Thư viện

Mig21 do Phạm Tuân lái trở thành ‘bảo vật quốc gia’

Máy bay Mig 21 do anh hùng Phạm Tuân điều khiển bắn hạ B52 năm 1972 và xe tăng T54B tham gia tấn công dinh Độc lập vừa được công nhận là “bảo vật Quốc gia”.

>Trưng bày nhiều tư liệu Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không

Hai bảo vật này đang được trưng bày tại bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam tại 28A Điện Biên Phủ, Hà Nội.

Máy bay MiG-21 số hiệu 5121, từng được biên chế vào đội hình tiêm kích của Trung đoàn 921, Sư đoàn 371 Không quân từ tháng 7/1972. Đêm 27/12/1972 (ngày thứ mười của chiến dịch Điện Biên Phủ trên không), máy bay này do anh hùng Phạm Tuân lái, xuất kích bất ngờ từ sân bay Yên Bái…

Đến vùng trời Sơn La, Phạm Tuân phát hiện mục tiêu B52 và xin phép vào công kích. Do địch chưa phát hiện Mig 21 “bám đuôi”, Phạm Tuân nhanh chóng vượt qua hàng rào máy bay tiêm kích yểm hộ của địch, bám được B52, công kích bằng 2 quả tên lửa.

Chiếc B52 thứ hai trong đội hình bị trùm trong ‘biển lửa’. Ngay sau đó, Phạm Tuân điều khiển máy bay thoát ly, quay về sân bay Yên Bái hạ cánh an toàn. Ngoài bắn hạ một chiếc B52, chiếc Mig21 còn bắn rơi 4 máy bay khác.

Buồng lái, nơi phi công Phạm Tuân điều khiển máy bay Mig 21, góp phần vào thắng lợi quyết định trong trận “Điện Biên Phủ trên không”.

“Bảo vật quốc gia” khác được trưng bày là xe tăng T54 số hiệu 843 dẫn đầu đội hình thọc sâu của Quân đoàn 2 tham gia tấn công Phủ Tổng thống Sài Gòn (nay là Dinh Độc lập) ngày 30/4/1975.

Xe tăng do Liên Xô chế tạo, tháp pháo có gắn súng 12,7 ly, được trưng bày ở vị trí trang trọng trong bảo tàng.Tại bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam còn có nhiều hiện vật giá trị khác như chiếc Jeep mang biển số 15770, đã tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975

Bá Đô
vnexpress.net

Xác máy bay B52 ‘phơi’ giữa thủ đô

Cùng với máy bay ném bom hạng nặng tầm xa bị xé làm đôi, nhiều kỷ vật trong cuộc chiến 12 ngày đêm năm 1972 đang được trưng bày tại Bảo tàng chiến thắng B52, phố Đội Cấn (Ba Đình, Hà Nội).

>‘Giọng nói nổi tiếng nhất thủ đô’ giữa mưa bom B52Tên lửa SAM2 – ‘khắc tinh của B52’ trên bầu trời Hà Nội

Bảo tàng Chiến thắng B52 trưng bày các loại vũ khí, khí tài, hiện vật của quân và dân thủ đô. Nổi bật nhất là xác máy bay B52 bị bắn rơi trong trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972.

Vào dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, bảo tàng liên tục đón khách tới tham quan, đặc biệt là các cựu binh từng có mặt trong cuộc chiến chống Mỹ 12 ngày đêm khói lửa.

Giữa khuôn viên Bảo tàng là xác chiếc máy bay B52 từng bị quân và dân thủ đô bắn rơi trong cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ vào miền Bắc Việt Nam tháng 12 năm 1972.

Xác chiếc B52 bị chia làm đôi, nhiều mảnh vỡ vụn.

Gần đó là những vỏ bom mà quân đội Mỹ đã sử dụng trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam từ những năm 1964 đến 1972.

Xác các loại máy bay chiến thuật của Mỹ bị quân dân thủ đô bắn rơi cũng được xếp chất đống tại đây.

Bên trong tủ kính là mảnh vụn của xác một chiếc máy bay khác của Mỹ.

Loa truyền thanh của lực lượng phòng không nhân dân dùng để thông báo hoạt động của máy bay Mỹ thời kỳ chống chiến tranh phá hoại 1965 – 1968.

Mũ rơm của bà Nguyễn Thị Năm ở Nghĩa Đô, Từ Liêm, đan tặng cho bộ đội trực chiến.

Tủ điều khiển tên lửa của Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 257 dùng điều khiển tên lửa bắn rơi máy bay Mỹ trong 12 ngày đêm cuối năm 1972.

Ghế ngồi và dù của phi công Mỹ.

Cuốc, thuổng, đòn sóc, lựu đạn, mìn, bàn chông của du kích xã Nam Hồng dùng đào địa đạo chiến đấu.

Những hiện vật thời chiến của người dân thủ đô

Súng 12,7 mm của dân quân xã Trâu Quỳ, Gia Lâm từng dùng bắn rơi tại chỗ máy bay F105 của Mỹ ngày 21/8/1967.

Súng tiểu liên tự tạo của tự vệ Hà Nội dùng chiến đấu trong 60 ngày đêm bảo vệ Liên khu 1 (1946 – 1947).

Cờ quyết tử quân của Ban chỉ huy liên khu 1 tặng đội quyết tử sau trận đánh.

Vỏ đạn súng máy 14,5mm của Liên đội tự vệ Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, bắn rơi chiếc F111A của Mỹ đêm 22/12/1972.

Chiếc vại của bà Ngô Thị Vịnh, xã Nam Hồng dùng đựng gạo nuôi du kích trong kháng chiến chống Pháp.

Một số giấy tờ, chứng nhận và ngôi sao cài mũ của quân đội Việt Nam.

Dép cao su, giầy vải, áo, bát sắt… của tự vệ nhà máy dệt 8/3 dùng trong những năm tháng chống Mỹ.

Máy bay Mic 21 của không quân Việt Nam số 5033 chiến đấu bảo vệ Hà Nội từng bắn rơi 3 máy bay F4 của Mỹ năm 1972.

Súng máy phòng không 14,5mm của tự vệ nhà máy điện Yên Phụ tham gia bắn rơi máy bay F4 của Mỹ ngày 10/5/1972.

Hoàng Hà
vnexpress.net

12 ngày đêm chống Mỹ của quân dân thủ đô

Những bức ảnh ghi lại khoảnh khắc hào hùng của quân và dân thủ đô trong đợt chống lại cuộc tập kích bằng không quân chiến lược của Mỹ năm 1972 vừa được ra mắt tại Triển lãm Mỹ thuật và nhiếp ảnh.

‘Mắt thần’ truy tìm B52Tên lửa SAM2 – ‘khắc tinh của B52’ trên bầu trời Hà Nội

50 tác phẩm hội họa, điêu khắc và 30 bức ảnh của 80 tác giả miêu tả cuộc chiến đấu chống lại cuộc tập kích 12 ngày đêm vào Hà Nội của không quân Mỹ năm 1972 được ra mắt người xem tối 18/12 tại Bảo tàng chiến thắng B52 Hà Nội. Trong ảnh là Trung đoàn tự vệ nhà máy dệt 8/3.

Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đến thăm Liên đội tự vệ Hoàn Kiếm – Hai Bà Trưng, đơn vị bắn rơi máy bay F111A của Mỹ ngày 22/12/1972.

