Thư viện

Họa sĩ trình bày báo Nguyễn Ái Quốc

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng thiên tài, danh nhân văn hoá thế giới, anh hùng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Bài này chỉ đề cập một lĩnh vực nhỏ trong sự nghiệp vĩ đại của Người.

Thế hệ làm báo cách mạng Việt Nam, gần một thế kỷ được thừa hưởng những bài học, nghệ thuật sáng tạo tác phẩm báo chí xuất sắc, tiêu biểu, độc đáo của Nhà báo số một Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh không chỉ ở cách hòa nhập hiện thực đời sống, chắt lọc sự kiện, thể hiện nội dung thông tin sinh động, hấp dẫn, có sức thuyết phục mà còn tiếp nhận từ Người phương pháp trình bày mặt báo sao cho lôi cuốn bạn đọc.

Các tờ báo Người cùng khổ, Tạp chí Quốc tế Nông dân, Thanh niên, Việt Nam hồn, Thân ái, Lính cách mệnh, Việt Nam độc lập, Cứu quốc… do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và tổ chức quy trình xuất bản in đậm dấu ấn phong cách trình bày độc đáo, sát hợp yêu cầu người đọc và hoàn cảnh cụ thể.

Tờ Người cùng khổ xuất bản tại Pa-ri in chữ Pháp dành cho bạn đọc có trình độ nhất định, đặc biệt là các nhà hoạt động chính trị, hoạt động xã hội, tầng lớp trí thức tiến bộ Pháp những năm 1922, 1923 nên bố cục mặt báo từ trang một đến trang bốn theo phong cách phương Tây. Những thông tin chính luận, cập nhật, có ảnh hưởng rộng đều được sắp xếp ở vị trí quan trọng, nhiều cột báo với tít in đậm hơn.

Để tạo ấn tượng mạnh, buộc người đọc quan tâm ngay khi cầm tờ báo, ngoài tên bài được in chữ to, chạy suốt trang còn có tít phụ, giúp người đọc nắm bắt nhanh “cái thần”, “cái hồn” của bài báo. Ngay trong một bài, cần thu hút bạn đọc, nhà báo Nguyễn Ái Quốc cho sắp một kiểu chữ in nghiêng. Báo Người cùng khổ in kỹ thuật ty-pô, sắp chữ chì, in khuôn đúc trên máy lăn ngang, chưa phải hiện đại nên bố trí nhiều kiểu chữ rất phức tạp, nhưng với năng lực làm báo thành thạo, nhà báo Nguyễn Ái Quốc còn bố trí in cả tranh châm biến, tranh đả kích. Từ năm 1922 đến năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đã cho in trên tờ Người cùng khổ gần 30 bức tranh đả kích, châm biếm, điển hình là các bức “Mau lên! Đi”, “Tố cáo những kẻ gây ra vụ đàn áp ở Tu-lan-ca-mon”, “Xe xích sắt một ngày kia sẽ thay những con lạc đà, nhưng chúng vẫn còn khá nhiều. Bằng chứng ư?”, “Văn minh bề trên”, “Chủ nghĩa tư bản”. Trang một báo Người cùng khổ được bố trí đậm đặc các bài, tin quan trọng, nhiều bài chỉ trình bày tít rồi cho tiếp sang trang sau.

Cách trình bày khái quát các chủ đề tập trung của số báo nổi bật lên trang một của nhà báo Nguyễn Ái Quốc từ năm 1922 đã có ảnh hưởng quyết định tới việc chỉ đạo tổ chức xuất bản các tờ báo Tranh đấu (1930), Cờ vô sản (1930.), Tiền phong (1937), Dân chúng (1937), Tiếng nói của chúng ta (1938), Cờ giải phóng (1942) Cứu quốc (1942), Sự thật (1945), Nhân Dân (l951). Đặc biệt là hệ thống báo đảng sau này đều căn cứ tôn chỉ, mục đích, đối tượng bạn đọc mà có hình thức trình bày hợp lý.

Khi xuất bản báo Thanh niên, in chữ Việt Nam tại Quảng Châu (Trung Quốc), nhà báo Nguyễn Ái Quốc không rập khuôn cách trình bày như báo Người cùng khổ. Người xác định đối tượng báo Thanh niên là các tầng lớp yêu nước, học sinh, sinh viên, trí thức, người lao động không biết chữ nên việc sắp xếp tin, bài ngắn gọn, từng cột báo có phi-lê dọc phi-lê ngang cho người đọc dễ dàng tiếp nhận.

Điều kiện hoạt động bí mật, tài chính nghèo nàn nên báo “Thanh niên” không thể in ty-pô (in máy). Nhà báo Nguyễn Ái Quốc đã khắc phục khó khăn bằng cách dùng bút sắt viết từng cột báo, kể cả măng-sét (tên báo Thanh niên) trên giấy sáp để tạo khuôn rồi quay rô-nê-ô, mỗi khuôn in độ 200 bản. Để tạo cảm xúc vui cho bạn đọc, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp vẽ tranh biếm họa, đả kích, tranh cổ động lên mặt khuôn, điển hình là bức “Lênin với vấn đề giải phóng dân tộc” in số 68 ngày 7-11- 1926 kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga. Từ 21-6-1925 đến đầu tháng 5-1927, nhà báo Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng ngòi bút sắt trình bày ma-két 88 số báo Thanh niên để có gần 170.000 bản báo gửi về Việt Nam, sang Thái Lan, góp phần thức tỉnh, khơi dậy lòng yêu nước, ý chí giành độc lập dân tộc và là tài liệu hướng dẫn, huấn luyện cán bộ, chỉ rõ đường lối đấu tranh, phương pháp tổ chức đoàn thể quần chúng cách mạng trước lúc Đảng ta ra đời ngày 3-2-1930.

Văn Khải

xaydungdang.org.vn

Gặp người viết truyện thơ dài nhất về Bác Hồ

(GDVN) – Đã bao năm ròng ông lang thang trên từng miền quê nước Việt, lần theo những nơi mà Bác Hồ đã đi qua, rồi sưu tập cả một kho tài liệu viết về Bác, để rồi thức trắng bao đêm và viết ra 3654 câu thơ về Bác Hồ vĩ đại bằng tấm lòng mộc mạc, chân thành. Với tập truyện thơ có tựa đề “Từ làng sen”, ông trở thành người đầu tiên viết truyện thơ dài nhất về Bác Hồ, trong đó ghi lại tất cả cuộc đời của một vĩ nhân. Ông là nhà thơ Nguyễn Gia Ninh, ở Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội.

Một lần gặp Bác Hồ…

… Đó là năm 1962 tại trường Trung cấp Nông lâm. Lúc đó ông khoảng 13 tuổi. Vào một buổi tối trước hôm Bác đến, ông theo đám thanh niên đến trường Trung cấp Nông lâm để xem cải lương, tối hôm đó trời bỗng đổ mưa to, ông chui vào một góc trong giao thông hào tránh mưa rồi ngủ luôn ở đó. Buổi sáng thức giậy, ông nghe tiếng reo hò của đám đông “Bác Hồ! Bác Hồ!” ông vội chạy ra khỏi giao thông hào hòa mình vào đám trẻ con và chạy theo Bác.

Người thi sỹ đồng quê vẫn từng ngày miệt mài viết những vần thơ về bácNgười thi sỹ đồng quê vẫn từng ngày miệt mài viết những vần thơ về bác

Dù đã gần 50 năm trôi qua, nhưng Nguyễn Gia Ninh vẫn nhớ như in những cảm xúc ban đầu khi gặp Bác. Lúc đó, Bác mặc một bộ quần áo nâu gụ trông giản dị lắm, râu Bác bạc phơ. Khi nhìn thấy Bác, đám trẻ con hớn hở chạy theo, đứa nào cũng muốn được Bác xoa đầu và bế trên tay. Trong giây phút đó, bỗng trong lòng Nguyễn Gia Ninh dâng lên một cảm xúc dào dạt, khó tả. Cũng từ đó, ý tưởng về những vần thơ viết về Bác được manh nha.

Năm 1965 Nguyễn Gia Ninh lên đường đánh giặc và luôn đau đáu mơ ước gặp Bác thêm một lần nữa. Mơ ước của ông chưa trở thành hiện thực thì năm 1969 Bác mất, nghe tin ấy, trong ông dồn lên những cảm xúc thương mến, xót đau người lãnh tụ vĩ đại. Từ đó ý tưởng về việc sáng tác một tập thơ dài về Bác cứ thôi thúc ông mãnh liệt. Những cảm xúc ấy theo Nguyễn Gia Ninh đến suốt mãi sau này.

Theo dấu chân Người

Để viết được tập thơ dài nhất về Hồ Chủ tịch, người thi sĩ đồng quê Nguyễn Gia Ninh đã bao năm lặn lội đến những miền quê nơi mà trước đây Bác Hồ đã từng đặt chân qua. Đầu tiên, ông đến Nghệ An thăm nơi chôn nhau cắt rốn của Bác, ông lại sống ở đây suốt mấy tháng liền, nghe bà con xứ Nghệ kể lại những câu chuyện về dòng họ Nguyễn, về truyền thống hiếu học và trí thông minh ít người sánh bằng của cậu bé Nguyễn Sinh Cung.

Nhìn dải đất Miền Trung triền miên cát trắng, cằn bạc hanh khô khiến cho Nguyễn Gia Ninh càng cảm sự học và ý chí vươn lên của Hồ Chủ tịch cũng như những con người nơi Miền Trung chỉ có nắng và gió. Cũng từ mảnh đất khô cằn này, đã tạo niềm cảm hứng cho người thi sĩ quê mùa  Gia Ninh sáng tác những câu thơ đầu tiên về Bác.

