước hết phải cải tạo bản thân mình trước đã. Người đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu tấm gương sáng cho nhân dân noi theo, “đảng viên đi trước làng nước theo sau”.

Trong việc nêu gương, Bác Hồ luôn luôn nhấn mạnh đến viêc nêu gương về đạo đức, lối sống, vì Bác cho rằng đạo đức là cái gốc của một con người. Một người dù tài giỏi đến đâu mà không có đạo đức thì cũng không thể lãnh đạo được nhân dân.

Bác cũng đặc biệt nói đến sự nêu gương của những cán bộ lãnh đạo. Nhân dân chỉ quý mến, tin cậy ở những người có đạo đức cách mạng, chứ không phải vì mình là lãnh đạo mà người ta phải yêu quý. Muốn lãnh đạo nhân dân trước hết phải lãnh đạo chính mình, lãnh đạo gia đình mình, tu thân, tề gia rồi mới trị quốc được. Cán bộ càng cao càng cần phải gương mẫu, vì sự gương mẫu của cấp cao sẽ là tấm gương cho cán bộ lãnh đạo cấp dưới.

Nhiều người trên thế giới, thường đánh đồng sự lãnh đạo với quyền lực, coi chính trị là quyền lực. Nhưng Bác Hồ thì tác động vào xã hội, vào nhân dân bằng chính tấm gương đạo đức và sự nêu gương của chính mình.

Có thể nói, suốt đời Bác là sự nêu gương!

Trong tác phẩm “Hồ Chí Minh – một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp”, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết:

“Trong mọi trường hợp, Hồ Chí Minh đã làm gương mẫu để xây dựng Đảng. Tấm gương của lãnh tụ được sự hưởng ứng tự nguyện và nhiệt tình của toàn Đảng, đã tạo nên khuôn phép chặt chẽ và thiêng liêng, để lại truyền thống tốt đẹp về Đảng và sự lãnh đạo của Đảng”.

Trong những ngày kháng chiến đầy hy sinh và gian khổ, noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng là sự vươn lên của cả dân tộc và của từng người để vượt qua những nguy cơ mất còn, giành lấy thắng lợi. Và khi Đảng với dân tộc là một, lãnh tụ với nhân dân là một, thì cách mạng không chỉ là những nỗ lực phi thường, mà còn là niềm vui, là “Tiếng hát át tiếng bom”, là “Đường ra trận mùa này đẹp lắm!”. Và đó cũng chính là một trong những nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Đồng chí Phạm Văn Đồng viết: “Ở gần Bác, tôi thấy một nét nổi bật của Bác là rất coi trọng phẩm chất con người, suốt đời chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ và nhân dân”.

Xã hội Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh là xã hội đề cao các giá trị tinh thần, các quan hệ đẹp giữa người với người. Trong xã hội ấy, những con người tiêu biểu là những chiến sĩ dũng cảm bảo vệ Tổ quốc, những người lao động nhiệt tình xây dựng đất nước, những con người biết chăm lo cuộc sống và lợi ích chung của nhân dân… những con người có đức tính vị tha, thương yêu đồng bào, đồng chí.

Suốt đời gương mẫu, đồng cam cộng khổ với nhân dân, hoà mình vào đời sống của nhân dân – Đó là con người Hồ Chí Minh!

Trong lịch sử nước nhà, cũng đã có biết bao tấm gương lớn của những người lãnh đạo đất nước đã được ghi lại trong sử sách, những Lý Nhân Tông, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Lê Thánh Tông…

Và Trần Thủ Độ người dựng nghiệp nhà Trần, trong chiến tranh chống Nguyên Mông đã từng có câu nói nổi tiếng: “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”. Cũng là người đã từng nói: “… Để lời nói suông mà bảo đời sau thì sao bằng lấy chính thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì gương mẫu là một biểu hiện của đạo đức. Gương mẫu mạnh hơn lời nói. Và chính vì thế, Người suốt đời nêu gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, suốt đời giản dị, khiêm tốn, gần gũi nhân dân, suốt đời vì nước, vì dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cuộc đời trong sáng như pha lê. Và chính vì thế, Người được cả thế giới yêu mến và kính trọng.

Hiện nay, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng đang được tiến hành, đã tạo ra niềm tin và sự chờ đợi của toàn thể nhân dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 đang được nhân dân hy vọng rất nhiều, nên nếu không làm được tốt thì dân sẽ mất lòng tin. Giống như ra trận, chúng ta phải quyết thắng, nếu không thắng ngay thì thắng từng bước, dù phải làm lâu dài, làm đi làm lại. Phải phát huy, giữ vững bản chất cách mạng của Đảng, khắc phục cho được những hạn chế, tiêu cực, đặc biệt là tham nhũng, hư hỏng trong Đảng và trong bộ máy.

Tổng Bí thư đặc biệt nhấn mạnh đến sự gương mẫu của cán bộ lãnh đạo. Đồng chí nói một cách thẳng thắn: “Cán bộ phải thực sự gương mẫu, chưa có quyền trong tay mà đã nghĩ đến chuyện chấm mút, đến lợi ích của mình, không đặt lợi ích của Đảng của dân lên trước thì sẽ không nói được ai, vì tay đã nhúng chàm. Tự mỗi người phải thấy khuyết điểm của mình để mà điều chỉnh, mà tự sửa, nếu không sửa thì sẽ có tổ chức, có pháp luật”.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, muốn lãnh đạo nhân dân phải lãnh đạo chính mình, lãnh đạo gia đình mình, con cái mình. Cán bộ càng cao, càng cần phải gương mẫu, vì sự gương mẫu của cấp trên sẽ là tấm gương cho cán bộ cấp dưới và cho toàn thể cán bộ, đảng viên.

Bác Hồ đã nói: “Nhân dân chỉ quý mến, tin cậy ở những người có đạo đức cách mạng, chứ không phải vì mình là lãnh đạo mà người ta phải yêu quý”./.

Theo Bùi Công Bính
Báo Nam Định online

Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn