Thư viện

Tuyên bố chính sách của Chính phủ liên hiệp lâm thời

Vì muốn tranh thủ hoàn toàn nền độc lập, muốn có sự hợp tác chặt chẽ giữa các đảng phái để làm cho Chính phủ mạnh mẽ thêm, nên nay đổi thành Chính phủ liên hiệp lâm thời. Trong giai đoạn này, các đảng phái đoàn kết thì Chính phủ mới vượt qua được các cơn sóng gió. Hết thảy quốc dân Việt Nam ai cũng mong chờ Chính phủ liên hiệp lâm thời giữ chức đến Quốc hội thì sẽ đổi thành Chính phủ liên hiệp chính thức. Từ nay đến Quốc hội, Chính phủ liên hiệp lâm thời sẽ bàn đến các vấn đề sau:

CHƯƠNG TRÌNH ĐỐI NỘI

a) Chính trị:

1. Làm cho cuộc Tổng tuyển cử toàn quốc được mỹ mãn.

2. Thống nhất các cơ quan hành chính theo nguyên tắc dân chủ.

b) Kinh tế:

1. Ra sức duy trì nông nghiệp.

2. Ra sức khuyến khích giồng giọt, chǎn nuôi để tránh nạn đói.

c) Quân sự: Thống nhất các bộ đội võ trang dưới quyền chỉ huy của Chính phủ. Các đảng phái không được có quân đội riêng.

d) Vǎn hoá: Giúp đỡ các cơ quan vǎn hoá.

Nói tóm lại, đối nội, Chính phủ phải ra sức thống nhất chính trị, tǎng gia sản xuất để chống nạn đói và nạn ngoại xâm.

CHƯƠNG TRÌNH ĐỐI NGOẠI

Làm sao cho các nước công nhận nền độc lập của nước Việt Nam. Thân thiện với các kiều dân ngoại quốc, nhất là Hoa kiều. Đối với Pháp, chỉ đánh bọn thực dân, còn đối với những kiều dân không làm hại gì cho nền độc lập của ta, ta sẽ phải bảo vệ tính mệnh và tài sản của họ.

Đó là chính sách của Chính phủ liên hiệp lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Mong toàn dân ủng hộ để Chính phủ có thể đi đến thành công.

Việt Nam độc lập muôn nǎm!

Báo Sự thật, số 10, ngày 9-1-1946.
cpv.org.vn

Lời cảm ơn

Thưa quý Hội (1),

Tôi trân trọng cảm ơn quý Hội đã quyên nhà, quyên tiền giúp cho quỹ Cứu tế, quỹ Kháng chiến và quỹ Độc lập.

Có người nói: “Hồ Chí Minh không biết làm gì, chỉ nay cảm ơn người này, mai cảm ơn người khác”. Vâng! Tôi vui lòng nhận lời phê bình ấy! Hơn nữa, tôi mong rằng ngày nào tôi cũng phải viết nhiều thư cảm ơn, vì như thế chứng minh rằng đồng bào ta đã sốt sắng thực hành cái khẩu hiệu:

“Ai có tiền giúp tiền, ai có sức giúp sức”.

Quốc dân ta đã hiệp lực đồng tâm, đã đoàn kết chặt chẽ, thì kháng chiến nhất định thắng lợi, kiến quốc nhất định thành công.

Sau đây, tôi nhắc lại rằng nhiều đoàn thể và cá nhân các nơi, và nhiều trẻ em các nơi đã sốt sắng quyên giúp quỹ Cứu tế, quỹ Kháng chiến và quỹ Độc lập.

Tiếc vì bận quá, tôi không cảm ơn khắp được. Vậy tôi xin các đồng bào tha lỗi cho.

Lời chào thân ái.
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 131, ngày 2-1-1946
cpv.org.vn

——————————–

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Thông đạt

Hà Nội, ngày 3 tháng 1 nǎm 1946

Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

Gửi các ông Bộ trưởng,

Xét rằng một vài công sở đã tự tiện huỷ bỏ hay bán các công vǎn và hồ sơ cũ. Hành động ấy có tính cách phá hoại, vì sẽ làm mất những tài liệu có giá trị đặc biệt về phương diện kiến thiết quốc gia.

Vậy yêu cầu các ông Bộ trưởng ban chỉ thị cho nhân viên các sở phải gìn giữ tất cả các công vǎn, tài liệu và cấm không được huỷ những công vǎn, tài liệu ấy nếu không có lệnh trên rõ rệt cho phép huỷ bỏ.

Xin nhắc rằng những hồ sơ hoặc công vǎn không cần dùng sau này sẽ phải gửi về những sở lưu trữ công vǎn thuộc Bộ Quốc gia giáo dục để tàng trữ.

Những viên chức không tuân lệnh này sẽ bị nghiêm trị.

Hồ Chí Minh

Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I
cpv.org.vn

Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu

Ngày mai mồng 6 tháng Giêng nǎm 1946.

Ngày mai, là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ.

Ngày mai, là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử 28 , vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.

Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: Về mặt trận quân sự, thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn.

Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam ta đã:

Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ,

Kiên quyết chống bọn thực dân,

Kiên quyết tranh quyền độc lập.

Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước.

Ngày mai, người ra ứng cử thì đông, nhưng số đại biểu thì ít, lẽ tất nhiên, có người được cử, có người không được cử.

Những người trúng cử, sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng.

Phải làm cho xứng đáng với đồng bào, cho xứng đáng với Tổ quốc.

Người không trúng cử, cũng không nên ngã lòng. Mình đã tỏ lòng hǎng hái với nước, với dân, thì luôn luôn phải giữ lòng hǎng hái đó. ở trong Quốc hội hay ở ngoài Quốc hội, mình cũng cứ ra sức giúp ích nước nhà. Lần này không được cử, ta cứ gắng làm cho quốc dân nhận rõ tài đức của ta, thì lần sau quốc dân nhất định cử ta.

Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 134, ngày 5-1-1946.
cpv.org.vn

Lời phát biểu trong buổi lễ ra mắt ứng cử viên tổ chức tại Việt Nam học xá

Từ xưa đến nay, toàn quốc chưa bao giờ tuyển cử vì xưa dân chưa bao giờ làm chủ mình, xưa dân phải nghe lời vua quan, sau phải nghe thực dân Pháp, Nhật. Vừa rồi đây ta vừa tranh được độc lập. Một số ít người, chỉ một số ít thôi, đã quên cái công khó nhọc của dân chúng. Ta đã phải hy sinh nhiều mới có cái quyền cầm lá phiếu ngày nay đó. Cụ Phan Đình Phùng, cụ Hoàng Hoa Thám đã khó nhọc về cái quyền dân chủ ấy lắm. Biết bao người đã bị bắn, bị chém, đã đeo cái tên chính trị phạm và bị nhốt đầy các nhà tù Sơn La, Côn Đảo, Ban Mê Thuật… mới đòi được cái quyền bầu cử ngày nay.

Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy.

Nói ngày 5-1-1946.

Báo Cứu quốc, số 135, ngày 7-1-1946.
cpv.org.vn

Lời phát biểu tại lễ mừng Liên hiệp quốc gia

Nước Phật (2) ngày xưa có những 4 đảng phái làm ly tán lòng dân và hại Tổ quốc. Nhưng nước Việt Nam ngày nay chỉ có 1 đảng phái là toàn dân quyết tâm giành độc lập. Tín đồ Phật giáo tin ở Phật; tín đồ Giatô tin ở đức Chúa Trời; cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng. Nhưng đối với dân, ta đừng có làm gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy. Nói hy sinh phấn đấu thì dễ, nhưng làm thì khó. Trước Phật đài tôn nghiêm, trước quốc dân đồng bào có mặt tại đây, tôi xin thề hy sinh đem thân phấn đấu để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc. Hy sinh, nếu cần đến hy sinh cả tính mạng, tôi cũng không từ.