Nhân dân Hà Nội đi sơ tán.

Máy bay B52 của Mỹ bị quân dân thủ đô bắn rơi đang bốc cháy dữ dội tại hồ Hữu Tiệp, làng Ngọc Hà, đêm 27/12/1972.

Máy bay B52 của Mỹ bị bắn rơi ở làng hoa Ngọc Hà, Ba Đình hồi 23h05 ngày 27/12/1972.

Bộ đội bắn trả quyết liệt máy bay Mỹ tháng 12/1972.

Tự vệ Hà Nội sát cánh cùng bộ đội pháo cao xạ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ thủ đô năm 1972.

Ngoài B52, hơn 1.000 máy bay chiến thuật trong đó chủ yếu là F4 và F111 ném hơn 100.000 tấn bom laze và bom vô tuyến xuống thủ đô.

Phi công lái B52 Mỹ dự liên hoan tại Guam trước giờ đi đánh phá Hà Nội tháng 12/1972.

Tự vệ Hà Nội bắt sống phi công Mỹ John McCain tại hồ Trúc Bạch.

Máy bay chiến lược B52 bị bắn tan xác rơi trên đường Hoàng Hoa Thám ngày 27/12/1972.

Tự vệ Hợp tác xã Quang Vinh, thị xã Hà Đông, bố trí trận địa trên nóc nhà cao tầng bắn rơi máy bay F105 của Mỹ.

Tự vệ Suối Hai chiến đấu giỏi, bắn rơi máy bay Mỹ, bắt sống phi công.

Cuộc chiến đấu khốc liệt tại phố Hàng Đường.

Thủ tướng Fidel Castro đến thăm sư đoàn 304 tại căn cứ 241 Tân Lâm, Quảng Trị ngày 15/9/1973.

Phi công Mỹ Le Blanc bị dân quân xã Vạn Thái, Ứng Hòa bắt sống ngày 22/12/1972.

Khánh Huyền
vnexpress.net

Sinh viên An ninh đạt giải đặc biệt tìm hiểu ‘Điện Biên Phủ trên không’

Với bài dự thi tâm huyết có giá trị như một công trình nghiên cứu gồm 11 cuốn sách, một cuốn tranh vẽ tay, một cuốn tâm ngôn…nhóm Sáng tạo trẻ của Học viện An ninh giành giải đặc biệt cuộc thi “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không – 40 năm oanh liệt và tự hào”.

Bạn trẻ tạo mô hình tên lửa SAM2

Phạm Thị Quỳnh Trang, trưởng nhóm Sáng tạo trẻ. Ảnh: Hoàng Thùy.

Phạm Thị Quỳnh Trang, trưởng nhóm Sáng tạo trẻ cho biết, ngày 10/10, các em đọc được tin giới thiệu cuộc thi tìm hiểu về chiến dịch Điện Biên Phủ trên không. Một ngày sau, nhóm Sáng tạo trẻ họp 10 tổ trưởng lên ý tưởng tham dự và phân công công việc. Mỗi tổ trưởng đảm nhận một nhiệm vụ riêng, như năm câu hỏi thì mỗi tổ phụ trách một câu, ngoài ra còn có tổ ảnh, tổ vẽ tranh, tổ sưu tầm…

Trong hơn một tháng làm việc, 100 sinh viên xuất sắc của các khoa ở Học viện An ninh nhân dân đã hoàn thành công trình bài thi. Trang cho biết, các thành viên đã cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu, sưu tầm những thông tin, tài liệu về chiến thắng Điện Biên Phủ trên không với mong muốn trang bị, trau dồi thêm kiến thức cho mỗi thành viên về 12 ngày đêm chiến đấu với không quân Mỹ.

“Từ quá trình tìm kiếm thông tin, chúng em ý thức và tự giác hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ của thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay để xứng đáng với hi sinh, cống hiến của thế hệ đi trước”, Trang nói.

Cô sinh viên chuyên ngành Điều tra giới thiệu, công trình bài dự thi của nhóm gồm có 11 quyển sách trong đó phần trả lời 5 câu hỏi dự thi được thể hiện trong 5 quyển, một cuốn tranh vẽ tay do các thành viên trong nhóm dày công sáng tạo, một bộ sưu tập các bài viết với chủ đề “Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không – Bản hùng ca vang mãi”, bộ sưu tập tranh với chủ đề “Điện Biên Phủ trên không – Hà Nội xưa và nay” và bức tranh sơn dầu “Bài ca chiến thắng”.

Đặc biệt, nhóm còn có một cuốn Tâm ngôn tập hợp ý kiến đóng góp, lời hưởng ứng tham dự cuộc thi “40 năm huyền thoại Điện Biên Phủ trên không” của đại diện Đảng ủy, Ban Giám đốc, cán bộ, giáo viên, lãnh đạo ngành Công an đang học lớp bồi dưỡng chức danh và sinh viên Học viện An ninh nhân dân, các lực lượng trong Quân đội, Bí thư Đoàn Thanh niên, sinh viên các trường đại học trên địa bàn Hà Nội.

Sinh viên an ninh nhận giải đặc biệt cuộc thi tìm hiểu “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không – 40 năm oanh liệt và tự hào”. Anh: Hoàng Thùy.

Trang cho rằng, thanh niên ngày nay cần trau dồi lập trường chính trị vững vàng, nhận thức mọi việc đầy đủ, đúng đắn để xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Cô sinh viên thừa nhận, một bộ phận giới trẻ dường như đang quên đi lịch sử của mình, thế nên nhóm Sáng tạo trẻ – một bộ phận của thanh niên được trang bị kiến thức, tư tưởng đầy đủ phải góp phần giúp các bạn nhìn nhận lịch sử một cách đầy đủ.

Nhóm Sáng Tạo Trẻ (Học viện An ninh nhân dân) là nơi hội tụ, gặp gỡ và giao lưu của sinh viên an ninh. Nhóm thu hút đông đảo thành viên là những gương mặt sinh viên tiêu biểu trong các phong trào học tập tốt, rèn luyện tốt của các chuyên khoa khác nhau trong Học viện.

Từ khi thành lập năm 2009, nhóm từng đạt giải nhì cuộc thi tìm hiểu “Sinh viên Việt Nam với biển đảo quê hương”, giải nhất cuộc thi tìm hiểu “Dân tộc và đại đoàn kết dân tộc” (năm 2010), giải nhất cuộc thi tìm hiểu “50 năm đường mòn Hồ Chí Minh trên biển” (năm 2011), giải nhất cuộc thi tìm hiểu “Pháp luật về biên giới quốc gia” (năm 2012).

Ngoài giải đặc biệt trao cho nhóm Sáng tạo trẻ, Thành đoàn Hà Nội còn trao 3 giải nhất, 6 giải nhì, 10 giải ba và 20 giải khuyến khích.

Hoàng Thùy
vnexpress.net

Bạn trẻ tạo mô hình tên lửa SAM2

Sáng tạo bài dự thi “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không: 40 năm oanh liệt và tự hào”, đoàn viên thanh niên thủ đô đã dựng lại mô hình tên lửa SAM 2, máy bay MIG 21, sơ đồ trận chiến 12 ngày đêm trên không…

Trưng bày nhiều tư liệu Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không

Sáng 26/11, Thành đoàn Hà Nội tổ chức hội thu cuộc thi “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không: 40 năm oanh liệt và tự hào”. Toàn thành phố có gần 500.000 bài dự thi, trong đó có hơn 1.000 bài được trình bày công phu, chất lượng.