Sau những ngày dài ở lại nơi xứ Nghệ, ông đến bến cảng Nhà Rồng, nơi Bác đưa bước chân huyền thoại lên tàu viễn dương đi tìm đường cứu nước. Rồi ông lại vượt núi băng ngàn, đến các vùng quê Việt Bắc một thời là nơi che dấu Hồ Chủ tịch và nghĩa quân cách mạng, thăm nơi Người đặt chân từ nước ngoài về và tiếp tục lãnh đạo cách mạng chống lại cường thù. Trong suốt nhiều năm liền, từ 1986 hầu như ông đã đặt chân đến những miền đất nơi mà trước đây Bác đã từng đi qua, đi đến đâu ông cũng nghe người dân kể chuyện về Bác, từ chuyện ăn uống hàng ngày, cho đến chuyện về chống giặc ngoại xâm như thế nào… và ông bỗng trở thành người ghi chép những câu chuyện lịch sử liên quan đến Hồ Chủ tịch.

Những tư liệu mà ông thu thập được trong quá trình điền dã vẫn còn chưa đủ, trong khi thời gian Bác hoạt động ở nước ngoài lại rất dài, mà ông không thể đi các nước, đến những nơi bác đã từng đặt chân qua như ở Việt Nam được. Vậy là ông lại rong chiếc xe đạp cà tàng ra khắp các hiệu sách ở nội, ngoại ô thành phố Hà Nội để tìm mua sách viết về cuộc đời và con người Hồ Chí Minh để đọc.

Việc sưu tầm tìm hiểu những tài liệu về con người Hồ Chủ tịch theo ông Ninh là rất nhanh và bổ ích, khi mua được bất kỳ cuốn sách nào viết về Bác ông cũng thường thức đêm để đọc, đọc rồi mới hiểu về những hành động của Bác, rồi lại tìm cách chuyển thể từ thể loại văn xuôi sang thơ, làm sao cho bình dân dễ đọc, dễ nghe nhất. Qua nhiều năm sưu tầm sách, đến nay Nguyễn Gia Ninh đã có cả “kho sách viết về Hồ Chí Minh”. Ông Ninh cho rằng, hiện nay có nhiều sách viết vầ Hồ Chủ tịch với những thái độ và chính kiến khác nhau. Tuy nhiên tựu chung lại thì thấy Bác vẫn luôn là ngọn cờ đầu và là ánh dương để dẫn dắt cả dân tộc thoát khỏi xiềng gông, nô lệ, tìm đến với hạnh phúc, ấm no.

Những vần thơ về Bác

Toàn bộ cuộc đời và con người của Hồ Chủ tịch đã được thi sỹ đồng quê Nguyễn Gia Ninh chuyển thể thành thể thơ lục bát. Với thể thơ truyền thống của dân tộc, ông đã tạo ra sự gắn bó thân thương của một thị hiếu thẩm mỹ truyền thống về thơ và âm hưởng hiện đại, khiến cho người đọc dù trẻ hay già đều cảm thấy dễ đọc, dễ đi vào lòng người, đồng thời thu lượm được những hiểu biết về con người và cuộc đời của Hồ Chủ tịch.

Đúng như tiêu đề “từ làng sen”, tập trường ca nói về cuộc đời Nguyễn Ái Quốc bắt đầu từ một miền đất cằn cỗi nhưng đầy sức mạnh kết hợp với cách kể giầu tính truyền thống: “ Làng Sen có tự ngày xưa/khai sinh lập địa còn thưa thớt người/có dòng họ Nguyễn đến rồi”. Cứ như thế mạch thơ đều đều xuôi theo cuộc đời của Bác, cùng những lúc gian truân khi thì bị giặc truy sát, khi tìm đường về với nước non.

Qua những vần thơ chân quê ấy, người ta thấy được tầm vóc của một con người vĩ đại – Hồ Chí Minh, và một tấm lòng của người thi sỹ. Đọc những vần thơ của Nguyễn Gia Ninh, chúng tôi thấy ông như nghẹn ngào òa rơi nước mắt, khiến người đọc cũng như nghẹn lời.

“Miền Nam chưa kịp đón về
Ngoài này Bác đã hôn mê mất rồi
Thèm câu ví dặm đưa nôi
Ước ao nghe tiếng quê thôi cũng đành
Thay câu quan họ buông mành
Sụt sùi nấc hát bậm vành môi đau
Cả đời nào có gì đâu”

Thảo Nguyên

giaoduc.net.vn

Chúng tôi yêu quí Bác Hồ

Tôi được cụ Nguyễn Văn Trúc – cựu chiến binh hơn 50 tuổi đảng, nguyên là cán bộ (hàm vụ trưởng) thuộc Bộ Nông nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), nghỉ hưu tại phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Hà Nội, kể cho nghe một kỷ niệm trong đời quân ngũ của cụ. 81 tuổi, không còn nhanh nhẹn nhưng cụ Trúc rất minh mẫn. Câu chuyện như làm cho cụ trẻ lại, khỏe ra… tựa hồ anh Trúc 25 tuổi hồi ấy.

Sau ngày 7-5-1954, Nguyễn Văn Trúc được điều động sang công tác tại Tổng trạm tù binh Điện Biên Phủ. Ở đấy có gần 5000 lính Lê Dương từ các nước Pháp, Đức, Angiêri, Ma rốc, Tuynidi, Mađa, Xênêgan và cả người Đông Âu. Đồng chí Hùng – cán bộ chỉ huy cấp Trung đoàn là Tổng trạm trưởng.

Cuối thàng 7, anh Trúc cùng một tổ công tác dẫn tù binh Đức, Angiêri và Ma rốc đi bộ từ huyện Thọ Xuân theo bờ Nam sông Mã, về đóng tại các làng gần cầu Hàm Rồng, Thanh Hóa. Hôm ấy, vào khoảng 14 giờ, các anh cho đoàn tù binh giải lao tại thị trấn Hậu Hiền. Ở đây có những cửa hàng ảnh bày bán một loại huy hiệu in hình Hồ Chủ Tịch (kích thước 2cmx3cm), được bọc trong miếng foocmica hình tròn, có ghim móc. Lúc đầu, lác đác tù binh người Đức vào mua đeo lên ngực. Sau, tất cả tù binh ùa vào, tìm mua hết số huy hiệu ấy. Từ tám mươi đồng một chiếc, tăng lên đến một trăm năm mươi đồng, rồi hai trăm đồng một chiếc. Thấy vậy, anh Trúc rất bối rối. Chưa xác định được việc để tù binh mua huy hiệu là đúng hay sai, chỉ nghĩ rằng các cửa hàng tăng giá lên gấp hai lần là không tốt, nên anh đề nghị cấp trên ra lệnh buộc tù binh trả lại huy hiệu cho các chủ hàng và yêu cầu chủ hàng trả lại tiền cho tù binh. Tất cả đều nghiêm túc thực hiện…

Tù binh về đến nơi ở mới thì đã 18 giờ. Anh Trúc lên báo cáo ban chỉ huy Tổng trạm toàn bộ tình hình. Nghe xong, đồng chí Hùng gật gù nói: “Chứng tỏ tù binh Lê Dương rất kính phục lãnh tụ của ta. Họ cũng yêu quí Bác Hồ”. Rồi đồng chí ra lệnh cho anh Trúc tức tốc trở lại phố Hậu Hiền, tìm mua 800 chiếc huy hiệu nói trên. Nếu thiếu thì vận động bà con làm thêm cho đủ.

Đúng 10 giờ ngày hôm sau, anh Trúc mang 800 chiếc huy hiệu về đơn vị. Đồng chí Tổng trạm trưởng mừng lắm. Anh cho mời các bà mẹ, các em thiếu nhi quàng khăn đỏ trong xã đến, tổ chức thành đoàn xuống từng trại tù để trao huy hiệu Bác Hồ cho những tù binh tiến bộ được trả về nước đợt đầu. Tù binh đứng nghiêm, các mẹ, các em gắn huy hiệu lên ngực họ. Xong, mọi người đồng thanh hô vang: “Chúng tôi yêu quí Bác Hồ! Chúng tôi yêu quí Bác Hồ!”. Tiếp theo, cùng múa hát ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả tù binh đều rất cảm động. Họ tỏ ý vui mừng vì sẽ được mang tấm huy hiệu in hình Hồ Chủ Tịch về quê hương.

PHẠM XƯỞNG

baolamdong.vn

Biến tư gia thành bảo tàng Hồ Chí Minh

26 năm miệt mài sưu tầm tranh ảnh, bút tích của Bác, có lúc phải bán cả kỷ vật của người vợ đã khuất để in và photo tư liệu, ông đã có một bảo tàng Hồ Chí Minh ngay trong nhà mình.

Ngôi nhà 3 tầng giữa lòng xứ Thanh khá yên tĩnh. Bên trong, một cụ già dáng người nhỏ bé, đôi mắt sáng đang cặm cụi viết lách. Xung quanh ông, những tấm hình Bác Hồ, những tờ báo được ép plastic treo và xếp cẩn thận. Ông Nguyễn Đình Sơn, phường Tân Sơn, thành phố Thanh Hoá cho biết, thành công lớn nhất đời ông là sở hữu hàng nghìn tư liệu, hàng trăm bút tích của Bác Hồ.

Sinh năm 1930, ông Nguyễn Đình Sơn làm liên lạc đánh trận Cổ Lũng, huyện Bá Thước, khi mới 17 tuổi. Tháng 8/1953, ông tình nguyện đi thanh niên xung phong làm nhiệm vụ sửa đường, gỡ bom, phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Tháng 12 năm ấy, ông được tuyển chọn về đội 36 phục vụ ATK (Việt Bắc, Tân Trào, Tuyên Quang). Hòa bình lập lại, ông được điều về Cục Cảnh vệ. Sau khi vợ qua đời, các con còn thơ dại, ông xin về Sở Công an Thanh Hóa công tác và đến năm 1982 thì nghỉ hưu.

Cụ ong80 tuổi, ông vẫn miệt mài ghi chép, lưu giữ các tư liệu về Bác. Ảnh:Hoàng Thùy.

Ông tâm sự, thời gian làm việc ở Cục cảnh vệ để lại nhiều ấn tượng nhất. Lúc ấy, ông trực tiếp bảo vệ Bác, một vài lần được tập võ cùng Bác khiến lòng kính yêu đối với vị lãnh tụ giản dị, đời thường ngày càng lớn. Ông tâm niệm khi nào có điều kiện sẽ sưu tầm tư liệu, bút tích, hình ảnh của Người.

Tháng 2/1983, sau những đề xuất của ông Sơn, Ban đề tài tư liệu lịch sử 2253NV Thanh Hoá được tổ chức và hoạt động nhằm sưu tầm, xác minh, bổ sung, tổng hợp những tư liệu Bác Hồ với nhân dân và lực lượng vũ trang Thanh Hoá. Ông Sơn được giao nhiệm vụ làm chủ nhiệm đề tài.

Hằng ngày ông đều đặn đọc sách báo tìm tư liệu về Bác. Cứ nghe ai đó có di vật, bút tích của Bác Hồ là ông leo lên chiếc xe cọc cạch tìm đến tận nơi xin về. Đồng lương hưu ít ỏi ông dùng làm lộ phí cho những chuyến đi, và in ấn tư liệu. Sợ mối mọt gặm nhấm, ông Sơn đã đem ép plastic toàn bộ tư liệu có được. Trong lúc cần tiền để thực hiện công việc, ông đã bán đi 2 chỉ vàng – kỷ vật của người vợ đã khuất để in 50 tập báo, mỗi tập dày 69 trang.

“Bà ấy sinh thời rất yêu quý Bác. Ở nơi chín suối, chắc chắn bà cũng rất vui khi kỷ vật của chúng tôi được dùng vào việc có ích”, ông Sơn chia sẻ.

Sau gần 30 năm miệt mài với công việc, ông Sơn và Ban đề tài tư liệu lịch sử 2253NV đã thu thập được hàng nghìn bài báo về Bác, hàng trăm bức ảnh, 60 bút tích, bài nói chuyện của Người. Ngoài ra, Ban còn được một Việt kiều Pháp tặng cho một số cuốn phim độc nhất vô nhị mang tên “Việt Nam – Bác Hồ”, “Việt Nam đất nước con người”, “Hồ Chí Minh chân dung một con người”. Hiện những bộ phim quý giá này đã được tặng cho Viện tư liệu phim Việt Nam.

Tư giaTư gia của ông toàn treo ảnh và những bài báo viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Hoàng Thùy.

Được con gái cho tiền dưỡng già, ông Sơn dùng toàn bộ số tiền ấy xây ngôi nhà mới và chuyển tư liệu về Bác từ nhà cũ lên. Ông nói: “Mình ở thế nào cũng được, chứ những tư liệu quý giá này mà bị ẩm mốc, mối mọt thì xót lắm”.

Ngôi nhà 3 tầng của ông thiết kế không có nhiều đặc biệt, nhưng cách trang trí lại khiến người ta đến một lần không thể quên. Ở tầng một, những bài báo, bút tích của Bác Hồ được ép plastic và treo liền nhau trên tường. Hình của Bác được đặt ở vị trí trang trọng nhất. Ở góc phải căn phòng là một chiếc tủ đứng chứa đầy sách báo, tư liệu Bác Hồ mà suốt mấy chục năm qua ông đã sưu tập được.

Ở tầng hai của ngôi nhà, nguồn tư liệu cũng phong phú không kém. Căn phòng được chia làm các khu vực lưu giữ với nhiều nội dung. Ở góc phải nơi cửa ra vào là hình ảnh, tư liệu Hồ Chí Minh với phụ nữ Việt Nam, góc trái là với lực lượng công an nhân dân… Hai tủ sách cũng là những tư liệu quý giá về Bác và các vị lãnh tụ vĩ đại của nhân loại.

Đã từ lâu ngôi nhà của ông Sơn là điểm đến của học sinh mỗi khi cần những tư liệu về vị lãnh tụ, là nơi hội họp của những người lính cụ Hồ nhân ngày lễ lớn của dân tộc. Và đó còn là nơi những người yêu quý Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm về.

Vừa sưu tập tư liệu, ông Sơn vừa viết các cuốn sách “Trọn lòng với Bác kính yêu”, “Chung một tấm lòng với Bác”…Ông cũng vừa hoàn thành tập bản thảo “Hồi ký về cuộc đời”. “Ngoài bảo tàng tư liệu đã có, tôi còn muốn viết sách về Bác để những hình ảnh, những tư liệu liên quan đến vị cha già dân tộc có thể đến được với tất cả mọi người, được lưu giữ qua thời gian”, ông tâm sự.

Hoàng Thùy

vnexpress.net

Miền Nam yêu quý ở trong trái tim tôi

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ của Đảng, của cả dân tộc ta, nhưng với miền Nam – mảnh đất đi trước về sau, kiên cường đánh giặc suốt mấy chục năm trường, từng chịu biết bao đau thương, gian khổ, là nơi Bác Hồ đã gửi gắm những tình cảm tin cậy và yêu thương nhất!

Miền Nam cũng là nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, nơi lưu giữ phần mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc, người cha kính yêu của Bác, mà chưa một lần Bác được về thăm. Một lần gặp vợ chồng Giáo sư Trần Văn Giàu, Bác Hồ đã nói, tôi mong muốn đến ngày thống nhất, được vào miền Nam thăm đồng bào, đồng chí, cảm ơn tấm lòng cưu mang, chăm sóc của đồng bào đối với ông cụ thân sinh của tôi trong những ngày lánh nạn ở miền Nam.

Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, đoàn đại biểu Quốc hội Nam bộ do nhà cách mạng lão thành Nguyễn Văn Tạo dẫn đầu ra Hà Nội báo cáo trước Quốc hội, tố cáo những tội ác của thực dân Pháp đối với đồng bào ta ở Sài Gòn, Cao Lãnh… và nói lên niềm tin tưởng, kiên định của đồng bào miền Nam đối với chính phủ Hồ Chí Minh. Nghe xong, Bác Hồ bước tới ôm lấy đồng chí Nguyễn Văn Tạo, Người xúc động nói: “Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi. Nam bộ là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi”(1).

Khi tiếp đoàn đại biểu miền Nam do Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu ra thăm miền Bắc, Bác Hồ cũng đặt tay lên ngực mình và nhắc lại câu nói lịch sử đó: Hình ảnh của miền Nam yêu quý ở trong trái tim tôi.

Đồng chí Nguyễn Văn Linh kể: Năm 1963, sau đồng khởi tôi ra Hà Nội báo cáo với Bác và Bộ Chính trị. Ra đến nơi, vừa vào nhà nghỉ đã có đồng chí đến báo: “Bác kêu anh đấy”. Tôi vội vàng đến chỗ Bác. Vào đến phòng họp, tôi thấy trên chiếc bàn lớn đã trải sẵn tấm bản đồ miền Nam. Vừa ngồi được một lát đã thấy Bác bước vào với bộ quần áo nâu, Bác nói:

– A, chú Cúc hả? Chú ở miền Nam ra, trước hết là Bác khen ngợi tinh thần đấu tranh của đồng bào miền Nam ta. Chú ngồi xuống, chỉ cho tôi xem bây giờ Trung ương cục đóng ở đâu?

Rồi Bác hỏi tình hình đấu tranh và đời sống của đồng bào miền Nam, Bác hỏi tỉ mỉ với mối quan tâm sâu sắc. Tôi thật sự xúc động trước sự quan tâm của Bác đối với việc chăm lo đời sống cho đồng bào, chiến sĩ và cán bộ miền Nam…

Năm 1969, tôi lại được triệu tập ra Trung ương. Lúc này, Bác đã mệt nhiều, khi tôi vào thăm thì Bác đã không còn ngồi dậy để tiếp được nữa. Tôi ngồi trên chiếc ghế bên cạnh giường Bác. Bác vẫn tươi cười hỏi thăm tình hình miền Nam. Trên bức tường vẫn thấy treo sẵn tấm bản đồ miền Nam với các mũi tên chỉ tình hình chiến sự…

Cho đến những ngày cuối cùng, Bác cho mời các đồng chí trong Bộ Chính trị đến bên cạnh. Tôi lúc đó là cán bộ ở miền Nam ra, cũng được Bác kêu đến. Bác cố nắm tay từng đồng chí trong Bộ Chính trị và sau đó nắm lấy tay tôi. Khi ấy Bác đã không còn nói được nữa. Nhưng đôi mắt Bác thể hiện một tình cảm thật sâu sắc không bút nào tả xiết… Tôi hiểu rằng qua cái nắm tay cuối cùng này, Bác muốn gửi gắm tấm lòng của mình tới đồng bào ruột thịt miền Nam!(2). Nhà thơ Tố Hữu đã viết:

“Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác nỗi mong cha…”

Lại nhớ đến năm 1963, khi Quốc hội quyết định trao tặng Hồ Chủ tịch Huân chương Sao Vàng. Huân chương cao quý nhất của nước ta, Bác đã cảm ơn Quốc hội và đề nghị cho phép chưa nhận phần thưởng cao quý này, Người nói: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc – Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân sẽ sung sướng, vui mừng”(3).

Chưa vào được miền Nam, Bác yêu cầu: Hễ có đồng chí, đồng bào nào từ miền Nam ra thì phải cho Bác biết và đưa vào gặp Bác. Mỗi lần được gặp gỡ đại biểu từ miền Nam ra, Bác Hồ như vui khoẻ hẳn lên:

“Các anh, các chị, ở trong ra
Những đứa con yêu trở lại nhà
Có phải mỗi lần, ta gặp Bác
Bác vui như trẻ lại cùng ta!”

