Thư viện

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: “Mười hai điều đó chớ quên điều nào”

Bác Hồ đã nhiều lần nêu lên vấn đề “tư cách người cách mạng”. Sớm nhất bằng văn bản là những trang đầu trong Đường Kách mệnh, năm 1926-1927, cho tất cả những người tham gia cách mạng Việt Nam.

Năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc ở chương III, mục A, Bác đã nêu lên 12 điều tư cách, không phải với một người, một ngành, mà cho một “Đảng chân chính cách mạng”.

Điều đầu tiên cũng là tư cách trên hết của một đảng chân chính cách mạng là “phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” chứ không phải là “một tổ chức để làm quan phát tài”. Ý trong điều này của Bác thì hiện nay ta đã hoàn thành việc 1 (giải phóng dân tộc). Còn việc 2 Đảng ta đang nỗ lực tiến hành (Tổ quốc, đồng bào sung sướng).

Điều thứ 2, Bác nêu lên là: “Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng và lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”. Cách mạng theo Bác là “đổi cũ ra mới, đổi xấu ra tốt”. Cái cũ mà tốt nên giữ và phát huy. Cái mới mà xấu thì không nên bắt chước mà phải “cách” đi. Lý luận cách mạng mới ở đây là lý luận cách mạng của Việt Nam, của riêng Đảng cách mạng Việt Nam. Đảng cách mạng chân chính không, không thể sao chép, rập khuôn theo một thứ lý luận, chủ nghĩa nào một cách nguyên xi, bản gốc. Không hiểu biết lý luận cách mạng ấy-sẽ bị người ta bịp bợm, lừa đảo và tất nhiên “Đảng chân chính cách mạng” sẽ bị thua, thất bại. Đây là một “tư cách” báo động cho Đảng nào cứ “ăn mòn quá khứ”, tư duy cũ kỹ, bảo thủ, giáo điều…

Điều 3, 7, 12 là những nội dung Bác đề cập tới là “Đặt ra chỉ thị luôn luôn phải dựa vào điều kiện thiết thực và kinh nghiệm cách mạng ở các nước, ở trong nước và ở địa phương”, “phải khéo dùng những cách thức thi hành cho hoạt bát”, “phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình”, đề phòng “hóa ra lời nói suông” và “hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”. “Khéo dùng những cách thức”, là Bác nhằm ý “chủ trương 1, biện pháp 100”, chứ không nên nay “tăng cường”, mai “nâng cao”… mà không có cách làm cụ thể, tỉ mỉ, chu đáo, hiệu quả thì “chỉ thị” dễ “qua cầu gió bay” .

Bác thường dặn cán bộ, đảng viên rằng: “Mục đích của Đảng không gì khác là phục vụ quần chúng”, cán bộ, đảng viên, viên chức từ Trung ương đến cấp xã, phường, trong các đoàn thể… đều là “đầy tớ nhân dân”, “công bộc của dân”. Mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng được Bác giải thích trong các điều 4, 5, 6 rằng: “Phải luôn luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị (của Đảng), “mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng”, “mỗi công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng”. Đây là một răn dạy luôn “thời sự” đối với “Đảng chân chính cách mạng”. Thực tiễn của nhiều phong trào cách mạng, nhiều Đảng là khi thành công, giành được quyền lực, thì cán bộ, đảng viên đã không ít người “coi khinh quần chúng”, “hống hách” đe nẹt, dọa nạt những người mà trước đó, khi còn “trong bóng tối của phong trào” đã cưu mang đùm bọc họ, thậm chí đem cả mạng sống của mình, của gia đình mình để bảo vệ họ.

Điều 9, 10 của Tư cách đảng chân chính cách mạng được đề cập tới vấn đề tổ chức, cán bộ. Thế nào là những thành viên của Đảng chân chính cách mạng? Câu trả lời của Bác là “Đảng phải lựa chọn những người rất trung thành và rất hăng hái…”, đồng thời “phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài”.

“Hủ” danh từ Hán Việt này có nghĩa là “mục nát, già suy, cũ kỹ, hư nát, bại hoại, đần độn”. “Hủ hóa” là hóa ra hủ bại, là hóa ra tất cả những định nghĩa của “hủ”.

Vấn đề là rất rõ. Trong một gia đình chân chính-chưa nói tới chân chính cách mạng, mà lại sinh ra những người con “mục nát (trong đạo đức, lối sống), già suy (trong nhận thức, quan niệm…), cũ kỹ (ôm khư khư cái bảo thủ) hủ nát, bại hoại, đần độn…” thì thật “nguy tai, đại nguy tai”. Đảng chân chính cách mạng mà còn có những phần tử mang những căn bệnh của “hủ hóa” thì chắc là cũng “bại hoại”.

Để phòng bệnh hủ hóa này, Bác đã nói rõ trong hai điều 8 và 11. Trong điều 8, Bác nói rất rõ rằng: “Đảng không giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”. Điều 11, Bác lại nhắc “Đảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm, từ trên xuống dưới”.
Hai điều cuối cùng lại “nằm” trong những điều kiện sống còn của Đảng chân chính cách mạng. Nếu được ví Đảng chân chính cách mạng như một cơ thể sống, thì khuyết điểm của Đảng, của đảng viên, cán bộ có thể coi như bệnh tật. Có bệnh nhẹ, sơ sơ chỉ cần rèn luyện, uống thuốc nam, xoa bóp… là khỏi. Có những bệnh nặng “tứ chứng nan y”, nếu không phòng bệnh, giữ gìn “ăn uống”, “sinh hoạt cá nhân” dễ mắc những thứ bệnh mà cho dù có Hoa Đà, Lãn Ông sống lại cũng phải “bó tay”.

Bác đã có dịp khuyên răn đảng viên ta rằng “Chớ có dán 2 chữ cộng sản lên trán…”. Nhân dân, quần chúng trông vào đảng viên, cán bộ, viên chức là trông vào hành động phục vụ nhân dân, trông vào thái độ ý thức làm đầy tớ nhân dân; trông vào những lợi ích mà họ mang đến cho dân… chứ họ đâu khờ dại mà trông vào cái “mã” bên ngoài, trông vào “lời nói như mật ngọt đổ vào tai họ để “mị dân”, “trốn tránh”, che đậy…

Bác đã hạ bút viết hai câu lục bát cuối bài Tư cách của Đảng chân chính cách mạng như sau:

Muốn cho Đảng được vững bền
Mười hai điều đó chớ quên điều nào!

BTS (Theo QĐND)

cpv.org.vn

Hồ Chí Minh – Tấm gương sáng ngời về đạo đức từ những ngày đầu hoạt động cách mạng tìm đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam

(ĐCSVN) – Bác Hồ Chí Minh sinh ngày 19-5-1890, lúc bé tên là Nguyễn Sinh Cung đến khi bắt đầu hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc.

Vào cuối thế kỷ XIX, nước ta bị chủ nghĩa thực dân Pháp thống trị. Không cam chịu nô lệ, nhiều nhà yêu nước nổi tiếng như: Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, Hoàng Hoa Thám, Lương Văn Can…đứng lên cứu nước, nhưng đều bị thất bại. Người thanh niên Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của họ nhưng không thể đi theo con đường cải lương như cụ Phan Chu Trinh dựa vào Nhật để đánh đổ Pháp, chẳng khác nào “đưa hổ đi cửa trước, rước beo đi cửa sau”.

Trong cơn bế tắc giữa lúc tình hình đen tối không có đường ra, ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành lúc đó mới có 21 tuổi đã có tinh thần yêu nước, yêu dân, kiên quyết rời bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Nguyễn Tất Thành đã len lỏi trong quần chúng cần lao, trong giới thợ thuyền, những người nông dân nghèo khổ, các nông thôn hẻo lánh ở New-York, Luân Đôn, Anh, Pháp, Trung Quốc, Thái Lan…để tìm hiểu, tham gia vận động và tổ chức các phong trào cách mạng. Song, lúc đó Người chưa thể có điều kiện đầy đủ để bắt gặp Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Ở châu Âu, Chủ nghĩa Mác ra đời năm 1847-1911. Đã hơn 60 năm nhưng trên thế giới chưa có cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nào giành được thắng lợi. Những nơi mà Nguyễn Ái Quốc đặt chân đến để tìm hiểu và nghiên cứu cũng chưa có Đảng Cộng sản và trước năm 1919, Quốc tế Cộng sản chưa ra đời. Người nghiên cứu những cuộc cách mạng tư sản đã giành thắng lợi ở những nước tư bản phát triển nhất. Đó là cách mạng Mỹ năm 1776, cách mạng Pháp tháng 7-1789. Người rất khâm phục tinh thần cách mạng ở những nước này, nhưng không thể theo con đường cách mạng của họ được. Bởi vì như Người đã nói “Kách mệnh Mỹ cũng như cách mệnh Pháp nghĩa là Kách mệnh tư bản, Kách mệnh không đến nơi, tiếng là Cộng hoà, là dân chủ, kỳ thực thì nó tước đoạt công nhân, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”.

Năm 1917, Người trở lại Pháp tham gia phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Đến tháng 11 năm 1917, diễn ra một sự kiện rung chuyển toàn thế giới, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử xã hội loài người. Đó là cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi vĩ đại, mở đầu một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Năm 1920, tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc đọc văn kiện Luận Cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa . Người nói: “Bản Luận Cương làm cho tôi cảm động, phấn khởi sáng tỏ biết bao! Tôi cảm động đến phát khóc lên! Ngồi một mình trong phòng mà tôi nói to lên như nói trước quần chúng đồng bào: “Hỡi đồng bào bị đoạ đày, đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. “Tôi chỉ có sự ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc, ai cũng được học hành. Mỗi ngày đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”.

Đến giữa năm 1923, Người rời nước Pháp sang Liên Xô, trực tiếp tìm hiểu và hoạt động tại quê hương Lênin. Tại đây, Người có điều kiện thuận lợi để tiếp thủ đầy đủ Chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm hiểu kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga, quan sát trực tiếp nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới ra đời và tham gia hoạt động của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba). Nhờ đó, nhận biết của Người về lý luận và thực tiễn nói chung, kinh nghiệm của cách mạng Tháng Mười Nga sâu sắc hơn đã giải đáp đúng đắn vấn đề mà Người rất quan tâm. Đó là con đường giải phóng dân tộc bị áp bức, độc lập và tiến lên chủ nghĩa xã hội, góp phần định hướng con đường cứu nước, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trong tương lai của dân tộc Việt Nam, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh của dân tộc Việt Nam.

Từ đây, Nguyễn Ái Quốc đứng hẳn về con đường cách mạng Tháng Mười, đứng hẳn về Chủ nghĩa Mác – Lênin, đứng hẳn về Quốc tế Cộng sản. Như Người đã ghi lại trong cuốn sách Đường Kách mệnh: “Trong thế giới bây giờ chỉ có Kách mệnh Nga là thành công và công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật sự. Kách mệnh Nga đã đến được với tư bản, địa chủ, rồi lại gia sức cho công nông các nước và các dân tộc bị áp bức, các thuộc địa làm kách mệnh để lật đổ tất cả đế quốc và tư bản chủ nghĩa thế giới”.

Lập trường của Người đứng hẳn về Chủ nghĩa Mác – Lênin được ghi rõ: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, Kách mệnh nhất là Chủ nghĩa Mác – Lênin”.

Với lập trường yêu nước đúng đắn của Người đã vạch ra chân lý sáng ngời cho dân tộc Việt Nam: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường Kách mệnh xã hội chủ nghĩa”. Người còn chỉ rõ: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức”.

Sau gần 15 năm tìm đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam, đến năm 1924, Người rời nước Nga Xô viết trở về phương Đông, Quảng Châu gần tổ quốc Việt Nam để truyền bá Chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam và chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người đã vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp Chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam, đã dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3-2 năm 1930.

Đảng ta đứng đầu là Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại đã sớm giải quyết đúng đắn con đường cứu nước giải phóng dân tộc, đưa cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Từ đây dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Hồ Chủ Tịch đã động viên toàn dân, toàn quân tham gia chiến đấu giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đưa cả nước ta được hoàn toàn độc lập, thống nhất và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội đến thắng lợi rực rỡ ngày nay.
Như vậy trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh, tấm gương sáng ngời đã được thực hiện như thế nào?

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được thể hiện ở sự kết tinh truyền thống yêu nước của chủ nghĩa yêu nước, yêu dân, quyết tâm tìm bằng được con đường cứu nước, cứu dân, kiên quyết phấn đấu đem lại cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Trong quá trình đó, Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng cả đức và tài, trong đó lấy đức làm gốc. Đạo đức của Hồ Chí Minh thể hiện ở cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng phục vụ nhân dân ta, dân tộc ta.

Tấm gương đạo đức của Hồ Chí minh còn được thể hiện: Luôn luôn đứng vững trên lập trường tư tưởng của Chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng.

Tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh được tiếp tục phát triển và không ngừng nâng cao cho đến khi Người qua đời, là tấm gương sáng của Tổ quốc ta, dân tộc ta./.

Trần Đình Quảng

cpv.org.vn

Đạo đức và nhân cách: Đặc điểm số một của tư tưởng Hồ Chí Minh

Khái niệm “đạo đức” xuất hiện trong văn chương Trung Quốc rất sớm mà cho đến thời Đường, đại văn hào Hàn Dũ còn viết rằng: “Đạo đức là những từ chưa được khẳng định”. Khác với khái niệm “nhân nghĩa” đã được khẳng định rồi. Ngay bây giờ, người ta vẫn còn lờ mờ hiểu ở chỗ đó. Nếu theo Hàn Dũ thì “mỗi việc đều làm theo nhân nghĩa” thì còn gọi là đạo, còn “tự mình có thể bằng lòng với chính mình, không cần ỷ lại vào người khác” gọi là đức. Nói như Hàn Dũ cũng chưa được rõ lắm, nhưng định nghĩa của ông trong luận văn “Nguyên đạo” gợi được nhiều ý. Đạo của Nho là nhân nghĩa, Đạo của Phật là từ bi cứu khổ.

Đạo đức của Cụ Hồ như lời của Phạm Văn Đồng nói là: Trung với nước, hiếu với dân, là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, trong đó trung với nước, hiếu với dân thuộc về đạo, nói một cách khác đó là độc lập, chủ nghĩa xã hội; còn cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư là thuộc về đức, là bộ phận quan trọng của đức, đức trong tư tưởng của Cụ Hồ còn rộng lớn hơn nhiều, đức có thể được định nghĩa như là những tính con người cần phải rèn luyện để thực hiện cái đạo cơ bản hơn. Cái ý của Hàn Dũ rằng: “Tự mình có thể bằng lòng với chính mình, không cần ỷ lại vào người khác gọi là đức”, có lẽ như vậy. Đạo là gốc rễ, đức là thân cành hoa quả, như vậy có đức thì đạo mới được thực hiện, có đạo thì đức mới nảy sinh và phát huy tác dụng.

Khi Cụ Hồ từ trần, thì ở Pháp rộ lên một loạt bài báo của những nhân vật tiếng tăm tuyên dương Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà lãnh tụ Cộng sản trên thế giới, đã đặc biệt chú trọng đến vấn đề đạo đức trong lý luận và trong thực tiễn, không vị lãnh tụ nào sánh bằng. Họ nhấn mạnh Hồ Chủ tịch của chúng ta đã đặt vị trí “ưu tiên cho đạo đức”. Và họ tìm cách cắt nghĩa cái điều hơi lạ ấy. Đối với họ sở dĩ như vậy là do ông Hồ chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Khổng Mạnh. Tôi đồng ý hoàn toàn với họ rằng Cụ Hồ là vị lãnh tụ Cách mạng đã đặt đạo đức ở “vị trí ưu tiên”. Tôi cũng đồng tình rằng tinh túy của tư tưởng Khổng Mạnh còn ảnh hưởng tích cực ở Việt, nhưng tôi cho rằng sở dĩ ở Việt Nam cả trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến, đạo đức được đặt ở vị trí ưu tiên và trước hết, điều ấy thuộc truyền thống dân tộc của một đất nước trong 2000 năm đã phải hằng mấy chục lần chống trả những kẻ xâm lược lớn mạnh hơn mình gấp bội. Muốn tồn tại, dân tộc Việt Nam không thể cậy vào số người mà phải dưa vào những con người chiến đấu. Lâu đời thành nếp tư tưởng quý trọng bậc nhất đạo đức, nhân cách, tính kiên cường bất khuất, đức quên mình vì nước vì dân… Đạo đức Cụ Hồ là đạo đức truyền thống Việt Nam. Ngày Lê-nin từ trần (1924) Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng sở dĩ các dân tộc Đông phương kính mến Lê-nin vì vị thầy của Cách mạng giải phóng dân tộc là một người: “Khinh thường xa hoa, yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị”. Cho nên khi mở lớp đào tạo cán bộ đầu tiên (1925), Hồ Chí Minh đã đặt ra 23 điều tư cách của người chiến sỹ được ghi trên trang đầu của sách giáo khoa “Đường Kách mệnh”. Chính vì vậy nên trong số các tiêu chuẩn bầu anh hùng quân đội trong kháng chiến, thì tiêu chuẩn đạo đức nhân cách được đặt lên hàng đầu trước cả những thành tích kỳ diệu.

Cán bộ hiện nay gồm có cả tài lẫn đức thì ước mong gì hơn? Nhưng nếu phải khiếm tài thì còn có thể hữu ích, chớ thiếu đức thì dùng vào đâu được?.

Theo GS. Trần Văn Giàu
(Tạp chí Tia sáng)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đạo đức Hồ Chí Minh – một kiểu mẫu về sự nhất quán giữa tư tưởng và hành động

1. Quan niệm về đạo đức Hồ Chí Minh 

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một người cộng sản mẫu mực, kiên định trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa quốc tế chân chính của giai cấp công nhân cách mạng.

Đó là đạo đức của người chiến sĩ suốt đời đấu tranh, dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Do đó, đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, đạo đức hành động vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Khi trả lời một nhà báo nước ngoài về điều quan tâm lớn nhất của mình trên cương vị người đứng đầu Nhà nước, Hồ Chí Minh đã nói: độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho đồng bào. Đó là tất cả những gì Người mong muốn và hiểu biết. Với Hồ Chí Minh, đó chính là điều ham muốn, ham muốn tột bậc của mình, sao cho nước nhà được độc lập, nhân dân có tự do, có cơm ăn, áo mặc, được học hành, được sống một cuộc sống hạnh phúc. Ở đây, cái cụ thể, thiết thực và giản dị nhất mang hình ảnh biểu đạt cái lớn lao, cái vô giá, sâu xa nhất của cuộc sống con người, của sự phát triển và hoàn thiện nhân tính trong đời sống dân tộc và xã hội. Độc lập – Tự do – Hạnh phúc, đó là hệ giá trị chủ đạo của mục tiêu Giải phóng và Phát triển. Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội là con đường lớn lao của lịch sử mà thời đại mới đã vạch ra, là quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam mà Hồ Chí Minh đã nhận thức được và dẫn dắt toàn dân tộc đi tới. Với hệ giá trị mục tiêu và phương thức thực hiện mục tiêu đó, Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng Việt Nam đi vào quỹ đạo cách mạng của thời đại và sự phát triển của dân tộc Việt Nam hợp với trào lưu, xu thế của thế giới hiện đại. Thực hiện một đường lối chính trị lớn như vậy đòi hỏi Đảng cách mạng, người cách mạng phải có trí tuệ lớn và đạo đức lớn. “Đường Cách mệnh”(1927) của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ngay từ khi Đảng chưa ra đời đã nói tới hai điều hệ trọng: “phải giữ chủ nghĩa cho vững” và “ít lòng ham muốn về vật chất”. Suy đến cùng, đây là chỗ cao sâu nhất mà cũng là thử thách khó khăn nhất của đời người. Thời gian càng lùi xa, lịch sử càng chất chứa những biến cố thăng trầm, phong trào Cách mạng càng phát triển thì dự cảm nêu trên của Người chứng tỏ rõ tính đúng đắn và sáng suốt biết bao. Đó là tính đúng đắn của chân lý và sự sáng suốt của lịch sử.

Đạo đức cách mạng, đạo đức hành động Hồ Chí Minh là cả một hệ thống lý thuyết tư tưởng phong phú và tinh tế, nổi bật các đức tính, chuẩn mực, các nguyên tắc ứng xử, lại được diễn tả cô đọng hàm xúc trong hình thức tối thiểu của ngôn từ. Đó là “Cần, kiệm, liêm, chính” – bốn đức tính để làm người mà thiếu một đức thì không thành người, có đủ cả bốn đức mới là người hoàn toàn .

Đó là, nguyên tắc ứng xử chí công vô tư, là bản lĩnh biết quên mình, biết vượt qua những vướng bận toan tính cá nhân để vì người chứ không vì mình, vị tha chứ không vị kỷ. Bản lĩnh này là sức mạnh bền bỉ để đánh bại chủ nghĩa cá nhân, chiến thắng giặc nội xâm, suốt đời tu dưỡng đạo đức cách mạng, coi phục vụ nhân dân là phục tùng một chân lý lớn nhất, là lẽ sống cao thượng nhất. Trên phương diện đời sống cá nhân, trong quan niệm giữa con người – chủ thể hoạt động với cá nhân chủ thể mang nhân cách, đây là cuộc hành trình tới Tự do. Sự hoàn thiện đạo đức là một bản lĩnh văn hoá dẫn tới nhân cách của con người tự do và làm chủ. Xưa nay, khó khăn lớn nhất vẫn là khó khăn tự vượt qua chính bản thân mình.

Triết lý đạo đức Hồ Chí Minh “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” sâu xa là vì vậy.

Người không chỉ nhận rõ chân giá trị ấy mà Người còn tự mình thực hiện một cách triệt để, nhất quán trong cả cuộc đời mình. Nội dung đạo đức trong “Di chúc” nổi bật tư tưởng lớn: tu dưỡng đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân.

Bài báo cuối cùng Người viết cũng vẫn chủ đề ấy, theo đuổi đến cùng tư tưởng đạo đức ấy.

Người không chỉ thực hành và nêu gương mà còn làm hết sức mình, công phu rèn luyện, giáo dục đạo đức cách mạng cho lớp lớp cán bộ, đảng viên, cho quần chúng nhân dân ở mọi tầng lớp, nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính. Việc ”trồng người” là việc của lợi ích trăm năm, của chiến lược xây dựng một xã hội văn hóa cao, phải công phu tỷ mỷ, phải dựa trên một nguyên tắc ứng xử thấm nhuần sâu sắc chất nhân văn, phải có tấm lòng nhân ái bao la, khoan dung độ lượng và độ lượng vĩ đại. Có nâng niu giá trị con người, có tôn trọng nhân cách và lòng tin cậy chân thành đối với con người thì mới có sức mạnh cảm hóa, thuyết phục lòng người.

Làm cho cái hay, cái tốt ở mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân còn cái dở, cái xấu sẽ mất dần đi. Khoa học và Nghệ thuật giáo dục con người của Hồ Chí Minh có nội dung bao trùm và chủ đạo là giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng.

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng đạo đức gắn liền mật thiết với tư tưởng về văn hoá chiếm một vị trí nổi bật, có giá trị bền vững với những đặc tính sáng tạo độc đáo cần được cảm thụ để tự nhận mình và tự giáo dục mình theo gương sáng của Người. Trên phương diện này (đạo đức), Hồ Chí Minh là một nhà đạo đức học. Người không phải là nhà đạo đức học hàn lâm, kinh viện mà là một nhà đạo đức học thực hành, thực hành một cách biện chứng, sáng suốt, đầy chất trí tuệ và nhân văn. Lý thuyết đạo đức Hồ Chí Minh chuyển vào thực tiễn đạo đức xã hội mà đời sống đạo đức của Người như một tấm gương sáng tiêu biểu về đạo đức. Đó là một nét riêng, tính đặc thù riêng, in đậm dấu ấn, phong cách riêng của Hồ Chí Minh. Người vẫn thường căn dặn chúng ta, nói ít làm nhiều, cái chủ yếu là hành động. Chỉ nói và viết khi cần thiết, lại phải nói và viết ngắn gọn, giản dị sao cho quần chúng dễ hiểu. Hiểu để làm, để làm đúng và làm tốt. Hơn nữa, để quần chúng noi theo, làm theo thì mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu làm trước, đã nói thì phải làm, lời nói đi đôi với việc làm.

Đây là thước đo tính trung thực đạo đức, là sự thành thật, là ”thật thà nhúng tay vào việc” (Dân vận, 1949). Cái bản chất chân chính của Khoa học đạo đức gặp nhau ở đó – cái ”Chân” xa lạ, đối lập với cái “giả”. Đạo đức hành động vì mưu cầu tự do, hạnh phúc cho con người là động lực tinh thần thúc đẩy hành động quên mình, dũng cảm, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng những người lao động ra khỏi tình cảnh nô lệ, thực hiện tự do và làm chủ. Nó bắt gặp và thực hiện khát vọng giải phóng của muôn triệu người tự muôn đời. Đạo đức ấy và thực hành đạo đức ấy hợp với lòng dân, được dân chúng noi theo, trái lại, thói giả đạo đức là một trong những điều tệ hại nhất, mất lòng tin nhiều nhất của dân chúng. Người nói, một tấm gương tốt quý giá hơn hàng trăm bài diễn văn là vì vậy.

Như thế, đạo đức Hồ Chí Minh và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh hệ thống nhất nhưng không đồng nhất. Tư tưởng đạo đức là phần lý luận, là triết lý của Người. Ngoài bộ phận cốt yếu ấy, thuộc về nhận thức, đạo đức Hồ Chí Minh còn là phương pháp giáo dục và thực hành đạo đức mà Người đặc biệt chú trọng trong thực tiễn, trong lối sống, ứng xử, trong quan hệ con người, trong các công việc thực tế để rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Đạo đức Hồ Chí Minh còn có một phương diện, một cấp độ nữa, đó là đời sống đạo đức của bản thân Người với tư cách là một con người bình thường giữa muôn người khác, dù hết sức vĩ đại nhưng lúc nào và ở đâu, Người cũng chỉ coi mình là một con người bình thường giữa muôn người khác. Bỏ qua phương diện này trong nghiên cứu sẽ là một thiếu hụt lớn, sẽ không thể hình dung được sự sâu sắc, phong phú, đa dạng trong tư tưởng và sự nghiệp của Người, trong thế giới tinh thần, lối sống và nhân cách của Người.

Tổng hợp cả ba phương diện ấy, nhìn nhận từ ba chiều cạnh ấy, trong sự thống nhất tư tưởng với phương pháp, lý luận với thực tiễn mới có thể nhận thức đầy đủ Đạo đức Hồ Chí Minh

Có một vấn đề cần lưu ý trong nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là muốn hiểu đúng tư tưởng của Người, trong đó có tư tưởng về đạo đức, thì không chỉ dừng lại ở phân tích các văn phẩm, tác phẩm của Hồ Chí Minh, nhất là khi sự tinh tuý và thâm thuý trong tư tưởng của Người lại không nằm ở trong lời văn, câu chữ mà vượt lên và thoát ra khỏi những lời, những chữ Người nói, Người viết. Cùng với điều đó còn phải đặc biệt chú trọng tìm hiểu nghiên cứu đời sống đạo đức của Người, hoạt động thực tiễn phong phú, đa dạng của Người, sự phong phú của các mối quan hệ giữa Người với Dân, với Đảng, với các địa phương, vùng, miền trong cả nước, với các bạn bè quốc tế, tình cảm yêu mến, sự kính trọng và lòng ngưỡng mộ của nhân dân ta và nhân dân các dân tộc trên thế giới dành cho Người.

Chỉ như vậy chúng ta mới hiểu được đạo đức Hồ Chí Minh – một kiểu mẫu về sự nhất quán giữa tư tưởng và hành động.

Đạo đức Hồ Chí Minh cho ta hiểu thêm một phương diện đặc sắc trong cuộc đời và sự nghiệp của một nhà tư tưởng Mác xít sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam, một trí tuệ lớn và một nhân cách lớn, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất thế giới.

Đạo đức Hồ Chí Minh tiêu biểu cho truyền thống đạo đức và tinll hoa Văn hoá dân tộc, là sự kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại, hiện thân của các giá trị Văn hoá Chân – Thiện – Mỹ trong thời đại mới, thời đại của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là thời đại Hồ Chí Minh, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc ta.

Đạo đức Hồ Chí Minh cùng với tư tưởng và sự nghiệp của Người mãi mãi là di sản tinh thần vô giá đối với các thế hệ người Việt Nam và dân tộc Việt Nam, mãi mãi có mặt trong hành trang của chúng ta trên con đường đi tới thắng lợi của đổi mới và CNXH.

2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh 

– Tư tưởng về đạo đức có thể nói đó là hợp điểm tư tưởng về con người và tư tưởng về văn hoá của Hồ Chí Minh.

– Với con người, Hồ Chí Minh coi đạo đức là gốc, là cái quan trọng nhất quyết định tính cách, tức là nhân cách. Đức phải gắn với tài và tài phải có đức đảm bảo. Theo Người, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, còn có tài mà không có đức sẽ không làm được điều ích lợi cho đời , thậm chí còn có hại, sinh ra những thói xấu như kiêu căng, tự mãn, ích kỷ rồi thành hư hỏng, có khi phạm tội. Bởi thế, Người đòi hỏi có đức phải có tài và có tài phải có đức.

Người thường gọi đức và tài là hồng và chuyên, là chính trị và chuyên môn. Trước hết phải có chính trị rồi có chuyên môn, do nhờ bền bỉ rèn luyện, khiêm tốn học hỏi, nhất là tự học tập suốt đời, học tập đi liền với lao động và tranh đấu. Chính trị là hồn, chuyên môn là xác. Cán bộ, công chức phải thạo chính trị, giỏi chuyên môn. Lãnh đạo việc gì, ngành nào phải am hiểu kỹ chuyên môn việc ấy, ngành ấy, có như vậy lãnh đạo mới có kết quả, mới tạo được nhất trí, đồng thuận.

Văn hóa có cốt lõi của nó là ở đạo đức. Thiện- Ác, Tốt- Xấu, hay- dở đều có ở con người và phần nhiều là kết quả của giáo dục. Tuỳ thuộc ở môi trường, hoàn cảnh và giáo dục như thế nào mà con người có thể tốt hay xấu. Do đó, giáo dục trước hết và chủ yếu là giáo dục đạo đức, sửa chữa, cải tạo cái xấu, vun trồng, tập luyện cái tốt. Người xác định học để làm việc, làm người, học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp – dân tộc – nhân loại . Người đặc biệt chú trọng tới các đức tính mà giáo dục các đức tính thì phải chăm lo từ bé, có sự chỉ dẫn tỷ mỷ, chu đáo, nêu gương của các thầy giáo, cô giáo. Giáo dục nhà trường là trung tâm để hình thành nhân cách. Song phải có hỗ trợ lẫn nhau giữa giáo dục gia đình – nhà trường và xã hội.

Đạo đức và giáo dục thực hành đạo đức là vấn đề của Văn hóa. Sự yếu kém, thiếu hụt đạo đức có thể làm thương tổn xã hội, dẫn tới những phản đạo đức và phản văn hóa. Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục thực hành đạo đức đều mang ý nghĩa Văn hoá đạo đức, thấm vào nhận thức, tình cảm, vào hành vi, lối sống, sự ứng xử của con người, giữa người với người trong xã hội.

– Chiếm vị trí trung tâm trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức Cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân bằng cách ra sức rèn luyện, đạo đức cách mạng.

– Theo Hồ Chí Minh, đạo đức Cách mạng là đạo đức mới mang bản chất giai cấp công nhân và thấm nhuần những gì tốt đẹp nhất của đạo đức dân tộc và phát huy truyền thống đạo đức dân tộc. Người đã kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền thống như: yêu nước, thương dân, đoàn kết cộng đồng, lòng nhân ái, tình thương yêu đồng loại, ngay thẳng, thủy chung, can đảm. Người cũng phê phán, cải tạo những mặt tiêu cực của đạo đức phong kiến, những mặt tiêu cực của đạo đức Nho giáo như: thói nhẫn nhục cam chịu, thụ động, những thành kiến đối với lao động chân tay, bất bình đẳng với phụ nữ, những quy định khắt khe, những hủ tục làm lệch lạc nhân cách con người. Đặc biệt, Người đòi hỏi phải xoá bỏ những tàn dư của đạo đức phong kiến thực dân đã lạc hậu, lỗi thời, thậm chí là những nọc độc, đầu độc tinh thần con người, nhất là đầu óc nô lệ, chủ nghĩa vị kỷ, hưởng lạc, chủ nghĩa cá nhân cực đoan, lối sống tư sản. Đó là thứ đạo đức chẳng những cản trở xã hội phát triển mà còn làm lệch lạc tâm hồn con người, đánh mất nhân tính.

– Là nhà cách tân, đổi mới, Người đã cách mạng hoá quan niệm đạo đức, đã đưa đạo đức mới, chủ nghĩa nhân đạo cách mạng và tinh thần nhân văn cách mạng vào đạo đức và đời sống đạo đức. Người sử dụng hình thức cũ của những khái niệm, phạm trù đạo đức nhưng đưa vào đó những nội dung hiện đại, nội dung đạo đức cách mạng, đạo đức hành động vì dân, hướng tới dân.

– Bên cạnh cần kiệm liêm chính, Người còn nói tới Nhân – Trí – dũng – Liêm – Trung, tinh thần hy sinh, lòng dũng cảm, khí tiết đạo đức cao quý của ông cha ta, sự đề cao trí tuệ, phẩm giá con người. Vận dụng phương châm xử thế của người xưa, Người nói rõ đạo đức công dân, trách nhiệm công dân và thái độ ứng xử đối với dân, gắn liền trách nhiệm và lợi ích, quyền và nghĩa vụ. Với Hồ Chí Minh, chính trị là đoàn kết và thanh khiết, từ việc nhỏ tới việc lớn. Theo Hồ Chí Minh, phải xây dựng Đảng chân chính cách mạng, làm cho Đảng trở thành Đảng của đạo đức và văn minh. Đạo đức cách mạng trong Đảng, trong cán bộ, đảng viên, nhất là ở những người lãnh đạo, cầm quyền là hạt nhân của đạo đức cách mạng – một nền đạo đức mới tiêu biểu cho xã hội mới.

– Điều quan trọng và thiết thực là ở chỗ, Người chỉ rõ: phải thực hành đạo đức cách mạng trong công việc, trong tổ chức, trong phong trào thi đua yêu nước, trong lối sống và hành vi của cán bộ công chức đặc biệt là những người lãnh đạo có chức có quyền. Chú trọng bồi dưỡng tình cảm cách mạng, đem những nội dung mới, tinh thần đổi mới và quyết tâm đổi mới để xây dựng đạo đức cách mạng. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới làm nên sự nghiệp. Cán bộ phải tích cực gần gũi mật thiết với quần chúng như máu với thịt, như cá với nước.

Người căn dặn cán bộ đảng viên, dù bất cứ ở cương vị gì, giữ trọng trách gì cũng phải luôn sâu sát dân và hướng tới dân, vì dân. Phải tận trung với nước, tận hiếu với dân, làm đầy tớ và công bộc của dân, do đó phải dân chủ, không rơi vào ”quan chủ”, là đầy tớ chứ không phải lên mặt quan cách mạng”. Làm điều lợi cho dân, tránh điều hại cho dân dù chỉ là một cái hại nhỏ. Không đảm bảo công bằng làm cho lòng dân không yên thì đó là điều nguy hại cho chế độ.

– Đạo đức cách mạng ở trong Đảng đòi hỏi phải nêu cao tính tiên phong gương mẫu, đấu tranh phê bình và tự phê bình, có lý có tình, thấu tình đạt lý, ăn ở với nhau có tình có nghĩa, phải có tình thương yêu đồng chí, giữ gìn sự sự đoàn kết trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Công chức nhà nước phải tận tâm tận lực với công việc, chấp hành luật pháp, tôn trọng kỷ luật công vụ, thi hành đạo đức công chức.

Ai nấy đều biết 6 điều Người dạy Công an nhân dân, trong đó có những lời thấm thía: với chính phủ phải tuyệt đối trung thành, với dân phải kính trọng lễ phép. Đây là những lời dạy chung cho tất cả mọi người, thấm nhuần đạo đức và văn hoá đạo đức mà nổi bật là Văn hóa trọng dân và trọng pháp.

– 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng với những nội dung: yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động, khiêm tốn, thật thà, dũng cảm là những bài học chuẩn bị cho thế hệ trẻ vào đời làm công dân tốt của nhà nước, làm chiến sĩ trung thành của chế độ.

Đạo đức cách mạng còn đòi hỏi tẩy trừ những thói xấu: tệ lãng phí, quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí là không thương dân, mỗi đồng tiền bát gạo mà chúng ta tiêu dùng đều từ mồ hôi nước mắt của dân, thương dân thì phải tiết kiệm. Tham ô là ăn cắp của công, ăn cắp của dân, là có tội với dân, là tội ác và kẻ thù của chế độ mới. Thực hành đạo đức cách mạng thì phải ra sức đấu tranh chống quan liêu tham nhũng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Đó là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ chống lại những thói hư tật xấu trong con người mình, cuộc đấu tranh đó âm thầm và quyết liệt, có không ít sự đau đớn ở trong lòng.

– Đạo đức cách mạng đối với tuổi trẻ, với thanh niên càng trở nên quan trọng để nuôi dưỡng hoài bão, chí khí lớn, nghị lực đấu tranh cho chân lý, đạo lý, tình thương, lẽ phải. Trung thực – Khiêm tốn – Đoàn kết – Vị tha- Nhân ái – Khoan dung, đó là những đức tính và giá trị đạo đực mà Người ra sức thực hiện ở mỗi con người. Lại có một điều thấm thía khác. Người căn dặn thanh niên: tuổi trẻ phải có chí tiến thủ, hoài bão lo việc lớn, vì nước vì dân trẻ phải biết tránh xa danh vọng, quyền lực vì những cái đó dễ làm hư hỏng con người.

Người không chỉ nêu lên những nội dung phong phú của đạo đức cách mạng mà còn gợi mở bao điều quý giá khác về giáo dục, thực hiện đạo đức cách mạng. Theo Người, phương pháp phải thích hợp, mềm dẻo, linh hoạt, đã đúng lại còn phải khéo nữa thì mới có sức thuyết phục lòng người.

Người đã nâng phương pháp giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng lên tầm phương pháp tư tưởng, lên trình độ khoa học và nghệ thuật, có sức lôi cuốn, thuyết phục mạnh mẽ lòng người ở mọi đối tượng, tầng lớp, thế hệ.

Như đã nói ở trên, sức thuyết phục mạnh mẽ của đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ ở trí tuệ, tư tưởng mà còn là ở sự khéo léo, tinh tế nhất là ở tấm gương trong sáng, mẫu mực về đạo đức của Người trong đời sống đạo đức hàng ngày.

Người đã thực hiện nhất quán giữa tư tưởng đạo đức và hành động đạo đức. Suốt một đời tận tụy vì dân, vì nước, Người là biểu tượng cao quý của đức hy sinh, lo cho dân, sống vì dân, thấu hiểu dân tình, dân sinh, dân ý, trở thành lãnh tụ của dân, thân dân và chính tâm. Tình thương yêu rộng lớn của Người đối với nhân dân, đồng bào là không bao giờ thay đổi. Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, đó là phương châm ứng xử và hành động của Người.

Người là lãnh tụ gần dân, sống trong lòng dân, đến với dân chân tình cởi mở, không một chút nào xa lạ, quan cách.

Người sống một cuộc sống đạm bạc, đồng cảm với dân, làm tất cả những gì có thể làm được để chăm lo cuộc sống hàng ngày những lợi ích thường nhật của dân.

Người tiếp xúc với mọi tầng lớp nhân dân từ chính khách, trí thức cao cấp tới dân thường để mưu cầu hạnh phúc thiết thân hàng ngày của họ. Người trung thành đến cùng với mục tiêu lý tưởng đã theo đuổi mà thực chất là để cho mọi người dân được sống trong độc lập tự do, có độc lập tự do thì mới có hạnh phúc. Vì thế, Người đảm nhận chức vụ lãnh đạo trong sự tín nhiệm tuyệt đối của dân mà vẫn chỉ nghĩ đó là bổn phận, trách nhiệm công dân của mình, giống như một người lính vâng lệnh quốc dân đồng bào ra mặt trận mà thôi.

Người đã có biết bao nhiêu chuyến đi công tác ở trong và ngoài nước. Đến đâu, Người cũng giản dị tự nhiên quan tâm thực sự tới cuộc sống của dân chúng, ân cần, chu đáo, chăm lo cho tất cả, chỉ quên mình. Trong trái tim của mỗi người Việt Nam thuộc các thế hệ khác nhau, Hồ Chí Minh là đồng nghĩa với sự kính yêu, biết ơn, ngưỡng mộ. Với đạo đức, nhân cách của Người, ngay đến kẻ thù cũng phải nể trọng.

Cho đến những năm cuối đời, Người còn trực tiếp làm việc với Hội nghị ngành Than, tìm hiểu cặn kẽ vì sao ngành kinh tế – kỹ thuật công nghệ này lại có chiều hướng giảm sút và phải vực dậy như thế nào. Người trực tiếp sửa chữa điều lệ Hợp tác xã nông nghiệp và trong bản thảo Di chúc còn ghi, Người chủ trương miễn thuế nông nghiệp cho bà con nông dân để bà con yên tâm phấn khởi sản xuất. Ước nguyện của Người đã thành sự thật. Người học được bài học an dân trị quốc của ông cha ta, lo an sinh để an dân. Người làm việc với Ban Tuyên huấn Trung ương (nay là Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương) để bàn về cuộc vận động người tốt việc tốt… cho đến phút cuối cùng trên giường bệnh, Người vẫn lo cho dân nơi lũ lụt, mong tin chiến trường miền Nam thắng lớn. Muôn vàn tình thương của Người để lại cho đời, chỉ riêng Người “quên nỗi mình đau để nhở chung”… “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”. . .Một Con người với đạo đức và Nhân cách như thế đã đi vào lịch sử, bất tử trong lòng dân.

