Thư viện

Sử dụng lực lượng đánh trúng, đánh hiểm tạo hiệu quả chiến lược

QĐND – Thực hiện mục tiêu chiến lược của Đảng ta, trước và trong Xuân Mậu Thân 1968, các đơn vị chủ lực của ta đã mở một số chiến dịch ở vùng rừng núi miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, miền Tây Trị – Thiên nhằm kéo một bộ phận quan trọng chủ lực Mỹ lên chiến trường rừng núi, tạo điều kiện thuận lợi cho đòn tiến công và nổi dậy ở các đô thị bị Mỹ và chính quyền Sài Gòn chiếm đóng.

Tại các đô thị, ở vùng ven, ta sử dụng một số đơn vị bộ đội chủ lực đánh chiếm các mục tiêu, kìm chân các sư đoàn, trung đoàn chủ lực địch, tạo điều kiện cho lực lượng đặc biệt tinh nhuệ là các đội đặc công, biệt động bất ngờ đánh chiếm một số cơ quan đầu não tại Trung ương và địa phương của địch. Từ vùng ven, các tiểu đoàn mũi nhọn được tổ chức và trang bị gọn nhẹ nhanh chóng đánh chiếm những mục tiêu được phân công. Một số tiểu đoàn đã tiến được vào các khu vực mục tiêu nằm sâu trong nội thành, trụ lại đánh địch phản kích trong nhiều ngày. Đồng thời ta sử dụng pháo, cối và rốc két đánh vào nhiều mục tiêu khác như sân bay, sở chỉ huy, trung tâm thông tin của địch.

Phối hợp với các lực lượng đặc công, biệt động, tiểu đoàn mũi nhọn, các đội vũ trang và bán vũ trang của các ban ngành đoàn thể như thanh niên, công vận, phụ vận… cơ động đánh địch trên đường phố. Ở vòng ngoài, các sư đoàn, trung đoàn chủ lực của ta đón đánh không cho các đơn vị chủ lực địch tăng viện vào vùng ven và nội thành, giữ phía sau cho các tiểu đoàn mũi nhọn.

Những đòn quân sự trên đây có tác dụng châm ngòi cho quần chúng nổi dậy ở nhiều khu phố, nhiều đô thị dưới nhiều hình thức và tiếp thêm sức mạnh cho đòn tiến công quân sự. Tận dụng thời cơ có lợi do đòn tiến công và nổi dậy ở đô thị tạo ra, lực lượng vũ trang tại chỗ đã hỗ trợ cho quần chúng ở nhiều vùng nông thôn bị địch chiếm, nổi dậy đập tan chính quyền cơ sở địch, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng.

Với việc bố trí tổ chức và sử dụng lực lượng như vậy, quân và dân ta trên chiến trường đã phát huy được đầy đủ và mạnh mẽ khí thế tiến công, khiến cho Mỹ lâm vào tình thế bất lợi. Đặc biệt ở Sài Gòn, mặc dù lực lượng không nhiều nhưng các đơn vị đặc công, biệt động, tiểu đoàn mũi nhọn và các đội vũ trang, bán vũ trang của thành đoàn, công vận, phụ vận… đã đánh sâu, đánh hiểm, đánh trúng và đánh đồng loạt vào nhiều mục tiêu yết hầu của địch ở Trung ương và địa phương, tạo nên sức mạnh tác động nhanh tới ý chí của kẻ thù. Đó là thành công nổi bật trong nghệ thuật bố trí và sử dụng lực lượng trong tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Bằng đòn đánh Xuân Mậu Thân 1968, chúng ta đã làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, tiến tới đánh cho Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam năm 1973 để tạo thế trận vào Mùa xuân 1975 đánh cho ngụy nhào, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Đại tá, TS NGUYỄN THÀNH HỮU
qdnd.vn

Tây Nguyên – Chiến dịch mở màn lịch sử (Tiếp theo và hết)

QĐND – Trước việc nghi binh của ta, địch đã vội vã rút Trung đoàn 45 đang lùng sục ở Cẩm Ga, Thuần Mẫn về Thanh An để đối phó; Trung đoàn 44 cùng một số liên đoàn quân biệt động cũng bị tiêu hao nặng buộc phải nằm chết gí ở Plei-cu.

Do giữ được bí mật ý đồ hành động và cũng do ta nghi binh có kết quả nên địch trở nên lúng túng. Chúng vẫn phán đoán ta đánh thật vào Plei-cu hoặc Kon Tum.

Mặt khác, ngày 4-3-1975, ta cho Trung đoàn 95A do đồng chí Nguyễn An làm trung đoàn trưởng cắt đường 19-con đường nối Quy Nhơn với Plei-cu đoạn đèo Măng Giang cách Plei-cu khoảng 50km. Sư đoàn 3 Quân khu 5 cắt đoạn đèo Thượng An đến cầu số 13, thế là ngay trong ngày đầu chiến dịch, huyết mạch chính nuôi sống Plei-cu, Kon Tum của địch bị cắt.

Đêm mồng 4 rạng sáng ngày 5-3, Trung đoàn 25 ở Chư Cúc đã đánh chiếm và giữ một số đoạn trên đường 21 nối Ninh Hòa với Buôn Ma Thuột. Con đường quan trọng thứ hai của địch nối Tây Nguyên với đồng bằng duyên hải bị cắt đứt. Trên đường số 14, ngày 7-3, Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 chiếm Chư Sê, ngày 8-3 đánh chiếm Thuần Mẫn. Trục đường nối nam bắc Tây Nguyên của địch cũng bị cắt làm đôi. Trong khi thực hiện chia cắt địch, ta đẩy mạnh hoạt động nghi binh của Sư đoàn 968 nhằm giữ khối chủ lực của địch ở bắc Tây Nguyên, đồng thời đưa các đơn vị đánh Buôn Ma Thuột vào vị trí tập kết cuối cùng. Đến ngày 9-3, khi địch vẫn đinh ninh mục tiêu chính của ta là Plei-cu, Kon Tum thì 12 trung đoàn bộ binh và đơn vị binh chủng của ta đã triển khai xung quanh Buôn Ma Thuột, lúc này đã hoàn toàn bị bao vây cô lập.

Quân giải phóng trong Chiến dịch Tây Nguyên. Ảnh tư liệu.

Ngày 10-3-1975, lúc hai giờ sáng, ta nổ súng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột. Để nghi binh thu hút sự chú ý của địch, bộ đội đặc công và pháo binh nổ súng đánh sân bay Hòa Bình, hậu cứ Trung đoàn 53, khu kho Mai Hắc Đế. Trong đêm, lợi dụng điện trong thành phố lúc tắt, lúc sáng, tiếng súng và sự hỗn loạn của địch, các loại xe pháo, xe tăng, ô tô chở bộ binh của ta từ năm hướng tiến công thị xã. Cái mới trong trận này là ta dùng đặc công dã chiến đánh Sân bay Hòa Bình (đặc công được trang bị súng máy, B40 và cả tên lửa phòng không vác vai) và trụ lại sân bay để đợi bộ binh. Vũ Thế Quang, Sư đoàn phó Sư đoàn 23, Chỉ huy trưởng Buôn Ma Thuột, sau khi ta đã đánh các vị trí trên vẫn phán đoán ta đánh như những ngày thường, đánh ban đêm sau đó thì rút ra. Bởi vì đêm đó ta cũng đánh Đức Lập, một căn cứ của địch nằm ở tây nam Buôn Ma Thuột giáp biên giới Cam-pu-chia.

Lúc 7 giờ sáng ngày 10-3, ta tiếp tục khai hỏa, chúng không cứu được Đức Lập. Tuy tiến công mãnh liệt, nhưng trong ngày 10-3, ta vẫn chưa dứt điểm được Buôn Ma Thuột nên đêm đó, Mặt trận phái Tham mưu trưởng vào tổ chức lại các lực lượng để hôm sau tiếp tục tổng công kích. Và 11 giờ 30 phút ngày 11-3, ta giải phóng Buôn Ma Thuột bắt sống Vũ Thế Quang, Sư đoàn phó Sư đoàn 23 và Nguyễn Văn Luật, Tỉnh trưởng Đắc Lắc.

Địch mất Buôn Ma Thuột, ta phán đoán, chúng nhất định dùng Sư đoàn 23 phản kích chiếm lại bởi vì đây là vị trí chính trị của Tây Nguyên. Mặt khác, lần đầu tiên mất một thị xã 12 vạn dân có ý nghĩa, chính trị, kinh tế, văn hóa lớn. Địch chỉ có cách phản kích, đi đường bộ từ Plei-cu lên với chiều dài 180km qua ba đèo hiểm trở, trong khi ta đã cho Sư đoàn 320 chốt các đèo đó thì Sư đoàn 23 không thể đi được.

Và là sự thật hiển nhiên, địch chỉ còn cách hạ cánh bằng máy bay lên thẳng để đưa Sư đoàn 23 ngụy xuống phía đông Buôn Ma Thuột mà thôi. Mặt khác, Bộ tư lệnh chiến dịch đã tổ chức cho bộ đội chiếm ngay các căn cứ: 45, Buôn Hồ, Đại Lý, Chu Bao, phá các bàn đạp phản kích của địch xung quanh Buôn Ma Thuột. Đường 14, đường 21 bị cắt, các bàn đạp của địch ở xung quanh Buôn Ma Thuột đã bị mất.

Ta xác định địch không thể đi đường bộ được và nếu có đi được cũng phải mất hàng tháng thì đối phương đã củng cố trận địa rồi, khó lòng đánh được. Vả lại, đi cứu viện là đi chữa cháy phải nhanh không thì khó mà cứu được. Nên chỉ còn cách đi trực thăng. Trong gạn lọc tình huống, thì chỉ còn tình huống đó là có khả năng thực hiện được. Phán đoán như vậy, đi đôi với việc xử lý các tình huống khác, ta tập trung vào xử lý tình huống với Sư đoàn 23, cho Sư đoàn 10 từ Đức Lập cơ động khẩn cấp về phía đông bắc Buôn Ma Thuột để chuẩn bị đánh Sư đoàn 23 phản đột kích. Tư lệnh mặt trận quyết định luôn để đơn vị thực hiện kịp mệnh lệnh.

Ngày 12-3, địch đi đúng vào kế hoạch và sa vào thế trận của ta, các Trung đoàn 44 và 45, Sư đoàn 23 đổ bộ xuống đông Buôn Ma Thuột (khu vực Nông Trại, Phước An trên đường 21). Chúng chỉ có thể đổ xuống phía đông, vì phía tây quân ta đang chốt giữ và phía đông nếu không đánh được chúng sẽ rút chạy về Nha Trang. Ta phán đoán đúng. Lực lượng địch không có xe tăng, không có pháo lớn, ở thế bất lợi nên đã bị Sư đoàn 10 của ta phối thuộc xe tăng và pháo binh, lần lượt tiêu diệt trong các ngày từ 14 đến 18-3. Sau khi ta đánh tan Sư đoàn 23, địch “nhắm mắt” đưa một lữ đoàn dù bỏ Đà Nẵng về bảo vệ đèo Phượng Hoàng hòng ngăn chặn ta tiến xuống Nha Trang. Ta cho Sư đoàn 10 chuẩn bị đánh lữ đoàn dù nói trên trên đường Buôn Ma Thuột – Nha Trang.

Đèo Phượng Hoàng nằm ở phía tây Ninh Hòa, Sư đoàn 10 do đồng chí Hồ Đệ chỉ huy, có đồng chí Vũ Lăng, Phó tư lệnh đi trực tiếp với sư đoàn. Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên chỉ thị cho Sư đoàn 10 không đánh ngay lữ dù mà phải vây xong mới đánh, địch sẽ rất dễ tan vỡ. Sư đoàn 10 làm đúng như thế và sau hai ngày vây ép địch, sư đoàn đã tiến công Nha Trang – Cam Ranh, chia cắt miền Nam làm đôi.

Trận Buôn Ma Thuột là trận then chốt, đánh bại Sư đoàn 23 là trận then chốt thứ nhất, đánh phản kích là trận then chốt thứ hai, hai trận then chốt này tạo thành trận then chốt quyết định làm chuyển biến cục diện chiến trường Tây Nguyên, địch hết biện pháp đối phó. Giữ không được, đánh vận động cũng không xong, đành phải rút khỏi Tây Nguyên, tạo ra đột biến chiến dịch. Kon Tum, Plei-cu không đánh mà được giải phóng. Sau khi mất Buôn Ma Thuột, Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Việt Nam cộng hòa quyết định “Tùy nghi di tản” là hoàn toàn sai lầm về chiến lược.

