Thư viện

Hội đàm Paris – đường tới hòa bình

TT – Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở VN đã được ký kết tại Paris ngày 27-1-1973 giữa bốn bên: VN Dân chủ cộng hòa, Hoa Kỳ, Cộng hòa miền Nam VN và VN Cộng hòa.

Bà Nguyễn Thị Bình (bìa trái) trả lời phỏng vấn báo chí quốc tế tại Paris - Ảnh: UPI

Đó là kết quả của cả một chặng đường đấu tranh ngoại giao cam go và căng thẳng, bắt đầu từ giữa năm 1968.

Nhân kỷ niệm “40 năm Hiệp định Paris”, Tuổi Trẻ ghi lại hồi ức của một số thành viên tham gia cuộc đàm phán. Đồng thời một số tài liệu mật từ phía chính quyền Sài Gòn cũng sẽ được đăng tải trong loạt bài này.

TT – 1972 là năm quyết định của cuộc hòa đàm Paris về chiến tranh VN. Đó cũng là năm đỏ lửa ở miền Nam và cũng là năm Mỹ sử dụng B-52 rải bom Hà Nội.

“Chúng tôi hết sức lo lắng cho Hà Nội…”

Bà Nguyễn Thị Bình, lúc đó là bộ trưởng ngoại giao, trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN, nhớ lại:

“Tôi nhớ mãi… vào những ngày cuối năm 1972, tình hình so sánh lực lượng trên chiến trường phát triển có lợi cho ta, trong lúc nội bộ Mỹ mâu thuẫn gay gắt giữa Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa và vấn đề bầu cử tổng thống ở Mỹ cận kề, Bộ Chính trị chỉ thị cho đoàn ta ở Paris đấu tranh để buộc Mỹ đi vào giải quyết thực chất vấn đề chiến tranh VN.

Các cuộc họp riêng giữa đồng chí Lê Đức Thọ và cố vấn Kissinger diễn ra dồn dập trong những ngày đầu tháng 10.

Đến 20-10, hai bên căn bản nhất trí trên văn bản dự thảo Hiệp định Paris do phía ta đưa ra.

Tổng thống Nixon gửi công hàm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoan nghênh thiện chí của ta và đề nghị ngày 31-10-1972 tiến hành ký kết.

Nhưng như mọi người đều biết, ngày 22-10 Tổng thống Nixon lại gửi công hàm cho ta, nêu khó khăn với Nguyễn Văn Thiệu, nên chưa có thể ký hiệp định như đã thỏa thuận.

Chúng tôi ở Paris lúc đó hiểu ngay là Mỹ lật lọng muốn kéo dài đàm phán để vượt qua bầu cử.

Quả thật, sau ngày 7-11 Tổng thống Nixon được tái đắc cử, trong cuộc họp ngày 23-11 giữa ta với Mỹ, Kissinger trắng trợn đòi sửa lại 60 điều trong văn bản thỏa thuận.

Tối 18-12, máy bay B-52 bắt đầu giội bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi khác.

Tại cuộc họp bốn bên thường lệ ở Trung tâm hội nghị quốc tế Kleber, đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN và đoàn VN Dân chủ cộng hòa tuyên bố ngừng họp để phản đối hành động tráo trở và leo thang chiến tranh của Mỹ.

Thực tế, cuộc tập kích bằng máy bay B-52 của Mỹ làm anh chị em chúng tôi ở hai đoàn đàm phán tại Paris hết sức lo lắng, không biết chúng ta sẽ đối phó ra sao. Nhưng khi được tin chiếc B-52 đầu tiên bị bắn hạ, chúng tôi vô cùng sung sướng đến khóc được. Sau đó, nhiều chiếc B-52 bị bắn rơi trước sự thán phục của cả thế giới.

Sau 12 ngày đêm ném bom dữ dội xuống Hà Nội và các tỉnh, rất nhiều máy bay B-52 của Mỹ bị hạ… Mỹ không những thất bại nặng nề về quân sự mà cả về chính trị ngoại giao. Cả thế giới lên án Mỹ, cả Chính phủ Anh, người đồng minh thân cận nhất của Mỹ, cũng lên tiếng phản đối.

Vài ngày sau chính quyền Nixon gửi công hàm đề nghị họp lại và cuối cùng họ cũng phải chấp nhận hoàn toàn dự thảo hiệp định đã thỏa thuận hồi tháng 10-1972”.

“Ông Thọ đã mổ xẻ tôi bằng một con dao rất nhọn…”

Ông Lưu Văn Lợi (thư ký của cố vấn Lê Đức Thọ tại hội nghị Paris) kể:

“Các phiên họp riêng giữa các anh Xuân Thủy, Lê Đức Thọ và Kissinger, cố vấn của Tổng thống Mỹ Nixon, đều là những ngày làm việc dài. Có ngày làm việc đến 13 tiếng, lấn sang cả đêm. Anh Lê Đức Thọ sinh năm 1911, lúc ấy hơn 60 tuổi, nhiều hơn Kissinger gần một giáp. Kissinger rất là mánh lới, vào đầu các cuộc họp riêng thì cứ đưa chuyện nọ chuyện kia dài lê thê và cứ nhè vào lúc chiều hay gần tối mới đưa việc chính ra tranh cãi. Đó là lúc mà ông ta nghĩ rằng ông già kia mệt mỏi rồi, chắc dễ ừ, dễ gật. Nhưng ông ta không biết anh Thọ! Đàm phán càng muộn, anh Thọ càng tỉnh và thậm chí có lúc diễn thuyết làm cho Kissinger sau này phải nói: “Ông Thọ ở Paris đã mổ xẻ tôi bằng một con dao rất nhọn, với tay nghề của một nhà phẫu thuật. Có những lúc ông ấy nói cả giờ, tôi bảo cái điều này tôi đã nghe nhiều lần rồi thì ông Thọ bảo: Ông nghe nhiều lần nhưng chưa thuộc, tôi nói lại…”.

Năm 1972 là giai đoạn đi vào thương lượng cụ thể. Hồi đó lập trường của hai bên khác nhau lắm, Mỹ muốn rút nhưng muốn giữ nguyên chế độ Thiệu – Kỳ, mà lại không công nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN. Lúc bấy giờ đã đi vào thảo luận về hiệp định rồi, hôm trước vừa thỏa thuận như thế nhưng hôm sau họ lại lật lại. Mỹ luôn luôn lấy cớ rằng chính quyền Sài Gòn không chấp nhận. Ở nhà, đồng chí Lê Duẩn đã dặn đồng chí Lê Đức Thọ: Anh sang bây giờ anh sẽ là tư lệnh ở mặt trận ngoại giao, làm thế nào thì làm, nhưng anh phải đạt được là “Mỹ rút, quân ta ở lại”.

Tháng 10-1972, tưởng đàm phán xong rồi, Tổng thống Nixon đã gửi thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nói rằng hiệp định đã có thể hoàn chỉnh, rồi Kissinger cũng huênh hoang nói rằng không còn điểm bất đồng gì lớn nữa. Đã thỏa thuận là tháng 10 Kissinger sẽ sang Hà Nội ký tắt, rồi sau đó về Paris ký chính thức. Mỹ đã nhượng bộ không đòi quân Bắc VN rút, chỉ yêu cầu có một số biểu hiện, thí dụ như hồi hương một ít, hay di chuyển quân, tượng trưng cũng được, để máy bay chụp ảnh, chứng minh cho dư luận Mỹ biết rằng cũng đòi được quân Bắc VN rút lui.

Lúc đầu ta còn trả lời vòng vo, nhưng sau nói thẳng: người VN sống trên đất VN, mà quân đội miền Bắc gồm cả những người miền Nam tham gia cuộc chiến đấu chống Mỹ và Thiệu – Kỳ, chính là những người đã tập kết ra Bắc. Hơn nữa, người VN bất cứ ở đâu đều có nghĩa vụ đánh Mỹ.

Ngày 13-1, cuộc gặp riêng cuối cùng giữa Lê Đức Thọ và Kissinger tại Paris, đoàn của ta đến sớm, đoàn Mỹ thì đúng giờ hẹn đến sau. Chỗ hẹn là ngôi biệt thự ở ngoài có cái sân có thể để được mấy chiếc xe hơi. Mọi lần khi còn đương đàm phán với nhau, mình là chủ, theo phong tục VN ra đón khách vào, mấy ông nhà mình đứng tận ngoài cổng, bắt tay mời vào phòng họp. Lần gặp này báo chí đứng bên ngoài chờ chụp ảnh đã sẵn sàng rồi nhưng thấy trong này có vẻ im lặng. Tôi và mấy chuyên viên trong phái đoàn miền Nam ngồi ở một phòng trên gác nhìn ra cổng biệt thự.

Đúng giờ đoàn Kissinger đến thì người gác ra mở cổng. Kissinger không thấy có người ra đón nên ngỡ ngàng, tuy nhiên họ cũng hiểu vì sao mình tỏ thái độ lạnh nhạt ấy. Vào phòng, ông Lê Đức Thọ nổ luôn một loạt câu chỉ trích bên kia túi bụi. Bọn tôi ở trên gác nghe qua loa rất sướng. 

THANH HUYỀN – ĐỨC TUỆ
tuoitre.vn

_______________

Kỳ tới: Căng thẳng Sài Gòn – Washington

Căng thẳng Sài Gòn – Washington

Hội đàm Paris – đường tới hòa bình – Kỳ 2:

TT – Bỏ qua thái độ của chính quyền Thiệu, ngày 8-10-1972 phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa trao cho Hoa Kỳ bản đề nghị được trình bày dưới hình thức một hiệp định sẵn sàng để ký kết, có tên là “Hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam”.

Tổng thống Thiệu (trái) và tổng thống Nixon vào thời điểm ấy đã không còn “mặn nồng” dù cùng nhìn về một hướng  – Ảnh: Bettmann/Corbis

Bút tích “biên  tập” của tổng thống Thiệu trên lá thư của Nixon

Từ ngày 8 đến 11-10-1972, hai phái đoàn Hoa Kỳ và Việt Nam dân chủ cộng hòa thảo luận kỹ lưỡng về các điều khoản của hiệp định. Đến ngày 17-10 tại Paris, hai bên duyệt lại lần cuối và đi đến thống nhất lịch trình ký kết hiệp định.

Sài Gòn công kích Washington

Việc chỉ được biết thông tin về bản dự thảo và thời gian biểu cho việc ký kết hiệp định thông qua dư luận báo chí khiến tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tỏ ra “bất phục” với Hoa Kỳ. Và “lo sợ” ký kết hiệp định với điều khoản quy định về cuộc tổng tuyển cử trong thời điểm phần đông dân chúng miền Nam Việt Nam đang hướng lòng theo cách mạng, sẽ đồng nghĩa với việc bị mất “chiếc ghế” tổng thống.

Do đó, trong thời gian từ ngày 26-10 đến 7-11-1972, ông Thiệu cấp tốc cử ba đại sứ đi đến 12 quốc gia ở châu Á nhằm rêu rao lập trường đối với bản dự thảo hiệp định, gián tiếp công kích Hoa Kỳ trước dư luận. Đồng thời ông ta liên tục gửi công hàm cho Hoa Kỳ, nói rõ rằng: “Những vấn đề cần phải giải quyết trong dự thảo hiệp định là những vấn đề căn bản chứ không phải là những vấn đề chi tiết hay ngôn ngữ như ông Kissinger đã tuyên bố” và đòi hỏi “Hoa Kỳ cho biết rõ về những gì Hoa Kỳ hứa hẹn với Bắc Việt theo như họ tiết lộ”.

Trước phản ứng quá mạnh của chính quyền Sài Gòn, ngày 29-10-1972 tổng thống Nixon gửi thư cho tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhằm làm giảm bớt sự công kích nhưng không có hiệu quả, trong khi dư luận ngày càng tỏ ra phản ứng mạnh trước sự trì hoãn của Nixon. Hãng UPI cho rằng Việt Nam đã đưa quả bóng sang sân của Hoa Kỳ.

