Thư viện

‘Giọng nói nổi tiếng nhất thủ đô’ giữa mưa bom B52

“Đồng bào chú ý! Máy bay địch cách Hà Nội 50 cây số về phía Tây. Đồng bào cần bình tĩnh vào hầm trú ẩn…”, giọng đọc của phát thanh viên Nguyễn Thị Thìn năm 1972, vẫn in sâu trong tâm trí người Hà Nội như một ký ức chiến tranh.

Máy bay B52 suýt ‘tuyệt chủng’ trên bầu trời Hà NộiĐại tướng Võ Nguyên Giáp và câu hỏi bất ngờ

Giám đốc Xí nghiệp Truyền thanh Hà Nội Vũ Văn Viễn kể về những năm tháng hào hùng. Ảnh: Hoàng Thùy.

Mái đầu bạc trắng nhưng đôi mắt ông Vũ Văn Viễn (Hoàng Mai, Hà Nội) vẫn còn tinh anh. 86 tuổi, giọng nói của vị giám đốc xí nghiệp truyền thanh Hà Nội vẫn sâu lắng và đầy đủ âm vực. Trong 8 năm chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, đặc biệt là trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, xí nghiệp truyền thanh Hà Nội đã chuyển tải thông tin mọi mặt của đất nước thường ngày đến nhân dân và phục vụ đắc lực chỉ huy chiến đấu của Bộ Tư lệnh thủ đô.

Trong xí nghiệp truyền thanh, khi nam thanh niên phụ trách đường dây thì những nữ công nhân có nhiệm vụ nhấn nút máy điện tử, kiểm tra đồng hồ chỉ thị của máy, điều khiển nó hoạt động ở chế độ tốt nhất. Công việc nhẹ nhàng, chiến đấu tại chỗ nhưng đòi hỏi các chị phải tập trung cao độ, thao tác kĩ thuật chính xác, huy động thường trực mọi giác quan để bất cứ lúc nào cũng nhận được nhanh chóng mệnh lệnh báo động của Bộ tư lệnh thủ đô, kịp thời phát ra toàn thành phố.

“Dù nhắc nhở người dân ‘hãy xuống hầm trú ẩn’, thế nhưng những nữ công nhân truyền thanh vẫn phải trực bên máy, tập trung điều khiển chính xác để máy phát ra đầy đủ và rõ ràng mệnh lệnh chiến đấu của thành phố”, ông Viễn cho hay.

Vị giám đốc xí nghiệp truyền thanh nhớ lại, ngày đó ông có 4 phát thanh viên gồm hai nam, hai nữ. Trong số đó, giọng nói được xem là “nổi tiếng nhất thủ đô” lúc bấy giờ là Nguyễn Thị Thìn. Trong tâm trí ông Viễn, chị Thìn là người rất tích cực và có trách nhiệm với công việc. Chị có giọng kim, rất thanh nên được chọn là người phát thanh báo động cho nhân dân.

Khi có thông tin từ hầm chỉ huy của Bộ tư lệnh thủ đô là máy bay đến gần Hà Nội, phát thanh viên Nguyễn Thị Thìn lại thông báo: “Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý! Máy bay địch cách Hà Nội … cây số. Các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu. Đồng bào cần bình tĩnh vào hầm trú ẩn…”.

* Clip: Phát thanh viên báo động máy bay B52 gần Hà Nội

Ảnh:

Nữ phát thanh viên đọc lời báo động máy bay B52.

Khi máy bay ngừng phá hoại, phát thanh viên lại báo an để nhân dân rời hầm tiếp tục công việc. Loa truyền thanh được lắp vào tận xã, thậm chí tận nhà dân. Đợt cao điểm có đến hơn 1.700 km đường dây khắp nội, ngoại thành và 6 vạn loa trong các gia đình, ngoài ngõ xóm. Thế nên mọi thông tin từ thương nghiệp, mua bán, tem phiếu, báo động, báo an… nhân dân đều được biết kịp thời. Cũng vì thế, giọng nói của cô phát thanh viên Nguyễn Thị Thìn trở nên thân thuộc với người dân Hà Nội.

“Tôi nhớ có hai lần người dân gọi điện đến số máy của xí nghiệp truyền thanh và nói với tôi: Chào bác, tôi cảm ơn bác quá, nếu không có loa truyền thanh thì gia đình nhà tôi không được toàn vẹn như bây giờ”, ông Viễn kể và cho hay, có thời điểm hàng trăm người dân tự đến xí nghiệp xin được mắc loa để nghe phát thanh viên báo động.

Lời nói của chị Thìn có khi được phát trực tiếp, có khi mở băng thu âm bởi khi báo động có càng ít người trực máy càng tốt, tránh trường hợp bị máy bay ném bom. Tuy nhiên, với sự việc bất ngờ thì phát thanh viên phải nói trực tiếp.

Trong hoàn cảnh máy bay ném bom phá hoại liên tục, ông Viễn đã suy nghĩ nhiều cách để đảm bảo truyền thanh thông suốt. Ông sang hầm chỉ huy của bộ tư lệnh thủ đô, nơi bản đồ Hà Nội luôn có người theo dõi. Khi thông báo máy bay địch đi theo hướng nào, nhân viên trực sẽ vẽ theo trên bản đồ. Bản đồ này được chia làm nhiều vòng tròn lấy tâm từ Hà Nội, ứng với mỗi vòng tròn là một khoảng cách tỉ lệ máy bay địch vào Hà Nội theo hướng nào và khoảng cách bao xa, đến vòng nhất định thì phải thông báo báo động đến khắp thành phố.

“Tôi làm hai đường dây ngầm nối liên thông từ Bộ tư lệnh thủ đô đến trung tâm phát thanh của Hà Nội, thiết kế ở 2 đầu dây là các rơ le tự động. Khi bên kia bấm nút báo phát thanh thì bên này sẽ tự động phát thanh ngay”, ông Viễn nói và cho hay, ở bên đài phát thanh, nhân viên trực 24/24.

Máy bay Mỹ trên bầu trời Hà Nội năm 1972. Ảnh tư liệu.

Máy truyền thanh của Liên Xô có đặc thù là khi bật lên phải 3-4 phút sau mới phát được. Do vậy, ông Viễn phải bật máy ở chế độ chờ (bật máy một nửa công suất) hâm nóng máy, để khi có tín hiệu cần báo động là máy có thể phát ngay.

Ngoài phụ trách các đài truyền thanh trong nội thành, xí nghiệp truyền thanh còn phải phụ trách truyền thanh ra bốn huyện ngoại thành (Đông Anh, Thanh Trì, Gia Lâm, Từ Liêm). Tại bốn huyện này hệ thống truyền thanh khép kín do nội thành chỉ huy. Bốn đường dây kết nối với tổng đài ở nội thành bằng bốn rơ le tự động, khi bộ tư lệnh thủ đô ấn út báo động thì đồng thời các đài truyền thanh trong nội thành cũng như ngoại thành được kết nối và truyền thanh ngay lập tức.

Hệ thống truyền thanh lúc này đóng vai trò chính trong việc báo động phòng không, vì còi nhà hát lớn thành phố có khi hỏng đến 8 ngày nhưng hệ thống truyền thanh vẫn hoạt động bình thường.

Có những lúc máy bay B52 trải thảm, hàng nghìn chiếc loa bị hỏng, đường dây bị đứt ở nhiều nơi, nhưng công nhân của xí nghiệp truyền thanh vẫn không ngại mưa bom, bão đạn đi sửa đường dây. Họ tâm niệm phải luôn đảm bảo truyền thanh thông suốt, kịp thời báo động cho dân xuống hầm trú ẩn an toàn. Vì thế, truyền thanh dù không trực tiếp tham gia chiến đấu nhưng nắm trong tay sinh mạng hàng triệu người dân.

40 năm trôi qua, người có giọng nói nổi tiếng nhất thủ đô giờ đã không còn. Những nữ công nhân nhiệt tình và dũng cảm như Nguyễn Thị Chắt, Đoàn Thị Diên, Trần Thị Tân Minh, Phạm Thị Ngân, Đỗ Thị Ngọc, Vũ Thanh Vân, Nguyễn Thị Thoa, Ngô Thị Thoa, Mai Thị Huệ… cũng người còn người mất. Nhưng ông Viễn tự hào thế hệ của ông đã làm nên hệ thống báo động phòng không được các chuyên gia phương Tây đánh giá là “hoàn hảo”.

Hoàng Thùy
vnexpress.net

‘Viết tiếp bản hùng ca’ Điện Biên Phủ trên không – 2

Nhân chứng lịch sử, người trực tiếp tham gia vào chiến dịch Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không sẽ kể lại thiên sử hào hùng 40 năm về trước trong chương trình giao lưu nghệ thuật “Viết tiếp bản hùng ca”.

Thiết kế chương trình dưới dạng giao lưu giữa hai thế hệ, những người hùng bắn rơi “pháo đài bay” của Mỹ và thế hệ trẻ hôm nay, “Viết tiếp bản hùng ca” gồm ba phần: “Cuộc đụng đầu lịch sử”, “Hà Nội ơi một trái tim hồng” và “Vang mãi bản hùng ca”.

Những nhân chứng lịch sử cách đây 40 năm sẽ cùng kể lại câu chuyện lịch sử hào hùng đánh thắng “pháo đài bay” của Mỹ.

Trong chương trình, trung tướng Trần Hanh, Phạm Tuân sẽ kể lại quá trình rèn luyện, chiến đấu của bộ đội tên lửa, không quân trong điều kiện vô cùng khó khăn. Nữ pháo thủ Phạm Thị Viễn của Trung đội tự vệ Nhà máy cơ khí Mai Động kể chuyện trút đau thương lên đầu súng, bắn rơi máy bay khi đang chít khăn tang…

Các ca sĩ Đăng Dương, Lan Anh, Bích Hồng và diễn viên Nhà hát Quân đội sẽ tái hiện những chiến công của quân và dân trong 12 ngày đêm chiến đấu chống lại âm mưu đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá.

Thiếu tướng Lê Phúc Nguyên, Tổng biên tập báo Quân đội nhân dân cho biết, chương trình sẽ làm tăng thêm niềm tin cho toàn dân, toàn quân về sức mạnh, ý chí đoàn kết chiến đấu, giành và giữ độc lập dân tộc của quân đội nhân dân Việt Nam; đồng thời cho thế giới biết rằng Việt Nam dù đối mặt với kẻ thù nào vẫn sẽ chống trả bằng tất cả ý chí, nghị lực sắt đá.

Ban tổ chức chương trình sẽ tặng 100 suất quà, mỗi suất trị giá 5 triệu đồng cho con cán bộ, quân nhân có thành tích xuất sắc trong học tập. Chương trình được phát sóng trực tiếp trên Kênh truyền hình VTC1, Truyền hình Công an Nhân dân… vào 20h ngày 15/12.

Hoàng Thùy
vnexpress.net

Tìm lại những người anh hùng

Công an Hà Nội với chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”:

ANTĐ – Với những thành tích xuất sắc trong việc giữ vững huyết mạch vận chuyển hàng hóa, đạn dược tiếp lửa cho Thủ đô Hà Nội giành thắng lợi trong 12 ngày đêm trận “Điện Biên Phủ trên không”, Ban Công an xã Đông Hội đã trở thành một trong hai đơn vị của Công an Hà Nội khi đó được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 3-9-1973.

Ông Ngô Thiệu Nhã, nguyên Chủ tịch UBND xã Đông Hội kể lại chuyện 40 năm về trước

Không sợ bom đạn, chỉ lo đứt mạch giao thông

Đến Đông Hội, hỏi về những công an viên năm xưa, đa phần người dân ở đây vẫn đọc vanh vách chiến công anh hùng của họ, nhưng khi chúng tôi ngỏ ý được gặp họ, chỉ nhận được những cái lắc đầu buồn bã: “Ông Lương Xuân Đường, nguyên Trưởng Công an mất năm kia, ông Nhẽ, ông Thăng, ông Lịch, ông Đáng, ông Tường, ông Đọi… đều đã khuất núi cả rồi”. Quân số của Ban công an xã Đông Hội khi xưa tròn 30 người. Giờ còn lại có khi không đếm hết một bàn tay, một vài người theo con cái, ở rải rác trong thành phố. Rất hiếm khi có dịp gặp gỡ, hàn huyên. Theo sự chỉ dẫn của các cán bộ xã, chúng tôi tìm đến nhà bà Đào Thị Tưởng. Có lẽ, bà Tưởng là người duy nhất trong số 30 công an viên, còn ở làng Đông Hội cho đến ngày hôm nay.