Tố Hữu

Giáo sư Trần Đại Nghĩa là một trí thức quê ở miền Nam, đã sống và học tập ở Pháp 11 năm. Năm 1946, nhân Hội nghị Phông-ten-nơ-blô và nhân dịp Bác Hồ thăm nước Pháp, ông đã tìm gặp và sau đó cùng một số anh em trí thức theo Bác trở về Việt Nam tham gia kháng chiến.

Trước khi về nước, biết ông là một nhà khoa học có nhiều nghiên cứu về vũ khí, Bác Hồ bảo với ông:

– Sớm muộn gì rồi nhân dân ta cũng phải kháng chiến để giành Độc lập.

Chú có còn giữ được những tài liệu về chiến tranh thế giới thứ hai không?
Bác lại nói:

– Về Việt Nam, lương của chú ít lắm, không được như ở Pháp đâu!

Lúc đó, lương của Giáo sư Trần Đại Nghĩa ở Pháp nếu tính ra tiền Việt Nam hiện nay thì khoảng hơn một trăm triệu đồng. Song ông đã thưa với Bác, ông về nước là để làm nhiệm vụ một người dân yêu nước.

Lúc theo Bác về nước, Giáo sư mới ngoài 30 tuổi, ông vốn tên là Phạm Quang Lễ, khi giao cho ông nhiệm vụ Cục trưởng Cục Quân giới, Bác đã đặt tên mới cho ông là Trần Đại Nghĩa.

Một lần, nhân Ngày sinh của Bác, Giáo sư Trần Đại Nghĩa xúc động nói: Bác Hồ là người Việt Nam hiện đại mà tôi nhớ nhất! Có thể nói không dối lòng mình là ngày nào tôi cũng nhớ đến Bác. Hồi ở Pháp, trước khi được gặp Bác với tên Hồ Chí Minh thì tôi đã biết và cảm phục nhất con người Nguyễn Ái Quốc (4).

Hoà thượng Thích Minh Châu nói: “Phật tử ở Việt Nam chúng tôi càng thấm thía hơn bài học lớn về đạo đức của Hồ Chủ tịch. Chúng tôi muốn nói đến đức từ bi, đức trí tuệ và vô uý của Hồ Chủ tịch. Do lòng từ bi, Người đã chịu cam khổ, suốt đời đấu tranh cho dân tộc, cho hoà bình thế giới. Do đức trí tuệ, Người đã tìm được con đường cứu nước, lý tưởng công bình và phát triển xã hội. Do đức vô uý, Người đã không nề gian khổ, bền bỉ chịu đựng mọi gian nan, thử thách, quyết tâm lãnh đạo nhân dân chống phong kiến, thực dân, đế quốc”(5).

Cụ Phạm Khắc Hoè, tháng 9-1945 đã từ Huế đi cùng Bảo Đại ra Hà Nội gặp Hồ Chủ tịch. Trong một lần gặp riêng ngắn ngủi, cụ Hoè còn nhớ mãi: “Cụ Chủ tịch đặt hai bàn tay lên vai tôi, bảo ngồi thêm một chút nữa, và nói: Tôi mong rằng chúng ta sẽ gặp nhau lâu dài trong sự nghiệp chung của Tổ quốc”.

Thế rồi năm 1946, cụ Phạm Khắc Hoè, được cử làm đổng lý văn phòng Bộ Nội vụ, mà bộ trưởng là cụ Huỳnh Thúc Kháng. Sau đó được Bác cử làm cố vấn phụ trách Tổng thư ký của phái đoàn Chính phủ ta, dự Hội nghị trù bị Việt-Pháp tại Đà Lạt.

Cụ Phạm Khắc Hoè kể: Một lần trên chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ hỏi tôi:

– Cái gì đã làm chú cương quyết đi theo kháng chiến?

Tôi trả lời một cách chân thật tự đáy lòng mình:

– Thưa Bác, yếu tố quyết định là hình ảnh Bác trong tim óc cháu!
Không ngờ, Bác nghiêm nghị nói:

– Chú nói thế là không đúng. Yếu tố quyết định nằm ngay trong bản thân chú. Đó là lòng yêu nước của chú. Chú cũng như tuyệt đại đa số đồng bào Việt Nam ta, ai cũng có lòng yêu nước, muốn cho nước được độc lập, thống nhất, giàu mạnh. Chỉ cần biết nhen ngọn lửa hồng ấy lên, là nó sẽ cháy thành ngọn lửa.

Và cụ Phạm Khắc Hoè nói tiếp:

– Hồ Chủ tịch chính là người đã nhen lên ngọn lửa yêu nước ấy trong lòng tôi! (6).

*

Ngày 14-7-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhà báo Cu-ba Mác-ta Rô-nát. Bác nói: “Đồng chí muốn biết tình cảm của tôi đối với miền Bắc và đối với miền Nam phải không? Tôi yêu đồng bào ở miền Bắc cũng như yêu đồng bào ở miền Nam…

Ở Việt Nam có một câu nói phổ biến: Miền Nam đi trước về sau… Miền Bắc được giải phóng 25 năm rồi nhưng suốt cả thời gian ấy, miền Nam không được hưởng lấy một ngày hoà bình… mỗi người, mỗi nhà đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi.

Tôi nghĩ rằng tôi chưa làm tròn nghĩa vụ cách mạng của tôi đối với đồng bào miền Nam; mặc dù như vậy, tôi biết rằng đồng bào miền Nam vẫn yêu quý tôi cũng như tôi luôn luôn yêu quý đồng bào”(7).

Bác Hồ đã từng tâm sự với các đồng chí ở gần Bác: Quê mình ở Nghệ An, nhưng mẹ mình mất ở xứ Huế, cha mình mất ở Cao Lãnh. Quê mình trải dài đất nước. Những nơi như Phan Thiết, Sài Gòn… trước lúc ra nước ngoài, mình đã từng sống ở đấy. Thế mà bao năm rồi mình vẫn chưa được về thăm.

Trong tình cảm yêu thương đối với đồng bào cả nước, Bác Hồ luôn luôn dành một tình cảm nhớ thương đối với đồng bào và chiến sĩ miền Nam, những người đi trước về sau, luôn kiên cường trong gian khổ, đấu tranh, xứng đáng với danh hiệu Thành Đồng Tổ quốc.

Và đồng bào miền Nam trong trái tim mình cũng luôn luôn dành những tình cảm yêu quý nhất, kính trọng nhất đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thành phố Sài Gòn đã được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, là mảnh đất yêu quý, nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước.

Bác Hồ đi xa khi miền Nam chưa được giải phóng, nhưng trong Di chúc, Người đã nói: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”(8).

Khi đọc Di chúc của Người, nhà thơ Xuân Thuỷ đã viết:

“Còn non, còn nước, còn người
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay
Ôi tự hào, tin tưởng, lạc quan thay
Bác vẽ sẵn cảnh vườn Xuân Thống nhất!”.

_____

(1) Hồi ký của cán bộ Văn phòng Quốc hội, NXB CTQG, H.2000, tr.27. (2) Trích “Bác Hồ với miền Nam – miền Nam với Bác Hồ”, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1986. (3) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 11, tr.61, 62. (4) Nhớ Bác lòng ta trong sáng hơn, NXB Hội Nhà văn, H.2010, tr.253, 254. (5, 6) Nguồn sáng Hồ Chí Minh, NXB Thanh Niên, H.2009, tr.197, 198. (7, 8) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 12, tr.560-561, 509.

Bùi Công Bính

xaydungdang.org.vn

Vũ Kỳ – “Chú tiểu đồng” của Bác Hồ

– Gần một phần tư thế kỷ làm thư ký, ông Vũ Kỳ không chỉ là “chú tiểu đồng” của Bác Hồ mà còn tâm huyết dành trọn cuộc đời còn lại gìn giữ và phát huy di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông Vũ Kỳ, tên khai sinh là Vũ Long Chuẩn, sinh năm 1921 ở Hương Canh, Vĩnh Phú, nguyên quán ở xã Mễ Sơn, nay là xã Nguyễn Trãi, huyện Thường tín, Hà Tây. Ngày 28/8/1945 là ngày đưa ông sang bước ngoặt cuộc đời khi được ông Trần Đăng Ninh dẫn đến ngôi nhà 48 Hàng Ngang – Hà Nội để nhận nhiệm vụ giúp việc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, và từ đó trở thành thư ký thân cận cho đến khi Bác qua đời.

Ông Vũ Kỳ và Bác Hồ tháng 9/1960. Ảnh tư liệu

Một phần tư thế kỷ làm người giúp việc kiên trung, tận tụy, ông được Bác Hồ trìu mến gọi là “chú tiểu đồng”. Song một mảng sáng, một dấu ấn Vũ Kỳ đậm nét được nhắc đến nhiều sau này, đó là sự nghiệp gìn giữ và phát huy giá trị di sản Hồ Chí Minh.

Từ chối chức vụ

Ông Chu Đức Tính, giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh kể: Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Trung ương có gợi ý bố trí công tác cho ông Vũ Kỳ một chức vụ tương xứng trong Chính phủ, nhưng ông đã báo cáo với Trung ương, tình nguyện được tiếp tục công việc gìn giữ các di sản của Bác Hồ để lại. Những trang tiếp theo của cuộc đời ông gắn liền với quá trình xây dựng Lăng Bác, sự hình thành, ra đời và phát triển của Bảo tàng Hồ Chí Minh, của hệ thống di tích lưu niệm và các bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh trong cả nước, từ Pác Bó đến các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và một số di tích của Người trên thế giới.