Trước khi đi chuẩn bị chiến dịch, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã dặn Tư lệnh Mặt trận: “Nếu ta đánh mạnh, thắng lớn ở Tây Nguyên thì địch có thể co về giữ đồng bằng”. Tâm đắc điều này, Thượng tướng thấy, phán đoán của Tổng Tư lệnh thể hiện một nhãn quan chiến lược thật tài tình. Và thế là Sư đoàn 320 được tăng cường Trung đoàn 95B, một tiểu đoàn thiết giáp và một bộ phận pháo binh nhanh chóng chặn địch rút chạy trên đường 14 khu vực gần tiếp giáp với đường 7. Khi nhận được lệnh, đại bộ phận sư đoàn đang đứng chân ở khu vực Cẩm Ga trên đường số 14 cách Cheo Reo khoảng 50km đã đưa Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64 nhanh chóng vượt lên trước bằng “đôi chân vạn dặm” để chặn địch. Chiều ngày 17, Tiểu đoàn 9 đã ra đến đường 7, đông Cheo Reo 4km, xây dựng một điểm chốt cắt ngang đội hình địch. Một khối lượng lớn quân địch buộc phải cụm lại ở Cheo Reo, Phú Thiện. Chủ lực ta ở phía sau có pháo binh và thiết giáp hỗ trợ nhanh chóng bám sát địch, triển khai đội hình tiến công, đập tan cụm quân này vào các ngày 18 và 19-3. Đồng thời Bộ tư lệnh Mặt trận điện cho Quân khu 5 cho lực lượng địa phương Phú Yên ra chặn địch rút chạy từ Plei-cu về Tuy Hòa. Trong khi Sư đoàn 5 của Quân khu 5 phối hợp đánh địch ở đèo An Khê và sau đó Trung đoàn 95A đánh Sư đoàn 22 địch ở Phú Phong, thì trung đoàn địa phương của Bình Định lợi dụng thời cơ vào giải phóng thị xã Quy Nhơn.

Như vậy, chia cắt giao thông, bố trí Sư đoàn 320 ở thế tiện cơ động, nhanh chóng tổ chức bộ phận gọn nhẹ vượt lên trước chặn đội hình địch là các hoạt động tạo thế, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của trận then chốt thứ ba: Tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch rút chạy trên đường số 7, kết thúc thắng lợi Chiến dịch Tây Nguyên.

Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên đã làm rung chuyển, đảo lộn cả thế trận của địch và tạo cho ta phát triển vô cùng thuận lợi, biến thắng lợi chiến dịch thành thắng lợi chiến lược, tạo ra cục diện mới của chiến lược, thúc đẩy chiến tranh chuyển biến rất nhanh chóng có lợi cho ta.

Lúc sinh thời, nhân kỷ niệm Chiến thắng Buôn Ma Thuột, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Chính ủy Chiến dịch Tây Nguyên cũng tâm niệm và nhắc lại: Chiến thắng Buôn Ma Thuột mãi mãi là dấu son trên trang sử vẻ vang của quân đội ta. Nó là kết quả của cả một quá trình chuẩn bị lâu dài của quân và dân Tây Nguyên. Nếu chúng ta đều biết tới hình ảnh từng đoàn dân công gồm cả người già, trẻ em của các buôn làng đã đi gùi đạn, gùi gạo, mở đường cho chiến dịch; nếu chúng ta biết tới những đồng chí cán bộ của Đảng đã từng cà răng căng tai, sống hàng vài chục năm với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên để bám dân, bám đất xây dựng địa bàn, xây dựng chỗ cho chúng ta đứng chân mà đánh giặc; nếu chúng ta biết rằng trước khi chúng ta có xe pháo mà mở những trận đánh lớn như vậy đã có hàng ngàn đồng chí đi trước mở đường, mở địa bàn, giành đi giật lại với địch từng tấc đất trong điều kiện đói cơm, rách áo, thiếu thuốc men, thiếu vũ khí kéo dài hàng chục năm ròng để chúng ta có những quân hùng tướng mạnh mà đánh địch với thế mạnh như chẻ tre. Nếu chúng ta biết một cách đầy đủ tất cả những gì diễn ra trước khi có trận Buôn Ma Thuột, có mùa xuân cao nguyên 1975, thì chúng ta càng thấy tự hào hơn về Đảng ta, nhân dân ta và quân đội ta…

Chiến tranh đã đi qua hơn ba mươi năm, hai vị lão tướng Hoàng Minh Thảo và Đặng Vũ Hiệp đã đi xa. Nhớ lại chiến dịch Tây Nguyên lịch sử, xin thắp một nén tâm nhang kính cẩn nghiêng mình trước hai lão tướng. Các ông còn mãi với Tây Nguyên với Buôn Ma Thuột thân yêu.

———————-

Tây Nguyên – Chiến dịch mở màn lịch sử (Phần 1)

Đại tá, TS NGUYỄN THÀNH HỮU – Lược ghi theo lời kể của cố Thượng tướng, GS Hoàng Minh Thảo
qdnd.vn

Tây Nguyên – chiến dịch mở màn lịch sử(*)

QĐND – Bây giờ thì vị tướng ấy đã đi xa, nhưng với tôi hình ảnh của ông còn đậm mãi, nhất là những dịp được ngồi bên ông, nghe ông kể lại câu chuyện một thời trận mạc mà tên tuổi của ông gắn liền với chiến trường ấy, mảnh đất ấy: Trận mở màn Buôn Ma Thuột trong Chiến dịch Tây Nguyên tháng 3-1975. Ông là Thượng tướng, GS Hoàng Minh Thảo.

Với tác phong điềm đạm, ân cần, ông kể cho tôi nghe về những năm tháng chiến đấu trên chiến trường Tây Nguyên, một thời gian lao, vất vả nhưng thật hào hùng và oanh liệt. Bài học quân sự với những khái niệm cao siêu qua ông thật dễ hiểu và thấm mãi.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân năm 1975, Buôn Ma Thuột là điểm đột phá chiến lược mở đầu cho chiến cuộc. Buôn Ma Thuột không phải là một vị trí quân sự mạnh như Plei-cu, không phải là đầu não quân sự ở Tây Nguyên, nhưng Buôn Ma Thuột là trung tâm chính trị, văn hóa của Tây Nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng; nó yếu hơn Plei-cu, nhưng lại rất hiểm. Mà một nguyên tắc quân sự trong chọn mục tiêu tiến công là yếu và hiểm. Ta có thể nhanh chóng đánh chiếm và khi đã giải phóng được Buôn Ma Thuột thì sẽ làm rung động cả Tây Nguyên, ảnh hưởng trực tiếp đến cả vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ và cả phía bắc, tây bắc Sài Gòn…

Trước khi đánh Buôn Ma Thuột, ta phán đoán, dự kiến một số tình huống và có kế hoạch xử lý. Bởi muốn giành được chủ động thì không thể chủ quan, sơ sài. Phải bày tất cả các tình tiết, mâu thuẫn của màn diễn lên bàn, lên bản đồ, phải gạn lọc tình huống, hạn chế, loại trừ mâu thuẫn để đi đến khả năng thực hiện. Về mặt chiến lược, ta có thể hạn chế và loại trừ tình huống địch đưa quân cấp sư đoàn tăng cường cho Tây Nguyên. Để làm được việc đó khi ta định giải phóng Tây Nguyên, phải kìm địch ở Huế – Đà Nẵng và Sài Gòn là hai đầu nam bắc chiến tuyến để bảo đảm cho Tây Nguyên hoạt động thắng lợi.

Xe tăng quân giải phóng trong Chiến dịch Tây Nguyên. Ảnh tư liệu.

Để kìm hãm địch ở Huế, ta để Quân đoàn 2 do đồng chí Nguyễn Hữu An chỉ huy ở tây bắc Huế, buộc địch phải để một bộ phận quân dù và thủy quân lục chiến chuẩn bị đối phó với Quân đoàn 2. Địch rất sợ mất Huế – Đà Nẵng vì ta có Quân đoàn 1 đứng sau Quân đoàn 2 phía bắc Vĩ tuyến 17 sẵn sàng tham chiến khi cần thiết. Để kìm hãm địch ở Sài Gòn, ta để Quân đoàn 4 do đồng chí Hoàng Cầm chỉ huy ở Đồng Nai, buộc địch phải để Sư đoàn dù và Sư đoàn thủy quân lục chiến giữ Sài Gòn. Mối lo của địch đối với Sài Gòn, Huế-Đà Nẵng còn nặng hơn Plei-cu và Buôn Ma Thuột. Chính vì thế cho nên địch bị hở ở Tây Nguyên.

Để hiểu sâu các vấn đề trên, công tác tham mưu chiến lược bao gồm việc xác định ý định chiến lược, trong đó có mục tiêu định đánh, việc phối hợp, nghi binh lừa địch, việc chia cắt chiến lược… Trong tiến công chiến lược phải xác định chiến trường chủ yếu, chiến trường phối hợp, chiến trường kìm hãm, đó là triển khai chiến lược.

Vào năm 1975, trên cơ sở tình hình các chiến trường Quảng Trị, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ, ta nên mở đầu bằng chiến dịch nào? Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã thảo luận và cuối cùng xác định Tây Nguyên là chính, các chiến trường khác phối hợp. Sau khi xác định mục tiêu, thì việc đầu tiên của mưu kế là nghi binh, lừa địch, kìm hãm địch, tạo điều kiện cho chiến trường chính phát động và tiến công thuận lợi. Đó là mưu kế chiến lược. Vì sao ta làm được việc này? Ông đặt câu hỏi và khẳng định: Vì chiến tranh nhân dân của chúng ta phát triển cao ta mới có chỗ đứng chân xen kẽ da báo với địch. Và như vậy, ta đã tạo thế chiến lược cho Tây Nguyên có sơ hở. Tiếp đó, để chắc thắng, Bộ Tổng tư lệnh đột ngột tăng cường cho Tây Nguyên Sư đoàn 316 do đồng chí Đàm Văn Ngụy chỉ huy và Sư đoàn 968 do đồng chí Thanh Sơn chỉ huy từ Hạ Lào sang. Như vậy từ chỗ chỉ có hai sư đoàn và một số trung đoàn độc lập, ở Tây Nguyên ta có 4 sư đoàn và một số trung đoàn độc lập. Lúc này, Tây Nguyên mạnh hơn một quân đoàn và do đó hình thành một tập đoàn chiến lược.

Vì sao Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chọn Buôn Ma Thuột làm điểm đánh trận mở đầu và cũng là một trận then chốt quyết định của chiến dịch? Trước đó, do những điều kiện cụ thể của chiến trường, ta đã cân nhắc lợi hại giữa Buôn Ma Thuột và Kon Tum, xem chọn thị xã nào làm điểm tiến công.

Tuy nhiên, căn cứ vào những hoạt động của ta và địch trên chiến trường, với nhiều ý kiến phân tích khách quan, khoa học, Bộ Chính trị đã quyết định chọn thị xã Buôn Ma Thuột làm điểm tiến công.

Thị xã Buôn Ma Thuột nằm sâu trong vùng kiểm soát của địch; là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa quan trọng của Tây Nguyên và cũng là nơi tập trung bọn đầu sỏ phản động trong vùng. Về mặt quân sự, thị xã này có vị trí rất cơ động, đứng ngay ở ngã ba đường chiến lược 21 nối liền với Nha Trang và đường số 14, phía bắc đi Cheo Reo và Plei-cu, phía nam đi Gia Nghĩa và miền Đông Nam Bộ. Do nằm sâu trong vùng kiểm soát của địch nên quân chiếm đóng của chúng ở đây không bị đối mặt trực tiếp với quân ta như ở Kon Tum, việc bố phòng cũng không chặt chẽ bằng Kon Tum. Đánh Buôn Ma Thuột, ta sẽ có khó khăn trong việc trinh sát nắm địch, nắm địa hình, vận chuyển vật chất hậu cần và cơ động tập kết, triển khai lực lượng. Mọi hoạt động chuẩn bị phải rất công phu và phải tuyệt đối giữ bí mật, kết hợp với hoạt động nghi binh thu hút sự chú ý và đối phó của địch về hướng khác thì mới loại bỏ được khả năng địch tăng cường dự phòng. Quyết tâm chọn Buôn Ma Thuột làm trận đánh then chốt, trận đánh mở đầu là rất chính xác, làm một đòn đánh hiểm, nhằm vào chỗ sơ hở, điểm yếu của địch.

Mặt khác, đây là đòn mở đầu nên ta quyết tâm phải thắng lợi mới tạo thuận lợi cho việc tiếp tục phát triển… Nguyễn Trãi từng nói: “Bỏ chỗ mạnh đánh chỗ yếu, tránh chỗ vững đánh chỗ núng, thì dùng sức một nửa mà thành công gấp bội”. Ta cũng học cách đánh này của cha ông ta. Muốn đánh Buôn Ma Thuột thắng nhanh, phải nghi binh đánh Plei-cu để Buôn Ma Thuột vẫn yếu như cũ. Và ta đã tổ chức nghi binh cho Plei-cu.

