Thư viện

Khắc sâu và làm theo những lời dạy của Bác về xây dựng Đảng

Là người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng “đạo đức, văn minh” lãnh đạo dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ vừa có tính cấp bách, vừa có tính thường xuyên, lâu dài của một Đảng cầm quyền. Người luôn căn dặn: Vai trò lãnh đạo của Đảng không tự nhiên mà có, không phải cứ tự nhận mà được. Đó là kết quả của một quá trình vận động của lịch sử, được thực tế chứng minh là hoàn toàn hợp quy luật. Đảng sẽ không thể làm tròn nhiệm vụ, không thể đóng vai trò lãnh đạo được nữa, nếu Đảng bị suy yếu. Người khẳng định: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân(1). Vì vậy, việc tự đổi mới, tự chỉnh đốn không chỉ là công việc thường xuyên của bản thân Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh giành, giữ chính quyền, đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược mà trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế càng đặt ra một cách quyết liệt, triệt để hơn.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên liệu về sự vận động của bản thân Đảng trong quá trình biển đổi, phát triển của tình hình cách mạng và chỉ rõ tất yếu khách quan của công tác phải xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong tác phẩm phẩm Sửa đổi lối làm việc năm 1947, Người đã chỉ ra một số cán bộ đảng viên trở nên thoái hoá biến chất, vì thế nguy cơ xa dần, mất dần quần chúng đã đến rất gần, xuất hiện căn bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chuyên quyền… Đồng thời, Người cũng chỉ rõ nguyên nhân và biện pháp để khắc phục những căn bệnh nói trên.

Năm 1950, tại Việt Bắc, trong Hội nghị tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong, Người nói: “… Tự phê bình và phê bình phải thật thà vạch khuyết điểm. Có lỗi mà không vạch ra không khác gì người có bệnh mà không chịu khai với thầy thuốc… Muốn tự phê bình và phê bình có kết quả, cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cao cấp phải làm gương trước…”(2). Cũng tại đây, thời gian này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thức trắng đêm trăn trở, suy nghĩ và đành hạ bút bác đơn xin ân xá khỏi án tử hình của tử tù Trần Dụ Châu – người mà hơn một năm trước, Bác đã ký quyết định phong quân hàm sĩ quan cao cấp quân đội nhân dân Việt Nam, nhưng chỉ hơn một năm sau, con người này đã suy thoái đạo đức, làm ảnh hưởng đến thanh danh và uy tín của Đảng, của quân đội. Quyết định của Người để làm gương và củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, tập hợp sức mạnh của cả nước vào cuộc kháng chiến, không để “một con sâu” như Trần Dụ Châu làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và cán bộ, đảng viên.

Năm 1953, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bước vào giai đoạn gay go, quyết liệt, nhân nói chuyện tại buổi khai mạc lớp chỉnh huấn cán bộ dân, chính, đảng các cơ quan Trung ương Người nói: “Nếu Đảng đã thập toàn thập mỹ thì tại sao lại phải chỉnh? Là vì có số đông đảng viên gương mẫu, tận tâm tận lực phục vụ cách mạng, nhân dân, giai cấp, nhưng còn một số, không phải là ít, không làm đúng chính sách của Đảng, của chính phủ, không đi đúng đường lối của nhân dân, còn yếu… Những đảng viên ấy chưa thực sự đứng đắn cho nên phải chỉnh”.

Những lời dạy của Bác về xây dựng Đảng và tấm gương đạo đức sáng ngời của Người có sức lan toả sâu rộng, cảm hoá lòng người mạnh mẽ, là động lực tinh thần giúp cán bộ đảng viên khắc phục mọi khó khăn, đoàn kết một lòng, tập hợp mọi lực lượng yêu nước và tiến bộ, đưa cuộc kháng chiến “toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa và sức mình là chính đến thắng lợi hoàn toàn bằng Chiến dịch Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tại các kỳ Đại hội, Hội nghị, các buổi nói chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng đầu nhiệm vụ tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng. Đặc biệt, trước lúc đi xa, trong Di chúc thiêng liêng để lại cho dân tộc Việt Nam, Người căn dặn “còn non, còn nước còn người. Chiến thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”, trong đó, Người đặc biệt bày tỏ mong muốn, sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta giành được thắng lợi hoàn toàn, thì “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy, chúng ta cũng nhất định thắng lợi(3). Khắc sâu lời dạy của Người, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta chung sức đồng lòng, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông về một mối vào năm 1975.

Đại hội VI của Đảng – mốc son đánh dấu khởi xướng đường lối đổi mới: Đổi mới tư duy trong mọi lĩnh vực hoạt động của Đảng và Nhà nước là việc cấp bách, đồng thời là việc thường xuyên, lâu dài, trong đó đặc biệt coi trọng “đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác” (4). Bốn vấn đề này, các đại hội sau đã bổ sung khía cạnh này hay khía cạnh khác, nhưng nhìn chung đều nói lên bản thân Đảng ta – với tư cách là đảng cầm quyền – phải không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn!

Sự nghiệp đổi mới của dân tộc ta bước đầu đạt được những kết quả nhất định – cơ sở “sức đề kháng” để Đảng và dân tộc Việt Nam chống lại mọi ảnh hưởng bất lợi, cản trở con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Trước sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên Xô, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta vững vàng trên con đường đi lên CNXH, tiếp tục thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 không chỉ đưa ra những nội dung quan trọng về: Mô hình xã hội XHCN ở Việt Nam; chính thức đưa vào Văn kiện “Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động”… mà còn chỉ rõ: “Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo” (5). Đảng tự đổi mới, tự chỉnh đốn không phải chỉ tiến hành một lần, trong một thời gian ngắn là đủ. Vì vậy, Đại hội VIII của Đảng khẳng định: “Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn… đây là một quy luật phát triển của Đảng”(6). Đại hội VII của Đảng đòi hỏi phải “khai trừ khỏi Đảng những đảng viên thoái hoá, biến chất về chính trị và đạo đức, gây chia rẽ, bè phái, tham ô, hối lộ, ức hiếp quần chúng. Đưa ra khỏi Đảng bằng những hình thức thích hợp những đảng viên không tha thiết với Đảng, giảm sút ý chí chiến đấu”.

Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng cũng đã chỉ ra bốn nguy cơ của cách mạng Việt Nam:“Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới do điểm xuất phát thấp; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chỉ đạo thực hiện; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác; âm mưu và hành động diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch”(7). Bốn nguy cơ này đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự, đang trở thành những thách thức hiển hiện trong thực tế và ngày càng trở nên bức thiết đối với sự nghiệp cách mạng nói chung và Đảng lãnh đạo nói riêng!

Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác xây dựng đảng chỉ rõ: “Vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Vậy chạy ai? Ai chạy? Đó là câu hỏi và là một vấn đề nhức nhối trong Đảng! Công tác chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí và các tiêu cực khác trong toàn xã hội và trong nội bộ Đảng chưa đạt được hiệu quả cần thiết! Trước tình trạng đó, những lời dạy của Bác năm xưa về công tác xây dựng Đảng vẫn còn nguyên giá trị, luôn được Đảng ta đặt lên hàng đầu và được tiến hành đổi mới trên cả 3 mặt: Tư tưởng, chính trị và tổ chức! Đại hội IX của Đảng khẳng định: Phải coi xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ then chốt, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của Đảng ta, là nhân tố bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tại Đại hội X, Đảng ta chỉ rõ: Tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có tầm trí tuệ cao, có phương thức lãnh đạo khoa học, luôn gắn bó với nhân dân. Cùng với thực hiện nghị quyết Đại hội X, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 06-CT/TƯ ngày 07 tháng 11 năm 2006 về tổ chức Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Kết quả sau hơn 20 năm tiến hành đổi mới, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bộ mặt của đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi; sức mạnh về mọi mặt được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao… là thước đo năng lực, uy tín và hiệu quả lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội XI của Đảng khẳng định: Thực tiễn phong phú và những thành tựu đạt được qua 25 năm đổi mới, 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn phù hợp quy luật khách quan và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Song, bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục… Đại hội XI của Đảng chỉ ra “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng”(8). Từ “một bộ phận” đã lan ra “một bộ phận không nhỏ” như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” chỉ rõ: Tình trạng ấy không chỉ ở “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên mà “trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”(9). Không chỉ nói thẳng, nói đúng, nói trúng sự thật, chỉ ra hạn chế, yếu kém, Nghị quyết TƯ 4 còn đưa ra mục tiêu, phương châm, đặc biệt là một số giải pháp để khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại trong quá trình lãnh đạo của Đảng “nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”.

Thực hiện Chỉ thị 03CT/TƯ của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) thể hiện quyết tâm của Đảng xây dựng một đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, tiếp bước truyền thống vẻ vang lãnh đạo hơn 83 năm qua vào thực tiễn công cuộc đổi mới và hội nhạp quốc tế hôm nay. Đảng đã lãnh đạo dân tộc đánh thắng giặc ngoại xâm, đẩy lùi giặc dốt và đói nghèo, nhất định sẽ đẩy lùi được những tiêu cực mà Bác Hồ gọi là giặc “nội xâm”, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, cùng dân tộc Việt Nam thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như sinh thời Bác Hồ hằng mong.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập,  t.12, Nxb CTQG, H.2002, tr.557-558. (2)t.6, tr.110. (3) Sđd, t.12, tr.503. (4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Sđd, tr.124. (5)Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb CTQG, H.1991, tr.21. (6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H.1998, tr.47. (7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, t.53, tr.198. (8) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, H.2011, tr.173. (9) Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư BCHTW ĐCSVN (khoá XI),Nxb CTQG, H.2012, tr.27-28.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

Nguồn: bqllang.gov.vn
Vkyno (st)

Advertisements

“Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ” – lời Bác dạy đậm nghĩa nhân văn sâu sắc về tự phê bình và phê bình

TS. Nguyễn Thị Kim Dung (Phó Viện Trưởng Viện Hồ Chí Minh, Học Viện CT – HCQG Hồ Chí Minh)
Lời dạy “Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho lực lượng CAND hàm chứa nhiều giá trị tư tưởng sâu xa.

Lúc sinh thời, là người tổ chức, giáo dục, rèn luyện đội ngũ CBCS Công an ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều chỉ bảo sâu sắc, ân tình. Trong lời dạy về “Tư cách người Công an cách mệnh” cách đây 65 năm, Người nhắc nhở: “Cần thường xuyên làm cho anh, chị em Công an nhận rõ Công an của ta là CAND, vì nhân dân mà phục vụ và dựa vào nhân dân mà làm việc”.

Để xứng đáng với vinh dự, trách nhiệm vẻ vang ấy, người cán bộ Công an phải rèn luyện về tư cách, đạo đức theo 6 điều dạy của Người; đây là điều kiện tiên quyết đảm bảo xây dựng đội ngũ CAND trong sạch, vững mạnh, làm tròn nhiệm vụ to lớn mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Trong thực tiễn hoạt động của lực lượng CAND, do sống, chiến đấu và công tác gắn bó với nhau hằng ngày, cùng vào sinh ra tử, khó khăn gian khổ đều có nhau… nên rất dễ nể nang, bỏ qua, vì sợ mất lòng nhau khi đóng góp ý kiến xây dựng trong kiểm điểm công tác cũng như ứng xử trước khuyết điểm, sai phạm của đồng đội.

Nếu đấu tranh tư tưởng không tốt, không đặt đạo đức cách mạng, lợi ích đại cục lên trên thì sẽ dẫn đến suy nghĩ và hành động không đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích là: “Nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế thì khác nào thấy đồng chí mình ốm mà không chữa cho họ. Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào tự bỏ thuốc độc cho mình”().

Nhằm tránh những sai lầm đó và nêu cao ý thức tự phê bình và phê bình; với lực lượng CAND, trong điều dạy về tư cách người Công an cách mạng, Người nêu rõ: “Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ”. Đây là điều dạy mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc về tự phê bình và phê bình.

Người nêu quan điểm phê bình là để cho cán bộ, đảng viên, tổ chức được tốt hơn; do đó, thái độ phê bình phải thân tình, yêu thương, khích lệ tâm đức người có lỗi lầm, không làm cho người có sai phạm bi quan, chán nản, bất mãn, uất ức. Tự phê bình và phê bình chính là giúp đỡ đồng chí, đồng đội, khơi dậy nhiệt tình trong mỗi con người, làm cho cán bộ, đảng viên phấn khởi tin tưởng, phát huy ưu điểm, hăng hái tự vượt qua trở ngại của chính mình để tiến lên.

I. Lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh xác định quan điểm tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển tất yếu của chính đảng vô sản, là vũ khí cần thiết và sắc bén giúp chúng ta sửa sai lầm và phát huy ưu điểm.

Vì thế, “Muốn đoàn kết chặt chẽ là phải tự phê bình, thành khẩn phê bình đồng chí và những người xung quanh, phê bình, tự phê bình để cùng nhau tiến bộ, để đi đến cùng đoàn kết. Đoàn kết phê bình, tự phê bình thật thà để đi đến đoàn kết hơn nữa”().

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc cán bộ, đảng viên “khéo dùng cái vũ khí sắc bén phê bình và tự phê bình”. “Khéo” có nghĩa là phê bình mình cũng như phê bình người phải “rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, thành thật”, không nể nang, không thêm bớt. Phải chỉ rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc.

Phê bình việc chứ không phải phê bình người. “Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán ghét”. “Cho nên, đảng viên và cán bộ cần phải nâng cao giác ngộ tư tưởng, ngăn ngừa tự đại tự cao, mạnh dạn công khai tự phê bình, vui vẻ tiếp thu lời phê bình của người khác”().

Đây là một thái độ nghiêm túc, một cách nhìn nhận vừa thể hiện tinh thần đấu tranh triệt để nhưng cũng rất giàu lòng nhân ái vì con người, trân trọng nhân cách con người, trân trọng đồng chí, đồng sự.

Do đó, tự phê bình và phê bình còn “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”, “theo tinh thần nhân ái và lập trường cách mệnh”(). Phải nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm một cách rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, thành thật, không tô hồng hoặc bôi đen…

II. Lời dạy “Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ” trong 6 điều Bác Hồ dạy về tư cách, đạo đức người Công an cách mạng là sự đúc kết, kế thừa truyền thống đoàn kết, nhân ái của dân tộc trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, là một nội dung có ý nghĩa nhân văn sâu sắc về tự phê bình và phê bình.

Lời dạy của Người “Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ” hàm chứa những nội dung tư tưởng thân ái, biết cách giúp đỡ đồng đội thông qua tự phê bình và phê bình để cùng nhau khắc phục khuyết điểm, trở thành một phương châm hoạt động mang tính cách mạng và khoa học.

“Đồng sự” là đồng đội, đồng chí cùng công tác trong một đơn vị, rộng hơn, đó chính là toàn thể CBCS Công an cùng chiến đấu cho sự nghiệp bảo vệ ANCT và giữ gìn TTATXH. “Đối với đồng sự” – Bác muốn nói đến mối quan hệ của mỗi thành viên trong một tổ chức, nhân tố tạo nên sức mạnh của tổ chức. Bởi vì, tổ chức và cá nhân có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Tổ chức mạnh sẽ tạo điều kiện cho từng cá nhân phấn đấu tốt và ngược lại, từng cá nhân phấn đấu tốt là điều kiện để xây dựng tổ chức đoàn kết, vững mạnh. Tổ chức là nơi tạo sự liên kết, sự hợp đồng giữa những cá nhân, do vậy yêu cầu phải có những cá nhân tốt thì tổ chức mới mạnh.

Do đó, vì lợi ích chung, vì mục tiêu chung của tập thể mà các cá nhân phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện mình để gắn bó, giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ. Đoàn kết, thân ái giúp đỡ nhau chính là nhằm xây dựng tổ chức, đơn vị vững mạnh, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng, đồng thời qua đó mà nâng cao sức mạnh của từng người.

Lời dạy “Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho lực lượng CAND hàm chứa nhiều giá trị tư tưởng sâu xa. Phương châm xử thế thấm đậm truyền thống nhân văn và tính khoa học, cách mạng đó, 65 năm qua, đã được các thế hệ CBCS Công an ghi lòng tạc dạ, trở thành một nét đẹp trong truyền thống đạo đức của lực lượng CAND, lực lượng được Đảng và Bác Hồ giao cho trọng trách là “Thanh bảo kiếm bảo vệ Đảng”.

Tuy nhiên, trong thời kỳ cách mạng mới, khi tuyệt đại đa số CBCS Công an một lòng một dạ trung thành với Đảng, với lý tưởng cách mạng, hết lòng phục vụ nhân dân, nêu tấm gương sáng về tình đồng chí, đồng đội, thì ở nơi này, nơi khác, có một bộ phận CBCS đã có biểu hiện xa rời lý tưởng và đồng đội, làm giảm lòng tin của nhân dân.

Chính vì vậy, việc quán triệt nguyên tắc tự phê bình và phê bình trên tinh thần điều dạy “Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ” của Người lúc này có ý nghĩa rất thiết thực.

Tại Hội nghị lần thứ 4 (Khóa XI), Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận và ra Nghị quyết số 12 – NQ/TW “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Nghị quyết nêu rõ: “Để tạo chuyển biến mạnh mẽ về công tác xây dựng Đảng trong thời gian tới, cần tiếp tục thực hiện tốt 8 nhiệm vụ trong công tác xây dựng Đảng mà Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra, coi đó là những nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa lâu dài và phải thực hiện thường xuyên, có hiệu quả”.

Nghị quyết cũng xác định rõ: “mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý kiểm điểm, liên hệ theo chức trách, nhiệm vụ được giao, tự phê bình và phê bình thẳng thắn, dân chủ, nghiêm túc, chân thành, gắn với thực hiện quy định về những điều đảng viên không được làm theo cương vị công tác”.

Đó là yêu cầu cấp thiết chung của toàn Đảng cũng như đối với lực lượng CAND để tăng cường đoàn kết nội bộ, đề cao kỷ luật, chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn ngừa biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, là một trong những nội dung công tác chính trị quan trọng nhất nhằm xây dựng lực lượng CAND ngày càng trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, giữ vững ANQG, TTATXH thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày nay

N.T.K.D.
cand.com.vn

Phong trào thi đua ái quốc: Những lời Bác Hồ căn dặn thiếu niên, nhi đồng

 “ Các cháu yêu quý

Trung thu trăng sáng như gương

Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng

Sau đây Bác viết mấy dòng

Gửi cho các cháu, tỏ lòng nhớ thương”.

Đây là những dòng mở đầu Bức thư trung thu gửi các cháu nhi đồng (đăng trên báo Cứu quốc, số 1904, ngày 12/9/1951). Có thể nói, trong suốt cuộc đời, Bác Hồ luôn hết mực quan tâm đến các cháu thiếu niên, nhi đồng. Với Bác, “Trẻ em như búp trên cành/ Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”.

Cả cuộc đời, Bác luôn dành tình yêu thương, dành sự quan tâm sâu sắc cho thiếu niên, nhi đồng. Và hơn thế, Bác coi thiếu niên, nhi đồng cũng chính là một lực lượng quan trọng trong phong trào thi đua ái quốc. Chính vì vậy, trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948), khi nhắc đến lực lượng này, Bác đã nhấn mạnh: “Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn”.

thi-dua-ai-quoc-nhi-dong-cdJPG
Bác Hồ luôn dành tình yêu thương sâu sắc cho nhi đồng

Thật vậy, phong trào thi đua ái quốc là một ngọn lửa mạnh mẽ, tạo nguồn sức mạnh quan trọng cho dân tộc ta. Để có được sức mạnh ấy cần có sự chung tay, chung sức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Trong đó, không thể thiếu thế hệ thiếu niên, nhi đồng. Dù tuổi còn nhỏ nhưng cũng chính là một lực lượng quan trọng. Bởi khi hoàn cảnh đất nước gặp nguy nan, mỗi người góp sức nhỏ để tạo nên sức mạnh lớn cho dân tộc. Và như thế, thiếu niêu, nhi đồng có vai trò không nhỏ trong sự nghiệp cách mạng: “Người lớn cứu nước đã đành/ Trẻ em cũng góp phần mình một tay/ Tuổi nhỏ làm việc nhỏ/ Tuỳ theo sức của mình”.

Trong Lời kêu gọi thi đua chuẩn bị tổng phản công, đăng trên báo Sự thật, ngày 1/8/1949, Bác Hồ đã nói: “Các cháu nhi đồng thì thi đua học tập và giúp mọi công việc. Có nhiều cháu đã gửi tiền nhờ tôi góp vào quỹ kháng chiến”.

Trong bài “Giấc ngủ mười năm” (đăng trên báo Sự thật, Xuân Kỷ Sửu 1949) Bác Hồ một lần nữa nhấn mạnh: “Các em nhi đồng thi đua học hành và giúp đỡ công việc nhẹ cho người lớn. Các em cũng hăng đáo để. Nhiều nơi, ngoài buổi học, các em còn tự tổ chức từng tốp nuôi vịt, nuôi tằm trồng rau, trồng sắn”.

thi-dua-ai-quoc-b
Các em nhỏ ở mọi miền của Tổ quốc đều mong muốn được vào Lăng viếng Bác Hồ
Ảnh: Điệp Anh

Trong bức thư trung thu gửi các cháu nhi đồng (đăng trên báo Cứu quốc, số 1904, ngày 12/9/1951), Bác đã khuyên các em nhỏ như sau:

“Các cháu phải ghét, ghét cay ghét đắng bọn thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ, bọn Việt gian, bọn bù nhìn. Vì chúng nó mà ta khổ.

Các cháu phải yêu, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động.