Đặc biệt, công trình Bảo tàng Hồ Chí Minh, nơi lưu giữ và trưng bày tài liệu, hiện vật có liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, trung tâm nghiên cứu, giáo dục về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người là thành quả của cả một chặng đường dài 20 năm chuẩn bị gian nan, đầy khó khăn và thiếu thốn. Và ông Vũ Kỳ đã dành trọn công sức nửa sau cuộc đời của mình để chăm lo cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy di sản tư tưởng, văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh.

Đại tá Trần Văn Thùy, nguyên giám đốc Bảo tàng công an nhân dân gọi Vũ Kỳ là “anh”. Ông kể câu chuyện về vị thủ trưởng thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ.

Hơn ai hết, anh Vũ Kỳ thấm thía lời dạy của Bác Hồ: Cán bộ quyết định hết thảy”. Đại tá Thùy kể ông từng chứng kiến ông Vũ Kỳ trăn trở ra sao, lo lắng như thế nào khi thực trạng đội ngũ cán bộ của cơ quan trong nửa đầu những năm 70 thế kỷ trước. Và ông đã làm cuộc lựa chọn cán bộ và đào tạo cán bộ. Không chỉ đào tạo trong nước về lịch sử, chuyên ngành bảo tàng, ngoại ngữ, ông còn cho gửi cán bộ ra nước ngoài học hỏi, trao đổi kinh nghiệm để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.

Bà Vũ Thị Thủy, một cán bộ bảo tàng gọi ông là “giám đốc đặc biệt nhất“. Nhớ lại chuyện cũ, bà kể: Ngày cắt băng khánh thành Bảo tàng Hồ Chí Minh, 19/5/1990, cũng là ngày ông xin nghỉ cương vị giám đốc. Sau một ngày vất vả đón tiếp đồng bào trong nước và bạn bè quốc tế đến dự lễ khánh thành bảo tàng, ông nói với những cán bộ trẻ: Nguyện ước của ông đã hoàn thành. Ông trao quyền giám đốc cho một người khác, rồi trở về Khu di tích, nơi hình bóng Bác Hồ in dấu trong suốt mấy chục năm ông được ở bên Người. Ông lại tiếp tục công việc của mình, nghiên cứu, biên tập, ghi chép những tài liệu, những mẩu chuyện về Bác Hồ…

Kho tư liệu sống

Cho đến ngày ông qua đời, đã có hàng ngàn trang viết về Bác Hồ, gần một chục cuốn sách, hàng trăm bài đăng trên các báo và tạp chí, rất nhiều cuộc nói chuyện với các tầng lớp nhân dân, với bạn bè quốc tế yêu mến Bác Hồ.

Bà Nguyễn Thị Minh Hương, cán bộ bảo tàng cũng kể: “Một điều làm ông trăn trở là không ít thông tin về Bác viết trên sách báo những năm đó không được chính xác, có khi sai lệch, lúc lại thần thánh hóa Bác Hồ, người đọc sẽ học tập theo Bác ra sao đây? Ông suy nghĩ phải làm sao để các thế hệ sau này khi tiếp xúc với các sách, báo, tài liệu viết về Bác được tiếp nhận nhận thông tin chính xác, hiểu đúng về Bác để học tập và làm theo tấm gương của Người”.

Ông quan niệm, việc gì dù nhỏ, có ích cố gắng làm. Ông căn dặn cán bộ bảo tàng, nơi có thế mạnh là lưu trữ nhiều tài liệu tin cậy về Bác Hồ, phải giúp các nơi khi họ viết về Bác. Ông yêu cầu thư viện cơ quan phải bổ sung tất cả những sách báo viết về Bác và liên quan đến Bác. Riêng ông có cả một tập nhật ký nhiều cuốn ghi chép lại chi tiết những ngày đi theo Bác Hồ. Từng bước, ông mời các nhà xuất bản đến làm việc. Được gặp và làm việc với ông – người thư ký riêng của Bác Hồ, mọi người rất phấn khởi và cho đó là hướng đi đúng. Sau này cứ có sách viết về Bác là các nơi đều đưa đến “nhờ chỗ anh Vũ Kỳ thẩm định giúp“. Sau này ông chuyển công việc đó, hướng dẫn cho các cán bộ bảo tàng làm.

“Sau một thời gian xem cách chúng tôi làm, ông cùng chúng tôi rút kinh nghiệm. Lúc ấy ông chỉ ra một nguyên tắc: Khi đọc sách viết về Bác, trước các sự kiện cần đặt ra câu hỏi sự kiện đó có đúng không? Có logic không? Có tác dụng giáo dục không?”.

Trong khoảng thời gian từ năm 1976 đến 1988, ông Vũ Kỳ đã giúp nhiều nhà xuất bản: Sự thật, Thanh niên, Phụ nữ, Lao động, Kim Đồng…, các tác giả kịch, phim và các địa phương xuất bản sách về Bác Hồ, chỉnh sửa, bổ sung nhiều tài liệu quý về Bác làm cơ sở nghiên cứu cho đông đảo bạn đọc.

Ở tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hi”, ông tiếp nhận sự ra đi của mình một cách nhẹ nhàng và chủ động. Ông Chu Đức Tính kể, mùa xuân năm 2001, khi bước vào tuổi 80, ông Vũ Kỳ nói vui với mọi người đến chúc Tết: “Đêm qua tôi lại nằm mơ thấy Bác Hồ, Bác bảo tôi liệu mà thu xếp về với Bác…”. Rồi ông nhắc cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh tranh thủ hỏi, tranh thủ khai thác tài liệu. Khi bị bệnh nặng, phải nằm điều trị dài ngày ở bệnh viện Hữu nghị, mỗi khi có cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh tới thăm, ông không quan tâm đến bệnh tật của mình, mà chỉ hỏi về công việc cơ quan. “Ra đi ở tuổi 84, ông vẫn đau đáu một nỗi niềm”: Còn nhiều điều chưa kịp viết hết, chưa kịp kể hết những câu chuyện về Bác Hồ kính yêu”.

Linh Thư

vietnamnet.vn

Lao động là vàng mười

Bà dời quê về ở với con trai tại Việt Trì đã 5 năm nay. Dân phố gọi bà là bà Tứ Xã. Bọn trẻ gọi bà là nàng ong chăm chỉ, vì suốt ngày bà hí húi tăng gia ở những vạt đất hoang quanh phố. Chẳng lúc nào bà chịu ngơi chân, ngơi tay. Con trai bà thấy mẹ sẳm hẳm rau cỏ ở những nơi xó xỉnh ấy, can: “Nhà mình có thiếu nữa đâu, mẹ đừng chỗ nào cũng rau với cỏ nữa. Vỡ vạc làm gì cho người ta cười”. Bà bảo: “Cậu thấy ai cười, cậu đưa mẹ đến xem người nào cười mẹ”. Thực ra chả ai cười bà. Là anh không muốn mẹ tham việc mãi thế. Anh muốn mẹ cuối đời được an nhàn, hưởng chút đền đáp của cháu con.

Một chiều, mấy ông cán bộ hưu đi bộ gặp bà lọ mọ kéo những bó cành cọ lượt thượt cả cẫng lẫn tàu. Đống cành cọ ấy được đội chỉnh trang đô thị tấp bỏ từng đống bên đại lộ. Ông bạc tóc hỏi bà lấy làm gì những thứ ấy. Bà bảo xin về rào vườn trồng rau. Ông đùa: “Hết tuổi lao động rồi thì nghỉ ngơi, tranh hết việc của con cháu, chúng nó lấy đâu ra cơ hội để phụng dưỡng cánh già”. Bà quệt mồ hôi đáp. “Lao động là đống vàng mười/Ai chăm thì có, ai lười thì không”. Bà nói: Cụ Hồ dạy thế, người Việt Nam ta ai cũng học Cụ, tất tật chẳng chừa ai, cả cán bộ lẫn người dân. Bà đối đáp bằng thơ, lại là thơ của Cụ Hồ, làm mấy ông cán bộ hưu không khỏi bất ngờ. Bà già tham việc này còn khoẻ mạnh và minh mẫn lắm!

Bà là Nguyễn Thị Vấn, 75 tuổi, phố Tân Xuân, Tân Dân, Việt Trì, là hội viên người cao tuổi của phường. Phố Tân Xuân của bà vừa được công nhận danh hiệu khu dân cư văn hoá cấp tỉnh.

Bà goá chồng năm hăm bảy tuổi, một tay nuôi ba con nhỏ và một mẹ già. Chồng bà nhập ngũ năm 1959, tái ngũ 1964, hy sinh 1966 tại chiến trường Kon Tum. Khi ấy cậu con trai út của bà mới 2 tuổi. Người vợ liệt sỹ này đã viết bài thơ dặn dò cháu con vào năm mừng thọ 70 tuổi: “Năm 66, hai bảy tuổi bố con hy sinh/Mẹ già con dại một mình mẹ lo/Tắt đèn tối lửa khôn đo/Hai sương một nắng thấm cho nỗi này/…/Gian truân mẹ cũng không sờn/Cầu mong con được lớn khôn bằng người/Các con cố gắng giữ gìn/Để cho có được niềm tin với Người”…

Thời đánh Mỹ, mọi người làm việc bằng hai. Người vợ liệt sỹ là bà làm việc bằng ba. Ngày đi làm việc hợp tác, đêm đánh nhủi, đánh riu. Nước ngâm đến cổ, rét cứng hàm răng. Suốt đêm riu tép, sáng ra lại theo kẻng ra đồng. Tôm tép đánh được phần ăn, phần để, phần làm mắm, phơi khô, trữ đầy chum, đầy vại. Tháng ba ngày tám, rau già cá hết, lại ngược lên Tuyên Quang bán, đổi. Rồi từ mạn ngược, bà Vấn lại đem măng, nấm, thịt lợn đổi từ tôm tép xuôi về bán ở chợ quê. Hai sọt hàng, cái xe đạp lạch cạch theo người suốt những năm đói khổ. Hết cua ốc lại buôn tôm bán cá khắp nẻo chợ Vầy, chợ Máy, chợ Dòng, chợ Mè… Vừa đồng áng, vừa chạy chợ. Việc gì bà cũng làm, miễn là có cái nuôi mẹ, nuôi con và đóng góp chung vào cuộc chiến tranh. Trong những năm tháng tham gia làm việc của hợp tác, bà luôn tích cực, chủ động và không nề hà một việc gì được phân công. Bà luôn hoàn thành và hoàn thành tốt, đạt công điểm cao. Và chưa bao giờ bà không tham gia đóng góp công sức hay của cải khi mà chính quyền kêu gọi ủng hộ tiền tuyến miền Nam… Khi được hỏi, nghị lực đâu để bà vừa hoàn thành việc công, vừa chăm lo, nuôi dạy các con? Bà tâm sự: Ngày đó, tôi coi Bác Hồ là chỗ dựa, là tấm gương để học tập. Và Cụ Hồ đã truyền cho tôi nghị lực để vươn lên trong cuộc sống.