Nói ngày 5-1-1946.

Báo Cứu quốc, số 136, ngày 8-1-1946.
cpv.org.vn

—————————–

2. Tuyên ngôn Độc lập nǎm 1776 của nước Mỹ: Trong cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Bắc Mỹ (1775-1781), các xứ thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ đã tổ chức các cuộc Đại hội đại biểu để thảo luận những biện pháp chống bọn thực dân Anh. Đại hội lần thứ hai họp ở Philađenphia nǎm 1775 đã cử ra một uỷ ban do Giépphécxơn làm Chủ tịch để thảo một bản nghị quyết tuyên bố các xứ thuộc địa là những nước tự do và độc lập, tách khỏi phạm vi quyền lực của Anh hoàng. Bản dự án nghị quyết này được đại biểu 13 bang thông qua ngày 4-7-1776 và trở thành Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ. Bản Tuyên ngôn này tiêu biểu cho nguyện vọng của các dân tộc thuộc địa ở Bắc Mỹ đấu tranh để giành lại độc lập, tự do cho nhân dân Mỹ lúc bấy giờ. Sau khi giành được độc lập, giai cấp tư sản Mỹ lên nắm chính quyền đã phản bội quyền lợi của nhân dân, thi hành chính sách phân biệt chủng tộc, áp bức bóc lột nhân dân trong nước, đồng thời xâm lược các nước khác. Chúng đã thực hiện những thủ đoạn tàn bạo của chủ nghĩa thực dân cũ, áp dụng chính sách thâm độc và nham hiểm của chủ nghĩa thực dân mới, thống trị về mặt kinh tế và lũng đoạn về chính trị, nhằm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới, chà đạp trắng trợn lên những nguyên tắc tự do, bình đẳng đã ghi trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ. Tr.1.

Bài nói tại Trường cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh

Lúc này, chúng ta không cần nói nhiều, mà phải làm cho thật nhiều. Nếu không bị uy hiếp, chúng ta không cần có tự vệ. Tự vệ là vệ lấy mình, lấy gia đình mình, rồi đến thành phố mình, nước mình. Ta phải ngǎn ngừa mọi sự uy hiếp. Về quân sự, Pháp có thể đánh vào thành phố ta. Về xã hội, có thể phát sinh ra trộm cướp. Về chính trị, có thể có những kẻ phản động phao đồn những tin nhảm để làm náo động lòng dân.

Các đồng chí đến đây theo lớp huấn luyện là học tập cách trị an về vật chất và tinh thần. Những kẻ mưu sự phá hoại đất nước chúng ta, có thể tuyên truyền, đồn phao để chia rẽ sự đoàn kết. Chúng hủ hoá chúng ta về vật chất, về sinh hoạt, vǎn hoá, chính trị. Bởi thế các đồng chí phải học tập thành cán bộ để đi trước sự bảo vệ: Bảo vệ nền độc lập tự do của mình. Không những thế, các đồng chí còn chỉ huy những anh em đi sau. Tóm lại, không những phải học cho biết kỹ thuật, mà còn phải học lý luận về đạo đức, tinh thần nữa.

Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ. Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.

Lãnh đạo về kỹ thuật chưa đủ. Còn phải lãnh đạo về tinh thần. Phải là người tuyên truyền. Phải là những người nói cho dân hiểu. Có phao đồn gì, phải giải thích cho dân. Có mệnh lệnh của Chính phủ, phải giải thích cho dân biết rõ tại sao Chính phủ đã ban bố mệnh lệnh đó.

Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và vǎn hoá. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải: quyết tâm, tín tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí phải thành công.

Nói ngày 7-1-1946.