Hãng tin Pháp AFP nhận xét: Nixon đã bị dồn vào chân tường và buộc phải lựa chọn, hoặc ký sớm hiệp định, bỏ rơi Thiệu, hoặc tiếp tục chiến tranh. Còn các nhân vật đối lập trong Quốc hội Hoa Kỳ đòi Nixon phải có trách nhiệm ký hiệp định sớm, không thể để Thiệu muốn làm gì thì làm và họ cho rằng Nguyễn Văn Thiệu đang thách thức lòng tự trọng của nhân dân Hoa Kỳ. Vì vậy, ngày 2-11-1972, để xoa dịu dư luận, Nixon tuyên bố trên truyền hình bản dự thảo còn có những phần “mập mờ” “cần làm rõ trước khi ký kết bản hiệp định cuối cùng”. Đồng thời để tỏ chứng minh Hoa Kỳ không “bỏ rơi” chính quyền Sài Gòn và việc ký kết hiệp định hoàn toàn nằm trong kế hoạch, Nixon ra lệnh cho máy bay chiến lược B-52 ném bom phía Bắc khu phi quân sự.

Lá thư răn đe của Nixon

Ngày 7-11-1972, vượt qua các chướng ngại, Richard Nixon tái đắc cử tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ thứ 38. Ngay hôm sau, ngày 8-11-1972, Nixon gửi bức thư đầu tiên trong cương vị tổng thống thứ 38 của Hoa Kỳ răn đe Nguyễn Văn Thiệu và cũng để nói rõ kế hoạch của ông ta đối với việc ký kết Hiệp định Paris. Nội dung bức thư như sau:

“Hôm nay, sau cuộc tái đắc cử của tôi, tôi xin mở lại cuộc đối thoại giữa chúng ta về dự thảo hiệp định để chấm dứt chiến tranh.

Trước hết, tôi phải bày tỏ sự thất vọng sâu xa của tôi về cái mà tôi xem là một sự xa cách dần dần trong mối bang giao giữa hai quốc gia chúng ta, một khuynh hướng mà chỉ có hại cho những mục tiêu chung của chúng ta và có lợi cho kẻ thù. Việc tổng thống (Nguyễn Văn Thiệu – BT) liên tục bóp méo và công kích hiệp định là không đúng (unfair) và biểu lộ tinh thần chủ bại (self defeating). Những sự công kích này vẫn tiếp tục, mặc dù chúng tôi đã lưu ý nhiều lần, kể cả bức thư của tôi cho tổng thống vào ngày 29-10. Những sự công kích này đã làm cho tôi ngỡ ngàng và rất lúng túng.

Tuy nhiên, dù trong trường hợp nào, chúng tôi cũng quyết định đi tới trên căn bản của dự thảo hiệp định và những sự sửa đổi mà tướng Haig sẽ thảo luận với tổng thống và chúng tôi quyết định đạt được từ phía Bắc Việt.

Tôi xin tổng thống nói với đại tướng Haig liệu chúng tôi có thể xúc tiến một cách vững chắc trên căn bản này hay không. Chúng tôi đã đến chỗ mà chúng tôi cần phải biết một cách minh bạch liệu tổng thống có hợp tác với chúng tôi trong nỗ lực mà tướng Haig sẽ vạch ra những đường hướng chánh cho tổng thống, hay là chúng tôi phải nghĩ tới những phương thức hành động khác mà tôi tin rằng có thể sẽ tai hại cho quyền lợi hai quốc gia chúng ta”.

Ngày 10-11-1972, tướng Haig sang Sài Gòn, tận tay chuyển thư của Nixon, cùng bản chương trình cam kết sự hỗ trợ quân sự của Hoa Kỳ đối với chính quyền Sài Gòn nhằm có thể đánh thắng được quân giải phóng sau khi ký kết hiệp định. Nhưng sự đảm bảo của Hoa Kỳ chưa xoa dịu được sự “lo sợ” của Nguyễn Văn Thiệu, đáp lại những lời lẽ vỗ về của Nixon trong bức thư là những đường gạch đỏ với các dấu chấm hỏi của Nguyễn Văn Thiệu. Đặc biệt là đối với câu: “Tôi tin chắc tổng thống đã đạt được một thắng lợi to lớn mà hiệp định này sẽ phê chuẩn”, Nguyễn Văn Thiệu đã phê trực tiếp vào bức thư: “Cũng tùy có thắng thật hay là cứ nói là thắng”. Đồng thời ông ta tiếp tục từ chối bản dự thảo hiệp định.

Ngày 11-11-1972, Nguyễn Văn Thiệu gửi thư cho tổng thống Nixon.

Phản hồi của tổng thống Thiệu

Trong thư, ông Thiệu viết:

“Tôi đã nhận được thơ của tổng thống đề ngày 8-11 do tướng Haig chuyển cho tôi.

Trước hết tôi xin nhân cơ hội này chuyển tới tổng thống một lần nữa những lời ngợi khen nồng nhiệt và thành khẩn của tôi về sự thắng cử vẻ vang của tổng thống vào ngày 7-11 vừa qua.

Chúng tôi sẽ mãi mãi biết ơn sâu xa sự trợ giúp dồi dào mà Hoa Kỳ đã dành cho Việt Nam cộng hòa… và nhất là đối với sự đoàn kết anh dũng của Hoa Kỳ sát cánh với chúng tôi trong cuộc chiến đấu.

Tôi ý thức được rằng dân tộc Hoa Kỳ đã mệt mỏi vì cuộc chiến dai dẳng này…

Nếu có một giải pháp cho phép Bắc Việt duy trì lực lượng của họ tại Nam Việt Nam, cuộc chiến đấu và những hi sinh của chúng ta trong bao nhiêu năm sẽ mất hết lý do. Những đồng minh của chúng ta sẽ được coi như là kẻ gây hấn, quân đội Nam Việt Nam trong trường hợp này sẽ ở trong vị trí của những kẻ đánh mướn, chiến đấu cho một chính nghĩa sai lầm, một chính nghĩa mà chúng tôi không còn dám nói lên.

Trong bối cảnh này, tôi nghĩ thật là bất công khi tôi bị lên án đã bóp méo dự án thỏa hiệp khi tôi kêu gọi sự lưu ý đến khía cạnh quan trọng này của vấn đề…

Tôi không thể trình bày dài dòng về tất cả các điểm trong khuôn khổ thơ này. Vì vậy, tôi đã nhờ tướng Haig chuyển tới tổng thống những quan điểm của chánh phủ chúng tôi có nhiều chi tiết hơn”.

Ngày 12-11-1972, tướng Haig trở lại Washington báo cáo Nixon về chuyến công du Sài Gòn.

(Trích từ quyển Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn, do NXB Chính Trị Quốc Gia phát hành tháng 12-2012)
tuoitre.vn

____________________

Kỳ tới: Hoặc hợp tác, hoặc… chấm hết!

Hoặc hợp tác, hoặc… chấm hết!

Hội đàm Paris – đường tới hòa bình – Kỳ 3:

TT – 12-11-1972, tướng Haig trở lại Washington báo cáo tổng thống Nixon về chuyến công du Sài Gòn.

Tướng Alexander Haig – Ảnh: W.hogan

Tổng thống Nixon và ngoại trưởng Kissinger bàn thảo về cuộc hội đàm Paris về chiến tranh VN năm 1972 - Ảnh: AP

Ba ngày sau, ngày 15-11-1972, tướng Haig yêu cầu một phái viên chính quyền Sài Gòn, sắp rời khỏi Washington, tới Nhà Trắng để truyền đạt “ý chỉ” của Nixon. Tường trình của phái viên VN cộng hòa này cho thấy mục đích rõ ràng của Hoa Kỳ đối với việc “thúc ép” Nguyễn Văn Thiệu chấp nhận bản dự thảo hiệp định. Đồng thời Nixon bảo đảm sẽ tăng cường vũ khí, trang bị cho quân đội Sài Gòn để có khả năng thắng được quân giải phóng và giành được thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử. Và Hoa Kỳ rút ra khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự.

Tướng Haig nói gì?

Sau cuộc gặp với tướng Haig, phái viên VN cộng hòa tường trình nguyên văn như sau:

“Trước khi rời Washington, tướng Haig có mời tôi đến tòa Bạch Ốc để nhờ tôi chuyển trình tổng thống (Nguyễn Văn Thiệu – BT) các điểm sau đây mà tướng Haig cho là cực kỳ quan trọng liên quan đến tình hình và tương lai Việt Nam:

1. Sau khi sang Sài Gòn chuyến chót để trình bày các điểm về thỏa ước hòa bình với tổng thống, tướng Haig đã cố gắng trình lại tổng thống Nixon những điểm mà tổng thống (Thiệu) đã bảo tướng Haig “explorer” (thăm dò) xem ra sao. Sau khi vừa trình bày xong, tướng Haig cho biết rằng chưa bao giờ ông thấy tổng thống Nixon giận dữ như thế và cho rằng tổng thống (Thiệu) là một “obstacle” (trở ngại) cho việc tiến đến hòa bình. Và tổng thống Nixon bảo, theo lời tướng Haig: “Tôi sẽ không nhượng thêm một điều khoản nào nữa và nếu tổng thống Thiệu cương quyết giữ lập trường thì chúng tôi sẽ đi đôi (bilateral) với Bắc Việt và điều này chúng tôi sẽ tiến hành ngay trong “week-end” (cuối tuần) này bằng cách gửi ông Kissinger sang Paris gặp Bắc Việt. Chừng ấy Sài Gòn sẽ không còn mong một sự giúp đỡ cỏn con nào về phần Hoa Kỳ”.

Tướng Haig tiếp: “Hôm nay, theo tôi biết (ngày 15-11-1972) tại Sài Gòn, đại sứ Bunker được chỉ thị của tổng thống Nixon trao lại cho tổng thống một thư riêng cũng nhấn mạnh về điểm yêu cầu của Hoa Kỳ. Xin tổng thống (Thiệu) hợp tác với Hoa Kỳ để giúp họ đi sớm đến thỏa hiệp mà Hoa Kỳ cho rằng sẽ không thiệt thòi cho VN cộng hòa. Đây là bức thư thứ ba hoặc thứ tư gì rồi, nhưng vẫn chưa thấy tổng thống (Thiệu) đáp ứng”.

Tướng Haig yêu cầu tôi trình tổng thống (Thiệu) điểm này nhiều nhứt và cho ông ấy biết phản ứng của tổng thống (Thiệu) lần này ra sao. Tôi hứa sẽ trình sớm và điện thoại riêng cho tướng Haig đêm hôm qua (17-11-1972).

2. Tôi (tức tướng Haig – BT) biết tổng thống Thiệu e ngại việc có thể bị cộng sản lấn át, nhưng chúng tôi còn có đủ lực để ngăn chặn cộng sản làm điều này, với đệ thất hạm đội và không lực Mỹ tại Thái Lan.

3. Về điểm rút quân Bắc Việt, tổng thống (Thiệu) cứ quyết liệt đòi quân Bắc Việt phải rút khỏi miền Nam, điều này có bao giờ có thể họ chấp nhận, nhưng chúng tôi đã có giải pháp bớt quân hoặc giải ngũ quân hai bên trên căn bản 1-1 (một đổi một – BT). Như vậy sẽ không còn quân Bắc Việt và quân lực VN cộng hòa vẫn còn quân nhiều hơn để giữ vững lãnh thổ. Giải pháp này cũng đã khó cho họ chấp nhận rồi, làm thế nào đòi họ rút hết được. Nhưng chúng tôi hi vọng họ sẽ chấp nhận. Phía Hoa Kỳ chúng tôi đã thăm dò và có sự đồng ý của Nga Sô và Trung Cộng giúp đỡ thuyết phục Bắc Việt nhận giải pháp này để chấm dứt chiến tranh. Tóm lại, giải ngũ hoặc giảm quân trên căn bản 1-1 thực hiện trong vòng ba tháng có quốc tế kiểm soát, như vậy VN cộng hòa không phải lo ngại về sự có mặt của quân Bắc Việt tại miền Nam.

4. Vùng vĩ tuyến cũ (DMZ) sẽ được tái lập và tôn trọng là điều chúng tôi cũng sẽ thảo luận và hi vọng thành công với CSBV (Việt Nam dân chủ cộng hòa – BT).

5. Về “coalition” (liên hiệp – BT), đâu có vấn đề “coalition” mà đó chỉ là một “Advisory Committee” (hội đồng cố vấn – BT) không quyền hạn gì và chỉ đưa góp ý kiến về thể thức tuyển cử thôi. Chúng tôi luôn luôn chống đối “coalition” nên không bao giờ để thua CS (cộng sản – BT) điều này.

6. Hoa Kỳ đã cố gắng rất nhiều khi thương thuyết đi đến thỏa hiệp với Bắc Việt để giữ vững tư thế lãnh đạo của tổng thống Thiệu và chúng tôi biết tổng thống Thiệu sẽ “stay forever” (ở lại mãi mãi – BT).

7. Hoa Kỳ đã đưa trên 1 tỉ Mỹ kim “hardware” để tăng cường quân lực VN cộng hòa đủ mạnh trước khi có ngừng bắn, và chúng tôi sẽ tiếp tục giúp thêm cả viện trợ quân sự lẫn kinh tế với mức dồi dào để giúp tổng thống Thiệu giữ vững tư thế lãnh đạo của ông.

8. CSBV biết rõ Hoa Kỳ sẽ rút và quân Đại Hàn cũng sẽ rút hết đến tháng 6-1972.

9. Chúng tôi (Hoa Kỳ – BT) không muốn cho CSBV biết sự rạn nứt giữa Mỹ và VN cộng hòa, nên chúng tôi vẫn tuyên bố: việc thăm dò giữa VN cộng hòa và Hoa Kỳ rất “satisfied” (hài lòng – BT). Trong lúc đó, sáng nay (15-11-1972) tôi mở báo ra xem thì thấy ở Sài Gòn, ông Nhã, ông Lắm tuyên bố trái ngược, gây “embarras” (khó khăn – BT) cho chúng tôi không ít.

10. Việc VN cộng hòa muốn tham dự mật đàm, chúng tôi hoan nghinh (welcome) ý kiến này và sẽ thảo luận với Bắc Việt. Theo tôi biết thì tổng thống Thiệu cử đại sứ Lâm tham dự và đại sứ Lâm sẽ được chúng tôi “briefer” rõ từng điểm mỗi khi xong một buổi mật đàm, để theo dõi và góp thêm ý kiến.

11. Tóm lại chúng tôi (Hoa Kỳ – BT) khẩn khoản yêu cầu tổng thống Thiệu “collaborer” (hợp tác – BT) với chúng tôi và cần “solidaire” (đoàn kết – BT) với chúng tôi mới mong có giải pháp tốt cho VN cộng hòa nếu không “It will be the end” (nó sẽ được kết thúc – BT)”.

Nguyên tắc “sinh tử” của tổng thống Thiệu

Ngày 20-11-1972, trong khi chờ đợi hồi đáp của chính quyền Sài Gòn, tại cuộc đàm phán mật ở Paris, Hoa Kỳ đã trình bản dự thảo hiệp định với những sửa đổi theo chiều hướng quan điểm của chính quyền Sài Gòn. Nhưng sau năm ngày thảo luận, Hoa Kỳ không thể làm lay chuyển lập trường kiên định của những người cộng sản. Dư luận đánh giá cuộc gặp này là một bước thụt lùi lớn so với trước đó một tháng vì Hoa Kỳ đòi sửa đổi hầu hết các vấn đề thực chất trong tất cả các chương theo yêu cầu của chính quyền Sài Gòn.

Tại Sài Gòn, ngày 29-11-1972, Nguyễn Văn Thiệu cử Nguyễn Phú Đức – phụ tá đặc biệt về ngoại vụ – tới Washington hội kiến Nixon. Tại Washington, Nguyễn Phú Đức trao cho Nixon thư của Nguyễn Văn Thiệu, trong đó nói rõ yêu sách của ông ta:

“Phía cộng sản vẫn đòi hỏi chúng tôi phải đầu hàng vô điều kiện mặc dù trên bề mặt họ chỉ sửa đổi vài điểm chỉ có tính cách kỹ thuật… Và họ cũng vẫn buộc chúng tôi phải chấp nhận cái mà họ gọi là cơ cấu chính quyền lấy tên là hội đồng quốc gia hòa giải hòa hợp dân tộc với ba thành phần ngang nhau, với mục đích tổ chức tổng tuyển cử xóa bỏ chế độ tại miền Nam…

Như tôi đã vạch rõ trong giác thư ngày 18-11 vừa qua của Chính phủ VN cộng hòa và bức thư riêng của tôi gửi cho tổng thống cùng ngày, tôi quan niệm rằng đây là hai nguyên tắc chính yếu cho giải pháp chiến cuộc VN. Hơn nữa, những nguyên tắc ấy còn là những nguyên tắc sinh tử của quốc gia chúng tôi.

Về nguyên tắc thứ nhất, là sự hiện diện đương nhiên của quân Bắc Việt tại miền Nam VN sau khi hiệp định được ký kết, chúng tôi quan niệm đây là điểm then chốt, quyết định sự sống còn của miền Nam…

Về vấn đề mọi giải pháp chính trị cho nội bộ miền Nam… thành lập một hội đồng hòa giải quốc gia và dân tộc với hai thành phần đồng đều nhau để thương thuyết và giải quyết mọi vấn đề quân sự chính trị nội bộ miền Nam…

Chúng tôi không mong muốn gì hơn là chủ thuyết của tổng thống được tiếp tục cho VN cũng như cho các quốc gia nhỏ khác ở Đông Nam Á như tổng thống đã chủ trương và chương trình VN hóa quân sự lẫn kinh tế được tiếp tục để VN cộng hòa có đủ khả năng tự lực dần dần…”.

(Trích từ quyển Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973
qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn, do NXB Chính Trị Quốc Gia phát hành tháng 12-2012)
tuoitre.vn

—————————————

Kỳ tới: Bước ngoặt lịch sử

Bước ngoặt lịch sử

Hội đàm Paris – Đường tới hòa bình – Kỳ 4:

TT – Bất chấp việc “cơm không lành, canh không ngọt” giữa Sài Gòn và Washington, ngày 4-1-1973 phiên họp thứ 172 Hội nghị Paris về Việt Nam được khai mạc tại Trung tâm Hội nghị quốc tế, đại lộ Kleber, Paris.

Ông Lê Đức Thọ (phải) trò chuyện riêng với cố vấn Kissinger – Ảnh: Bettmann/Corbis

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ (giữa) trả lời họp báo tại Paris tháng 1-1973 – Ảnh: Jacques Haillot

Phiên họp có sự tham dự của đại diện phái đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa Nguyễn Minh Vỹ, đại diện phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam Đinh Bá Thi, đại sứ William Porter – trưởng phái đoàn Hoa Kỳ và Phạm Đăng Lâm – trưởng phái đoàn Sài Gòn.

Vẫn bất đồng quan điểm

Được quyền phát biểu khai mạc phiên họp, Phạm Đăng Lâm tiếp tục phủ nhận vị thế của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam và đòi hỏi giải quyết vấn đề Việt Nam như trường hợp của Đại Hàn và nước Đức. Ông ta cho rằng ở Việt Nam “có hai quốc gia Việt Nam biệt lập”.

Bác bỏ các luận điệu trên, đại diện phái đoàn Cộng hòa miền Nam Việt Nam Đinh Bá Thi kiên định khẳng định: “miền Nam Việt Nam có hai chính quyền và hai quân đội” và Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam “phải cùng phân chia quyền hành với chính phủ Sài Gòn”. Đồng quan điểm trên, đại diện phái đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa Nguyễn Minh Vỹ yêu cầu Hoa Kỳ ký kết hiệp định mà không được đòi hỏi thay đổi nội dung dự thảo ngày 20-10-1972.

Ngày 7-1-1973, cố vấn Lê Đức Thọ đến Paris chuẩn bị cho cuộc gặp riêng với Kissinger. Tại đây ông tuyên bố: “Từ ngày 13-12-1972, chỉ còn vài vấn đề chưa được giải quyết và có nhiều hi vọng sẽ có kết quả nhanh chóng”. Đồng thời ông lên án Hoa Kỳ ném bom miền Bắc Việt Nam, làm cản trở mật đàm bằng các yêu sách đòi thay đổi căn bản nội dung bản dự thảo hiệp định. Trong khi tại Washington, tổng thống Nixon nhiều lần triệu tập tiến sĩ Kissinger để ra chỉ thị cho cuộc mật đàm. Khi đến Paris, Kissinger tuyên bố “sẽ cố gắng hết sức để mật đàm tiến triển và đem lại kết quả”.

Cuộc mật đàm thứ 23

Ngày 8-1-1973, cuộc mật đàm thứ 23 diễn ra và kéo dài đến ngày 14-1-1973 với thái độ lạnh nhạt của cả hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Hoa Kỳ. Nhưng đến gần kết thúc cuộc mật đàm, thái độ của hai trưởng phái đoàn đột nhiên trở nên cởi mở. Ngày 12-1-1973, lần đầu tiên các chuyên viên (phụ trách các vấn đề kỹ thuật – BT) đã cùng họp chung với hai trưởng đoàn. Đến cuối ngày, hai phái đoàn đã cùng chụp ảnh lưu niệm. Sau đó, Kissinger trở về Washington báo cáo kết quả mật đàm với tổng thống Nixon.

Mặc dù nội dung phiên họp mật không được tiết lộ, nhưng các sự kiện ngoại giao quốc tế trong thời gian cuộc đàm phán diễn ra, cho thấy tiến trình đàm phán hòa bình về Việt Nam đã có sự tiến triển rõ nét. Ngày 9-1-1973, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kurt Waldheim tuyên bố trong một cuộc họp báo: “Liên Hiệp Quốc đã được mời tham dự một cuộc hội nghị về Việt Nam có thể diễn ra trong tương lai và lúc đó Liên Hiệp Quốc sẽ dự liệu đóng góp vào việc tái thiết Đông Dương”.

Diễn tiến trên cho thấy kết thúc phiên mật đàm thứ 23, Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã cơ bản thống nhất nội dung dự thảo và chỉ còn lại các vấn đề mang tính kỹ thuật.

Ngày 15-1-1973, bắt đầu cuộc mật đàm kỹ thuật kéo dài một tuần giữa đại diện Hoa Kỳ Sullivan với đại diện Việt Nam Dân chủ cộng hòa Nguyễn Cơ Thạch để hoàn thiện bản dự thảo hiệp định. Trong khi đó, cố vấn Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy cùng họp với phó trưởng đoàn Cộng hòa miền Nam Việt Nam Đinh Bá Thi thông báo về tiến trình ký kết hiệp định.

Ở Washington, ngày 16-1-1973, tổng thống Nixon ra lệnh ngừng oanh tạc toàn bộ miền Bắc Việt Nam. Trong khi Kissinger gặp ngoại trưởng Hoa Kỳ Roger chuẩn bị cho việc ký kết. Còn đại tướng Haig được cử đi Đông Nam Á để trao đổi với chính quyền Sài Gòn và các chính quyền thân Hoa Kỳ tại khu vực này, thông báo sự tiến triển của tiến trình đàm phán.

Phiên họp cuối cùng

Trong sự biến chuyển mau lẹ sau phiên mật đàm thứ 23 giữa Kissinger và cố vấn Lê Đức Thọ, ngày 18-1-1973 phiên họp thứ 174 – phiên họp cuối cùng của Hội nghị Paris về Việt Nam, được khai mạc với sự tham dự của các phó trưởng đoàn. Phiên họp đã diễn ra với lời lẽ hòa dịu và các bên cùng thống nhất đi đến ký kết hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ngay cả Nguyễn Xuân Phong, phó trưởng đoàn chính quyền Sài Gòn, đến lúc này cũng không còn đòi hỏi bất cứ một yêu sách nào mà tỏ ra hết sức ôn hòa:

“Cuộc hòa đàm đã tiến tới giai đoạn cho thấy ánh sáng lập lòe của hòa bình… Chúng ta phải sẵn sàng chấp nhận mọi cố gắng cần thiết khác để dồn hết nỗ lực khắc phục những khó khăn trở ngại cuối cùng và phải tỏ một thái độ, không phải hấp tấp vội vã mà bình tĩnh và nhẫn nại…”.

Trong khi phó trưởng đoàn Hoa Kỳ Heyward Isham truyền đạt lại quan điểm chấp nhận đàm phán để đi đến ký kết hiệp định của tổng thống Nixon.

Phó trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, ông Đinh Bá Thi, sau khi nêu lên hiện tình chiến tranh tại miền Nam Việt Nam, đã cho rằng vấn đề giải quyết hòa bình ở Việt Nam hiện nay hoàn toàn tùy thuộc Hoa Kỳ. Phát biểu của ông nêu rõ: “Hòa bình ngay ở Việt Nam là đòi hỏi bức thiết của nhân dân Việt Nam, nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới. Chánh phủ Mỹ không thể làm ngơ mãi trước đòi hỏi bức thiết đó. Không những Mỹ phải chấm dứt vĩnh viễn mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa mà còn phải từ bỏ chánh sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, chấm dứt mọi sự can thiệp của họ ở miền Nam Việt Nam. Họ phải ký ngay Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”.

Phát biểu kết thúc phiên họp, cũng là kết thúc Hội nghị Paris về Việt Nam, phó trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa, ông Nguyễn Minh Vỹ, sau khi tổng kết lại quá trình đàm phán tại Paris, tỏ rõ sự hoan nghênh và tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Ông phát biểu:

“Thưa quý vị,

Mục đích Hội nghị bốn bên về Việt Nam tại Paris là tìm một giải pháp đúng đắn cho vấn đề Việt Nam. Chúng tôi nhấn mạnh: để giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam, Mỹ hãy chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, chấm dứt mọi hành động nhằm tăng cường lực lượng và yểm trợ cho quân đội Sài Gòn; chính quyền Sài Gòn hãy chấm dứt ngay mọi cuộc hành quân càn quét lấn chiếm, mọi hành động khủng bố nhân dân và tù chính trị. Các bên hãy nhanh chóng ký “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” trên cơ sở tôn trọng những quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam”.

Đến đây, Hội nghị Paris về Việt Nam, sau bốn năm và hơn tám tháng, gồm hai phiên họp về thủ tục (phiên họp ngày 10-5-1968 và phiên họp ngày 18-1-1969), 202 phiên họp chính thức (28 phiên họp hai bên giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ cộng hòa và 174 phiên họp bốn bên), đã kết thúc với kết quả các bên thống nhất đi đến ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

(Trích từ quyển Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973
qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn, do NXB Chính Trị Quốc Gia phát hành tháng 12-2012)
tuoitre.vn

———————————————

Kỳ cuối: Cánh cửa hòa bình đã hé mở…

Cánh cửa hòa bình đã hé mở…

Hội đàm Paris – đường tới hòa bình – Kỳ cuối:

TT – Lúc đầu mình đề ra hai yêu cầu, thứ nhất là Mỹ rút hết quân và rút vô điều kiện, thứ hai Mỹ phải xóa bỏ chính quyền tay sai. Dần dần mình rút lại từ “chính quyền tay sai” thành “chính quyền”. Bấy giờ chúng tôi hiểu là ở nhà, đặc biệt là đồng chí Lê Duẩn, mong muốn ký hiệp định.

Ngoại trưởng Mỹ W.Rogers (ngồi thứ ba, từ trái sang) đang đặt bút ký Hiệp định Paris – Ảnh: R.L.Knudsen

Cái bắt tay này đã kết thúc chuỗi mật đàm kéo dài ba năm giữa ông Lê Đức Thọ và H.Kissinger. Hai ông được trao giải Nobel hòa bình năm 1973, nhưng ông Lê Đức Thọ từ chối nhận giải – Ảnh: Getty Images

Trao trả tù binh là công việc được thực thi ngay sau Hiệp định Paris. Trong ảnh: các chiến sĩ quân giải phóng khiêng một tù binh Mỹ bị thương đến điểm trao trả, tại Lộc Ninh 1973 – Ảnh: Herman Kokojan

Ta không bao giờ nhân nhượng chuyện Mỹ phải rút quân, còn việc với chính quyền Sài Gòn thì có thể có một hình thức nhân nhượng nào đó để ký được hiệp định. Mỹ rút thì tương quan lực lượng sẽ thay đổi rất nhiều. Vì thế tinh thần của việc chuẩn bị ký hiệp định là ở miền Nam sẽ tồn tại hai chính quyền song song, hai lực lượng quân đội và hai vùng kiểm soát. Chúng tôi được truyền đạt những điều đó ngay từ lúc đang chuẩn bị những văn bản cuối. Lúc bấy giờ chị Bình và các anh chị trong đoàn của Chính phủ cách mạng lâm thời buồn lắm. Chị Nguyễn Thị Chơn, sang thay chị Đỗ Duy Liên, nói rằng như vậy nghe không được. Bao nhiêu khẩu hiệu mình đòi đánh đổ chính phủ Sài Gòn, giờ mình giữ nó lại, hai bên vẫn phải ngồi bàn này khác… Nhưng về sau, khi bên nhà nói rõ được mục đích và ý tứ của mình thì chúng tôi thông suốt lắm, đến lúc ký không có chuyện tâm trạng buồn nữa, ký kết được hiệp định rất vui.

Tuy thế, mấy hôm trước lễ ký thì bọn chúng tôi làm rất cực. Sau khi xong bản ký tắt của ông Lê Đức Thọ với ông Kissinger, hai bên phân công việc in văn bản. Việt Nam dân chủ cộng hòa in các văn bản bằng tiếng Việt, còn phía Mỹ in các văn bản bằng tiếng Anh. Và bản gốc bằng tiếng Việt và tiếng Anh, nhưng ngôn ngữ đàm phán là tiếng Pháp nên phải dịch ra tiếng Pháp, y như lúc thương lượng. Hôm 24 hay 25, chúng tôi qua nhà in nhỏ của một Việt kiều yêu nước, ông Trần Quang Khải. Mình in một hiệp định lớn mà trời ơi, văn bản lộn xộn đến mức có một số đoạn in bản tiếng Việt thì như thế này mà bản tiếng Pháp lại khác đi. Ví dụ, có văn bản ghi rõ tên bốn bên ký, nhưng có văn bản chỉ ghi Hoa Kỳ và các bên Việt Nam.

Tôi nhớ là lúc đầu chỉ phân công mấy anh ở bên đoàn miền Bắc làm chính, bên đoàn miền Nam chúng tôi có mấy người nhưng để đọc dò lại câu chữ thôi. Nhưng đến khi rối lung tung beng, ông Nguyễn Cơ Thạch và ông Phan Hiền phải kéo quân xuống nhà in. Bọn tôi mất hết ngày trời, sắp đưa ra ký chính thức rồi mà đêm đó văn bản vẫn còn chưa đâu vào đâu. Thậm chí Kissinger còn nói đùa với ông Nguyễn Cơ Thạch là nếu chúng ta không in được bản này thì cả tôi với ông “bay đầu” và chuyện sẽ phức tạp vô cùng. Về sau chúng tôi nói “giờ nên giao lại cho một người có kinh nghiệm nhất đọc lại văn bản”, thế là giao cho anh Đặng Nghiêm Bái. Ông ấy tiếng Anh giỏi, tiếng Pháp giỏi và cả tiếng Việt cũng giỏi. Ông ngồi bình tĩnh làm, có khi mấy người cùng giúp ông chỗ này chỗ khác thì cuối cùng mới xong những văn bản này.

ĐỨC TUỆ – THANH HUYỀN ghi

Ngày 20-1-1973, Nguyễn Văn Thiệu cử Vĩnh Lộc – trung tướng – cầm đầu phái đoàn quân sự Sài Gòn đi Paris. Ngày 21-1-1973, Trần Văn Lắm – tổng trưởng ngoại giao chính quyền Sài Gòn – “hấp tấp” bay tới Paris, chuẩn bị ký kết hiệp định.

Ngày 23-1-1973, tại cuộc mật đàm thứ 24 – cuộc mật đàm cuối cùng của tiến trình đàm phán về Việt Nam giữa cố vấn Lê Đức Thọ và tiến sĩ Henry Kissinger, kéo dài gần ba năm từ tháng 2-1970, hai bên đã hoàn thành và cùng ký tắt vào bản văn hiệp định.

11 giờ (giờ Paris), ngày 27-1-1973, tại Trung tâm Hội nghị quốc tế, đại lộ Kleber, Paris, đại diện bốn bên, gồm: Bộ trưởng ngoại giao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Nguyễn Duy Trinh; Bộ trưởng ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình; Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ William P. Rogers và Trần Văn Lắm – tổng trưởng ngoại giao chính quyền Sài Gòn, cùng ký kết vào hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, trước sự đón chào của hàng vạn người yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Hôm 23-1 phiên họp riêng cuối cùng, chỉ có ông Lê Đức Thọ, ông Xuân Thủy, Kissinger và một số người nữa, sau đó là lễ ký tắt hiệp định và trao bút cho nhau.

Mấy hôm trước, tôi đã cùng một anh trong đoàn đi ra phố mua cả hộp bút phớt. Tôi nhớ là lúc ký tắt thì cứ ký một văn bản xong lại thay bút, anh em chúng tôi giữ để còn đưa vào bảo tàng, đưa Bộ Ngoại giao, rồi giữ kỷ niệm. Tôi cũng từng giữ được một cây nhưng sau Lưu trữ trung ương lấy mất! Hôm ký tắt cười ra nước mắt. Phía Mỹ thì hiện đại, ký xong đóng dấu ngay, họ có một cái máy, gí vào chì là xong. Còn bên mình, có một ông mang cái xoong khuấy bột trẻ con đến, ông ấy lấy tờ tin, đốt ngay ở trong phòng hội nghị quốc tế để làm chảy xi ra, rồi mới đóng dấu được.

Tôi không dự lễ ký chính thức hôm 27-1 vì ngày 26 tôi theo đồng chí Lê Đức Thọ về Mạc Tư Khoa. Ngay tối hôm đó, Liên Xô tổ chức mittinh hoành tráng ở nhà Công đoàn, có các nhà lãnh đạo Liên Xô đến dự. Máy bay đưa ông Thọ về lại quay sang Paris đón ông Nguyễn Duy Trinh, rồi cả đoàn cùng về nhà. Đi qua Trung Quốc thì vào đúng tết ta.

Ông LƯ VĂN LỢI
(thư ký cố vấn Lê Đức Thọ)

HÀ ĐĂNG
tuoitre.vn

____________

Tin bài liên quan:

>> Kỳ 1: Hội đàm Paris – đường tới hòa bình
>> Kỳ 2: Căng thẳng Sài Gòn – Washington
>> Kỳ 3: Hoặc hợp tác, hoặc… chấm hết!
>> Kỳ 4: Bước ngoặt lịch sử

Hiệp định Paris tạo tiền đề cho thống nhất đất nước

TTO – Sáng 25-1, buổi lễ kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris long trọng cấp nhà nước đã diễn ra tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (bìa phải) trao tặng huân chương Anh hùng lực lượng vũ trang cho nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình (trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Paris, bìa trái) và ông Lưu Văn Lợi – cố vấn đặc…

Bà Helene Luc (áo đỏ) – thượng nghị sĩ danh dự, chủ tịch Hội Hữu nghị Pháp – Việt có rất nhiều đóng góp giúp đoàn Việt Nam đàm phán tại Hội nghị Paris – xúc động ôm người bạn cũ Nguyễn Thị Bình (thứ hai từ trái sang) – Ảnh: Việt Dũng

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bắt tay các đại biểu khách mời quốc tế tới dự lễ Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam – Ảnh: Việt Dũng

Phát biểu khai mạc, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã điểm lại những khó khăn trong quá trình đàm phán hiệp định cũng như ý nghĩa, bài học của hiệp định này. “Hiệp định Paris là thắng lợi của nhân dân Việt Nam và của nhân dân yêu hòa bình trên thế giới” – ông nói.

“Cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ của quân và dân ta trên chiến trường và đấu tranh ngoại giao tại Paris đều nhằm buộc Mỹ chấm dứt chiến tranh, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Hàng triệu người con của Tổ quốc đã hi sinh xương máu vì mục tiêu thiêng liêng ấy. Hiệp định đã mở ra thời kỳ mới, tạo tiền đề vững chắc cho quân dân ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc” – Chủ tịch nước nhấn mạnh.

Hai phần phát biểu tiếp theo của nguyên phó chủ tịch nước – trưởng đoàn đàm phán Nguyễn Thị Bình và thượng nghị sĩ Pháp Helene Luc, chủ tịch Hội hữu nghị Pháp-Việt, đã khiến hội trường xúc động khi hai bà điểm lại những ấn tượng, ký ức về một thời đấu tranh ngoại giao cam go, khốc liệt không kém gì cuộc đấu tranh trên chiến trường.

Bà Bình nói: “Chúng tôi và một số cán bộ từ nhiều cơ quan chức năng được phân công tham gia hai đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tôi nghĩ chúng tôi đã hết sức cố gắng trong cuộc đàm phán đó”. Động lực lớn nhất để đoàn đàm phán kiên trì đấu tranh, bà Bình nói, là lợi ích tối cao của dân tộc và niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến.

Cuộc thương lượng kéo dài hơn 4 năm và 8 tháng đã trải qua 174 cuộc họp chính thức, công khai cùng hàng chục cuộc tiếp xúc bí mật giữa cố vấn Lê Đức Thọ, trưởng đoàn Xuân Thủy và cố vấn tổng thống Nixon (Mỹ) là Henry Kissinger.

Bà Bình nhớ lại: “Hiệp định này ký được là kết quả của cuộc chống xâm lăng lâu dài trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao và là kết quả của đường lối độc lập, tự chủ và phát huy đoàn kết quốc tế”.

Dịp này, nguyên trưởng đoàn đàm phán Nguyễn Thị Bình đã không quên vinh danh công lao của các chiến sĩ và đồng bào cả nước suốt hơn 20 năm đấu tranh cho độc lập, tự do, thống nhất nước nhà. “Chúng ta hiểu là nếu không có Mậu Thân 1968, không có giải phóng Quảng Trị trong 81 ngày đêm, không có chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, không có hậu phương lớn miền Bắc vì tiền tuyến lớn miền Nam… thì sẽ không có Hiệp định Paris, và do đó sẽ không có đại thắng mùa xuân 1975. Hàng triệu người dân yêu hòa bình ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ, Mỹ Latin và châu Đại Dương cũng đã góp phần vào thắng lợi đó”.

Với bà, sự tham gia của Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam trong quá trình đàm phán là một thắng lợi chính trị – ngoại giao quan trọng, vô hình trung buộc Mỹ thừa nhận các tầng lớp nhân dân Việt Nam đang đấu tranh chống lại sự hiện diện của Mỹ và chính quyền thân Mỹ, đồng thời bác bỏ luận điệu của Mỹ là miền bắc xâm lược miền nam.

Đến từ Pháp, bà Helene Luc (sinh năm 1932) hiện là thượng nghị sĩ, ủy viên Ủy ban Đối ngoại và Ủy ban Quốc phòng của Thượng nghị viện Pháp và chủ tịch Hội hữu nghị Pháp-Việt đã thay mặt bạn bè quốc tế nhìn lại giai đoạn hai đoàn đàm phán Việt Nam có mặt ở Paris cũng như ảnh hưởng của phong trào phản chiến ở Pháp và các nước khác trên thế giới.

Bà Luc nhớ lại: “Đoàn đàm phán của VN Dân chủ Cộng hòa đến Pháp ngày 10-5-1968, đúng lúc đang sục sôi không khí đấu tranh: đông đảo công nhân, sinh viên đã tập hợp xuống đường, hô vang “Hồ Chí Minh” để chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. Đối với một thế hệ, hình ảnh trên biểu trưng cho sự phản đối sức mạnh Mỹ và sự thay đổi xã hội triệt để.” Trong những lần gặp gỡ nhau ở Choisy le Roi, bà Luc nhớ Bộ trưởng Xuân Thủy luôn khẳng định: chúng tôi không bao giờ nhượng bộ, bắc nam chắc chắn sẽ thông nhất và chúng tôi sẽ kiên trì đấu tranh cho thắng lợi này.

Là một trong những người gắn bó với Việt Nam, bà đã có nhiều đóng góp trong việc xây dựng quan hệ đoàn kết truyền thống giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Pháp. Bà đã cùng những người khác trong Đảng Cộng sản Pháp và thành phố Choisy-Le-Roi bố trí nơi ở, làm việc và tận tình giúp đỡ Phái đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa tham dự đàm phán tại Hội nghị Paris về Việt Nam trong những năm 1968-1973.

HƯƠNG GIANG
tuoitre.vn

Trưng bày văn bản gốc Hiệp định Paris

TT – Lần đầu tiên, văn bản gốc Hiệp định Paris được giới thiệu tới công chúng tại triển lãm “Kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris về VN” khai mạc ngày 23-1 và kéo dài đến 28-1 ở Hà Nội.

Nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình nhớ lại những khoảnh khắc, hình ảnh của mình tại triển lãm ảnh kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris – Ảnh: V.DŨNG

Đây chỉ là một trong hàng chục hiện vật đang được trưng bày tại Trung tâm triển lãm 29 Hàng Bài. Công chúng được chào đón tới triển lãm lớn nhất từ trước đến nay về chủ đề này, với 140 bức ảnh, 21 lời trích, 23 hiện vật, 3 tài liệu, 8 cuốn sách. Tất cả nhằm tái hiện những năm tháng chiến tranh và sự phối hợp tài tình giữa mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, sự ủng hộ của nhân dân yêu hòa bình thế giới để đi tới Hiệp định Paris giành lại hòa bình cho VN.

H.GIANG – VIỆT DŨNG
tuoitre.vn

Hiệp định Paris-đỉnh cao thắng lợi, mốc son ngoại giao

Lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1), sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân Việt Nam và nền ngoại giao Việt Nam, tổ chức ngày 25/1, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; các Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ, các vị khách quốc tế, các thành viên phái đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, các cán bộ, chiến sỹ đã tham gia phục vụ Hội nghị Paris đã đến dự.

Tại buổi lễ, các đại biểu đã cùng ôn lại những kỷ niệm về cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ của quân, dân ta trên chiến trường và cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris nhằm mục tiêu buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Cách đây 40 năm, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20; đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân Việt Nam sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao chống Mỹ xâm lược.

Hiệp định đã mở ra một cục diện mới với thế mạnh áp đảo của Việt Nam trên chiến trường, tạo tiền đề vững chắc cho quân và dân tiến lên “đánh cho ngụy nhào” với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Paris đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công.

Song song với đấu tranh trên bàn đàm phán, các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế tại Hội nghị Paris làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh giải phóng và thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam; vạch trần những thủ đoạn, mưu đồ đen tối, tính chất phi nghĩa, tàn bạo của cuộc chiến tranh xâm lược của địch, đã góp phần quan trọng tạo nên Phong trào nhân dân thế giới rộng lớn chống Mỹ, ủng hộ Việt Nam – một Phong trào mang tính lịch sử và thời đại, tiêu biểu cho lương tri của loài người, đã tác động rất lớn tới dư luận tiến bộ Mỹ, thúc đẩy sự lớn mạnh của phong trào phản chiến ngay trong lòng nước Mỹ.

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao Việt Nam thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ, chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước mà trực tiếp là cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ.

Chủ tịch nước bày tỏ, kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ghi lòng tạc dạ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người đã đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; ghi nhớ công lao của biết bao đồng bào, đồng chí, chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh để làm nên những chiến công chói lọi; ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của các thành viên: Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa do đồng chí Xuân Thủy làm Trưởng đoàn và Đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do bà Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn, đặc biệt là vai trò và những cống hiến to lớn của cố vấn Lê Đức Thọ; biết ơn chân thành các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ, cổ vũ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam vì độc lập, tự do, hòa bình và công lý.

Chủ tịch nước cũng khẳng định Hội nghị Paris và Hiệp định Paris để lại nhiều bài học sâu sắc, có ý nghĩa lớn trong tình hình hiện nay. Trước hết là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng mở ra mặt trận ngoại giao, phát huy thế mạnh của ngoại giao, phối hợp với các mặt trận chính trị, quân sự; lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất các mặt trận, “vừa đánh, vừa đàm,” tạo ra sức mạnh tổng hợp, giành toàn thắng.

Thứ hai là bài học về kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia dân tộc; vận dụng đúng đắn phương châm ngoại giao Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn biến,” tạo thời cơ, kéo địch vào đàm phán, chủ động tấn công ngoại giao và kết thúc đàm phán khi điều kiện chín muồi; xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế rộng rãi đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam để làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris.

Thứ ba là bài học về tầm quan trọng của thực lực. Bác Hồ dạy: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Cái chiêng có to, tiếng mới lớn.” Thắng lợi của Hội nghị Paris bắt nguồn từ những thắng lợi trên chiến trường, từ sự lớn mạnh không ngừng về thế và lực của ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó là sức mạnh của chính nghĩa, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế; sức mạnh từ sự kết hợp tài tình giữa các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao; giữa đánh và đàm, giữa chiến trường và bàn đàm phán

Thứ tư là bài học về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Để vượt qua những thách thức lớn, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phương cách cực kỳ quan trọng, bảo đảm thắng lợi. Cuộc chiến đấu vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta thắng lợi vì đã phát huy được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công.”

Thứ năm là bài học về xây dựng lực lượng. Từ Hội nghị Geneva năm 1954 đến Hội nghị Paris, đội ngũ cán bộ ngoại giao đã trưởng thành vượt bậc, được chuẩn bị và trang bị kỹ cả về kiến thức đối ngoại và nghệ thuật đàm phán. Cùng với sự chỉ đạo sát sao, Đảng và Nhà nước đã chọn lựa, tin tưởng giao trách nhiệm cho những cán bộ đối ngoại bản lĩnh nhất, xuất sắc nhất tham gia hai đoàn đàm phán, góp phần rất quan trọng làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris.

Chủ tịch nước nhấn mạnh các bài học của Hội nghị Paris là hành trang quý giá để đất nước vững bước tiến vào giai đoạn hội nhập quốc tế, đưa quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, củng cố, nâng cao thế và lực của đất nước. Phát huy truyền thống tốt đẹp của ngoại giao Việt Nam và những bài học quý giá của Hội nghị Paris, công tác đối ngoại cần quát triệt, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ Đại hội XI của Đảng đã đề ra, trong đó cần tập trung tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại; kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; là bạn là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đối ngoại phục vụ sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước; xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại tuyệt đối trung thành, suốt đời phấn đấu vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Chủ tịch nước nêu rõ, Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn tin tưởng và kỳ vọng rằng, phát huy tinh thần Hội nghị Paris, công tác đối ngoại nhất định sẽ tiếp tục đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa; ghi tiếp các mốc son mới trong sự nghiệp xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tại buổi lễ, Chủ tịch nước đã trao tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho hai đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vì những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

Tại buổi lễ, Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, nguyên trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã phát biểu nhấn mạnh thắng lợi của Việt Nam tại cuộc đàm phán Paris là minh chứng tập trung nhất về sự đúng đắn, tài tình của đường lối sách lược của nền ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tỉnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam

Nguyên Phó Chủ tịch nước nhấn mạnh, nếu không có Tết Mậu Thân 1968, không có cuộc giải phóng tỉnh Quảng Trị và 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt xung quanh Thành cổ Quảng trị, không có trận Điện Biên Phủ trên không, không có Miền Bắc – Hậu phương lớn hỗ trợ cho tiền tuyến lớn phía Nam thì không có Hội nghị Paris về Việt Nam, không thể có Đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Bên cạnh đó, không thể không kể đến hàng triệu, hàng triệu người trên thế giới ở châu Âu, châu Á-Phi-Mỹ Latinh, châu Đại dương, phong trào phản chiến ở Mỹ bằng nhiều hình thức đã góp phần vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam.

Đại diện các đoàn khách quốc tế dự buổi lễ, bà Helene Luc, Thượng nghị sỹ danh dự Thượng viện Pháp, Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp-Việt nhấn mạnh Hiêp định Paris cũng là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, những người đã đồng hành ủng hộ, giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ.

Hiệp định Paris đã củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa; đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, vì hòa bình và công lý. Sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp là một phần của lịch sử kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam, tiếp tục đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bí thư Đoàn Thanh niên Bộ Ngoại giao Lê Việt Phương thay mặt tuổi trẻ cả nước khẳng định, ý nghĩa lịch sử và các bài học quý báu từ quá trình đàm phán và kí kết Hiệp định Paris là hành trang vô cùng quý giá theo suốt thế hệ thanh niên trên con đường phụng sự Tổ quốc, bày tỏ lòng biết ơn chân thành với cống hiến, công lao to lớn của thế hệ đi trước; nhấn mạnh sẵn sàng nhận nhiệm vụ, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

baochivietnam.com.vn

Hiệp định Paris và tấm lòng bạn bè quốc tế

Hôm qua, 26-1, tại Hà Nội, Liên hiệp Các tổ chức Hữu nghị Việt Nam đã tổ chức cuộc giao lưu “Hiệp định Paris và tấm lòng bạn bè quốc tế”. Tham gia cuộc giao lưu là những vị khách quốc tế, các nhân chứng lịch sử đã tham gia vào quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam cách đây 40 năm.

Không khí ấm áp cuộc giao lưu tại Hà Nội ngày 26-1

Tại buổi giao lưu, các đại biểu Việt Nam và các đại biểu quốc tế một lần nữa khẳng định Hiệp định Paris được ký kết là thắng lợi lịch sử trọng đại của nhân dân Việt Nam. Đây cũng là thắng lợi của tất cả những ai trên thế giới đã ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Ông Ramsey Clark: người đã từng làm việc 8 năm trong các chính quyền Mỹ và là Bộ trưởng Bộ Tư pháp từ năm 1967 – 1969 dưới thời Tổng thống Johnson chia sẻ: Ngay khi ở trong chính quyền tôi đã không tán thành những chính sách chiến tranh do giới quân sự đề ra. Sau khi rời chính quyền, tôi đã tham gia vào phong trào hoà bình đòi chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tôi đã cùng vợ sang Paris, gặp phái đoàn đàm phán của Việt Nam để tìm hiểu về thực tế Việt Nam. Sau cuộc gặp này, tôi đã tham gia vào phong trào đấu tranh vì hoà bình ở Việt Nam. Vào tháng 8-1972, tôi đã có chuyến thăm đáng nhớ tới Việt Nam. Lần ấy, tôi đã đi 6 tỉnh, thành phố miền Bắc để chứng kiến những nơi bị Mỹ ném bom và ghi lại nhiều hình ảnh rất đỗi giản dị về Việt Nam, như đê sông Hồng hay cảnh người dân đang lao động. Khi trở về Mỹ, những bài báo và những bức ảnh về chuyến thăm này đã được đăng trên tờ Life Magazine đã giúp đông đảo người Mỹ hiểu rằng: hệ thống đê của Việt Nam không phải là những cơ sở quân sự. Khi ấy, tại Mỹ cũng nổ ra cuộc tranh luận nóng bỏng về việc quân đội Mỹ có đánh phá hệ thống đê của miền Bắc hay không. Bài báo đã thức tỉnh dư luận Mỹ và nhiều người đã lên tiếng kiến nghị Liên Hợp Quốc ngăn chặn việc này. Cuối cùng kế hoạch ném bom đê sông Hồng của quân đội Mỹ đã buộc phải hủy bỏ.

Ông André Marcel Menras ngay sau khi tốt nghiệp trường Đại học sư phạm thành phố Montpellier (Pháp), năm 1968, sang Việt Nam dạy học tại Trường Blaise Pascal, Đà Nẵng theo một chương trình hợp tác văn hóa giữa chính phủ Pháp và chính quyền Việt Nam Cộng hòa và đến năm 1969 chuyển về dạy tại trường Lê Quý Đôn, Sài Gòn. Ông tâm sự, tôi đã tận mắt chứng kiến nhiều cảnh tượng đau thương do chiến tranh gây ra, điều đó khiến tôi, một người thầy giáo yêu chuộng hòa bình không thể chịu nổi. Tôi quyết định phải làm gì đó để ngăn chặn cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ tại Việt Nam.Tháng 7-1970, tôi cùng với Jean Pierre Debris (một người bạn Pháp) treo lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trước Hạ nghị viện Việt Nam Cộng hòa và rải truyền đơn đòi hỏi Mỹ và quân đội đồng minh của họ rút quân để Việt Nam. Sau đó, tôi đã bị bắt và giam trong tù suốt 2 năm rưỡi tại Trung tâm cải huấn Chí Hòa. Và đến ngày 1-1-1973, tức là 27 ngày trước khi Hiệp định Paris được ký kết, tôi bị trục xuất khỏi Việt Nam. Trong nhà lao Chí Hòa, tôi đã bí mật lấy danh sách của tù nhân chính trị đang bị giam giữ tại Côn Đảo, Chí Hòa, Tân Hiệp và Phú Quốc lúc đó. Danh sách ấy tôi gửi tận tay cho bà Phạm Thị Minh (Phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam) để giúp phái đoàn bác bỏ luận điệu của Việt Nam Cộng hòa và Mỹ rằng không có tù nhân chính trị tại miền Nam Việt Nam.

Xúc động khi nhớ lại những thời gian sống trong tù, ông André Marcel Menras nói, khi ở tù ông đã gặp một người bạn tên Nguyễn Văn Quới, là thày giáo dạy tiếng Anh. Hai người thường xuyên trao đổi thông tin với nhau và chính anh Quới đặt cho tôi cái tên Việt Nam là Hồ Cương Quyết. “Năm 2009, tôi đã vinh dự là người nước ngoài đầu tiên được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết công nhận Quốc tịch Việt Nam với cái tên Hồ Cương Quyết” – A.M.Menras xúc động nói.

Mỹ Hạnh
daidoanket.vn

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình: Để có đoàn kết quốc tế, đoàn kết dân tộc phải mạnh

Có nhiều yếu tố hội tụ làm nên phẩm chất đặc biệt của Bà – một trí thức từng theo học ” trường Tây”, một nhà yêu nước và cách mạng, một nhà ngoại giao xuất sắc, một nhân vật lịch sử của những thời khắc lịch sử của đất nước. 40 năm sau Hiệp định Paris mà bà đảm nhận vai trò Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và là người phụ nữ duy nhất ký vào bản Hiệp định bốn bên, đã ở tuổi 87, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình vẫn làm mọi người kinh ngạc vì trí tuệ mẫn tiệp, vì phong thái lịch lãm vốn có của một nhà ngoại giao. Hiếm có ai giữ gìn hình ảnh một cách nghiêm cẩn như bà.

Bà Nguyễn Thị Bình tại Lễ ký Hiệp định Paris, 27 – 1 – 1973
                                                       Ảnh: TL

Tôi từng phỏng vấn bà không dưới 3 lần, và lần nào bà cũng đúng giờ hẹn không sai một phút, không hề có một chi tiết bất cẩn trong trang phục, kiểu tóc, cẩn trọng trong từng lời nói và truyền một phong thái cuốn hút với người đối diện.

Kỷ niệm 40 năm ngày Ký Hiệp định Paris, bà từ chối tất cả các nhà báo vào những ngày Hà Nội quá lạnh vì lý do sức khỏe. Chỉ khi thấy trời ấm lên, có thể xuất hiện trước truyền thông với phong thái khỏe mạnh, minh mẫn vốn có bà mới đồng ý cho báo chí phỏng vấn.

PV: Thưa bà, 40 năm đã trôi qua, cảm xúc của thời khắc tự tay đặt bút ký vào bản Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam hẳn vẫn còn vẹn nguyên?

Bà Nguyễn Thị Bình tại Paris, 24 – 10 – 1972

Nguyên Phó Chủ tịch nước NGUYỄN THỊ BÌNH: Cuộc đàm phán kéo dài gần 5 năm, đúng ra là 4 năm 8 tháng. Khi đặt bút ký, tôi được thay mặt nhân dân miền Nam ký vào một văn kiện lịch sử. Kết quả của Hiệp định là bao nhiêu xương máu của đồng bào, đồng chí. Lúc ấy tôi nghĩ đến những người thân quen đã đi xa không được chứng kiến những giờ phút lịch sử này…Xúc động trào nước mắt. Cảm xúc ấy đi cùng tôi suốt cuộc đời.

Bốn năm tám tháng, quãng thời gian đằng đẵng trong hành trình kháng chiến và mong mỏi một ngày thống nhất đất nước của dân tộc. Bà còn nhớ cảm giác có những lúc bi quan trong quá trình đàm phán dài dằng dặc ấy?

Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam là cuộc đàm phán ngoại giao dài nhất trong lịch sử, cho một cuộc chiến tranh cũng dài nhất trong lịch sử. Gần 5 năm trời ngồi trên bàn ngoại giao không phải dễ dàng gì. Nhất là cuộc đấu tranh có lúc dậm chân tại chỗ. Có lúc báo chí phương Tây nói rằng đây là câu chuyện giữa người “điếc” với nhau, mỗi bên đều nói lập trường của mình. Không ai nghe ai hết. Thực tế trên chiến trường tương quan lực lượng chưa rõ. Vì vậy hai bên giằng co. Có những cuộc họp lặp đi lặp lại, chán ngán lắm. Nhưng có một điều luôn luôn phải thường trực trong ý nghĩ là không bao giờ được thất bại. Nhất định cuộc kháng chiến của mình sẽ giành thắng lợi, chỉ có vấn đề là lúc nào thôi. Và mong muốn là nó đến sớm.

Thưa bà, 40 năm về trước, bằng hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thật đẹp, thật lạ trên bàn đàm phán Hiệp định Paris nói như nhà văn Nguyên Ngọc là: “khiêm nhường mà uyên bác, gần gũi mà sang trọng, sự kiên định không gì lay chuyển nổi lại được thể hiện chính bằng một vẻ thong dong đầy tự tin…”, bà đã góp công lớn cho thành công của Hiệp định Paris và “mang bạn bè về cho dân tộc”?

Điều này cũng nói lên rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của mình nhận được sự đồng tình và cảm tình ủng hộ rộng rãi của nhân dân thế giới.

Cho nên, nhiều người nói rằng cuộc đàm phán ấy có một bên “thứ 5” là tình cảm, sự ủng hộ của nhân dân Pháp và nhân dân các nước đối với Việt Nam, thưa bà?

Có rất nhiều câu chuyện cảm động bên lề Hội nghị Paris mà nhiều người đã biết, sau 40 năm, chắc không còn chuyện gì chưa kể ra hết đâu. Lúc bấy giờ, Paris như là tâm điểm của thế giới. Vì cả thế giới theo dõi xem lúc nào chiến tranh ở Việt Nam sẽ chấm dứt. Vì nó kéo dài quá. Chúng ta nhớ rằng tờ NewYork Time của Mỹ tổng kết trong 10 năm, cột tin trang nhất của tờ báo hàng ngày đó chỉ nói về chiến tranh Việt Nam. Rồi vô tuyến truyền hình thế giới, trong 5 năm diễn ra Hội nghị Paris, thứ 5 nào họ cũng chiếu cảnh mấy đoàn gặp nhau để đàm phán. Vì vậy tôi trở thành người quen thuộc với những người chưa hề gặp bao giờ. Có một lần ở sân bay Paris tôi gặp một số phụ nữ, họ chạy đến bắt tay tôi, tay bắt mặt mừng. Tôi nghĩ bụng không biết mấy bà này ở đâu. Tôi nói là tôi chưa quen các vị. Các bà ấy nói là không, chúng tôi quen bà. Tôi hỏi vậy các bà quen tôi ở đâu? Họ nói là quen trên vô tuyến truyền hình, mỗi thứ 5 đều chiếu hình ảnh bà ở Hội nghị đàm phán nên tôi quen với bà lắm…

Bà Nguyễn Thị Bình kí Hiệp định Paris
                                                         Ảnh: T.L

Thưa bà, nhiều thế hệ người Việt Nam đã được sinh ra trong quãng thời gian 40 năm qua. Giá trị của Hiệp định Paris với nền hòa bình và thống nhất đất nước, bây giờ nhìn lại, phải hiểu chính xác như thế nào? Và Hiệp định Paris thưa bà, cũng vẫn mãi là bài học lớn cho hôm nay trong bảo vệ độc lập, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ bằng đàm phán ngoại giao?

Hiệp định Paris là kết quả của cả cuộc chiến đấu, 20 năm đúng hơn là 18 năm chưa kể 2 năm đi đến Đại thắng Mùa xuân 1975. Cuộc chiến đấu rất dài. Có thể nói Đại thắng mùa xuân 1975 là thắng lợi nhờ cuộc đấu tranh trên 3 mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Khi đàm phán tại Hội nghị Paris đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuy 2 mà 1, nên vận động quốc tế chúng ta có cùng một nội dung nhưng mỗi đoàn lại có một nội dung hơi khác nhau. Chính phủ Cách mạng Lâm thời với đường lối rộng rãi của mình có thể tranh thủ được rộng rãi nhiều lực lượng, những người không thuộc đảng phái nào nhưng ủng hộ độc lập hòa bình. Còn đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ thu hút sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa mà còn thu hút lực lượng của các phong trào cánh tả… Nên phong trào đoàn kết quốc tế do 2 đoàn chúng ta do 2 chủ thể triển khai tạo thành một mặt trận đoàn kết quốc tế rất rộng lớn chưa từng có trong lịch sử. Nó tác động đến các chính phủ, đặc biệt chính phủ Mỹ và tạo thuận lợi cho chúng ta trong cuộc đàm phán.

Rốt cuộc chúng ta buộc được Mỹ phải chấm dứt chiến tranh rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam, để vấn đề Việt Nam cho những người Việt Nam giải quyết. Điều đó có ý nghĩa to lớn lắm. Tất nhiên chúng ta cũng phải hy sinh xương máu. Nhưng nếu không trả giá đắt thì không thể thắng lợi, phải thấy cái đó. Điều rút ra là ta phải chiến đấu vì lợi ích của chúng ta. Chính thế giới không những ủng hộ Việt Nam vì chúng ta có chính nghĩa mà họ còn ủng hộ vì chúng ta dám đứng lên bảo vệ nền độc lập của mình, quyết tâm chiến đấu và đã thắng lợi từng bước. Điều đó tạo ra tình cảm mến phục của cả thế giới đối với chúng ta. Do đó chúng ta có được sự ủng hộ quốc tế rất lớn của thế giới. Muốn có được đoàn kết quốc tế rộng lớn thì đoàn kết dân tộc phải vững mạnh. Đó là bài học còn giá trị cho đến ngày nay và cả tương lai.

Xin được bày tỏ lòng ngưỡng mộ và trân trọng cảm ơn Bà. Kính chúc Bà sức khỏe!

…Cuộc đời tôi may mắn gắn chặt với những sự kiện lịch sử trong thế kỷ 20 với những cuộc chiến oai hùng nhất của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc – cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nối tiếp nhau ròng rã 30 năm và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

…Nhìn lại những năm chiến đấu kéo dài, vô cùng ác liệt đã qua, thế hệ chúng tôi đều thống nhất với nhau: đó là thời kỳ đẹp đẽ nhất của cuộc đời, với ý nghĩa là chúng tôi đã sống có mục đích, có lý tưởng, trọn lòng tin ở tương lai của đất nước, ở sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, của Bác Hồ.

Dù ở chiến trường, nhà lao hay trên mặt trận đối ngoại, chúng tôi chấp nhận sự gian khổ, hy sinh nhưng cảm thấy hạnh phúc, luôn tràn ngập niềm tin và hy vọng.

…Đại đoàn kết dân tộc vì một mục tiêu chung phải là bài học lớn nhất của nhân dân ta. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”. Đó là phương châm của những thắng lợi trong quá khứ và cũng sẽ là phương châm của sự thành công trong hiện tại và tương lai.

Chúng ta có cơ sở để tạo nên Đại đoàn kết với 3 chung: chung cội nguồn, chung một mối an – nguy với thế lực bên ngoài, chung một tương lai huy hoàng cho đất nước. Và niềm tin trước đây cũng như hiện nay sẽ là sức mạnh tinh thần to lớn nhất của toàn dân tộc…

(Trích phát biểu của bà Nguyễn Thị Bình tại buổi giới thiệu cuốn hồi ký “Gia đình, bạn bè và đất nước”)

Cẩm Thúy (Thực hiện)
daidoanket.vn

Những bí mật bất ngờ ở hội nghị Paris

Lần họp cuối cùng, Kissinger ngỡ ngàng khi đoàn Việt Nam không ra cổng đón mà còn bị cố vấn Lê Đức Thọ mắng xối xả: “Chính các ông, không phải ai khác đã bôi nhọ danh dự nước Mỹ”.

>> Ông Lê Đức Thọ ‘mổ xẻ’ cố vấn Mỹ ở bàn đàm phán ParisHiệp định Paris, đỉnh cao của nền ngoại giao Việt Nam /Lần đầu tiên trưng bày kỷ vật quý về 40 năm Hiệp định Paris

Cuộc đấu tranh về ngoại giao tại Paris giữa bốn bên Mỹ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa diễn ra đồng thời với cuộc đấu tranh trên mặt trận quân sự. Thắng lợi về quân sự ảnh hưởng trực tiếp đến cục diện trên bàn ngoại giao. Chính vì vậy, sau thất bại của “đòn quyết định” dùng B52 tấn công miền Bắc Việt Nam, Mỹ đã phải gửi công hàm đề nghị nối lại đàm phán Paris sau khi trì hoãn thống nhất nội dung.

Ông Hà Đăng, thành viên đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam kể, ở Paris, đoàn đàm phán cũng theo dõi được chuyện bắn rơi B52 như thế nào, ở đâu. Đến khi nghe nói “trận Điện Biên Phủ trên không” thì tất cả mọi người đều sung sướng. “Như vậy là mình đã chiến thắng, chúng tôi tin tưởng và mong chờ ngày họp lại, cố vấn Lê Đức Thọ sẽ sang”, ông Đăng kể.

Đúng là cố vấn trở lại Pháp sau đó. Ngày 13/1, cuộc gặp riêng cuối cùng giữa cố vấn Lê Đức Thọ và cố vấn tổng thống Mỹ Kissinger tại Paris. Theo ông Đăng, đoàn của Việt Nam đến sớm, đoàn Mỹ đến đúng giờ. Nơi hẹn là ngôi biệt thự có sân to để được mấy chiếc xe hơi. Những lần trước, khi còn đang đàm phán với nhau, với tư cách là chủ thì theo phong tục Việt Nam ra đón khách, mọi người đứng ngoài cổng, bắt tay mời đoàn Mỹ vào phòng họp.

Cố vấn Lê Đức Thọ (người giơ tay). Ảnh tư liệu.

“Nhưng lần này báo chí tập trung sẵn sàng chụp ảnh ngoài cổng vẫn không thấy đoàn Việt Nam ra. Đúng giờ hẹn, đoàn Kissinger đến thì người gác ra mở cổng. Ông ta không thấy có người ra đón nên ngỡ ngàng, vào phòng thì bị cố vấn Lê Đức Thọ chỉ trích túi bụi. Bọn tôi ở trên gác nghe rất sướng”, ông Hà Đăng kể.

Ông Phùng Khắc Tư, phóng viên báo Phòng không Không quân thì cho hay, ngày 4/2/1973, ông xuống tiểu đoàn 77 tên lửa để đón cố vấn Lê Đức Thọ đến thăm. Lúc đó, tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn thay mặt các chiến sĩ chúc mừng chiến thắng của cố vấn từ hội nghị Paris trở về, ông đã xua tay nói: “Không, không phải tôi mà chính các đồng chí. Bởi vậy, sau khi vừa xuống máy bay tôi đã đề nghị được đến thăm một trận địa tên lửa. Chính các đồng chí đã cho tôi sức mạnh và sự kiên quyết trước kẻ thù trên bàn hội nghị”.

Cố vấn kể, sau khi hội nghị Paris được nối lại vào ngày 8/1, Kissinger và phái đoàn Mỹ vừa ngồi vào bàn hội nghị thì cố vấn nói thẳng: “Các ông đã kiếm cớ thương lượng bị gián đoạn để dùng B52 đánh vào Hà Nội, đúng hôm tôi vừa trở về. Hành động của các ông lúc đó thật trắng trợn và rất thô bạo. Chính các ông không phải ai khác đã bôi nhọ danh dự nước Mỹ”.

Kissinger lúc đó rất lúng túng và phân bua: “Đó không phải là trách nhiệm của tôi. Việc ném bom B52 xuống Hà Nội không phải là lỗi của tôi”. Nhưng cố vấn Lê Đức Thọ tức giận, đập tay xuống bàn và nói: “Hơn 10 năm Mỹ đã dùng bạo lực để khuất phục Việt Nam, nhưng các ông không rút ra được bài học nào từ thất bại đó. Thật là ngu xuẩn, thật là ngu xuẩn, ngu xuẩn”.

Lúc đó người phiên dịch không dám dịch những từ cuối của cố vấn Lê Đức Thọ, nhưng thành viên trong phái đoàn Mỹ không những đã dịch nốt mà còn nhấn mạnh từ cuối: “Stupid, stupid, stupid”. Lúc đó, cố vấn Kissinger rất lúng túng và đề nghị: “Xin mời ông giảm âm lượng và không nên dùng những từ như vừa rồi, vì ở ngoài kia còn bao nhiêu người theo dõi”.

Cố vấn đáp luôn: “Những từ đó tôi đã dùng hết sức kiềm chế, còn báo Mỹ, người Mỹ còn dùng những từ khắc nghiệt hơn nhiều về hành động này”. Với khí thế chiến thắng, cố vấn kể, ông đã không đồng ý khi Kissinger đặt điều kiện đòi Việt Nam phải trả hết tù binh ngay sau khi ký hiệp định và phía ngụy quyền trả sau 60 ngày. Kissinger đã phải nhượng bộ.

Trong câu chuyện, thỉnh thoảng cố vấn Lê Đức Thọ lại nói với những người lính tên lửa: “Cảm ơn các đồng chí đã cho tôi đập bàn và cho tôi nói. Không có chiến thắng của các đồng chí trên mặt trận quân sự thì sẽ không có chiến thắng ở mặt trận ngoại giao. Các đồng chí đã bắn rơi B52 trên bầu trời Hà Nội và chính cái đó buộc Mỹ ký hiệp định ngày 27/1/1973”.

Ông Lý Văn Sáu (phải) tại một buổi họp báo. Ảnh tư liệu.

Đoàn Việt Nam không chỉ khôn khéo, cương quyết trên bàn đàm phán mà thông tin trao đổi với báo chí nước ngoài cũng rất rõ ràng. Ông Lý Văn Sáu, người phát ngôn của Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại hội nghị Paris cho biết, để cho người ta hiểu được thế nào là miền Bắc, miền Nam, đường mòn Hồ Chí Minh… cũng rất phức tạp. Đoàn Việt Nam phải nói để cho báo chí hiểu, từ hiểu mới viết đúng được.

Lần họp báo đầu tiên sau phiên họp bốn bên, một nhà báo Mỹ đã đưa ra một bức ảnh bản đồ nước Việt Nam và nói: “Các ông là Việt cộng, các ông vỗ ngực nói giải phóng 2/3 miền Nam Việt Nam, ông chỉ cho tôi xem vùng giải phóng của các ông ở đâu”. Lúc này, ông Sáu nghĩ, vùng giải phóng của mình đang bị tấn công tới tấp, mà chủ yếu là rừng núi, còn đồng bằng chỉ có “tấm lòng giải phóng”.

“Tôi trả lời là ông hãy về hỏi Bộ tư lệnh Mỹ ngày hôm nay ném bom ở đâu, nơi bị ném bom chính là vùng giải phóng của tôi”, ông Sáu kể và cho hay lúc đó phòng họp vỗ tay rào rào.

Đến phiên họp báo sau khi ký hiệp định Paris, có mấy nhà báo Mỹ hỏi “Bây giờ, qua mấy năm đấu tranh, chúng ta đã quen biết nhau, ông muốn nhắc nhở chúng tôi điều gì?”. Ông Sáu nói: “Đừng quên Việt Nam, nhớ Việt Nam để đừng sai phạm một lần nữa ở Việt Nam”.

Các mốc lịch sử quan trọng trong quá trình đàm phán Hiệp định Paris:

Năm 1968:

31/1: Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tổng tiến công các thành phố lớn, hầu hết các tỉnh lị và nhiều căn cứ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam.

31/3: Tổng thống Johnson tuyên bố hạn chế ném bom miền Bắc và nói chuyện hòa bình với Việt Nam dân chủ Cộng hòa.

13/5: Hội nghị Paris giữa hai bên Mỹ và Việt Nam dân chủ Cộng hòa khai mạc.

31/10: Johnson ra lệnh chấm dứt ném bom miền Bắc và đề nghị họp hội nghị bốn bên vào ngày 6/11/1968.

Năm 1969:

25/1: Hội nghị bốn bên Việt Nam dân chủ Cộng hòa – Mặt trận dân tộc giải phóng – Hoa Kỳ – Việt Nam cộng hòa khai mạc ở Paris.

4/8: Henry Kissinger bí mật gặp ông Xuân Thủy lần đầu ở Paris.

Năm 1970:

21/2: Lê Đức Thọ – Xuân Thủy gặp Kissinger, bắt đầu gặp riêng giữa Lê Đức Thọ và Kissinger.

4/5: Chính quyền Nixon cho cảnh sát bắn chết bốn sinh viên phản đối chiến tranh Việt Nam tại ĐH Kent.

9/5: Ngày toàn quốc phản đối chiến tranh Việt Nam ở khắp nước Mỹ.

Năm 1972:

25/1: Nixon đơn phương công bố nội dung các cuộc gặp riêng và đề nghị 8 điểm đưa ra hôm 16/8/1971.

31/1: Việt Nam dân chủ Cộng hòa tuyên bố đề nghị 9 điểm.

22/3: Mỹ tuyên bố ngừng họp Hội nghị Paris vô thời hạn.

6/4: Nixon hạ lệnh ném bom lại miền Bắc Việt Nam.

2/5: Lê Đức Thọ và Xuân Thủy gặp Kissinger.

8/5: Mỹ thả mìn phong tỏa các cảng biển và cửa sông miền Bắc.

Tháng 6: Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định chuyển sang chiến lược hòa bình.

19/7: Tại cuộc gặp riêng, Mỹ và Việt Nam đều đưa ra tuyên bố về chính sách chung.

8/10: Việt Nam đưa ra dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”.

20/10: Mỹ tuyên bố “Hiệp định xem như đã hoàn thành” và lập cầu hàng không Enhance Plus tiếp tế ồ ạt vũ khí cho Sài Gòn.

23/10: Mỹ lại nêu nhiều trở ngại để trì hoãn.

26/10: Việt Nam tuyên bố thỏa thuận đã đạt được.

2/11: Nixon ra lệnh B52 tiến công phía Bắc khu phi quân sự.

7/11: Nixon tái đắc cử tổng thống Mỹ.

20/11: Thương lượng lại, Mỹ đòi sửa đổi hầu hết các vấn đề thực chất trong tất cả các chương theo yêu cầu của chính quyền Sài Gòn.

18/12: Nixon cho B52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng, mở đầu chiến dịch Linebacker 2 kéo dài 12 ngày đêm, đồng thời gửi công hàm cho Việt Nam yêu cầu họp lại. Việt Nam dân chủ Cộng hòa không trả lời.

22/12: Mỹ lại gửi công hàm yêu cầu họp lại với điều kiện Mỹ sẽ chấm dứt ném bom trên vĩ tuyến 20.

26/12: Việt Nam dân chủ Cộng hòa đòi trở lại tình hình trước ngày 18/12 thì hai bên sẽ họp lại. Mỹ chấp thuận.

30/12: Mỹ chấm dứt ném bom trên vĩ tuyến 20.

Năm 1973:

8/1: Họp lại

13/1: Hoàn thành hiệp định. Đây là cuộc gặp riêng cuối cùng.

23/1: Lê Đức Thọ và Kissinger kí tắt Hiệp định.

27/1: Bốn bên kí Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

28/1: Ngừng bắn trên tòan miền Nam.

2/3: Ký định ước Paris về Việt Nam.

Hoàng Thùy trích lược “Đối mặt B52”
vnexpress.net

Những người bạn quốc tế từng ngồi tù vì ủng hộ Việt Nam

Trèo lên tượng nữ thần Tự Do vẫy cao lá cờ đỏ sao vàng, tổ chức biểu tình trước cổng Nhà Trắng hay bắt cóc sĩ quan Mỹ để đổi lấy mạng sống của Nguyễn Văn Trỗi…, nhiều bạn bè quốc tế đã phải ngồi tù vì ủng hộ Việt Nam.

>> Ông Lê Đức Thọ ‘mổ xẻ’ cố vấn Mỹ ở bàn đàm phán Paris / Hiệp định Paris, đỉnh cao của nền ngoại giao Việt Nam

Sáng 26/1, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam tổ chức chương trình “Hiệp định Paris – Vòng tay bè bạn”. Đây là chương trình nhằm tri ân những người bạn quốc tế đã ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh, góp phần không nhỏ trong sự thành công của Việt Nam trên bàn đàm phán Paris.

Vượt hàng nghìn km từ nhiều đất nước khác nhau đến Việt Nam, những người bạn quốc tế yêu chuộng hòa bình bày tỏ niềm vui và hạnh phúc khi hòa bình đã lập lại ở Việt Nam được 40 năm. Từ những thanh niên hăng hái tham gia phong trào phản chiến, nay những người bạn ấy tóc đã bạc, da đã sờn, nhưng tình yêu đối với đất nước và con người Việt Nam thì không hề thay đổi.

Ông Renato Darsie, Đảng viên Đảng Những người Cộng sản Italia – một trong những người lãnh đạo phong trào ủng hộ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ chia sẻ, ông thấy hân hoan khi được đến Việt Nam vào dịp cả nước tưng bừng kỉ niệm 40 năm kí hiệp định Paris, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Căm phẫn trước những hành động tội ác của Mỹ, ông và rất nhiều người Italia khác đã tổ chức biểu tình phản đối.

Ông Renato DarsieÔng Renato Darsie kể lại những ngày tháng đấu tranh ủng hộ Việt Nam. Ảnh: HT.

“Ở Italia không phải nơi nào cũng được hiến máu, chúng tôi đã đi một quãng đường xa từ Veneto đến Nam Tư để hiến máu, rồi nhờ các bạn Nam Tư gửi sang cho Việt Nam. Khi những con tàu của Mỹ cập bến ở cảng chúng tôi, muốn lấy thêm hàng hóa để chất lên tàu, chúng tôi đã tìm cách ngăn chặn. Khi những bệnh viện của các bạn bị ném bom, chúng tôi đã vận động người dân ủng hộ…”, ông Renato Darsie kể.

Nhưng cũng chính những việc làm trên đã khiến ông 5 lần bị buộc tội vì gây rối trật tự công cộng và làm trái pháp luật. Tất cả những điều đó không làm Renato Darsie run sợ, ông vẫn kiên trì vì mục tiêu hòa bình của dân tộc Việt Nam.

“Ngày 30/4/1975, khi các bạn giải phóng, ở Italia chúng tôi đã ôm lấy nhau, nhảy múa cả đêm vì hạnh phúc. Năm nay, chúng tôi cũng có một loạt sự kiện để tưởng nhớ mối quan hệ 40 năm ngoại giao của chúng ta”, ông Renato Darsie cho hay.

Ông Carlos Rey Gomez, du kích quân Caracas (Venezuela) thì kể lại, vào ngày 19/5/1964, khi anh Nguyễn Văn Trỗi bị bắt ở Sài Gòn và bị kết tội tử hình, ông cùng với bốn chiến sĩ khác đã quyết định bắt cóc một chỉ huy quân sự của Mỹ để đổi lại mạng sống cho Nguyễn Văn Trỗi. Ngày 9/10, đội du kích của ông bắt cóc được sĩ quan Mỹ Michael Smolen.

“Chúng tôi yêu cầu chính phủ Mỹ phải thả anh Trỗi, họ có 3 ngày để làm việc đó. Nhưng lúc bấy giờ thông tin kém, khi họ thông báo đã thả anh Trỗi thì ở Venezuela chúng tôi cũng thả Smolen. Không ngờ họ đã lật lọng, giả dối và tử hình Nguyễn Văn Trỗi”, ông Carlos Rey Gomez kể và cho hay, sau đó đội du kích quân đã giận dữ phát động cuộc đoàn kết rộng rãi chống lại Mỹ.

Đại diện cho hàng triệu những người ủng hộ Việt Nam, những người bạn quốc tế yêu chuộng hòa bình đã vượt hàng nghìn km dự lễ kỉ niệm 40 năm ngày kí kết hiệp định Paris. Ảnh: HT.

Trong số những người bạn quốc tế đến Việt Nam lần này có một phụ nữ Mỹ, dáng người nhỏ bé nhưng cách đây 40 năm đã khiến cả thế trầm trồ. Phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam, bà Merle Evelyn Ratner đã trèo lên tượng nữ thần Tự Do vẫy cao lá cờ đỏ sao vàng. Bà cho biết, hành động đó của bà là muốn người dân nước Mỹ biết cuộc chiến ở Việt Nam là sai lầm, là tội ác.

Bắt đầu tham gia phong trào phản chiến khi mới 13 tuổi, Merle Evelyn Ratner liên tục cùng nhiều người khác tập trung, biểu tình phản đối. Bà cho rằng, phong trào này có tác dụng to lớn, trước hết là đấu tranh để giành quyền được đấu tranh. “Chúng tôi đã bị bắt nhiều lần vì các hành động này”, bà cho hay.

Thế nhưng Merle Evelyn Ratner không nao núng. Bà nói, đã học được rất nhiều điều ở đội ngũ tóc dài của Việt Nam, nhất là từ bà Nguyễn Thị Bình, về sự kiên trì, bền bỉ và không khuất phục. Merle Evelyn Ratner đã làm cả hội trường xúc động khi hát lại bài ca mà bà và đồng đội đã hát trong suốt quá trình hoạt động phong trào phản chiến. Đó là những lời chúc bà Bình mạnh khỏe sống lâu, chúc cho chiến tranh sẽ kết thúc.

Đại diện cho những người Mỹ ủng hộ Việt Nam, ông Chuck Searcy cũng bày tỏ sự xúc động khi thấy Việt Nam hòa bình, phát triển. Hơn 40 năm trước, ông và bạn bè đã huy động nhiều người dân tham gia biểu tình chống chiến tranh ở Việt Nam. Hàng nghìn người Mỹ đã bị bắt và buộc tội gây mất trật tự công cộng.

“Chúng tôi đã lo lắng trong một thời gian dài khi hội nghị Paris diễn ra. Chúng tôi thậm chí đã sang Paris để gặp bà Bình, hỏi thăm thông tin về tình hình diễn ra tại bàn đàm phán. Sau khi hiệp định được kí, chúng tôi tiếp tục đấu tranh để biến nó thành hiện thực, bao gồm điều khoản cung cấp hỗ trợ để hoàn gắn vết thương chiến tranh”, ông Chuck Searcy cho hay.

Ông Anatoly Khyupenen, trưởng đoàn cố vấn quân sự Nga tại Việt Nam từ năm 1972-1975 chia sẻ, đối với cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ ở Việt Nam, Nga không chỉ tổ chức biểu tình mà còn làm những việc thiết thực để giúp nước anh em như lương thực, vũ khí, đạn dược và chuyên gia quân sự.

“Tôi thay mặt cho cựu chiến binh Nga từng phục vụ ở Việt Nam chúc mừng các bạn. Chúng tôi rất vinh dự vì từng được các bạn gọi là đồng chí Liên Xô. Bản thân tôi vẫn còn nhớ những ngày làm cố vấn quân sự, mỗi lần đi đến đâu cũng được các em bé chào là bác Liên Xô để tỏ lòng yêu quý các chuyên gia”, ông Anatoly Khyupenen nói.

Ông Michel Strachinescu tự hào vì được lái xe đưa phái đoàn Việt Nam từ nơi ở đến địa điểm đàm phán tại Paris. Ảnh: HT.

Còn ông Michel Strachinescu, lái xe cho phái đoàn Việt Nam ở Verrières le Buisson trong ba năm từ 1970 đến 1973 thì tâm sự, được nhận nhiệm vụ này đối với ông là một vinh dự lớn. Quãng đường 25 km từ nơi ở đến địa điểm diễn ra cuộc đàm phán có khi vui vẻ, có lúc cũng căng thẳng bởi cuộc chiến trên bàn ngoại giao không hề đơn giản.

Ông Michel cho hay, trên xe của ông luôn cắm lá cờ đỏ sao vàng của Việt Nam. Một hôm đang đi thì lá cờ bị rơi xuống đường, khi ông dừng lại thì nó đã ở xa khoảng 200m. Đường cao tốc nên xe cộ qua lại vun vút, nhưng ông quyết định chạy ngược lại nhặt lá cờ cắm vào vị trí cũ rồi mới tiếp tục hành trình.

“Tôi biết lúc đó có thể xảy ra tai nạn, nhưng dù có bị xe cán qua người tôi vẫn sẽ quay lại nhặt, bởi đó là một việc nhỏ. Các bạn Việt Nam đang đấu tranh trên một mặt trận vô cùng gian khổ nhưng vẫn làm tốt cơ mà”, người cựu lái xe kể.

Ông nhớ, trong những ngày đưa đoàn Việt Nam đến hội nghị, một người bạn đã nói với ông rằng “Này Michel, Mỹ có tàn phá chúng tôi ghê gớm như thế nào đi chăng nữa, chúng tôi sẽ xây dựng lại gấp 100, 200 lần. Các bạn đã làm được điều đó”, Michel cười.

Nguyên trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Paris, bà Nguyễn Thị Bình xúc động khi nghe bạn bè quốc tế nhắc lại những tháng năm lịch sử gian khó mà hào hùng. Bà cho rằng, có mặt ở Việt Nam dịp này chỉ là đại diện, còn những người ủng hộ Việt Nam là hàng triệu người nữa trên thế giới.

“Việt Nam luôn đánh giá cao sự đoàn kết quốc tế, nếu không có sự ủng hộ của các bạn thì chúng tôi còn khó khăn lắm. Thay mặt cho nhân dân Việt Nam, chúng tôi mãi mãi biết ơn tất cả các bạn từ châu Âu, Á, Phi, Mỹ, mong rằng tình cảm hữu nghị của chúng ta sẽ tiếp tục phát triển, để cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn”, nguyên phó chủ tịch nước chia sẻ.

Hoàng Thùy
vnexpress.net