Còn hôm nay, bà Vấn vẫn cất cho mình cuốn sách “Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2007. Bà đọc kỹ, đánh dấu và gạch chân nhiều lời dạy của Bác. Có lời dạy về tuổi già, về lao động, về tiết kiệm. “Chống xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay, chống lười biếng xa xỉ, chống sinh hoạt uỷ mị, chống kiêu ngạo giả dối khoe khoang… Xưa nay những người yêu nước không vì tuổi già mà chịu ngồi không… Tuổi tác càng cao lòng yêu nước càng lớn”…Những lời dạy ấy thật thấm thía, thật hợp với bà. Bởi vậy, bà chẳng ngồi không và cũng không chịu ngồi không suốt một đời người.

Với bà, cuốn sách về đạo đức Bác Hồ thật quý. Bà đọc rồi phô tô thành 25 cuốn, gửi tặng người thân, tặng các chi hội người cao tuổi ở quê Tứ Xã. Bà giữ lại một cuốn, thỉnh thoảng lại giở ra đọc đi đọc lại. Bà thuộc nhiều mẩu chuyện về Bác Hồ. Bà kể cho nhiều người nghe mẩu chuyện Bác Hồ giao ước thi đua trồng rau cải với các chú cán bộ ở Phủ Chủ tịch. Mấy chú trồng cải củ, nặng cân, tưởng thắng Bác. Bác trồng cải canh, cải bẹ, bóc được nhiều đợt, cân được nhiều lần, nhập cho nhà bếp cộng lại được nhiều cân hơn. Bác thắng cuộc. Bác chỉ bảo mọi người cách tính toán, tưới tắm từng loại rau. Bác bận việc nước nhưng lại tỉ mỉ, tinh tường cả những việc tưởng như bé mọn.

Bà Vấn sợ ngồi không, đóng cửa im ỉm, tự nhốt mình trong nhà suốt ngày sẽ sinh ốm. Được ra vườn cuốc xới, trồng rau, bà thấy khoẻ ra. Lao động là liều thuốc bổ cho sức khoẻ. Trồng rau, có rau sạch ăn yên tâm hơn, lại có cái đem ra chợ bán, có thêm tiền. Mỗi phiên chợ rau, bà kiếm được dăm ba chục ngàn đồng. Mấy năm liền bà cóp được vài ba chục triệu tiền rau. Bà thưởng tiền cho các cháu học giỏi. Bà đóng góp vào các quỹ từ thiện của khu phố và để dành cho con cháu, đợi đến lúc chúng lấy vợ, lấy chồng sẽ có quà tặng.

Bà Vấn có các con dâu, rể phương trưởng, thành danh dư dật, tất cả đã xe hơi nhà lầu. Con trai bà làm giám đốc một ngân hàng cấp huyện. Bà vẫn chắt chiu, chịu khó như ngày nào, vẫn luôn tay luôn chân rau cỏ bên những vạt đất thừa thẹo bỏ hoang dọc phố. Bà sống thanh thản, vui khoẻ tuổi già, chăm lao động đến tận cuối đời. Bà tự coi mình như người có trên tay cả đống vàng mười; lao động là hạnh phúc và người già vẫn lao động là tiếp tục đóng góp cho xã hội, cho sự phát triển của đất nước.

Cao Văn Định

Ảnh: Hà Hữu Nết
Chánh Văn phòng Hội Văn học Nghệ thuật Lâm Đồng

xaydungdang.org.vn

‘Bác Hồ là động lực thôi thúc kiều bào cống hiến’

Hình ảnh Bác Hồ, niềm tự hào của tất cả người Việt Nam trong và ngoài nước trước bạn bè thế giới đang là động lực thôi thúc các thế hệ kiều bào thứ 2, thứ 3 nỗ lực cống hiến hơn nữa cho quê hương, đất nước.

>> Bác Hồ trong ký ức của nhà báo Nga
>> Hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh trên poster điện ảnh

Tham dự buổi tọa đàm kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ đến Pháp hành trình tìm đường cứu nước (1911-2011) và kỷ niệm sinh nhật 121 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2011) tại thủ đô Paris, những kỷ niệm về Người với gia đình tôi lại ùa về.

“Anh Thành yêu nước”

Kỷ niệm nhớ nhất mà ông ngoại tôi, Nguyễn Duyên (Tư Duyên) hay kể lại là hình ảnh một chàng thanh niên tuổi còn rất trẻ, song đã mang nhiều tư tưởng lớn lao và những hoài bão sâu xa. Ông Tư Duyên, khi đó là một thợ ảnh trong nhóm người Việt Nam tham gia phong trào yêu nước đã nhiều lần được gặp Bác Hồ khi Người tham gia hoạt động cách mạng tại Pháp những năm 1917 – 1923 sau khi trở về từ Mỹ, Anh. Lúc bấy giờ, số lượng người Việt tại Pháp tăng vọt lên do hàng ngàn thanh niên được đưa sang phục vụ chiến tranh (từ 1914-1918).

Nhà ông tôi vừa là nơi làm ảnh, vừa là chỗ ăn ở của những người bạn Việt Nam tham gia phong trào ái quốc, trong đó có chí sỹ Phan Chu Trinh. Gặp “anh Thành” (cách ông ngoại tôi gọi Bác Hồ), khi lên Paris, gặp bạn bè Việt Nam trong Hội Đồng bào Thân ái do ông Phan Chu Trinh và ông Phan Văn Trường thành lập, ông đã bị thu hút bởi lòng yêu nước, tinh thần dân tộc sâu đậm của Anh.

Là người làm ảnh chuyên nghiệp lâu năm ở Pháp, ông ngoại tôi thường mời Bác Hồ cùng với ông Phan Văn Trường đến nhà chia sẻ kinh nghiệm làm ảnh và nghệ thuật chụp ảnh cũng như tâm sự nỗi nhớ quê hương. Theo lời kể của ông ngoại, Bác Hồ quý sự cần cù, bản tính ít nói, tình cảm thân thiện của người bạn Tư Duyên với tâm sự “Tôi chỉ biết rửa ảnh và chụp ảnh thôi, nhưng sẽ tích cực giúp đỡ những người hoạt động cách mạng như anh, ông Trinh và ông Trường”.

Với những câu chuyện kể đầy xúc động về Bác Hồ, các thế hệ trong gia đình tôi luôn cảm thấy tự hào và tự nhủ cần phải cố gắng đóng góp nhiều hơn nữa cho quê hương như lời ông ngoại dặn chúng tôi trước lúc ra đi. Những tấm ảnh về Bác hiện đang là kỷ vật luôn được gia đình nâng niu, trân trọng.

Anh Nguyễn Hải Nam, cháu ngoại cụ Tư Duyên về tham dự Xuân Quê hương 2011. Ảnh do anh Nam cung cấp

Tiếp nối truyền thống

Sau khi trở về Hà Nội năm 1929, gia đình chuyển vào Sài Gòn lập nghiệp. Khi thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, ông Tư Duyên nhận ra đó chính là người bạn tên Tất Thành hơn 20 năm về trước ở Paris (Pháp). Ngay sau đó, ông đã gửi một bức thư cho gia đình ở Hà Nội mong muốn được gặp lại Chủ tịch Hồ Chí Minh nhưng nguyện ước không thành khi đất nước tiếp tục bị chia cắt và điều kiện gia đình không cho phép.

Tháng 9/1969, một năm sau khi trở lại Pháp sinh sống, hay tin Bác Hồ mất, ông Tư Duyên lặng người đi khi biết mình không còn cơ hội gặp lại người bạn thân thiết thời thanh niên.

Mặc dù chỉ biết Bác Hồ qua lời kể của cha, chú nhưng hình ảnh và nghị lực của Người đang là động lực thôi thúc những kiều bào thế hệ thứ 3 như tôi bồi đắp tinh thần yêu nước, nỗ lực cống hiến, đóng góp cho công cuộc xây dựng và đổi mới của quê  hương. Cùng với người thân ở Hà Nội, hiện gia đình đang cố gắng liên lạc với các tổ chức nghiên cứu lịch sử ở Pháp và Việt Nam, để tìm thêm thông tin và hình ảnh của Bác Hồ và các chí sỹ yêu nước khác như Phan Chu Trinh, và Phan Văn Trường, cũng như với kiều bào trong giai đoạn hoạt động cách mạng tại Pháp.

Nguyễn Hải Nam (từ Paris, Pháp)

baodatviet.vn

Công lao của Người như non cao, biển rộng

Phát biểu tại lễ kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, sáng 18/5, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định: “Công lao của Người với dân tộc ta như non cao, biển rộng. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho cách mạng VN và dẫn dắt dân tộc ta tiến đến tương lai tươi sáng”.