Các cháu phải gắng, gắng giúp đỡ thương binh và gia đình chiến sĩ, gắng giữ gìn vệ sinh và giữ gìn kỷ luật, gắng học hành.

Các cháu phải đoàn kết, đoàn kết giữa nhi đồng Việt Nam với nhau, đoàn kết giữa nhi đồng Việt Nam cùng nhi đồng Trung Quốc, Liên Xô, các nước bạn và nhi đồng thế giới.”

Khi nhắc đến phong trào thi đua, Bác Hồ nhấn mạnh:

“Các cháu phải thi đua, tùy theo sức của các cháu làm được việc gì có ích cho kháng chiến thì thi đua làm việc ấy.

Các cháu biết ghét, biết yêu, biết gắng, các cháu đoàn kết và thi đua như thế thì kháng chiến sẽ chóng thắng lợi, kháng chiến thắng lợi thì trung thu sẽ vui vẻ hơn”.

Trong những năm kháng chiến, mỗi khi nhận được thư hay bất cứ thông tin nhi đồng khổ sở thế nào, Bác đều rất đau đớn. Nhưng trên hết, vượt qua những nỗi khổ ấy, nhi đồng ta vẫn đấu tranh. Dù những hành động nhỏ nhưng điều đó chính là minh chứng cho lòng yêu nước, tinh thần thi đua ái quốc của nhi đồng ta. Khi nói về những kết quả đấu tranh của các em nhi đồng Bác đã nói: “… Làm cho Bác vui lòng, vì các cháu ấy dũng cảm. Làm cho Bác và tất cả đồng bào càng căm ghét bọn thực dân và bù nhìn”.

Trong thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi năm 1951 Bác viết: Ngày 1-5, ngày của những người lao động thế giới tỏ tình đoàn kết, đấu tranh. Còn ngày 1-6 “là ngày của các cháu nhi đồng trong thế giới tỏ tình đoàn kết và sức đấu tranh của mình…”. Hình thức đấu tranh của các cháu nhi đồng mà Người đưa ra rất cụ thể, thiết thực. Đó là, các cháu cần phải “thi đua học tập, thi đua tăng gia sản xuất; thi đua giúp đỡ các gia đình thương binh, tử sĩ. Thế là các cháu đấu tranh”. Bác còn khuyên nhủ: “Các cháu phải đoàn kết, thương yêu nhau” và là đoàn kết, thương yêu giữa nhi đồng trong nước với nhau, cũng như bạn bè thiếu nhi trên thế giới. Bác gọi “đó là tinh thần quốc tế”.

Nhi đồng chính là lực lượng quan trọng, là tương lai của một đất nước. Chính vì vậy, Bác luôn quan tâm đến cuộc sống của từng em nhỏ. Bác luôn dành tình thương yêu đặc biệt, động viên thế hệ măng non của đất nước qua các lá thư nhân ngày Quốc tế thiếu nhi: Các cháu yêu quý! Ngày 1-6 là ngày của các cháu bé khắp cả các nước trên thế giới. Đáng lẽ tất cả các cháu đều được no ấm, được vui chơi, được học hành như trẻ con ở Liên Xô… Nhưng nước Việt Nam ta, vì giặc Pháp gây ra chiến tranh, chúng nó đốt nhà, giết người, cướp của. Cho nên, người lớn phải kháng chiến, trẻ con cũng phải kháng chiến. Bác thương các cháu lắm. Bác hứa với các cháu rằng: Đến ngày đánh đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công, thì Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể cùng cố gắng làm cho các cháu cùng được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng.“Bao giờ đánh đuổi Nhật, Tây/ Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng”.

thi-dua-ai-quoc-nhi-dong 2
Các em nhỏ chính là các mầm non, là tương lai của đất nước

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt, Bác Hồ luôn dành sự thương nhớ đến thiếu niên, nhi đồng miền Nam. Bởi chiến tranh gian khổ quá, các cháu thiếu niên, nhi đồng sẽ phải chịu rất nhiều đau thương. Vì thế, trong thư gửi các cháu miền Nam năm 1965, Bác ao ước:“Bắc Nam sẽ sum họp một nhà/ Bác cháu ta gặp mặt, trẻ già vui chung/ Nhớ thương các cháu vô cùng/ Mong sao mỗi cháu là một anh hùng thiếu nhi”. Hơn thế, Bác luôn căn dặn các cháu phải “yêu lao động, giữ kỷ luật. Chớ tự do phóng túng, phải tự lực cánh sinh… thi đua học tập, thi đua trong mọi việc…”.

Có thể nói, những lời dặn dò của Người đã tạo động lực cho thế hệ thiếu niên, nhi đồng thi đua, cố gắng, phấn đấu để góp sức vào sự thành công của cách mạng Việt Nam.

Đất nước đã hòa bình, thế hệ thiếu niên, nhi đồng giờ được hưởng những điều kiện sống đầy đủ hơn. Và hơn lúc nào hết, các em cần cố gắng hơn để xứng đáng với những mong muốn của Bác, với những hy sinh của cha anh.

Trước lúc đi xa, Bác để lại muôn vàn tình yêu thương cho dân tộc Việt Nam, trong đó Người không quên nhắc đến thế hệ thiếu niên, nhi đồng bằng những tình cảm đặc biệt: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”. Một lòng khắc sâu tình cảm, những lời dạy của Bác, thiếu niên, nhi đồng Việt Nam luôn cố gắng phấn đấu học tập làm theo lời Bác để xứng đáng với danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ”. Bởi như lời Bác đã nói: “Ngày nay, các cháu là nhi đồng. Ngày sau, các cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới”.

Thanh Huyền
bqllang.gov.vn

Những nhân tố tác động tới nhận thức và thực hành sáu điều Bác Hồ dạy trong tình hình hiện nay

Gần hai phần ba thế kỷ qua, đã có hàng ngàn, hàng vạn CBCS Công an trưởng thành, mẫu mực trong thực hành 6 điều Bác dạy, nhưng cũng không ít đồng chí không thực hành được, thậm chí có người làm ngược lại 6 điều Bác dạy. Vì sao lại có thực tế đó?

Ai cũng thấy 6 điều Bác Hồ dạy về tư cách đạo đức của người Công an cách mệnh là sâu sắc và toàn vẹn. Nhưng giá trị và hiệu quả của 6 điều Bác Hồ dạy phần lớn lại ở khâu người Công an cách mệnh thực hành như thế nào. Tới nay, 6 điều Bác dạy đã đồng hành với lực lượng Công an hơn 65 năm.

Gần hai phần ba thế kỷ qua, đã có hàng ngàn, hàng vạn CBCS Công an trưởng thành, mẫu mực trong thực hành 6 điều Bác dạy, nhưng cũng không ít đồng chí không thực hành được, thậm chí có người làm ngược lại 6 điều Bác dạy. Vì sao lại có thực tế đó?

Nhận thức và thực hành là hai khâu thống nhất trong hành vi của con người, nó tạo ra khả năng hoạt động tự giác của con người. Đó cũng là điều để phân biệt con người với các loài động vật khác chỉ biết hành động theo bản năng. Để làm đúng 6 điều Bác dạy, đòi hỏi người Công an phải có nhận thức đúng, đi tới thực hành đúng.

Nhận thức đúng là cơ sở để đi tới thực hành đúng. Nói anh A có nhận thức đúng nhưng thực hành sai là không đúng quy luật. Anh A có thể có nhận thức đúng nhưng thực hành sai vì khi đó trong anh ta cái nhận thức không đúng nó lớn hơn, mạnh hơn, nó lấn át cái nhận thức đúng, nó dẫn dắt hành vi sai ở anh ta.

Hiện nay, đối với lực lượng Công an có những nhân tố nào tác động tới nhận thức và thực hành 6 điều Bác Hồ dạy? Bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Công an Việt Nam cũng chịu tác động của hiện thực trong nước và thế giới. Xã hội Việt Nam hiện nay đang ở thời kỳ quá độ tiến lên CNXH. Thời kỳ quá độ này càng phức tạp trong điều kiện Việt Nam thực hiện một đòi hỏi khách quan là đổi mới, mở cửa hội nhập.

Diễn biến các mối quan hệ xã hội Việt Nam thời kỳ quá độ gắn với đổi mới, mở cửa hội nhập, định hướng đi lên CNXH là những nhân tố hằng ngày, hằng giờ tác động tới nhận thức và thực hành 6 điều Bác Hồ dạy của lực lượng Công an cách mạng nước ta.

Các mối quan hệ xã hội này diễn ra rất đa dạng, phong phú, trên tất cả các mặt tư tưởng chính trị, kinh tế, văn hóa, đạo đức, lối sống, xã hội, trên bình diện trong nước và quốc tế và nó có mối quan hệ biện chứng với nhau. Các mối quan hệ xã hội trên các mặt này đều rất quan trọng, nhưng quan trọng nhất là các nhân tố trên lĩnh vực tư tưởng chính trị.

Thực chất các mối quan hệ này là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc gay gắt và triệt để nhất. Mục tiêu của cuộc đấu tranh này là làm cho CNXH chiến thắng ở Việt Nam – tức là vượt qua thời kỳ quá độ, CNXH ra đời và tồn tại. Cuộc đấu tranh này càng khó khăn, phức tạp khi nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh đi từ “vũng bùn thực dân” cả trăm năm đi ra, lại cả những “rác rưởi”, những “luồng gió độc” tràn vào khi Việt Nam mở cửa.

Sự tác động này luôn có hai mặt tốt – xấu, đúng – sai, đòi hỏi con người Việt Nam, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là trong lực lượng Công an phải có trình độ, bản lĩnh – như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy – để nhận biết đâu là đúng, đâu là sai, đâu là tốt, đâu là xấu. Đúng, tốt thì quyết tâm làm; sai, xấu thì kiên quyết không làm, kiên quyết chống lại.

Tác động quan hệ xã hội hiện nay trên lĩnh vực tư tưởng chính trị đòi hỏi người Công an phải có lý tưởng, có lý luận chính trị khoa học và cách mạng, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ chuyên sâu làm điều kiện để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của người Công an cách mạng và vững vàng trước các cuộc tiến công của hệ tư tưởng tư sản, phản động. Đòi hỏi này, tức là người Công an phải có nhận thức tư tưởng chính trị đúng và nhận rõ biểu hiện cụ thể của sự đúng này.

Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: Là Công an phải nhận rõ: “Công an của ta là CAND, vì nhân dân mà phục vụ và dựa vào nhân dân mà làm việc”. Và khi thực hành phải trên nhận thức đúng đắn đó mà “Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành”; “Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép”; “Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”.

Công an cũng là người, không phải là thánh thần; Công an cũng phải ăn, mặc, ở, đi lại, cũng có gia đình, có nhu cầu về vật chất và về tinh thần. Bởi vậy, ngoài việc chịu sự tác động về chính trị, người Công an còn chịu sự tác động từ nhân tố kinh tế, văn hóa, đạo đức, lối sống…

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, xây dựng và phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, là thi đua làm giàu, là xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần định hướng XHCN…

Bác Hồ đến thăm và chúc tết một số gia đình cán bộ, chiến sĩ tại cơ quan Bộ Công an. (Tết Tân Sửu – 1961).