Báo Cứu quốc, số 136, ngày 8-1-1946
cpv.org.vn

Lời cǎn dặn các cán bộ Bộ Tuyên truyền

Người Việt Nam có tiếng là nhân đạo. Đối với người Pháp, chúng ta nên giữ một thái độ khoan hồng để chia họ ra làm hai: Pháp thực dân và Pháp kiều. Việc tuyên truyền của anh em nên chú ý ở chỗ ấy. Cả với bọn Pháp thực dân là kẻ thù của ta, ta cũng đừng nên quá khe khắt. Tuyên truyền, anh em nên chú ý một điều này nữa là bao giờ ta cũng tôn trọng sự thực. Có nói sự thực thì việc tuyên truyền của mình mới có nhiều người nghe. Ta đừng bắt chước những nước tuyên truyền tin chiến tranh quá sai lạc sự thực.

Nói ngày 8-1-1946.

Báo Cứu quốc, số 137, ngày 9-1-1946.
cpv.org.vn

Nói chuyện với nông dân và điền chủ Hưng Yên

Chúng tôi xuống đây có hai việc: Trước là để thǎm đồng bào Hưng Yên, thứ hai là để thǎm đê. Chúng ta cần phải chǎm lo việc đắp đê để đề phòng nạn lụt.

Nước ta hồi Pháp thuộc, bọn thực dân Pháp lấy tiền quỹ để đắp đê, nhưng chúng chỉ bỏ vào việc đắp đê rất ít, còn bỏ vào túi chúng. Bây giờ ta được độc lập, công việc đắp đê không phải là việc riêng của Chính phủ mà là của tất cả mọi quốc dân. Dân chúng có quyền kiểm soát việc làm để đề phòng những việc nhũng lạm có thể xảy tới.

Số thóc góp để đắp đê không phải là một thứ thuế mà chỉ là một thứ lạc quyên thôi, không có gì là cưỡng bách cả. Đê vỡ, ruộng mất, dân nghèo lo đói, điền chủ mất thóc mà thương gia cũng ít phát tài. Cho nên mọi người đều phải sốt sắng giúp dập vào việc đắp đê. Bằng không thì còn lụt, còn đói, còn chết nữa. Khi chưa ốm, ta phải uống thuốc phòng bệnh thì hơn là đợi ốm rồi mới uống thuốc. Vậy các nhà thân hào phải hǎng hái giúp đỡ những đồng bào khác đi đắp đê, phải giúp cho họ ǎn, phải góp tiền, thóc nuôi họ. Chỉ có cách đó là có thể ngǎn ngừa được nạn đê vỡ. Nước sông cao bao nhiêu đi nữa, mà lòng nhiệt tâm của các bạn cao hơn thì không bao giờ có lụt nữa.

Thấy anh chị em và các cháu quần tụ vui vẻ ở đây, tôi rất lấy làm sung sướng. Tôi chỉ có một lời là chúng ta phải hết sức thương yêu nhau, đoàn kết chặt chẽ và làm việc để giúp đỡ đồng bào kháng chiến đánh Pháp và giúp đỡ đồng bào cứu đói. Đồng bào ta bất kỳ là già trẻ, trai gái, lương giáo ai cũng đồng tâm hiệp lực, nhớn giúp bé, trẻ giúp già, mạnh giúp yếu thì chắc chắn thế nào cũng giành được độc lập hoàn toàn, được tự do hạnh phúc. Chúng ta nỗ lực phấn đấu thì ngày thành công cũng không xa gì.

Nói ngày 10-1-1946.