>> Triển lãm những tác phẩm độc đáo về Bác Hồ
>> Cả cuộc đời Người sống vì dân

Tham dự lễ kỷ niệm còn có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng; Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan; Chủ tịch Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm… Trước đó, các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã vào lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ.

Đóng góp to lớn, mang tầm thời đại

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã ôn lại thân thế sự nghiệp và những đóng đóng góp to lớn mang tầm thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng XHCN ở Việt Nam và thế giới.

Trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi to lớn và sâu sắc, Tổng bí thư nhấn mạnh, Đảng ta càng phải nắm vững, kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm bổ sung, hoàn thiện, phát triển đường lối của Đảng phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ lịch sử mới. Tổng bí thư cũng nhắc lại những lời căn dặn của Bác về xây dựng, phát huy và chỉnh đốn Đảng: “Đảng ta đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động chứ không phải mưu cầu cho lợi ích riêng của một nhóm người nào, của cá nhân nào”; “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, suốt đời làm người con trung thành của Đảng, người đày tớ tận tuỵ của nhân dân”…

Chủ tịch Hồ Chí Minh – một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc Việt Nam. (Ảnh tư liệu)

Tổng bí thư kêu gọi nêu cao tinh thần đoàn kết trong Đảng và coi đây là hạt nhân của đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc. “Phương pháp đại đoàn kết là phát huy dân chủ, vận động, giáo dục, thuyết phục, nêu gương…, lấy thẳng thắn, chân thành để đối xử, lấy tin yêu, giúp đỡ để cảm hoá, trân trọng phát huy nhân tố tích cực, hạn chế, đẩy lùi nhân tố tiêu cực, giúp cho mọi tổ chức và cá nhân đều tiến bộ và trưởng thành, đóng góp có hiệu quả cao vào sự nghiệp cách mạng chung”, Tổng bí thư nói.

Biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc

Tổng bí thư nêu rõ, trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và phổ biến rộng rãi hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo vào sự nghiệp đổi mới. Phát huy kết quả của cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh kết hợp với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng và gắn liền với cải cách hành chính, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, nâng cao ý thức phục vụ nhân dân.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam nhắc lại: Năm 1987, Đại hội đồng UNESCO đã thông qua nghị quyết khuyến nghị các quốc gia thành viên cùng tham gia kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn của Việt Nam nhằm phổ biến tầm vóc lớn lao của lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người. Theo bà Katherine Muller Marin, trong ngày hôm nay, không chỉ ở Việt Nam mà nhiều người trên khắp thế giới kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bởi Người  được coi là một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và nhân dân Việt Nam, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Giao lưu các nhân chứng lịch sử từng gặp Bác

Sáng 18/5, TP HCM long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh TP HCM.  Trước đó, đại diện lãnh đạo TP HCM, cán bộ, công nhân viên chức các sở, ngành cùng các đoàn thể, lực lượng vũ trang của thành phố đã đến dâng hương tại tượng đài Bác ở Bến Nhà Rồng. Tại buổi lễ đã diễn ra cuộc giao lưu đầy xúc động giữa các bạn đoàn viên, thanh niên và các nhân chứng lịch sử từng gặp Bác, đó là: Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang Tạ Thị Kiều; ông Trần Trọng Tân; nguyên Trưởng ban Tư tưởng -Văn hóa Trung ương; NSND Trà Giang; bà Phan Thị Quyên (vợ liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi)…

Cũng trong dịp này, Bảo tàng Hồ Chí Minh, chi nhánh TP HCM phối hợp cùng Bảo tàng Cách mạng Việt Nam tổ chức trưng bày hình ảnh, hiện vật chuyên đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh – nhà hoạt động quốc tế lỗi lạc, nhà hoạt động ngoại giao xuất sắc. Chuyên đề giới thiệu 200 tư liệu, hình ảnh và trên 50 hiện vật gốc, thể hiện tầm vóc và đóng góp lớn lao của Người trên các lĩnh vực.

Cùng ngày, hơn 500 đại biểu gồm các Mẹ Việt Nam anh hùng, đại diện lực lượng vũ trang, lãnh đạo các sở, ban ngành cùng đoàn viên thanh niên, học sinh và người dân thành phố đã tham dự lễ phát động trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ tại Khu di tích địa đạo Củ Chi.

Cũng trong ngày hôm qua, khắp nơi trên cả nước đã tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh thu hút được sự tham gia đông đảo của người dân.

Nhóm PV

baodatviet.vn

Nữ giáo sư Việt ở Canada viết sách về Bác Hồ

Nguyễn Đài Trang, một giáo sư Việt kiều đang giảng dạy tại khoa Khoa học Chính trị của Đại học Toronto (Canada), vừa có buổi giới thiệu cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, mang tên Hồ Chí Minh – Tâm và Tài của một nhà yêu nước.

>> Theo dấu chân Người…

Buổi giới thiệu sách, diễn ra ngày 12/6 tại thành phố Laval gần Montreal, diễn ra rất đơn giản nhưng trang trọng với khoảng 40 khách mời, chủ yếu là Việt kiều các khu vực lân cận và một số sinh viên Việt Nam. Một đoàn đại biểu của Đại sứ quán Việt Nam tại Canada do Tham tán Văn hóa Đào Ngọc Dinh  dẫn đầu và bà Elizabeth McIninch, biên tập viên nhà xuất bản V- Publisher cùng một số người Canada cũng đến dự.

Mở đầu buổi gặp gỡ, anh Nguyễn Văn Kiệt, Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân và Chuyên gia Việt kiều tại Canada, có vài lời giới thiệu tác giả và nhấn mạnh đến ý nghĩa của cuốn sách.

Tác giả còn khá trẻ, khoảng quanh 40 tuổi, đã sang Canada định cư khá lâu nhưng rất rành tiếng Việt và nặng lòng với Việt Nam. Không chỉ hoàn thành cuốn sách dày 150 trang (bản tiếng Anh), bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt với rất nhiều hình ảnh và tư liệu quý giá, chị còn kỳ công chuẩn bị cả một chân dung Bác Hồ để mang đến buổi gặp gỡ.

Tác giả Đài Trang tại buổi giới thiệu sách.

Trong phần giới thiệu về quá trình viết và nội dung cuốn sách, tác giả cho biết có quá nhiều tác giả cả Việt Nam và nước ngoài đã viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh nhưng với những quan điểm khác biệt. Mục đích chị viết cuốn sách này nhằm tìm ra một con đường để kết nối quan điểm của cả hai bên.Chính vì vậy, bên cạnh nguồn tư liệu của những tác giả quen thuộc của Việt Nam như Trần Dật Tiên, Nguyễn Đức Đạt, Đặng Xuân Kỳ… tác giả còn sử dụng rộng rãi những tư liệu của các tác giả phương Tây như Mc Namara, Walden Bello, Alice Walker…

Là một giáo sư đại học, cách trình bày của Nguyễn Đài Trang rất khoa học vàhệ thống nên nội dung của cuốn sách khá thuyết phục, khác hẳn với những cuốn sách mang tính chính trị. Tác giả đã chọn một cách tiếp cận độc đáo và thú vị khi bàn về Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.

Không chỉ dừng ở những phân tích sự kiện và bình luận, tác giả còn tìm hiểu những chiến lược giao tiếp, tư tưởng của Hồ Chí Minh qua tác phẩm Nhật ký trong tù quan điểm của dân tộc Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh thông qua những bài hát phổ biến của thời đó như Tình ca của Hoàng Việt, Cô gái vót chông của Hoàng Hiệp, cũng như tư tưởng phản chiến của nhân dân Mỹ qua những tác phẩm của Bob Dylan.

Đặc biệt, là một giáo sư giảng dạy về bình đẳng giới, tác giả giành một phần riêng để nghiên cứu về công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp Bình đẳng giới ở Việt Nam. Phần nghiên cứu về tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất chi tiết và phong phú.

Sau phần giới thiệu của tác giả là phần giao lưu sôi nổi và xúc động với các vị khách mời. Rất nhiều khách mời cả Việt Nam và Canada đã nêu nhiều câu hỏi thú vị về động cơ viết sách, những đóng góp của tác giả và cả quan điểm của tác giả về quan điểm chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Theo Vietnam+

baodatviet.vn

Theo dấu chân Người…

Hơn 80 năm trôi qua, nhưng tình yêu và lòng tôn kính của bà con kiều bào ở Thái Lan đối với Bác Hồ vẫn dào dạt qua từng kỷ vật, từng câu chuyện và những ký ức không thể nào quên.

>> Kiều bào là máu thịt của Việt Nam
>> Người Việt ở Thái Lan nỗ lực phổ biến tiếng Việt 

Trong những ngày cả nước tưng bừng kỷ niệm 120 năm sinh nhật Bác, nghệ sĩ Bằng Lâm hào hứng chuẩn bị cho chuyến đi Thái Lan để hoàn thành nốt tác phẩm ấp ủ bấy lâu “Theo dấu chân Bác tại Thái Lan”. Chuyện kể bằng ảnh này không chỉ là lời tri ân của ông, mà còn thể hiện tấm lòng của bà con kiều bào tại Thái Lan với Người.

Nguyên vẹn tấm lòng với Bác

Trong hành trình qua 9 tỉnh “Theo dấu chân Bác”, ông Bằng Lâm đã đi được bốn tỉnh với hơn 30 ảnh chọn lọc kỹ càng trong số 60 bức dự kiến sẽ đưa vào triển lãm. Trở về Thái Lan, nghệ sĩ Bằng Lâm cho biết đời sống bà con kiều bào đã thay đổi rất nhiều, nhưng tình cảm đối với Thầu Chín (bí danh của Bác lúc hoạt động tại Thái Lan), người đã mang đến cho bà con kiều bào những bài học đầu tiên về con đường cách mạng Việt Nam, về lòng yêu nước thương nòi vẫn còn nguyên vẹn.