3. Thực hành đạo đức Cách mạng theo gương sáng đạo đức Hồ Chí Minh 

Hồ Chí Minh đi vào cõi vĩnh hằng, trở về với thế giới Người Hiền đã hơn l/3 thế kỷ nay. Sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã gần 20 năm, tính từ Đại hội VI ( l2 /l986 ) đến nay.

Khoảng thời gian đó đã đủ để sinh thành một thế hệ. Người đã đi xa nhưng ai cũng cảm thấy như Người vẫn ở bên cạnh chúng ta, cổ vũ khuyến khích những việc làm tốt, nhắc nhở giúp đỡ chúng ta những yếu kém, hạn chế, sửa chữa những khuyết điểm sai lầm để tiến bộ trưởng thành.

Trong thời kỳ phát triển mới hiện nay của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã xác định: Phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hoá trở thành nền tảng tinh thần của xã hội. Bất cứ một lĩnh vực nào của đời sống xã hội, bất cứ một hoạt động nào của tổ chức và cá nhân một người, đạo đức cũng thể hiện vai trò quan trọng của nó.

Thiếu vắng hoặc yếu kém về đạo đức, con người không có nhân tính đầy đủ, không phát triển được nhân tính để thành người và làm người.

Suy thoái đạo đức, xã hội không thể phát triển bền vững trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế đến chính trị, văn hoá và xã hội.

Trong hệ thống các động lực phát triển xã hội, đạo đức là một động lực tinh thần không thể thiếu. Chúng ta đang đấu tranh quyết liệt chống quan liêu tham nhũng như một trọng bệnh, như một quốc nạn để đảm bảo môi trường xã hội – nhân văn lành mạnh cho sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị và đồng thuận xã hội.

Tình hình đó đòi hỏi phải chú trọng xây dựng đạo đức xã hội và giáo dục tu dưỡng đạo đức cá nhân. Vào lúc này, thực hành đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, noi theo tấm gương sáng đạo đức Hồ Chí Minh trở nên vô cùng cấp thiết, bức xúc. Đó còn là vấn đề cơ bản, lâu dài dối với sự phát triển, hiện đại hoá xã hội ở nước ta.

Trước hết đó là thực hành đạo đức cách mạng trong Đảng, từ cán bộ đảng viên đến các tổ chức đảng.

Đó còn là giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng trong đội ngũ công chức của Nhà nước. Càng đi vào xây dựng Nhà nước pháp quyền càng phải chú trọng tới đạo đức công chức, đạo đức công dân. Đó là đảm bảo cho đạo đức xã hội và tăng cường tính nhân văn của pháp quyền dân chủ. Giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ, cho thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên cũng như giới trí thức, văn nghệ sĩ cũng là một đối tượng xã hội cần đặc biệt quan tâm. Đi vào kinh tế thị trường, xây dựng đạo đức của tầng lớp doanh nhân, của người sản xuất kinh doanh cùng với pháp luật sẽ đảm bảo cho văn hoá kinh doanh định hình và phát triển. Việc thực hành đạo đức cách mạng theo gương sáng đạo đức Hồ Chí Minh như vậy sẽ bao quát toàn diện các đối tượng xã hội, từ trong Đảng, trong Nhà nước tới các cộng đồng dân cư. Nói đi đôi với làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thống nhất nhận thức với hành động hướng tới cơ sở, tới dân chúng là mục đích và thước đo tính trung thực đạo đức mà chúng ta cần đạt tới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh./.

GS.TS Hoàng Chí Bảo
Tạp chí Lịch sử Đảng, số 5 năm 2005

“Nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn” – tư duy, phong cách, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Nếu nói nhiều, làm ít, hoặc nói mà không làm, hơn nữa nói một đằng làm một nẻo thì giá trị đạo đức đó bị xem thường, thiếu niềm tin. Suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã giáo dục cho mọi người và chính bản thân Người đã thực hiện điều này một cách nghiêm túc và đẩy đủ nhất.

Trong giáo dục rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên Người nói: Nếu cán bộ, đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí thì khác nào “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, như vậy thì không thể lãnh đạo quần chúng, không thể làm được cách mạng; đối với cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội, Người dạy “quân lệnh như sơn” nghĩa là lệnh cấp trên đã ra thì vô luận thế nào cũng phải thi hành; trong gia đình lời nói, việc làm mẫu mực của cha mẹ có ảnh hưởng giáo dục rất quan trọng đối với các con, của anh chị đối với các em; trong nhà trường là tấm gương của thầy, cô giáo đối với học sinh; trong tổ chức, tập thể đó là tấm gương của những người phụ trách, lãnh đạo cấp trên đối với cấp dưới; trong xã hội đó là tấm gương của người này đối với người khác, v.v… Sinh thời, Người thường phê phán những cán bộ, đảng viên nói một đàng, nhưng làm một nẻo, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, thậm chí nói suông mà không làm. Người nêu kinh nghiệm trong sử dụng cán bộ: “những người hay khoe khoang công việc, hay a dua, tìm việc nhỏ mà làm, tránh việc lớn, trước mặt thì theo mệnh lệnh, sau lưng thì trái mệnh lệnh, hay công kích, ghen tị với người khác, tự tâng bốc mình, … những người như thế, tuy họ làm được việc, cũng không phải là cán bộ tốt”. Theo Người, lời nói đi đôi với việc làm, học đi đôi với hành là phẩm chất của người cán bộ, đảng viên. Nó thể hiện lòng trung thực, ngay thẳng, thật thà trong công việc. Người cho rằng, một cán bộ, đảng viên tốt, khi được giao việc thì phải làm đến nơi đến chốn, tìm mọi cách khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ; tuyệt đối không được “đánh trống bỏ dùi”, nếu thấy công việc quá sức mình thì phải thỉnh thị báo cáo kịp thời để cấp trên phân công cho người khác. Người rất quý trọng những cán bộ, đảng viên có tinh thần thái độ làm việc tận tâm tận lực, ngay thẳng, nói đi liền với làm, nói ít làm nhiều, cầu thị, không khoe khoang, dấu dốt, không che dấu khuyết điểm, không chọn việc dễ, tránh việc khó, bất kỳ trong hoàn cảnh nào, lòng dạ không thay đổi. Những cán bộ như thế theo Người dù trong công tác họ có kém một chút nhưng cũng là cán bộ tốt cần được khuyến khích sử dụng.

Học tập tư tưởng tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 20 năm đổi mới, với quan điểm lãnh đạo và đường lối đúng đắn, sáng tạo, quyết tâm thực hiện bằng được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Đảng và Nhà nước đã tạo được bước đột phá về phát triển kinh tế – xã hội, đất nước đang trên đường thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu. Kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng đạt được những thành tựu to lớn. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện và ngày một nâng cao. Sau khi gia nhập WTO nước ta sẽ có nhiều cơ hội phát triển phồn thịnh; điều đáng ghi nhận là: những năm qua học tập phong cách “nói đi đôi với làm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh các cấp lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương đã thực sự quan tâm đề cao, nhiều tổ chức cơ sở đảng ở cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp… giữa chủ trương đề ra và biện pháp tổ chức thực hiện có sự thống nhất, quyết tâm cao, phát huy được sáng kiến, quy tụ được lòng tin của cán bộ, đảng viên và quần chúng trong tổ chức thực hiện, góp phần đưa Nghị quyết của Đảng dần đi vào cuộc sống. Đã xuất hiện thêm nhiều giá trị đạo đức mới trong đội ngũ cán bộ, đảng viên như sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, quyết tâm vượt khó, quyết chí làm giàu, đoàn kết giúp nhau cùng phát triển, xây dựng nếp sống trong sạch lành mạnh…

Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, bên cạnh những ưu điểm, thì một trong những khuyết điểm, yếu kém mà Đảng ta mạnh dạn chỉ ra là: “Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, khả năng nhận thức, vận dụng, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và cấp ủy cấp trên của nhiều tổ chức cơ sở đảng còn yếu, chưa đủ sức phát hiện, giải quyết những vấn đề phức tạp xảy ra ở cơ sở; có tổ chức cơ sở đảng bị mất sức chiến đấu… cá biệt có tổ chức cơ sở đảng mờ nhạt, có nơi chỉ tồn tại trên danh nghĩa; một số cấp ủy, cán bộ đảng viên còn làm theo, ủng hộ cho những việc làm sai trái, vi phạm pháp luật của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp…”. Một thực trạng đáng buồn hiện nay là: một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; giữa “lời nói không đi đôi với việc làm” gia trưởng, quan liêu, xa dân, lợi dụng chức quyền tham ô, tham nhũng, làm giàu bất chính. Tệ hại hơn còn có những cán bộ, đảng viên có cương vị lãnh đạo hẳn hoi miệng luôn nói lời cao đạo, giáo huấn, mị dân nhưng tư tưởng và việc làm thì cầu danh, trục lợi, chuyên quyền, độc đoán, đứng trên tập thể, trên quần chúng, đầu óc mang nặng tư lợi cá nhân, việc gì có lợi cho mình tìm đủ mọi cách để chiếm đoạt, việc gì không có lợi thì thờ ơ, lãnh đạm; lợi dụng dân chủ để kéo bè, kết cánh, mưu toan đấu đá, thanh lọc lẫn nhau làm rối loạn kỷ cương… đã đem lại không ít những vấn đề làm cho toàn xã hội và chúng tap hải băn khoăn lo lắng.

Hiện nay, toàn Đảng đang quán triệt và tổ chức thực hiện các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa X của Đảng gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thiết nghĩ rằng, đối với mỗi tổ chức Đảng khi nghị quyết việc gì phải được bàn bạc thống nhất trong tập thể, cân nhắc thận trọng. Khi đã ra Nghị quyết rồi thì phải kiên quyết thi hành, đảng viên trong chi bộ phải nghiêm túc thực hiện, nếu cố tình làm sai nghị quyết, quy chế, quy định của Đảng phải chịu kỷ luật; mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức ở bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào cũng cần phải tích cực lao động, học tập, công tác với tinh thần sáng tạo, có năng xuất, chất lượng, hiệu quả cao; biết quý trọng công sức lao động và tài sản của tập thể, của nhân dân, không xa hoa, lãng phí, không phô trương hình thức; kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, chạy theo danh vọng, địa vị, tiền tài; lạm dụng chức quyền để chiếm đoạt của công, thu vén cho cá nhân, gia đình. Ở bất cứ cương vị lãnh đạo nào khi làm việc gì trước hết phải vì tập thể, vì nhân dân, phải đề cao trách nhiệm không tham lam, vụ lợi, khắc phục thói vô cảm, lãnh đạm, thờ ơ trước khó khăn, bức xúc của nhân dân, hướng mọi suy nghĩ và hành động của mình vào việc lo cho dân, giúp dỡ dân, học hỏi dân, thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của nhân dân, đồng thời cũng phải biết làm cho dân hiểu, dân tin, rèn luyện tác phong quần chúng trong sinh hoạt; sống có trước có sau, trong sạch, giản dị, khiêm tốn, chính trực, vượt qua những cám dỗ, ham muốn tầm thường về vật chất cũng như danh vị, chức, quyền… có như vậy cán bộ, đảng viên chúng ta mới thật sự là “công bộc của dân”, xứng đáng với sự tin cậy yêu mến của nhân dân.