Báo Cứu quốc, số 140, ngày 12-1-1946.
cpv.org.vn

Điện vǎn gửi các ông Ǎngđrê Grômưcô – đại diện Liên Xô, Giêm Biếcnơ – Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, Bác sĩ Cố Duy Quân – Đại diện Trung Quốc tại Hội đồng Liên hợp quốc

Nhân danh Chính phủ và quốc dân Việt Nam, tôi yêu cầu các ngài chú ý đến nước Cộng hoà Dân chủ Việt Nam. Từ nǎm 1941, nước Việt Nam vẫn chiến đấu bên cạnh Đồng minh chống lại bọn quân phiệt Nhật. Sau ngày quân Pháp đầu hàng quân Nhật ngày 9 tháng 3 nǎm 1945, người Việt Nam chúng tôi đã chiến đấu chống lại tất cả mọi cơ quan và chính phủ bù nhìn do Nhật lập nên. Sau khi quân Nhật bại trận, quốc dân Việt Nam đồng lòng lập nên nước Cộng hoà Dân chủ, đứng trên lập trường dân tộc tự quyết và dân chủ ký kết trên các Hiến chương Đại Tây Dương và Cựu Kim Sơn. Mặc dầu cuộc xâm lǎng của người Pháp bắt đầu từ hôm 23 tháng 9 nǎm 1945, nay vẫn còn đang tiếp tục ở miền Nam nước Việt Nam, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam, được toàn dân ủng hộ, đã lập được nền trật tự trong nước, đã thiết lập được nền chính trị vững chắc và tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trong toàn nước bầu người vào Quốc hội. Chương trình bầu cử đã thực hiện tuy rằng người Pháp đã diễn một cảnh chiến tranh dã man ở miền Nam để hòng lập lại nền thống trị của họ. Sẵn sàng chiến đấu chống lại mọi lực lượng, quốc dân Việt Nam đang ao ước thực hiện các điều khoản cao quý của Hiến chương Đại Tây Dương và Hội nghị Liên hợp quốc hãy can thiệp để kết liễu cuộc đổ máu và can thiệp một cách nhanh chóng vào vấn đề Đông Dương. Các lời tuyên bố mới đây của Anh hoàng và của vị Chủ tịch Hội nghị là ông Hǎngri Xpát (H.Spaak) đã làm chúng tôi tǎng thêm hy vọng vào sự thắng lợi cuối cùng của công lý và hoà bình.

Chúng tôi tha thiết kêu gọi các ngài hãy mang vấn đề của chúng tôi ra trước Hội đồng Liên hợp quốc nghiên cứu kỹ càng. Chúng tôi sẽ rất cám ơn quý ngài nếu quý ngài nói cho thế giới biết những ước nguyện sau này của quốc dân chúng tôi.

Quốc dân chúng tôi đã giành được quyền độc lập và giữ vững nền độc lập, thiết tha yêu cầu các ngài công nhận nền độc lập ấy và nhận chúng tôi vào Hội đồng Liên hợp quốc. Theo như lời tuyên bố của vị đại diện Trung Hoa Cố Duy Quân thì á châu chưa có đủ đại biểu trong Hội nghị. Chúng tôi tin rằng sự có mặt của chúng tôi trong Hội nghị sẽ có ích nhiều cho việc giải quyết một cách nhanh chóng và hoà bình cho các vấn đề ở Đông – Nam á châu hiện nay.

Kính
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 144, ngày 17-1-1946.
cpv.org.vn