Biết nghệ sĩ Bằng Lâm đang thực hiện tác phẩm bằng ảnh về hành trình của Bác, bà con kiều bào thế hệ thứ ba, thứ tư dù chỉ biết về Bác Hồ qua chuyện kể đã nhiệt tình giúp đỡ. Ông Lâm cho biết “tôi thực sự xúc động khi bà còn đưa mình đi, hỏi han và giúp đỡ mọi vấn đề”.

Ông Suride, một kiều bào hơn 80 tuổi, dù chưa gặp Bác lần nào, nhưng vẫn đích thân lái xe đưa nghệ sĩ Bằng Lâm đi đến những nơi Bác đã từng sống ở tỉnh Nakhon Phanom. “Không chỉ vậy, ông còn chở tôi lên tận Bangkok, tìm đến những ngôi chùa mà Bác từng ở”, ông Lâm kể.

Trở về Nakhon Phanom, trở về bản Mạy (nay là bản Na Chooc), Nakhon Phanom, nơi ông sinh ra và cũng là nơi Bác Hồ từng sống và hoạt động những năm 1928 – 1929 là thời khắc đáng nhớ nhất của nghệ sĩ Bằng Lâm. Đã hơn 80 năm trôi qua kể từ ngày Bác ở Nakhon Phanom, nhưng bà con vẫn trân trọng nâng niu các kỷ vật về Bác, từ hòn gạch lát nhà, chiếc mũ nan đơn sơ hay chiếc chậu, cái bát. Những hình ảnh xúc động này được nghệ sĩ Bằng Lâm lưu trong ống kính của mình với niềm trân trọng.

Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan (giữa) gặp gỡ bà con kiều bào Thái Lan. Ảnh:Trung Kiên

 

Thắp sáng niềm tin

Niềm tự hào sâu sắc của bà con kiều bào về thời kỳ hoạt động của Thầu Chín – Hồ Chí Minh trên đất Thái Lan cũng chính là niềm tự hào của nghệ sĩ Bằng Lâm. Khi được biết Bác Hồ từng sống, làm thuốc cùng với những người thân trong nhà mình, Bằng Lâm xem đây là một vinh dự, một hạnh phúc lớn lao mà không phải ai cũng có được.

Không được biết Bác, nhưng qua lời kể thì hình ảnh chú lang Tín (tên Bác Hồ khi làm trong hiệu thuốc gia đình) với những câu chuyện kể về các anh hùng dân tộc, về nỗi nhục mất nước và lời khuyên nhủ vẫn in sâu trong lòng nghệ sĩ Bằng Lâm. “Theo lời Người, cả bố và hai chú của tôi đều ra chiến trường. Hai người chú đã hy sinh tại chiến trường Lào và Campuchia”.

Ghi lại bằng hình ảnh những nơi Bác từng gắn bó như một khúc sông tại Nakhon Phanom, nơi Người thường ra tắm giặt, có thể nhìn sang cả Lào lẫn dãy Trường Sơn vời vợi chính là tâm nguyện trong chuyến đi sắp tới của ông. Nghệ sĩ Bằng Lâm nhớ lại: “Gia đình vẫn nhớ mãi con người nhã nhặn, chăm lo công việc và được mọi người hết sức yêu quý khi Người từ biệt gia đình”.

Tình yêu đấy vỡ òa khi qua báo chí năm 1945, mọi người biết rằng đó chính là Hồ Chí Minh, người đã nói với ông nội Bằng Lâm rằng “cách mạng nước ta còn nhiều khó khăn gian khổ, nhưng nhất định thành công”, người đã thắp sáng niềm tin cho cả dân tộc lẫn cho bà con kiều bào. Nghệ sĩ Bằng Lâm cũng ấp ủ sẽ vẽ một bức tranh thật lớn, thật xúc động về Bác Hồ với kiều bào.

Năm 1929, Bác Hồ sang Thái Lan, đến bản Mạy và ở gia đình ông bà Hoe Lợi một thời gian. Bác được ông Hoe Lợi (Nguyễn Bằng Cát) bố trí làm việc tại cửa hàngthuốc bắc của gia đình. Bốn người con của ông Hoe Lợi là Sâm, Nhung, Quế, Phụ đã được Bác đặt tên mới là: Cách, Mệnh, Thành, Công và nghệ sĩ Bằng Lâm là con trai của ông Cách.

Hà Anh

baodatviet.vn

Da diết tình cảm đồng bào miền Trung với Bác

(VOV) – Một mùa xuân mới lại về. Năm tháng sẽ đi qua nhưng hình ảnh của Bác Hồ mãi mãi sâu đâm trong trái tim người dân miền Trung.

Trong tâm tưởng của người dân Việt Nam, Hồ chí Minh là người anh hùng dân tộc vĩ đại. Với người dân miền Trung, nguyện một lòng sắt son với Đảng, Bác Hồ mãi mãi là tấm gương cao đẹp về đạo đức và tâm hồn. Trong niềm vui xuân mới Nhâm Thìn, tấm lòng của bà con miền Trung với Bác thêm sâu đậm.

Suốt 50 năm theo cách mạng, vận động đồng bào dân tộc ít người theo Đảng và Bác Hồ, ông Ma Luê, dân tộc Ê Đê từng giữ nhiều cương vị lãnh đạo ở huyện miền núi Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Nay ông trở về làng cũ sống cùng bà con xã Ea Trôn. Suốt cuộc đời cách mạng Ma Luê được dân làng tin và gọi là “cán bộ của Bác Hồ”.

Ông bảo rằng, khi chưa có Đảng, chưa có Bác Hồ, người dân không có cơm ăn, áo mặc, sống du canh, du cư dẫn đến đau ốm, bệnh tật. Ông Ma Luê khẳng định: đồng bào luôn tin tưởng vào Đảng và Bác Hồ, đóng góp lúa gạo, bò, heo, đưa con em đi bộ đội, làm dân công, đóng góp cho kháng chiến. Nghe lời Bác Hồ dạy, tôi luôn luôn cố gắng làm được những việc tốt, góp phần nhỏ của mình cho cách mạng. Về sống với dân làng, bằng sự hiểu biết mình, tôi thường xuyên vận động nhân dân nghe theo lời dạy của Đảng của Bác. Bà con đã hiểu, rất kính trọng Bác Hồ  và làm theo những chủ trương của Đảng, lời dạy của Bác. Nhờ đó mà cuốc sống của dân làng đã có nhiều khởi sắc. Dân làng luôn biết ơn Bác Hồ- Ma Luê rưng rưng.

Nhờ ơn Đảng , Bác Hồ Xuân này gia đình mí Jol Dê có Tết cổ truyền thêm ấm cúng

Những năm chiến tranh gian khổ, dù đói cơm, lạt muối, đồng bào miền Trung vẫn hướng về Bác Hồ với cả tấm lòng tôn kính. Già La Văn Lung, ở làng Ba Ba Xí Thoại cho biết: Ngày bà con làng Xí Thoại ở trong rừng nghe tin  Bác Hồ qua đời cả làng đều khóc và để tưởng nhớ Bác, bà con lập bàn thờ Bác ngay giữa rừng để hàng ngày thờ cúng Bác. Nhớ Bác, nhà nào ở buôn Xí Thoại cũng có bàn thờ Bác, treo ảnh Bác. Già La Văn Lung nhớ lại: Dân làng mình phải thờ Bác Hồ vì đất nước mình chỉ nhờ có Bác. Từ khi có Bác lãnh đạo, Đảng ta có những chủ trương đường lối đúng đắn để giải phóng dân tộc. Bác là người luôn chăm lo cho đồng bào dân tộc, Bác đã đem lợi ích đến cho cả người Kinh, dân tộc, không phân biệt đâu. Tôi rất tin tưởng đường lối Bác đã chọn. Chỉ có Bác, có Đảng bà con mới có nhà ở, có đất sản xuất, con cháu được học hành, đồng bào chúng ta mới có cuộc sống hạnh phúc như ngày hôm nay.

Những ngày gần Tết, trong căn nhà nhỏ ở thành phố Đà Nẵng, bà Trần Thị Cúc bài trí lại tấm ảnh Bác Hồ được in trên lụa, rồi cùng con cháu sắp đặt bàn thờ gia tiên chuẩn bị đón Tết.

Cứ mỗi dịp Xuân về bà Cúc lại lần những trang nhật ký... nhớ Bác

Bà kể, tấm ảnh của Bác là món quà của Đảng tặng khi bà đứng vào hàng ngũ những người cộng sản những năm 60 của thế kỷ trước. Đó là báu vật bà dành tặng lại cho cháu con. Đã 8 lần được gặp Bác Hồ, nữ biệt động ở Đà Thành năm xưa vẫn rưng rưng khi nhớ lại gương mặt, cử chỉ âu yếm của Người dành cho thiếu nhi miền Nam:Cứ mỗi mùa Xuân đến, cái Tết này thêm nhớ Bác. Trời chuyển lạnh càng thấm thía nhớ Bác. Tưởng tượng Bác ở trên cao vẫy tay nói cháu hãy cố gắng lên…

Nhìn thấy Bác, nhớ tới Bác người dễ chịu lại. Nguyện trong tâm làm sao giữ phẩm chất của mình trong sáng để trên tiên cảnh Bác được vui- Bà Cúc bồi hồi.

Nhớ Bác, nghe theo lời dạy của Người, đồng bào ở miền Trung cùng nhau đoàn kết chung sức xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.

Mùa Xuân này, dải đất miền Trung đầy nắng gió đã có thêm nhiều chồi non, lộc biếc để báo công dân Bác./.

Hải Sơn/VOV-miền Trung

vov.vn