Thư viện

Nhìn lại quá khứ để thấu hiểu hơn giá trị của hòa bình

Điện Biên Phủ trên không

(VOV) – Chiến tranh giờ đã đi vào quá khứ. Mất mát, đau thương đã nhường chỗ cho niềm tự hào về một Hà Nội hiện đại, phát triển

Ký ức 12 ngày đêm

Trong ký ức những nhân chứng sống của chiến thắng năm xưa, cuộc chiến ngày ấy là một chuỗi những kỷ niệm. Với mỗi người – chiến sỹ, cán bộ, bác sỹ, y tá, dân công, phóng viên, văn công… – mỗi câu chuyện được kể lại như một mảnh ghép giúp chúng ta hình dung được những ngày tháng bi hùng của dân tộc.

Từng bám trụ ngay giữa lòng Hà Nội trong 12 ngày đêm B52 Mỹ rải bom ở Thủ đô, bác Nguyễn Xuân Át – cựu phóng viên ảnh báo Phòng không- Không quân chia sẻ: “Nhà tôi ở ngay phố Khâm Thiên, đêm 26/12, tôi có mặt ở nhà. Lúc bom rải qua, tôi nhanh chóng leo ra khỏi hầm trú ẩn cầm sẵn máy ảnh trên tay sẵn sàng tác nghiệp. Tình cờ tôi nhìn thấy chiếc máy bay B52 bị quân ta bắn rơi và nhanh chóng ghi lại được khoảnh khắc đấy. Đến bây giờ, 1 trong 2 bức ảnh chụp chiếc máy bay ấy vẫn được dùng làm tư liệu lịch sử về chiến dịch lịch sử này”.

Bác Nguyễn Xuân Át chia sẻ kỷ niệm khi chụp bức ảnh máy bay B52 bị bắn rơi

Không giấu nổi niềm tự hào trong mắt, bác nhiệt tình kể về những ngày tháng tác nghiệp giữa bom đạn. Bác chia sẻ, để có được những tư liệu lịch sử đến tận ngày hôm nay, bác cũng như hàng trăm phóng viên, nhiếp ảnh đã ngày đêm tác nghiệp tại chiến trường ác liệt, trong đó nhiều người đã hy sinh. Dù không trực tiếp cầm súng nhưng bác ý thức rõ sứ mệnh cao cả của mình là cố gắng ghi lại lịch sử một cách chân thực, sống động nhất.

Nhà báo, đại tá Nguyễn Xuân Mai, nguyên Tổng biên tập Báo Cựu chiến binh Việt Nam, từng là chiến sĩ liên lạc của Đại đoàn 316 trong chiến dịch Điện Biên Phủ chia sẻ: “Thời kỳ ấy có nhiều kỷ niệm đến nỗi không biết nói thế nào, kể làm sao cho hết”. Chuyện đã trôi qua cách đây hơn 40 năm mà khi kể về nó, bác vẫn không giấu nổi xúc động. Bác kể: “Nghe thông báo, chúng tôi vội vã xuống hầm, kịp nghe thấy tiếng nổ ở ngay trên đầu, ù hết hai tai. Phải 15 phút sau, khi đã yên ắng rồi, chúng tôi vẫn không nói được câu nào, cảm giác sợ hãi vẫn còn, chỉ đưa tay chạm vào những người xung quanh xem có ai bị làm sao không. Ra khỏi hầm, thấy chỗ chúng tôi vừa ngồi họp cách đây ít phút đã bị bom đánh nát bét. Cảm thấy mình thoát chết trong gang tấc”.

Kể về ký ức về những ngày đêm bi tráng đó, bác Nguyễn Thúy Nga (Đống Đa-Hà Nội) chia sẻ: “Đến giờ, ấn tượng lớn nhất với tôi là tiếng loa phát thanh trong suốt những ngày diễn ra chiến dịch: “Đồng bào chú ý. Đồng bào chú ý. Máy bay địch cách Hà Nội 100km…, 70km…, 50km…, 20km…”. Khi nghe lời cảnh báo ấy vội vàng tất cả chúng tôi chạy ùa vào hầm trú ẩn. Nó tạo thành một phản xạ. Chỉ vừa ít phút trước mọi sinh hoạt đang diễn ra bình thường nhưng khi nghe âm thanh quen thuộc cất lên, tất cả mọi người nhanh chóng chui vào hầm trú ẩn gần nhất. Cũng nhờ âm thanh này mà có lẽ thủ đô Hà Nội đã hạn chế được rất nhiều thương vong. Rồi khi máy bay địch đi xa, tiếng loa lại vang lên “Đồng bào chú ý. Máy bay địch đã bay xa”. Mọi sinh  hoạt của thủ đô trở lại bình thường, người nào việc nấy”.

Bác Nguyễn Thúy Nga rưng rưng xúc động khi chia sẻ ký ức, cảm nhận của mình

Ông Phùng Tửu Bôi (cán bộ Viện điều tra quy hoạch rừng) thì nói nhiều về chiếc xe đạp của mình: “Nó gắn với cuộc sống của tôi. Gia đình tôi có rất nhiều người nhưng chỉ có tôi ở lại Hà Nội, còn mọi người đều đi sơ tán. Chiếc xe đạp khi ấy là phương tiện để tôi đi công tác, đi chở đồ tiếp tế gia đình trong những ngày đi sơ tán lên Phúc Thọ. Thậm chí khi có người bị thương, hai chiếc xe đạp nối nhau lại có thể chở được 1 người bị thương… Dân ta đoàn kết lắm. Mọi người lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau, làm những việc không phải chỉ riêng mình, ai cũng có thể xông vào để cứu người này, giúp người khác”.

Có lẽ, vì không trực tiếp tham gia trận chiến nên ký ức của bác Tích (Cát Linh – Hà Nội) thì rất yên bình. Bác kể: Khi có lệnh sơ tán, tôi cùng nhiều người thân dù rất muốn ở lại nhưng vẫn phải đi. Dù vậy tình cảm chúng tôi vẫn dành cho Hà Nội. Nhiều người đêm đi sơ tán, ngày lại trở về Hà Nội tiếp tục công việc của mình, hay có khi về Hà Nội chỉ để ngồi nói chuyện, uống cốc nước. Tôi nhớ nhất là đêm 24/12, tôi cùng rất nhiều thanh niên Hà Nội vẫn trở về xung quanh nhà thờ lớn để dự lễ Noel. Khi ấy, cảm giác bom đạn không hề làm chúng tôi sợ hãi.

Và cuộc sống vẫn tiếp diễn

Bốn mươi năm đã đi qua, Hà Nội giờ không còn tiếng bom đạn, tiếng máy bay, tiếng chị phát thanh viên với lời báo động máy bay địch ngày nào. Hà Nội giờ bình yên với những âm thanh quen thuộc: tiếng còi xe, tiếng rao tào phớ, tiếng rao bánh khúc nóng, tiếng leng keng đổ rác… Những âm thanh đó cho thấy một Hà Nội vẫn đang trở mình phát triển.

Đại tá Nguyễn Xuân Mai chia sẻ những cảm nhận của mình: “Dù vẫn còn những điều chưa hài lòng, song mỗi chúng ta đều có thể cảm nhận Thủ đô đang “thay da đổi thịt” từng ngày, vóc dáng của Thủ đô đang lớn lên, đang đẹp hơn. Chúng ta sẵn sàng sánh vai với các cường quốc trên thế giới”.

Từ một thành phố nhiều khó khăn trong bom đạn, ngày nay, Hà Nội đã trở thành một đô thị lớn và ngày càng khang trang, hiện đại. Những nơi hoang tàn đổ nát dưới bom đạn giờ đã mọc lên những tòa cao ốc. Khu phố Khâm Thiên giờ sầm uất bậc nhất Hà thành. Bệnh viện Bạch Mai được xây dựng lại và trở thành một trong những nơi chữa bệnh hiện đại nhất Việt Nam… Điều đó khẳng định sức sống mãnh liệt của một dân tộc.

Bác Thúy Nga thì vẫn rưng rưng xúc động: “Chiến tranh giờ đã đi vào quá khứ. Mất mát, đau thương đã nhường chỗ cho niềm tự hào về một Hà Nội hiện đại, phát triển”. Bác cũng chia sẻ, đến giờ đi qua tượng đài Khâm Thiên, hay bất cứ tượng đài liệt sĩ nào, bác vẫn cúi đầu biết ơn những người đã ngã xuống vì nền độc lập tự do của dân tộc, cúi đầu vì những mất mát mà dân tộc đã phải trải qua. Bác cảm thấy mình may mắn khi còn sống được đến ngày hôm nay, con cháu mình may mắn khi được sống trong thời bình: “Chúng ta ngày hôm nay phải nhìn về quá khứ, nhắc về quá khứ để thấu hiểu hơn giá trị của hòa bình, để trân trọng hiện tại hơn”./.

CTV Lan Nga/ VOV Online
vov.vn

Chuyện kể ở đài tưởng niệm Khâm Thiên

Đài tưởng niệm Khâm Thiên.

(VOV) – 40 năm qua, tượng đài Khâm Thiên vẫn hiên ngang giữa trời Hà Nội.

Ở giữa phố Khâm Thiên, bức tượng đài có hình ảnh người mẹ bế con, chân đạp lên quả bom B52 như một chứng tích in dấu tội ác của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam.  577 người chết và bị thương trong đêm 26/12/1972 khi Mỹ rải thảm bom B52 xuống phố Khâm Thiên, được đúc kết bằng hình tượng kiên cường, mạnh mẽ ấy. 40 năm đã trôi qua, vết thương lòng chưa hẳn nguôi ngoai, nhất là khi mỗi chúng ta đi ngang qua tượng đài, tưởng nhớ những người đã ngã xuống trong trận chiến 12 ngày đêm ấy.