Thực hiện đường lối, nhiệm vụ này trong khoảng hơn 25 năm qua, bộ mặt kinh tế nước ta có những bước tiến, thay đổi căn bản, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Nhưng mặt khác, trong xã hội xuất hiện giàu – nghèo và khoảng cách giàu – nghèo ngày càng lớn. Đi liền với sự giàu lên của một bộ phận xã hội là lối sống vương giả, là sự thay đổi, thậm chí là sự đảo ngược những giá trị đạo đức, văn hóa.

Có không ít trường hợp cùng học phổ thông, nhưng khi vào đời, người là Công an, người là ông chủ và hai đời sống, hai lối sống trái ngược xuất hiện. Cùng lúc là tác động của “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên tất cả các lĩnh vực kinh tế – chính trị – văn hóa – đạo đức – lối sống của Việt Nam. Thực tế này hằng ngày, hằng giờ tác động đến người Công an.

Chịu sự tác động của các nhân tố này, nhận thức của người Công an sẽ quyết định có thực hành được hay không 6 điều Bác Hồ dạy. Trên thực tế, có những người Công an không chấp nhận sự khác biệt trong đời sống xã hội hiện nay, họ cho rằng họ cũng có quyền sống vương giả như những ông chủ. Nhưng đồng lương của họ không cho phép họ sống như vậy. Đúng như Bác Hồ đã từng chỉ ra, họ dễ tìm cách đục khoét dân, moi tiền của Chính phủ.

Bởi vậy, hiện nay vẫn có hiện tượng tiêu cực, nhũng nhiễu ở một số ít cán bộ Công an mà các phương tiện thông tin đại chúng đã phản ánh. Ngược lại, tuyệt đại bộ phận CBCS lực lượng Công an nhận thức được tính khách quan của những hạn chế, những mặt trái của kinh tế thị trường ở thời kỳ quá độ đi lên CNXH, nhưng cái được của cách mạng là rất to lớn, nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, đã vượt qua tình trạng non yếu, kém phát triển, đưa nước ta thành nước đang phát triển, lần đầu tiên nước ta làm đủ ăn và có tích lũy, đời sống nhân dân, trong đó có lực lượng Công an được cải thiện rõ rệt.

Nhờ nhận thức đúng như vậy mà lực lượng Công an vẫn thực hành tốt lời Bác dạy “Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính”, không gục ngã trước kẻ thù dù nó có núp dưới đồng tiền. Trong lúc đất nước còn phải thực hiện xóa đói, giảm nghèo, người CAND càng nhớ lời Bác dạy, trong hoàn cảnh đó ai muốn riêng hưởng ăn ngon, mặc đẹp là không đạo đức. Và đạo đức là cái gốc của người CAND, không có đạo đức tức là thiếu cái căn bản thì dù tài giỏi mấy cũng không thể phục vụ và lãnh đạo nhân dân được.

Trong hơn 25 năm đổi mới, chịu tác động của những nhân tố từ mặt trái trong kinh tế thị trường, từ cuộc tiến công thâm độc của chiến lược “diễn biến hòa bình”, CAND Việt Nam vẫn tự hào là lá chắn thép, là thanh bảo kiếm của cách mạng, của Đảng, của dân tộc.

Nhiệm vụ cách mạng Việt Nam hiện nay rất nặng nề, vô cùng khó khăn và phức tạp. Như Bác Hồ đã chỉ cho nhân dân ta thấy rõ, cuộc cách mạng XHCN Việt Nam ở thời kỳ quá độ là cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để nhất, xưa nay chưa từng có ở nước ta, nó làm thay đổi toàn diện nước ta từ hạ tầng cơ sở đến kiến trúc thượng tầng, đến tâm lý, cách nghĩ và lối sống của con người.

Cuộc cách mạng này đòi hỏi rất cao ở nhân dân ta, Công an ta những năng lực, phẩm chất của con người mới. Trong đó, Bác đặc biệt chú ý tới yếu tố gốc, cái căn bản của con người mới là đạo đức cách mạng. Đối với người Công an, đạo đức mới – đạo đức cách mạng được kết tinh trong 6 điều Bác Hồ dạy.

Hiện nay, có nhiều nhân tố, tích cực có, tiêu cực có, tác động tới người Công an. Một vấn đề đặt ra là làm thế nào để trong hoàn cảnh đó, người Công an có được nhận thức đúng để đi tới thực hành tốt 6 điều Bác Hồ dạy. Điều đó cũng có nghĩa là để người Công an có đạo đức mới làm gốc, làm nền cho sự trưởng thành, phát triển.

Giải quyết vấn đề này có hai phía: tập thể và cá nhân người Công an. Tập thể là Đảng, Nhà nước, Bộ Công an phải có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng toàn diện lực lượng Công an, trong đó xây dựng lý tưởng cách mạng, bồi đắp đạo đức mới cho người Công an là yếu tố xuyên suốt, là yếu tố gốc.

Điều này phải được thể hiện rõ trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, trong pháp luật và trong các quy định của lực lượng Công an. Trong đó, phải thường xuyên làm cho người Công an hiểu rõ và thấm nhuần sâu sắc: 6 điều Bác Hồ dạy “là những đạo đức và tư cách mà người Công an cách mệnh phải có, phải giữ cho đúng”.

Về cá nhân người Công an, đòi hỏi phải tự giác thường xuyên rèn luyện toàn diện. Trong đó, rèn luyện về tư tưởng chính trị và đạo đức cách mạng, trước hết là 6 điều Bác Hồ dạy là căn bản nhất. Những nhận thức đúng của người Công an về tư tưởng chính trị, đạo đức phải đi tới thực hành đúng trong các mối quan hệ cụ thể đối với tự mình, đối với nhân dân và đối với công việc của người Công an.

Điểm gặp nhau của yếu tố tập thể và cá nhân người Công an cách mạng là nhận thức đúng và thực hành đúng của người Công an trước những nhân tố hằng ngày, hằng giờ tác động tới họ, mà biểu hiện cụ thể là người Công an nhận thức đúng và thực hành đúng 6 điều Bác Hồ dạy về tư cách đạo đức của người Công an cách mạng

PGS. TS Hoàng Trang
(Nguyên Phó Viện Trưởng Viện Hồ Chí Minh, Học Viện CT – HCQG Hồ Chí Minh)
cand.com.vn

Nhớ lời Bác dặn: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”

Suốt cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và cái đích cuối cùng là giải phóng con người. Chính vì vậy, vấn đề con người luôn được Bác quan tâm chăm lo chu đáo. Trong muôn vàn mối quan hệ phong phú, phức tạp mà mỗi người đều phải xử lý hàng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh quy vào ba mối quan hệ chủ yếu nhất: Đối với người, đối với việc và đối với bản thân mình. Trong “đối với người”, tức là mối quan hệ giữa người với người, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng nhân lên cái thiện trong các mối quan hệ ấy. Do đó, ở Bác, chúng ta thấy thấm đượm chủ nghĩa nhân văn cả trong lời nói và hành động. Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc để lại, Người còn căn dặn: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Do đặc thù hoạt động quân sự, nhất là trong chiến tranh, tình đồng chí, đồng đội trong quân đội, gắn bó sâu đậm hơn so với các hoạt động xã hội khác. Bởi, chiến tranh là sự thử thách khắc nghiệt nhất, không chỉ đối với mọi quốc gia, một dân tộc, một chế độ; mà nó còn thử thách nghiêm khắc đối với từng cá nhân, từng người lính giữa cái sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc. Do đó, trong chiến tranh, tình đồng đội là thiêng liêng, cao cả. Trận đánh càng ác liệt, tình thương yêu đồng đội càng cao, tất cả vì mục tiêu chiến thắng, nên mọi người không ngại hy sinh, người trước ngã xuống, người sau tiến lên; sẵn sàng xả thân, nhận khó khăn, sự ác liệt về mình, nhường thuận lợi cho đồng đội. Tình đồng đội là truyền thống tốt đẹp của quân đội ta, quân đội do Đảng và Bác Hồ sáng lập, giáo dục và rèn luyện. Nó thuộc về bản chất và truyền thống của Quân đội nhân dân, là bản chất truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ.

nho loi bac danBác Hồ với các anh hùng, chiến sĩ thi đua miền Nam (1965) – Ảnh Vũ Đình Hồng.

Ngày nay, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ từng bước hiện đại, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, vấn đề đặt lên hàng đầu là xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, mặt khác phải luôn chăm lo xây dựng tình thần đoàn kết thống nhất, trên dưới một lòng. Đó chính là cội nguồn của mọi thành công trong mỗi cá nhân cũng như tập thể. Điều này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần căn dặn về xây dựng tình đồng chí đồng đội thương yêu lẫn nhau lúc thường cũng như khi ra trận. Bác cũng đã nêu lên một nhận xét rất độc đáo: Nếu thuộc bao nhiêu sách về chủ nghĩa Mác – Lênin mà sống với nhau không có tình có nghĩa thì không thể hiểu được chủ nghĩa Mác – Lênin. Sống tình nghĩa ở trong quân đội bao giờ cũng đi liền với đấu tranh tự phê bình và phê bình, điều mà Bác coi là “thang thuốc hay nhất” để cho mỗi cán bộ, đảng viên tiến bộ. Học Bác về tự phê bình và phê bình ở hai điều chính cốt nhất: Mục đích và phương pháp. Bác quan niệm mục đích của tự phê bình và phê bình là làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, cốt để giúp nhau sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ; cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn; cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ. Phương pháp tự phê bình và phê bình theo Bác là phải được tiến hành thường xuyên như rửa mặt hằng ngày với cái tâm trong sáng; phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt; phải vạch rõ cả ưu điểm và những khuyết điểm; chớ dùng lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc.