Bắt đầu, từ cuối tháng 2-1975, ta cho Sư đoàn 968 đánh thật, nghi binh vào các vị trí địch ở tây nam Plei-cu và Kon Tum, sử dụng lực lượng với quy mô thích hợp cho từng mục tiêu và vận dụng các cách đánh bài bản để tiến công địch. Cùng thời gian, sư đoàn đã đánh các cứ điểm địch ở ngoại vi quận lỵ Thanh An, bức rút đồn Tầm, đánh chiếm dãy cao điểm Chư Cara, Chư Gôi, 605, uy hiếp mạnh Thanh Bình, Thanh An tây nam Plei-cu, đồng thời kết hợp đánh nhỏ ở tây Plei-cu, bắc Kon Tum, làm trận địa pháo và huy động dân công, bộ đội mở đường 220 nối Võ Định, bắc Kon Tum với đường 19, đoạn phía đông Plei-cu 40km và rầm rộ làm các con đường dẫn vào hai thị xã Plei-cu và Kon Tum. Ta cũng tung tin sẽ tiến công Kon Tum nhưng bí mật đưa Sư đoàn 968 vào hoạt động ở khu vực Plei-cu và điều Sư đoàn 10, Sư đoàn 320 đang hoạt động ở khu vực này xuống nam Tây Nguyên.

Việc bảo đảm bí mật sự di chuyển hai sư đoàn cùng các đơn vị binh chủng kỹ thuật vào nam Tây Nguyên là công việc hết sức khó khăn. Ta phải cho các sư đoàn này di chuyển như “đèn cù” nhiều lần rồi mới di chuyển chính thức. Đồng thời khi di chuyển chính thức, toàn bộ điện đài và nhân viên báo vụ của hai sư đoàn trên vẫn để lại vị trí cũ hoạt động như thường lệ, truyền đi các báo cáo và mệnh lệnh giả để đánh lừa địch mà chỉ dùng điện thoại của Bộ Tư lệnh Trường Sơn để thông tin cho nhau. Địch cho rằng ta vẫn không hề có dấu hiệu chuyển quân. Trong khi đó Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 đã chuyển từ Plei-cu và Kon Tum về hướng Buôn Ma Thuột rồi.

———

(còn nữa)

Đại tá, TS NGUYỄN THÀNH HỮU  Lược ghi theo lời kể của cố Thượng tướng, GS Hoàng Minh Thảo.
qdnd.vn

Nghi binh, chia cắt địch trong chiến dịch Tây Nguyên

Kỷ niệm 38 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975

QĐND – Sau khi Hiệp định Pa-ri ký kết (ngày 27-1-1973), so sánh lực lượng ở miền Nam thay đổi căn bản, có lợi cho ta, bất lợi cho địch. Theo hiệp định, Mỹ phải tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, rút toàn bộ quân đội và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, công nhận ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát. Trước tình hình đó, Đảng ta họp Hội nghị Trung ương 21 (tháng 7-1973), Hội nghị Bộ Chính trị (tháng 10-1974), phân tích tình hình và nhận định: Quân địch đã bị thất bại trên tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, ngoại giao. Ta càng đánh càng thắng, thế và lực của ta đã hơn hẳn địch, chưa bao giờ ta có đầy đủ điều kiện như hiện nay. Bộ Chính trị hạ quyết tâm: Giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975-1976, đồng thời dự kiến phương án nếu thời cơ đến, lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, quân và dân ta tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mở đầu bằng Chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4-3 đến 24-3-1975). Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi, tạo nên bước ngoặt quyết định của chiến tranh cách mạng, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi toàn vẹn của Chiến dịch Tây Nguyên đã giải quyết thành công nhiều vấn đề về nghệ thuật quân sự, nổi bật là nghệ thuật nghi binh, chia cắt địch.

Sư đoàn 316 phối hợp với xe tăng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột ngày 10-3-1975. Ảnh tư liệu.

Đầu năm 1975, địch cho rằng ta chưa hội đủ điều kiện để đánh lớn ở Buôn Ma Thuột, trước hết là không giải quyết nổi bảo đảm hậu cần-kỹ thuật, nhất là không bảo đảm được việc cơ động cho xe tăng và pháo cơ giới vượt sông Sê-rê-pốc. Nếu có mở chiến dịch tiến công Tây Nguyên, thì sẽ đánh vào Kon Tum, Plei-cu là chủ yếu. Trên cơ sở phân tích về địch, điều kiện về ta, địa hình để giành thắng lợi cho chiến dịch ta lập kế hoạch tác chiến theo hai phương án: Một là, đánh địch khi chúng chưa tăng cường, phòng ngự dự phòng. Hai là, đánh địch đã tăng cường dự phòng. Ta lấy phương án hai làm cơ bản, nhưng trong thực hiện phải hết sức tạo thời cơ để đánh theo phương án thứ nhất. Tư tưởng chỉ đạo tác chiến là: “Mạnh bạo, chắc thắng, chủ động, cơ động, linh hoạt, bí mật, bất ngờ”. Để giữ ý định chiến dịch, tạo điều kiện thời cơ đánh theo phương án một, đồng thời triệt để khai thác những đánh giá sai lầm của địch, Bộ tư lệnh chiến dịch chỉ đạo các đơn vị tích cực thực hành nghi binh, chia cắt để đánh lừa địch, thu hút và giam chân khối chủ lực ở bắc Tây Nguyên.

Từ ngày 1-3-1975, Sư đoàn 968 tiến công tiêu diệt một loạt các vị trí địch ở phía tây nam thị xã Plei-cu, đồng thời cùng lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân mở đường rầm rộ tiến vào thị xã từ phía tây. Trong thời gian này, các đơn vị của ta bí mật cơ động vào các khu vực được phân công và tập kết vật chất đảm bảo cho tác chiến. Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 để lại toàn bộ cụm điện đài và báo vụ viên ở lại vị trí cũ, hằng ngày các điện đài vô tuyến của các đơn vị vẫn thường xuyên duy trì liên lạc tại khu vực đã đứng chân ở bắc Tây Nguyên, phát đi đều đặn những bức điện, mệnh lệnh giả. Bộ tư lệnh chiến dịch dùng hệ thống vô tuyến điện của Sư đoàn 470, Đoàn 559 để chỉ huy. Kế hoạch nghi binh hoàn hảo của ta làm cho địch nhận định sai lầm, dàn mỏng lực lượng, sơ hở ở khu vực phòng thủ Buôn Ma Thuột.

Từ ngày 3 đến 9-3-1975, Trung đoàn 95A tiến công một số vị trí địch cắt đường 19 đoạn từ ngã ba Plây Bôn đến ấp Phú Yên, địch càng cho rằng sự phán đoán của chúng là đúng, đã tập trung lực lượng phản kích trên đường 19 và phòng giữ Kon Tum, Plei-cu. Ngày 4-3, Thường vụ Đảng ủy Bộ tư lệnh chiến dịch họp nhận định, ta đã điều khiển được địch theo đúng ý định và hạ quyết tâm: Đánh địch theo phương án địch chưa tăng cường phòng ngự dự phòng ở thị xã Buôn Ma Thuột. Để đánh thắng trận mở màn ở Buôn Ma Thuột, ta sử dụng Sư đoàn 320 đánh chiếm Chư Xê và CẩmGa cắt hoàn toàn đường 14. Phát hiện Sư đoàn 320 của ta, địch vội vã điều liên đoàn 21 biệt động quân lên Buôn Hồ (cách nam Thuần Mẫn 30km) để bảo vệ phía bắc Buôn Ma Thuột. Nhận thấy dấu hiệu địch tăng cường lực lượng bằng đường không cho Buôn Ma Thuột, Bộ tư lệnh chiến dịch lệnh cho lực lượng pháo binh, cao xạ kiềm chế hai sân bay Cù Hanh và Hòa Bình; Sư đoàn 968 cắt đường 14 đoạn giữa Kon Tum và Plei-cu, đồng thời tiếp tục bắn phá vào hai thị xã này. Để bảo đảm hành lang cho các đơn vị cơ động, triển khai tiến công vào hướng nam Buôn Ma Thuột, đánh lừa và thu hút thêm sự chú ý của địch, cô lập thị xã Buôn Ma Thuột, Bộ tư lệnh chiến dịch sử dụng Sư đoàn 10 (thiếu) đánh chiếm quận lỵ Đức Lập (ngày 9-3), căn cứ 23 và căn cứ Núi Lửa, khiến địch phải co cụm và chống cự quyết liệt.

Trong lúc địch đang bối rối và bị động phải đối phó ở khắp nơi, Bộ tư lệnh quyết định tiến công thị xã Buôn Ma Thuột theo phương án đánh địch khi chúng không có lực lượng tăng cường phòng ngự dự phòng, bắt đầu từ 2 giờ sáng 10-3-1975. Đến trưa 11-3-1975, ta làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột, sau đó tiến công các căn cứ của địch ở khu vực xung quanh. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, địch bỏ Plei-cu, Kon Tum rút chạy theo đường số 7. Phát hiện địch rút chạy, ta tổ chức truy kích tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy trên đường số 7, đoạn Cheo Reo, Củng Sơn, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên.

Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên khẳng định sự vận dụng thành công nghệ thuật nghi binh, chia cắt địch, giữ bí mật ý định và hành động chiến dịch. Quá trình thực hành chiến dịch, ta triệt để khai thác những suy đoán chủ quan, sai lầm của địch và liên tục củng cố sai lầm của chúng, dẫn dắt và hướng chúng hành động theo ý định của ta. Ta còn thành công trong việc giam chân bộ phận chủ yếu của chủ lực địch ở Kon Tum, Plei-cu. Đó cũng là quá trình gạn lọc để loại trừ và hạn chế các tình huống bất lợi cho ta, chủ động bắt địch hành động theo hướng có lợi cho ta và cũng là nguyên nhân dẫn địch đến thất bại, chấp nhận rút bỏ toàn bộ Tây Nguyên, phá vỡ toàn bộ hệ thống phòng ngự liên hoàn của chúng, tạo thế, tạo thời để ta mở tiếp đòn tiến công chiến lược thứ hai, giải phóng Huế-Đà Nẵng và kết thúc đòn tiến công chiến lược quyết định cuối cùng bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Đại tá ĐÀO VĂN ĐỆ
qdnd.vn

Năm Thi và trận tiêu diệt Chiến khu ma Bình Quới

QĐND Online – Nắng phương Nam lan tỏa, tôi và cháu Nguyễn Phúc Huy bước vào cư xá Nguyễn Trung Trực, đường 3/2, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh thăm Đại tá Nguyễn Văn Thi, nguyên Tư lệnh Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định; Cục trưởng Hậu Cần miền.

Vợ chồng Đại tá Nguyễn Văn Thi, nguyên Tư lệnh Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định

Tiếp chúng tôi là bà Nguyễn Thị Minh Phú, cựu phóng viên chiến trường, ở Sư đoàn 330, đơn vị ông Đồng Văn Cống phụ trách. Ông Năm Thi bệnh từ mấy năm nay, không đi lại được. Độ còn khỏe, cứ chiều mồng 1 tháng 9, là ông trịnh trọng treo lá cờ mới nhất lên, rồi ngắm, không ai giành được việc đó với ông hết. Nhớ năm 1974, ông là một trong số người đầu tiên trao trả tù binh ở Quảng Trị, tình hình đang căng thẳng. Được tin người của Ủy ban Thống Nhất báo, vợ sốt nặng 410C, do nhiễm chất độc da cam, không giữ được cái thai. Ông Năm Thi liền tức tốc cùng lái xe, nhịn ăn, đi ngày đêm về Hà Nội. Gặp vợ, ông nghẹn lời: – “Anh không có tiền, dọc đường mua đồ ăn cho thằng Giao nó ăn. Anh nhịn, về với em là được. Sợ em chết, em bỏ anh! …”. Ở hai hôm, ông lại quay vào Quảng Trị, mang theo 1/2kg hồng sâm Triều Tiên, ông Nguyễn Thọ Chân thăm vợ ông. Bà nói ổng mang vào cho anh em trong đó. Bà nhận thấy trong ông con người cách mạng sôi động, sự lãng mạn, phong phú, trung kiên với Đảng, với nhân dân và sự tận tụy cống hiến hết tâm lực mình. Mãi mãi trong đời, bà thấy hạnh phúc, thầm kính trọng ông.

Một trong những trận đánh thể hiện khả năng tổ chức, tài năng, tác phong chỉ huy, tinh thần dám chịu trách nhiệm của ông là trận Bình Quới Tây.