Thấy chúng tôi đến, người nhà đỡ bà ngồi dậy. Năm nay bà Tưởng mới chỉ ngoài 60, nhưng đã có đến hơn 10 năm phải chống chọi với căn bệnh Parkinson quái ác. Bà nói chuyện với chúng tôi trong trạng thái toàn thân run rẩy, nhưng lạ kỳ, trí nhớ của bà vẫn cực kỳ minh mẫn. Không biết có phải, những ngày tháng gian khổ sự sống và cái chết đôi khi cận kề trong gang tấc, nhưng cô gái trẻ ngoài 20 tuổi Đào Thị Tưởng vẫn đi theo tiếng gọi của cả dân tộc chiến đấu- cống hiến tuổi thanh xuân của mình vì độc lập tự do… đã trở thành ký ức không thể quên. Theo lời kể của bà, cuối năm 1967, do sự đánh phá ác liệt của địch, cầu Đuống bị hư hại, chưa thể sửa chữa và sử dụng ngay được.

Bến phà Đông Trù xưa, nay sắp có một cây cầu nối hai bờ sông Đuống – cầu Đông Trù

Trước tình hình ấy, Chính phủ quyết định nâng cấp con đường Đông Hội và xây dựng hai bến phà Đông Trù và Đông Ngàn để nối lại tuyến đường huyết mạch của cả nước. Kể từ khi bến phà được hình thành, nơi đây trở thành địa điểm đánh phá ác liệt nhất của Mỹ. Trách nhiệm của  toàn Đảng, toàn dân Đông Hội cũng nặng nề hơn, bằng mọi giá phải bảo vệ an toàn cho con đường, bến phà, hàng hóa… kịp thời chi viện cho các chiến trường. Ngày đó, mỗi lần có báo động, ngay lập tức nhiều phương án cất giấu hàng hóa, súng đạn được đưa ra. Cả xã Đông Hội trở thành một nhà kho khổng lồ và công tác đảm bảo an ninh, ngụy trang cho những lô hàng tiếp tế này được giao toàn bộ cho Ban Công an xã Đông Hội. Có khi vừa che chắn được một chuyến hàng đã lại phải đối phó với đợt rải bom khác của địch. “Cứ ngưng tiếng bom, chúng tôi lại cùng anh em dân quân, bộ đội kiểm tra lại cầu phao dã chiến và số hàng đang ngụy trang. Máy bay quay lại tiếp tục đánh phá, có đồng chí không kịp rút đã hy sinh ngay tại trận địa bảo vệ phà do sức ép của bom địch. Chúng tôi nào có quan tâm sống chết gì đâu, máy bay đến, hết đợt bom này đến đợt bom khác trút xuống cũng không làm chúng tôi sợ. Nỗi sợ duy nhất khi đó chỉ là đứt mạch giao thông, mất những chuyến hàng” – bà Tưởng nhớ lại. Năm 1967, khi mới 17 tuổi, bà đã xin đi thanh niên xung phong và sau đó được chọn vào Ban Công an xã Đông Hội tham gia giữ gìn, đảm bảo an ninh cho tuyến vận tải quan trọng này.

Với những thành tích trong trận chiến kéo dài 12 ngày đêm mùa đông năm 1972, ngày 3-9-1973, bà Đào Thị Tưởng đã được chọn làm đại diện cho Ban Công an xã Đông Hội vinh dự lên đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì có thành tích xuất sắc trong trận chiến 12 ngày đêm khói lửa”. Ngày nay, tại hội trường UBND xã Đông Hội vẫn còn treo bức ảnh cô nữ công an viên mới ngoài 20 tuổi, nụ cười tươi tắn đón nhận danh hiệu do đồng chí Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội thời bấy giờ trao tặng.

Bà Đào Thị Tưởng đại diện cho Ban Công an xã Đông Hội, đón nhận danh hiệu Anh hùng

Cả làng đánh giặc

Những ký ức lịch sử tiếp tục đưa chúng tôi tìm đến nhà ông Ngô Thiệu Nhã – Chủ tịch xã Đông Hội vào thời điểm năm 1972. Đôi mắt sáng, giọng nói vang, mạnh mẽ khiến ít ai nghĩ ông năm nay đã 79 tuổi. Ông vẫn nhớ như in thời điểm giặc Mỹ trút những trận bom kinh hoàng xuống bến phà Đông Trù quê hương ông. Cuối tháng 12-1972, giặc liên tục đánh phá Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Bến phà Đông Trù là một trong những trọng điểm đánh phá của chúng. Không đếm xuể có bao nhiêu trận bom đã rơi trên đất này, chỉ biết, bom đã xé nát toàn bộ khu vực ngoài đê và bến phà. Nhận được chỉ đạo của cấp trên, ông cùng toàn bộ dân quân, du kích kết hợp với Ban Công an xã Đông Hội ngày đêm ứng trực ở khu vực trọng yếu xung quanh bến phà sẵn sàng cho mọi tình huống. Mặc dù là địa điểm quan trọng nhưng bệ pháo đặt tại khu vực chỉ bắn tầm thấp và phải giữ bí mật cho địa điểm tập kết hàng hóa ở các mương nước, ngoài triền đê.

Những ngày ấy cả làng, cả xã trên dưới một lòng dồn tâm sức bảo vệ cho tuyến vận tải này, lúc bấy giờ phần lớn thanh niên Đông Hội đã lên đường nhập ngũ, chỉ còn lại hầu hết là người già, phụ nữ và trẻ nhỏ. Nhưng mỗi người mỗi việc biến cả xã thành một nhà kho khổng lồ. Họ chia nhau ra bốc xếp, trông coi hàng hóa mong góp phần “chia lửa” cho Thủ đô đang oằn mình chống lại những trận bom của giặc thù cũng như với miền Nam thân yêu nơi những người con Đông Hội đang dồn tâm dồn sức góp phần thống nhất đất nước. Ông Ngô Thiệu Nhã không giấu được nét tự hào trên gương mặt khi nói về thời gian chiến tranh tuy đói khổ, gian nan, nguy hiểm nhưng đoàn kết, tin yêu lẫn nhau. Giờ đây, người cán bộ năm xưa chỉ còn quanh quẩn với ruộng vườn, làm bạn với bà lão đã chung sống với ông 60 năm qua. Chia tay chúng tôi ông quả quyết: “Trải qua hai cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, khi Tổ quốc cần, chúng tôi vẫn nguyện tham gia chiến đấu bảo vệ đất nước”.

Trò chuyện cùng chúng tôi trong những ngày cả nước kỷ niệm 40 năm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Thượng tá Trần Hải Quân – Trưởng Công an huyện Đông Anh cho biết thêm, phát huy truyền thống anh hùng, Đông Hội ngày nay có nhiều nét đổi mới, đời sống người dân đã được nâng cao. Đặc biệt, địa phương cũng là một điểm sáng tiêu biểu trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Thực hiện chủ trương, “Uống nước nhớ nguồn” những năm vừa qua, Đảng ủy, Ban Chỉ huy Công an huyện Đông Anh đã tích cực phát động phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”. Mới đây, ngày 16-12, Đảng ủy, BCH Công an huyện phối hợp cùng CLB Hưu trí đến thăm và tặng quà gia đình Liệt sĩ Trương Viết Lãm tại Ninh Bình, người đã hy sinh trong đêm 18 rạng sáng 19-12-1972. Cũng trong dịp này, nhiều cuộc giao lưu, gặp gỡ giữa thế hệ công an qua các thời kỳ ở Đông Anh đã được tổ chức. Đây thực sự là dịp để thế hệ trẻ hiểu hơn nữa về lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, sự hy sinh xương máu của cha anh và quan trọng hơn cả để mỗi đoàn viên thanh niên công an Đông Anh lấy đó làm tấm gương để tự soi và sửa mình, qua đó tiếp tục phấn đấu, rèn luyện.

Quỳnh Vân- Đỗ Nguyễn
anninhthudo.vn

Viên phi công Mỹ run sợ trước cô gái xứ Mường

Hồi ức “Hà Nội- Điện biên phủ trên không”:

ANTĐ – Dòng chảy ký ức của trận đánh Đồi Bù 40 năm trước làm những người con xứ Mường nhớ về Hà Nội 12 ngày đêm khốc liệt. Hồi đó những thông tin hàng ngày về Thủ đô mà dân quân xã Hòa Hợp, huyện Lương Sơn, Hòa Bình nhận được thật đau thương. Những mảnh bom B52 trút xuống bệnh viện Bạch Mai nhiều hơn đất đá, phố Khâm Thiên người chết ngổn ngang. Xứ Mường hờn căm nhìn chớp lửa đêm đông, lòng hướng về Hà Nội.

Nữ dân quân Hoàng Thị Bướm năm xưa (thứ 2 hàng đầu bên phải)
trong ngày gặp mặt giữa tháng 12 tại xã Hòa Hợp

Tọa độ rơi xác F111

Vào khoảng 21h15 tối  22-12-1972, tại cao điểm 833 Đồi Bù, khi Trung đội dân quân Hợp Hòa đang trực chiến thì nghe thấy một tiếng nổ rất to kèm theo một luồng sáng chói trên bầu trời Hà Nội. Ánh sáng chớp lóe kéo dài trong bóng đêm từ hướng Hà Nội lao về phía cao điểm Đồi Bù. Tất cả hô to, máy bay trúng đạn pháo rồi. Bất chợt, những ánh mắt dõi theo phát hiện có một chiếc dù đang rơi về phía Thung Vầu thuộc khu vực Đồi Bù. Mọi người nhận định, máy bay địch bị quân ta bắn cháy, giặc lái đã nhảy dù hòng thoát chết. Trong đêm đông tối đen, Trung đội dân quân ngay lập tức triển khai đội hình bí mật tiến về khu vực xác định tọa độ có giặc lái Mỹ nhảy dù. Đây rồi! Một người thốt lên khi nhìn thấy phần ca bin máy bay cháy rơi trên đồi. Tất cả chiếu đèn pin tìm kiếm phi công nhưng không thấy. Nữ dân quân Hoàng Thị Xô được cử canh gác chiếc máy bay F111 để làm mốc vị trí, rồi tiếp tục truy tìm viên phi công vừa bung dù trước đó.

Sau 1 ngày 2 đêm truy lùng theo dấu tích, đến 7h sáng ngày 24-12-1972, Trung đội dân quân Hợp Hoà đã bắt được tên giặc lái. Viên phi công Mỹ mang hàm đại úy đang run rẩy, kiệt sức trong đám cỏ lau. Trên đường dẫn giải về xã, tên này ra hiệu ý nói còn một đồng đội nữa của hắn cũng rơi đâu đó trong khu rừng. Hắn xin mọi người đi tìm nếu không bạn hắn sẽ bị chết vì đói. Trung đội dân quân tiếp tục truy tìm tên Thiếu tá Mỹ theo như viên phi công nói.

Cho đến ngày 29-12-1972 mới tìm thấy hắn trong bộ dạng tiều tụy, đói khát, toàn thân loang lổ vết máu do muỗi, vắt cắn. Nữ dân quân Hoàng Thị Bướm và Hoàng Thị Xô, cả 2 người đều nhỏ bé, nhưng lại được giao nhiệm vụ thật lớn: Áp giải 2 tên phi công Mỹ trên Đồi Bù về trụ sở xã Hòa Hợp. Về đến trụ sở xã an toàn, kiểm tra thẻ và giấy tờ thấy ghi là Thiếu tá William Winson và đại úy Robert David Raybanger được giao nhiệm vụ ném bom xuống Thủ đô Hà Nội.