Mỗi lần đi qua tượng đài Khâm Thiên, bà Nguyễn Thúy Nga- một người dân Hà Nội đều cúi đầu tưởng nhớ những người con Hà Nội đã ngã xuống trong đợt ném bom cao điểm 12 ngày đêm năm 1972 của giặc Mỹ. Trong những vong linh ấy, có cả những người thân, bạn bè của bà. Vào những ngày chớm đông gió lạnh, dòng chữ sau tượng đài “Khâm Thiên khắc sâu căm thù giặc Mỹ- 26/12/1972” khiến cho niềm thương xót hàng trăm con người ngã xuống bởi bom B52 càng trở nên ngậm ngùi hơn: “ Lần nào đi qua tôi cũng cúi đầu. Bất kì đi qua một tượng đài liệt sĩ nào và với tượng đài Khâm Thiên nói riêng, tôi cũng cúi đầu và nhắc các cháu là hãy cúi đầu để tưởng nhớ, trân trọng vong linh của những liệt sĩ, những người dân đã hy sinh; Để ghi ơn trong lòng mình sự đóng góp của những người dân thường cũng như của những liệt sĩ mang lại cho mình được sống ngày hôm nay. Tôi nghĩ rằng đó là điều mà thế hệ trẻ nên giữ gìn”.

Đợt ném bom cao điểm của đế quốc Mỹ trong 12 ngày đên năm 1972, có hai mẹ con ở ngôi nhà số 47 Khâm Thiên không may bị sức ép của bom B52 cướp đi sinh mạng. Người mẹ ấy đã chết nhưng vẫn giữ nguyên tư thế đứng ôm chặt đứa con, che chở cho con. Và người con của bà tuy không còn sống nhưng tấm thân còn mềm, cánh tay vẫn bám chặt vào chân mẹ như muốn bấu víu vào cuộc sống mỏng manh. Nhiều người trong đợt giải cứu phố Khâm Thiên bị ném bom đã truyền tai nhau hình ảnh ấy.

Tuy không có mặt tại hiện trường cuộc giải cứu nhưng khi nghe kể về hình ảnh đau thương ấy, họa sĩ Nguyễn Tự đã cho ra đời một tác phẩm điêu khắc, lấy nguyên mẫu hình ảnh người mẹ bế con, chân đạp lên quả bom B52. 40 năm đã trôi qua, khi được hỏi lại câu chuyện bức tượng đài Khâm Thiên, họa sĩ Nguyễn Tự vẫn còn nhớ như in liên tục trong hai ngày một đêm ông cho ra đời bức tượng điêu khắc ấy: “Tượng Khâm Thiên ra đời không phải là đơn đặt hàng cũng không phải là trách nhiệm ai giao cho mà phải làm. Những người đi làm công tác khắc phục hậu quả có kể lại cho tôi là có hình ảnh như thế, thì tự nhiên thôi thúc tôi. Vừa thương xót, vừa thấy quá tàn ác và mình thấy rằng mình cần phải tố cáo. Vậy thì tố cáo bằng cách nào? Mình làm nghề điêu khắc, thấy được chuyện có người chết đứng như vậy đã gợi cho mình một hình tượng có giá trị tố cáo”.

Khâm Thiên ngày nay được người ta quen gọi là “phố vắng 3 số nhà”. Cùng với ngôi nhà số 47- nơi hai mẹ con bị bom B52 lấy đi tính mạng, thì ngôi nhà số 49 và 51 cũng bị phá hủy hoàn toàn. Chính quyền thành phố quyết định lấy mảnh đất nơi có 3 ngôi nhà này làm khu tưởng niệm Khâm Thiên. Ý tưởng xây dựng tượng đài sao cho xứng đáng với tinh thần của nhân dân Khâm Thiên nói riêng và nhân dân Hà Nội nói chung trong đợt chiến đấu với vũ khí hủy diệt B52 của giặc Mỹ năm 1972 được phát động. Như một cơ duyên, tác phẩm điêu khắc của họa sĩ Nguyễn Tự được chọn.

Hơn một năm sau sự kiện “12 ngày đêm”, đài tưởng niệm Khâm Thiên được xây dựng, báo chí đưa tin và đăng tải hình ảnh để nhân dân trên thế giới hiểu về tội ác của đế quốc Mỹ. Nhà báo Nguyễn Văn Vinh- người đang thực hiện một bộ phim tài liệu về đề tài “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không” cho biết: “Trong tất cả đau thương mất mát, kể cả cuộc chiến bây giờ, khi người ta nhắc đến bạo lực hay cuộc chiến ở Iraq, Syria… thông thường hay nhắc đến sinh mạng của phụ nữ và trẻ em. Điều đó cũng nói lên sự vô lý của chiến tranh, tàn khốc và vô lý. Phụ nữ và trẻ em là những người vô tội, tại sao lại phải hứng chịu những điều như vậy. Tượng đài ấy cũng gợi sự tàn khốc của chiến tranh. Những mất mát đã thể hiện sự ác liệt của chiến tranh rồi. Tuy nhiên cái mà mình nhìn thấy dù ác liệt như thế nào, tinh thần của con người, sức vươn lên, sức sống để vượt qua đau thương đó”.

Bức tượng đồng bây giờ đã thay thế cho bức tượng đúc bằng xi măng của nhiều năm về trước. Hàng ngày, những người dân phường Khâm Thiên vẫn chăm sóc, quét tước cho khu tưởng niệm sạch sẽ, vẫn thắp hương để tưởng nhớ những vong linh đã ngã xuống. Như một cử chỉ đền ơn đáp nghĩa, bà Phạm Thị Bưởi- ủy viên ban chấp hành Hội phụ nữ phường Khâm Thiên cho biết: bà cùng với chị em trong phường vẫn phân công nhau vào mỗi buổi chiều đến quyét dọn khu vực đài tưởng niệm.

B52 đến nay vẫn là thứ vũ khí có sức hủy diệt kinh khủng nhất. Thế nhưng, điều đó không thể nào so sánh được với tinh thần, ý chí kiên cường của người dân Việt Nam nói chung, người dân Hà Nội nói riêng. Và 40 năm qua, tượng đài Khâm Thiên vẫn hiên ngang giữa trời Hà Nội./.

Phương Thúy/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

Tìm lại ký ức 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”

(VOV) – Để có được những thước phim, các tài liệu… những người thực hiện phải lặn lội khắp nơi trong 2 năm…

Những ngày qua, công chúng Hà Nội được sống lại thời khắc Hà Nội- những năm tháng chiến tranh 1972, đặc biệt là 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không nhờ một chuỗi những sự kiện, triển lãm, tọa đàm đã diễn ra.

Nếu như tọa đàm “Năm 1972- năm mấu chốt tháo gỡ cuộc xung đột giữa Việt Nam và Hoa Kỳ” (11/10) đã đưa ra những phân tích và nghiên cứu lịch sử về những dấu mốc năm 1972, triển lãm “Hà Nội, những ngày đêm năm 1972” ( 11/10- 9/11) tái hiện những khoảnh khắc đáng nhớ nhất qua các thước phim, các bức ảnh tư liệu thì tọa đàm “Năm 1972 – Tư liệu và ký ức của người Hà Nội về chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ”, công chúng được trực tiếp gặp gỡ các nhân chứng lịch sử, nghe những người trong chia sẻ hồi ức của mình về 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không.

Lần đầu tiên, công chúng có cái nhìn toàn diện nhất về trận Điện Biên Phủ trên không lịch sử. Mười hai ngày đêm ấy không còn là những con số, những bi hùng của đất nước qua con mắt các nhà sử học.  Đó còn là chút gì đó rất bình dị, gần gũi qua các bức ảnh đời thường, qua lời kể của hàng trăm nhân chứng lịch sử. Nhiều bức ảnh, nhiều câu chuyện đã khiến công chúng phải cảm động rơi nước mắt.

Ông Olivier Tessier đến từ Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO), có gần 20 năm nghiên cứu về Hà Nội, là người trực tiếp điều hành, tổ chức chuỗi chương trình cho biết: “Các phim, ảnh tư liệu và các tài liệu được cung cấp từ các nguồn tài liệu khác nhau tại Việt Nam như: Thông tấn xã Việt Nam, Bảo tàng Phòng không – Không quân, Hãng phim Tài liệu Khoa học Trung ương… và tại Pháp (Viện nghe nhìn quốc gia, Cục thông tin và sản xuất nghe nhìn La Défense, Trung tâm lưu trữ Ngoại giao La Courneuve) cùng với các nguồn tư liệu của tư nhân do chủ sở hữu cung cấp (ông Jean-Marc Gravier, ông Alain Wasmes, ông Nicolas Cornet, ông Chu Chí Thành). Trong đó nhiều tài liệu chưa từng được công bố”.

Những người đi tìm ký ức Điện Biên Phủ trên không

Để có được những thước phim, ảnh tư liệu, các tài liệu, để gặp gỡ, trò chuyện cùng các nhân chứng lịch sử, những người thực hiện như đại tá Nguyễn Xuân Mai, ông Olivier Tessier, nhà báo Đào Thanh Huyền, anh Đặng Đức Tuệ… đã cùng nhau lặn lội khắp nơi trong suốt thời gian 2 năm. Trong hành trình tìm lại ký ức 12 ngày đêm ấy, họ đã trải qua không ít khó khăn, vất vả nhưng cũng không ít niềm vui, niềm tự hào.

Nhà báo Đào Thanh Huyền chia sẻ: “Khi bắt đầu tìm tư liệu về chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, chúng tôi nghĩ sẽ đơn giản hơn các trận chiến khác, vì nó diễn ra trong quãng thời gian khá ngắn – 12 ngày đêm, nhưng khi bắt tay thực hiện chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn. Phải mất tới 2 năm chúng tôi mới có được một hệ thống tư liệu tương đối hoàn chỉnh”.

Chị Đào Thanh Huyền chia sẻ về hành trình đi tìm tư liệu của nhóm.

Chị cho biết, đây là cuộc chiến tranh điện tử mà chúng ta không nhìn thấy kẻ thù trước mặt, chỉ nhìn thấy máy bay, bom đạn, và những hậu quả thảm khốc của nó. Hơn nữa, quãng thời gian diễn ra chiến dịch quá ngắn, trong khi quá khứ đã đi qua 40 năm, vì thế ký ức về nó rất mơ hồ, mông lung.