Sức mạnh đoàn kết trong quân đội được tạo ra bởi tổ chức mà tổ chức đó là sự kết nối chặt chẽ giữa cán bộ, chiến sỹ với nhau. Song trước hết phải xuất phát từ mối quan hệ đoàn kết, thống nhất của cấp ủy, chỉ huy và cán bộ chủ trì trong đơn vị. Trong một cơ quan, đơn vị nào đó, nếu cán bộ chủ chốt mất đoàn kết thì chắc chắn tổ chức đó không thể nào có được bầu không khí thân thiện, đồng thuận. Đây là điều đã được Bác Hồ cảnh báo từ sớm và gọi đó là tình trạng “cấp trên và cấp dưới cách biệt nhau”, đồng chí với nhau nhưng “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”. Ở đây, cần có sự gương mẫu từ trong lời nói đến hành động của cán bộ chủ chốt. Sự gương mẫu, tự nó là một sức mạnh cảm hóa con người, như Bác quan niệm rằng, “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Sự cảm hóa kỳ diệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với những người chung quanh là ở cái tâm lành, đức dày, trí cao, sự giản dị, chân thành và ở sự gương mẫu của cái đức luôn luôn vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ của Người. Đó là văn hóa chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người ta hay nói đến cái tình, cái lý trong mối quan hệ của con người đối với con người. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, tình và lý quyện chặt vào nhau. Quan hệ của cán bộ, chiến sỹ trong hoạt động hằng ngày tuy phụ thuộc vào những quy định của điều lệnh, quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, nhưng điều rất quan trọng đó là giải quyết hài hòa mối quan hệ nhiều chiều, phong phú của cuộc sống đời thường. Tình đồng chí, đồng đội ở đây, ngoài những nguyên tắc tổ chức và điều lệnh, còn xuất phát từ tấm lòng độ lượng, khoan dung và nhân ái. Nhiều khi mất đoàn kết trong cơ quan, đơn vị lại từ những việc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng rất quan trọng trong đời thường. Một số người suy nghĩ và hành động không vì đại sự mà ở sự cố chấp, có người vì động cơ cá nhân đã cố tình gây ra mất đoàn kết, tạo lên sự nghi ngờ trong nội bộ. Thậm chí còn có hiện tượng đơn thư nặc danh, vu khống, nói xấu lẫn nhau, làm cho đơn vị mất ổn định…. Nhắc tới điều này, chúng ta lại nhớ tới lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, đó là việc phải tạo ra một cơ sở, hay môi trường vững chắc, đồng thuận để mọi người có trách nhiệm, nghĩa vụ chung tay xây dựng cơ quan, đơn vị của mình. Đây cũng là điều kiện tiên quyết để mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng thể hiện tình đồng chí một cách chân thành, bền chặt nhất. Nòng cốt của vấn đề này, chính là việc xây dựng mỗi Chi bộ, Đảng bộ trở thành một pháo đài đoàn kết, thống nhất. Sự yếu kém của Chi bộ, Đảng bộ cơ sở dễ dẫn tới tha hóa đội ngũ đảng viên, mà mỗi khi đảng viên đã bị tha hóa, biến chất thì tình đồng chí cũng không còn. Tổ chức Chi bộ, Đảng bộ cơ sở chính là môi trường để đảng viên phấn đấu thực hiện thành công nghị quyết của Đảng, nơi đảng viên rèn luyện đạo đức của người cộng sản, là nơi thử thách rõ rệt nhất tình đồng chí. Thực tế cho thấy, ở Chi bộ, Đảng bộ cơ sở nào trong sạch, vững mạnh thật sự thì chính nơi đó tình đồng chí trong Đảng biểu hiện một cách trong sáng, đậm đà nhất; nơi đó sinh hoạt Đảng sinh động nhất, có tính hấp dẫn nhất, nơi đó là chỗ dựa vững chắc nhất cho lãnh đạo, chỉ huy và toàn thể đảng bộ và đơn vị.

Gần một năm qua, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI), toàn Đảng, toàn quân đã tổ chức có hiệu quả việc tự phê bình và phê bình. Mỗi cán bộ chủ trì các cấp đã nghiêm khắc tự kiểm điểm ưu điểm, khuyết điểm của bản thân và đã chân thành tiếp thu sự đóng góp phê bình của cán bộ, chiến sỹ cấp dưới. Điều đó đã tạo ra luồng sinh khí mới, sự đồng thuận cao để xây dựng tình thương yêu đồng chí, đồng đội và sự đoàn kết thống nhất trong từng cơ quan, đơn vị. Đây cũng là việc cần thiết và cấp bách để mỗi cán bộ, chiến sỹ ghi nhớ, học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Thiếu tướng, TS Đặng Nam Điền
Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
bqllang.gov.vn

Tích cực và nóng nảy

Lời của Bác - Lời của non sôngCách đây 60 năm, trên Báo Nhân Dân, số 150, từ ngày 26 đến 30-11-1953, trong bài báo “Tích cực và nóng nảy” (bút danh C.B), Bác phân tích:

“Tích cực là gắn liền khí khái cách mạng với tinh thần thực tế. Tích cực thì mọi việc đều thành công. Nóng nảy là một thứ bệnh tiểu tư sản, làm việc mà nóng nảy thì nhất định thất bại” và kết bằng câu thơ: “Tích cực, thì sẽ thành công/ Nóng nảy, kết quả sẽ không ra gì”.

Bác cho rằng: “Tính cực là bất kỳ việc gì cũng vui vẻ hăng hái, có tinh thần phụ trách, vượt mọi khó khăn, quyết làm tròn nhiệm vụ. Đối với mọi việc đều điều tra cẩn thận, nghiên cứu rõ ràng, dựa theo hoàn cảnh thiết thực, có kế hoạch, có từng bước, tỉnh táo, bền bỉ, không chủ quan. Thế là tích cực. Mà như thế thì mọi việc đều thành công”.

Còn “nóng nảy là việc gì cũng chủ quan, không điều tra nghiên cứu kỹ lưỡng, vội vàng, muốn làm cho mau, làm ẩu. Thiếu kiên nhẫn, thiếu tinh thần chịu khó”. Do vậy, “chúng ta phải tránh tính nóng nảy, phải nâng cao tinh thần tích cực”.

Trong giao tiếp, ứng xử, Bác cũng để lại rất nhiều bài học quý giá. Tự bản thân Bác đã nêu gương. Có một sĩ quan của ta tuy có tài mưu lược, dũng cảm, nhưng mắc khuyết điểm nóng nảy, thô bạo với chiến sĩ. Khi biết, Bác không hài lòng. Bác muốn dạy cho người chỉ huy này bài học để trở nên tốt hơn. Bác cho gọi người chỉ huy này đến gặp vào một ngày trưa hè nắng như đổ lửa. Bác không cho vào ngay mà dặn đồng chí ở trạm gác: Nếu đồng chí đó đến thì đừng cho vào vội, đúng giờ Ngọ hãy cho vào gặp, Bác đợi. Đi rất xa, đường nắng, nhễ nhại mồ hôi, 12 giờ, Bác mới cho vào gặp, vào đến nơi đã thấy Bác ngồi đợi, Bác rót sẵn cốc nước sôi và nói: “Chú uống nước đi”. Khi người chỉ huy bày tỏ sự không thể uống ngay nước nóng được, Bác mới nhẹ nhàng nói: “Bác rất buồn khi được báo cáo rằng chú hay đánh đập chiến sĩ lắm, xúc phạm họ. Nước nóng chú không uống được, Bác cũng không uống được. Tại sao chú lại nóng với chiến sĩ như vậy?” Người chỉ huy đó nhận ra lỗi lầm và không bao giờ tái phạm nữa.

Với Bác Hồ, làm tốt những điều nhỏ nhất, là để hoàn thiện cái lớn nhất. Do vậy, chúng ta phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, đúng như lời Người căn dặn: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ lời Bác, tôi học tập suốt đời

QĐND – Cách đây hơn 50 năm ở Leng Su Sìn (huyện Mường Nhé, Điện Biên), cô gái Chu Chà Me – người phụ nữ Hà Nhì đầu tiên đã dũng cảm rời ngã ba biên giới để đi tìm con chữ và cũng là người Hà Nhì đầu tiên vinh dự hai lần được gặp Bác Hồ. Dù năm nay đã ngoài 70 tuổi nhưng với bà Me, kỷ niệm về hai lần được gặp Bác, từng lời Bác dạy bà vẫn khắc cốt ghi tâm.

Ấn tượng đầu tiên khi chúng tôi gặp bà Chu Chà Me là khuôn mặt thật hiền từ phúc hậu, đôi mắt sáng và mái tóc vẫn còn đen nhánh như hồi con gái. Trò chuyện với chúng tôi, những ký ức của bà về hai lần được gặp Bác Hồ được tái hiện thật sống động như một thước phim quay chậm với niềm vinh dự và tự hào.

Bà Chu Chà Me trong bộ trang phục truyền thống của người Hà Nhì.

Đầu năm 1959, ở tuổi 17, cô gái Chu Chà Me được sự động viên của các cán bộ Đồn Biên phòng Leng Su Sìn đã chia tay bạn bè và bản làng yêu quý, xa người mẹ hiền đi học cái chữ Bác Hồ để có thể về Thủ đô hoặc đi bất cứ nơi đâu trên khắp mọi miền Tổ quốc.

Ngày 6-5-1959, khi Chu Chà Me cùng các bạn học sinh Trường Dân tộc khu tự trị Thái Mèo (sau này đổi tên thành Trường Dân tộc khu tự trị Tây Bắc) dọn vệ sinh, treo khẩu hiệu cùng toàn khu Tây Bắc nô nức mừng Ngày giải phóng Điện Biên thì có 2 xe con đưa Bác Hồ tới thăm. Kể đến đây, bà Me nở nụ cười tươi không giấu được niềm hạnh phúc. Bà chia sẻ:

– Mọi người mặc quần áo của dân tộc mình, hồ hởi kéo về Ủy ban Khu cách trường mấy trăm mét. Mấy chị dân tộc Thái hô to “Páu Hồ xem pi” (Bác Hồ muôn năm). Bác trò chuyện với tôi và nói “Cháu còn trẻ, tương lai còn rộng mở. Cháu cố gắng học tập cho tốt và chuyển lời của Bác tới các thanh niên quê cháu phải đi học, có văn hóa mới làm chủ được quê hương mình…”. Nhớ lời Bác dặn, tôi đã không ngừng học tập suốt đời.

Tháng 9-1959, sau khi học hết lớp 2, Chu Chà Me được nhận về công tác tại Huyện đoàn Mường Tè, Lai Châu. Dù đi học hay làm công tác xã hội, Chu Chà Me luôn nhớ lời Người, không ngừng tự học, vươn lên để xây dựng quê hương. Chính những hoạt động sôi nổi khi làm công tác đoàn mà năm 1960 bà vinh dự là một trong 75 phụ nữ tiêu biểu của Tây Bắc về thủ đô Hà Nội dự Quốc khánh 2-9. Sáng 4-9, Bác Hồ tới thăm đoàn phụ nữ Việt Bắc và Tây Bắc ở nhà khách của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà Me xúc động nhớ lại:

– Bác tiến lại gần xoa đầu và gọi tên tôi. Bác hỏi “Cháu Chà Me à! Các cháu thanh thiếu niên dân tộc Hà Nhì đã đi học nhiều chưa? Cháu có chuyển lời Bác dặn tới các thanh niên quê mình không?” Rồi Bác khen tôi cố gắng có tiến bộ nhưng phải tích cực hơn nữa. Tôi không ngờ, vị lãnh tụ của dân tộc bận trăm công nghìn việc nhưng vẫn nhớ tới những việc tưởng chừng nhỏ bé ấy.