“Tay cầm súng trường, tôi dẫn viên phi công về trụ sở xã, hắn cao to hơn tôi rất nhiều, nhưng hắn rất tuân thủ cử chỉ, hành động tôi ra lệnh. Giờ nghĩ lại, khi ấy mà nó vẩy tay thì mình cũng ngã, nhưng trong tay mình có súng ở trên đất nước mình thì không sợ kẻ xâm lược” – bà Hoàng Thị Bướm – nữ dân quân năm xưa tự hào nhớ lại.

Cây đa đại thụ, nơi chở che cho người dân Hòa Hợp

Hoãn đám cưới để gác bầu trời Hà Nội

Vẫn còn đó gốc đa đại thụ rợp bóng lối về xã Hợp Hòa. Đấy là nơi che chở cho dân bản, cũng là nơi lưu giữ ký ức một thời. “Khi máy bay ập đến, dân chúng tôi luôn chọn gốc đa làm nơi tránh bom. Gốc đa vạm vỡ, có thể che chở hàng trăm người. Giờ những vết thương do mảnh bom Mỹ ném năm 1972 vẫn hằn nguyên vết sẹo xù xì như vết thương mãi mãi khó phai trong lòng. Chính gốc đa này cũng là nơi tổ chức đám cưới của cô Bướm và anh Chang khi ấy. Nhưng khi nghe tiếng bom 2 người đã hoãn đám cưới để cùng dân bản đánh Mỹ”- ông Hoàng Văn Lẫy, dân quân Trung đội Hòa Hợp hồi tưởng.

Lão dân quân Hoàng Thị Xô năm nay đã 65 tuổi, nhà ở bản Suối Cốc, xã Hòa Hợp, bồi hồi nhớ lại: “Đáng lẽ sáng 23-12-1972, Trung đội dân quân chúng tôi hẹn nhau đi lấy củi về để đun cơm nước làm đám cưới cho đôi trẻ Bướm và Chang. Nhưng cấp trên thông báo giặc Mỹ dùng bom B52 đánh phá tan Hà Nội. Ngày vui sẽ trọn vẹn khi im tiếng bom, vậy nên dừng lại ngày cưới để phục vụ chiến đấu, cùng Hà Nội bảo vệ bầu trời. Trong trận đánh này, chú rể tương lai Vũ Văn Chang đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Còn cô dâu Hoàng Thị Bướm trở thành một trong những tấm gương dũng cảm, mưu trí bám trận địa, đánh địch”.

Sau trận đánh, đám cưới của đôi vợ chồng trong Trung đội dân quân xã Hòa Hợp đã được tổ chức trọn vẹn trong niềm vui chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” trong 12 ngày đêm liên tục bị không lực Mỹ điên cuồng đánh phá. Trong ngày cưới của đôi bạn trẻ, niềm vui được nhân lên khi được chứng kiến máy bay trực thăng của quân đội ta cẩu buồng lái chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi trong đêm 22-12-1972 về Hà Nội.

Hai nữ dân quân Hoàng Thị Bướm và Hoàng Thị Xô bàn giao viên Thiếu tá
phi công cho dân quân tại xã Hòa Hợp

Ngày gặp mặt của Trung đội dân quân Hòa Hợp mới đây, có cả Đại tá Bùi Phương Diện, cán bộ thuộc Tổng Cục Chính trị – Bộ Quốc Phòng được đơn vị giao nhiệm vụ về Hòa Hợp tìm hiểu tư liệu để chuẩn bị kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Thì ra, chiếc máy bay F111 rơi xuống Đồi Bù là loại máy bay hiện đại nhất thế giới lúc bấy giờ, và đã bị những chiến sỹ tự vệ Công ty Cơ khí Mai Động, Hà Nội bắn cháy khi chúng ngông cuồng ném bom, bắn phá Thủ đô. Tất cả vỡ òa trong niềm vui ngày gặp mặt dưới chân Đồi Bù, nơi có “tình sử” của 2 người trong Trung đội dân quân dừng lễ trọng đại để được cùng hòa vào bản tình ca bất tử “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”.

Đức Tuấn – Nguyễn Mạnh
anninhthudo.vn

Giao lưu các thế hệ về “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

(VOV) -Chương trình  giao lưu giữa tuổi trẻ với các cựu chiến binh tham gia chiến đấu 12 ngày đêm với chủ đề “Viết tiếp bản hùng ca”.

Tối 15/12, tại Hà Nội diễn ra chương trình  giao lưu giữa tuổi trẻ với các cựu chiến binh tham gia chiến đấu 12 ngày đêm “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, với chủ đề “Viết tiếp bản hùng ca”. Chương trình được tường thuật trực tiếp trên kênh truyền hình VOVTV và phát thanh trực tiếp trên Hệ Thời sự Chính trị tổng hợp (VOV1)- Đài Tiếng nói Việt Nam.

Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không sau 40 năm được nhìn lại qua lời kể của những người đã từng góp phần làm nên bản lĩnh, trí tuệ người Việt Nam khi chiến thắng vũ khí tối tân nhất của quân đội Mỹ là pháo đài bay B52.

Tinh thần ấy còn được những gương mặt trẻ, đại diện cho thế hệ thanh niên Việt Nam gìn giữ và vận dụng trong công cuộc xây dựng tổ quốc hôm nay.

Chương trình kỷ niệm là dịp khẳng định niềm tin của toàn dân, toàn quân về ý chí của dân tộc ta, dù đối mặt với bất cứ khó khăn nào, Việt Nam vẫn sẽ chống trả bằng tất cả ý chí, quyết tâm của thế hệ trẻ hôm nay sao cho xứng đáng với thế hệ cha ông đi trước.

Thượng tá Vũ Đình Rạng- Trung đoàn 921, phi công đầu tiên bắn rơi B52 của Mỹ (năm 1971) cho biết: “Tháng 7/1968, chúng tôi gồm 12 phi công được chuyển từ đánh ngày sang đánh đêm. Đánh đêm rất phức tạp và khó khăn, cả một bầu trời đen kịt không nhìn thấy gì, chúng tôi bay hoàn toàn phải dựa vào đồng hồ trong buồng lái”.

Buổi giao lưu của hai thế hệ được tiếp nối trong phần hai của chương trình với chủ đề “Hà Nội ơi một trái tim hồng”, kể câu chuyện phối hợp chiến đấu, xây dựng thế trận phòng không nhân dân; ca ngợi khí phách, tinh thần người Hà Nội luôn vững vàng đối mặt với B52.

Thế hệ trẻ đã được gặp lại chị Phạm Thị Viễn – nhân vật chính trong bài thơ “Máu và hoa” của nhà thơ Tố Hữu. Chị cũng chính là cô gái chít khăn tang trên mâm pháo cao xạ năm nào, đã lập chiến công bắn hạ máy bay siêu thanh F111 của không quân Hoa Kỳ. Những câu chuyện từ thực tế lao động, công tác qua lời kể của những gương mặt trẻ đã khép lại chương trình trong phần “Vang mãi bản hùng ca”.

Trung úy Đinh Trọng Tuệ, Sư đoàn Phòng không Hà Nội chia sẻ: “Trong cuốn sổ tay của mình, tôi đã ghi lại lời đồng chí Võ Nguyên Giáp gọi cho đồng chí Chính ủy Sư đoàn Phòng không Hà Nội lúc đó là đồng chí Trần Văn Giang vào ngày 18/12/1972 là: “Cả nước đang hướng về Hà Nội. Cả thế giới đang hướng về Hà Nội. Từng giờ, từng phút, Bộ Chính Trị và Quân ủy Trung ương theo dõi cuộc chiến đấu của Hà Nội. Vận mệnh của Tổ quốc nằm trong tay các đồng chí phòng không bảo vệ Hà Nội”.

Câu nói này không chỉ tôi mà các đồng chí và đồng đội của tôi ngày hôm nay luôn trân trọng và từ đó chúng tôi xây dựng được vinh dự và trách nhiệm của mình khi được bảo vệ bầu trời thủ đô và quyết không để Tổ quốc bị bất ngờ”./.

Phương Thúy/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

Tướng Nga nói về những ngày Hà Nội rực lửa

Đọc các tổng kết chiến dịch Linebacker II (Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không) của tướng A. Hiupenen trên báo chí hôm nay, độc giả quốc tế cảm nhận: “Đã chọn được đúng người, đúng việc, đúng lúc” (the right man for the right job at the right time).

Quân lệnh như sơn

Một ngày đầu năm 1972, tại sở chỉ huy tập đoàn quân Phòng không số 12, Đại tướng Tư lệnh Tập đoàn quân trao đổi điện thoại hồi lâu với Tư lệnh phòng không quốc gia, nguyên soái Batitsky, rồi truyền đạt lệnh của lãnh đạo tối cao cho cấp phó số một của mình: “Anatoly Ivanovitch! Trên quyết định điều động đồng chí vào một công tác đặc biệt: sang Việt Nam DCCH đảm nhiệm cương vị Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Xô Viết. Ý kiến của đồng chí thế nào?”

Thiếu tướng Hiupenen Anatoly Ivanovitch (SN 1928) trầm ngâm trước bước ngoặt bất ngờ của đời quân ngũ…

Ngày 15/12/1972, một chuyến bay hơn 20 giờ đồng hồ, từ Moskva – Tashkent – Deli – Calcuta – Rangun – Vienchan – Hà Nội đáp xuống sân bay quốc tế Gia Lâm. Cùng bay vào “tâm bão” với chồng, và đoàn chuyên gia còn có phu nhân Hiupenen, bà Valentina Petrovna. Vài chục giờ sau, hàng chục pháo đài bay B 52 lao vào xâm phạm vùng trời miền Bắc, hòng “biến Thủ đô Hà Nội thành đống gạch vụn”.

Lao vào những bộn bề chiến sự dưới tầm bom “rải thảm”, tướng Huipenen liên tưởng những ngày thành phố quê hương đội mưa bom của phát xít trong cuộc phong tỏa Leningrad, khi ông còn ở tuổi thiếu niên.

Số phận gắn với SAM 2

Sau 10 năm phục vụ quân chủng Phòng không, lên tới cấp chỉ huy khẩu đội, năm 1957, chàng trai Hiupenen được nhập học Học viện chỉ huy pháo binh Leningrad (BAKA), khoa Phòng không. Đây cũng là năm đồng bộ tên lửa C 75 Dvina (thường gọi là SAM 2, SA – 2) được đưa vào sử dụng.

Tại Học viện, Hiupenen được biết đến không chỉ vì thành tích học tập, mà còn là vô địch toàn trường về vật tự do, giành các giải thưởng về bơi, trượt tuyết tốc độ, tham gia đội tuyển bóng đá, bóng rổ, bóng chuyền… tích cực trong các hoạt động nghiên cứu khoa học quân sự của nhà trường.

Tốt nghiệp Học viện, Hiupenen có nhiều lựa chọn, trong đó có đề nghị làm Trưởng khoa chiến thuật – xạ kích của một trường sĩ quan pháo phòng không… Nhưng Hiupenen đã quyết định khởi nghiệp trên cương vị chỉ huy một tiểu đoàn tên lửa phòng không trang bị SAM 2.

Ảnh: đại tá CCB xô viết Variukhin S.A.

Nhờ các kết quả bắn giỏi của đơn vị mình trong các cuộc sát hạch bắn đạn thật, tới năm 1963 tên tuổi chỉ huy trung đoàn tên lửa phòng không (gồm 5 tiểu đoàn, sau cấp trên tin cậy giao huấn luyện thêm 5 tiểu đoàn nữa) Hiupenen đã được biết đến trong toàn quân nhờ thành tích xạ kích và xây dựng đơn vị trang bị vũ khí hiện đại trên một địa bàn đóng quân cực kỳ khó khăn về địa hình, thời tiết, hạ tầng cơ sở kỹ thuật và hậu cần, kể cả nhà ở cho sĩ quan và gia binh.. phải xây dựng từ số 0.