Lời khuyên anh em viên chức

Anh em viên chức hiện giờ đang gặp nhiều nỗi khó khǎn vì giá sinh hoạt đắt đỏ. Nhưng ta chớ nên quên rằng nước nhà đang ở thời kỳ kháng chiến. Anh em viên chức, cũng như toàn thể quốc dân, muốn qua được bước khó khǎn hiện tại, phải biết hy sinh một chút về tinh thần để tham dự vào công cuộc kiến quốc. Có chịu kham khổ bây giờ, mai sau mới được hưởng nhiều quyền lợi. Vậy để giúp công việc Chính phủ một cách đắc lực, để nâng cao tinh thần kháng chiến, anh em viên chức bây giờ phải có 4 đức tính là: cần, kiệm, liêm, chính. Cần, anh em viên chức phải tận tâm làm việc, một người làm bằng hai, ba người. Và phải tôn trọng kỷ luật. Anh em phải theo nguyên tắc là có việc mới cần đến người, chứ không phải là có sẵn người nên phải tìm việc cho làm. Kiệm, phải biết tiết kiệm đồng tiền kiếm được, cũng như các vật liệu và đồ dùng trong các sở. Rút bớt hết những sự gì không cần thiết, chớ phao phí giấy má và các thứ của công. Phao phí những thứ đó tức là phao phí mồ hôi nước mắt của dân nghèo. Chớ tưởng tiết kiệm những cái cỏn con như mẩu giấy, ngòi bút là không có ảnh hưởng. Một người như thế, trǎm người như thế, vạn người như thế, công quỹ đã bớt được một số tiền đáng kể, lấy ở mồ hôi nước mắt dân nghèo mà ra.

Có cần, có kiệm, không tiêu đến nhiều tiền, anh em viên chức mới có thể trở nên liêm, chính để cho người ngoài kính nể được.

Anh em viên chức phải gột bỏ hẳn những ý nghĩ trái với 4 nguyên tắc trên do chính sách của bọn thực dân gây nên trong đám công chức thời Pháp và Nhật thuộc.

Nói ngày 17-1-1946.

Báo Cứu quốc, số 146, ngày 19-1-1946.
cpv.org.vn

Chế độ thực dân Pháp và xứ Đông Dương (6-1928)

Trong tất cả các thuộc địa Pháp, Đông Dương là một thuộc địa rộng nhất và giàu nhất, với 710.000 kilômét vuông, 20 triệu dân và 4 tỷ đồng về thương nghiệp hằng nǎm.

Người xứ Đông Dương cũng là những người bị bóc lột và bị chà đạp nhất vì thuế khoá mỗi nǎm một tǎng lên:

1913: 57.000.000 đồng (tính số tròn)

1915: 62.000.000 ” “

1917: 70.000.000 ” “

1920: 84.000.000 ” “

1922: 87.000.000 ” “

1928: 91.500.000 ” “

Ngoài khoản sưu thuế đó, người Đông Dương còn bắt buộc phải đóng góp nhiều khoản khác nữa: 32.300.000 phrǎng cho chi phí quân sự, 700.000 phrǎng cho chi phí hàng không (1927), v.v..

Trong khi bóc lột người bản xứ, bọn đế quốc Pháp lại cho là chúng đang đem lại sự giáo dục và dân chủ cho họ.

Với 20 triệu dân, mà (nǎm 1926) Đông Dương chỉ có được 3.395 trường học với chưa đầy 214.000 học sinh. Trong khi đó, người Đông Dương – do sáng kiến của mình – đã tổ chức ra 6.751 trường học, tập hợp được 99.800 học sinh. Nhưng Chính phủ thuộc địa lại cố tìm mọi cách để cản trở phong trào giáo dục đó: họ thường đóng cửa các trường tư hoặc cấm người bản xứ không được tổ chức các trường tư mới. Đó là nói về giáo dục.

Còn đây là “dân chủ”: Một giáo viên bản xứ lĩnh 555 phrǎng và một giáo sư người bản xứ lĩnh 1.200 phrǎng mỗi tháng, còn một giáo viên người Pháp lại lĩnh những 3.750 phrǎng và một giáo sư người Pháp lĩnh những 6.000 phrǎng mỗi tháng, đấy là chưa kể mọi thứ phụ cấp mà chỉ riêng giáo viên và giáo sư người Pháp mới được hưởng.

Ta hãy nêu ra một vài con số nữa: một viên thiếu uý Pháp lĩnh 62.244 phrǎng; một viên trung uý Pháp được 77.844 phrǎng; một viên đại uý Pháp thì được 93.444 phrǎng; một viên công sứ ở Bắc Kỳ thì mỗi nǎm được 234.000 phrǎng, chưa kể các khoản phụ cấp. Còn một công nhân nông nghiệp người bản xứ thì mỗi nǎm kiếm được từ 400 đến 500 phrǎng.