Bình Quới Tây là một xã ven đô Sài Gòn – Gia Định, nằm gọn trong một vòng cung gần tròn của sông Sài Gòn bao quanh. Địch lập “chiến khu quốc gia” ở đây, để bảo vệ an toàn Sài Gòn, để dễ phát huy ảnh hưởng vào khu vực này và các vùng ven đô Sài Gòn – Gia Định. Phá “chiến khu quốc gia” của đương kim Thủ tướng Nam kì tự trị là một việc lớn. Ông Năm Thi báo cáo kế hoạch với Bí thư Tỉnh ủy. Một Ban phụ trách phá chiến khu được lập ra gồm ba người: Nguyễn Văn Thi, Lương Đường Minh, Trần Minh Phú, do đồng chí Nguyễn Văn Tiết lãnh đạo. Ông Năm Thi kể:

– “Qua được cửa ải đầu tiên rất quan trọng là đưa Hoàng Của vào Bộ Tham mưu địch, việc ta cài người được triển khai rộng, nhưng không có vẻ gì vội vàng làm cho địch nghi ngờ. Đầu tiên tôi chọn bốn đồng chí: Bảy Thanh, Xuân, Ty và Mười Tài đều là những cán bộ trẻ năng nổ, xông xáo và gan dạ. Tới “chiến khu quốc gia”, bốn anh em được Hoàng Của “gà” văn phòng của Lê Văn Hoạch cấp cho họ “giấy thông hành công lệnh” có chữ kí của Lê Văn Hoạch và đại diện Phòng nhì Pháp. Loại giấy thông hành này rất mạnh, đi khắp Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định mà không một sắc lính nào dám đụng đến.

Đợt đưa người lần thứ hai (5/1947), tôi chọn 64 anh em du kích, vì họ đã quen chiến đấu, giặc đến họ đánh, giặc rút họ trở về với công việc bình thường, thật khó mò ra tung tích họ.

Đợt thứ ba, tôi chọn thêm một số chiến sĩ Đại đội 1, để làm nòng cốt, đặc biệt có 5 xạ thủ súng máy loại cừ. Các đợt tiếp theo, chỉ mười mấy hai chục người. Đợt cuối, có những tay súng trường và đồng chí Tám Lãnh – Đội trưởng đội biệt động, rất mưu trí dũng cảm.

Cả mấy đợt cài người, quân số bên ta được hơn 130 người gồm: du kích, tín đồ, bộ đội, biệt động với hơn 20 đảng viên, cán bộ chỉ huy là 4 anh em đi đợt đầu tiên.

Hoàng Của xin chỉ thị, bố trí doanh trại thế nào cho hợp lí? Việc bố trí đội hình là một bước bày khai thế trận, cần phải tính toán kĩ. Tôi bảo Hoàng Của về trước. Tôi sẽ tới tận nơi xem xét địa hình Bình Quới Tây.

Hoàng Của lúc này là tham mưu trưởng “chiến khu quốc gia”. Tôi đóng vai tùy tùng của tham mưu trưởng, đi đến đâu cũng thấy Hoàng Của được trọng vọng. Trước khi ra về, tôi quyết định đặt đội hình ta đối mặt với đối phương, hai doanh trại cách nhau 100 mét.

Cuối tháng 11 năm 1947, tôi cho gọi Ba Thành phụ trách giao liên quân sự, bảo: – Gấp rút tổ chức một đường liên lạc bằng thuyền từ Lái Thiêu đến bến đò Bình Quới. Khi liên lạc giao thông đường thủy đã thông suốt, thì ngày 3-12-1947, có cán bộ Tỉnh ủy Thủ Dầu Một báo cáo với anh Hai Trí – Chính ủy Khu là: “Tình hình nguy hiểm, có nguy cơ hơn một trăm anh em Chi đội 1 đưa vào, có thể bị tàn sát”. Hoảng lên, anh Hai Trí điện cho tôi: – “Trong ba ngày phải bỏ đi, giải quyết cho xong đối tượng X, không được chậm trễ.”

Tôi bấm đốt ngón tay:

-Xin anh Hai 7 ngày. Bảy ngày tôi xin hoàn tất.

Thế ta đã ở trên lưng cọp. Bộ tham mưu của Lê Văn Hoạch vẫn chưa võ trang một cây súng nào cho “lực lượng Thủ Dầu Một”. Ta định khi chúng vũ trang cho “đại đội Thủ Dầu Một”, thì mới trù liệu cách giải quyết. Lực lượng đối phương gấp đôi ta? Suy nghĩ mấy đêm đến bạc đầu, sáng 6-12-1947, tôi lấy danh nghĩa mở tiệc mừng làm ăn phát tài, triệu tập một cuộc họp tại khách sạn ở trung tâm Chợ Lớn, gồm: Hoàng Của, Bảy Thanh, Xuân, Ty, Mười Tài, Tám Lãnh và hai xạ thủ tiểu liên.

Một kế hoạch biến lực lượng ta từ yếu trở thành mạnh được vạch ra và được hết sức tán đồng. Phổ biến xong mệnh lệnh, ông Năm Thi nhìn anh em một lượt, cười: -“ Làm được không nè?” Hoàng Của cười: – “Nhất định phải được. Ta đã vào hang cọp và đã cưỡi trên lưng nó rồi.” Các anh em đồng thanh: – Trăm người như một, anh em chúng ta có hơn một trăm trái tim và hơn một trăm cái miệng, vậy mà đã mấy tháng rồi, bí mật vẫn được giữ vững, mặc dầu kẻ địch ra sức dò xét, đánh hơi, thử thách.

Kết thúc cuộc họp, ông Năm Thi nói:

– “Các anh thấy đó. Ta đang ở thế chủ động, mạnh đoàn kết, mạnh ý chí. Vũ khí có kém, thì ta tạo lực bằng cách tạo thời cơ thật thích hợp, khiến chúng mất cảnh giác, bộc lộ sơ hở và ta sẽ chộp ngay sơ hở đó mà quật ngã chúng. Các anh cần phải chú ý là, ta có 3 cụm chiến đấu cần giải quyết. Một là ban tham mưu – cơ quan đầu não điều hành căn cứ, phải đánh giập đầu rắn, nếu để chúng lọt lưới, thế trận chúng ta sẽ bị đảo lộn ngay. Hai là tháp canh Cầu Sắt – khi ta ra tay, mà nó đứng sừng sững đó, quân tiếp viện sẽ cơ động ứng cứu dễ dàng. Ba là đại đội Tây Ninh – người và vũ khí nguồn sinh lực của đối phương. Nói cách khác là, ba quả đấm thép phải giáng cùng một lượt, vào đúng ngày N, giờ G, phải bị ta hạ gục. Không được phép chuệch choạc. Không được phép sơ sểnh. Ta đã chọn giờ G, vừa hạn chế tác dụng của quân cứu viện, vừa để ta rút khỏi chiến trường về căn cứ được an toàn. Nên nhớ, ta làm ăn lụp chụp, nổ súng kéo dài, quân địch toàn thành phố và vùng lân cận sẽ báo động đỏ ngay.”

Hoàng Của về, đề nghị với Lê Văn Hoạch tổ chức ăn mừng kỉ niệm ngày hòa nhập giữa hai lực lượng ở “chiến khu quốc gia” vào ngày 9, ngày 10 và được chấp thuận.

Sau khi phân công cho Lương Đường Minh, đưa một trung đội xuống ém ở bờ tả ngạn sông Sài Gòn, bắt liên lạc với chốt gác bến đò Bình Quới, ông Năm Thi giao cho Trần Minh Phú dẫn một lực lượng cùng 2 xe bò để sẵn sàng đón chở anh em thương binh, vũ khí đạn dược về căn cứ ta. Đồng thời lệnh cho Ba Thành từ đêm mồng 9 tháng 12 hãy sẵn sàng với chiếc ghe ba tấn.

Ngày N. đã định. Ông Năm lại xuống tận nơi lần nữa, để kiểm tra thế trận, nhắc lại mệnh lệnh và kế hoạch tác chiến.

Thấy ông Năm Thi bất ngờ xuất hiện trước giờ nổ súng, anh em hết sức phấn khởi. Những ánh mắt ngời sáng chan chứa niềm tin, ngầm hứa hẹn đảm bảo thành công. Ông Năm muốn ở lại trong giờ phút nghiêm trọng này. Nhưng, Ba Của, Bảy Thanh yêu cầu ông Năm Thi hãy tin ở anh em. Thế là ông đành phải lên xe, ra về. Đến cầu Bình Lợi thì đúng giờ G., liền nghe súng nổ mấy tiếng, mấy phút sau nổ mấy loạt rồi im bặt. “Ăn rồi!” Ông Năm nghĩ bụng.

Lúc này, ở “chiến khu quốc gia”, đúng 14 giờ ngày 10 – 12 – 1947, một trận đá bóng giữa “đội Tây Ninh” và “đội Thủ Dầu Một” đang diễn ra tại sân chào cờ, nằm giữa doanh trại hai bên. Sau lưng “đội Tây Ninh” là doanh trại của họ ở phía tây. Sau lưng “đội Thủ Dầu Một’ là doanh trại đối diện. Cổ động viên bên nào thì ở phía bên ấy.

Qua hiệp một, sau giờ giải lao, hai bên đổi sân. Sau lưng “đội Thủ Dầu Một” và cổ động viên của ta, lại là doanh trại của “đội Tây Ninh”.

Lúc này, ngay tại sở chỉ huy, tham mưu trưởng Hoàng Của đang mở tiệc chiêu đãi 5 tên trong ban tham mưu Bình Quới Tây, có sự tham gia của cán sự tham mưu Bảy Thanh.

Hoàng Của liếc nhìn đồng hồ tay, biết hiệp hai bóng đá đã bắt đầu. Chờ đúng 15 giờ 15 phút, anh đưa mắt cho Bảy Thanh và bất thình lình hai người vụt đứng lên. Khẩu Vickers trong tay Hoàng Của vẩy vào hai sĩ quan tham mưu quan trọng nhất. Còn Bảy Thanh với khẩu Colt 12 đã bắn chết ba tên sĩ quan còn lại.

Súng nổ tại ban tham mưu là hiệu lệnh tấn công trên toàn mặt trận. Các cầu thủ bên ta vội ngưng chân bóng, quay lại cùng các “cổ động viên” đằng mình, chạy về phía sau lưng, vào các giá súng của đội Tây Ninh. Xạ thủ súng máy chụp lấy các khẩu súng máy, một tổ chiếm khẩu cối 60, súng trường, lựu đạn, … Xuân và Ty cầm tiểu liên bắn chặn, không cho tên lính bên Tây Ninh nào dám nhào về lấy súng.

Ta dàn trận, nã đạn vào những tên ngoan cố, bức hàng và bắn đuổi một số khác chạy ào vào sình lầy. Phá cổng nhà giam, mấy chục người được trả tự do. Vợ con binh sĩ trong khu gia binh và số lính bị bắt, trước khi thả ngay tại chỗ, được giải thích rõ về âm mưu của địch, chính sách khoan hồng của cách mạng.

Tháp canh Cầu Sắt, trước giờ G., Tám Lãnh đã cùng một tổ có mặt, đẩy xe đến chở nước như thường ngày, nhân tiện đưa rượu thịt để cùng số lính trong tháp canh tổ chức ăn mừng. Đang khi chén tôi, chén anh, nghe hiệu lệnh, Tám Lãnh cùng đồng đội hạ gục các đối thủ, chiếm ngay ổ súng máy, bịt chặt con đường độc đạo từ Sài Gòn vào, sẵn sàng đánh quân tiếp viện.

Ở phía sông Sài Gòn, đơn vị đặc biệt của Lương Đường Minh giấu mình trong mấy lùm dừa nước, chờ đợi. Chiếc ghe ba tấn của Ba Thành cũng đợi sẵn. Chốt gác của ta ở bến đò Bình Quới kêu xét và giữ lại một số ghe lớn, từ trưa. Khi nghe súng nổ, rồi hàng trăm quân ta cùng chiến lợi phẩm từ trong “chiến khu” Bình Quới lao ra. Một cán bộ ta, bắc tay làm loa: “Thưa đồng bào, xin lỗi các má, các chị, chúng tôi bộ đội và đạo hữu vâng lệnh trên đã tiêu diệt hoàn toàn chiến khu ma Bình Quới. Bây giờ, xin nhờ các má, các chị đưa chúng tôi qua sông”. Các má, các chị đổi giận làm vui, hoan hô nhiệt liệt.

Khoảng 3, 4 giờ khuya hôm đó, bờ sông bên Thủ Đức, trung đội của Lương Đường Minh và bộ phận của Trần Minh Phú, đón anh em trên hai chiếc xe bò, về đến căn cứ ở Thuận An Hòa, không mất một người và được anh Nguyễn Văn Tiết hoan nghệnh nhiệt liệt.

Anh Chín Phú nói: “Tài tổ chức và chỉ huy của anh Năm Thi thật đặc biệt. Anh Năm thật dám làm, dám chịu …”

Sáng 11 tháng 10 năm 1947, báo chí Sài Gòn chạy tít lớn: “Trong mấy phút, chiến khu quốc gia đã bị xóa sổ trên đất Sài Gòn – Gia Định”.

Nguyễn Minh Thu
qdnd.vn

Bức chân dung anh Trỗi

QĐND – Anh Nguyễn Văn Tuyên, hiện trú tại xã Minh Khai (Từ Liêm, Hà Nội), con trai liệt sĩ Nguyễn Văn Xuyên cho tôi xem những kỷ vật của cha mình. Trong số đó, có một “bảo vật” mà gia đình anh cất giữ, bảo quản cẩn thận nhiều năm nay. Đó là bức chân dung Anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi mà cha anh đã “khắc họa” trên bức tường nhà, sau ngày anh Trỗi hy sinh năm 1964. Cách đây hơn 15 năm, khi gia đình anh Tuyên phá nhà cũ để xây nhà mới, anh Tuyên đã “cắt” nguyên vẹn mảng tường có chân dung anh Trỗi, bao gói cẩn thận để gia đình lưu giữ lâu dài.