Thí sinh lớn tuổi nhất là ông Mai Văn Báu, 75 tuổi, nhỏ tuổi nhất là em Nguyễn Thị Minh Trang, 7 tuổi. Ngoài ra, các thí sinh khiếm thị cũng tham gia như Phạm Thị Hồng (chi đoàn cơ quan Hội người mù Việt Nam), nhóm thí sinh khiếm thị quận Hoàn Kiếm.

Tổng công ty Điện lực Hà Nội có bài dự thi độc đáo với điểm sáng tạo là dùng ảo ảnh làm nên thước phim đen trắng về cuộc chiến 12 ngày đêm và bản đồ đánh dấu 16 điểm bắn rơi máy bay B52 tại Hà Nội. Bài dự thi là mô hình mô phỏng bệ phóng tên lửa SAM 2 sử dụng trong chiến dịch Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không (kích thước bằng 1/3 so với thực tế).

Mỗi bài thi đều thể hiện lòng yêu nước, tự hào dân tộc trước chiến thắng vẻ vang của quân và dân. Có bài dự thi được thể hiện trên lá cờ đỏ sao vàng năm cánh.

Hay vẽ tranh “Bài ca chiến thắng” của tác giả Đỗ Trung Kiên (giải A, triển lãm thủ đô).

Nhóm sáng tạo trẻ của HV An ninh nhân dân cũng có bài dự thi độc đáo.

Mô hình diễn biến trận Điện Biên Phủ trên không của trường THCS Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội.

Học viên An ninh nhân dân mang đến cuộc thi 5 mô hình bài dự thi chất lượng cao được đầu tư công phu, khoa học.

Ban tổ chức sẽ chấm và trao 1 giải nhất, 3 giải nhì, 5 giải ba và nhiều giải thưởng khác vào đúng dịp kỷ niệm 40 năm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Hoàng Thùy
vnexpress.net

Trưng bày nhiều tư liệu Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không

Lần đầu tiên được tổ chức cấp quốc gia, chương trình kỷ niệm 40 năm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không gồm chuỗi hoạt động hội thảo khoa học, gặp gỡ cựu binh, nhân chứng lịch sử, triển lãm lưu động.

Trong buổi họp báo chiều 23/11 tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, thiếu tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam khẳng định, Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không là một trong mười trận đánh vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc, thể hiện đường lối chính trị chiến tranh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân đúng đắn của Đảng.

Kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, Bộ Quốc phòng cùng các bộ đã triển khai nhiều hoạt động. Trong đó, có việc tổ chức in sao các phim tài liệu về “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” để phát hành trên toàn quốc, triển khai bộ phim về chiến thắng này phục vụ tuần phim quốc gia.

Nụ cười của cô nữ dân quân bên cạnh xác máy bay kẻ thù.
Ảnh tư liệu: Lichsuvietnam.vn.

Cục tuyên huấn cùng Quân chủng Phòng không Không quân đang tập hợp, in sao bộ ảnh về “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, in pano để tổ chức triển lãm chuyên đề, lưu động trên cả nước.

Điểm nhấn của chương trình kỷ niệm là đêm giao lưu với nhân chứng lịch sử “Hà Nội 12 ngày đêm – Khát vọng và vinh quang” và hội thảo khoa học “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam” do Viện lịch sử Quân sự Việt Nam phối hợp với quân chủng Phòng không Không quân, các cơ quan tổ chức.

Bộ Quốc Phòng cũng phối hợp với Ban đối ngoại trung ương, Bộ ngoại giao mời Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân Nga, Trung Quốc, tùy viên quân sự các nước Nga, Trung Quốc, Cu Ba và các nước thuộc Liên Xô cũ tại Việt Nam tham gia một số hoạt động.

Máy bay MIG 21 số hiệu 5121 do phi công Phạm Tuân điều khiển đã bắn rơi tại chỗ máy bay B52 được công nhận là bảo vật quốc gia. Các tư liệu lịch sử liên quan đến chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không cũng được trưng bày tại 83 Lý Nam Đế, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam và Bảo tàng Phòng không Không quân.

Hoàng Thùy
vnexpress.net

Các phi cơ Mỹ bị tiêu diệt trong ‘Điện Biên Phủ trên không’

Không chỉ các pháo đài bay B-52, nhiều mẫu phi cơ khác của quân đội Mỹ lần lượt bốc cháy trên bầu trời Hà Nội, trong 12 ngày đêm không thể quên của trận Điện Biên Phủ trên không.

Át chủ bài của lưới lửa phòng không Hà Nội

Người Mỹ tự hào gọi máy bay ném bom B-52 Stratofortress là những pháo đài bay. Loại phi cơ oanh kích chiến lược này bắt đầu được sử dụng từ năm 1955. Trong 12 ngày đêm không quân Mỹ leo thang đánh phá Hà Nội và một số thành phố khác vào tháng 12/1972, B-52 được coi là lá bài chủ lực, nhằm đạt hiệu quả đánh phá cao nhất. Ảnh:USAF

Trong đợt đánh phá ác liệt từ 18 tới 29/12/1972, quân đội Mỹ sử dụng hai mẫu B-52G và B-52D. Trong hình là một chiếc B-52D. Ảnh minh họa: Wikipedia

Người Mỹ gọi chiến dịch đánh phá này là Linebacker II. Họ huy động 197 trên tổng số 400 chiếc B-52, gần một phần hai số máy bay chiến thuật và một phần tư số tàu sân bay.

Nhưng điều người Mỹ có được sau 12 ngày đêm năm 1972 không phải là chiến thắng. 34 pháo đài bay B-52 đã bị Việt Nam bắn rơi. Nhiều phi cơ chiến lược khác của Mỹ cũng chịu chung số phận. Ảnh: USAF

Xem thêm: Xác máy bay B52 ‘phơi’ giữa thủ đô

Ít nhất hai chiếc chiến đấu cơ F-111A của không quân Mỹ bị tiêu diệt trong chiến dịch Linebacker II. Ảnh minh họa: Oocities

Máy bay trinh sát RA-5C cũng được hải quân Mỹ sử dụng trong chiến dịch Linebacker II. Ít nhất một chiếc RA-5C bị không quân Việt Nam tiêu diệt. Trong hình là một chiếc RA-5C trong nhiệm vụ trinh sát trên bầu trời Việt Nam vào năm 1967. Ảnh minh họa: US Navy

Hải quân Mỹ cũng triển khai chiến đấu cơ F-4J Phantom II tham gia chiến dịch và ít nhất một chiếc bị tên lửa SA-2 của Việt Nam tiêu diệt. Ảnh: US Navy

Một chiếc trực thăng HH-53 của không quân Mỹ bị Việt Nam tiêu diệt vào ngày 27/12/1972, tức là chỉ một ngày trước khi chiến dịch Linebacker II kết thúc. Trong hình là một chiếc HH-53 hoạt động trên bầu trời Việt Nam vào tháng 10/1972. Ảnh minh họa:USAF

Một máy bay ném bom hạng nhẹ EB-66 của quân đội Mỹ hôm 23/12. Trong hình là một chiếc EB-66 đang bay ra miền bắc của Việt Nam. Ảnh minh họa: Earthlink

Cũng trong ngày 23/12, một máy bay ném bom hạng nhẹ A-7E của hải quân Mỹ bị bắn rơi bởi tên lửa SA-2 của Việt Nam. Trong hình là một chiếc A-7E trong một nhiệm vụ trên bầu trời miền bắc Việt Nam vào năm 1973. Ảnh: US Navy

Ngay trong ngày đầu tiên của chiến dịch (18/12), một phi cơ ném bom hạng nhẹ A-7C đã bị bắn rơi bởi tên lửa SA-2 của pháo binh Việt Nam. Các máy bay A-7C được hải quân Mỹ triển khai tới Việt Nam từ tháng 6/1972 tới 24/3/1973. Trong hình là một chiếc A-7C bay trên bầu trời Việt Nam. Ảnh minh họa: Wikipedia

Tên lửa SA-2 của Việt Nam tiếp tục là khắc tinh của phi cơ Mỹ, khi tiêu diệt một máy bay A-6A vào ngày 20/12. Trong hình là một chiếc A-6A cất cánh từ tàu sân bay USS Saratoga, một trong 6 tàu sân bay được quân đội Mỹ huy động cho chiến dịch Linebacker II. Ảnh: US Navy

Hà Giang
vnexpress.net

Át chủ bài của lưới lửa phòng không Hà Nội

Hàng chục máy bay ném bom B-52 của Mỹ bị bắn rơi trong chiến dịch bảo vệ bầu trời Hà Nội cuối năm 1972. Sát thủ của các “pháo đài bay” này là hệ thống phòng không, được tạo bởi các tên lửa tầm cao SA-2 do Liên Xô sản xuất.

Tên lửa S-75 Dvina do Liên Xô chế tạo, thường được gọi là tên lửa dẫn dường SA-2, tiêu diệt mục tiêu ở tầm cao, có dẫn hướng, thuộc loại đất đối không (SAM). Kể từ khi lần đầu được triển khai vào năm 1957, đây là loại tên lửa phổ biến nhất trong lịch sử nhân loại. SA-2 hạ máy bay lần đầu tiên vào tháng 10/1959 tại Trung Quốc, bằng ba phát tên lửa ở độ cao 20 km.

Hệ thống SA-2 nổi danh lừng lẫy kể từ khi một khẩu đội tên lửa với phiên bản nâng cao về tầm xa bắn hạ một chiếc máy bay trinh thám U-2 tối tân của Mỹ trên bầu trời Liên Xô tháng 5/1960. SA-2 cũng được triển khai tới Cuba trong cuộc khủng hoảng hạt nhân năm 1962, tại đó nó bắn hạ một chiếc U-2 khác của Mỹ, sự kiện suýt nữa châm ngòi chiến tranh hạt nhân Xô – Mỹ.

Trong giai đoạn 1958-1964, người Mỹ phát hiện có tới hơn 600 trận địa tên lửa trên đất Liên Xô, bao quanh các khu trung tâm dân cư, công nghiệp và trụ sở cơ quan chính phủ. Đến giữa những năm 1960, có khoảng 1.000 trận địa tên lửa như vậy ở Liên Xô. Cuối thập niên 60, các hệ thống tên lửa SA-2 được triển khai tới Đông Đức, cũng như các nước trong khối hiệp ước Vacsava, Trung Quốc, Triều Tiên, và cuối cùng là miền bắc Việt Nam.

Năm 1965, Việt Nam được cho là yêu cầu Liên Xô hỗ trợ trong việc đối phó với không lực của Mỹ, bởi hệ thống phòng không Việt Nam khi đó không tiêu diệt được các mục tiêu ở tầm cao. Sau những cuộc thương thảo, SA-2 được lựa chọn để đưa đến Việt Nam. Việc chuẩn bị xây dựng các trận địa này được tiến hành, và vào tháng 4/1965, Mỹ bắt đầu phát hiện. Theo các tài liệu được công nhận rộng rãi trên wikipedia, một số nhà hoạch định chính sách chiến tranh Mỹ yêu cầu đánh bom các trận địa này, nhưng bị phản đối bởi nếu làm như vây có thể gây thương vong cho các công dân Liên Xô.

Pháo cao xạ (ảnh trên) và tên lửa phòng không tạo nên hệ thống lưới lửa dày đặc trên bầu trời Hà Nội, chống các báy bay ném bom và máy bay chiến thuật của Mỹ. Ảnh: wikipediaPháo cao xạ (ảnh trên) và tên lửa phòng không tạo nên hệ thống lưới lửa dày đặc trên bầu trời Hà Nội, chống các báy bay ném bom và máy bay chiến thuật của Mỹ. Ảnh: wikipedia

Tháng 7/1965, Mỹ mở chiến dịch tấn công các trận địa tên lửa của Việt Nam, với việc tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố sẽ ném bom các trận địa. Bộ đội Việt Nam liền đem giấu các hệ thống tên lửa phòng không và xây dựng các mục tiêu giả. Chiến thuật này khiến không lực Mỹ bị lừa và phải chịu nhiều thiệt hại.

Trong thời gian giữa 1965 và 1966, các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam thực hiện các bước cải tiến cho hệ thống SA-2, như nâng cấp hệ thống radar và chống nhiễu điện tử. Các chuyên gia còn phát triển hệ thống dẫn đường bị động, theo đó tên lửa sẽ bám chặt lấy chính thiết bị gây nhiễu. Ngoài ra họ còn có biện pháp “phóng giả”, trong đó radar theo dõi được kích hoạt nhưng tên lửa không được phóng đi. Điều này cho phép khẩu đội vô hiệu hóa vũ khí của mục tiêu mà không cần tốn tên lửa SA-2.

Mỗi khẩu đội điển hình thường có 6 tên lửa bán cố định, các ống phóng đơn. Các quả tên lửa được bố trí cách nhau từ 60 đến 100 mét, theo hình hoa 6 cánh, trong khi hệ thống radar và dẫn hướng bố trí ở giữa. Cách bố trí này cũng khiến các trận địa rất dễ bị nhận ra trên các ảnh mà máy bay trinh thám chụp. Thông thường, bên cạnh mỗi khẩu đội có các xe tải mang khẩu đội dự phòng ở gần đó.

Tên lửa SA-2 là loại hai tầng, gồm tầng đẩy hoạt động bằng nhiên liệu rắn và tầng cao dùng nhiên liệu lỏng gồm nitric acid và dầu hỏa. Sau khi bắn ra, tên lửa bay với tốc độ Mach 3. Tầng đẩy có bốn cánh, tầng trên có các cánh điều khiển ở trên thân, và một bộ cánh điều khiển ở gần đuôi, một bộ cánh rất nhỏ nữa ở mũi.

Trên một trận địa tên lửa phòng không ở miền bắc Việt Nam với các khẩu đội SA-2. Ảnh: wikipediaTrên một trận địa tên lửa phòng không ở miền bắc Việt Nam với các khẩu đội SA-2. Ảnh: wikipedia

Tên lửa được điều khiển bằng tín hiệu radio, trên một hoặc ba tần số phát đi từ các máy tính dẫn hướng tại trận địa. SA-2 nhận tín hiệu điều khiển nhờ các antenna lắp trên cánh. Mỗi hệ thống dẫn hướng chỉ theo được một mục tiêu, nhưng có thể điều khiển cùng lúc ba tên lửa. Sau mỗi loạt tên lửa bắn đi, hệ thống tiếp tục điều khiển các loạt bổ sung ngay khi tần số của nó rảnh rỗi.

Phiên bản chuẩn của tên lửa SA-2 mang đầu đạn 195 kg, tính cả vật liệu nổ, tiếp xúc và dây cháy. Đầu đạn có bán kính sát thương 65 mét ở độ cao thấp, và bán kính này tăng lên khi nó hoạt động ở tầm cao hơn, do áp suất không khí giảm. Bán kính này có thể lên đến 250 mét. Độ chính xác của tên lửa là 75 mét, điều đó giải thích vì sao các khẩu đội thường bắn hai tên lửa trong một loạt. Đặc biệt, phiên bản SA-2E có thể mang đầu đạn hạt nhân với sức công phá 15 kiloton.

Tầm hoạt động chuẩn của SA-2 là 45 km, trần 20.000 mét. Trong cuộc chiến ở miền bắc Việt Nam, các radar và hệ thống dẫn hướng thường cho SA-2 săn mục tiêu tầm cao. Mục tiêu tầm thấp thường được dành cho pháo phòng không, tạo thành một “lưới lửa” trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972, các “pháo đài bay” B-52 của Mỹ bay đội hình thường là tốp ba chiếc gồm máy bay chiến thuật kèm B-52 ở tầm cao. Chúng phải đối mặt với lưới lửa phòng không của quân đội Việt Nam, gồm các tên lửa, pháo phòng không và chiến đấu cơ MiG-21, và loại máy bay được mệnh danh là pháo đài bay đã “chết” nhiều nhất bởi các tên lửa SA-2.

Máy bay ném bom B-52 của Mỹ rải bom ở miền bắc Việt Nam năm 1972. Ảnh: WikipediaMáy bay ném bom B-52 của Mỹ rải bom ở miền bắc Việt Nam năm 1972. Ảnh: Wikipedia

Ánh Dương
vnexpress.net

‘Mắt thần’ truy tìm B52

Trước khi Mỹ dùng B52 tấn công hủy diệt Hà Nội, lực lượng radar đã phát hiện và báo động sớm trước 35 phút, tạo điều kiện cho sở chỉ huy nắm chắc tình hình, sử dụng lực lượng chiến đấu.

>Anh hùng Phạm Tuân và giây phút hạ gục ‘pháo đài bay’Tên lửa SAM2 – ‘khắc tinh của B52’ trên bầu trời Hà Nội

Nguyên là đài trưởng đài radar P35, thuộc Đại đội 45 (Trung đoàn 291) – đơn vị đầu tiên phát hiện, thông báo sớm B52 bay vào Hà Nội đêm 18/12/1972, đại tá Nghiêm Đình Tích cho rằng công đầu trong chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không thuộc về bộ đội radar phòng không.

Theo đại tá Tích, 19h ngày 18/12/1972, ông cùng các trắc thủ Phạm Hoàng Cầu, Nguyễn Văn Xích phát hiện ba dải nhiễu B52. Ngay lập tức, ông báo cáo cấp trên là B52 địch có khả năng vào miền Bắc. Trung đoàn trưởng Đỗ Năm báo cáo về tổng trạm radar Quân chủng Phòng không Không quân “B52 đang bay vào Hà Nội”. Ngay sau đó, Cục Tác chiến (Bộ Tổng tham mưu) đã báo cáo lên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, đồng thời phát lệnh báo động cho Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và một số tỉnh miền Bắc.

“Đúng 19h40, B52 và máy bay chiến thuật đã đánh liên tiếp 3 đợt vào các sân bay Kép, Nội Bài, Gia Lâm, Hòa Lạc, Yên Bái và một số khu vực”, ông Tích kể và khẳng định bộ đội radar đã không để tổ quốc bị bất ngờ trước chiến dịch tập kích đường không của địch, tạo điều kiện cho các binh chủng đánh thắng B52.

Đại tá Nghiêm Đình Tích khẳng định lực lượng radar đã phát hiện và báo động sớm cho Hà Nội B52 sẽ tấn công trước 35 phút. Ảnh: Hoàng Thùy.

Đại tá cho hay, trong chiến dịch 12 ngày đêm, không quân Mỹ gây nhiễu ghê gớm hơn nhiều so với chiến tranh phá hoại lần thứ nhất. Họ gây nhiễu từ các hạm tàu, máy bay chuyên gây nhiễu ngoài đội hình EB66 (của Không quân), EA6B, EC121 (của Hải quân), nhiễu của các loại máy bay chiến thuật. Đặc biệt mỗi B52 có 15 máy gây nhiễu, 2 máy phóng nhiễu giấy bạc. Một tốp B52 gồm ba chiếc, tổng cộng có 45 máy tạo thành nhiễu dày đặc, đan xen, công suất rất lớn, phạm vi rất rộng.

Thời kỳ này hầu hết đài radar, nhất là đài radar cảnh giới, dẫn đường, điều khiển tên lửa, ngắm bắn của pháo cao xạ và radar trên máy bay MIG21 của Việt Nam đều bị nhiễu nặng, rất khó phát hiện được mục tiêu… Mặt khác địch còn tăng cường gây nhiễu, đánh phá đài radar. Chúng sử dụng B52 đánh đêm, trong khi lực lượng đánh đêm của Việt Nam rất mỏng, việc quan sát phát hiện B52 bằng mắt của phi công rất hạn chế.

“Có lúc đài radar cảnh giới báo cáo tất cả 360 độ đều nhiễu nặng, không thể phát hiện mục tiêu. Địch âm mưu bịt mắt chúng ta”, ông Tích kể. Không thể ngồi im nhìn địch che mắt, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Binh chủng đã tập trung chỉ đạo, tổ chức các hội nghị chống nhiễu B52.

Từ ba trận đánh thành công ở Vinh – Bến Thủy, Thanh Hóa, Hải Phòng, địch chủ quan, xem thường lực lượng phòng không của Việt Nam. Chúng huênh hoang động viên phi công rằng khi B52 vào đánh Hà Nội thì hệ thống nhiễu điện tử đã vô hiệu hóa lực lượng phòng không Bắc Việt Nam. Đánh Hà Nội sẽ như một cuộc dạo mát và sẽ trở về an toàn.

Nhưng địch đã sai lầm. Trên cơ sở khẳng định B52 vào đánh Hà Nội từ hai hướng Tây Nam và Đông Nam, Bộ Tư lệnh Quân chủng điều Trung đoàn radar 291 của ông Tích từ Hải Phòng vào Nghệ An, vừa đảm bảo cảnh giới vừa tác chiến phòng không trong khu vực, phát hiện B52 trên hai hướng để báo động B52 từ xa cho Hà Nội, Hải Phòng.

Bộ đội radar của đại đội 45. (Đài trưởng Nghiêm Đình Tích ngồi sau cùng, mặc áo trắng).

Binh chủng radar còn được bổ sung lực lượng, phương tiện và điều chỉnh đội hình mạng radar trên miền Bắc tạo thành trường radar khép kín, vừa có khả năng chống nhiễu tốt, vừa đảm bảo phát hiện liên tục mục tiêu trên các tầng không. Đội hình chiến đấu này được bố trí kết hợp chặt chẽ giữa tuyến và cụm, tập trung lực lượng vào hướng, khu vực chủ yếu, xen kẽ giữa máy cũ và máy mới, giữa khí tài thô sơ với khí tài hiện đại, giữa các đài radar có dải tần khác nhau, giữa đài radar với vọng quan sát mắt. Các đại đội radar dẫn đường vòng ngoài kết hợp với mạng radar ở vòng trong làm tăng khả năng chống nhiễu, bảo đảm dẫn đường cho không quân đánh B52.

“Đội hình radar miền Bắc được bố trí tối ưu và khoa học, đúng tư tưởng chỉ đạo của thiếu tướng Vương Thừa Vũ, người chỉ đạo chiến thuật của Bộ Quốc Phòng là trong tác chiến phòng không hiện đại, kể cả trong điều kiện chiến tranh điện tử và vũ khí công nghệ cao phát triển, đội hình radar phải được bố trí để vừa có lực lượng phát hiện địch từ phía chính diện, vừa có lực lượng phát hiện từ phía cạnh sườn và phía sau”, ông Tích kể.

Ngoài biện pháp chống nhiễu tầm chiến dịch thì Bộ tư lệnh phòng không còn tổ chức chống nhiễu tầm chiến thuật. Đây là tổng hợp các động tác chống nhiễu về kỹ thuật kết hợp với kinh nghiệm cụ thể của từng phiên ban, kíp chiến đấu và của từng đài trưởng, sĩ quan điều khiển, trắc thủ, các chiến sĩ thông tin vô tuyến.

“Tôi có thuận lợi là được học về nguyên lý điều khiển radar do các chuyên gia Liên Xô đào tạo từ năm 1968-1969. May mắn hơn là trước đó chúng tôi từng phát hiện ra B52. Trong năm 1967, địch mở chiến dịch vào Hà Nội cũng gây nhiễu rất nặng, chúng tôi đã xây dựng được quy trình chống nhiễu, phát hiện B52 rất tốt”, đại tá Tích tâm sự.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm, đài radar của ông Tích có 6 máy thu sóng nhưng đều bị nhiễu. Qua kinh nghiệm, ông và đồng đội chỉ sử dụng một máy thu, 2 ăng ten trên và dưới hợp lý để chế áp nhiễu. Lúc này, trên màn hình chỉ còn dải nhiễu B52 rất nhẹ, nổi lên 3 điểm sáng bằng đầu tăm. Như vậy, đội đã phát hiện ra có B52.

“Mắt thần” radar không để tổ quốc bị bất ngờ trước cuộc tập kích bằng đường không của Mỹ năm 1972. Ảnh tư liệu.

Nhờ những biện pháp trên, trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, Bộ Tư lệnh Binh chủng radar đã phát hiện và xác định chính xác B52, báo động sớm B52 tấn công trong trận đầu, đêm đầu cho Hà Nội 35 phút, các đêm sau từ 50 đến 60 phút. Do được bảo đảm radar tốt, các cấp chỉ huy chiến dịch – chiến lược đã nắm chắc tình hình địch, chiến đấu kịp thời, chính xác, các lực lượng phòng không, không quân được chủ động đánh B52.

Nguyên đài trưởng radar P35 cho hay, bằng sự phối hợp hiệp đồng với radar, bộ đội tên lửa phòng không đã bắn rơi B52 nhiều nhất, ngăn chặn âm mưu của Mỹ đưa Hà Nội, miền Bắc Việt Nam về thời kỳ đồ đá. Chỉ tính trong số 34 chiếc B52 bị bắn rơi thì bộ đội tên lửa phòng không đã bắn rơi 29 chiếc, trong đó có 16 chiếc rơi tại chỗ. Bộ đội không quân xuất kích 24 lần, bắn rơi 7 máy bay địch, trong đó có 2 chiếc B52, 4 chiếc F4-D và một chiếc RA5C.

Sau thất bại trong chiến dịch tập kích đường không chiến lược cuối năm 1972, một học giả người Mỹ thừa nhận, một trong ba nguyên nhân dẫn đến tổn thất của máy bay B52 là các radar của Bắc Việt Nam có thể vô hiệu hoá các biện pháp đối phó điện tử của B52. Người này cũng thừa nhận “năm 1972, sau một thời gian xây dựng, Bắc Việt Nam đã có hệ thống phòng không mạnh nhất thế giới, đến mức nhiều người tin rằng các máy bay ném bom hạng nặng át chủ bài B52 của Mỹ khó mà sống sót”.

Clip: ‘Mắt thần’ của không quân trong 12 ngày đêm

Hoàng Thùy
vnexpress.net

Đại tướng Võ Nguyên Giáp gặp mặt kíp bắn rơi B52

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Báo Quân đội Nhân dân Điện tử xin giới thiệu tới bạn đọc video clip về cuộc gặp mặt giữa Đại tướng Võ Nguyên Giáp với kíp bắn rơi máy bay B52 (Tiểu đoàn 72) tại Hà Nội ngày 19-11-1997. Tư liệu do ông Nguyễn Đăng Dụ, cựu chiến binh Trung đoàn tên lửa 283, cung cấp. Biên tập: Duy Minh.

Nguồn: qdnd.vn

Anh hùng Phạm Tuân và giây phút hạ gục ‘pháo đài bay’

“21h tôi được lệnh xuất kích, bay lên thì gặp F4 trên đầu nhưng không được bắn, phải vòng qua. Một lúc sau phát hiện B52, tôi bám theo, khi cách 4 km thì phóng hai quả tên lửa”, anh hùng Phạm Tuân kể lại lúc bắn rơi B52.

‘Giọng nói nổi tiếng nhất thủ đô’ giữa mưa bom B52Tên lửa SAM2 – ‘khắc tinh của B52’ trên bầu trời Hà Nội

Trung tướng Phạm Tuân là phi công đầu tiên bắn rơi B52 trong trận Điện Biên Phủ trên không.

Dáng nhanh nhẹn, giọng nói hào sảng, anh hùng Phạm Tuân (65 tuổi) kể, khoảng 17h ngày 27/12/1972, ông được lệnh bay đến sân bay Yên Bái. 9 ngày kể từ khi Mỹ ném bom bắn phá Hà Nội, không quân chưa hạ được chiếc B52 nào trong khi lực lượng phòng không bắn rơi vài chiếc khiến đội phi công bay đêm cảm thấy rất căng thẳng.

“Mỗi lần tôi xuất kích, tất cả mọi người đều động viên. Anh em bay ngày nói ‘mày bắn rơi B52 tao cõng mày đi học’, rồi chỉ huy, thợ máy, dẫn đường… dặn cố bắn một chiếc nhé”, trung tướng Phạm Tuân nhớ lại.

Ông cho biết, thực tế không quân bay lên phá đội hình địch, làm tản nhiễu để lực lượng phòng không dưới đất đánh tốt hơn. Nhưng không quân chưa đánh được B52 thì vẫn là cái nợ.

Khoảng 21h, ông được lệnh xuất kích từ sân bay Yên Bái. Khi cất cánh lên gặp rất nhiều máy bay F4, nhưng lệnh là “Cơ động. Vượt qua”. Vừa tránh xong tốp đầu ông lại gặp tiếp F4, song lệnh ở dưới vẫn là tránh nó mà đi. Sau đó Sở chỉ huy thông báo B52 cách 200 km, 150 km rồi 100 km.

MIG 21 cứ một phút bay được 40-50 km nên chỉ vài phút Phạm Tuân tiếp cận mục tiêu. Đến độ cao khoảng 6 km ông xin phép ném thùng dầu phụ và bay lên cao. Đang vòng thì phát hiện tốp B52, ông thông báo cho mặt đất thì nhận được phản hồi từ Sở chỉ huy: “Phía trước 10 cây”.

MIG21 do phi công Phạm Tuân lái vừa được công nhận là bảo vật quốc gia. Ảnh: Bá Đô.

“Lúc bám theo mục tiêu, tôi rất căng thẳng vì sợ B52 tắt đèn chạy mất. B52 có vận tốc 900 km/h, chậm một phút thì nó đã bay được 15 km, mình sẽ không đuổi được”, ông Tuân kể. Trước đó, một số phi công khi đuổi theo B52, mồ hơi rơi xuống, lấy tay quệt, đến lúc mở mắt ra thì mục tiêu cũng mất luôn.

Số hiệu của phi công Phạm Tuân lúc đó là 361, ba sở chỉ huy chính ở Hà Nội, Thọ Xuân, Mộc Châu và một đài phụ trợ ở Yên Phong thay nhau nhắc nhở “361, mục tiêu ở đằng trước mấy cây”. Ông Trần Hanh (Phó tư lệnh Binh chủng Không quân) phải nhắc các sở chỉ huy dừng liên lạc để Sở chỉ huy Quân chủng dẫn đường. Lúc đó Phạm Tuân cách máy bay địch khoảng 8-9 km.

Lần đầu tiên phi công tiếp cận B52 trong điều kiện như vậy nên sở chỉ huy nhắc nhở liên tục: bật tên lửa ở vị trí hai quả, mở nút phóng tên lửa quan sát… Phạm Tuân phải trấn an: “Các anh cứ yên trí, tôi nhất quyết bắn rơi máy bay B52”.

“Ở dưới hô ‘4 cây’, anh Hanh lệnh ‘361 bắn, thoát ly bên trái’. Tôi thấy nó còn ở xa, đèn chưa rõ lắm nên bảo chờ tý. Khẩu lệnh thứ hai, anh Hanh hạ lệnh ‘Bắn, thoát ly ngay bên trái’. Tôi lại bảo chờ tý. Đến khẩu lệnh thứ ba ‘Bắn. Thoát ly ngay’, tôi mới kéo máy bay lên, chỉnh điểm ngắm, thấy tín hiệu tên lửa tốt, tôi phóng hai quả”, ông Tuân kể.

Quả tên lửa thứ nhất bay vút đi, quả thứ hai theo sau tạo thành một đường sáng rực. Phi công Phạm Tuân kéo máy bay lên và lật ngửa thì nhìn thấy chiếc B52 nổ. “80% là may mắn. May mắn ở đây là hợp thời cơ, nghĩa là thời cơ có và ta chớp được”, ông Tuân nói.

Anh hùng Phạm Tuân nhận định, B52 không ghê gớm như Mỹ tuyên truyền, nếu bay ngày thì chúng ta dễ dàng tiêu diệt. Ảnh: Hoàng Thùy.

Ông cho rằng, bản lĩnh của một con người gồm hai yếu tố: có ý chí và biết phát hiện ra quy luật, hành động theo quy luật ấy. Nếu cứ xông lên mà không khôn khéo thì sẽ bị máy bay địch bắn rơi, nhưng có cách đánh mà không có cái tâm, sợ nó thì cũng không đánh được. Ý chí và cách đánh đi với nhau mới tạo nên bản lĩnh.

Là máy bay ném bom chiến lược tầm xa, B52 có cự ly bay hàng chục ngàn kilomet, mang 30 tấn bom, xen kẽ bom tấn, bom tạ, bom bi. Một tốp 3 chiếc B52 có thể san bằng diện tích 2 km2. Nó dùng bom tấn phá hầm ngầm, bom tạ phá hầm trú ẩn, bom bi sát thương người khi không còn chỗ trú.

Trung tướng Tuân phân tích, B52 bay ở độ cao khoảng 10 km, tốc độ là 900 km/h, trong khi máy bay chiến đấu của Việt Nam khi đó có thể bay với độ cao 20 km, tốc độ 2.200 km/h. Nếu B52 bay ban ngày, phi công phát hiện bằng mắt thường thì bằng hai quả tên lửa là có thể bắn rơi. Chính vì thế B52 thường chọn bay đêm, có nhiều máy bay yểm trợ, khả năng gây nhiễu mạnh làm cho radar khó phát hiện.

“Không quân hiện có máy bay có Su27, Su30 một lúc có thể bắn nhiều mục tiêu chứ không như MIG 21 ngày xưa, ta cũng có tên lửa S300 có thể bắn được 300 cây số… Nghĩa là tiềm lực quốc phòng của ta đã nâng lên, ngày càng hiện đại”, nguyên Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân cho hay.

Máy bay MIG21 trong kháng chiến chống Mỹ

Hoàng Thùy
vnexpress.net

Tên lửa SAM2 – ‘khắc tinh của B52’ trên bầu trời Hà Nội

4h30 ngày 22/12/1972, đơn vị báo động máy bay Mỹ sắp qua bầu trời Hà Nội. Kíp trắc thủ bám chặt tín hiệu mờ trên ra đa, quyết định phóng tên lửa. Hai “pháo đài bay” bốc cháy trong niềm vui của người lính phòng không.

‘Giọng nói nổi tiếng nhất thủ đô’ giữa mưa bom B52 Máy bay B52 suýt ‘tuyệt chủng’ trên bầu trời Hà Nội

Tên lửa Sam2. Ảnh tư liệu.

40 năm đã trôi qua, ký ức về 12 ngày đêm lịch sử của trận “Điện Biên Phủ trên không” vẫn nguyên vẹn trong trí nhớ của trung tướng Nguyễn Văn Phiệt – nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tên lửa bắn rơi nhiều B52 nhất. Ngày ấy, tiểu đoàn 57 (trung đoàn Cổ Loa 261) của ông đóng quân tại trận địa Đại Đồng, huyện Đông Anh (Hà Nội).

15h ngày 18/12/1972, đơn vị nhận được lệnh ăn cơm sớm để chuẩn bị chiến đấu. 19h, một tốp F111 bỏ bom vào trận địa nhưng không trúng đài điều khiển nào. Một lúc sau, trên màn hình rada trắng xóa do bị ảnh hưởng nhiễu tích cực của các tốp máy bay địch phát ra.

Đêm đó, đơn vị ông Phiệt phóng 11 quả đạn nhưng không hạ được chiếc máy bay nào. Ngày hôm sau bắn được B52 nhưng rơi ở vị trí rất xa. Toàn đơn vị củng cố quyết tâm phải đánh rơi B52 tại chỗ. 4h30 ngày 22/12, đơn vị báo động nhưng 6 bệ phóng còn có 3 quả đạn. Theo đúng giáo trình thì phải dùng 2, 3 quả đánh một tốp B52 nhưng lúc này để tiết kiệm tên lửa ông đề nghị đánh “mổ cò” – dùng quả một.

5h09, máy bay vào cự ly phóng 35km. Ông Phiệt ra lệnh phóng quả thứ nhất, quả đạn không rời bệ, phóng tiếp quả thứ hai, đạn đi điểu khiển tốt, cự ly phóng lúc này là 32km. Khi quả đạn đi được 15km thì nhìn thấy tín hiệu B52 trùm trên dải nhiễu. “Bộ phận trắc thủ sau nhiều ngày chiến đấu đã có những kinh nghiệm điều khiển sao cho mỗi đường đi của B52 được nằm gọn trên một dải nhiễu, và lúc này trên màn hình xuất hiện 3 dải nhiễu riêng biệt, tượng trưng đường đi của 3 chiếc B52”, ông Phiệt nói.

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt cho biết, trí tuệ Việt Nam đã cải tiến tên lửa SAM2 khiến nó thành vũ khí tiêu diệt gọn B52. Ảnh: Hoàng Thùy.

Trên mỗi dải nhiễu là một tín hiệu của từng chiếc B52 dù rất mờ, nhưng kíp trắc thủ đã nhanh chóng bám chặt tín hiệu B52, đạn đi vào điều khiển đúng và B52 bị tiêu diệt. Chưa hết vui mừng thì sau đó 10 phút, khi tiểu đoàn chỉ còn một quả đạn cuối cùng lại bắt tiếp được mục tiêu B52 vẫn đi theo đường bay cũ.

“Chúng tôi phóng tiếp quả đạn còn lại và tiêu diệt được ngay chiếc B52, rơi tại chỗ xuống Sóc Sơn. Đến đêm ngày 22/12, đơn vị tôi lại tiếp tục bắn rơi thêm một B52, rơi xuống Lương Sơn – Hòa Bình”, trung tướng Phiệt kể và cho hay, từ ngày 18-28/12, tiểu đoàn của ông đã bắn rơi được 4 chiếc B52, trong đó có 2 chiếc rơi tại chỗ.

Trung tướng Phiệt cho biết, theo nhận định của Bộ Tổng tư lệnh, chủ lực đánh phá ta trong chiến dịch này là B52, do vậy quân chủng cũng xác định lực lượng để đánh B52 lúc này là không quân và tên lửa, các loại máy bay khác của địch do lực lượng phòng không tầm thấp chịu trách nhiệm. Nhưng do các sân bay ở khu vực miền Bắc đã bị địch thả bom đánh phá nên không quân rất khó cất cánh, lực lượng đánh B52 lúc này được xác định chủ yếu là lực lượng SAM2.

Tất cả các đạn tên lửa chỉ dùng để đánh B52. Theo tướng Phiệt, khó khăn không phải vì thiếu đạn bởi trong cả chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, ta bắn chưa đến 350 quả, trong khi số đạn dự trữ vẫn còn trên 300. Thế nhưng có những lúc, cả trung đoàn tên lửa với 4 tiểu đoàn thì 2 tiểu đoàn không có đạn trên bệ. Nguyên nhân là do bộ phận kỹ thuật lắp ráp đạn không kịp.

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh:Hoàng Thùy.

Khi nhận từ Liên Xô, tất cả các bộ phận của tên lửa được đóng trong hòm riêng. Mỗi trung đoàn có một tiểu đoàn kỹ thuật chuyên lắp ráp nhưng một ngày đêm một dây chuyền chỉ lắp được 10-12 quả. Có những xe đạn về đến nơi mà không vào được vì đường hỏng, phải vận chuyển bằng dân công, hoặc tài xế phải chạy vài kilomet để báo dân công sửa đường…

Bên cạnh đó, đạn giữa các tiểu đoàn không thể bổ sung cho nhau vì mỗi tiểu đoàn tên lửa có một “phách” riêng – đó là tần số sóng của từng đơn vị. Mỗi một tiểu đoàn tên lửa có 3 “rãnh”, mỗi một “rãnh” lại có 3 “cốt” khác nhau. Các tiểu đoàn thường được bố trí gần nhau nên điều này đảm bảo cho hệ thống đài điều khiển giữa các đơn vị không bị nhầm, nhiễu về tín hiệu điều khiển, do vậy các tên lửa khi phóng lên được điều khiển độc lập.

“Trong chiến dịch 12 ngày đêm, hệ thống SAM 3 chưa kịp đưa về Việt Nam nên với tên lửa, chúng ta chỉ sử dụng SAM 2 để đánh B52. Chúng ta có một số cải tiến trên SAM2 nhưng việc “nối tầng” tên lửa là thông tin không đúng”, tướng Phiệt nói và giải thích, ngày 1/5/1960, phòng không Liên Xô đã sử dụng tên lửa SAM2 để bắn hạ một máy bay trinh thám tầng cao U-2 của Mỹ ở độ cao 20km. Trong khi đó B52 bay vào đánh phá Hà Nội thường chỉ bay ở độ cao 11-12km để đảm bảo thả bom chính xác, do vậy việc “nối tầng” B52 là không cần thiết.

Những chi tiết ta cải tiến trên tên lửa SAM 2 là cải tiến phần đầu nổ để các mảnh nổ sẽ bung ra nhiều hơn, dẫn đến xác suất tiêu diệt mục tiêu sẽ cao hơn. Qua kiểm tra chức năng và định kỳ khí tài, ta thay đổi về công suất điện áp của cánh sóng để chế áp điện tử gây nhiễu của máy bay địch gây ra cho các đài điều khiển tên lửa của ta.

Mặt khác, máy bay Mỹ dùng mọi hình thức gây nhiễu khác nhau cho hệ thống radar của tên lửa SAM2, do vậy có lúc phòng không Việt Nam phải bật công tắc phóng giả để phát sóng điều khiển tạo ra một hình thức nghi binh. Khi phát hiện hiện ra tín hiệu phóng tên lửa (phóng giả) này, các máy bay Mỹ sẽ hoảng loạn và tản mát đội hình, do vậy các tín hiệu nhiễu cũng bị giãn ra và yếu đi.

Bên cạnh các yếu tố về kỹ thuật, phòng không Việt Nam đã kết hợp yếu tố về chiến thuật trong chiến dịch tiêu diệt B52. Để thả bom chính xác các mục tiêu, B52 phải căn cứ vào các địa tiêu cố định trên thực địa, do vậy B52 bắt buộc phải bay theo những đường bay cố định. Lợi dụng điểm yếu này, Việt Nam đã bố trí các trận địa tên lửa tập trung đánh vào những đường bay cố định của B52. Do vậy xác xuất tiêu diệt B52 của SAM2 đã tăng lên đáng kể.

“Các yếu tố làm lên thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ trên không chính là làm tốt các khâu từ chuẩn bị kỹ thuật khí tài, yếu tố tinh nhanh và sáng tạo của bộ phận trắc thủ cũng như tư duy về chiến thuật trong công tác nghiên cứu địch và phương pháp bố trí trận địa để đánh địch. Điều đó cho thấy, yếu tố con người vẫn là quan trọng nhất làm lên sức mạnh Việt Nam”, trung tướng Phiệt nói.

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt sinh năm 1938 tại Hưng Yên. Ông nhập ngũ tháng 2/1960. Năm 1972 ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa 57 (Trung đoàn 261, Sư đoàn 361) cấp bậc Thượng úy. Năm 1973, ông được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang. Năm 1999, ông được phong hàm Trung tướng – Phó tư lệnh về Chính trị Quân chủng Phòng không – Không quân. Năm 2003, ông nghỉ hưu.

Hoàng Thùy
vnexpress.net