ách thống trị của bọn đế quốc được dựng lên không những chỉ bằng chính sách ngu dân, chế độ không bình đẳng và nạn bóc lột, mà còn bằng chính sách khủng bố và mật thám nữa. ở Pháp, người ta nói rằng xứ Đông Dương chưa bao giờ được phồn thịnh và an ninh như thế cả. Nhưng nhà tù ở Đông Dương lại chật ních và chế độ kiểm duyệt thì thường xuyên.

Đây là một đoạn trích dẫn hai chỉ thị của Chính phủ nói về chế độ kiểm duyệt:

“Tôi ra lệnh cho các ông… phải thoả thuận với các chủ sở bưu chính để đặt việc kiểm soát các thư từ và vǎn kiện đủ các loại nhằm chặn những thứ đó lại cho kịp thời…”.

Lệnh này là do viên thống sứ ở Cao Miên ký ngày 24-7-1925 gửi cho các nhân viên cảnh sát.

Một chỉ thị khác, gửi ngày 17-10-1926, yêu cầu các tỉnh trưởng hoặc những đại diện của họ phải hợp tác với cảnh sát để làm công việc đó và cho phép họ được “vào phòng gửi các bưu kiện để kiểm duyệt các thứ đó”.

Người dân Đông Dương bị tước quyền tự do được tổ chức, đi lại, ǎn nói và viết lách, họ đều bị bịt mồm bịt miệng và bị giám sát, tuy vậy đế quốc Pháp vẫn cứ luôn luôn run sợ cho nền thống trị của chúng. Chúng sợ cách mạng từ ngoài vào. Chính Varen, đảng viên

Đảng Xã hội là người được chúng giao cho trách nhiệm phải “trừ” mối nguy cơ đó. Và thực ra thì anh chàng đảng viên của Quốc tế thứ hai ấy đã cố gắng hết sức để xứng đáng với lòng tin cậy của các ông chủ của hắn. Chúng ta hãy nghe những lời thú nhận do anh ta ký tên đǎng trên tờ Tư bản ngày 21-2-1928:

“Phương pháp trừ bỏ một nguy cơ là phải phòng trước nguy cơ đó. Chính tôi đã làm như thế. Tôi đã đặt biên giới vào tình trạng phòng thủ. Lúc tôi sang tới nơi, thì số quân của ta giảm đi một nửa so với hồi trước chiến tranh, quân nhu thì rõ ràng là thiếu thốn, các vùng biên giới được trang bị tồi. Đồng ý với Chính phủ, tôi đã tìm đủ mọi cách để trong một thời hạn ngắn nhất, cải thiện được tình hình thật sự nguy ngập đó. Ngay trước khi tôi sang Đông Dương, quân nhu, đạn dược cũng đã được tải từ Pháp sang, tiếp theo là vũ khí, sau cùng là quân đội tiếp viện. Ngay khi tôi sang tới nơi, người ta đã gấp rút trang bị cho quân đội đóng ở vùng giáp giới Trung Quốc. Bây giờ, đằng sau vỏ bọc chắc chắn hơn, chúng ta có thể dứt điểm tiến hành tổ chức quân đội”.

Ngài Varen đã quên không nói thêm rằng mình cũng đã bán đạn dược cho bọn quân phiệt Trung Quốc ở Vân Nam, bạn đồng minh của ngài.

Dù bọn xã hội đế quốc chủ nghĩa có đề phòng như thế nào đi nữa, thì nạn nghèo khổ và sự bóc lột vẫn cứ thúc đẩy người dân Đông Dương làm cách mạng, để đạp đổ ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc Pháp.

WANG

———————

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 49, tháng 6-1928
cpv.org.vn