Bà Nguyễn Thị Dòn, vợ liệt sĩ Nguyễn Văn Xuyên bồi hồi kể: “Bức tranh này, ông nhà tôi vẽ suốt một buổi chiều cuối năm 1964. Thời bấy giờ, thanh niên ai cũng ngưỡng mộ tấm gương anh Trỗi và muốn được tiếp bước anh…”.

Liệt sĩ Nguyễn Văn Xuyên.

Đầu xuân năm 1966, chàng trai Nguyễn Văn Xuyên lên đường nhập ngũ khi cậu con trai Nguyễn Văn Tuyên mới 4 tháng tuổi. Gần 3 năm sau, gia đình nhận được tin anh đã hy sinh. Giấy báo tử số 56/HN ngày 2-12-1969 do Thượng tá Nguyễn Văn Tân ký, có ghi: “Hạ sĩ, chiến sĩ Nguyễn Văn Xuyên, thuộc Đơn vị KH, nguyên quán thôn Văn Trì, xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, Hà Nội; sinh ngày 2-1-1942, nhập ngũ ngày 28-1-1966, hy sinh ngày 18-10-1968 tại Mặt trận phía Nam. Thi hài liệt sĩ mai táng tại Nghĩa trang liệt sĩ mặt trận…”.

Anh Nguyễn Văn Tuyên, con trai liệt sĩ được hưởng chính sách đãi ngộ của Nhà nước đi học nghề ở Liên Xô (trước đây), rồi định cư, làm ăn bên nước bạn nhiều năm. Đến năm 1994, anh quyết định cùng vợ con về nước để có điều kiện chăm sóc bà, mẹ đều đã tuổi cao và đi tìm mộ cha.

Chân dung liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi trên bức tường nhà anh Tuyên.

Mở cho tôi xem chiếc ba lô của người cha, kỷ vật đơn vị gửi về khi báo tử, gồm bao xe, hộp màu, ca đựng nước, lược, rút dép… anh Tuyên cho biết: “Đầu năm 1968 thì đơn vị bố tôi hành quân vào Nam. Trong lá thư cuối cùng, bố tôi viết: “Đơn vị hành quân vào Nam, qua Quốc lộ 32, chỉ cách làng Văn Trì mấy trăm mét, nhưng ai cũng phải bám theo đội hình. Đi qua làng, nhớ lắm, nhưng chỉ biết “quét” ánh đèn pin về phía xóm mình để chào tạm biệt!”.

Hơn 15 năm qua, anh Tuyên lặn lội nhiều nơi để tìm thông tin về mộ người cha, nhưng chưa có kết quả. Trong lá thư cuối cùng gửi về gia đình, liệt sĩ Xuyên cho biết: “Đơn vị đang dừng chân bên bờ sông Sê-băng-hiêng…”. Qua tra cứu hồ sơ, Phòng Chính sách Binh đoàn Trường Sơn (Đoàn 559 trước đây) cung cấp cho gia đình một thông tin: “Liệt sĩ Nguyễn Văn Xuyên, thuộc Đoàn 3027, hy sinh trên đường hành quân”. Gia đình rất mong nhận được thông tin của đơn vị và đồng đội cũ để tìm kiếm mộ liệt sĩ Xuyên. Chia tay tôi, anh Tuyên bộc bạch: “Nếu được, gia đình sẽ kính tặng quê hương anh hùng Nguyễn Văn Trỗi bức chân dung của anh, mà cha tôi vẽ trên tường nhà trước khi lên đường nhập ngũ…”.

Bài và ảnh: Anh Quân
qdnd.vn

Chuyện về một người Tây Nguyên tham gia giành chính quyền

QĐND – Đến bây giờ đã 67 năm trôi qua, nhưng mỗi khi nhắc đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là trong ông lại sục sôi tinh thần của những ngày cùng đồng bào Tây Nguyên đứng lên giành chính quyền về tay nhân dân. Trong căn nhà nhỏ nằm ở khu chung cư Lê Lợi, thành phố Plei-cu, Gia Lai, ông Nguyễn Khoa (tức Nguyễn Khắc) đưa chúng tôi trở về những phút giây lịch sử trọng đại qua từng lời kể.

Ông Nguyễn Khoa sinh năm 1919, tại đồn điền chè Bàu Cạn (Gia Lai), học chữ Quốc ngữ từ cha đến hết bậc tiểu học rồi đi làm công nhân hái chè. Cuộc sống người lao động dưới chế độ áp bức, bóc lột của thực dân Pháp vô cùng khổ cực. Chàng thanh niên Nguyễn Khoa và những người bạn thợ của mình phải làm việc từ 14 đến 16 giờ/ngày, mà chỉ được thực dân Pháp trả 10 xu/ngày, sau giảm xuống còn 8 xu. Khi làm việc, hễ thấy ai đi vệ sinh là chúng đánh đập, cúp phạt, cắt lương. Khi bị ốm đau chúng đưa xuống nhà thương và chỉ cho dùng một loại thuốc Cuinine (thuốc chống sốt rét).

Vợ chồng lão thành cách mạng Nguyễn Khoa

Năm 1939, có hai đảng viên từ Sài Gòn và Huế lên Bàu Cạn gây dựng phong trào. Đó là đồng chí Trần Ren làm lái xe cho ông chủ và Phan Thủy Tú làm công nhân hái chè. Nguyễn Khoa được giác ngộ cách mạng từ những lần gặp gỡ hai đồng chí này. Ông nhớ lại: “Lúc đó, chúng tôi chưa hiểu mấy về chủ nghĩa cộng sản, nhưng sau được anh Trần Ren và chị Út (Thủy Tú) giảng giải, vì thế chúng tôi nghe theo, làm theo. Phong trào dần dần phát triển; các tổ chức như: Hội Cứu tế đỏ, Hội Cứu tế công nhân, Hội ái hữu… lần lượt ra đời hoạt động công khai thu hút được nhiều người tham gia. Thời gian đó, dưới sự lãnh đạo của Hội Cứu tế đã có 30 cuộc đấu tranh ở đồn điền nổ ra đòi tăng lương giảm giờ làm, chống đánh đập”.

Cuối năm 1940, đồng chí Phan Thủy Tú được giao nhiệm vụ đi Quy Nhơn (Bình Định) bắt liên lạc với tổ chức đảng, báo cáo tình hình, xin chỉ thị công tác thì bị mật thám Plei-cu bắt. Ngay lập tức tổ chức đảng ở Bàu Cạn cũng bị chúng phát hiện. Trần Ren, Lâm Thị Nở, Nguyễn Khoa đều bị bắt giam ở nhà lao Plei-cu. Những đòn tra tấn dã man không làm khuất phục được lòng trung kiên của những chiến sĩ cách mạng; không khai thác được gì chúng phải trả tự do cho Nguyễn Khoa.

Ra tù, Nguyễn Khoa tiếp tục hoạt động, trực tiếp đứng lớp dạy chữ Quốc ngữ cho công nhân, vận động người tham gia Hội Ái hữu. Rồi Nhật đảo chính Pháp, ông lại tham gia tổ chức Đoàn thanh niên chống Nhật ở Plei-cu. Nhớ lại thời gian hoạt động này, ông Khoa nói: “Ngày đó, cứ thứ 7, chủ nhật là đoàn tổ chức tự do diễn đàn. Tại đây, ai biết gì về tình hình trong nước và thế giới cứ nói, ai không biết thì hỏi? Ai biết thì trả lời. Đoàn thanh niên chống Nhật tổ chức tập luyện võ nghệ, rèn dao, rèn kiếm và tiến hành quân sự hóa toàn dân. Ai đi ra đường cũng có dao, kiếm, phụ nữ có dây buộc thắt lưng để sẵn sàng trói quân địch”.

Tất cả đã chuẩn bị thế và lực cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân và chỉ đợi thời cơ đến. Và thời khắc lịch sử đã tới với nhân dân Gia Lai, ngày 23-8-1945, Nguyễn Khoa cùng với Trương Trợ dẫn 700 công nhân đồn điền Bàu Cạn và 300 đồng bào dân tộc thiểu số với gậy, dao, kiếm… tiến về Plei-cu, hòa cùng gần một vạn người ở khắp mọi nơi kéo về, lật đổ chính quyền của thực dân Pháp, mang lại tự do cho người dân Tây Nguyên.

Bài và ảnh: Quang Hồi – Duy Thành
qdnd.vn

“Trộn đấu”, du kích Hải Dương diệt 44 lính Âu-Phi

QĐND Online – Ngày 9-10-1950, du kích xã Văn Tố, huyện Tứ Kỳ (tỉnh Hải Dương) đã tổ chức một trận phục kích địch rất táo bạo, đạt hiệu suất cao. Chỉ trong 25 phút, với hình thức đánh gần, đánh “trộn đấu”, du kích của ta đã tiêu diệt 44 lính Âu-Phi, bắt sống 6 tên và thu hơn 20 súng các loại…

Nắm chắc đặc điểm hoạt động của địch…

Nhằm bình định địa bàn tỉnh Hải Dương nói chung và huyện Tứ Kỳ nói riêng, thực dân Pháp âm mưu chiếm đóng các vùng tuyến theo trục đường 191 (là tỉnh lộ chạy qua xã Văn Tố), lập đồn bốt ở nơi xung yếu, thực hiện chiếm đóng theo chiến thuật “vết dầu loang”.

Từ tháng 8-1949, quân Pháp lập đồn bốt ở thôn An Nhân (xã Đông Kỳ, huyện Tứ Kỳ), thôn La Tỉnh-thị trấn Tứ Kỳ, xóm Măng- thôn Đồng Kênh (Văn Tố). Chúng bắt phu của xã Quang Phục (Tứ Kỳ) về xây dựng, củng cố đồn bốt. Hàng ngày địch sử dụng một số lính lê dương canh gác cho phu vào xã Văn Tố phá nhà dân, lấy gạch, đá, tre, luồng về xây bốt. Lực lượng làm phu rất căm phẫn vì bị quân Pháp cưỡng ép làm việc cực nhọc.

Xã Văn Tố nằm ở phía Nam huyện Tứ Kỳ, cách trung tâm huyện gần 3km; cách TP Hải Dương 18km về phía Bắc. Phía Tây có sông Tứ Kỳ, phía Đông có sông Thái Bình, rất thuận tiện cho phương tiện giao thông cả thủy và bộ. Trong xã có nhiều đường nhánh quanh co, thuận lợi cho việc đóng quân, bố trí chông, mìn, cạm bẫy.

Thời điểm này, lực lượng du kích của xã Văn Tố đã khá lớn mạnh. Toàn xã có một trung đội du kích cơ động với quân số 60 người. Đầu năm 1950, du kích Văn Tố đã đánh trả thành công một số trận càn của địch.

Qua theo dõi quy luật hoạt động của địch, du kích của ta nhận thấy: hàng ngày dẫn phu từ bốt Măng vào các làng của xã Văn Tố cướp bóc vật liệu, bọn lính lê dương thường đi rải rác trên đường 191, đến khu vực ta rào làng thì dừng lại. Nhiều lần dừng lại nhưng chưa bị đánh nên địch rất chủ quan…

Hình thành cách đánh táo bạo, bất ngờ

Căn cứ vào đặc điểm, quy luật hoạt động của địch, du kích xã Văn Tố quyết định chọn đoạn phục kích trên đường 191, từ khu vực Đông Nam thôn La Giang đến đoạn giáp ranh thôn Đồng Kênh, trên chiều dài khoảng 100m, cách bốt địch 400m.

Địa hình phục kích tuy trống trải, nhưng gần thôn La Giang, thuận lợi cho ta tiếp cận địch; dễ chi viện và dễ rút quân sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ.

Sơ đồ trận phục kích ở thôn La Giang, xã Văn Tố, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Về cách đánh, ta bố trí lực lượng ở thôn La Giang về phía Tây ngoài bờ đê. Lợi dụng địa hình, địa vật để ngụy trang, chờ địch lọt vào đoạn phục kích sẽ bất ngờ nổ mìn chặn đầu, khóa đuôi, đồng loạt xung phong tiêu diệt địch. Đồng thời kết hợp kiềm chế, ngăn chặn lực lượng địch từ bốt ra ứng cứu; nhanh chóng kết thức trận đánh và rời khỏi trận địa an toàn.