Tìm được nhân chứng đã khó, việc để các nhân chứng kể lại những câu chuyện của mình lại càng khó. Bởi có người, Điện Biên Phủ trên không là niềm vui, là niềm tự hào nhưng với rất nhiều người, đó là mất mát, là đau thương. Bốn mươi năm qua đi nhưng khi mỗi khi nhắc tới chiến tranh, nhiều nhân chứng vẫn không kìm được cảm xúc. Họ không đồng ý kể lại câu chuyện của họ vì với họ, mỗi lần nhắc lại là một lần đau đớn.

Chị Huyền kể: “Tôi nhớ nhất một nhân chứng ở Khâm Thiên, chị không cho chúng tôi chụp ảnh, ghi hình. Chị bảo mỗi lần xem ti vi, thấy nói về chiến tranh là tim chị lại quặn lại vì nỗi đau mất mát người thân, vì nghĩ rằng, đâu đó cũng có người phải chịu mất mát như chị”. Lúc ấy, chị mới thực sự thấm thía hậu quả của chiến tranh không chỉ là những con số.

Để có được những tài liệu đáng tin cậy nhất, với những thông tin thu thập được, nhóm chị thường xuyên phải đối chiếu với lịch sử, đối chiếu thông tin giữa các nhân chứng với nhau. Những chỗ không khớp, những chỗ cảm thấy nghi ngờ, nhóm đều mang tới các nhà phân tích và nghiên cứu lịch sử nhờ kiểm định.

Anh Đặng Đức Tuệ thì đùa rằng: “Lịch sử càng tìm hiểu lại càng thấy khó hiểu”. Với trận chiến Điện Biên Phủ trên không, những gì chúng ta biết đến còn quá ít. Đi nhiều, nghe nhiều câu chuyện kể, anh hiểu rằng chiến tranh với mỗi người là một hồi ức, một ấn tượng khác nhau… Chính vì thế, nên khi lựa chọn, tập hợp, xâu chuỗi những mảnh ghép ấy thành một câu chuyện liền mạnh, có ý nghĩa rất khó. Đặc biệt, phải viết như thế nào, phải hệ thống như thế nào để độc giả, những người có thể chưa từng biết đến chiến tranh có thể hình dung được một cách rõ nét nhất về cuộc chiến ấy lại càng khó hơn.

Qua hai buổi tọa đàm, một cuộc triển lãm và cuốn sách sắp ra mắt tới đây “Đối mặt với B-52 – Hồi ức Hà Nội (18/12/1972- 29/12/1972)”, những người thực hiện mong muốn góp phần làm hoàn chỉnh bức tranh tổng thể của “Hà Nội những ngày đêm năm 1972”, giúp công chúng có cái nhìn toàn diện hơn về cuộc chiến đã đi qua.

Nhìn lại những gì đã làm được, anh Tuệ chia sẻ: “Với chúng tôi – những người thực hiện, vui nhất là với một sự kiện lịch sử đã đi qua cách đây 40 năm nhưng vẫn được công chúng tham gia tìm hiểu, đón nhận. Đặc biệt là các bạn trẻ, họ chưa từng biết đến chiến tranh nhưng luôn muốn tìm về quá khứ cha ông đã đi qua”./.

CTV Lan Nga/ VOV Online
vov.vn

Một hình dung khác về Hà Nội năm 1972

(VOV) -Cuốn sách “Đối mặt với B52” tái hiện cuộc chiến 12 ngày đêm bằng ký ức của những người dân đã trải qua những ngày tháng ấy.

Cuốn sách sẽ chính thức ra mắt độc giả vào tháng 12/2012, đúng 40 năm sau trận “Điện Biên Phủ trên không”

Một Hà Nội tuy gánh chịu sự ác liệt của chiến tranh nhưng rất kiên cường và bình thản – Đó là cảm nhận chung của những nhân chứng đã sống qua 12 ngày đêm Hà Nội đối mặt với bom B52 năm 1972.

Trong ký ức của nhiều người, những hình ảnh về cuộc sống người dân Hà Nội trong chiến tranh phá hoại vẫn còn sống động và đầy cảm xúc. Chia sẻ trong buổi tọa đàm và giới thiệu cuốn sách “Đối mặt với B52” (diễn ra tối 8/11 tại Trung tâm văn hóa Pháp, Hà Nội), ông Phùng Tửu Bôi, khi đó là cán bộ lâm nghiệp, nhớ lại việc đi sơ tán với người dân Hà Nội lúc ấy là rất bình thường. Người dân ai cũng phải đi sơ tán nhưng không phải họ dứt bỏ tất cả mà đi, có những người đi sơ tán nhưng vẫn về thăm nhà, thăm Hà Nội. Trong tâm hồn người Hà Nội lúc bấy giờ không sợ hãi, họ đã quá quen với cảnh chiến tranh.

Ông Phùng Tửu Bôi chia sẻ những kỷ niệm trong 12 ngày đêm Hà Nội hứng chịu bom B52

Trong ký ức của ông Phùng Tửu Bôi, cuộc sống trong chiến tranh của người dân Hà Nội gắn liền với chiếc xe đạp và những căn hầm. Hầm là nơi gắn bó với tất cả mọi người, che chở họ trong những đợt bom ác liệt. Còn chiếc xe đạp là phương tiện di chuyển chính: đi làm, đi học, đi chơi, đi sơ tán, cáng thương…

Tham  gia buổi tọa đàm có những nhân chứng không xuất hiện trong cuốn sách cũng tự nguyện đứng lên chia sẻ những gì mình đã trải qua. Họ vẫn nhớ hình ảnh Hà Nội đêm Noel các nam thanh nữ tú của Hà thành cũng như nhiều tỉnh thành lân cận kéo về xung quanh Nhà thờ Lớn đi chơi Noel. Họ vẫn nhớ Hà Nội sống cuộc sống thời chiến vào ban đêm nhưng ban ngày mọi hoạt động vẫn diễn ra bình thường, những làng hoa ven đô vẫn tưng bừng khoe sắc…

Noel năm 1972 người đàn ông này đã cùng bạn bè nô nức đi chơi quanh Nhà thờ Lớn

Cuốn sách “Đối mặt với B52” là kết quả của cuộc điều tra kéo dài 2 năm của một nhóm các nhà báo. Họ đã đi tìm lại những ký ức của người dân Hà Nội và một số tỉnh lân cận ở miền Bắc về 12 ngày đêm Hà Nội gánh chịu những loạt bom B52 của đế quốc Mỹ. Họ đã tiếp xúc với cả nghìn nhân chứng để chọn lọc lấy 116 người xuất hiện trong cuốn sách, ghép lại thành một câu chuyện chung, với hy vọng mang lại một cái nhìn chân thực và sống động từ phía những người dân đã trải qua những ngày tháng ấy.

Nhà báo Đào Huyền, một trong các đồng tác giả của cuốn sách cho biết khi nghe các nhân chứng kể chuyện, chị cảm thấy cuộc chiến qua lời kể của họ không quá ác liệt và đáng sợ như là mình từng nghĩ. Khi những đợt máy bay Mỹ trút bom xuống, Hà Nội lại bước vào thời chiến, những con người ấy có lo lắng nhưng không hề hoảng loạn. Dường như với họ chuyện ấy đã trở nên bình thường quá, như là mỗi ngày thêm một vài quả bom mà thôi.

Với gần 40.000 tấn bom ném xuống trong 12 ngày đêm, không thể nói cuộc chiến tháng 12/1972 ở Hà Nội không khốc liệt và đau thương. Sự bình tĩnh của những nhân chứng và cảm giác “không quá đáng sợ” mà họ tạo ra là bởi Hà Nội thời gian đó đã quen với chiến tranh và quân dân thủ đô đối mặt bom đạn kẻ thù với sự kiên cường và tình yêu tha thiết dành cho mảnh đất này./.

Việt Hòa/VOV Online
vov.vn

Điện Biên Phủ trên không: Tầm cao trí tuệ, bản lĩnh Việt Nam

(VOV) -Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” chứng minh một điều, cường quốc lớn vẫn có thể ngã quỵ trước sức mạnh dân tộc.

Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc ta đã giành được thắng lợi vẻ vang, kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975. Để đi đến thắng lợi cuối cùng, dân tộc ta đã phải trải qua biết bao khó khăn, gian khổ, mất mát và hy sinh, đồng thời cũng đã lập nên biết bao chiến công hiển hách và “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” là một trong những chiến công như thế.

Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không, phóng viên Đài TNVN phỏng vấn Nhà sử học Dương Trung Quốc về thắng lợi này.

PV: Cuối năm 1972, chúng ta và Mỹ đã đi tới hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, nhưng Mỹ đã bội ước, đưa máy bay chiến lược B52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng. Xin ông cho biết, thời điểm đó, Mỹ đã vịn vào cớ gì để mở cuộc tập kích trên không vào tháng 12/1972?

Ông Dương Trung Quốc: Tổng thống Johnson sau những thất bại trong cuộc chiến tranh Việt Nam thì ông đã quyết định không ra ứng cử Tổng thống và tạo cơ hội cho Nixon của Đảng Cộng hòa lên cầm quyền.

Nhà sử học Dương Trung Quốc (Ảnh: Petro Times)

Trong những điều Nixon phát biểu, ông ta sẽ sử dụng biện pháp cứng rắn hơn, sẵn sàng sử dụng con át chủ bài là B52 để buộc Việt Nam phải chấp thuận tất cả các điều kiện để Mỹ rút ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam.

Điều đó là một chuyện không bình thường, bởi B52 là một loại máy bay chiến lược – 1 trong 3 con át chủ bài của Mỹ cùng với tàu ngầm nguyên tử và tên lửa đạn đạo. Các vũ khí này chủ yếu để đối phó với Liên Xô và khối quân sự Warszawa trong thời kỳ chiến tranh lạnh.

Thiết kế ban đầu của B52 chủ yếu là ném bom nguyên tử, nhưng sau này cuộc chiến tranh Việt Nam mở rộng, Mỹ cải tiến loại máy bay này để sử dụng ném một số loại bom thông thường với số lượng lớn để tạo ra sức uy hiếp đối phương.

Đến giữa tháng 12/1972, cả thế giới và những người trong cuộc ở Việt Nam và Mỹ đều nghĩ rằng, Hiệp định Paris được ký kết, hai bên đang chuẩn bị cho việc ký kết đấy thì Mỹ bất ngờ lấy một lý do rất vu vơ là sức ép của chính quyền Sài Gòn đòi hỏi và sửa lại một số điều của bản Hiệp định.

Phía chúng ta nói rằng, Hiệp định đã bàn thảo kỹ không thể thay đổi được. Mượn lý do đấy, bất ngờ vào đêm 18/12, Mỹ huy động một lực lượng lớn máy bay B52 cùng các lực lượng không quân chiến thuật khác tập kích vào hai địa điểm xung yếu của ta là thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng.

PV: Trước một đế quốc Mỹ hùng mạnh với vũ khí hủy diệt hiện đại, nhưng chúng ta đã “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”. Là một nhà nghiên cứu sử học, xin ông cho biết nguyên nhân chính đưa đến thắng lợi này?

Ông Dương Trung Quốc: Một trong những nguyên nhân thắng lợi của chúng ta là Bác Hồ đã nhìn ra rất sớm ý đồ của Mỹ và Người đã có những tiên liệu từ trước.

Năm 1962, lúc B52 đang nằm trong kho vũ khí tuyệt mật của Mỹ, không ai nghĩ sẽ sử dụng cho những cuộc chiến tranh cục bộ cả. Bác đã hỏi các đồng chí lãnh đạo phòng không không quân là đã biết B52 chưa, đã nghiên cứu chưa và nhắc nhở phải nghiên cứu.

Đến năm 1965, khi Mỹ bắt đầu ném bom bằng máy bay B52, Bác đã đến những đơn vị đầu tiên của chúng ta đương đầu với B52 và nói rằng, chúng ta sẽ quyết tâm đánh thắng, kể cả máy bay B52.

Có thể nói, chính trên cơ sở, sự chỉ đạo ấy mà quân chủng phòng không không quân đã có sự chuẩn bị rất sớm trong tìm hiểu và đưa ra các phương án tác chiến mặc dù B52 chưa đến.

Đến năm 1967, trong một lần trao đổi với các đồng chí lãnh đạo phòng không không quân, Bác đã đưa ra lời tiên đoán rằng, cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của chúng ta sẽ kết thúc trên bầu trời Hà Nội. Mỹ sẽ sử dụng B52 và coi đó là đòn chiến lược, thử sức với chúng ta lần cuối.

Bác đã ra đi từ năm 1969, nhưng tất cả những gì diễn ra đúng như sự định liệu của Bác. Vì thế, đến khi chúng ta đối phó với B52 không có gì bất ngờ.

Cho đến giờ, mới chỉ có ở Việt Nam là nơi duy nhất máy bay B52 bị bắn hạ. Sau này, Mỹ tiếp tục sử dụng trong một số cuộc chiến tranh ở Trung Đông, lúc đó vũ khí tên lửa của các quốc gia này được trang bị rất hiện đại mà hầu như chưa có một chiếc máy bay B52 nào bị bắn hạ, chỉ bị rơi do yếu tố kĩ thuật, tai nạn…

PV:Chiến thắng vẻ vang Hà Nội- “Điện Biên Phủ trên không” mang ý nghĩa như thế nào đối với tiến trình lịch sử chống xâm lược của nước ta, thưa ông?

Ông Dương Trung Quốc: Khi Mỹ đã sử dụng đến con bài cuối cùng, con bài dự trữ chiến lược vào trong một trận chiến tranh ở Việt Nam mà thất bại, thì rõ ràng điều đó làm Mỹ không thể chịu đựng nổi. Cộng với sức ép của dư luận thế giới, trong đó có cả dư luận của nhân dân Mỹ, cuối cùng Nixon phải chấp nhận kết thúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Việc rút lui quân là tiền đề quân và dân ta giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Chúng ta kết thúc thắng lợi của toàn bộ tiến trình lịch sử, ít nhất là gắn với Cách mạng tháng 8 và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Cho nên “Điện Biên Phủ trên không” không chỉ là một trận thắng của một chiến dịch mà là bước ngoặt của lịch sử. Phải gắn chặt “Điện Biên Phủ trên không” với tổng tiến quân nổi dậy mang tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh” của mùa xuân năm 1975 thì chúng ta mới thấy hết được tầm vóc của nó. Tầm vóc của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước không chỉ quan trọng đối với lịch sử dân tộc Việt Nam mà nó làm cho thế giới hiểu rằng, có những sức mạnh có thể chiến thắng được các cường quốc lớn: Đó là sức mạnh của lòng yêu nước, triệu người như một, là bản lĩnh Việt Nam đã làm nên thắng lợi của chiến tranh nhân dân. 

PV: Xin cảm ơn ông!./.

Mỹ Trà – Mỹ Ngọc/VOV-Trung tâm tin
Thực hiện
vov.vn

Phát động kỷ niệm chiến thắng Điện Biên phủ trên không

Theo kế hoạch, đợt thi đua cao điểm sẽ được triển khai thực hiện từ ngày 19/11 – 28/12.

Ngày 5/11, tại Thái Nguyên, lễ phát động đợt thi đua cao điểm “Âm vang Điện Biên Phủ trên không” chào mừng kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên phủ trên không đã được Lữ đoàn phòng không 210 – Quân khu I tổ chức.

Tại lễ phát động, đại diện Lữ đoàn phòng không 210 cho biết thời gian tới tập trung quán triệt mục tiêu “4 nhất, 1 không” là: Sẵn sàng chiến đấu cao nhất; tổ chức huấn luyện, diễn tập, bắn đạn thật, tham gia các hội thi đạt kết quả cao nhất; duy trì nền nếp chính quy, chấp hành pháp luật, kỷ luật nghiêm nhất; tham gia giúp dân, thực hiện công tác đền ơn, đáp nghĩa, chính sách hậu phương quân đội có hiệu quả nhất; không để xảy ra vi phạm kỷ luật và mất an toàn giao thông.

Sau lễ phát động, Cục Chính trị Quân khu I chỉ đạo tất cả các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang Quân khu đồng loạt phát động thi đua ở đơn vị mình. Theo kế hoạch, đợt thi đua cao điểm này sẽ được triển khai thực hiện từ ngày 19/11 đến ngày 28/12.

Nhân dịp này, Lữ đoàn phòng không 210 cũng đã tổng kết và khen thưởng cho 5 tập thể và 23 cá nhân tiêu biểu trong phong trào thi đua “Phất cao Cờ hồng Tháng Tám” và chào mừng Quốc khánh 2/9./.

Theo TTXVN
vov.vn

Sống lại thời khắc “Hà Nội – những ngày đêm năm 1972”

(VOV) – Những hình ảnh tư liệu “Hà Nội – những ngày đêm năm 1972” đã làm sống lại hình ảnh Hà Nội hiên ngang trong những ngày khói lửa.

Nhằm tái hiện những khoảnh khắc đáng nhớ nhất của năm 1972, năm mấu chốt cho việc giải quyết cuộc xung đột Việt Nam – Mỹ với kết cục là ký Hiệp định Paris (27/1/1973), Viện viễn Đông Bác Cổ và Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam tổ chức triển lãm ảnh “Hà Nội – những ngày đêm năm 1972” tại Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội từ ngày 11/10 – 9/11.

Đến không gian này, công chúng sẽ được sống lại không khí hào hùng những ngày đêm năm 1972, về cuộc sống của người dân Hà Nội và số phận bi thương của hàng ngàn thường dân bị chết hoặc bị thương trong chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ thông qua những tư liệu và nhân chứng lịch sử.

Những thước phim, ảnh tư liệu và các tài liệu được cung cấp từ các nguồn tài liệu khác nhau tại Việt Nam và Pháp là những bằng chứng góp phần tạo nên bức tranh tổng thể về một thời lịch sử đầy bi tráng của quân dân Hà Nội.

Những chuyến sơ tán, những ngôi nhà đổ nát hòa trộn trong máu và nước mắt của hàng nghìn người dân bị chết hoặc bị thương, cho đến những câu chuyện trong những đợt ném bom vào Hà Nội khiến không ít người xem phải xúc động đến nghẹn ngào. Triển lãm không chỉ trưng bày những hình ảnh tư liệu, mà còn đính kèm từng ý kiến của các nhân chứng lịch sự cụ thể nhằm vạch mặt tội ác của chiến tranh do quân đội Mỹ gây ra.

Chiến dịch Linebacker II và 12 ngày đêm Hà Nội đối mặt với B52 (Ảnh tư liệu)

Được biết, triển lãm được tổ chức từ ý tưởng của Viện viễn Đông Bác Cổ và Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, cùng nhà báo Đào Thanh Huyền – người tham gia thu thập tài liệu.

Các phim, ảnh tư liệu và các tài liệu được cung cấp từ các nguồn tài liệu khác nhau tại Việt Nam như: Thông tấn xã Việt Nam, Bảo tàng Phòng không – Không quân, Hãng phim Tài liệu Khoa học Trung ương… và tại Pháp (Viện nghe nhìn quốc gia, Cục thông tin và sản xuất nghe nhìn La Défense, Trung tâm lưu trữ Ngoại giao La Courneuve) cùng với các nguồn tư liệu của tư nhân do chủ sở hữu cung cấp (ông Jean-Marc Gravier, ông Alain Wasmes, ông Nicolas Cornet, ông Chu Chí Thành).

Đến tham quan triển lãm không chỉ có công chúng Hà Nội, du khách nước ngoài mà còn có đông đảo các bạn sinh viên. Bạn Phạm Vũ Huy (SV năm thứ 3 – trường ĐH Thăng Long, xúc động cho biết: “Thông qua lời kể của nhân chứng lịch sử là ông Nguyễn Bá Kinh, bác sỹ khoa Ngoại – Bệnh viện Bạch Mai năm 1972 về trường hợp cứu sống một bệnh nhân bị sập hầm do bom nằm giữa hai bệnh nhân khác đã chết, ông đã cùng đồng đội buộc phải tháo khớp chân người chết nằm ngoài cùng để lấy chỗ buộc dây vào cô gái còn sống kéo lên. Hình ảnh đó khiến những người trẻ như chúng tôi vô cùng xúc động, có lẽ cho đến bây giờ không có ai làm được điều đó. Những hình ảnh đau thương này khiến cho thế hệ trẻ càng trân trọng và tự hào về một thời khói lửa”.

Chỉ tay lên bức ảnh “Bộ đội tên lửa Việt Nam đã chiến thắng pháo đài bay B52”, bạn Trần Đình Dũng (SV năm thứ 2 trường ĐH Y Hà Nội) chia sẻ: “Những hình ảnh tư liệu này đã giúp cho những người trẻ không biết gì về chiến tranh như chúng tôi được hiểu hơn về lịch sử nước nhà, để biết ơn những người đi trước đã ngã xuống vì độc lập ngày hôm nay”

 Triển lãm được tổ chức từ ý tưởng của Viện viễn Đông Bác Cổ và Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam

Sửa đường tàu bị bom Mỹ phá hỏng tại huyện Thanh Trì, nằm ở phía Nam Hà Nội (Ảnh tư liệu)

Tòa nhà của Phái đoàn Chính phủ Pháp bị đánh bom ngày 11/10/1972 (Ảnh tư liệu)

Toàn bộ 6 khối phố ở Khâm Thiên hầu như bị xóa sạch trong đêm 26/12 (Ảnh tư liệu)

Ngày 11/5/1972, ký túc xá Đại học Y Hà Nội bị trúng bom (Ảnh tư liệu)

Bệnh viện Bạch Mai (Ảnh tư liệu)

Đại diện toàn quyền Pháp Pierre Susini tiếp Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại tư dinh nhân dịp Quốc khánh Pháp, 14/7/1971 (Ảnh tư liệu)

Du khách nước ngoài đến tham quan triển lãm

CTV Kim Anh/VOV Online
vov.vn

“Điện Biên phủ trên không”: Việt Nam là dân tộc anh hùng

(VOV) – “Việt Nam đã trở thành biểu tượng của cuộc chiến tranh giành độc lập, là tấm gương để các nước noi theo”.

Chiến thắng lịch sử “Điện Biên phủ trên không” cách đây tròn 40 năm có phần đóng góp quan trọng của những người đồng chí, anh em quốc tế, trong đó có các chuyên gia quân sự Liên Xô (cũ).

Nhân dịp này, phóng viên Đài TNVN có cuộc phỏng vấn Trung tướng Victor Ivanovich Filippov – Cựu chuyên gia quân sự Nga từng công tác tại Trung đoàn 263, Sư đoàn 4, Quân khu 4 và mặt trận ngoại thành Hà Nội năm 1972.

PV: Ông có thể cho biết ấn tượng của mình khi lần đầu tới Việt Nam vào đúng những ngày nóng bỏng ấy?

Trung tướng Victor Filippov: Đó là chuyến công tác đặc biệt, đến một đất nước xa lạ, một đất nước đang có chiến tranh.

Các bạn Việt Nam đã đón tiếp chúng tôi rất chu đáo, không chỉ đối với các chuyên gia quân sự, mà với tất cả những người Xô-viết sang Việt Nam.

Tên lửa SAM-2 của bộ đội Việt Nam luôn sẵn sàng chiến đấu (Ảnh tư liệu)

Khi đến Việt Nam, tôi được biên chế vào một sư đoàn tên lửa của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chúng tôi rất vui vì tinh thần yêu lao động, sẵn sàng chiến đấu của những người lính Việt Nam.

Họ nhanh chóng nắm bắt cách sử dụng các loại khí tài mới để chống lại kẻ địch. Họ sẵn sàng giúp đỡ chúng tôi giải quyết mọi vấn đề. Đôi khi chúng tôi gặp vấn đề về kỹ thuật, và người lính Việt Nam sẵn sàng giúp đỡ và luôn muốn học hỏi để làm chủ được thiết bị, vũ khí mà Liên Xô trang bị. Chúng tôi rất vui vì điều này.

PV: Nhìn lại chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” cách đây 40 năm, với tư cách một chuyên gia quân sự, ông có thể cho biết, tại sao Mỹ lại thua khi trong họ có rất nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại?

Trung tướng Victor Filippov: Việt Nam là một dân tộc anh hùng. Quân đội Mỹ đã không rút ra được bài học khi vẫn âm mưu khuất phục ý chí quật cường của dân tộc các bạn bằng bom đạn.

Bên cạnh đó, cuộc chiến của các bạn là vì độc lập, tự do của dân tộc, còn cuộc chiến của Mỹ là cuộc chiến xâm lược.

Nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc và sự nghiệp chính nghĩa ấy nên nhận được sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới cũng như ở Mỹ.

Nhân dân yêu chuộng hòa bình đã ủng hộ quân giải phóng chống Mỹ. Đã có nhiều cuộc biểu tình chống Mỹ can thiệp, chống không quân Mỹ ném bom tàn phá miền Bắc. Sự trợ giúp về kinh tế của các nước anh em như: Liên Xô, Trung Quốc và một số nước khác cũng đóng góp một phần nhất định trong chiến thắng này của Việt Nam.

Việt Nam đã trở thành biểu tượng của cuộc chiến tranh giành độc lập, là tấm gương để các nước noi theo.

PV: Ông đánh giá thế nào về vai trò của các chuyên gia quân sự Nga trong chiến thắng 12 ngày đêm bảo vệ Hà Nội?

Trung tướng Victor Filippov trả lời phỏng vấn phóng viên VOV (Ảnh: Đoan Hải)

Trung tướng Victor Filippov: Trách nhiệm chính trong thực hiện nhiệm vụ phòng không tại Hà Nội và trên toàn Việt Nam do chính nhân dân Việt Nam thực hiện.

Liên Xô đã giúp đỡ Việt Nam về kinh tế, khí tài và hỗ trợ trên mặt trận ngoại giao.

Chúng tôi cũng có mặt trong lực lượng phòng không tại Việt Nam để giúp nhân dân Việt Nam đánh Mỹ. Song tất cả những điều đó chỉ đóng một vai trò nhất định.

Tôi xin nhắc lại rằng, không có bất kỳ một yếu tố bên ngoài nào đóng vai trò quyết định trong chiến thắng này, mà chính là nhân dân Việt Nam đã anh dũng bảo vệ đất nước của mình.

Mỹ đã thua trận, buộc phải rút vì không thể thực hiện được các mục tiêu mà họ đặt ra.

Nhân dân Việt Nam đã đập tan âm mưu xâm lược của Đế quốc Mỹ.

PV: Ông có thể cho biết, thời gian ở Việt Nam đã giúp ông có thêm kinh nghiệm gì trong cuộc đời binh nghiệp?

Trung tướng Victor Filippov: Những năm tháng công tác tại Việt Nam đã cho tôi rất nhiều kinh nghiệm vô giá. Tôi gửi lời cảm ơn nhân dân Việt Nam, cảm ơn những người lính Việt Nam.

Những kinh nghiệm thực tế trong chiến tranh không chỉ giúp chúng tôi hiện đại hóa, hoàn thiện các hệ thống vũ khí, kỹ thuật quân sự mà ở cương vị công tác của mình, kinh nghiệm có được ở Việt Nam đã giúp tôi rất nhiều trong công tác huấn luyện chiến đấu trong quân đội Nga và cũng giúp tôi phát triển trong sự nghiệp quân ngũ của mình.

PV: Xin cảm ơn ông!

Đoan Hải/VOV-Moscow
vov.vn

Ký ức của những người bạn Nga với Điện Biên Phủ trên không

(VOV) – 40 năm đã qua, nhưng ký ức về những năm tháng hào hùng trên tuyến đầu đánh Mỹ đó vẫn vẹn nguyên trong lòng họ.

Chiến thắng lịch sử của trận “Điện Biên phủ trên không” là một chiến công hiển hách không chỉ của quân và dân Việt Nam, mà đó còn là của nhân loại tiến bộ. Kiên cường trong cuộc đấu tranh chính nghĩa này, Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ to lớn, chí tình và đầy hiệu quả của nhiều bạn bè quốc tế. Trong số đó phải kể đến những người bạn Liên Xô và Nga.

“Rồng lửa” SAM trong chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” (Ảnh tư liệu TTXVN)

Hồi ức về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ trên không của Việt Nam trong tâm thức nhiều cựu chiến binh Nga từng có mặt tại Việt Nam cách đây tròn 40 năm vẫn vẹn nguyên và lại có dịp sống dậy trong những ngày tháng này.

Những ngày này, khi không khí kỷ niệm tròn 40 năm chiến thắng trận “Điện Biên phủ trên không” đang tràn ngập ở Việt Nam thì ký ức về “những năm tháng không thể nào quên” ấy cũng trỗi dậy trong lòng nhiều cựu chiến binh Nga – Những con người từng tham gia với vai trò cố vấn quân sự trong lực lượng phòng không, không quân của Việt Nam thời đó.

Mosow lúc này đã bắt vào mùa Đông với những bông tuyết trắng và cái giá lạnh tê lòng. Thế nhưng trong căn hộ ấm áp ở tầng 8 một tòa nhà chung cư ngay giữa trung tâm thành phố, nơi ở của gia đình một vị tướng Nga lại dường như “nóng lên” bởi câu chuyện giữa những người cựu binh về những trận đánh, những hình ảnh thật khốc liệt nhưng cũng rất hào hùng của quân và dân Thủ đô, của người Việt Nam thời ấy.

Chủ nhà là Thượng tướng Anatoli Khiupenhen, người giữ cương vị Trưởng đoàn cố vấn quân sự Liên Xô tại Việt Nam sau cùng và trong thời gian lâu nhất (từ tháng 12/1972 – 1/1975). Trước ông lần lượt là 5 vị tướng đã đảm nhiệm cương vị này từ năm 1965, khi không quân Mỹ bắt đầu tăng cường ném bom xuống miền Bắc Việt Nam.

Cùng có mặt trong cuộc hội ngộ ấm áp này là Trung tướng Victor Philipov, khi có mặt tại Việt Nam năm 1972 là Thiếu tá, Cố vấn Trung đoàn trưởng Trung đoàn 263, Sư đoàn 4 – Quân khu 4 và vị bác sỹ quân y Victor Marnhitrenko, người đã từng có mặt ở Việt Nam từ tháng 6/1972 – 7/1973 với nhiệm vụ hỗ trợ về công tác y tế. Ông đã có mặt ở thành phố Vinh, rồi Hải Phòng và Hà Nội vào đúng những ngày bom đạn ác liệt nhất.

Phóng viên VOV và các cựu chiến binh Nga cùng hồi tưởng về những năm tháng hào hùng của trận “Điện Biên Phủ trên không” (Ảnh: Đoan Hải)

Nhớ lại những hình ảnh từng được chứng kiến thời đó, cả 3 vị cựu chiến binh ở ba công việc cụ thể khác nhau, đều nhớ nhất một điều là cuộc chiến ấy hết sức khốc liệt, tàn bạo vì đã phá hủy nhà cửa, giết hại dân lành và hết sức cam go cho tình hình chiến cuộc chung của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam. Và sự quả cảm của cả một dân tộc có truyền thống yêu nước đã dẫn tới chiến thắng oai hùng của trận “Điện Biên Phủ trên không” năm nào là điều để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong lòng họ.

“Rất đúng khi gọi sự kiện tháng 12/1972 là trận “Điện Biên Phủ trên không” của Việt Nam. Trận Điện Biên Phủ của Việt Nam cũng giống như trận Stalingrad của Liên Xô, của nước Nga. Điện Biên Phủ của Việt Nam đã kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đã buộc Đế quốc Mỹ phải rút hết về nước. Khi đó, cuộc đàm phán giữa Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Paris về cuộc chiến tranh Việt Nam đang hết sức căng thẳng. Phía Mỹ đã đưa ra những điều kiện mà Việt Nam không thể chấp nhận… Và thế là những trận bom dội xuống Hà Nội đã diễn ra với mưu đồ hủy diệt một đất nước, bắt một dân tộc phải khuất phục. Nhưng điều đó đã không thể đạt được. Với truyền thống lịch sử, dân tộc Việt Nam đã chiến thắng mọi kẻ thù” – Thượng tướng Khiupenhen cho biết.

Với ông Philippov, một chuyên gia nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực phòng không và đã cùng các sỹ quan, chiến sỹ Việt Nam chiến đấu ở quân khu 4 thời kỳ 12 ngày đêm năm 1972,  hình ảnh về những người lính Cụ Hồ, những người dân lành Việt Nam khiến ông hết sức ấn tượng và cảm phục. Ông luôn nhắc đi nhắc lại câu “cảm ơn nhân dân Việt Nam” bởi với ông, chính thời gian có mặt ở Việt Nam đã cho ông nhiều trải nghiệm bổ ích.

“Vào thời điểm khi tôi sang Việt Nam, các đồng chí, chiến sỹ Việt Nam đã nắm khá tốt các kỹ thuật quân sự. Trước một cuộc tấn công bằng đường hàng không, các sỹ quan lẫn chiến sỹ Việt Nam đều đã trong tư thế sẵn sàng rất cao để giáng trả… Có một điều phải khẳng định là chúng tôi đã rút ra được những kinh nghiệm về việc sử dụng các loại vũ khí để chống lại các phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ. Chính vì điều này, chúng tôi cũng phải nói “cảm ơn các bạn Việt Nam” – ông Philippov nhớ lại .

Ký ức về những ngày tháng chiến đấu anh dũng của quân và dân Việt Nam dưới bầu trời Hà Nội cũng in đậm trong tâm trí bác sỹ quân y Victor Marnhitrenko. Ông kể :“Tôi vẫn nhớ rất rõ mọi việc. Ấn tượng sâu đậm của tôi về Việt Nam sẽ còn theo tôi đến hết cuộc đời. Đó là những hồi còi và hiệu lệnh báo động, rồi máy bay Mỹ liên tục giội bom… Sau này khi có điều kiện chúng tôi vẫn đến với những cuộc gặp mặt các bạn Việt Nam. Tôi vẫn thường kể cho các đồng chí của mình về những ký ức của cuộc chiến tranh mà tôi đã có dịp kinh qua. Nhân dân Việt Nam rất ngoan cường, họ đã chịu đựng không biết bao nhiêu gian lao, vất vả. Tôi tin rằng, thế hệ trẻ Việt Nam sau này lớn lên đều sẽ hiểu hết những điều đó”./.

Điệp Anh/ VOV – Moscow
vov.vn

Kế hoạch tuyên truyền chiến thắng Điện Biên Phủ trên không

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân chủ trì hội nghị rà soát, thông qua các kế hoạch và các đề án thành phần phục vụ lễ kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. – Ảnh: VGP

PTT Nguyễn Thiện Nhân giao cho các cơ quan thông tấn báo chí thực hiện tuyên truyền “Điện Biên Phủ trên không” theo chức năng.

Hôm nay 19/10, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân – Trưởng ban Tổ chức cấp Nhà nước Lễ kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (1972- 2012) chủ trì hội nghị rà soát, thông qua các kế hoạch và các đề án thành phần phục vụ buổi lễ.

Theo báo cáo của Bộ Quốc phòng, ngay sau buổi làm việc ngày 28/9 của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân với các Bộ, ngành, các đơn vị liên quan đã rất tích cực, chủ động triển khai công tác chuẩn bị và tiến hành các hoạt động hướng tới lễ kỷ niệm.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân giao Tổng cục Chính trị – Bộ Quốc phòng yêu cầu Truyền hình Quân đội Nhân dân chủ động sản xuất và cung cấp phim tài liệu lịch sử “40 năm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cho đài truyền hình các địa phương trên cả nước khai thác, giới thiệu rộng rãi tới quần chúng, nhân dân.

Về công tác tuyên truyền, Phó Thủ tướng giao Thông tấn xã Việt Nam xây dựng triển lãm ảnh chuyên đề về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không,” sau đó phối hợp với Bộ Quốc phòng tổ chức triển lãm rộng rãi trên cả nước.

Đài Tiếng nói Việt Nam tuyên truyền những câu chuyện chiến đấu, những nhân chứng lịch sử gắn liền với chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” trên các kênh quảng bá, nhất là kênh VOV giao thông.

Về hoạt động hội thảo, gặp mặt, giao lưu, tìm hiểu, Phó Thủ tướng đồng ý Bộ Quốc phòng giao Quân chủng Phòng không – Không quân tổ chức Hội thảo khoa học “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không – Tầm cao trí tuệ và Bản lĩnh Việt Nam” trong tháng 11 tới.

Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội rà soát, đánh giá và tập trung nâng cấp, tôn tạo 9 điểm di tích máy bay B52 bị bắn rơi trên địa bàn thủ đô Hà Nội theo hướng tiết kiệm, đảm bảo sự trân trọng đối với những di tích này.

Bộ Quốc phòng, Bộ Công an phối hợp xây dựng kế hoạch bảo vệ, đảm bảo an ninh, an toàn tuyệt đối trong tất cả các sự kiện sẽ diễn ra tại lễ kỷ niệm.

Bộ Tài chính xây dựng kinh phí đảm bảo thực hiện, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét trước 30/10/2012.

Ban Tổ chức cấp Nhà nước sơ duyệt kịch bản Lễ kỷ niệm vào ngày 30/11 tới./.

Theo Chinhphu
vov.vn

“Cánh cụt cánh què” – kỷ niệm khó quên năm 1972

(VOV) – Bài hát có giai điệu, tiết tấu vui nhộn, vận dụng ngôn ngữ dân gian chế giễu, châm biếm không lực Hoa Kỳ.

Những ngày cuối năm 1972 không thể nào quên, người dân Hà Nội vợi đi nhiều vì sơ tán về các vùng lân cận. Nếu đứng ở ngã tư Quán Sứ – Tràng Thi (cạnh cơ quan Đài TNVN) thì nhìn rõ được nhà hát Lớn vì rất vắng người. Nhưng nếu ngước mắt nhìn lên cao thì thấy trên các nóc nhà cơ quan, bệnh viện, trường học… những chiến sĩ tự vệ và cả dân quân đang tập trung cao độ hướng tầm nhìn 8 hướng, cảnh giác với lũ giặc trời và sẵn sàng nhả đạn.

Các Ban Biên tập của Đài TNVN sơ tán về Quốc Oai (Hà Tây cũ), Đoàn Ca nhạc của Đài sơ tán lên Lương Sơn (Hòa Bình) chỉ để lại một số người trực chiến đấu và trực làn sóng phát thanh, nên càng vắng vẻ.

Bất chấp tiếng rít của máy bay và tiếng bom của Mỹ ném xuống bệnh viện Bạch Mai, khu dân cư Khâm Thiêm… trên nóc khu nhà 58 Quán Sứ, đội tự vệ vẫn căng mắt trực chiến ngày đêm, với nỗi căm thù và niềm tin tưởng nhân đôi. Sự “im lặng” ấy như báo hiệu một trận chiến căng thẳng sắp diễn ra.

Khi tiếng kẻng hối hả vang lên là tiếng “gừ gừ” nghe đều đều như tiếng xay lúa, càng lúc càng to dần. Rồi mặt đất bắt đầu rung lên, liên hồi, kéo theo những tiếng nổ rền. Đó là sự xuất hiện của máy bay B52.

Đêm nào cũng vậy, con “ngáo ộp” cứ lừ lừ đến và gây tội ác. Xen giữa những đợt ném bom đó, cứ khoảng 15 – 20 phút chúng lại cho 1 hoặc 2 chiếc máy bay F111, loại “cánh cụp cánh xòe” bay rất thấp, tiếng gầm rú man rợ. Chỉ một chiếc như thế cũng đủ cho cả thành phố phải thức giấc và lực lượng phòng không phải đánh trả.

Chúng cứ làm thế mãi, nên mọi người ngủ luôn dưới hầm. Đến sáng hôm sau, tin tức mà ai cũng muốn biết là chúng thả bom nơi nào? Điều quan trọng hơn nữa là có mấy chiếc B52 bị ta bắn rơi, bao nhiêu phi công Mỹ bị bắt. Bà con ta vui sướng hả hê vì chúng ta đã đứng vững và bắt giặc Mỹ phải đền tội, nhưng cũng đau xót vì bao nhiêu người vô tội bị sát hại, nhà cửa bị san bằng.

Những ngày ấy các nhạc sĩ Phạm Tuyên, Nguyễn An và tôi được phân công ở lại Hà Nội để thay đổi các chương trình ca nhạc và văn học nghệ thuật khi cần, phục vụ đồng bào và chiến sĩ ở cả hai miền Nam Bắc. Chúng tôi ăn ngủ và làm việc dưới căn hầm nhà hai tầng phía sau cơ quan.

Lúc nào cũng như con thoi chạy qua chạy lại giữa 58 Quán Sứ và 39 Bà Triệu, nơi biên tập và nơi truyền âm phát sóng. Tôi đã phóng xe đạp đến số 51 Trần Hưng Đạo để mời nhà văn Nguyễn Tuân đến đọc bài văn; hay đến số 4 Lý Nam Đế mời nhà thơ Thanh Tịnh đến đọc bài tấu vui…

Phòng thu “dã chiến” lúc đó đặt ở tầng 1 gần cổng chính của Đài. Đúng là “bận thì bận mà vui càng vui” như lời một bài dân ca thời ấy. Chứng kiến một không gian hào hùng đầy khí phách của Hà Nội, chúng tôi không ai bảo ai mỗi người đều cố gắng viết bài hát để thể hiện tình cảm của mình và đó cũng là trách nhiệm của một công dân với thời cuộc. Một cuộc thi đua thầm lặng nhưng không kém phần sôi nổi đã diễn ra.

Anh Phạm Tuyên viết rất nhanh bài “Hà Nội những đêm không ngủ” thể hiện tình cảm của người ở lại với người đi sơ tán đang tạm xa Thủ đô. Còn anh Nguyễn An cũng vừa hoàn thành xong bài “Tiếng hát của Hà Nội hôm nay” để báo tin với quân và dân cả nước rằng, mặc cho bom đạn Mỹ tàn phá Thủ đô ta, nhưng người Hà Nội vẫn vững vàng và luôn ngân vang tiếng hát chiến đấu và chiến thắng.

Cánh cụt cánh què
Nhạc và lời: Dân Huyền

Tối hôm 22/12, tôi đang ngồi nghe lại chương trình ca nhạc ngày thành lập quân đội thì Tổng biên tập Trần Lâm đến, ông hỏi đã xong được bài nào chưa? Anh Tuyên và anh An lần lượt khoe ngay và hát luôn. Ông Lâm rất vui và nhắc chúng tôi cần có thêm bài khái quát nói về trận “Điện Biên Phủ trên không” của Hà Nội ta và cũng đừng quên có thêm những bài “châm biếm” không lực Hoa Kỳ.

Các anh “phân công” luôn cho tôi viết. Tổng biên tập nói vui: “Đặt hàng đấy, cố lên nhé!”. Tôi đáp lễ bằng nụ cười “quyết tâm” nhưng không giấu được sự lo lắng về trình độ, bởi đây đâu phải là “đặt hàng” mà là “mệnh lệnh của trái tim”.

Viết châm biếm rất khó. Phải chọn được giai điệu, tiết tấu vừa vui nhộn vừa dễ hát. Phần lời cũng phải chế giễu chua cay, vận dụng được ngôn ngữ dân gian. Lúc đầu tôi định viết về B52, lấy chất liệu từ điệu “Bà Rí” (Bà rằng, Bà rí…), nhưng chất này tôi đã sử dụng trong bài “Voi nhiều, cỏ ít” rồi.

Lục lại trí nhớ hồi đi về Phú Thọ (đất Tổ Hùng Vương) thu thanh hát Xoan, hát Ghẹo, tôi bỗng nghĩ ngay đến điệu “Trống quân Đức Bác” (Trống quân, trống quýt, trống cò – Đứa nào lấy tớ, tớ cho quan tiền…). Tôi đang ngồi vào đàn để tìm những nốt nhạc dí dỏm nhất thì anh Tuyên bước vào nói như reo: “Ta bắn rơi F111 rồi!”.

Được dịp, tôi “bám” lấy nó rồi chạy vội lên phòng tin thời sự hỏi lại, mới biết tự vệ nhà máy xay Lương Yên trận địa dọc sông Hồng đã hợp đồng bắn hạ được máy bay “cánh cụp cánh xòe”. Thế là tôi “vớ” ngay bốn chữ ấy biến nó thành “cánh cụt, cánh què”. Như có động lực mới, cả lời và nhạc cùng lúc cứ thế mà “tuôn” ra:

“Cánh cụp, cánh cụp cụp với lại cánh xòe xòe
Bị đạn tầm thấp ta ghè hàng xâu
Mỹ khoe Mỹ mạnh Mỹ giàu (ái chà chà)
Cả cánh lẫn đầu xuống tận bùn đen
Giặc lái kinh hoàng mặt mũi nhọ nhem
Hễ đến đất này thì xác chúng bay nhiều thêm…”

Viết xong lời một, tôi vừa đàn vừa hát cho anh An nghe. Anh An nói nên thêm lời hai cho đủ ý và phong phú. Hễ “phang” thì phang cho “đã”. Viết mau lên để sáng mai xe giao liên đem cả 3 bài lên đoàn ca nhạc thu cho kịp. Thế là suốt đêm hôm ấy tôi hoàn thành xong lời hai:

“Cánh cụt, cánh cụt cụt với lại cánh què què
Kìa nhìn nó cháy bốn bề lửa vây
Đến đây vỡ mặt vỡ mày (ái chà chà)
Đã sẵn ruộng cày gốc rạ vùi thây
Còn đến nơi này còn chết lăn quay
Súng máy súng trường bủa lưới quyết tiêu diệt ngay!”

Tôi thở phào nhẹ nhõm, chép lại toàn bài và không quên ghi: Tốp nam hát. Sáng dậy nộp cho anh Tuyên để gửi lên Hòa Bình kịp dàn dựng.

Sáng 28/12 chúng tôi nhận được băng ghi âm 3 bài hát từ nơi sơ tán của đoàn ca nhạc gửi về. Trong chương trình ca nhạc 11h30 trưa hôm đó và các chương trình tiếp theo đã được truyền đi kịp thời trên làn sóng của Đài TNVN cùng những bài hát của các nhạc sĩ khác. Biết rằng bài hát “Cánh cụt cánh què” của tôi do nhạc sĩ Văn Cước phối khí, hai nghệ sĩ Đăng Khoa và Hữu Nội trình bày. Những mong muốn của tác giả đã được đáp ứng.

Sau chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” 20 ngày, tôi lại được lệnh cùng một bộ phận biên tập của Đài đi sơ tán cách Hà Nội hơn 300 km. Trong hành trang mang theo, tôi không quên những lá thư của thính giả đề nghị được nghe lại bài hát “Cánh cụt cánh què”. Họ động viên khích lệ, muốn tôi viết thêm những bài hát châm biếm bên cạnh những bài hát trữ tình ca ngợi.

Thấm thoắt đã 40 năm tròn sau trận “Điện Biên Phủ trên không” của quân và dân Hà Nội anh hùng, đã bắn rơi 32 máy bay của Mỹ có cả B52 và F111 trong 12 ngày đêm rực lửa.

Giữa những ngày kỷ niệm lịch sử này, xin được biết ơn những người đã ngã xuống vì Thủ đô, vì cả nước để chúng tôi được vinh dự có mặt trong ngày vui hôm nay./.

Nhạc sĩ Dân Huyền
vov.vn

Xây dựng ý chí quyết đánh, quyết thắng B-52 Mỹ

Hướng tới kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – điện biên phủ trên không”:

Đại Tá, TS Nguyễn Thành Hữu

Khi Mỹ xâm lược Việt Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng ta phải đương đầu trực tiếp với tên đế quốc mạnh nhất, thì ý chí quyết đánh và quyết thắng trở thành yếu tố quyết định để đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ.

>> Cầu truyền hình “Bản hùng ca Hà Nội”

Trong lịch sử chiến tranh giữ nước, dân tộc ta luôn phải chống lại kẻ thù xâm lược có nền kinh tế và quân sự phát triển cao hơn ta, cho nên vấn đề xây dựng ý chí quyết đánh, quyết thắng có vị trí đặc biệt quan trọng. Chỉ có quyết đánh, quyết thắng mới tạo nên sức mạnh đánh thắng địch.

Khi Mỹ xâm lược Việt Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng ta phải đương đầu trực tiếp với tên đế quốc mạnh nhất, thì ý chí quyết đánh và quyết thắng trở thành yếu tố quyết định để đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ.

Xây dựng ý chí quyết đánh, quyết thắng B-52 cũng là yếu tố quyết định giành thắng lợi trong chiến dịch phòng không Hà Nội, Hải Phòng tháng 12/1972.

Ngày 12/4/1966, lần đầu tiên Mỹ cho B-52 đánh đèo Mụ Giạ – Quảng Bình rồi thường xuyên đánh phá Vĩnh Linh và chiến trường miền Nam. Bác Hồ đã trực tiếp giao cho Quân chủng Phòng không – Không quân (PK-KQ) nghiên cứu cách đánh B-52 và quyết tâm bắn rơi B-52 được đề ra từ đó.

Tháng 5/1966, Trung đoàn tên lửa 238 cơ động vào Vĩnh Linh nghiên cứu đánh B-52, tại đây, ngày 17/9/1967, đã bắn rơi chiếc B-52 đầu tiên. Và từ tháng 2/1968, Quân ủy Trung ương (QUTƯ) dự đoán Mỹ có thể dùng B-52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và giao cho Quân chủng PK-KQ xây dựng kế hoạch tác chiến. Suốt thời gian sau đó nhiều đoàn cán bộ PK-KQ cùng một số trung đoàn tên lửa và biên đội không quân tiêm kích được đưa vào nghiên cứu cách đánh B-52 trên vùng trời Khu 4.

Đặc biệt tháng 4/1972, khi Mỹ cho B-52 đánh phá TP Vinh, TP Hải Phòng, thì ý chí quyết đánh và quyết thắng B-52 Mỹ trên bầu trời Hà Nội được thể hiện bằng một loạt việc triển khai công tác chuẩn bị. Đầu tiên phải nói đến Hội nghị chuyên đề đánh B-52 do Bộ Tổng tham mưu (BTTM) tổ chức ngày 6/7/1972 với sự tham gia của nhiều cơ quan, đơn vị.

Phải đánh trúng B-52, lời nói “chắc như đinh đóng cột” không chỉ của Tư lệnh Quân chủng PK-KQ mà là ý chí quyết tâm của cả Hội nghị. Tổng Tham mưu phó Phùng Thế Tài kết luận và chỉ thị cho các cơ quan, đơn vị đẩy mạnh nghiên cứu đánh B-52 bằng lực lượng, vũ khí hiện có của Quân chủng PK-KQ; đánh trúng, bắn rơi B-52 là nhiệm vụ cấp bách, là yêu cầu cao về quân sự, chính trị, ngoại giao; Quân chủng PK-KQ phải được chuẩn bị cho chiến thắng B-52.

Sau hội nghị, BTTM chỉ thị thực hiện gấp việc nghiên cứu và triển khai kế hoạch đánh B-52. Bộ Tư lệnh Quân chủng PK-KQ chủ trì biên soạn lý luận chiến thuật đánh B-52; Viện Kỹ thuật quân sự cử người tham gia; đồng thời Quân chủng PK-KQ nhanh chóng bổ sung ý kiến chỉ đạo để hoàn chỉnh kế hoạch và phương án tác chiến, kết hợp một cách hợp lý việc điều chỉnh bố trí lực lượng, biên soạn tài liệu huấn luyện và tiến hành tập huấn đánh B-52 trong các tình huống phức tạp

Bộ Tư lệnh Quân chủng chỉ thị cho cơ quan tham mưu cùng Bộ Tư lệnh các binh chủng khẩn trương hoàn chỉnh phương án đánh B-52 bảo vệ miền Bắc, chủ yếu là Hà Nội và Hải Phòng. Tổ nghiên cứu, biên soạn tài liệu “Cách đánh B-52″ được quân chủng gấp rút thành lập, làm việc không kể ngày đêm để sớm có tài liệu huấn luyện.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghe Tổng Tham mưu phó Phùng Thế Tài và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân trình bày kế hoạch chống địch tập kích đường không bằng B-52 vào Hà Nội năm 1972.

Phương án đánh B-52 được nhanh chóng hoàn thành theo đúng kế hoạch. Các đơn vị tên lửa, rađa, pháo 100mm mở đợt huấn luyện đột kích nội dung và mục tiêu chủ yếu là đánh B-52. Bộ đội Không quân tích cực luyện tập theo phương án đánh B-52 trên năm hướng xung quanh Hà Nội. Phương án này được kết hợp chặt chẽ với hỏa lực của các binh chủng, cả vòng trong và vòng ngoài, kết hợp cơ động và yếu địa, tuyến trước và tuyến sau, trên không và mặt đất.

Tiếp tục nghiên cứu, tổng hợp quy luật hoạt động của không quân địch, xác minh tính năng kỹ chiến thuật của B-52 đối với các loại vũ khí của ta, BTTM giao cho Cục Tình báo chủ trì cùng Quân chủng PK-KQ, Viện Kỹ thuật quân sự khai thác thông tin từ giặc lái Mỹ; Cục Tình báo cung cấp kịp thời những tin tức, tư liệu liên quan đến B-52, phục vụ cho yêu cầu tác chiến của phòng không, không quân.

Đồng thời Quân chủng PK-KQ xúc tiến khẩn trương việc nghiên cứu cải tiến và sử dụng trang bị vũ khí, sử dụng rađa cũ kết hợp khí tài quang học với điện tử, điều chỉnh độ nhạy của đầu đạn tên lửa để có thể bắn rơi tại chỗ B-52. Cục Tình báo, Cục Quân lực, Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc cùng quân chủng giải quyết các vấn đề bảo đảm…

Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp làm việc với Quân chủng, Tư lệnh các binh chủng Rađa, Tên lửa, Không quân, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không Hà Nội xác định phương hướng tác chiến chiến dịch phòng không đánh B-52 bảo vệ Thủ đô.

Tháng 9/1972, BTTM chỉ đạo Bộ Tư lệnh Quân chủng PK-KQ bổ sung và hoàn thiện phương án mới đánh B-52; xác định những vấn đề cơ bản của nghệ thuật chiến dịch phòng không, phán đoán âm mưu, thủ đoạn, hướng và mục tiêu tiến công của địch, quyết định sử dụng lực lượng và cách đánh của ta; đồng thời chỉ đạo quân chủng khẩn trương xây dựng thế trận, điều chỉnh lực lượng, nhanh chóng hoàn thành mạng lưới phòng không ba thứ quân nhiều tầng, nhiều hướng, có trọng điểm vào hai khu vực Hà Nội và Hải Phòng.

Đầu tháng 10/1972, Đảng ủy Quân chủng PK-KQ ra nghị quyết tăng cường giáo dục cán bộ, chiến sĩ, quyết tâm bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, kể cả B-52. Các binh chủng trong quân chủng mở hội nghị sơ kết rút kinh nghiệm xây dựng và chiến đấu 6 tháng đầu năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ; hội nghị chuyên đề bàn cách đánh B-52. Một số kinh nghiệm về chống nhiễu, phân biệt B-52 thật và giả trong tầm đánh, kết hợp đánh địch của lực lượng cơ động và tại chỗ được đúc kết làm cơ sở cho các binh chủng biên soạn tài liệu huấn luyện bộ đội.

Ngày 27/10/1972, Đảng ủy Quân chủng họp phiên bất thường, quán triệt tinh thần chỉ đạo của QUTƯ về tình hình nhiệm vụ mới và ra nghị quyết: “…kiên quyết bắn rơi B-52 tại chỗ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống…”.

Đầu tháng 11, Quân chủng PK-KQ cử cán bộ và một số kíp chiến đấu vào Nghệ An cùng Trung đoàn tên lửa 263 đánh B-52 và đêm 22/11 đã diệt được B-52 Mỹ; kinh nghiệm của trung đoàn được phổ biến đến các đơn vị. Tài liệu “Cách đánh B-52″ được bổ sung những chi tiết quan trọng.

Tiếp đó, BTTM và Quân chủng PK-KQ thống nhất phán đoán đường bay, hướng tập kích của địch; cho Binh chủng Rađa bố trí ưu tiên hướng chủ yếu… Ngày 24/11/1972, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng phê chuẩn kế hoạch và lệnh cho quân chủng hoàn thiện công tác chuẩn bị chiến đấu trước ngày 3/12/1972.

Ngày 27/11/1972, Bộ Tổng Tư lệnh ra lệnh cho các lực lượng vũ trang miền Bắc tăng cường các mặt chuẩn bị chiến đấu; Quân chủng PK-KQ tập trung mọi khả năng tiêu diệt bằng được B-52 Mỹ. Ngày 3/12/1972, Quân chủng PK-KQ báo cáo “Mọi mặt công tác chuẩn bị đánh B-52 xong, quyết tâm của quân chủng kiên quyết không để bị bất ngờ, đánh rơi tại chỗ máy bay địch, kể cả B-52”.

Cựu chiến binh Sư đoàn Phòng không 361 gặp mặt nhân kỷ niệm 40 năm “Điện Biên Phủ trên không”

Sáng 15/12 tại Hà Nội, Ban liên lạc cựu chiến binh Sư đoàn Phòng không 361 đã tổ chức họp mặt. Sư đoàn 361 thành lập ngày 19/5/1965 với nhiệm vụ bảo vệ bầu trời Hà Nội. Trong chiến dịch 12 ngày đêm (tháng 12/1972), sư đoàn là lực lượng phòng không chủ lực bảo vệ Hà Nội, bắn rơi nhiều máy bay của Mỹ (trong đó có máy bay B-52), góp phần làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Ngày 15/1/1976, sư đoàn đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Các đại biểu dự gặp mặt dâng hương tưởng nhớ các anh hùng, liệt sĩ.

Cuộc gặp mặt có sự tham dự của những nhân chứng lịch sử, như Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261, nguyên Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân, là đơn vị lập thành tích xuất sắc trong trận quyết chiến chiến lược “Điện Biên Phủ trên không”. Ông Phiệt từng là vị tướng nổi tiếng, khi trực tiếp bắn và chỉ huy bắn được 19 máy bay địch, trong đó có 4 máy bay B-52, trong 12 ngày đêm cuối năm 1972.

Một nhân chứng khác là Thiếu tướng, Anh hùng LLVTND Phạm Ngọc Lan, người phi công đầu tiên tiêu diệt máy bay Mỹ trong một trận không chiến đầy kịch tính ngày 3/4/1965, cùng sự hiện diện của những nhân chứng lịch sử, những người đã góp mặt vào bảng vàng thành tích của Quân chủng Phòng không – Không quân trong trận “Điện Biên Phủ trên không” nói riêng và sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung.

Tại buổi gặp mặt, các cựu binh đã dâng hương tưởng nhớ 1.756 liệt sĩ của sư đoàn đã hy sinh trong sự nghiệp giải phóng đất nước và ôn lại truyền thống hào hùng của bộ đội phòng không không quân.

Duy Hiển


N.T.H. (Cán bộ nghiên cứu lịch sử Bộ Tổng tham mưu)
cand.com.vn