Những lời Bác dặn, bà ghi tạc trong lòng và là kim chỉ nam để làm theo. Từ một cô gái 17 tuổi mới học hết lớp vỡ lòng, bà đã quyết tâm học lên Trung cấp, rồi học tiếp Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc. Từ làm giáo viên Trường Dân tộc nội trú Lai Châu đến làm phát thanh viên Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh Lai Châu… bà đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Xuân này, bà Me sẽ bước sang tuổi 74. Bà tâm sự với chúng tôi rằng hai lần gặp Bác Hồ là hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời mình.

Bài và ảnh: Minh Mạnh
qdnd.vn

Nhớ lời Bác Hồ căn dặn tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II

(TCTG)- Từ tuổi trẻ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu và đồng cảm với thanh niên sinh viên – đó là lớp người trẻ tuổi đang chuẩn bị bước vào đời, khát khao lý tưởng, có nhiều hoài bão. Là những người ham hiểu biết, khám phá, cũng ham hành động, lại nhiều xúc cảm, dễ chịu tác động của tập thể và đặc biệt là đó mới chỉ là lớp người đang trưởng thành, chứ chưa phải là những người trưởng thành nên họ rất dễ vấp ngã, nản lòng. Từ đó, Người khuyên sinh viên hãy thực hiện “6 cái yêu”. Theo Người, 6 điều đó, vừa thể hiện rõ tinh thần và quyết tâm của tuổi trẻ, vừa là cái đích để mỗi sinh viên hướng tới và phấn đấu.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo đến thế hệ trẻ, trong đó sinh viên là những “người lao động trí óc trẻ” được Bác chú trọng nhiều. Người thư­ờng xuyên thăm hỏi, động viên họ, khuyến khích họ miệt mài học tập và không ngừng tu dưỡng đạo đức cách mạng, để trở thành những người có đức, có tài, đóng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong hành trình tìm đ­ường cứu n­ước, tìm con đường giải phóng dân tộc, đem lại tự do hạnh phúc cho đồng bào, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm đến “bộ phận quan trọng” này của dân tộc. Người đã cổ vũ, cuốn hút những thanh niên, sinh viên Việt Nam, đưa họ đến với cách mạng bằng chính những năm tháng tuổi trẻ đầy nhiệt huyết cách mạng và khát khao đấu tranh ginàh độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào của mình. Khi nước nhà chưa giành được độc lập, từ điều kiện cụ thể của Việt Nam, một đất nư­ớc với hơn 90% dân số là nông dân, đa phần là mù chữ, Người đã bằng những hoạt động thiết thực của mình, tuyên truyền, khuyến khích và tạo điều kiện giúp họ được học hành để góp sức cho cách mạng.

Sau khi cách mạng thành công, tin yêu và hy vọng ở thanh niên, sinh viên, những con ng­ười như­ Lênin nói: Nhiệm vụ thật sự xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa chính là của thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thanh niên là người chủ tư­ơng lai của nư­ớc nhà. Thật vậy, nư­ớc nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”[1]. Để thanh niên có thể trở thành những ng­ười chủ xứng đáng, những con ngư­ời đủ đức, đủ tài, gánh vác đư­ợc những trọng trách mà cách mạng giao phó, bên cạnh việc tự bản thân họ phải rèn luyện, tu d­ưỡng đạo đức, năng lực chuyên môn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã luôn tạo điều kiện để họ được học tập, được sinh hoạt trong tổ chức và hư­ớng dẫn họ tập dư­ợt làm việc, để họ ngày một trưởng thành và đảm đương tốt những nhiệm vụ đ­ược giao.

Không chỉ dừng lại ở việc hoạch định một chiến lược đào tạo con người, đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp cách mạng lâu dài, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thông qua những bức thư, những bài phát biểu thể hiện rõ sự quan tâm của mình đối với thanh niên. Đến thăm và nói chuyện với các sinh viên Việt Nam tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II (5-7/5/1958), Người nói: Hồi Người còn đồng tuổi với các sinh viên, những người đang được hưởng sự chăm lo, giáo dục của chế độ xã hội mới, được Đảng và Chính phủ nâng niu giúp đỡ, thì Người không có điều kiện được học hành như họ, mà phải “đi rửa bát hoặc làm nhiều công việc khác để lấy tiền mà đi học”. Hơn nữa, khi đó đất nước đang đắm chìm trong đêm trường nô lệ, người dân thuộc địa không có một chút tự do dân chủ nào, nên không được học hành “cho đến nơi đến chốn”, và càng không thể “phát triển hết khả năng của mình”. Tuy nhiên, đánh giá đúng vị trí và vai trò của thanh niên (sinh viên) trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước sau này, ngay từ những ngày cách mạng còn trong thời kỳ trứng nước, cùng với việc tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Hồ Chí Minh khi đó với tầm nhìn chiến lược cảu một vị lãnh tụ, đã kịp gửi những thanh niên Việt Nam đi đào tạo ở trường Quân sự Hoàng Phố, ở trường Đại học phương Đông Mátxcơva, trường Không quân Mátxcơva, v.v..

Và sau 9 năm kháng chiến, miền Bắc đã được giải phóng. Sau những năm dài chiến tranh, một kỷ nguyên mới với những nhiệm vụ mới, nhằm hướng đích Độc lập tự do và CNXH đang đòi hỏi sự cố gắng phấn đấu về mọi mặt của thanh niên, đặc biệt là những sinh viên- “những người đang được đào tạo dưới mái trường XHCN”. Nhấn mạnh điều này, Hồ Chí Minh khẳng định: họ là những người không chỉ tiếp sức cho thế hệ già, mà còn có trách nhiệm dìu dắt các em nhỏ và chính họ là thế hệ, là lớp người kế cận, tiếp tục tực hiện con đường mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn, trong hành trình đấu tranh vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, tự do và CNXH.

Đề cao nhiệm vụ đào tạo và phát triển con người Việt Nam mới XHCN “vừa hồng vừa chuyên”, Người từng nhiều lần nhấn mạnh: thanh niên phải có cả đức và tài mới hoàn thành được nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân tin tưởng giao phó. Người quan niệm “Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người”[2]. Mặc dù nhấn mạnh: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang”[3], song được sinh ra và lớn lên từ trong lòng chế độ xã hội cũ, họ ít nhiều còn mang trong mình những tàn dư của tầng lớp tiểu tư sản, nên để xứng đáng với vị trí, vai trò và nhiệm vụ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: bản thân mỗi người phải “tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng mình”, cải tạo tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. Bởi rằng, từ cá nhân chủ nghĩa sẽ “đẻ ra tư tưởng danh lợi”, ham chuộng địa vị, quyền chức, từ đó lại sinh ra căn bệnh sợ khó nhọc và sợ khổ, “coi khinh lao động chân tay”, “coi khinh người lao động chân tay”.

Nêu ra những căn bệnh vốn là tàn dư, là dấu vết của tầng lớp tiểu tư sản, Người cũng đồng thời chỉ ra biện pháp để sửa chữa những căn bệnh đó. Thấm nhuần lời dặn của cổ nhân, người cách mạng hãy “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, vị Chủ tịch nước chân tình nói với lớp cán bộ trí thức tương lai: “Muốn sửa chữa cá nhân chủ nghĩa thì khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, mà phải nghĩ đến đồng bào”, “làm việc gì mình cũng nghĩ đến lợi ích chung trước và lợi ích riêng sau”[4]. Trên tinh thần đó, Người nhấn mạnh: chừng nào mỗi người sinh viên tự hỏi và trả lời được 2 câu hỏi có ý nghĩa: đó là Học để làm gì ? và Học để phục vụ ai? thì chừng đó, trong tư tưởng của họ đã dứt khoát xác định rõ mục tiêu để học, để phấn đấu. Bởi rằng, tư tưởng thông suốt thì hành động sẽ đúng đắn.

Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II diễn ra trong bối cảnh miền Bắc đang tiến hành thực hiện kế hoạch 3 năm khôi phục và cải tạo kinh tế văn hoá xã hội để bước đầu xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH. Trước những khó khăn của thực tế và con đường đi lên CNXH đầy chông gai thử thách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với những sinh viên Việt Nam, những người trí thức XHCN là: Để xây dựng CNXH thì cần phải có “lao động trí óc và lao động chân tay”. Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể của nước nhà, Người nêu rõ: Chúng ta cần “lao động trí óc kiêm lao động chân tay, nghĩa là lao động chân tay cũng phải có văn hoá, mà người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay. Nếu lao động trí óc không làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có trí óc thì đó là người lao động bán thân bất toại”[5]. Ngược lại, Người cũng khẳng định rằng: Lao động trí óc mà không có lao động chân tay, “chỉ biết lý luận mà không biết thực hành” thì cũng chỉ là “trí thức một nửa”.Vì vậy, sinh viên các cháu phải luôn nhớ rằng: “Trong lúc học lý luận cũng phải kết hợp với thực hành”, “học tập kết hợp với lao động”.

Từ tuổi trẻ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu và đồng cảm với thanh niên sinh viên – đó là lớp người trẻ tuổi đang chuẩn bị bước vào đời, khát khao lý tưởng, có nhiều hoài bão. Là những người ham hiểu biết, khám phá, cũng ham hành động, lại nhiều xúc cảm, dễ chịu tác động của tập thể và đặc biệt là đó mới chỉ là lớp người đang trưởng thành, chứ chưa phải là những người trưởng thành nên họ rất dễ vấp ngã, nản lòng. Từ đó, Người khuyên sinh viên hãy thực hiện “6 cái yêu”. Theo Người, 6 điều đó, vừa thể hiện rõ tinh thần và quyết tâm của tuổi trẻ, vừa là cái đích để mỗi sinh viên hướng tới và phấn đấu.

1. Đó là yêu Tổ quốc và “phải làm sao cho Tổ quốc ta giàu mạnh”. Luận giải điều vĩ đại này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cắt nghĩa rất giản dị: để “Tổ quốc ta giàu mạnh thì phải ra sức lao động, ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”[6].

2. Đó là yêu nhân dân và muốn làm được như vậy, “phải hiểu rõ sinh hoạt của nhân dân, biết nhân dân còn cực khổ như thế nào, biết chia sẻ những lo lắng, những vui buồn, những công tác nặng nhọc với nhân dân”. Đây đồng thời cũng là thực hiện mối quan hệ gần dân, lắng nghe ý kiến của dân, gắn bó máu thịt với nhân dân.

3. Đó là yêu CNXH, vì chỉ “có tiến lên CNXH thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm”.

4. Đó là yêu lao động. Theo Người, “muốn thật thà yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu CNXH thì phải yêu lao động”, vì lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là trách nhiệm của mỗi người. Một người trí thức nói yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu CNXH mà không yêu lao động, thì đó “chỉ là nói suông”.

5. Đó là yêu khoa học và kỷ luật, bởi “tiến lên CNXH thì phải có khoa học và kỷ luật”.