Đội hình chiến đấu của lực lượng du kích xã Văn Tố được chia thành 4 bộ phận, gồm có: Bộ phận chặn đầu có 5 đồng chí, được trang bị 5 quả mìn loại 2kg, bố trí 1 tổ mìn chặn đầu địch; bộ phận khóa đuôi có 5 đồng chí, được trang bị 2 quả mìn ở mép đê, có nhiệm vụ chặn địch rút về bốt; lực lượng diệt địch gồm 9 đồng chí, bố trí ngoài mép đê, trong đoạn phục kích, được trang bị giáo mác, gậy gộc; lực lượng kiềm chế bốt gồm 8 đồng chí, được trang bị súng trường, có nhiệm vụ kiềm chế hỏa lực địch ở bốt Măng và sẵn sàng chi viện lực lượng, hỏa lực tiêu diệt địch, yểm trợ cho lực lượng của ra rút quân. Tín hiệu hiệp đồng được thống nhất là lấy tiếng mìn nổ ở tổ chặn đầu làm hiệu lệnh trận đánh bắt đầu; tiếng mìn nổ thứ hai làm hiệu lệnh cho lực lượng xung phong tiêu diệt địch…

“Trộn đấu”

6 giờ sáng 9-10-1950, đội hình chiến đấu của du kích Văn Tố được triển khai tại các vị trí đã định, ngụy trang kín đáo, sẵn sàng đánh địch. Đến 9 giờ, lực lượng quan sát thấy 50 lính lê dương dẫn phu ra khỏi bốt về phía làng, với đội hình như thường ngày. 9 giờ 15 phút, tốp lính đi đầu đã đến vị trí đặt mìn của ta. Khi tên lính cuối cùng vượt qua tổ mìn khóa đuôi, ngay lập tức, tiếng mìn điểm hỏa ở tổ mìn chặn đầu vang lên làm rung động cả một vùng quê, khiến 4 tên lính lê dương chết tại chỗ, một số tên hoảng loạn bỏ chạy về phía bốt. Ngay sau đó, mìn khóa đuôi tiếp tục phát nổ, làm 2 tên địch tiếp tục phải đền tội. Ngay khi tiếng mìn thứ hai phát nổ, lực lượng xung phong nhất tề lao lên, dùng giáo mác chiến đấu quyết liệt với địch. Những tên địch còn sống sót tuy có súng trong tay, nhưng bị đánh bất ngờ, đánh gần nên tinh thần hoảng loạn, chống cự yếu ớt. Bọn địch ở bốt Măng cách đó chỉ khoảng 300m song không dám bắn vào trận địa phục kích vì ta và địch đang đánh giáp lá cà.

Sau 25 phút chiến đấu, du kích Văn Tố đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch. Kết thúc trận đánh, lực lượng của ta nhanh chóng rút quân,. Cùng lúc đó, lực lượng yểm trợ bắn mạnh về phía địch ngăn chặn không cho địch chi viện ứng cứu. Trên đường rút quân về thôn Mỹ Ân (Văn Tố), một đồng chí du kích đã anh dũng hy sinh.

Chỉ với 27 đồng chí, được trang bị vài khẩu súng trường và 2 tổ mìn, nhưng du kích Văn Tố đã đánh một trận phục kích thắng lợi, hiệu quả cao. Trong 25 phút, bằng cách đánh gần, đánh “trộn đấu”, ta đã hạn chế sức mạnh và ưu thế vũ khí của địch, làm địch đánh giáp lá cà không thể sử dụng hiệu quả vũ khí chúng đang có trong tay, đồng thời khiến địch ở bốt cũng không dám nổ súng vì sợ “bắn nhầm” vào quân của chúng.

Cách đánh táo bạo, bất ngờ, hiệu quả của du kích Văn Tố sau đó đã được phổ biến để LLVT toàn huyện Tứ Kỳ học tập.

Bài, ảnh: Thành Đông (Dựa theo cuốn Một số trận đánh điển hình của quân và dân Quân khu 3)
qdnd.vn

Vị tướng hải quân và những lần thoát hiểm

QĐND Online – Anh hùng LLVTND, Phó đô đốc Nguyễn Văn Tình – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Chính ủy Quân chủng Hải quân – được sinh ra ở vùng quê biển Giao Thủy (Nam Định) nhưng ông luôn coi Quảng Trị là quê hương thứ hai bởi trên mảnh đất khói lửa ấy ông đã được người dân địa phương đùm bọc, chở che và nhiều lần thoát hiểm trước “nanh vuốt” quân thù…

“Trong các năm 1966-1968, khi là lính đặc công nước của Đoàn 126, tôi (lúc đó lấy bí danh là Hữu) cùng với anh Mai Năng (tên hoạt động là Mai) được kẻ địch “định giá” hàng chục nghìn đô-la cho bất kỳ ai bắt sống được, bởi chúng tôi đã gây ra nhiều vụ đánh chìm và làm thiệt hại những tàu vận tải lớn của Mỹ-ngụy ở hai cảng Cửa Việt, Đông Hà” – Phó đô đốc Nguyễn Văn Tình nhớ lại. Rồi ông kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện khi ông cùng đồng đội một thời “dọc ngang trong lòng địch”.

Uống trà, hút thuốc với… sĩ quan ngụy

Phó đô đốc Nguyễn Văn Tình kể rằng, trong những năm làm nhiệm vụ đánh phá tàu địch, ông và đồng đội đã từng có những lần chạm trán đối phương trong những tình huống khá trớ trêu. “Đó là lần nhóm chúng tôi do anh Mai Năng chỉ huy được cử đi tiêu diệt tàu địch ở cảng Đông Hà. Tôi nhận nhiệm vụ dẫn một tổ trinh sát đột nhập vào nhà một cơ sở của ta ở thôn An Lạc (xã Cam Giang, huyện Cam Lộ) để nắm tình hình”. Đêm ấy, ba người trong tổ trinh sát vừa đi dọc bờ tre quan sát thì phát hiện hai bóng đen đang đi lại trong sân, đoán chắc là quân địch, Nguyễn Văn Tình đã ra hiệu cho anh em quay về. Vừa trở ra thì cả tổ lại thấy một vật khả nghi ở phía trước, Nguyễn Văn Tình lại gần, khẽ chạm vào cái hình “mờ mờ, dài dài” ấy, thì ra đó là khẩu AR15 trên bụng của một tên lính đang nằm ngủ. Tên lính tỉnh dậy, vội vàng chộp lấy tay Tình. Rất nhanh, Tình giả giọng miền Nam: “Gác khuya lạnh quá, cho xin điếu thuốc hút đi cha nội!”. Tên lính đang ngái ngủ, càu nhàu: “Thuốc men gì, để yên cho tau ngủ, đang mệt thấy bà nè”. Nói vậy rồi tên lính hất tay Tình ra. Tưởng “thoát”, ai ngờ tên này lại rờ được bao thuốc rồi ném vào ngực anh. Vơ vội bao thuốc, Tình rút một điếu rồi đưa bao thuốc cho hai đồng đội là Tâm và Độ đang đứng phía sau, tiếp đó anh kéo sụp chiếc mũ xuống, lấy hai tay che miệng, bật quẹt châm thuốc rồi lợi dụng ánh lửa đảo mắt quan sát. Thì ra, toàn bộ dãy bờ rào, địch đang mắc võng nằm la liệt xung quanh. Nguyễn Văn Tình đã bình tĩnh đưa điếu thuốc đang hút cho hai đồng đội châm rồi ra hiệu cho họ cùng giả bộ lính gác, miệng phì phèo thuốc rồi tìm cách rút nhanh.

Phó đô đốc Nguyễn Văn Tình với đời thường.

Lần hoạt động trinh sát tàu vận tải Mỹ của Nguyễn Văn Tình và đồng đội Nguyễn Đình Thi ở cảng Đông Hà cũng “ly kỳ” không kém. Hôm ấy khoảng 4h30 sáng, hai người vừa tới làng Thượng Nghĩa, xã Cam Giang thì bị một toán phục kích của địch truy đuổi. Cả hai chạy vào nhà một phụ nữ trạc tuổi 40 đang nấu ăn dưới bếp. Sau khi tự giới thiệu là Quân giải phóng, người phụ nữ sợ hãi bảo: “Các ông không thể ở đây được”. Hai anh nài nỉ: “Bọn chúng đuổi gấp quá, chúng tôi không còn chỗ nào khác”. Nói rồi Tình đẩy Thi chui vào góc bếp và phủ kín rơm rạ lên người. Ngoài kia, địch đã vào tới ngõ, bí quá, Tình đành ngồi cạnh chiếc cối xay rồi lấy tạm chiếc mẹt để che. Vừa nấp xong thì nghe thấy tiếng quát của tên chỉ huy: “Việt Cộng vừa chạy vào đây phải không?”. Người phụ nữ ấp úng mãi không trả lời. Viên sĩ quan bực tức lục lọi rồi đá tung chiếc mẹt, đúng chỗ Tình đang ẩn nấp. Nhanh như chớp, Tình lao ra đá văng khẩu súng ngắn trên tay viên sĩ quan. Sau khi khóa chặt tay anh ta, Tình hạ giọng: “Anh biết rồi đấy, chúng tôi là Quân giải phóng, anh hãy giải tán quân lính đi rồi chúng ta nói chuyện với nhau”. Tên trung úy lấm lét nhìn Tình, sau đó ra sân tuýt còi cho quân lính về nghỉ. Lúc đó, người phụ nữ mới thú thực tên trung úy chính là chồng mình. Khi quay vào, Nguyễn Văn Tình đã tháo đạn trong khẩu súng ngắn rồi đưa lại cho tên sĩ quan ngụy. “Bây giờ anh hãy thu xếp cho chúng tôi nghỉ lại đến tối, cơm thì có gì ăn nấy, chị cũng không được đi đâu cả”. Nghe vậy, tên trung úy liền bảo vợ trải chiếu cho hai chiến sĩ đặc công nghỉ tạm trong buồng rồi miễn cưỡng pha trà mời “khách”.

Cả ngày hôm ấy, ba người lính ở hai chiến tuyến đã cùng ngồi lại với nhau và tâm sự đủ thứ chuyện. Nguyễn Văn Tình cũng đã khuyên nhủ tên sĩ quan buông súng, tìm đường về với cách mạng. Sau khi ăn uống, nghỉ ngơi, hai chiến sĩ đặc công lại “chia tay” vợ chồng viên sĩ quan ngụy, tiếp tục hòa vào bóng đêm…

Thoát hiểm trong gang tấc

Lần ấy, Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Đình Thi được một du kích tên Hiếu dẫn đi trinh sát cảng Đông Hà. Lúc trở về, vào tới làng Thượng Nghĩa (xã Cam Giang, huyện Cam Lộ) thì trời vừa tảng sáng. Hiếu đành dẫn hai chiến sĩ đặc công vào nhà má Năm – người cô ruột của mình và là cơ sở tin cậy của Quân giải phóng. Hôm đó là ngày Tết Đoan ngọ (mùng 5-5 âm lịch), cũng là ngày má Năm làm cơm cúng giỗ chồng. Vì má có hai người con rể đi lính cho Quân đội Sài Gòn nên khi gặp các anh, má lo lắng bảo: “Các con thông cảm không ở lại được vì hôm nay hai thằng rể nhà má sẽ về đây”. Không còn cách nào khác bởi trời sắp sáng, Nguyễn Văn Tình đành khẩn khoản: “Má ơi, má cứ để tụi con lánh tạm, ở ngoài thì sẽ bị tụi nó bắt sống”. Cuối cùng má Năm cũng đồng ý để các chiến sĩ nấp vào gian buồng được ngăn ra từ những tấm liếp.

“Rái cá” Nguyễn Văn Tình trong một lần trở lại xã Gio Mai (Gio Linh, Quảng Trị) thăm ân nhân Trương Thị Láo (bên trái) và Trương Thị Lài (ngoài cùng, bên phải) – Ảnh do nhân vật cung cấp.

Khoảng 9 giờ sáng, hai người con rể của má Năm chở vợ đến. Từ lúc đó, không chỉ má Năm mà cả ba “vị khách không mời” trong buồng cùng thấp thỏm, lo âu. “Tới 10 giờ, người con rể lớn tên Thục trong lúc vào tìm mâm đã vô tình vạch tấm ri-đô ngay chỗ ẩn nấp của ba chúng tôi. Vừa vén ri-đô, Thục chợt sững người khi nhìn thấy tôi. Do đã chuẩn bị trước nên tôi kịp trấn tĩnh, chĩa khẩu súng ngắn vào ngực Thục, nói khẽ: “Anh biết cả rồi đấy, tốt nhất là anh hãy im lặng, tối nay chúng tôi sẽ rời khỏi đây”. Thục nhìn thẳng vào mắt tôi, “dạ” nhẹ một tiếng rồi cầm chiếc mâm đi ra”, Phó đô đốc Nguyễn Văn Tình kể.

Từ lúc đó, Thục trở nên ít nói, mặt lộ rõ vẻ căng thẳng. Một lúc sau, Thục xin phép đi đâu đó. Tới gần trưa vẫn không thấy anh ta về ăn cơm, má Năm liền cho cô con út đi tìm thì được biết Thục đang ngồi đánh bài ở ngoài đình. Thục dặn em gái: “Mọi người cứ ăn cơm trước, anh ngồi ngoài này chứ về nhà bây giờ sẽ bị tụi nó nghi…”. Trưa ấy, má Năm đã mang cơm vào buồng cho ba chiến sĩ, nhưng chẳng ai muốn ăn vì còn phải căng óc ra lo đối phó. Cả ba đã tính tới phương án Thục báo cho đồng bọn kéo tới đàn áp và sẵn sàng hy sinh cùng số vũ khí mang theo. Rất may là tình huống xấu nhất đã không xảy ra…

Lần khác, “rái cá” Nguyễn Văn Tình cùng đồng đội Cao Xuân Liễn vừa đi hoạt động trinh sát ở cảng Cửa Việt về tới làng Mai Xá (xã Gio Mai, huyện Gio Linh) thì gặp đám binh lính Trung đoàn 2 của địch đang càn vào làng. Lên bờ, áo quần vẫn còn ướt sũng, trời lại sắp sáng, cả hai đành chia thành hai hướng vào nhà dân lánh tạm. Nguyễn Văn Tình vào nhà chị Trương Thị Láo, một cơ sở được lực lượng đặc công nước xây dựng từ trước đó. Biết địch đang ở đầu ngõ, chị Láo vội đẩy anh leo lên chiếc cột để náu mình trên trần nhà. Để xóa vết nước loang ra trên chiếc cột, chị Láo liền nhanh trí kéo em gái Trương Thị Lài còn đang ngái ngủ ra đứng sát chiếc cột rồi cầm chậu nước hắt lên người em, vừa hắt nước, chị vừa cầm roi quất mạnh và xối xả mắng: “Hơn chục tuổi đầu rồi mà mi vẫn còn đái dầm, đánh cho mi chừa đi này!”. Lúc ấy, Lài khóc rất to, còn người má đang lúi húi trong bếp cũng lao ra. Thấy cô em bị đánh, bà tru tréo mắng cô chị. Mặc má rầy la, chị Láo vẫn vừa đánh, vừa mắng đứa em tội nghiệp. Bọn địch thấy cảnh cãi lộn, khóc lóc của ba mẹ con nên đã không nghi ngờ gì, chúng vào nhà sục sạo, bắn chỉ thiên vài phát rồi rút. Mãi sau này, khi lớn lên, Lài mới được biết trận đòn oan của mình đã giúp cho người lính đặc công đang “nín thở” trên trần nhà “thoát hiểm”.

Cũng từ sự mưu trí của chị Láo, một người phụ nữ quê mùa, chất phác mà nhiều lần “rái cá” Nguyễn Văn Tình đã thoát khỏi nanh vuốt kẻ thù. Có lần anh đang trú tạm trong nhà chị thì quân Mỹ vào làng càn quét. Được tin, chị vội nhảy vào chuồng lợn, dùng cuốc xới phân ở góc chuồng lên thành một chiếc hố nhỏ để anh nằm nép vào rồi lấy rơm rạ, lá cây mục phủ lên mặt, còn thân người thì phủ kín… phân lợn. Xong việc, chị Láo lên nhà, mở toang hết các cửa rồi giả bộ bận bịu với công việc lấy phân, chuẩn bị ra đồng. Quân địch xộc vào, thấy nhà cửa trống trơn, chẳng thấy ai khả nghi nên bọn chúng lại hò hét kéo nhau đi…

Trong những cuộc đấu trí căng thẳng và những lần chạm trán đối phương, Nguyễn Văn Tình đều bình tĩnh xử trí nhằm đảm bảo bí mật cho cơ sở, góp phần cùng đồng đội đánh phá, tiêu diệt hàng trăm tàu địch. Qua những câu chuyện nhuốm màu huyền thoại của lính đặc công nước, ông và đồng đội “Đoàn 1A” đã được người dân địa phương ví như những chú “rái cá” trên vùng sông nước Cửa Việt – Đông Hà.

*

* *

Khi đất nước thống nhất, “rái cá” Nguyễn Văn Tình đã có dịp tới thăm lại những ân nhân của mình. “Nhiều năm qua, tôi đều vào Quảng Trị thăm lại bà con, cô bác từng cưu mang, che chở mình trong những năm chiến tranh. Mấy năm gần đây, tôi đã vào đón chị Trương Thị Láo ra Hà Nội và ở lại nhà tôi chơi nhiều ngày. Dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng Quảng Trị vừa qua, tôi cũng vào thăm chị, nhưng lần này do bị đau chân nên chị không thể ra Hà Nội được”, Phó đô đốc Nguyễn Văn Tình bộc bạch. Với ông, hình ảnh chị Láo và những người dân Quảng Trị không chỉ in sâu trong tâm trí những người lính đặc công trẻ ngày ấy mà cho tới tận bây giờ ông vẫn không quên ơn họ, như lời ông tâm sự: “Chúng tôi hoạt động giữa lòng địch nhưng không hề đơn độc bởi luôn có đồng bào Quảng Trị chở che, bảo vệ”.

Bài, ảnh: Bùi Vũ Minh
qdnd.vn

Ém quân dưới chân Đồi Cháy

QĐND Online – Ở quê lúa Thái Bình, có một con ngõ dài ước chừng hơn 300 mét nối liền hai thôn An Trực và Đồng Trực của xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ. Trong ngõ nhỏ ấy, có tới 3 người được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân là: Nguyễn Thế Thao, Nguyễn Hồng Thế và Nguyễn Công Dị. “Một ngõ ba anh hùng, đó không chỉ là niềm tự hào của người dân Thái Bình, mà còn khá hiếm gặp ở những địa phương khác”, Đại tá, Anh hùng Nguyễn Thế Thao tâm sự với chúng tôi như vậy.

Tìm gặp đúng dịp ông đang tất bật chuẩn bị cho chương trình “Về chiến trường xưa – tri ân đồng đội”, nhưng người lính trận từng có mặt trong đội hình Trung đoàn 165 (Sư đoàn 312) vẫn sẵn lòng dành thời gian kể lại cho chúng tôi về một thời trong biên chế Tiểu đoàn 6 chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị .

Anh hùng Nguyễn Thế Thao.

Những ngày đầu tháng 9-1972, lợi dụng mùa mưa, quân đội Sài Gòn mở chiến dịch “Đại phong lôi” phản kích sang phía nam sông Thạch Hãn. Đêm 3-9-1972, các Trung đoàn 165, 141 và 209 của Sư đoàn 312 bí mật hành quân chiếm lĩnh các tuyến xuất phát xung phong và nhận nhiệm vụ phối thuộc cùng các đơn vị bạn. Trong khi Trung đoàn 209 chọc thủng nhiều vị trí quân địch ở tuyến tây nam, Trung đoàn 141 giữ vững trận địa ở Điểm cao 39 và động Ông Do, thì Trung đoàn 165 kiên cường chiến đấu bảo vệ thành cổ Quảng Trị, Tân Tạo và La Vang. Để mở rộng hành lang vận chuyển, Tiểu đoàn 6 – Trung đoàn 165 ( do Nguyễn Thế Thao là Tiểu đoàn trưởng) nhận nhiệm vụ diệt cứ điểm Đồi Cháy, một điểm cao do một đại đội lính thuỷ đánh bộ địch chiếm giữ ở phía đông nam làng Như Lệ, xã Hải Lệ (nay thuộc Thị xã Quảng Trị).

“Thay vì đánh địch vào lúc nửa đêm hoặc gần sáng như phương án của các đơn vị bạn trước đây, sau khi trinh sát, chúng tôi đã quyết định sẽ đánh địch từ 17 giờ chiều, đúng vào lúc chúng đang chủ quan, lơ là canh gác. Một khó khăn đặt ra: Phải giấu quân ở đâu? Nếu giấu quân ở xa thì sẽ không kịp xung phong, nếu giấu quân vừa tầm thì địa hình trống trải, làm mồi cho pháo dàn và B52 của địch. Cuối cùng Tiểu đoàn quyết định: giấu quân ở trong lòng đất, ngay dưới chân đồi cháy, cách địch 70m” – Anh hùng Nguyễn Thế Thao kể lại. Đêm 8-9-1972, toàn tiểu đoàn bí mật luồn vào quanh điểm cao Đồi Cháy, cách địch khoảng 70m từ các hướng Đông, Đông Nam, Tây Bắc, với lực lượng khoảng 300 người của ba đại đội: 9, 10, 11. Tại đây, mỗi chiến sĩ đào một công sự nhỏ, nguỵ trang kín đáo chờ lệnh. Chiều 9-9, trên Đồi Cháy xuất hiện hàng trăm nấm khói do bọn địch đang tổ chức nấu cơm chiều. Thời cơ nổ súng đã đến. Sau khi hoả lực phủ đầu, quân ta xung phong. Mũi đột kích của Tiểu đoàn 6 chọc thủng tuyến phòng thủ vòng ngoài, song bị chững lại ở lưng đồi, vì pháo dàn của địch trùm lên Đồi Cháy. Từ trên cao, một ổ 12,8mm của địch quét chéo xuống sườn đồi, làm quân ta không sao tiến lên được. Đúng lúc đó, Trung đội trưởng Hoàng Đăng Miện đã trườn lên, tìm một địa thế thuận lợi, rồi đứng vụt dậy, giương khẩu B41, bóp cò! Ổ 12,8mm của địch bị tiêu diệt, những bước chân xung phong rầm rập tràn lên..

Sau khi chọc thủng tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, Đại đội trưởng Nguyễn Đình Khuyến đã chỉ huy Đại đội 10 đột phá tuyến phòng thủ thứ hai. Máy bay địch bắn phá dữ dội xung quanh Đồi Cháy. Đại đội trưởng Khuyến bị trúng đạn, hy sinh, Trung đội trưởng Hoàng Đăng Miện lên thay và nhận nhiệm vụ chỉ huy bộ đội tiếp tục tiến vào trung tâm cứ điểm, mặc cho pháo địch bắn dồn dập… Sau hai ngày chiến đấu, Tiểu đoàn 6 đã diệt 150 tên địch và làm chủ Đồi Cháy. Chiến dịch “Đại phong lôi” của địch bước đầu bị thất bại.

Ngồi ôn lại chuyện cũ, Đại tá Nguyễn Thế Thao không khỏi xúc động khi nhắc tới sự hy sinh của đồng đội Hoàng Đăng Miện trong trận đánh Đồi Cháy năm xưa. Ông ngậm ngùi, đơn vị đã mất đi một cán bộ tài năng, một “chuyên gia” diệt địch bằng B41 được anh em mến phục. “Ngay từ ngày đơn vị còn chiến đấu ở Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng những năm 1970-1971, Miện đã là người có kinh nghiệm đánh B41 và diệt nhiều tên địch. Hôm diễn ra trận đánh Đồi Cháy, khi Hoàng Đăng Miện đang lắp tiếp vào đầu súng một trái đạn mới, bỗng một vầng sáng chớp lóe trước mặt, mọi người chỉ kịp thấy quả đạn B41 trên đầu súng của anh bắt lửa, đỏ chói…” – Đại tá Nguyễn Thế Thao kể lại.

Từ cách đánh “ém quân dưới chân đồi” của Tiểu đoàn 6, ngày 23-9-1973, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thế Thao và Trung đội trưởng Hoàng Đăng Miện được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Bài và ảnh: Minh Tuệ-Trung Nguyên
qdnd.vn

“Người lính U-crai-na, cựu chiến binh Việt Nam”

QĐND Online – Trong căn nhà ấm cúng của mình tại phố Liễu Giai, Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh-nguyên Phó Cục trưởng Cục tác chiến –Bộ Tổng tham mưu đã cho chúng tôi xem cuốn nhật ký bằng hình ảnh của một cựu chiến binh U-crai-na gửi tặng ông trong chuyến thăm Việt Nam hồi đầu năm 2011. Với ông, những kỉ niệm của một thời là Bộ đội Tên lửa cùng các chuyên gia quân sự Liên Xô đánh thắng máy bay Mỹ mãi mãi không thể nào quên…

Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh (ngoài cùng bên trái) và Đa-líp-sơ-ki cùng đọc nhật ký chiến đấu của bạn. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Bắn rơi chiếc máy bay thứ 400

Cuối tháng 6-1965, cơ quan Tham mưu Quân chủng Phòng không-Không quân (PKKQ) dưới sự chỉ đạo của Thượng tá Nguyễn Quang Tuyến, Tham mưu phó Quân chủng xây dựng phương án tổ chức trận đánh đầu tiên của Bộ đội Tên lửa phòng không. Đơn vị trực tiếp tham gia trận đánh là Tiểu đoàn 63 và 64 của Trung đoàn Tên lửa 236 (Đoàn Sông Đà) ở hai vị trí cách nhau khoảng 5km và Tiểu đoàn 61 làm dự bị. Để đảm bảo bí mật, các trận địa tên lửa đều được cấp trên chỉ đạo xây dựng cấp tốc trong 36 giờ. Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh khi ấy là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 64 tác chiến ở khu vực Suối Hai, Sơn Tây nằm phía hữu ngạn sông Đà, cách Hà Nội khoảng 60 km. Với quyết tâm đánh thắng trận đầu, Quân chủng PKKQ thống nhất với bạn theo phương án: kíp chiến đấu do quân nhân Liên Xô trực tiếp thao tác, kíp chiến đấu của Việt Nam theo dõi, học tập rút kinh nghiệm. Mùa hè năm đó, một tổ chuyên gia quân sự Liên Xô do Thiếu tá I-li-nức (Ivan Ylinysh) là tổ trưởng sang giúp đỡ ta trong công tác huấn luyện và trực tiếp tham gia chiến đấu. Đồng chí I-li-nức người U-crai-na lúc đó đóng vai trò là Tiểu đoàn trưởng cố vấn cho Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Ninh. 16 giờ 15 phút ngày 24-7-1965, phát hiện thấy có máy bay địch, toàn bộ kíp chiến đấu sẵn sàng. Khi máy bay địch vào tầm bắn, Nguyễn Văn Ninh và I-li-nức ra lệnh bắn. Tiểu đoàn 64 phóng hai quả tên lửa, bắn rơi tại chỗ một chiếc F-4. Đây là chiếc máy bay Mỹ đầu tiên bị bắn rơi bởi Bộ đội Tên lửa phòng không Việt Nam và là chiếc máy bay thứ 400 của không lực Mỹ bị ta bắn hạ. Ngay ngày hôm sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện chúc mừng đến toàn đơn vị. Người cũng căn dặn Bộ đội Tên lửa cần tiếp tục phối hợp đánh mạnh và đánh thắng lớn hơn nữa.

Sẵn sàng chiến đấu sau chiến công đầu, ngày 25-7 đơn vị của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Ninh tiếp tục triển khai trận địa dự bị. Ngày 26-7 phát hiện thấy tốp máy bay địch có nhiễu điện tử xâm lấn vùng trời miền Bắc, Tiểu đoàn 64 phóng hai quả tên lửa, bắn rơi một máy bay không người lái của địch mà lúc đầu cả kíp chiến đấu của ta cùng tổ chuyên gia quân sự Liên Xô đều tưởng là máy bay do thám U2.

Cuộc gặp gỡ kì diệu

Tổ chuyên gia quân sự của Thiếu tá I-li-nức ở lại hỗ trợ ta khoảng bốn tháng rồi về nước. Đồng chí Nguyễn Văn Ninh sau đó vẫn tiếp tục phục vụ trong quân đội và cũng trải qua vài lần thay đổi vị trí công tác nên cũng không còn liên hệ gì với các đồng chí bạn. Chỉ biết sau này đồng chí I-li-nức khi trở về U-crai-na được một thời gian thì lâm bệnh hiểm nghèo rồi qua đời. Đầu năm 2011, một đoàn cựu chiến binh (CCB) U-crai-na, trong đó có một đồng chí là trắc thủ ra-đa trong tổ chuyên gia quân sự Liên Xô năm xưa sang thăm Việt Nam. Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh được Quân chủng PKKQ và đơn vị cũ mời tham gia buổi gặp gỡ đặc biệt với đoàn CCB này. Khi đoàn CCB bạn đến, thấy một đồng chí có bộ râu nhác giống Thiếu tá I-li-nức cứ tự nhiên tiến thẳng về phía mình ông đã ngờ ngợ. Với vốn tiếng Nga ít ỏi của mình, Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh sau một hồi trò chuyện đã nhận ra người đồng đội cũ Đa-líp-sơ-ki Pê-tơ-rô.

Năm 1965, Đa-líp-sơ-ki Pê-tơ-rô là trắc thủ ra-đa trong tổ chuyên gia của I-li-nức. Theo trí nhớ của Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, Đa-líp-sơ-ki sống ở thành phố Ki-ép (Kiev, U-crai-na). Khi đến Việt Nam, ông còn rất trẻ chỉ chừng 22-23 tuổi, là một thanh niên rất nhanh nhẹn, linh hoạt và thân thiện. Trong kíp chiến đấu năm xưa Đa-líp-sơ-ki là trắc thủ ra-đa ở góc phương vị, ngay bên phải Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Ninh. Sau 46 năm mới có dịp trở lại Việt Nam Đa-líp-sơ-ki đã thông qua Đại sứ quán hai nước đề nghị gặp được người từng tham gia trận đánh đầu tiên của Bộ đội Tên lửa năm 1965. Đa-líp-sơ-ki trao tặng Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh cuốn nhật ký công tác và chiến đấu của các bạn trong thời gian ở Việt Nam. Ông hoàn toàn ngỡ ngàng khi nhìn lại hình ảnh và những dòng lưu bút của mình và đồng đội đã được các bạn giữ gìn rất cẩn thận. Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh kể: “Khi Đa-líp-sơ-ki lại gần tôi, ông ấy đưa cho tôi một tờ giấy nhỏ có ghi con số 400. Tôi hiểu ngay ông muốn nói đến chiếc máy bay thứ 400 của quân đội Mỹ bị bắn rơi trên vùng trời miền Bắc Việt Nam. Tôi hỏi lại: Có nhớ I-li-nức không? Đa-líp-sơ-ki chỉ gật đầu không nói gì cứ ôm ghì lấy tôi”.

Hai người lính ở hai đất nước cách xa nhau hàng nghìn km một thời từng hợp tác chiến đấu bên nhau đã gặp lại sau gần nửa thế kỷ-một điều tưởng chừng như không thể. Khi chia tay, tháo chiếc huy hiệu CCB đang đeo Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh gắn lên ngực Đa-líp-sơ-ki và nói: “Anh bây giờ là CCB Việt Nam”.

Bích Trang
qdnd.vn

Người anh hùng gần gũi

QĐND Online – Những ngày này, trong ngôi nhà nhỏ tại quận Tân Phú (TP Hồ Chí Minh) của ông Nguyễn Quốc Độ, Phó Chủ nhiệm CLB Khối vũ trang Biệt động Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định, không khí thật buồn sau khi ông biết tin Đại tá, anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Đức Hùng (bí danh Tư Chu) qua đời.

Đại tá, anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Đức Hùng (bí danh Tư Chu)

Trong cả thời chiến và thời bình, ông đã từng gặp gỡ và tiếp xúc với người được coi là “vị tướng biệt động” tài ba, nguyên là Chỉ huy trưởng lực lượng Biệt động Sài Gòn – Gia Định, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu Sài Gòn – Gia Định.

Với ông Độ, ngoài tài chỉ huy những trận đánh lớn, “vị tướng biệt động” Tư Chu còn là một cán bộ lãnh đạo sống giản dị và tình cảm, luôn quan tâm tới anh em. Câu chuyện về hai lần gặp gỡ “vị tướng biệt động” vẫn đọng lại trong ông nhiều cảm xúc…

Sau chiến dịch Mậu Thân 1968, chỉ huy Tư Chu được coi là một trong những mục tiêu “cần phải tiêu diệt ngay” của chính quyền Sài Gòn và quân đội Mỹ. Ông bị truy lùng ráo riết khắp nơi cả trong nội thành và ngoại ô, chúng treo thưởng 2 triệu USD cho ai bắt và giết được ông. Việc gặp gỡ và tiếp xúc với ông rất khó ngay cả với những người cùng đơn vị.

Giữa lúc “nước sôi lửa bỏng” như vậy, chiến sĩ trẻ Nguyễn Quốc Độ lại có cơ hội được gặp chỉ huy Tư Chu, người mà anh thường được nghe kể qua những trận đánh lớn của lực lượng biệt động Sài Gòn, làm chính quyền Ngụy và quân đội Mỹ khiếp sợ.

Hồi đó, ông Độ mới 22 tuổi và đang là giáo viên quân sự và văn hóa tại Trường thiếu sinh quân Lê Văn Tám thuộc Quân khu Sài Gòn – Gia Định. Ngày 20-6-1969, Trường được thành lập tại tỉnh Tây Ninh với gần 100 học viên, hầu hết là con em cán bộ chiến sĩ đang hoạt động trong nội thành.

Địa điểm gặp mặt là căn cứ đồi Thơ thuộc xã Hòa Hiệp, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vào cuối tháng 3-1972. Người giáo viên trẻ được dẫn tới một lán nhỏ nằm ngay trong trường. Trong lòng ông không khỏi hồi hộp muốn được biết người đã chỉ huy những trận đánh lớn làm nghiêng ngả Sài Gòn.

Trong đầu ông nghĩ rằng hình ảnh thủ trưởng là một chỉ huy oai phong, nghiêm khắc nhưng thật bất ngờ “vị tướng biệt động” đó thật giản dị và tình cảm.

– Em nghe về anh đã lâu, hôm nay mới có dịp gặp. Ông Độ nói.

– Cậu thấy tớ có gì ghê gớm không?

Phó Tư lệnh Quân khu Sài Gòn – Gia Đinh cười hỏi rồi kéo ông xuống ngồi cùng võng.

Chỉ huy Tư Chu hỏi thăm về gia đình ông và tình hình của trường. Ông Độ kể về những khó khăn của nhà trường như thiếu lương thực và thuốc men trong nhiều tháng, rồi trường thường xuyên phải đi sơ tán nhiều nơi do địch càn… Có thời gian dài, học viên của trường phải thường xuyên ăn cháo nấu với củ mài và ngọn lục bình.

Chỉ huy Tư Chu giải thích, trong trường chủ yếu là con em cán bộ, chiến sĩ ta đang hoạt động trong nội đô, nếu để địch bắt, chúng sẽ tạo sức ép lớn cho ta. Ông nói:

– Đây là nhiệm vụ quan trọng, các đồng chí sống thì các cháu phải an toàn, thay mặt bố mẹ nuôi dậy các cháu lên người. Các cháu đều là những hạt giống đỏ sau này đấy.

Sau đó, chỉ huy Tư Chu nhờ người giáo viên trẻ tìm đường ngắn nhất và bí mật đến thăm bếp ăn của trường. Lúc này, chị nuôi tên Ba Ngôn đang nấu bữa cơm chiều.

Vừa bước vào bếp, chỉ huy Tư Chu đã nói:

– Chị Ba có khỏe không?”

Chị nuôi giật mình quay lại đánh rơi chiếc đũa, không nói được câu nào. Chị bất ngờ khi thủ trưởng đến thăm trong thời điểm này.

– Chị đang nấu gì cho các cháu vậy?. Chỉ huy Tư Chu hỏi tiếp.

Chị Ba buồn rầu nói:

– Chúng tôi đang nấu bữa chiều cho các cháu và cả chúng tôi nữa, chỉ có gạo nấu với ngọn lục bình thôi.

Rồi chị khóc.

Vị chỉ huy cầm đũa khuấy vào nồi cháo lỏng cùng những ngọn lục bình xanh rờn. Ông nói:

– Các đồng chí và các cháu ăn như vậy thôi sao. Chúng tôi thấy có lỗi vì không lo đươc cho các cháu, nếu bố mẹ chúng biết được thì làm sao mà chiến đấu được.

Cả ba người đứng lặng yên. Nước mắt rơi xuống gương mặt người chỉ huy.

Cựu chiến binh Nguyễn Quốc Độ kể về những lần gặp gỡ chỉ huy Tư Chu

Những năm sau đó, Trường được ổn định và luôn có gạo dự trữ. Sau chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975 trường kết thúc khóa học cuối cùng. Nhiều thiếu sinh quân học tại trường sau này trở thành những tướng lĩnh cấp cao trong quân đội và cán bộ chủ chốt chính quyền.

Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ông Độ xin ra quân, học đại học và công tác tại một doanh nghiệp nhà nước. Đến năm 1996, ông được gặp thủ trưởng lần thứ 2. Lúc đó chỉ huy Tư Chu đang lâm bệnh nặng và nằm điều trị tại nhà.

Lần thứ hai cũng lại là một bất ngờ.

– Anh Tư còn nhớ em không?. Ông bước vào nhà và hỏi.

– Sao quên được mày, thằng Độ đúng không?.

Chỉ huy Tư Chu nói. Rồi ông lại hỏi tiếp:

– Mày có nhà cửa chưa?

Cựu chiến binh Độ bất ngờ bởi ông không nghĩ rằng thủ trưởng lại hỏi như vậy. Ông hỏi:

– Sao anh lại hỏi em như vậy?

– Không, tao biết, có nhiều anh em sau chiến tranh cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn lắm.

Ông Độ cảm nhận được tình cảm của người chỉ huy quan tâm tới anh em.

Quả đúng như vậy, trong thời gian lâm bệnh nặng nhưng ông vẫn luôn quan tâm tới gia đình các đồng đội. Nhiều đồng đội ông coi như anh em đã hi sinh trong các trận đánh, trong đó có những bí số, bí danh không ai biết.

Câu chuyện của người cựu chiến binh già kết thúc khi vợ ông hỏi về giờ đưa đám tang chỉ huy Tư Chu. Sáng mai (19-5), hai vợ chồng ông sẽ đưa “vị tướng biệt động” tới nơi an nghỉ cuối cùng…

Xuân Duy ghi
qdnd.vn