Sau một năm ở cấp phó sư đoàn trưởng tên lửa phòng không và nhận được huân chương đầu tiên, Hiupenen được bổ nhiệm vào cương vị chỉ huy sư đoàn từ năm 1968, và nhận quân hàm đại tá trước niên hạn.

Sư đoàn phòng không của ông có biên chế vượt khung, gồm hai trung đoàn không quân (máy bay đánh chặn TU – 128, và IAK – 28), ba binh đoàn tên lửa phòng không loại C – 75 và C- 125 trên một hướng chính, một trung đoàn và một lữ đoàn tên lửa phòng không trên hai hướng khác, hai trung đoàn radar.

Những năm 1969 – 1970 trong biên chế sư đoàn xuất hiện vũ khí mới – đồng bộ tên lửa C 200. Từ 1971, khi Hiupenen trở thành một thiếu tướng trẻ nhất ở cấp chỉ huy một Tập đoàn quân Phòng không, đảm trách không phận của ba nước Cộng hòa Trung Á có khí hậu nhiệt đới. Tại một trường bắn trực thuộc biên chế của tập đoàn quân này bắt đầu thử nghiệm đầu tiên một vũ khí mới, sau này được biết đến là đồng bộ tên lửa C 300, mà số mệnh sẽ lại gắn với Hiupenen, sau khi ông từ Việt Nam về, trong hành trang là tổng kết tác chiến của SAM 2.

Bẻ gẫy cánh diều hâu

Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô do Hiupenen đứng đầu kề vai chiến đầu cùng bộ đội Phòng không – Không quân (PKKQ) Việt Nam do Tư lệnh Lê Văn Tri và Chính ủy Hoàng Phương đứng đầu. Các báo cáo sau trận đánh của chuyên gia Liên Xô và bộ đội PKKQ Việt Nam sau thử lửa đầu tiên với đội hình B 52 cho thấy, cuộc tập kích của Mỹ bộc lộ ngay những điểm yếu.

Trong “ván cờ” Linebacker II, phía Mỹ đã “ra quân” với lực lượng đông đảo chưa từng có những phương tiện chiến tranh đường không hiện đại nhất thế giới, nhưng vẫn với những nước đi, cách dàn đội hình theo khuôn mẫu… “giúp” bộ đội PKKQ Việt Nam “lấy ít địch nhiều”, đánh bại địch trong cuộc chiến tranh công nghệ cao đầu tiên nhờ “chia cắt đội hình địch”, bất chấp muôn vàn khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua về công nghệ, đảm bảo hậu cần chiến dịch.

Sau này, thượng tướng Hiupenen chiêm nghiệm, những “gót chân Asin” của đối phương đã giúp Tổng hành dinh và Bộ Tư lệnh PKKQ, “những người đánh cờ”, tính vượt trước kẻ thù nhiều nước cờ, giúp Hà Nội chiến thắng trong cuộc đấu trí quyết liệt nhất, bẻ “gãy cánh” những con “diều hâu” ở Nhà Trắng.

Chiến dịch phòng không của Hà Nội (dù còn thiếu nhiều yếu tố như tác chiến của Không quân tiêm kích Việt Nam còn hạn chế do đội ngũ phi công bay đêm chưa kịp “đủ lông đủ cánh”, đạn tên lửa không đủ, chỉ dành đánh B 52…) trong mắt các đồng đội Xô Viết, trong Linebacker II, là biểu tượng về độ chín của một quân chủng sử dụng vũ khí – khí tài hiện đại, đã “đi từ không đến có, từ nhỏ đến lớn”, để ‘càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng”. Chính sách phòng không nhân dân của Hà Nội và Miền Bắc tới lúc này cũng biểu hiện rõ quan hệ hữu cơ giữa tác chiến của Quân đội Nhân dân và đường lối Chiến tranh nhân dân, tự lực kháng chiến và tận dụng tốt nhất sự ủng hộ của bè bạn năm châu, hồi ức của các cựu chuyên gia phòng không Liên Xô được xuất bản gần đây chỉ rõ.

Tướng Hiupenen hẳn nhớ lại cảm nhận về trách nhiệm quân sự và chính trị giây phút ông được Lãnh đạo Liên Xô giao trọng trách sang Việt Nam, khi Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh với Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô ngay sau chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không: “Trong cuộc chiến (trên bầu trời Miền Bắc) này bộ đội tên lửa phòng không đã giành chiến thắng cả về quân sự lẫn chính trị” («Победу в этой войне не только боевую, но и политическую завоевали зенитно-ракетные войска»).

Các chuyên gia Liên Xô bên “pháo đài bay” B – 52, rơi ở ngoại thành Hà Nội, 23/12/1972. Ảnh: đại tá CCB xô viết Variukhin S.A.

Hậu chiến

Sau chiến tranh, nhận được những huân chương cao quý nhất của hai nhà nước, tướng Hiupenen vẫn vùi đầu vào nghiên cứu, tổng kết. Chỉ sau một năm, năm 1976, ông đã bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ: vai trò bộ đội Phòng không trong chiến tranh cục bộ ( «Роль войск ПВО в локальных войнах») được giới khoa học quân sự đánh giá cao về tổng kết kinh nghiệm xây dựng lực lượng và hiện đại hóa vũ khí PKKQ trong thực tiễn chiến tranh hiện đại.

Ông kiêm nhiệm trọng trách chủ tịch Ủy ban Nhà nước về kiểm nghiệm – đưa vào sử dụng các đồng bộ vũ khí phòng không С-300ПС (1981) và С-200Д (1984), trong khi đảm nhiệm các cương vị cấp cao nhất của bộ đội PKKQ Liên xô.

Năm 1991, thượng tướng Hiupenen trông thấy sự sụp đổ của tổ quốc Xô Viết và quyết định nghỉ hưu, sau 6 năm làm giám đốc Học viện Phòng không quốc gia mang tên nguyên soái Jukov. Nhưng cho tới gần đây, trên các cương vị của “mặt trận” học thuật như viện sĩ hàn lâm Viện An ninh, Quốc phòng và Pháp chế Nga, ông hiện vẫn là một trong những tiếng nói quan trọng nhất về chiến lược quân sự.

Lê Đỗ Huy
vietnamnet.vn

Xả thân giữa “trận địa lửa”

Công an Hà Nội với chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”:

ANTĐ – Cùng chung tay viết nên bản hùng ca “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” không thể không nhắc đến lực lượng PCCC của Công an Hà Nội, đặc biệt là Đội phòng cháy chữa cháy Lộc Hà, đơn vị được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, ngày 31-12-1973.

Ông Nguyễn Ngô Hòa (phải) cùng ông Dương Quang Hơn (Đội trưởng Đội PCCC
Lộc Hà những năm 1982-1992) bên chiếc xe đã gắn bó với mình suốt thời trẻ tuổi

“Lửa thử vàng”

Hơn 40 năm trôi qua, CBCS thuộc Đội PCCC Lộc Hà giờ đã sang thế hệ thứ 3. Đội cũng không còn ở trụ sở cũ – thôn Lộc Hà, xã Mai Lâm mà chuyển về thị trấn Đông Anh với tên gọi mới, Phòng Cảnh sát PCCC Đông Anh (thuộc Sở Cảnh sát PCCC TP Hà Nội). Thời điểm năm 1972, cả đội có 30 người, được trang bị 3 xe chữa cháy: một chiếc GAZ 63 và 2 chiếc Zil 157. Trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại, dưới mưa bom, bão đạn, những người chiến sĩ PCCC Lộc Hà đã trực tiếp cứu chữa cả trăm vụ cháy, sơ tán, bảo vệ khối lượng lớn hàng hóa, vật tư, súng đạn, lương thực, xăng dầu, tính mạng và tài sản của nhân dân…

Một trong những chiến công đầu tiên của Đội PCCC Lộc Hà là lần máy bay địch đánh phá trận địa tên lửa Cổ Loa, tháng     8-1967. Một quả tên lửa đang nằm trên bệ phóng thì bị mảnh bom xuyên thủng, nhiên liệu chảy ra ngoài gây cháy lớn. Nhận được lệnh, các chiến sĩ PCCC Lộc Hà ngay lập tức có mặt, dù lúc đó, máy bay địch vẫn quần thảo. Khi đó, CBCS của đội với thao tác nhanh, chính xác, khống chế nhiên liệu chảy ra từ quả tên lửa, tập trung dập gọn từng cụm lửa, kịp thời cứu được trận địa tên lửa. Cũng trong năm 1967, Đội PCCC Lộc Hà tiếp tục lập công trong trận chiến chống “giặc lửa” tại tổng kho A, Đông Anh.

Đông Anh là một trong những cửa ngõ quan trọng của Hà Nội thời điểm bấy giờ, vì ga Đông Anh là nơi tập trung nhiều hàng hóa chi viện cho chiến trường miền Nam, đây cũng là nơi có kho xăng Bãi Trám, địa bàn chiến lược. Vì thế, trong suốt 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972, Đông Anh nằm trong tầm bắn phá của Không lực Hoa Kỳ. Nhưng bất chấp bom rơi kín bầu trời, các chiến sĩ của Đội PCCC Lộc Hà luôn kịp thời có mặt trên mọi “trận địa lửa”, chiến đấu, chiến thắng với tất cả sự mưu trí, dũng cảm, xả thân vì Tổ quốc, vì sự an toàn tính mạng của người dân. Suốt trong 12 ngày đêm ứng trực, các chiến sĩ phòng cháy Lộc Hà đã tham gia dập lửa trong vụ cháy tàu chở đạn tại ga Yên Viên, Việt Hùng, Liên Hà, Uy Nỗ…

Tham gia chữa cháy tại Tổng kho xăng dầu Đức Giang năm 1972

“Lách” bom mà đi

Khi tôi có mặt tại Phòng CS PCCC Đông Anh, cũng đúng lúc các chiến sĩ trẻ của phòng đang tập trung dọn vệ sinh, lau rửa chiếc xe Zil 157, biển số 29C 0684 đang được trưng bày phía ngoài sân. Thượng tá Nguyễn Hoàng Sơn, Phó trưởng Phòng CS PCCC Đông Anh cho biết, đây là kỷ vật vô giá của phòng, trong suốt những năm tháng chống chiến tranh phá hoại, cùng với các chiến sĩ PCCC Lộc Hà, xe đã tham gia cả trăm vụ cháy, sau ngày hòa bình, xe vẫn được sử dụng cho tới mãi sau này. Với sự giúp đỡ của Thượng tá Nguyễn Hoàng Sơn, tôi tìm gặp được ông Nguyễn Ngô Hòa (65 tuổi), là CBCS Đội PCCC Lộc Hà năm xưa. Trong ký ức của ông Hòa vẫn nguyên vẹn  hình ảnh đêm 18-12-1972, khi bom B52 rải thảm ở Đông Anh. Ngay khi phát hiện ga Đông Anh có cháy, cả đội lên đường. Xe chữa cháy chạy phía trước, bom rơi sau lưng, nhưng anh em trong đội vẫn cứ “lách” bom mà đi vì: “Người dân và tài sản Nhà nước đang cần cứu hỏa từng phút từng giây”. Lại cũng có hôm, bom “xô” xe nghiêng xuống ao, anh em trong đội chờ hết bom, hò nhau kéo xe về, để rồi khi có đám cháy mới, lại tiếp tục lên đường.

Lúc Đội PCCC Lộc Hà được điều động tăng cường dập lửa tại Kho xăng Đức Giang năm 1972, ông Hòa mới 25 tuổi. Và đó cũng là trận chiến không bao giờ phai mờ trong ký ức của ông. Không chỉ bể chứa, téc xăng, mà những đường ống dẫn ở khu vực này cũng bị cháy do bom bi hay những mảnh bom găm thủng. Từ những lỗ thủng đó, xăng phun ra, gặp lửa tạo thành những vòi lửa dài tới hàng mét. Khi đó, ông Hòa cùng những người đồng đội của mình, xông vào biển lửa, dùng giẻ ướt nút những lỗ thủng trên đường ống dẫn và trên bể để vừa bảo vệ không cho xăng tràn ra ngoài vừa ngăn không cho lửa bén vào. Từ đó, mới tiến hành dập và cách ly ngọn lửa từng khu vực. Khi đó, lính cứu hỏa không được trang bị phương tiện như bây giờ, quần áo mặc khi chữa cháy chỉ được may bằng vải bạt dầy hơn bình thường một chút, lại cũng không có ủng hay mặt nạ phòng độc. Cách đơn giản nhất mà lực lượng cứu hỏa khi đó áp dụng là người ở phía sau, phun nước làm mát, để đồng đội có thể tiếp cận gần hơn với đám cháy…

Với tinh thần chiến đấu quên mình, quyết tâm bảo vệ đến cùng những giọt xăng trong kho, lực lượng PCCC của Công an Hà Nội cũng đã thành công trong việc cứu chữa kho xăng Đức Giang. Với thành tích xuất sắc này cùng những chiến công đạt được trong đợt oanh tạc miền Bắc 12 ngày đêm của Mỹ, Đội chữa cháy Lộc Hà đã được Nhà nước phong tặng đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

30 CBCS của Đội PCCC Lộc Hà năm xưa, người trẻ nhất giờ cũng đã ngấp nghé tuổi 70. Đội trưởng Đào Văn Phệ, Đội phó Lê Thanh Hiền đã mất cách đây mấy năm. Hàng năm, cứ đến ngày 4-10, ngày truyền thống của lực lượng Cảnh sát PCCC Việt Nam thì anh em lại có dịp hội tụ và hàn huyên. Tiếp nối những thành tích hào hùng của đơn vị, CBCS những năm sau này đều tích cực phát huy truyền thống, phấn đấu luyện rèn.

Ông Phùng Tửu Bôi, nguyên cán bộ phòng Điều tra và Quy hoạch rừng-Bộ Nông nghiệp: “Nhờ có hầm trú ẩn mà tôi thoát chết”

Với người Hà Nội, hầm trú ẩn đã trở nên rất quen thuộc và gắn bó mật thiết trong thời kháng chiến. Với cá nhân tôi, nhờ có hầm trú ẩn mà tôi đã thoát chết. Ngày B52 rải thảm ở Khâm Thiên, tôi đang ở Sơn La. Sau khi họp xong lại tức tốc về Hà Nội theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan. Vừa về đến Văn Điển, nơi cơ quan đóng trụ sở tại đó được một lúc thì có còi báo động yêu cầu lập tức xuống hầm. Chợt tôi nghe thấy một tiếng nổ đinh tai và tai tôi ù đặc đi, mùi thuốc súng nồng nặc trong căn hầm. Sau khi lên mặt đất, tôi mới biết là bom nổ gần hầm trú ẩn và cơ quan tôi làm việc ở Văn Điển là nơi hứng chịu đợt ném bom B52. Cứu được nhiều người, nhưng hầm trú ẩn cũng chứng kiến những câu chuyện đau lòng. Anh bạn tôi nhận được lệnh đi sơ tán, tìm con mãi không thấy. Sau một hồi tìm kiếm, gia đình mới phát hiện ra cháu đã ngã xuống hầm trú ẩn trong gia đình và mất.

PGS.TS Nguyễn Đỗ Bảo: Quý cái tình của người Hà Nội

Hà Nội những năm 1972 nhỏ bé, nhà cửa không cao lớn và lượng người cũng không đông đúc như hiện nay. Nên sau những đợt ném bom dải thảm của máy bay B52, nhìn Hà Nội khi ấy giống như cánh đồng chết chóc, lỗ chỗ hố bom. Nhà cửa tan hoang, vắng lặng. Những đứa trẻ bị mất bố mẹ đứng khóc lặng người trước cảnh hoang tàn đổ nát vẫn luôn là một hình ảnh in đậm trong tâm trí tôi về sự hủy diệt của pháo đài bay B52. Nhưng thời gian đó, cái tình của người Hà Nội thật thiêng liêng. Con người nói chuyện với nhau rất nhẹ nhàng, nặng về thương cảm và dường như người ta sợ rằng, ngày hôm sau, ai đó sẽ ra đi trong vòng vây của bom B52. Tôi khi ấy đang công tác tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, khi biết thông tin về phố Khâm Thiên, tôi đã đến đây từ tờ mờ sáng để giúp đỡ những người đang bị mắc kẹt, kéo những xác chết ra khỏi đống đổ nát. Tôi trở về sau chuyến đi ấy đã không thể ăn được cơm bởi mùi xác người cháy ám cả vào quần áo. Người Hà Nội khi ấy cho dù không quen biết gì nhau nhưng đối xử với nhau rất có tình. Tôi ra cửa hàng mậu dịch mua thức ăn về cho anh em đã được cô mậu dịch viên cho những miếng ngon nhất, bởi cô lo rằng, nhỡ ngày mai, bom B52 rơi trúng cửa hàng thì thật lãng phí chỗ thức ăn này. Tuy gian khổ nhưng tình cảm con người dành cho nhau thật trân trọng.

(Còn nữa)

Quỳnh Vân
anninhthudo.vn

Những kỷ vật biết nói của một thời chiến trận

ANTĐ – Giờ những kỷ vật trong căn phòng nhỏ đã trở thành cầu nối của những đồng đội trở về sau cuộc chiến để cùng nhau sống lại một thời hào hùng đã xa.

Dường như tuổi 20 của cựu chiến binh Nguyễn Mạnh Hiệp vẫn mãi cháy trong căn phòng nhỏ trên mảnh đất bích đào Phú Thượng, Tây Hồ, Hà Nội. Ở đó, những kỷ vật một thời sôi sục đã được người cựu chiến binh mang theo trở về từ chiến trường khốc liệt để làm bạn, để cất lên tiếng nói với những đồng đội đã hy sinh anh dũng nơi chiến trường xưa.

Từng là người lính, ôg Hiệp thấu hiểu giá trị của những kỷ vật thời chiến. Ông đi khắp nơi trên mảnh đất hình chữ S để tầm những kỷ vật còn sót đâu đó trong những người đồng đội. Thời gian có thể làm mái tóc ông thêm bạc, da thêm nhăn nhưng không thể ngăn trở được những lần về Quảng Trị để thu lượm kỷ vật một thời mà ông và đồng đội đã anh dũng chiến đấu.

Không mong chờ thành một bảo tàng tư nhân như nhiều người nghĩ, mà chỉ đơn giản bảo quản và trưng bày những kỷ vật của thời sôi sục để các bạn ông, các con ông những người chưa một lần biết sinh tử và khốc liệt của chiến tranh hiểu thêm về người lính đã như thế. Cứ thế, những vỏ đạn, xác bom, chiếc ca đựng nước hay ba lô con cóc… cứ được xếp ngăn nắp đến quy củ. Và cứ thế, căn phòng ấy trở thành nơi đến của những người đồng đội vỡ òa niềm vui trong từng câu chuyện cũ, để rồi lúc chia tay tất cả bịn rịn trong tiếng ca vang bài ca nghĩa tình đồng đội.


Chủ nhân của “góc nhỏ thời chiến” Nguyễn Mạnh Hiệp (áo đen tím than) 


Những xác bom mang về từ chiến trường Trị Thiên khói lửa


Trong mọi thời đại người lính luôn lạc quan và sáng tạo,
vì thế vỏ bom cũng trở thành bình cắm hoa ưng ý


Những bím tóc của nữ dân quân tuổi 20 giờ được tết lại mỗi khi đến gặp mặt đồng đội tại “bảo tàng”


Ông Hiệp lật giở tìm những kỷ vật mới mang về cho đồng đội xem


“Góc nhỏ chiến tranh” bên hiên nhà ông Hiệp


Một bình hoa tuyệt tác


Bộ máy thông tin liên lạc của người lính năm xưa


Những vỏ băng đạn đã nhuộm sự khốc liệt của mảnh đất nắng lửa Quảng Trị


Thiết bị vũ khí của quân đội Mỹ thả xuống Quảng Trị bộ đội ta thu được


Cặp lồng thu được của lính Mỹ


“Đời bộ đội quen với gian lao”


Câu chuyện thời chiến tranh có thể rất dài và chỉ cần xoay quanh vỏ bom bé xíu này


Một chiếc máy định vị hướng của bộ đội ta


Tiếng đồng đội vang ca mỗi khi gặp nhau.

Ánh Nguyệt
anninhthudo.vn

Những người sống mãi trong lòng dân

Công an Hà Nội với chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”:

ANTĐ – Trong bom đạn, hàng trăm cán bộ chiến sĩ Công an Thủ đô ngày ấy không quản ngại hy sinh, sẵn sàng xả thân để hoàn thành nhiệm vụ. Các anh, các chị đã góp phần không nhỏ cho khúc ca chiến thắng Hà Nội 1972.

Đại tá Vũ Đình Hoành, nguyên Phó Giám đốc CATP Hà Nội vẫn nhớ như in những ngày B52 “rải thảm” Hà Nội. Trong hoàn cảnh hết sức khó khăn,  nhưng tất cả các chiến sĩ công an lúc bấy giờ bất kể thời gian nào trong ngày, khi có lệnh, các anh lập tức lên đường có mặt tại nơi trực chiến.

Liệt sĩ Nguyễn Văn Uân

Cuộc sơ tán khổng lồ

Thời điểm đó, Công an Hà Nội được giao nhiệm vụ tổ chức sơ tán cho gần 55 vạn người dân, cán bộ, công nhân các xí nghiệp tại Hà Nội. Cuối tháng 11-1972, nhận định nhiều khả năng địch sẽ đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả việc dùng B52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng, các phương án sơ tán đã được lên kế hoạch. Ngày 4-12-1972, thành phố Hà Nội bắt đầu tổ chức ngay việc sơ tán người già, trẻ em và những người không thật cần thiết cho sản xuất, chiến đấu ra khỏi nội thành. Các chiến sĩ công an đã tỏa ra khắp nơi, vận động quán triệt chủ trương sơ tán đến từng hộ dân. Cả những trọng điểm nằm ở khu vực ngoại thành như Gia Lâm, Trâu Quỳ, Yên Viên, Văn Điển… cũng phải sơ tán đến các tỉnh lân cận. Tính đến đợt cuối cùng của 12 ngày đêm khói lửa, Công an Hà Nội đã cùng các đơn vị phối hợp sơ tán gần 55 vạn trong số 65 vạn người dân Thủ đô đến các vùng an toàn.

Cùng với dân phòng, Công an Thủ đô là lực lượng trực tiếp tham gia chữa cháy, cứu thương, cứu sập. Cùng một lúc, họ phải đảm đương nhiệm vụ của một người chiến sĩ công an, lính cứu hỏa và cả y sĩ. Khi bom trút xuống các ngả đường Hà Nội, cháy nổ xảy ra trên diện rộng. Số lượng xe chữa cháy hết sức hạn chế, lại không có máy bơm để dập lửa. Họ dùng xô, gầu múc nước hoặc bơm xe đạp – những công cụ hết sức thô sơ, nghèo nàn để chữa cháy. Công tác cứu sập cũng được tiến hành khẩn trương dựa vào sức người là chủ yếu. Vật lộn giữa đống đổ nát khổng lồ nhưng gần như không có một phương tiện gì trong tay, việc đào bới, tìm kiếm diễn ra hết sức vất vả. Có khi nghe thấy tiếng người kêu cứu dưới đống đổ nát, nhưng không kịp ứng cứu vì lớp đất đá quá dày. Nhưng rồi, chỉ với sức người, trong cái đêm 26-12, các chiến sĩ công an và lực lượng dân phòng đã cứu được hàng trăm người, kịp thời chuyển nhiều người bị thương đến các trạm xá, bệnh viện để cứu chữa.

Lực lượng công an Hà Nội tham gia cứu thương, cứu sập tại Khâm Thiên

Hy sinh thầm lặng

Chiến thắng, Hà Nội đã giáng cho Không lực Hoa Kỳ một cái tát bẽ bàng. Chiến thắng, nhưng xương máu bao người cũng đã phải đổ xuống, trong đó có những người con ưu tú nhất của Hà Nội. Anh hùng, liệt sĩ Nguyễn  Văn Uân là một tiêu biểu.

Năm 1972, đồng chí Nguyễn Văn Uân khi đó đang công tác tại Đồn 23, Công an khu Hai Bà Trưng, nay là Công an phường Quỳnh Lôi. Trong quá trình công tác, Nguyễn Văn Uân luôn gần gũi với nhân dân, nắm và thấu hiểu tình hình khu phố mình phụ trách. 5 năm phụ trách khối phố 69, thì cả 5 năm liền khối phố này đạt danh hiệu “khối phố 5 tốt”. Trong khói lửa đạn bom, khi mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc, nhiều người dân phường Quỳnh Lôi giờ vẫn nhớ hình ảnh anh Công an trẻ xốc vác. Những ngày 26, 27, 28 – 12 – 1972 là những ngày Không quân Mỹ oanh tạc các nhà máy Dệt 8-3, Khăn mặt khăn tay, Mỳ bánh Hải Châu… Bom bi rải khắp phố Bạch Mai và cánh đồng Quỳnh Lôi. Hầu hết bà con khu lao động Mai Hương đều đã đi sơ tán. Bám trụ lại chỉ có lực lượng bảo vệ dân phòng và Nguyễn Văn Uân. Nhiều bà con trước khi đi sơ tán còn gửi lại chìa khóa, nhờ Nguyễn Văn Uân cho lợn gà ăn hàng ngày. Chiều 28-12, khu vực đồng chí Uân phụ trách có gần chục trẻ em nhớ nhà trốn nơi sơ tán về. Bà cụ Lục cũng đảo về nhờ một ông hàng xóm dọn bàn thờ, thắp hương nhân ngày giỗ chồng. Khi còi báo động vang lên, anh vội vàng hướng dẫn mọi người vào nơi trú ẩn. Nhưng rồi những âm thanh chát chúa của bom, bỗng có tiếng trẻ em hò reo “Máy bay cháy rồi”. Nguyễn Văn Uân giật mình, nhảy lên khỏi hầm thì thấy gần chục em bé đang xem máy bay rơi. Nguyễn Văn Uân lao vội tới nơi, đẩy đám trẻ vào hầm. Lúc này lại thấy bà cụ Lục chống gậy loay hoay mãi không xuống được hầm vì mắt kém. Nguyễn Văn Uân lại nhảy lên, đưa cụ xuống hầm của mình. Đậy cửa hầm cẩn thận, Nguyễn Văn Uân tìm nơi trú ẩn ở một chiếc hầm khác thì bất ngờ một quả bom rơi ngay chỗ anh đứng.

Nguyễn Văn Uân hy sinh khi tuổi đời mới tròn 24, Nguyễn Văn Uân ra đi, nhưng trái tim quả cảm của anh vẫn đập mãi trong lồng ngực đồng đội và những người dân khu lao động Mai Hương.

Noi theo tấm gương anh hùng ấy, nhiều cán bộ chiến sỹ Công an Hà Nội tiếp tục viết nên những câu chuyện cảm động về tình quân dân trong mưa bom bão đạn. Những người đồng đội của các anh năm xưa giờ đây khi nhớ lại những thời khắc lịch sử ấy vẫn còn bồi hồi xúc động, xen lẫn tự hào. Danh bia tưởng niệm liệt sĩ CAND Thủ đô được dựng lên tại Bảo tàng Công an Hà Nội là sự tri ân đầy nghĩa tình, để tưởng nhớ chiến công thầm lặng của những người chiến sĩ – những người đã góp phần không nhỏ làm nên khúc ca chiến thắng.

Đại tá Nguyễn Xuân Mai, chiến sỹ Điện Biên Phủ năm 1954: Số người thương vong quá lớn

Từng là một người lính chiến đấu tại chiến dịch Điện Biên Phủ, từng vào sinh ra tử và cũng đã quen với việc chứng kiến những tổn thất về người nhưng tôi cũng thấy thất kinh với số lượng người chết trong đợt ném bom ở Khâm Thiên và Bạch Mai, 2 địa điểm bị tàn phá nặng nề nhất. Thời gian đó, tôi được cử làm nhiệm vụ đưa tin và chụp ảnh về cuộc chiến đấu của quân và dân ta trước sức mạnh tưởng như không gì hạ gục được của pháo đài bay B52. Chứng kiến sự chiến đấu ngoan cường và ngã xuống của các chiến sỹ, lòng tôi dấy lên niềm cảm phục và giúp tôi ghi lại những bức ảnh phản ánh trung thực mức độ quyết liệt của cuộc chiến. Bên cạnh việc bám sát cuộc chiến đấu của người chiến sỹ, tôi còn kết hợp phản ánh cuộc sống của người dân Hà Nội thời đạn bom. Và đến giờ thì tôi đang sở hữu trong tay nhiều bức ảnh và tư liệu thật quý giá về Hà Nội 12 ngày đêm.

Nhà biên kịch Lê Quý Hiền: Chiến thắng B52 đánh đổi bằng rất nhiều sự hy sinh

Trong ngày kỷ niệm chiến thắng B52, tôi nghĩ chúng ta nên biết đằng sau chiến thắng ấy là biết bao sự hy sinh của quân, dân ta. Nói đến B52, ai cũng hình dung được sự khốc liệt và hủy diệt nhưng bằng cách nào chúng ta thắng được và hạ gục pháo đài bay B52 là một câu chuyện dài của lịch sử, không dễ gì nói hết trong ngày một ngày hai. Với tư cách là nhà viết kịch, tôi đã diễn giải một phần của lịch sử bằng một kịch bản về chiến thắng B52 mang tên “Bệ phóng”. Trong đó, hình ảnh của Bác được xuất hiện nhiều lần trong kịch bản với những lời tiên tri về trận chiến cuối cùng Mỹ đánh vào Hà Nội sẽ là máy bay B52. Rồi bằng sự kiểm nghiệm thực tế của bản thân, chứng kiến sự hy sinh của người Hà Nội, tôi còn đưa vào kịch bản những chi tiết cho thấy Hà Nội đã chiến đấu ngoan cường như thế nào trước pháo đài bay B52. Một phần của kịch bản này đã được chuyển thể thành tiểu phẩm dài 15 phút và sẽ được phát sóng vào dịp kỷ niệm chiến thắng B52 trên Đài Truyền hình Việt Nam.

 (Còn tiếp) 

Mai Vân – Đỗ Nguyễn
anninhthudo.vn

Hồi ức từ “Khu phố hủy diệt”

Công an Hà Nội với chiến thắng Điện Biên Phủ trên không: “Đội cứu hộ” kiên cường (1)

ANTĐ – “B52 à? Cái ký ức về đêm mùa đông năm 1972 ở trên con phố này ám ảnh tôi tròn 40 năm nay. Nhiều đêm tôi vẫn mơ thấy đồng đội tôi – những chiến sĩ công an của Đồn số 42, những gương mặt hiền lành của bà con hàng phố, những âm thanh của bom nổ, tiếng người lạc giọng gọi tìm nhau… Thế hệ của chúng tôi, có lẽ sẽ chẳng bao giờ quên quá khứ bi thương đó” – ông Vũ Xuân Trường – người cảnh sát khu vực phụ trách khu phố 47 nói trong nước mắt khi câu hỏi của tôi chạm vào một phần ký ức đau buồn của ông. Khu phố ông phụ trách cùng với khu phố 45 và 46 sau đêm 26-12 được mệnh danh là “Khu phố huỷ diệt”.

Phố Khâm Thiên đổ nát sau đêm 26-12-1972

1. Đồn Công an số 42 ngày đó (nay là Công an Phường Khâm Thiên) có 23 đồng chí, 3 chỉ huy, 15 cảnh sát khu vực và 5 đồng chí phụ trách trật tự. CBCS hầu hết còn trẻ, tuổi đời chỉ ngoài 20, chưa lập gia đình. Xưa nay, cái nghiệp công an vốn không dễ dàng và nhàn hạ, công an thời chiến lại càng khó khăn, thiếu thốn gấp bội.

Ngày đó, mỗi đồng chí công an đều được phát một chiếc “xắc cốt” (sacoche) đeo ngang hông, bên trong có một cái bút, một cuốn sổ, cùng chiếc đèn pin. Tuy nhiên, “xắc cốt” của CSKV Đồn 42 còn để đựng rất nhiều chìa khóa. Số là, dân đi sơ tán, tin tưởng và cậy nhờ, gửi CSKV giữ hộ chìa, khi nào về thì đến lấy, rồi đêm 30, sáng mồng 1 Tết lại nhờ CSKV mở cửa vào nhà thắp hộ nén nhang lên bàn thờ tổ tiên, để năm mới các cụ có về sẽ đỡ cô quạnh, hương lạnh khói tàn. Bắt đầu từ năm 1972, có lệnh sơ tán. CSKV lúc đó là lực lượng nòng cốt tập trung vận động nhân dân đi sơ tán, bảo vệ tài sản của dân khi họ vắng nhà. 21h hàng ngày, số liệu chính xác những di biến động về nhân khẩu phải được báo về các cấp chỉ huy. Khi có lệnh báo động, CSKV cũng là người khẩn trương vận động nhân dân xuống hầm trú ẩn. Khi nào tính mạng, tài sản của dân được đảm bảo, khi đó, công an mới nghĩ đến sự an toàn của bản thân.

2. 22h30 đêm 26-12, B52 Mỹ ào ạt trút bom xuống Khâm Thiên, vệt bom kéo dài hơn 1.000m, rộng 50 đến 60m. Nhà cửa, trường học, trạm y tế, nhà máy xí nghiệp, kho gạo… bị thổi bay, thay vào đó là những hố bom khổng lồ ngoác miệng. Xí nghiệp giầy trên phố Khâm Thiên dính bom bùng cháy cộng với những những đám cháy rải rác trong nội thành Hà Nội khiến bầu trời đêm đó nhuốm một màu vàng ệch. Không đợi còi báo yên, ngay khi tiếng bom vừa dứt, tất cả CBCS Đồn số 42 đều lao đến từng khu vực mình được phân công phụ trách để khắc phục hậu quả, cứu người còn kẹt dưới những đống đổ nát.

Ông Vũ Xuân Trường kể, lúc ông và những đồng đội của mình lao lên khỏi hầm, ông vẫn còn nghe thấy tiếng đồng chí Quảng đồn trưởng gọi với theo dặn dò “Các đồng chí chú ý đề phòng bom nổ chậm”.

Sau cơn tàn sát đẫm máu của Không lực Hoa Kỳ, khu phố lao động nghèo Khâm Thiên hoàn toàn biến dạng, tất cả chỉ còn là đống đổ nát. Anh cảnh sát trẻ Vũ Xuân Trường chạy vòng từ Cống Trắng, sang ngõ Khâm Đức thì gặp ông Trương Văn Vị (người dân hàng phố quen gọi là ông Tư) run rẩy chỉ vào chiếc hầm cá nhân bị bom “bóp” méo, vợ ông – bà Thuận đang ngất dưới đó trong tư thế ngồi, máu trên đầu tuôn xối xả. Cho đến bây giờ, ông Trường vẫn không thể lý giải nổi, động lực nào đã khiến một thanh niên trẻ, cân nặng chưa đầy 50kg kéo được người phụ nữ nặng ngoài 60kg từ dưới hầm lên rồi cứ thế cõng trên lưng mà chạy. Từ địa điểm cứu người bị thương chạy ra đến trục đường chính chỉ có 30m, nhưng bom khoét, nhà cửa đổ nát lấp đường, thế là phải đi vòng, ông Tư cầm đèn pin chạy phía sau soi đường, CSKV Trường cõng người bị thương chạy phía trước, chạy hết Khâm Đức, quay về Cống Trắng thì mới tìm được lối ra đường chính. Thời điểm này ngoài trục đường chính vắng lặng. Vừa kịp lúc, một chiếc xe “xít đờ ca” chạy qua. Ông Trường nhao ra chặn đường, yêu cầu xe dừng lại đưa người bị thương đi cấp cứu.  Tình cờ,  chiếc xe  mà  anh CSKV Đồn số 42 Vũ  Xuân Trường chặn lại hôm đó chính là xe của Phó Giám đốc Sở Công an, Đại tá Cáp Xuân Diệm, đang trên đường đi thị sát tình hình. Thấy tình cảnh đó, Phó Giám đốc Sở Công an vội vàng xuống xe, đỡ người bị thương và bảo: “Đồng chí cứ để người bị thương ở đây, việc này đã có tôi lo, mau trở vào cứu dân đi, lực lượng cứu viện sẽ tới trong dăm ba phút nữa”… Câu nói của vị chỉ huy khiến anh cảnh sát trẻ như được tiếp thêm sinh khí. Một mình quay lại Cống Trắng tiếp tục lục tìm trong đống đổ nát…

Ông Vũ Xuân Trường – nguyên cánh sát khu vự khu phố 47, Đồn Công an 42-Khâm Thiên

3. Đêm đó, bà Thuận đã được đưa đi cấp cứu kịp thời tại bệnh viện Xanh Pôn. Bà bị ngất do sức ép của bom và do vết thương ở đầu gây mất máu. Khi tôi tìm đến nhà ông bà ở số 45 ngõ Khâm Đức- Khâm Thiên thì chỉ gặp ông Tư ở nhà. Ông bảo, bà Thuận mới mất năm ngoái, thọ 88 tuổi. Ông Tư năm nay đã ở tuổi 89 nhưng rất minh mẫn. Kể lại câu chuyện về đêm mùa đông của 40 năm trước, nước mắt ông lại tuôn trào.

Đêm ấy bom nổ giữa nhà ông. Trong chớp mắt, toàn bộ nhà cửa tài sản chỉ còn là cái hố sâu hun hút, nhưng điều khiến những con người ở đây vẫn lạc quan, vượt qua khó khăn và cái chết cận kề, đó chính là tình người và đặc biệt là sự gắn bó với nhân dân, vì dân quên mình của những CBCS công an Đồn số 42 ngày ấy. Là những người tiếp cận, cứu dân đầu tiên, trước khi lực lượng công binh, cứu hộ có mặt, không có bất kỳ một công cụ nào hỗ trợ việc đào bới, chỉ với hai bàn tay, cứ tay không mà cào đất, những cửa hầm bị đất đá vùi lấp, bị sức ép của bom bóp cho méo mó đã được khai thông. Chỉ với hai bàn tay, CBCS công an Đồn số 42 ngày ấy đã cứu được tính mạng của biết bao nhiêu người dân Khâm Thiên trong cái đêm kinh hoàng đó. Tôi hỏi ông Trường, ngày đó có phút giây nào ông thấy sợ không? Ông lấy khăn chấm nước mắt rồi chậm rãi trả lời: “Tôi thấy chiến tranh thực sự khủng khiếp, nhưng tôi không sợ. Ngày ấy, tôi chỉ nóng lòng muốn cứu người, không còn thời gian mà tính toán so đo điều hơn lẽ thiệt”.

4. Trong đêm 26-12, sau khi cứu được bà Thuận, ông Trường vòng trở lại Cống Trắng, tại đây ông tiếp tục cứu được cụ Chu Văn Du – bố đội phó đội dân phòng Chu Trọng Thành. Và phải đến 10 ngày sau, dưới sự giúp đỡ của lực lượng dân phố, dân phòng, công binh… ông Trường mới tìm thấy thi thể anh Thành bị vùi trong hầm cá nhân. Gia đình anh Thành có 4 người. Mẹ Thành thì đi sơ tán, em trai chiến đấu ngoài mặt trận, bố thì bị thương sau vụ sập hầm. Người đưa Thành về nơi an nghỉ cuối cùng tại Nghĩa trang Văn Điển cũng chỉ có một mình ông Trường. Không chỉ có Khâm Thiên, toàn bộ ga Giáp Bát cũng là một trong những điểm nóng Không lực Hoa Kỳ tập trung trút mưa bom. Đường sá bị phá tanh bành, phải đi đường vòng từ Khâm Thiên xuống Kim Giang rồi qua Cầu Bươu mới đến được Văn Điển. Tiễn Thành xong, xe quay về, 5 giờ chiều mùa đông, không hiểu sao trời vàng như đổ nghệ. Màu vàng đó, sau rồi cứ ám ảnh ông… Cái đêm Mỹ thảm sát Khâm Thiên, có 287 người chết. Riêng Đồn số 42 có 4 đồng chí anh dũng hy sinh là Tô Đình Tường- Phó trưởng Đồn, Phan Sĩ Hợp, Nguyễn Đình Mừng – cán bộ Đội QLHC Công an quận Đống Đa được tăng cường xuống đồn và cuối cùng là Nguyễn Văn Liên – cán bộ tập sự mới về đồn chưa đầy hai tháng. Với những đóng góp trong việc sơ tán, cứu sập, cứu người tốt, đảm bảo an toàn về tài sản cho người dân… Đồn Công an số 42 đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công năm 1973. Thực hiện việc đền ơn đáp nghĩa, mới đây, Đảng ủy, Ban chỉ huy Công an quận Đống Đa đã phát động phong trào mỗi CBCS đóng góp một ngày lương, xây dựng nhà tình nghĩa. Ngôi nhà vừa được hoàn thành và bàn giao cho gia đình Liệt sĩ Phan Sĩ Hợp – nguyên CBCS Đồn số 42.

LTS: Đã 40 năm trôi qua kể từ chiến thắng lịch sử “Điện Biên Phủ trên không 1972”, nhưng ký ức về 12 ngày đêm khói lửa hào hùng đầy bi tráng vẫn chưa bao giờ phai nhạt trong tâm trí người dân Thủ đô cũng như cả nước. Đó là chiến công của một thế hệ anh hùng mà trong đó có những đóng góp to lớn của lực lượng Công an Thủ đô thời kỳ ấy.

Quỳnh Vân
anninhthudo.vn

Lối thoát cho cuộc chiến tranh hao người tốn của và phi nghĩa

Hồi ức “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”:

ANTĐ – Thắng lợi của trận quyết chiến chiến lược cuối năm 1972 trên bầu trời Hà Nội đã khiến cả thế giới khâm phục. Thất bại trong ý đồ dùng quân sự để gây sức ép trên bàn đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày 29-12-1972, Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra và trở lại cuộc đàm phán tại Paris, tìm lối thoát khỏi cuộc chiến tranh hao người tốn của và phi nghĩa.

Cựu Đại sứ Việt Nam tại Pháp Trịnh Ngọc Thái

Cuộc hòa đàm gay cấn và kéo dài kỉ lục

Ông Trịnh Ngọc Thái là một trong những thành viên của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Hội nghị Paris từ 1968-1973. Ông cũng một cán bộ ngoại giao có thâm niên; từng là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước ta tại Pháp. Vào dịp kỉ niệm 40 năm “Điện Biên Phủ trên không”, ông đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi với những góc nhìn đa chiều, có tính tổng kết về thắng lợi quân sự nói chung và “Điện Biên Phủ trên không” nói riêng, đã tác động tới cuộc đàm phán kí kết Hiệp định Paris kết thúc chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.

Nằm trong chiến lược toàn cầu của Washington, sau Hiệp định Geneva (năm 1954) về Đông Dương, Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào Việt Nam và từng bước đưa quân trực tiếp tham chiến tại chiến trường miền Nam Việt Nam. Lúc cao điểm, có tới hơn nửa triệu quân Mỹ và quân chư hầu tham chiến. Từ tháng 8-1964, sau khi tạo ra “Sự kiện Vịnh Bắc bộ”, không quân, hải quân Mỹ bắt đầu đánh phá miền Bắc nước ta. Tuy nhiên, với sự kiên cường của quân và dân Việt Nam, Mỹ – Nguỵ và đồng minh của họ ngày càng bị sa lầy; cùng với sự phản đối của dư luận trong nước và quốc tế, Mỹ buộc phải tính tới việc đàm phán, rút quân khỏi Việt Nam. Đầu năm 1967, Tổng thống Johnson gửi thư tới Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu vấn đề “đàm phán không điều kiện”. Ngày 15-2-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời Tổng thống Mỹ, khẳng định: “Chính phủ Mỹ đã gây ra chiến tranh xâm lược Việt Nam thì con đường đưa đến hoà bình ở Việt Nam là Mỹ phải chấm dứt xâm lược…Trong thư, ngài có đề ý kiến Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ trực tiếp nói chuyện. Nếu Chính phủ Mỹ thật muốn nói chuyện thì trước hết Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà…”.

Sau thắng lợi xuân Mậu Thân của quân và dân ta, cuối tháng 3-1968, Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc và hai bên đạt được thoả thuận đàm phán tại Paris, Thủ đô nước Pháp. Từ trung tuần tháng 5-1968, Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gặp nhau tại Paris, bắt đầu cuộc hoà đàm gay cấn và kéo dài hiếm có trong lịch sử ngoại giao thế giới.

Sau mấy năm kiên trì đàm phán, nhờ những thắng lợi quân sự quan trọng trên chiến trường cả nước, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà  giành được thế chủ động trên bàn Hội nghị Paris. Đến tháng 10-1972, Việt Nam và Mỹ đã đạt được bản Dự thảo Hiệp định, với những nội dung cơ bản: Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; Hoa Kỳ rút hết quân viễn chinh và quân chư hầu; triệt thoái hết các các căn cứ quân sự Mỹ, cam kết không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của nhân dân Việt Nam; Các bên để cho nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của họ thông qua tổng tuyển cử tự do; Các bên công nhận thực tế miền Nam Việt Nam có 2 chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và 3 lực lượng chính trị…

Cựu Đại sứ Trịnh Ngọc Thái phân tích: Với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đây là những mục tiêu cơ bản đặt ra trong quá trình đàm phán. Theo những nội dung trên, sẽ tạo ra sự thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng, cho sự nghiệp giải phóng miền Nam. Quân Mỹ rút hết, quân Nguỵ không còn chỗ “chống lưng”, trong khi lực lượng ta vẫn giữ nguyên tại chỗ. Khác hẳn Hiệp định Geneva năm 1954, quân Pháp rút đi thì lực lượng kháng chiến cũng phải rút về phía Bắc vĩ tuyến 17. Đây là điều Mỹ không muốn và tất nhiên chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng không chấp nhận.

Sau khi đạt được nội dung cơ bản Dự thảo Hiệp định, Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thống nhất lịch trình ký chính thức là ngày 25 hoặc 26-10-1972… Tuy nhiên, là một đế quốc hùng mạnh, Mỹ không dễ dàng chấp nhận thua thiệt trong đàm phán và cũng không muốn “bỏ rơi” chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Họ tìm cớ trì hoãn việc kí kết bằng cách đưa ra những đòi hỏi khó chấp nhận đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà Miền Nam Việt Nam. Đến ngày 20-11-1972, cố vấn H.Kissinger đề nghị sửa đổi 69 điểm trong bản Dự thảo Hiệp định, theo yêu cầu của chính quyền Thiệu, trong đó có đòi hỏi quân đội miền Bắc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam. Những ngày sau H.Kissinger liên tiếp đưa ra những đòi hỏi vô lí và ngày

23-11-1972, khi gặp Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, ông ta đã đọc bức điện của Tổng thống Nixon ngầm đe doạ ngừng đàm phán, ném bom trở lại… Tuy nhiên đồng chí Lê Đức Thọ đã khảng khái đáp lại: “Chúng tôi đã đánh nhau với các ông mười mấy năm và cũng đã đàm phán 5 năm rồi. Nay các ông có sẵn sàng mới đi đến giải quyết; không thể đe doạ chúng tôi được đâu”.

Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Nguyễn Duy Trinh
(ngoài cùng bên phải) ký Hiệp định Paris 

Hiệu ứng “Điện Biên Phủ trên không”

Là thành viên đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Paris, ông Trịnh Ngọc Thái khẳng định: “Ngoại giao của ta có nhiều thành tựu, có nghệ thuật đàm phán nhưng phải khẳng định, thắng lợi về quân sự mới quyết định kết quả đàm phán. Thắng lợi ngoại giao là sự phát huy những kết quả của thắng lợi trên chiến trường… Sau khi đàm phán bế tắc vào phút chót, H.Kissinger trở về Mỹ và đồng chí Lê Đức Thọ cũng về Hà Nội. Anh Xuân Thuỷ và chúng tôi ở lại Paris, nóng lòng chờ nối lại đàm phán”.

Về phía Mỹ, sau khi đã tái cử thắng lợi trong cuộc bầu cử tháng 11-1972, Tổng thống Nixon đã ra một quyết định phiêu lưu là dùng B52 tàn phá Hà Nội, nhằm ép phía ta phải ký Hiệp định theo những điều khoản có lợi cho Mỹ – Thiệu. Lúc 14h ngày 18-12-1972 (giờ Paris), Mỹ gửi cho đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Pháp một công hàm đề nghị sau ngày 26-12-1972, hai bên có thể nối lại đàm phán vào bất cứ lúc nào. Phía ta vừa nhận được công hàm thì cũng là lúc hàng chục pháo đài bay B52 và nhiều loại máy bay tiêm kích, cường kích xuất phát từ các căn cứ quân sự của Mỹ bay vào vùng trời Việt Nam, dội mưa bom xuống Hà Nội, Hải Phòng. Cả nhân loại tiến bộ phẫn nộ, lên án sự tráo trở, lật lọng của Mỹ. Các thành viên phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Paris hồi hộp dõi theo từng bản tin chiến sự trên các phương tiện truyền thông. Mỗi khi nhận được tin máy bay Mỹ bị bắn cháy, nhất là B52 rơi tại chỗ, họ lâng lâng trong niềm tự hào, vui sướng khó tả. Đến khi báo chí phương Tây nhận định: “Cứ với tốc độ này, B52 sẽ bị tuyệt chủng trong 3 tháng nữa” thì các nhà ngoại giao của ta hiểu rằng, Mỹ sẽ sớm phải trở lại bàn đàm phán.

Đúng như dự đoán, ngày 29-12-1972, Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 ra Bắc và đề nghị Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nối lại đàm phán. Trở lại Paris, trong cuộc họp với phía Mỹ, ngày 8-1-1973, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã nghiêm khắc lên án phía Mỹ gây ra đợt ném bom huỷ diệt trong mùa Noel năm 1972… Sau gần 3 tháng nối lại đàm phán, ngày 23-1-1973, hai bên đạt được thoả thuận cuối cùng và ký tắt Hiệp định và 4 Nghị định thư. Bốn ngoại trưởng của bốn bên, gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Cộng hoà Miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà đã kí chính thức Hiệp định Paris vào ngày 27-1-1973.

Với thắng lợi của “Điện Biên Phủ trên không”, Hiệp định Paris được ký kết, có nội dung về cơ bản không khác nhiều so với bản Dự thảo Hiệp định đạt được trong tháng 10-1972. Việt Nam đã bảo vệ được các nguyên tắc cơ bản: Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút hết quân trong 2 tháng sau khi ký Hiệp định; Giữ nguyên trạng về chính trị; hoàn toàn không đề cập vấn đề quân đội miền Bắc… Từ Hiệp định Paris, cách mạng nước ta bước sang một giai đoạn mới. Hai năm sau, với Đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước ta hoàn toàn được giải phóng, thống nhất, đúng như Bác Hồ đã tiên đoán Mỹ cút, thì Nguỵ sẽ nhào.

Duy Anh – Đình Khang
anninhthudo.vn

“Chia lửa” với Thủ đô

Hồi ức “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”:

ANTĐ – Những ngày diễn ra sự kiện lịch sử “Điện Biên Phủ trên không” ở Thủ đô Hà Nội tháng 12-1972, Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 45 Pháo binh chúng tôi đang tham gia chiến đấu ở thị xã – Thành cổ Quảng Trị.

Trận địa Đại đội 1, Trung đoàn 45 đánh Thành Cổ Quảng Trị năm 1972
Ảnh tư liệu (Phòng truyền thống Lữ đoàn 45)

Được tin đế quốc Mỹ dùng máy bay B52 thực hiện cuộc tập kích đường không chiến lược đánh phá hủy diệt Hà Nội, chúng tôi thực sự lo lắng, ngày đêm hướng về Thủ đô, mong tin chiến sự, sục sôi căm thù khi nghe tin chúng đánh phá ác liệt từ ngoại thành đến trung tâm Hà Nội, pháo đài bay B52 ném bom rải thảm tàn phá thảm khốc phố Khâm Thiên và bệnh viện Bạch Mai… Quan sát bầu trời và mặt đất Quảng Trị trong những ngày này, Pháo đài B52 hầu như vắng bóng và cũng phán đoán được rằng, chúng phải tập trung B52 đánh Hà Nội, dùng con át chủ bài cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, trận quyết định thắng bại của cuộc chiến tranh.

Vì vậy, một “phản ứng” tự nhiên của người lính chiến, chúng tôi đều có chung suy nghĩ: Phải đánh “chia lửa” cùng Hà Nội, “chia lửa” cùng quân và dân miền Bắc, phải trả thù. Chúng tôi nhận được mệnh lệnh khẩn cấp: “Để phối hợp với mặt trận Hà Nội, Ban tham mưu Trung đoàn đã có kế hoạch tác chiến… Riêng Đại đội 1 tổ chức lực lượng, chuẩn bị kế hoạch, khôi phục kì được khẩu pháo K1 trong ngày ngừng bắn nhân dịp Lễ Noel, để tăng đầu pháo chiến đấu”.

Số là khẩu trọng pháo tầm xa 130mm nòng dài của Đại đội 1 chúng tôi đã bám trụ chiến đấu từ đầu chiến dịch đến giờ, tại trận địa Ba Gơ, nơi mà địch xác định là mục tiêu số 1 chúng phải hủy diệt. Trong một trận đánh kéo dài chi viện cho Bộ binh bảo vệ Thành cổ, số lượng đạn bắn quá nhiều, lại bị trúng đạn phản pháo của địch, làm cho bộ phận hãm lùi bị hỏng.

Hình ảnh trận địa pháo lúc này so với ngày đầu chiến dịch đã biến dạng hoàn toàn, một bãi hố bom chồng hố bom quanh trận địa pháo rộng hàng trăm mét, đất chết sạm đen, cành lá ngụy trang khô cháy, rừng Ba Gơ bị phát quang, trận địa thành lộ thiên, địch không ngừng bắn phá ác liệt, cho nên không thể trục nòng pháo lên sửa chữa ngay được.

Thật ra trước đây, Đại đội đã nhiều lần tổ chức trục kéo nòng pháo K1 nhưng không kết quả, bởi sức nặng của khối trọng pháo quá lớn đã cắm sâu vào đất tới nửa mét. Chúng tôi phải lên kế hoạch cứu pháo cụ thể, chi tiết, được Trung đoàn phê duyệt và trực tiếp chỉ đạo, hỗ trợ nhân, vật lực thực hiện.

Kế hoạch tổ chức gồm 3 bộ phận: tổ làm đường, san lấp những hố bom trước và sau pháo để xe xích hoặc tời có đường vào tiếp cận pháo, tổ xe và tổ kỹ thuật. Tất cả hiệp đồng thực hiện dưới sự chỉ huy của tham mưu trưởng Trung đoàn, trực tiếp là Ban chỉ huy Đại đội và đồng chí Tiểu đoàn phó tăng cường cho Đại đội.

Biết là đến sau 24 giờ đêm 24, 0h ngày 25 lệnh ngừng chiến trong ngày Lễ Noel mới có hiệu lực, các bộ phận đã bí mật khẩn trương tổ chức thực hiện xong từ nhiều đêm trước.

Đúng giờ G, Tham mưu trưởng Trung đoàn phát lệnh, xe xích do chiến sĩ lái xe Triệu Quang Tích lái, được lệnh nổ máy, móc cáp từ nòng pháo vào xe kéo mạnh theo hiệu lệnh của Đại đội phó Phạm Đức Lương. Dây cáp từ từ căng, rồi rung lên bần bật, xe xích bỗng chững lại và cứ rùng rùng tại chỗ. Lái xe Tích nhảy xuống quan sát từ xe đến pháo rồi quay lại vọt lên xe tăng ga. Chiếc xe có dấu hiệu chuyển động, nhưng cứ giật cục, giật cục, rồi đột ngột tắt máy. Tiếp tục khởi động – tắt máy; khởi động – tắt máy; khởi động…, lái xe Tích kiên trì không biết bao lần, máy gầm rú, đất rung chuyển cả trận địa, nhưng chiếc xe vẫn đứng nguyên tại chỗ.

Tạm dừng cho máy nổ bớt nóng, anh em pháo thủ dùng xẻng, cuốc đào bới, moi gạt đất quanh nòng và dưới chân càng pháo, để hỗ trợ cho xe kéo, nhưng khi kéo tiếp, nòng pháo vẫn không hề di chuyển, chỉ có đoạn cắm vào đất do xe kéo rung lắc nhiều lần, lỗ đất có giãn rộng ra.

Tham mưu trưởng Trung đoàn ra lệnh tạm dừng và mời Ban chỉ huy Đại đội, cùng cán bộ cơ quan, trợ lý quân khí và thợ súng pháo Trung đoàn hội ý đi đến thống nhất: “Nguyên nhân chủ yếu thì đã rõ, đã thấy trước, chính là do bộ phận hãm lùi của pháo bị hỏng, nòng pháo bị tụt cắm sâu vào đất, nhưng nôn nóng và cách làm tắt như vừa rồi là không được, ít nhất là phải làm theo 2 bước. Một là tập trung kích, vừa nâng pháo, vừa kéo để đưa được nòng pháo lên khỏi mặt đất; sau đó là ghìm pháo, ghìm càng để kéo nòng pháo về phía trước, về vị trí vốn có của nó”.

Đêm đã về khuya, nét mặt ai cũng căng thẳng, lo âu, đêm cuối năm giá lạnh mà quần áo ướt đẫm mồ hôi, nhưng chúng tôi vẫn tin tưởng đặt quyết tâm phấn đấu hoành thành nhiệm vụ trước khi trời sáng.

Tập trung bàn kích có sức nâng lớn, kết hợp với kéo, từng bước nâng, kích rồi kéo, kéo rồi kích,… Cuối cùng chúng tôi đã kéo được nòng pháo lên khỏi mặt đất.

Xa xa phía địch, tiếng súng phản bội lệnh ngừng bắn của chúng đã nổ, Khẩu đội 1, tranh thủ đưa pháo vào chiếm lĩnh trận địa mới. Cùng với 2 khẩu K2 và K3 của Đại đội chiến đấu từ ngày 26-12 đến 31-12 đã chi viện cho Bộ binh đánh tiêu diệt hơn 200 địch, riêng pháo đánh tiêu diệt 64 tên, 9 pháo địch trong đó có một trận địa bốn khẩu 105mm và một khẩu 175mm.

Hoàn thành nhiệm vụ “cứu pháo” trong một đêm trắng và lập được thành tích những ngày cuối năm 1972, chúng tôi tự hào đã góp phần nhỏ của mình thực hiện tâm nguyện được “chia lửa” cùng Thủ đô Hà Nội, đặc biệt không có niềm vui to lớn nào đối với chúng tôi bằng niềm vui khi nghe Đài Tiếng nói Việt Nam thông báo: “Cùng với chiến thắng Quảng Trị, chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, buộc đế quốc Mỹ phải ký hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, đơn phương rút quân về nước…”.

Đại tá Hoàng Hải
anninhthudo.vn