Cuối cùng, Người kết luận: Bây giờ là thời đại của khoa học phát triển rất mạnh, là thời đại của CNXH và là thời đại của anh hùng, vì vậy mà “mỗi người lao động tốt đều có thể trở thành anh hùng” và 6 là: “Mong các cháu cũng làm người thanh niên anh hùng trong thời đại anh hùng”.

Từ những chỉ dẫn tâm huyết, cụ thể và đầy ý nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh với sinh viên, từ những đòi hỏi cụ thể của sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và xây dựng CNXH ở miền Bắc, Người đã cùng Đảng, Chính phủ chú trọng đến sự nghiệp đào tạo, giáo dục thanh niên sinh viên, đồng thời sử dụng, tạo điều kiện để những trí thức XHCN phát huy mọi khả năng của mình trên mọi lĩnh vực. Mặt khác, Người cũng luôn lấy g­ương ng­ười tốt việc tốt để cổ vũ, động viên và khuyến khích thanh niên sinh viên, giúp họ định hướng tốt, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Hơn nửa thế kỷ đã qua đi kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự và căn dặn sinh viên Việt Nam, cùng với sự phát triển của cách mạng, thanh niên sinh viên ngày càng thể hiện rõ vai trò của mình. Họ thực sự là những người được đào tạo chuyên môn, nắm vững khoa học kỹ thuật, có đạo đức cách mạng, tinh thần giác ngộ XHCN và tinh thần quốc tế vô sản cao cả. Những phong trào Sinh viên tình nguyện, Tiếp ứng mùa thiVòng tay nhân ái, v,v..những sẻ chia của họ đối với nhau, đối với cộng đồng, những gương sáng Sinh viên nghèo vượt khó, những Sinh viên đạt giải cao tại các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế về học thuật, về âm nhạc,… trong những năm đất nước chuyển mình, thực hiện công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển, đã thực sự làm cho những mong mỏi, những tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh cách đây hoan 50 năm toả sáng trong thực tiễn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về với cõi vĩnh hằng, song những điều Người dặn, những việc Người đã làm, đặc biệt là tình cảm, sự quan tâm của Người đối với thanh niên, sinh viên Việt Nam thì vẫn luôn là nguồn động viên nội lực, là sức mạnh tinh thần, để mỗi thanh niên, sinh viên không ngừng phấn đấu vươn lên, trở thành những người “vừa hồng vừa chuyên”, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN./ .

Ths. Nguyễn Đoàn Phượng

Trung tâm bồi dưỡng cán bộ lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội
tuyengiao.vn


[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1996, t.5, tr.185

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.172

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.172

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.172

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.173

[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.173

Nhớ lời Bác dặn về Đảng cầm quyền

Đến xuân này, sau một năm triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng là dịp chúng ta suy ngẫm những lời căn dặn của Bác về Đảng cầm quyền để thấm nhuần và vận dụng tốt hơn vào việc thực thi nhiệm vụ chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn mới của sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước.

Đảng phải chăm lo phát triển kinh tế để không ngừng nâng cao đời sống nhân dân

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Trong bản Di chúc lịch sử, điều đầu tiên Bác nói về Đảng và khẳng định: Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Người căn dặn Đảng ta những việc cần phải làm để tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta hoàn thành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thống nhất Tổ quốc, hàn gắn các vết thương chiến tranh, xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế… Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là Đảng Cộng sản cầm quyền, Đảng ta phải hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân.

Yêu dân, trọng dân là tình cảm và tư tưởng của Bác muốn giáo dục và truyền lại cho Đảng ta phải tiếp tục phát huy trong mọi thời kỳ để sự nghiệp cách mạng đi lên vững chắc.

Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong DI CHÚC, thể hiện tình cảm thương dân, tự hào vô hạn về nhân dân ta và trách nhiệm nặng nề của Đảng với nhân dân: Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Đồng chí Nguyễn Khắc Hưng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh. Ảnh: Xuân ThuĐồng chí Nguyễn Khắc Hưng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh. Ảnh: Xuân Thu

Hơn bốn mươi bốn năm qua, thực hiện Di chúc của Bác, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo nhân dân ta làm tốt nhiều điều căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hàn gắn các vết thương chiến tranh, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Từ năm 1986, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tiến hành công cuộc đổi mới, đưa nền kinh tế nước ta thoát khỏi khủng hoảng, thực hiện CNH-HĐH đất nước, mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế thế giới, xã hội ổn định, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên.

Nhờ có đường lối đổi mới và các chính sách kinh tế phù hợp, được sự ủng hộ và thực hiện sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, từ một nước nghèo, chậm phát triển, trong mấy chục năm qua Việt Nam đã vượt lên thoát khỏi nước nghèo, có tốc độ phát triển kinh tế khá cao ở châu Á. Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp đã có những thành tựu to lớn, nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu ở tốp các nước hàng đầu thế giới. Kinh tế phát triển gắn liền với thực hiện các chính sách xã hội, chăm lo cho con người mà Bác Hồ căn dặn. Công tác xoá đói giảm nghèo đạt những thành tựu to lớn được thế giới đánh giá cao. Các đối tượng chính sách được hưởng chế độ đãi ngộ ngày càng nâng cao, bảo đảm ngang bằng và cao hơn mức sống trung bình của người dân. Đời sống của đại đa số nhân dân có mức tăng trưởng, ngày càng cải thiện. Trong công cuộc đổi mới, nhiều phong trào thi đua phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hoá đã lan toả và phát triển mạnh mẽ tạo ra những thay đổi nhanh chóng trên mọi vùng, miền của đất nước.

Những năm gần đây, trước những khó khăn mới do tình hình suy giảm kinh tế toàn cầu và những yếu kém trong quản lý nền kinh tế đất nước, trong quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, dù có nhiều cố gắng của Đảng, Nhà nước và nhân dân song chúng ta nhận thấy việc thực hiện tâm nguyện và lời dặn của Bác về phát triển kinh tế và văn hoá để không ngừng nâng cao đời sống nhân dân vẫn còn phải tiếp tục lâu dài. Đặc biệt cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu phải được đẩy mạnh hơn. Những khuyết điểm, sai phạm trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước cần phải được sửa chữa, xử lý theo tinh thần của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Ra sức giữ gìn truyền thống đoàn kết của Đảng

Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, đoàn kết trở thành chiến lược lớn nhất được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành khẩu hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân ta “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

Để tập hợp, xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng, vấn đề hết sức quan trọng là phải nhận thức và giải quyết đúng đắn các mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân – tập thể. Trong giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý tới lợi ích cá nhân và coi đó là động lực trực tiếp để kích thích tính tích cực, sáng tạo của mỗi cá nhân. Hồ Chí Minh chỉ ra: trong cuộc sống, mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình mình. Nếu lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích tập thể thì không phải là cái xấu… Đối với cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh yêu cầu: Mỗi người trong Đảng phải hiểu rằng, lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài. Người nhấn mạnh: Nếu gặp lợi ích nói chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng. Khi cần đến tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người căn dặn: Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình; mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Hiện nay, trong bối cảnh quốc tế, mở cửa, hội nhập, toàn cầu hoá, đoàn kết toàn dân và xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất là xuất phát từ nhu cầu khách quan, việc xử lý những mâu thuẫn xã hội, các nhóm người có quyền lợi khác nhau cần theo hướng phát triển cộng đồng, có lợi cho quần chúng nhân dân lao động, tránh đẩy tới mâu thuẫn đối kháng, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chia rẽ. Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng Cộng sản là hạt nhân lãnh đạo và là linh hồn. Đoàn kết nội bộ Đảng là chỗ dựa, là cơ sở để đoàn kết dân tộc và khối đại đoàn kết dân tộc chỉ có thể xây dựng được khi đường lối cách mạng có mục tiêu, phương pháp phù hợp với nguyện vọng, quyền lợi của đại đa số nhân dân. Trong tiến trình hội nhập quốc tế rất đa dạng và phức tạp, chứa đựng những vấn đề thống nhất và đối lập, cơ hội và thách thức đan xen, cần thực hiện một nguyên tắc trong quan hệ quốc tế được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ngắn gọn “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” để giữ vững độc lập tự chủ, bình đẳng và cùng có lợi, vì hoà bình, hữu nghị và phát triển, tranh thủ những thời cơ và vận hội trong quá trình xây dựng đất nước, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại.

Tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh có ý nghĩa lâu dài, mãi mãi, là sức mạnh của chúng ta. Sự đoàn kết nhất trí của Đảng cầm quyền vì thế là nhân tố đặc biệt để lãnh đạo nhân dân, lãnh đạo xã hội để xây dựng đất nước vì trong xu thế toàn cầu hoá về kinh tế, khi nhân loại tiến đến nền kinh tế tri thức, cuộc cách mạng thông tin, điện tử và sinh học… bùng nổ, Việt Nam tiến hành hội nhập kinh tế, quan hệ hợp tác quốc tế sâu rộng hơn, bên cạnh những thuận lợi cũng có nhiều thách thức, khó khăn mới. Đó cũng là bài học lớn của tiến trình đổi mới phải bảo đảm và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, ra sức phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, sức sáng tạo của nhân dân làm nên lịch sử. Đổi mới trước hết phải phát huy yếu tố năng động nhất của lực lượng sản xuất là nhân tố con người, mà căn bản nhất là giải phóng năng lực trí tuệ con người, giải phóng mọi tiềm năng xã hội để phát triển con người và phục vụ con người, đem lại cuộc sống xứng đáng với lao động và cống hiến của mỗi người.

Gần 3 thập kỷ qua, công cuộc đổi mới ở nước ta được tiến hành từng bước vững chắc và toàn diện là nhờ có đường lối ĐỔI MỚI đúng đắn và sự đoàn kết chặt chẽ của Đảng. Đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, chăm lo xây dựng đời sống văn hoá mới là ba trụ cột của xã hội. Cùng với cải cách, đổi mới kinh tế là đổi mới hệ thống chính trị, phát huy dân chủ trong Đảng và dân chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền vì dân, làm lành mạnh hoá xã hội, chống tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm và các tệ nạn xã hội khác. Nhờ đó mà thế và lực của nước ta ngày càng lớn mạnh và có vị thế mới trên trường quốc tế.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng, những điều Người căn dặn về Đảng cầm quyền là di sản tinh thần thiêng liêng, tài sản quý giá của Đảng và nhân dân ta. Đó là cội nguồn sức mạnh cho Đảng, để Đảng ta luôn luôn xứng đáng là Đảng của dân tộc Việt Nam, Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện và xây dựng./.

TS Phạm Văn Khánh
baonamdinh.com.vn

Nhớ lời Bác, thực hiện tốt Tết trồng cây

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cứ mỗi độ Tết đến xuân về, nhân dân cả nước lại nô nức ra quân thực hiện “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác”.

Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân

63 năm qua kể từ khi Bác chính thức phát động “Tết trồng cây” (năm 1960) trong toàn dân cùng với lời dạy “việc này ít tốn kém mà lợi ích nhiều” và “trong mười năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu sẽ hiền hòa hơn, cây gỗ sẽ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”, Tết trồng cây đã trở thành một phong tục tập quán mới, một truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

Ở Bắc Ninh nhiều năm qua, thực hiện lời dạy của Bác, Tết trồng cây đã luôn được duy trì và phát triển rộng khắp, không chỉ mở đầu cho việc thực hiện thắng lợi kế hoạch trồng cây gây rừng cả năm, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái mà còn mở đầu cho một năm mới với khí thế thi đua sôi nổi rộng khắp của các cấp, ngành, các địa phương, đơn vị phấn đấu cho việc hoàn thành thắng lợi kế hoạch cả năm ngay từ những ngày đầu xuân. Phát huy truyền thống đó, xuân Quý Tỵ này Bắc Ninh sẽ phát động Tết trồng cây ngay từ ngày làm việc đầu tiên (Mùng 9 Tết) với sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các ngành, các địa phương và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Đây là tiền đề, động lực quan trọng để tỉnh thực hiện thắng lợi mục tiêu trồng cây, trồng rừng cả năm 2013.

Tuy nhiên, do Tết Quý Tỵ năm nay được nghỉ dài ngày, lại trùng mùa lễ hội, các địa phương đang tập trung gieo cấy lúa xuân nên các ngành, các địa phương cần quán triệt nghiêm túc tinh thần chỉ đạo của tỉnh, chủ động, tích cực xây dựng và triển khai kế hoạch Tết trồng cây thật cụ thể, sát sao và có sự chỉ đạo quyết liệt nhằm tổ chức Tết trồng cây thực sự thiết thực, sâu rộng, hiệu quả và chất lượng. Trước hết, các ngành, các địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền ý nghĩa của Tết trồng cây, cũng như ý nghĩa, hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái của việc trồng cây, trồng rừng. Từ đó, tích cực vận động nhân dân tham gia trồng cây theo lời kêu gọi của Bác “người người trồng cây, nhà nhà trồng cây”.

Cần xây dựng những kế hoạch cụ thể, những công việc phù hợp, tận dụng triệt để quỹ đất để trồng cây xanh, bố trí những loài cây trồng bảo đảm hiệu quả lâu dài về kinh tế, bảo vệ môi trường và xây dựng cảnh quan… để mọi người dân, từ các cụ già đến các em học sinh, từ các cơ quan, đơn vị đến các tổ chức đoàn thể đều có thể tham gia trồng và chăm sóc cây hiệu quả. Khẩn trương thực hiện các bước chuẩn bị cho Tết trồng cây, từ việc khảo sát, thiết kế, chuẩn bị đầy đủ về vật tư phân bón, nhân lực… đến việc chuẩn bị tổ chức lễ phát động sao cho trang trọng, thiết thực, tiết kiệm và hiệu quả, tránh phô trương, hình thức hoặc qua loa, chiếu lệ, lãng phí. Đặc biệt cần có những cơ chế, chính sách và biện pháp mạnh để chăm sóc và bảo vệ cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, tránh mọi hiện tượng xâm lấn, phá hoại rừng và cây xanh trên địa bàn…

Trong bối cảnh hiện nay, việc thực hiện tốt Tết trồng cây và phong trào trồng cây gây rừng như lời Bác dạy, không chỉ có ý nghĩa tạo cảnh quan, mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu, tạo tiền đề cho tỉnh thực hiện thắng lợi công cuộc CNH, HĐH một cách bền vững. Đó cũng chính là những hành động, việc làm thiết thực để mỗi chúng ta “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Lê Thanh
baobacninh.com.vn

Lê Bá Dương kể chuyện về lời dặn cuối cùng của Bác

“Còn đất nước thì nhất định không được chia!”, đó là lời dặn của Bác trong lần chúc thọ cuối cùng của Người.

Đó là đêm 3/9/1969. Trên đường vượt dốc cao điểm 405 để chuẩn bị cho trận đánh mới, chúng tôi nhận được tin đau đớn: Bác Hồ qua đời.

Mệnh lệnh của đơn vị gấp rút trở về hậu cứ chịu tang Bác. Chúng tôi như chết lặng giữa sườn núi. Tôi nhớ lại câu chuyện về người đồng đội Lê Nhật Tụng, người đã may mắn được gặp Bác Hồ lần cuối trong Lễ mừng thọ Người trước lúc Người đi xa.

loi bac dan
Dù Bác đã đi xa nhưng kỷ niệm, những ấn tượng về
Người vẫn mãi được lớp lớp cháu con lưu giữ

Lê Nhật Tụng là Trung đội phó của Đại đội 4, Tiểu đoàn 2 Nghệ An đỏ, thuộc Trung đoàn 27 Xô viết Nghệ Tĩnh (nay là Trung đoàn 27 – Triệu Hải). Trong cùng một trận đánh tại bắc đường số 9 (Quảng Trị), anh đã dùng khẩu B41, lần lượt bắn tiêu diệt 6 xe tăng địch, trở thành dũng sĩ diệt tăng nổi tiếng mặt trận B5.

Với chiến công đặc biệt xuất sắc đó, tháng 5 năm 1969, Lê Nhật Tụng được vinh dự đại diện cho các chiến sĩ Quân giải phóng đường 9 Quảng Trị, tham gia Đoàn đại biểu dũng sĩ Quân giải phóng miền Nam ra Hà Nội dự đại hội chiến sĩ thi đua.

Cũng trong dịp này, Lê Nhật Tụng đã có được niềm hạnh phúc tột cùng khi được tham gia Đoàn đại biểu dũng sĩ Quân giải phóng miền Nam thăm, chúc thọ Bác Hồ.

Để rồi, ngày trở lại đơn vị, trong hành trang của mình, ngoài chiếc Huy hiệu Bác Hồ do chính người tự tay gắn trên ngực áo của Lê Nhật Tụng, cùng tấm ảnh Lê Nhật Tụng đang cùng các dũng sĩ miền Nam quây quần bên Bác, còn có nguyên những câu chuyện cảm động về Bác Hồ.

Những câu chuyện đó được Lê Nhật Tụng kể lại cho chúng tôi đã trở thành động lực giúp những người lính Trung đoàn 27 vượt qua những cam go, thử thách, sẵn sàng hy sinh xương máu vì độc lập tự do của Tổ quốc. Hồi đó, ai cũng khao khát được một lần gặp Người nên luôn cố gắng lập công.

Trong đêm mưa đầu tháng 9 năm 1969, giữa mặt trận khét lẹt đạn bom, tin Bác mất khiến ai cũng trào nước mắt tiếc nuối. Bất chợt trong nghẹn lòng tiếc thương, câu chuyện kể về lần thăm, chúc thọ Bác Hồ của Lê Nhật Tụng lại trở về…

Chuyện rằng, hôm đó, mặc dù tuổi Bác đã cao, sức khỏe Bác không được tốt như trước, nhưng Bác vẫn dành cả một khoảng thời gian khá dài để tiếp và thăm hỏi nam, nữ dũng sĩ miền Nam. Trên bàn tiếp khách được bày sẵn những đĩa kẹo, bánh, trái cây.

Mặc dù Bác liên tục nhắc mọi người ăn kẹo, uống nước, nhưng trong một không khí ấm áp tình cha con, cả Đoàn như quên hẳn các đĩa kẹo, bánh, nước trà trên bàn.

Cứ vậy, sau những lời thăm hỏi, động viên và tự tay mình gắn Huy hiệu cho từng người, Bác chia tay với Đoàn. Nhưng ra đến cửa, Bác bỗng dừng bước, ngoảnh về phía dãy bàn còn nguyên các đĩa kẹo bánh và bình nước trà và nhắc:

– Kẹo bánh của nhân dân cho đó, các cháu ăn không hết thì chia nhau mang về. Rồi bất ngờ Bác nhấn mạnh từng lời: Còn đất nước thì nhất định không được chia!

Theo tinmoi.vn
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Phải ra sức chống hạn

Lời của Bác - Lời của non sôngNgày 4-12-1959, trên Báo Nhân dân số 2088, trong bài “Phải ra sức chống hạn”, Bác Hồ viết:

“Dù cho hạn hán khắp nơi/Người mà quyết chí thì trời phải thua/Không mưa mà vẫn được mùa”.

Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm đến công tác phòng, chống hạn hán. Trong nhiều bài phát biểu, bài viết, Người thường xuyên nhắc đến hai từ “hạn hán”. Người gọi hạn là “giặc hạn” để kêu gọi mọi lực lượng, mọi lứa tuổi ở từng địa phương đều phải tham gia chống hạn: Mỗi người phải ra sức chống hạn. Ai ai cũng thi đua tham gia chống hạn. Các cụ già có kinh nghiệm, thanh niên có sức lực làm đầu tàu. Các cháu thiếu nhi ra đồng động viên, nấu nước cho đồng bào uống. Mỗi người một tay, già trẻ góp sức, nhất định chống hạn thắng lợi.

Cuối năm 1959, thiên tai, hạn hán diễn ra ở nhiều nơi trên miền Bắc, ảnh hưởng đến sản xuất vụ chiêm xuân của bà con nông dân. Song song với việc chỉ đạo các bộ, ngành giúp bà con nông dân chống hạn, Bác đã viết bài báo “Phải ra sức chống hạn” để tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, nhắc nhở từng địa phương phải đặc biệt quan tâm tới mùa màng. Người nêu việc, nhiều địa phương trong cả nước mặc dù bị thiên tai nhưng vẫn được mùa. “Đó là vì đồng bào nông dân và cán bộ ta đã quyết tâm chống hạn”.

Sau khi gặt xong vụ mùa thắng lợi, thời tiết khô hạn kéo dài, nhiều nơi thiếu nước cho sản xuất vụ chiêm, vì thế, Bác nêu rõ: “Chúng ta phải ra sức làm thủy nông nhỏ và quyết tâm tìm mọi cách chống hạn. Các hợp tác xã và tổ đổi công phải hăng hái làm chủ lực. Thanh niên phải là những đội đột kích xung phong. Bộ đội phải cố gắng giúp sức. Toàn thể đảng viên ở nông thôn phải gương mẫu. Cán bộ từ tỉnh đến xã phải  xem xét tận đồng ruộng, phải cùng quần chúng bàn bạc, đặt kế hoạch cho sát và theo dõi đôn đốc, chu đáo liên tục. Như thế thì chúng ta nhất định đánh thắng giặc hạn và bảo đảm vụ chiêm thắng lợi”.

Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng, Nhà nước ta rất chú trọng phát triển nông nghiệp, với nhiều chủ trương, giải pháp phòng, chống thiên tai nhằm tăng năng suất cây trồng. Các tỉnh đã cơ bản xây dựng các hồ chứa nước lớn; xây dựng hàng nghìn công trình thuỷ lợi, trong đó có nhiều công trình quy mô lớn góp phần nâng cao năng lực phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai.

Những lời dạy của Bác về công tác phòng, chống hạn hán đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn