Thư viện

Địa thế

Ở vào mỗi địa thế, phương pháp dụng binh mỗi khác. Nếu không tuỳ từng địa thế để thay đổi phương pháp, đánh trận không thể thắng được. Có khi hãm vào chỗ đất chết mà được sống, có khi vào chỗ đất sống hẳn hoi mà bị chết. Cho nên ra trận, phải biết phân biệt địa thế. Có phân biệt được địa thế mới biết áp dụng phương pháp đánh trận một cách có hiệu quả. Theo Tôn Tử, về quân sự có 9 thứ địa thế và gặp mỗi địa thế phải ứng dụng phương pháp đánh trận thích hợp với địa thế ấy mới có lợi.

1- Khi địch đã xâm nhập vào nước mình nghĩa là khi cùng với quân địch giao chiến ngay trên đất nước mình thì phải dùng phương pháp cố thủ và đồng thời dùng kế vườn không nhà trống, làm cho địch dù có chiếm được thành trì, đất đai cũng bằng vô dụng, ngoài ra còn phải làm rối loạn hậu phương của chúng, làm cho chúng mất liên lạc và bị hãm vào thế cô lập. Khi Nã Phá Luân đem quân tiến sâu vào nước Nga bị thua liểng xiểng vì quân Nga đã thực hành kế vườn không nhà trống.

2- Khi tiến quân vào nước địch, quân sĩ chưa có quyết tâm đánh trận vì lòng nhớ quê hương còn nặng, sự lo ngại còn nhiều nên chỉ nghĩ đến việc trốn tránh. Vậy lúc này không nên đóng quân lại mà phải tìm cách tiến sâu vào đất địch, làm cho binh sĩ phải cố kết và hết sức phấn đấu vì nếu không sẽ bị tiêu diệt.

3- Khi gặp một địa điểm nào quân mình hay quân địch chiếm được đều có lợi, nghĩa là hai bên cần phải tranh cướp nhau, thì lúc đó, mình phải đem hết binh lực để chiếm cho kỳ được. Nếu quân địch đã chiếm địa điểm ấy trước rồi, mình không nên cố đánh để cướp lại vì phải hao tổn nhiều. Vậy phải dùng bộ đội đánh vận động chiến, cùng với quân địch chiến đấu ngoài phạm vi đó, hoặc đánh ở một nơi trọng yếu khác của chúng, làm cho chúng phải đem quân đi cứu viện, mình sẽ thừa cơ mà cướp lấy. Như hồi Âu chiến trước, Đức gấp đem quân chiếm nước Bỉ, rồi dùng địa điểm đó làm cǎn cứ phái phi cơ sang đánh Luân Đôn. Do đó quân của Hiệp ước bị uy hiếp và bị hãm vào thế bất lợi.

4- Gặp địa thế nào tiện lợi cho việc giao thông đi lại của cả đôi bên, như biên giới của hai nước, không nên đem quân ngǎn đường cản lối của quân địch, trái lại phải tập trung binh lực đánh thật ráo riết mới có lợi. Chúng ta đã được mục kích rất nhiều trận kịch chiến giữa biên giới các nước như những trận kịch chiến ở biên giới Đức- Pháp từ trận chiến tranh 1870 đến trận đại chiến vừa rồi.

5- Đối với nước trung lập ở vào giữa ba nước – nước mình, nước địch và nước thứ ba nữa. Như nước Bỉ trong hồi Âu chiến, mình phải hết sức thân thiện hoặc kết thành đồng minh giúp phe mình chống phe địch. Trong khi hai nước giao chiến với nhau, nước trung lập ngả về phe nào, phe ấy thắng.

6- Khi đã vào sâu nước địch rồi, nhưng vì núi non cách trở, đường vận tải lương thực khó khǎn hay bị đoạn tuyệt, lúc đó phải đánh cướp lấy quân lương của địch làm quân lương của mình. Nếu thiếu lương, quân sĩ sẽ mất tinh thần chiến đấu và sẽ bị quân địch tiêu diệt dễ dàng.

7- Gặp nơi rừng núi, sông ngòi hiểm trở, dễ bị quân địch đánh úp bất ngờ, dù mình có binh lực lớn, không thể chống lại với quân địch, nên phải gấp qua những nơi đó, nhanh chừng nào hay chừng nấy.

8- Tiến vào chỗ đường hẻm quanh co, tiến thoái rất khó, phải xem hoàn cảnh, địa thế và tình hình của địch để quyết định chiến pháp, như đắp ụ, đào hố giả, làm cho địch tưởng mình có phòng ngự thật hoặc phái người sang trá hàng để thừa cơ thoát hiểm.

9- Bị hãm vào chỗ đất chết, như bị bao vây ngày càng chặt thêm, bao nhiêu đường lối đều bị nghẽn tắc, hoặc không còn có chỗ nào để thoát hiểm được, hoặc giáp chiến với địch mà hết cả lương thực, thì phải quyết liệt chiến đấu để phá phòng tuyến của địch một cách thật nhanh chóng, mới có hy vọng sống còn. Nếu trong lúc này do dự trù trừ sẽ bị tiêu diệt. Quân sĩ bị hãm vào chỗ nguy khốn, không đánh cũng chết, nên phải quyết tâm chiến đấu để thoát chết. Do đó, hãm vào đất chết mà được sống.

Q.T.

Báo Cứu quốc, số 399,
ngày 8-11-1946.
cpv.org.vn

Điện vǎn gửi Thống chế Xtalin nhân dịp kỷ niệm lần thứ 29 Cách mạng Tháng Mười

Nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười(45) , nhân danh dân chúng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và riêng cá nhân tôi, kính gửi dân chúng Liên bang Xôviết và kính gửi Ngài lời khánh chúc nhiệt thành của chúng tôi.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 400,
ngày 9-11-1946.
cpv.org.vn

Lời phát biểu tại phiên họp bế mạc Kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (46)

Hơn 10 ngày nay, các đại biểu đã khó nhọc làm việc. Quốc hội đã thu được một kết quả làm vẻ vang cho đất nước là đã thảo luận xong bản Hiến pháp. Sau khi nước nhà mới tự do được 14 tháng, đã làm thành được bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà (47) . Bản Hiến pháp đó còn là một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi á Đông này nữa. Bản Hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân. Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp.

Chính phủ cố gắng làm theo đúng ba chính sách: Dân sinh, Dân quyền và Dân tộc.

Chúng ta không mong gì hơn nhưng chúng ta không chịu gì kém. Quốc hội đã thông qua bản Luật lao động. Kiến thiết phải sản xuất. Sản xuất phải cần có sức lao động.

Chính phủ cám ơn các đại biểu về những công tác đã qua. Và nhờ các đại biểu giúp những công tác sắp tới.

Chính phủ nhờ các đại biểu làm cho sự liên hiệp quốc dân mỗi ngày một thêm vững, một lan rộng hơn nữa. Các đại biểu thực hiện đời sống mới khắp các nơi. Và khuyên nhân dân tǎng gia sản xuất, đi học các lớp bình dân học vụ.

Toàn cả nhân dân và Chính phủ nhất trí, chúng ta thế nào cũng đạt được độc lập, thống nhất, nước mạnh, dân giàu.

Phát biểu ngày 9-11-1946.
Báo Cứu quốc, số 401,
ngày 10-11-1946.
cpv.org.vn

—————————

46. Kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà họp từ ngày 28-10 đến ngày 9-11-1946, tại Nhà hát thành phố Hà Nội. Tham dự kỳ họp có 300 đại biểu các tỉnh, thành.

Quốc hội đã nghe báo cáo công tác của Chính phủ, thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước ta và thành lập Chính phủ mới.

Đồng chí Tôn Đức Thắng, đại biểu Nam Bộ, được bầu làm Trưởng đoàn Chủ tịch kỳ họp. Theo đề nghị của đoàn đại biểu Nam Bộ, toàn thể Quốc hội đã nhất trí bày tỏ lòng tin tưởng tuyệt đối của nhân dân cả nước đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và suy tôn Người là Người công dân thứ nhất đã sáng suốt đưa nước nhà ra khỏi vòng nô lệ.

Quốc hội đã nghe đại diện Chính phủ báo cáo công tác của Chính phủ; nghe đồng chí Phạm Vǎn Đồng báo cáo hoạt động của Đoàn đại biểu Chính phủ ta tại Hội nghị Phôngtennơblô và việc ký kết Tạm ước 14-9. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời các câu hỏi của các đại biểu về chính sách ngoại giao của Chính phủ.
Quốc hội đã uỷ nhiệm cho Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức một Chính phủ mới, một Chính phủ không có bọn phản động tham gia. Quốc hội đã thảo luận một cách dân chủ bản dự thảo Hiến pháp do Uỷ ban dự thảo Hiến pháp trình bày. Ngày 9-11-1946, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong phiên họp bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu ý kiến nêu rõ ý nghĩa trọng đại của bản Hiến pháp lịch sử này. Tr.440.

47. Song song với việc chuẩn bị tổ chức cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, theo Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời, ngày 20-9-1945, một Uỷ ban dự thảo Hiến pháp đã được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì.

Sau một thời gian làm việc khẩn trương, tháng 10-1946, bản Dự thảo Hiến pháp đã được hoàn thành. Tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã nghe Uỷ ban dự thảo Hiến pháp trình bày bản Dự thảo. Sau khi thảo luận một cách dân chủ, ngày 9-11-1946, bản Dự thảo Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua. Nội dung bản Hiến pháp gồm Lời nói đầu và 70 điều được phân thành 7 chương, quy định chính thể, nghĩa vụ và quyền lợi của công dân, cơ cấu của Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp, Cơ quan tư pháp và quy định việc sửa đổi Hiến pháp. Việc công bố Hiến pháp có một ý nghĩa to lớn. Đó chẳng những là bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta, mà còn là bản Hiến pháp dân chủ tiến bộ nhất ở Đông – Nam châu á lúc bấy giờ. Tr.440

Trả lời thư phản kháng của Thượng sứ Pháp

Uỷ ban hành chính lâm thời Nam Bộ thành lập từ tháng 8 nǎm 1945, dưới quyền chỉ huy của Chính phủ trung ương và vẫn tiếp tục làm việc tới ngày nay. Uỷ ban đó lại đã từng giao thiệp chính thức với các nhà cầm quyền quân sự Đồng minh và Pháp hồi tháng 10 nǎm ngoái.

Việc ở Nam Bộ vừa có một quân đội chiếm đóng, vừa có các cơ quan hành chính và quân sự Việt Nam đã được bản Hiệp định sơ bộ 6-3 và bản Tạm ước 14-9 công nhận. Theo các bản thoả hiệp đó thì tình hình Nam Bộ phải để nguyên cho đến ngày trưng cầu dân ý.

Chính phủ Việt Nam có thể nói chắc với Ngài rằng những sự hoạt động của Uỷ ban hành chính lâm thời Nam Bộ cũng như các cơ quan quân sự Việt Nam, chỉ là để đi đến sự thi hành triệt để các điều khoản về chính trị và quân sự của khoản 9 trong bản Tạm ước nói về Nam Bộ và chỉ có thể giúp cho chính sách hợp tác thân thiện mà cả hai Chính phủ ta đều mong muốn có thể thực hiện dễ dàng.

Hồ Chí Minh

Viết ngày 9-11-1946.
Báo Cứu quốc, số 401,
ngày 10-11-1946.
cpv.org.vn

Phương pháp chiến đấu và hành quân trên các địa hình

1- Vùng có nhiều núi non hiểm trở.

Khi phải đi qua những vùng núi, không nên vượt qua núi, phải theo đường thung lũng hay suối nước chảy mà tiến vì ở đấy mới dễ tìm lương thực cho binh sĩ và nước cỏ cho lừa ngựa. Đến nơi nào, thấy đường lối giao thông tiện lợi một chút, nên chiếm địa điểm nào cao nhất để lập trận địa. Nếu đã thấy quân địch chiếm trước địa điểm ấy rồi, không nên đánh vỗ mặt. Tốt hơn hết là phải áp dụng vận động chiến đánh lối quanh co, hay dụ địch rồi sẽ giao chiến. Nhưng ngày nay nhờ có tàu bay, đại bác, xe tǎng nên tiến đánh quân địch ở vùng núi non không khó khǎn như trước.

2- Vùng có nhiều sông ngòi.

Khi phải qua sông ngòi phải tiến quân thật nhanh, càng thoát xa được những sông ngòi cách trở ấy, càng có lợi. Gặp quân địch đương qua sông, không nên giao chiến trên mặt nước. Đợi chúng lên bờ được một nửa, sẽ tấn công làm cho chúng bị đứt làm hai đoạn, không thể liên lạc được với nhau. Nếu phải tác chiến với quân địch ở vùng có sông ngòi, không nên đóng quân trên dọc bờ sông ngòi, phải tìm nơi nào cao hơn chỗ quân địch đóng và ở vào thượng lưu sông và khi cần qua sông, phải nên theo xuôi dòng nước mà sang ngang.

Lúc qua sông, không nên chậm trễ, làm trở ngại cho bộ đội đằng sau và đồng thời không thể không sửa soạn đề phòng quân địch đến đánh úp được.

3- Vùng bùn lầy hay đầm ao.

Khi qua những vùng này, nên cấp tốc tiến quân không nên dừng lại, vì khí hậu ẩm thấp sẽ làm cho binh sĩ và lừa ngựa dễ sinh bệnh. Nếu bất đắc dĩ phải cùng với quân địch giao chiến, nên chiếm cứ những nơi nào có cây cối rậm rạp để làm thế dựa lưng.

4- Vùng đồng bằng.

Tiến quân trong vùng này nên chiếm cứ những nơi giao thông tiện lợi nhất. Lúc đóng quân phải chọn nơi nào bên phải có gò đống cao để tiện phòng ngự. Như vậy, chỉ phải đối phó với quân địch về mặt trái thôi. Lại còn phải chú ý đến cả chiều gió và ánh sáng mặt giời. Nếu quay về phía mặt giời sẽ bị loá mắt nên bắn khó trúng. Và thuận theo chiều gió thì không bị bụi mù làm trở ngại mọi hành động.

Tóm lại trong lúc tiến quân, cần phải tránh những địa điểm nguy hiểm sau đây:

a- Đường độc đạo lên dốc núi cao.

b- Thung lũng trũng, chung quanh có núi cao bao bọc.

c- Khu rừng núi quanh co tiến vào dễ nhưng ra khó.

d- Những nơi cây cối um tùm, gai góc rậm rạp tiến thoái không được tự do.

e- Những đồng lầy.

f- Những đường độc đạo.

Nếu gặp những địa điểm trên này, không nên đến gần, phải phái quân đi dò xét cẩn thận để xem có quân mai phục hay quân do thám của địch ẩn núp mà tránh xa ra. Bất đắc dĩ phải chiến đấu thì nên dụ địch đến gần đó rồi mình sẽ đưa chúng vào bẫy làm cho chúng không thể hành động gì được.

Q.T. thuật

Báo Cứu quốc, số 406,
ngày 15-11-1946.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào toàn quốc

Cùng đồng bào toàn quốc,

Hàng ngày tôi lưu tâm đến công cuộc “Mùa đông binh sĩ”. Thấy các tôn giáo, các báo chí, các đoàn thể, các thân hào và toàn thể đồng bào đều sốt sắng tham gia, tôi rất vui lòng và cảm động.

Tôi xin thay mặt Chính phủ và Quân đội cảm tạ tấm lòng nhiệt thành của quốc dân. Chiếc áo trấn thủ mà đồng bào sẽ gửi cho anh em binh sĩ, trong mùa rét này, chẳng những sẽ giúp anh em giữ được sức mạnh để bảo vệ đất nước, mà lại còn khiến anh em luôn luôn nhớ đến tình thân ái nồng nàn của đồng bào ở hậu phương.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 406,
ngày 15-11-1946.
cpv.org.vn

Trả lời các nhà báo trong nước và nước ngoài

– Về kết quả của cuộc Tổng tuyển cử bên Pháp, nhất là ảnh hưởng của nó đối với nước Việt Nam?

– Người ta đã bàn tán nhiều rồi về sự thắng lợi của phái tả hay phái hữu trong cuộc Tổng tuyển cử này. Nhưng dù là phái hữu thắng hay phái tả thắng, nhân dân Pháp bao giờ cũng vẫn như trước: nghĩa là ủng hộ nền độc lập và thống nhất của Việt Nam. Điều đó tôi đã nhận thấy hồi tôi qua Pháp. Còn dân Việt Nam, thì dù phái hữu thắng hay phái tả thắng trong cuộc tuyển cử ở Pháp, dân Việt Nam cũng phải đòi cho được độc lập và thống nhất, tuy vẫn ở trong khối Liên hiệp Pháp. Người ta nói sự liên hợp làm nên sức mạnh. Vào trong khối Liên hiệp Pháp, cái đó vừa lợi cho nước chúng tôi và lợi cho cả nước Pháp nữa.

– Về sự thi hành bản Tạm ước 14-9?

– Như các ngài đã biết, chúng tôi nhất định thi hành thành thật những điều chúng tôi đã ký. Bản Tạm ước ấy sẽ dọn đường cho hai nước đi tới một sự hợp tác trên lập trường tự do có lợi cho cả hai nước. Tôi nhắc lại rằng những quyền lợi kinh tế, vǎn hoá, v.v. của người Pháp, chúng tôi đã hứa tôn trọng và chúng tôi sẽ tôn trọng. Cốt nhiên, chúng tôi mong rằng các bạn người Pháp hiểu cho như vậy và sự tôn trọng ấy phải có lợi cho cả hai bên. Một chứng cớ tỏ ra nhân dân Việt Nam muốn thân thiện với nhân dân Pháp đó là Hội Việt – Pháp vừa được thành lập. Mấy hôm nay, giọng các báo Pháp và của Đài phát thanh Sài Gòn có hơi thay đổi: tôi nghĩ rằng trong “tình yêu” (!) cũng có khi có những nhịp điệu lên xuống như vậy.

– Những kết quả của sự thi hành Tạm ước từ 30 tháng 10 tới giờ?

– Một vài kết quả nào đó, nhưng không phải những kết quả mà chúng ta chờ đợi. Thí dụ, chúng tôi đã đề nghị cử một vị đại diện Việt Nam ở bên cạnh viên Thượng sứ Pháp quốc Cộng hoà, nhưng chưa được trả lời. Chúng tôi đã sẵn sàng làm việc, vậy mà trừ tiểu ban quân sự, các tiểu ban khác đã định trong Tạm ước vẫn chưa thấy tới. Ngoài ra, trong vài bức thư của ông Thượng sứ Pháp mới đây có những câu mà thường thường từ trước tới giờ ông chưa dùng bao giờ. Ông nói những là “đình chỉ sự thi hành bản Tạm ước”, những là “các nhà cầm quyền Pháp ở Nam Bộ sẽ bắt buộc phải trừng trị, nếu …”. Tất cả những câu ấy không được. Người ta có thể là bạn với nhau được, nhưng không phải những câu như thế có thể giúp cho sự hiểu nhau. Có những thí dụ khác nữa mà tôi rất tiếc phải kể ra đây. Sự khủng bố ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ vẫn chưa dứt. Ngày 3 tháng 11, ở Gia Định trong miền Tân Sơn Nhất, quân đội Pháp đến vây dân chúng Việt Nam và giết mất hai người. Ngày 4 ở Gò Công, dân chúng Việt Nam đương biểu tình đòi thi hành đúng bản Tạm ước thì quân Pháp đến bắn sả vào, một người chết và nhiều người bị thương. ở Bà Rịa cũng chuyện như vậy, hai người chết. ở Nha Trang cũng thế, nhưng nghiêm trọng hơn: dân chúng mất bảy người chết. Còn nhiều việc đáng tiếc khác nữa. Sự giải phóng các chính trị phạm vẫn ngừng trệ và chỉ như có một tính cách tượng trưng, còn một số rất đông vẫn bị bắt bớ, giam cầm, vẫn bị đày đi ra Côn Đảo và các nơi khác. ở Bắc Bộ, việc hàng hoá ra vào bị ngǎn trở. Điều ấy không những có hại cho dân Việt Nam mà cho cả các bạn người Pháp và người Trung Hoa nữa. Tôi tin rằng những sự hiểu lầm ấy sẽ hết. Nếu sự buôn bán, làm lụng được dễ dàng hơn, cái đó không phải chỉ chúng tôi được hưởng không thôi, mà cả các bạn Pháp và Trung Hoa nữa.

Còn về Liên bang Đông Dương, chúng tôi cũng muốn gia nhập vào đó như vào khối Liên hiệp Pháp. Nhưng chúng tôi vào đấy là để cùng giữ lợi ích chung, chứ không phải để chết ngạt trong đó. Nếu người ta muốn dùng chữ Liên bang Đông Dương để làm thành một cái gì giam trói, ràng buộc quyền tự do, quyền sinh hoạt của chúng tôi, nhất định không thể xong được. Bởi vì ai cũng muốn sống tự do. Và không ai nên tìm cách lừa bịp lẫn nhau.

– Về sự giao thiệp giữa Việt Nam và Trung Hoa?

– Tôi lấy làm lạ rằng sao người ta lại còn phải hỏi một câu tôi đã trả lời bao nhiêu lần rồi. Về lịch sử, địa dư, vǎn hoá, kinh tế, Việt Nam và Trung Hoa bao giờ cũng vẫn có quan hệ với nhau, như môi với rǎng. Nhưng nếu các nhà cầm quyền Trung Hoa đã bàn về vấn đề có can dự đến Việt Nam mà dân Việt Nam không được biết thì chúng tôi không chịu trách nhiệm. Tôi tin rằng theo chủ nghĩa của bác sĩ Tôn Dật Tiên và ý tưởng của Thống chế Tưởng Giới Thạch, không người Trung Hoa nào sẽ làm gì phạm tới chủ quyền và quyền lợi nước Việt Nam.

– Sự giao thiệp của Việt Nam với ấn Độ?

– Rất thân thiện. Mới đây, tôi nhận được lời mời tham dự vào Hội nghị Liên á họp ở ấn Độ sang nǎm. Khi tôi qua ấn Độ, các bạn ấn đã tiếp đón tôi một cách rất thân mật.

*

*      *

Để kết luận, tôi mong rằng những hiểu lầm giữa hai bên Việt – Pháp sẽ được tiêu tán đi, để cho hai bên sau đây sẽ cùng bước mau đến một sự hợp tác mà ai cũng muốn. Tôi yêu cầu các bạn Pháp tin ở chúng tôi; chúng tôi nhất quyết giữ lời hứa. Có người hỏi: Tại sao những giao tiếp cá nhân giữa người Pháp và người Việt Nam bây giờ rất hiếm? Chúng tôi không bao giờ làm gì ngǎn trở, gây khó khǎn cho những cuộc gặp gỡ ấy. Trái lại, chúng tôi còn muốn khuyến khích những sự tiếp xúc đó nữa. Vì những cuộc đó dễ làm tan những mối hiểu lầm và làm nảy nở tình thân thiện. Tôi mong rằng sau đây những cuộc giao thiệp gặp gỡ nhau ấy sẽ có luôn. Cái đó chỉ do các bạn người Pháp thật tâm muốn là được.

Trả lời ngày 16-11-1946.

Báo Cứu quốc, số 408,
ngày 17-11-1946.
cpv.org.vn

Gửi nhi đồng Xã Ba, Lao Cai

Các cháu yêu quý,

Bác đã nhận được thư và hai cái gậy roi. Cảm ơn các cháu.

Tuy Bác ở xa, nhưng lòng Bác nhớ đến các cháu luôn luôn.

Bác khuyên các cháu giữ gìn kỷ luật, và ra sức học hành.

Cháu nào chưa biết chữ quốc ngữ, phải học cho biết.

Cháu nào biết rồi, thì gắng giúp anh em chị em học cho biết.

Làm sao cho đồng bào ở Xã Ba ai cũng biết chữ quốc ngữ, thì Bác sẽ vui lòng và khen các cháu ngoan.

Bác thay mặt cho anh chị em nhi đồng Hà Nội, gửi lời thân ái thǎm các cháu.

Hà Nội, ngày 19 tháng 11 nǎm 1946
Bác Hồ

Báo Cứu quốc, số 411,
ngày 20-11-1946.
cpv.org.vn

Tìm người tài đức

Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức.

E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận.

Nay muốn sửa đổi điều đó, và trọng dụng những kẻ hiền nǎng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết.

Báo cáo phải nói rõ: tên tuổi, nghề nghiệp, tài nǎng, nguyện vọng và chỗ ở của người đó.

Hạn trong một tháng, các cơ quan địa phương phải báo cáo cho đủ.

Chủ tịch Chính phủ Việt Nam
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 411,
ngày 20-11-1946.
cpv.org.vn

Thư gửi tướng Moóclie

Hà Nội, ngày 21 tháng 11 nǎm 1946

Thưa Ngài,

Tôi đã tiếp nhận thư của Ngài đề ngày 20-11-1946, về những việc vừa xảy ra ở Hải Phòng.

Ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của Chính phủ tôi, trong một bức thư đề ngày hôm nay sẽ đặt lại các việc xảy ra trong thực trạng của nó.

Tôi chỉ xin Ngài chú ý rằng cǎn cứ vào những việc đã xảy ra thì trách nhiệm quy vào bộ đội Pháp ở Hải Phòng, đã bắn trước vào bộ đội Việt Nam và đã tiếp tục gây hấn, mặc dầu đã có lệnh thôi bắn của các nhà chức trách quân sự trung ương Pháp và Việt Nam ở Hà Nội.

Dù sao tôi cũng mong rằng bản ký kết giữa Đại tá Lami và ông Thứ trưởng Bộ Nội vụ của chúng tôi sẽ được thi hành, và tôi cũng lại mong phái đoàn Việt – Pháp đi từ Hà Nội sáng nay sẽ đạt được kết quả là ổn định tình thế ở Hải Phòng.

Kính chào Ngài
Chủ tịch Chính phủ
Dân chủ Cộng hoà Việt Nam
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 413,
ngày 22-11-1946.
cpv.org.vn

Bắc cực: một địa điểm quan trọng cho chiến lược quân sự sau này

Khoa học càng phát triển, xe cộ, tàu bò càng tinh xảo, đường giao thông càng tiện lợi. Hàng ngàn trùng dương rút gần như gang tấc. Núi cao rừng rậm không còn là hiểm trở. Không trung rộng lớn bao la cũng coi là bé nhỏ. Hàn đới, bǎng tuyết quanh nǎm cũng chẳng phải là nơi người không thể để chân đến được. Rồi đây, bốn bể một nhà, những vùng giá lạnh trên Bắc Cực sẽ thành những thị trấn phồn hoa đô hội chẳng kém gì ở vùng ôn đới.

Trước chiến tranh, Mỹ, Liên Xô và Gia Nã Đại (1) đã là những nước láng giềng gần. Sau chiến tranh, Liên Xô lại đã vươn tay sang đến Thái Bình Dương. Do đó sự quan hệ giữa ba nước sẽ thay đổi và sẽ trở thành nghiêm trọng.

Gần đây, nước Mỹ chẳng những đã làm bá chủ trên mặt Thái Bình Dương, lại còn muốn xây dựng thế lực quân sự cả ở Bắc Bǎng Dương. Một chứng cớ hiển nhiên là nước Mỹ đã cho thí nghiệm những cuộc chiến tranh hải quân và không quân ở những vùng đó trong mấy tháng vừa qua.

Xưa nay Liên Xô vẫn là có thế lực về mặt Bắc Bǎng Dương. Nếu sau này, tàu bay và tàu biển sẽ qua lại được trên Bắc Bǎng Dương, thế lực của Mỹ sẽ tràn lan tới đó sẽ là một mối lo cho Liên Xô.

Sau cuộc Cách mạng Tháng Mười, Liên Xô đã gấp rút tiến hành những cuộc thám hiểm trên miền Bắc Cực. Những sự hoạt động đó chỉ có mục đích chinh phục những vùng bǎng giá và khai phá ở đó các nguồn lợi thiên nhiên. Còn công cuộc của hai nước Mỹ và Gia Nã Đại đương tiến hành ngày nay toàn là những công cuộc thí nghiệm về quân sự. Người ta thấy bộ đội và từng đoàn xe tǎng, xe phun lửa, và xe hơi trượt tuyết kéo lên tập trận giả ở Bắc Gia Nã Đại. Nghe đâu lần tập trận giả này là để xem binh sĩ có thể đánh trận ở miền cực rét được không và các chiến cụ đem dùng ở đó có gặp trở lực gì khó khǎn không, để dự định đi tới một cuộc tập trận giả lớn khác có đủ cả hải, lục, không quân tham dự.

Theo giới không quân Mỹ, rồi đây sẽ có những trường tàu bay thiết lập tại Bắc Cực, vì Mỹ cho rằng nếu sau này xảy ra chiến tranh, Bắc Cực sẽ trở thành một vị trí quân sự quan trọng nhất. Đặt những cǎn cứ quân sự ở Bắc Cực, hình như Mỹ có ý đồ đối phó với Liên Xô sau này.

Đứng về địa lý mà xét, Bắc Cực là nơi châu Mỹ và châu á liên tiếp với nhau gần nhất, nên giữa ba châu Âu, á, Mỹ, đường hàng không ngắn nhất cũng là đường qua Bắc Cực. Trong trận chiến tranh vừa qua, tàu bay Mỹ bay sang Liên Xô đều qua lại vùng đó. ở miền tây bắc Gia Nã Đại nhất là miền Alaxka, hiện nay đã thấy mở ra rất nhiều đường ô tô chuyên dùng về việc quân.

Nếu sau này những đường giao thông ấy chỉ dùng về việc mở mang miền Bắc Cực thì biết đâu một vùng hoang vu lạnh lẽo xưa nay chẳng biến thành nơi phồn hoa, đô hội của thế giới. Rồi có thể đặt đường sắt qua eo bể Bêrinh để nối liền châu á với châu Mỹ lại với nhau, tưởng cũng không phải là một việc khó gì.

Nhưng hai nước Mỹ và Gia Nã Đại có phải nhằm mục đích đó để tiến đâu. Trừ những cǎn cứ quân sự ra, người ta không thấy một hành động nào để đem ánh sáng vǎn minh lên miền Bắc Cực cả. Bắc Cực sẽ là nơi hoạt động của nhân loại hay là nơi phá hoại vǎn minh của nhân loại, chúng ta chưa thể đoán định được. Có một điều làm cho chúng ta bǎn khoǎn là nước Mỹ một mặt vẫn hô hào hoà bình, một mặt lại vẫn chuẩn bị lực lượng quân sự về không quân cũng như về hải quân. Độc quyền bí mật nguyên tử, hợp hải, lục, không quân làm thành Bộ Quốc phòng, thí nghiệm quân sự và đặt cǎn cứ quân sự trên miền Bắc Cực có phải để kiến thiết hoà bình thế giới hay để đi đến chiến tranh?

Dù sao mặc lòng, sau bao nǎm đau khổ vì chiến tranh, nếu lại chuẩn bị chiến tranh nhất định dân chúng thế giới sẽ phản đối.

Q.T. thuật

Báo Cứu quốc, số 413.
ngày 22-11-1946.
cpv.org.vn

———————————-

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Lời khuyên sinh viên Trường quân y

Phải chǎm lo học hành và gắng thực hiện 5 điều: HĂNG HÁI, HY SINH, BÁC ÁI, ĐOÀN KẾT, KỶ LUẬT

Báo Cứu quốc, số 414,
ngày 23-11-1946.
cpv.org.vn