Nguyễn Quang Tuyến
Bộ đội Biên phòng Quảng Ninh

bqllang.gov.vn

“Nâng cao đạo đức cách mạng” – Vấn đề cơ bản, nhất quán trong Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Là người mở đường xây nền độc lập, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho mọi người Việt Nam yêu nước, đặc biệt là đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng. Người luôn coi đó là nền tảng gốc rễ của mỗi con người và của toàn xã hội, là cội nguồn thắng lợi của mọi sự nghiệp cách mạng, bảo đảm cho sự phát triển vững bền của quốc gia, dân tộc…

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chỉ rõ rằng: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”; “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”; đạo đức cách mạng không phải là những thứ sẵn có ngay từ khi con người mới sinh ra, cũng “không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”

Vì tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề này, ngay từ những ngày đầu chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng, bài học đầu tiên Người dạy trong các lớp huấn luyện, đào tạo đội ngũ cán bộ cho phong trào cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu, Trung Quốc, những năm 1925 – 1927, là bài học về Tư cách một người cách mệnh. Trong bài học ấy, Người nêu 23 điều về tư cách của một người cách mệnh chân chính, tập trung vào ba mối quan hệ chính, đó là: đối với mình, đối với người và đối với việc. Từ đó, 23 điều về Tư cách một người cách mệnh đã đặt nền tảng cơ sở cho việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng trong suốt quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền. Làm thế nào để cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ là những “công bộc” của dân, là điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Một ngày sau khi nước nhà giành được độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong đó nhiệm vụ thứ tư cần phải giải quyết ngay lúc bấy giờ là thực hiện cần, kiệm, liêm, chính. Người giải thích rõ: “Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”. Để làm được những điều đó, Người đề nghị “mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”.

Cũng ngay trong những ngày đầu lập nước này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đã sớm nhận thấy những biểu hiện thoái hóa, biến chất trong một số đảng viên, cán bộ trong bộ máy chính quyền cách mạng. Trong Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà (ngày 17-9-1945), sau khi khẳng định những to thắng lợi to lớn của cách mạng nước ta, Người nói rõ những khó khăn của việc xây dựng chế độ mới và những khuyết điểm của cán bộ địa phương như: lạm dụng hình phạt; kỷ luật không nghiêm; ức hiếp dân, xoáy tiền dân, lấy của dân; lên mặt quan cách mạng, độc hành, độc đoán, “dĩ công dinh tư” (lấy của chung làm của riêng); dùng pháp luật để báo thù tư… Những khuyết điểm đó, nhỏ thì làm cho dân chúng hoang mang, oán đến Chính phủ và Đoàn thể, lớn thì làm cho nền đoàn kết lay động. Vì vậy:

“Chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay,
Chúng ta không sợ có khuyết điểm,
Chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi…”.

Một tháng sau, trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (ngày 17-10-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Cùng với việc nêu rõ trách nhiệm của của chính quyền các cấp đều là công bộc của dân, việc gì lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì hại cho dân phải hết sức tránh…, Người đã nghiêm khắc phê phán “những lầm lỗi rất nặng nề” trong một số cán bộ, đó là các căn bệnh như trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo… và tỏ thái độ nghiêm khắc: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa… Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”.

Với tinh thần cách mạng ấy, dù trong kháng chiến gian khổ hay trong hòa bình xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng đầu việc giáo dục, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Những lời dạy tâm huyết của Người về vấn đề này được đề cập trong hầu hết các tác phẩm, bài viết, trong các bài nói chuyện, các cuộc gặp gỡ, trong các lớp chỉnh huấn, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên mới… Đặc biệt là, trong bộ ba tác phẩm: “Sửa đổi lối làm việc”, “Đạo đức cách mạng” và “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bàn rất sâu về việc học tập và rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu lên những giải pháp phòng chống chủ nghĩa cá nhân và phân tích sâu sắc vai trò gương mẫu của người cán bộ đảng viên. Những tác phẩm chuyên khảo ấy đã trở thành những cuốn sách gối đầu giường, những lời tâm sự, chỉ bảo của Người về đạo đức, trở thành mục tiêu, phương hướng phấn đấu, để mỗi cán bộ, đảng viên rèn luyện, sửa chữa những sai lầm, thiếu sót, khắc phục mọi tồn tại dù nhỏ, để không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng, xứng đáng với lòng tin cậy và yêu mến của nhân dân…

Xuân này, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kỷ niệm 40 Xuân ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Một bài viết, một tác phẩm, vừa là những lời tâm sự, vừa là những lời căn dặn tâm huyết, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Người đối với Đảng, đối với tương lai của dân tộc và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Đây là bài viết cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng. Một bài viết đăng báo chưa đầy 700 chữ, nhưng những luận điểm Người đề cập mang tính tổng kết thực tiễn sâu sắc, có ý nghĩa như một tác phẩm, một văn kiện quan trọng về xây dựng Đảng nói riêng, về giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng nói chung – điều mà Người luôn quan tâm, trăn trở trong suốt quá trình xây dựng Đảng và lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Với lời lẽ, văn phong quen thuộc, mở đầu bài báo, chuyển lời khen ngợi của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên gương mẫu của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết một cách giản dị nhưng đầy ý nghĩa: “Nhân dân ta thường nói: đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Đó là một lời khen chân thành đối với đảng viên và cán bộ chúng ta”.

Tiếp đó, Người tỏ lời khen ngợi cán bộ, đảng viên ta trong suốt 39 năm đã tuyệt đối trung thành với Đảng và khẳng định: “Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hằng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ, đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang… Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng như thế”.

Cùng với việc nêu bật những ưu điểm của đại đa số cán bộ đảng viên của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không giấu giếm việc “còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém. Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích của riêng mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”. Và Người đã thẳng thắn vạch ra cho mọi người thấy những bất cập, những nguy hại hết sức lớn do chủ nghĩa cá nhân gây ra: “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”.

Đây không phải lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đến chủ nghĩa cá nhân. Đã rất nhiều lần Người nói với chúng ta về sự nguy hại của chủ nghĩa cá nhân: “Chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm” như: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ và những bệnh khác như “hữu danh vô thực”, kéo bè kéo cánh, bệnh cận thị không trông xa thấy rộng, bệnh “cá nhân”…; “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. “Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu… Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng”, “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”…

Để “đề phòng và kiên quyết tiêu diệt” chủ nghĩa cá nhân, làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng gương mẫu của Đảng, của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”… Người coi đó là một cách thiết thực để kỷ niệm ngày thành lập Đảng và cũng là một việc làm cần thiết để giúp tất cả cán bộ, đảng viên đều tiến bộ, góp sức nhiều hơn nữa cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Tác phẩm“Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” vốn chỉ là một bài viết đăng trên báo Nhân Dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng (3-2-1969), nhưng theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ (nguyên là thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh), Người đã chuẩn bị công phu và tích hợp nhiều ý kiến đóng góp. Khi chuẩn bị bài viết này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ với những người giúp việc về mục đích, nội dung và nhấn mạnh yêu cầu: “Ngắn gọn, tập trung vào chủ đề “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”. Và đó cũng là tên của bài báo”.

Sau khi sửa lại bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho “đánh máy thành nhiều bản và gửi đến từng đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị đề nghị tham gia ý kiến”. Việc làm nhỏ nhưng cẩn trọng và có ý nghĩa sâu sắc này là thói quen làm việc hằng ngày của Người, thường xuyên trao đổi, tranh thủ ý kiến của mỗi cá nhân và tập thể Bộ Chính trị trong mọi công việc, nhằm tạo nên một không khí làm việc cởi mở, đoàn kết, chân thành… Nhưng lần này, theo đồng chí Vũ Kỳ: “Đây hẳn cũng không phải là việc ngẫu nhiên. Dưới hình thức tham gia một bài viết nhân dịp kỷ niệm thành lập Đảng, mỗi đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị sẽ có trong tay một tài liệu mà ngay câu đầu tiên là: “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”. Thiện ý của Bác thật sâu sắc, tế nhị (!)

Không chỉ vậy, trước khi gửi đăng báo, Người còn trao đổi, tham khảo ý kiến của những người giúp việc. Khi những người giúp việc đề nghị cho đảo tên gọi của bài báo từ “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng” thành “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, với lý do “cán bộ đảng viên ta nói chung là tốt, ưu điểm là cơ bản”, Người đã lắng nghe, im lặng suy nghĩ một lúc rồi nêu ý kiến: “Ý kiến của các chú Bác thấy cũng có lý. Nhưng Bác vẫn còn phân vân điều này: Gia đình các chú tiết kiệm mua sắm được bộ bàn ghế, giường tủ mới. Vậy trước khi kê vào phòng, các chú có quét dọn nhà cửa sạch sẽ hay cứ để rác rưởi bẩn thỉu mà khiêng bàn ghế giường tủ vào…”. Mặc dù hỏi vậy nhưng tôn trọng ý kiến đóng góp của những người giúp việc, Người đồng ý cho đảo tên gọi của bài báo và đề nghị “ở trong bài thì dứt khoát phải giữ nguyên ý của Bác: “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”…

Thật kỳ diệu, ngay sau đó, bài báo đã trở thành tài liệu học tập, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng cũng như của mỗi người Việt Nam yêu nước suốt bốn thập kỷ qua. 40 năm sau ngày bài báo ra đời, đọc lại và suy ngẫm, thấy như Người đang nói với chính chúng ta hôm nay.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bốn mươi năm qua, trong những năm vừa kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vừa xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa trước đây cũng như trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, đã có nhiều tấm gương tiêu biểu về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Họ là những con người luôn luôn gương mẫu, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đi đầu trong chiến đấu, trong lao động sản xuất, và học tập, sống kham khổ, thiếu thốn, gom nhặt “từng hòn than, mẩu sắt, cân ngô”… để cùng góp sức xây dựng cơ đồ Việt Nam. Họ xứng đáng là những người con yêu của Tổ quốc. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có một số không ít cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những cán bộ có chức, có quyền vẫn chưa thấm nhuần và làm theo những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chịu tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao đạo đức cách mạng mà còn tự cho mình là “quan cách mạng” và trở thành “môn đồ” của chủ nghĩa cá nhân. Mỗi việc làm của họ đều mang nặng “chủ nghĩa cá nhân”, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tin của các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng… và đang trở thành một nguy cơ đối với sự phát triển vững bền của Đảng và dân tộc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đánh giá công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt yêu cầu và nêu rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng”… Nguyên nhân của tình trạng nêu trên là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó chủ yếu là: Tư duy của Đảng trên một số lĩnh vực chậm đổi mới, chưa nhận thức đầy đủ về những tác động phức tạp và nhiều mặt của cơ chế thị trường, kinh tế nhiều thành phần trong hội nhập để phát triển; Sự chỉ đạo tổ chức thực hiện chưa tốt, đặc biệt là chưa chú ý đúng mức đến vấn đề giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức đối với cán bộ, đảng viên; Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, không chịu tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống, vừa yếu kém về phẩm chất và năng lực, vừa thiếu tính tiên phong, gương mẫu, vừa không đủ trình độ hoàn thành nhiệm vụ… Trước tình hình đó, Đại hội chủ trương dành nhiều công sức để tạo được sự chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng và các tổ chức cơ sở Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, và coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta…

Để thực hiện mục tiêu nêu trên, cùng với nhiều giải pháp đồng bộ, Đại hội yêu cầu: “lấy đạo đức làm gốc, đồng thời bồi dưỡng về kiến thức, trí tuệ, năng lực để làm tròn nhiệm vụ người lãnh đạo, người đi tiên phong trong các lĩnh vực công tác được giao”.

Với tinh thần ấy, tiếp theo Chỉ thị số 23-CT/TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng, ngày 27-3-2003, về việc “Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới”, trong đó xác định “việc tổ chức học tập tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ mấu chốt của công tác tư tưởng của Đảng, cần được toàn Đảng thực hiện chặt chẽ, có chất lượng, hiệu quả”, ngày 27-11-2006, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị 06-CT/TƯ về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhằm “Làm cho toàn Ðảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, thanh niên, học sinh… nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng”.

Hơn hai năm qua, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã trở thành phong trào quần chúng rộng lớn, thu hút sự tham gia sôi nổi của đông đảo cán bộ đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong từng việc làm cụ thể. Để cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thiết thực và hiệu quả, góp phần đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, theo chúng tôi, cần tổ chức thực hiện triệt để, từ Trung ương đến cơ sở, những giải pháp “Nâng cao đạo đức cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” và trong lời căn dặn trước lúc đi xa của Người để “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, “giữ gìn Đảng ta thật trong sạch… xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Những lời dạy và mỗi việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, về thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư…là lối sống, là đạo đức, là văn hóa và sự mẫu mực của Người trong việc thực hành đạo đức cách mạng mãi mãi là tấm gương sáng ngời để cán bộ, đảng viên và nhân dân ta học tập, noi theo. Với tinh thần đổi mới để phát triển, thực hành tốt những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề này chính là một việc làm thiết thực, thể hiện lòng biết ơn của các thế hệ hôm nay và mai sau đối với Người, đồng thời góp phần làm tăng lòng tin của nhân dân với Đảng, với sự nghiệp cách mạng của dân tộc và góp phần thiết thực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh – những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn hằng mong muốn và căn dặn khi còn sống./.

TS. Chu Đức Tính
Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh tấm gương đạo đức ngời sáng cho mỗi người Việt Nam học tập, noi theo

Hơn một năm rưỡi qua, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã có nhiều hoạt động phong phú, cụ thể, thiết thực, diễn ra ở khắp các cấp, các ngành, địa phương trong cả nước, thu hút đông đảo cán bộ, đảng viên công chức và các tầng lớp nhân dân tham gia, tạo nên một luồng sinh khí mới trong sinh hoạt Đảng, trong hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân. Nhiều cán bộ, đảng viên, công chức đã có ý thức tự giác trong rèn luyện đạo đức, lối sống, học tập nâng cao trình độ và có tinh thần trách nhiệm cao hơn đối với công việc được giao, tinh thần thái độ phục vụ nhân dân đã có nhiều tiến bộ hơn so với trước.

Lòng tôn kính, quý trọng và biết ơn vô hạn của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Bác Hồ càng được khẳng định, vun đắp, củng cố son sắt hơn thông qua cuộc vận động. Đúng như Ban Chỉ đạo TW Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã đánh giá: “Cuộc vận động này là đúng và “trúng”, đáp ứng tình cảm và lòng mong đợi của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân”.

Tuy nhiên, kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu. Còn nhiều việc phải làm trong một cuộc vận động lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng này. Việc xây dựng một nền tảng đạo đức mới tốt đẹp, sẽ không phải là công việc đơn giản có thể làm xong trong ngày một, ngày hai, mà cần phải có thời gian lâu dài với cách thức, bước đi phù hợp.

Bởi vì như Bác Hồ đã viết: “Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống. Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển, củng cố”. Đó cũng chính là sự tổng kết cả quá trình đấu tranh, rèn luyện trọn cuộc đời của Người để tạo nên một tư tưởng, đạo đức, nhân cách vĩ đại Hồ Chí Minh.

Mỗi một đức tính tốt, dù nhỏ cũng không phải tự nhiên và dễ dàng có được, mà phải trải qua cả một quá trình hình thành, chắt lọc, rèn luyện lâu dài. Vì đạo đức là cái ở trong tâm của mỗi con người, thuộc về bản chất, chứ không phải chỉ là sự biểu hiện bề ngoài, cũng không phải cứ học thuộc một bài học về đạo đức là chúng ta đã có ngay được điều đó. Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh lại càng đòi hỏi mỗi người phải có sự phấn đấu, rèn luyện bền bỉ, thường xuyên hàng ngày, thậm chí hàng giờ.

Đồng thời phải biến những bài học đó thành thói quen hành động và rèn luyện cho những thói quen ấy ngấm sâu trong “máu thịt” trở thành nhân cách, chỉ có như vậy mới có được đạo đức thật sự, bền vững.

Tất nhiên, từ việc học tập đến việc làm theo cũng không phải là dễ, nếu không có sự tự giác, quyết tâm cao. Và để xây dựng được một nhân cách, đạo đức tốt, trước hết mỗi con người cần phải tự đấu tranh với chính bản thân mình. Vì ở trong mỗi người đều luôn tồn tại hai mặt thiện và ác, nên nếu không có ý chí đấu tranh, rèn luyện bản thân, chỉ cần một lúc buông thả, mất cảnh giác thì những cám dỗ, tác động từ ngoại cảnh, cùng với cái xấu, cái ác, cái sự ham muốn địa vị, vật chất, ham muốn hưởng thụ… bên trong sẽ trỗi dậy, lấn át cái tốt.

Sẽ không thể học được cái mới tiến bộ, nếu không sửa được cái cũ lạc hậu ở bên trong mình. Đặc biệt, trước những tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường và mở cửa hội nhập, nhiều giá trị đạo đức truyền thống đã bị xem nhẹ hoặc mai một; lối sống thực dụng, nặng về vật chất, sính ngoại… đang có chiều hướng gia tăng; sự quan liêu, hách dịch, cửa quyền, thiếu dân chủ của một bộ phận cán bộ lãnh đạo; tệ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn diễn ra dưới nhiều hình thức, tác động không tốt đến tư tưởng, tình cảm, lòng tin của cán bộ, công chức và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ…. thì đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên chúng ta phải phấn đấu, nỗ lực nhiều hơn nữa, vượt qua chính mình và những cám dỗ, tác động tiêu cực đó để từng bước rèn luyện, xây dựng cho mình một đạo đức tốt, góp phần vào thành công của Cuộc vận động.

Chúng ta tin tưởng rằng, với sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân; sự phấn đấu, rèn luyện tâm huyết và bền bỉ của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, nhất định Cuộc vận động sẽ thu được những kết quả tốt đẹp. Tư tưởng, đạo đức, nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ luôn là tấm gương trong sáng để mỗi người Việt Nam chúng ta học tập, noi theo. Hãy tự nhắc mình phải sống và làm việc sao cho xứng đáng với truyền thống anh hùng của dân tộc Việt Nam; xứng đáng công lao, tình cảm mà Bác Hồ kính yêu đã giành cho Tổ quốc, cho dân tộc.

Thành Lợi

bqllang.gov.vn

Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Chủ tịch nước cũng không có đặc quyền

Đầu năm 1946, cả nước ta tiến hành cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên. Gần đến ngày bầu cử, tại Hà Nội – là nơi Bác Hồ ra ứng cử – có 118 Chủ tịch ủy ban nhân dân và đại biểu các giới hàng xã đã công bố một bản đề nghị: “Yêu cầu cụ Hồ Chí Minh không phải ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới. Chúng tôi suy tôn và ủng hộ vĩnh viễn cụ Hồ Chí Minh là Chủ tịch của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa”.

Từ nhiều nơi trong cả nước, đồng bào viết thư đề nghị Bác không cần ra ứng cử ở một tỉnh nào, nhân dân cả nước đồng thanh nhất trí cử Bác vào Quốc hội.

Trước tình cảm tin yêu đó của nhân dân, Bác viết một bức thư ngắn cảm tạ đồng bào và đề nghị đồng bào để Bác thực hiện quyền công dân của mình: “Tôi là một công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của Tổng tuyển cử đã định. Tôi ra ứng cử ở Hà Nội nên cũng không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa. Xin cảm tạ đồng bào đã có lòng yêu tôi và yêu cầu toàn thể đồng bào hãy làm tròn nhiệm vụ người công dân trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới”.

Sau ngày hòa bình lập lại, có lần Bác đi thăm một ngôi chùa cổ, vị sư chủ trì ra đón và khẩn khoản xin Bác đừng cởi dép khi vào trong chùa. Bác không đồng ý và lặng lẽ làm đúng những quy định như khách thập phương đến lễ chùa. Trên đường từ chùa về, khi vào đến thành phố, xe Bác đến một ngã tư thì vừa lúc đèn đỏ bật, sợ phố đông, xe dừng lâu, đồng chí bảo vệ định chạy lại đề nghị đồng chí công an giao thông bật đèn xanh để Bác đi. Bác hiểu ý ngăn lại:

– Các chú không được làm thế, phải tôn trọng và gương mẫu chấp hành luật lệ giao thông. Không được bắt luật pháp dành quyền ưu tiên riêng cho mình.

(Trích trong Bác Hồ với chiến sĩ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà nội, 2001,t.1).

Bác nhớ các cháu thiếu niên dũng sĩ miền Nam

Tháng chạp năm 1968, các dũng sĩ thiếu niên miền Nam đang học ở khu Tả Ngạn thì có mấy chú đưa xe ô tô đến đón về Hà Nội. Luyện, Thu, Nết, Phổ, Mên, Hòa… chưa hiểu có chuyện gì. Về Thủ đô hôm trước thì 5 giờ chiều ngày hôm sau có xe đến đón đi, vào đến sân Phủ Chủ tịch mới biết là được vào gặp Bác Hồ.

Vừa bước chân xuống xe, các cháu đã thấy Bác Hồ và Bác Tôn ngồi trên một cái ghế gỗ dài kê trước cửa nhà. Tất cả chạy ào tới chào hai Bác.

Bác cháu trò chuyện với nhau. Sau đó Bác Hồ bảo:

– Thôi các cháu vào ăn cơm với hai Bác!

Bữa cơm chẳng có thịt cá gì nhiều, nhưng rất ấm cúng. Các dũng sĩ thiếu niên được ngồi ăn cùng Bác Hồ và Bác Tôn. Nết người nhỏ nhất đoàn, cái đầu chỉ lấp ló cạnh bàn, được Bác gắp thức ăn cho luôn.

Vừa ăn, Bác cháu vừa nói chuyện rất vui. Ăn xong, hai Bác cho mỗi cháu một bông hồng, một quả táo, một quả lê và ba quyển sách “Người tốt việc tốt”.

Sau đó Bác Hồ bảo:

– Các cháu lại cả đây hôn hai Bác rồi về.

Các dũng sĩ hôn hai Bác xong, Bác Hồ căn dặn:

– Các cháu về trường cố gắng học tập cho giỏi.

Tất cả đều cảm động. Đoàn Văn Luyện khi đó mới mạnh dạn thưa với Bác:

– Thưa Bác, chúng cháu cứ tưởng hai Bác gọi chúng cháu về có việc cần.

Bác Hồ cười hiền từ và bảo:

– Hai Bác nhớ các cháu cho nên gọi các cháu về để hai Bác gặp hỏi chuyện.

Nghe nói, Luyện và các bạn cảm động muốn trào nước mắt. Hai Bác tuổi đã cao, trăm công nghìn việc, vậy mà vẫn nhớ đến các cháu miền Nam. Luyện nghĩ:

“Mình được ở ngoài Bắc mà hai Bác còn lo và thương biết chừng nào!…”.

(Theo Những mẫu chuyện về Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – NXB CTQG).

Tôi là người cộng sản như thế này này!

Bác Hồ của chúng ta, từ sau khi bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ ba tại Đại hội Tua Đảng Xã hội Pháp đêm 30/12/1920, thì cũng từ giờ phút ấy, Người trở thành người cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đồng thời cũng là người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

Từ người yêu nước trở thành người cộng sản, như Người đã nói rõ, là do trải qua thực tế đấu tranh và nghiên cứu lý luận, Người đã hiểu được rằng “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nộ lệ”.

Trong gần 50 năm mang danh hiệu người cộng sản, khi thuận lợi, lúc khó khăn, dù khi chỉ là một người thợ ảnh bình thường hay đã trở thành vị Chủ tịch nước đầy uy tín và danh vọng, ở buổi cách mạng thắng lợi ròn rã hay khi bị kẻ thù dồn dập phản kích, lúc nào Bác Hồ của chúng ta cũng tỏ ra là một người cộng sản kiên định, thủy chung, nghĩa khí, thắng không kiêu, bại không nản, vô cùng khiêm tốn nhưng cũng rất mực tự hào về danh hiệu người cộng sản của mình.

Đã có thời, có người nhấn mạnh quá đáng phẩm chất siêu việt của người cộng sản, cho rằng đó là những người có một tính cách đặc biệt riêng, v.v… được cấu tạo bằng một chất liệu đặc biệt riêng. Không biết đó có phải là một trong những nguyên nhân đẻ ra cái gọi là “thói kiêu ngạo cộng sản” hay không?

Có điều chắc chắn rằng Bác Hồ của chúng ta không tán thành cách nói thậm xưng đó, nhất là khi Đảng cầm quyền, vào lúc cách mạng đang thuận lợi. Người nói: “Đảng viên chúng ta là những người rất tầm thường, vì chúng ta đều là con của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động… thế thôi. Chính vì chúng ta rất tầm thường nên Đảng ta rất vĩ đại”.

Người đã từng nói nhiều lần: Người cộng sản cũng là con người, nên có ưu, có khuyết, có tốt, có xấu.

“Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra”. “Cũng như những người hàng ngày lội bùn mà trên người họ có hơi bùn, vết bùn… Cần phải tắm rửa lâu mới sạch”. Vì vậy, Người dạy: Không phải cứ khắc lên trán hai chữ “cộng sản” là được nhân dân tín nhiệm đâu; phải khiêm tốn, không hiếu danh, không kiêu ngạo, phải nhớ mình vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân.

Bác Hồ của chúng ta, trong cuộc đời hoạt động cách mạng đi Âu về Á, đã từng giáp mặt với bao gian khổ, khó khăn (hai lần ngồi tù: 1931 – 1933 và 1942 – 1943), đã từng lĩnh án tử hình vắng mặt (năm 1929); nhưng vì tin vào lý tưởng, tin vào nhân dân, tin ở chính mình, nên lúc nào Người cũng ung dung, tự tại, luôn thể hiện nhân cách cao đẹp của người cộng sản.

Năm 1931, khi Người bị giam trong nhà ngục Victoria của đế quốc Anh tại Hồng Kông hoặc khi bị bệnh phải đưa vào nhà thương, nhiều “ông bà” người Anh có quyền thế và cả một số nhân viên người Trung Quốc đã rủ nhau đến xem, ý chừng họ muốn thấy mặt mũi “lạ lùng” của một người cộng sản! Cuối cùng, họ đã bắt gặp một nhân cách lớn mà họ rất khâm phục và sẵn lòng giúp đỡ từ đó.

Năm 1944, tại Liễu Châu, tuy Người được ra khỏi ngục Quốc dân đảng, nhưng vẫn bị quản thúc vì họ biết Người là lãnh tụ cộng sản, không muốn thả cho về nước. Bác Hồ nói thẳng với Trương Phát Khuê: “Tôi là người cộng sản, nhưng điều mà tôi quan tâm hiện nay là độc lập và tự do của nước Việt Nam”. Chính lòng yêu nước, đức độ và tài trí của Bác Hồ đã làm cho Trương cảm phục, trả lại tự do và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Người trở về Việt Nam.

Năm 1946, ở Pa-ri, trong một cuộc họp báo, một nhà báo Pháp muốn làm giảm thiện cảm của những người Pháp không ưa cộng sản đối với Bác, bằng cách đưa ra một câu hỏi:

– Thưa Chủ tịch, Ngài có phải là cộng sản không?

Bác Hồ của chúng ta liền đi đến lẵng hoa bày trên bàn, vừa rút ra từng bông tặng mỗi người, vừa vui vẻ nói:

– Tôi là người cộng sản như thế này này!

Đó cũng là điều giúp ta có thể hiểu được vì sao mấy chục năm qua, thế giới có bao sự đổi thay, Bác Hồ vẫn luôn được cả thế giới tôn kính và ngưỡng vọng, coi như một biểu tượng cao cả của nhân đạo, chính nghĩa của hòa bình, một kiểu người cộng sản hài hòa giữa yêu nước và quốc tế, anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa, phương Đông và phương Tây.

Có thể dẫn ra đây một ý kiến, trong rất nhiều ý kiến của nhà báo Mỹ Sa-phơ-len, viết từ năm 1969:

“Trong rừng Việt Bắc, Cụ Hồ như một ông tiên. Nếu có ai bảo đấy là một người cộng sản thì tôi có thể nói Cụ là một người cộng sản khác với quan niệm chúng ta vẫn thường nghĩ; và theo tôi, có thể dùng một từ mới: Một người cộng sản phương Đông, một người cộng sản Việt Nam”.

(Theo Những mẫu chuyện về Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – NXB CTQG).

Bác Hồ với Trung thu độc lập đầu tiên

Chiều hôm đó, thứ sáu, ngày 21/9/1945 tức ngày 15/8 năm Ất Dậu, tan giờ làm việc, Bác bảo đồng chí thư ký về nhà trước, còn Bác ở lại Bắc Bộ phủ để đón các em thiếu nhi vui Tết Trung thu.

Ngay từ chiều, Bác đã cho mời đồng chí Trần Huy Liệu, Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền và một đồng chí phụ trách thiếu nhi của Thanh niên đến hỏi về tổ chức Trung thu tối nay cho các em. Nghe báo cáo chỉ có ba địa điểm xung quanh Bờ Hồ để bày mâm cỗ cho hàng vạn em, Bác bảo các anh chị phụ trách phải tổ chức cho thật khéo để em nào cũng có phần. Về chương trình vui chơi, Bác khen là có nhiều cố gắng về mặt hình thức và căn dặn là phải đảm bảo an toàn, nhất là đối với các em nhỏ.

Sau đó, Bác trở về phòng làm việc của mình trên căn gác 2 ở Bắc Bộ phủ. Nhưng chốc chốc Bác lại hỏi:

– Các em đã tập trung đủ ở Bờ Hồ chưa?

Trăng đã bắt đầu lên. Bác Hồ ra đứng ở cửa ngắm đêm trăng và lắng nghe tiếng trống rộn ràng từ các đường phố vọng đến. Ai mà biết được niềm vui lớn đêm nay của Bác Hồ, người chiến sĩ cách mạng bôn ba khắp năm châu, bốn bể, nếm mật nằm gai, vào tù ra tội, chỉ nhằm một mục đích duy nhất là đem lại độc lập cho Tổ quốc, no ấm cho nhân dân và đặc biệt, cháy bỏng trong lòng Người là niềm mong ước hạnh phúc ấm no cho lớp trẻ thơ.

Đêm nay giữa lòng Hà Nội, ngay trong Dinh Chủ tịch, Bác Hồ hồi hộp chuẩn bị đón tiếp “Bầy con cưng” của mình.

Trước Trung thu mấy hôm, Bác đã viết một lá thư dài gửi các em nhân ngày tựu trường. Liền sau đó, Bác lại viết “Thư gửi các cháu thiếu nhi” nhân dịp Tết Trung thu. Thư viết trước Trung thu một tuần lễ để kịp đến với các em khắp các miền đất nước. Bác Hồ bao giờ cũng chu đáo như thế.

Và đêm nay, Trung thu đã thực sự đến trong nỗi bồi hồi mong đợi của Bác. Theo chương trình thì đúng 21 giờ các em mới đến vui chung với Bác Hồ. Thế mà lúc này chưa đến 20 giờ Bác đã bồn chồn đi lại trong phòng, xem lại đề cương bài phát biểu lát nữa sẽ nói với các em, xem lại những tấm ảnh lát nữa Bác sẽ tặng cho mỗi em một tấm… Thật khó mà hình dung một cụ già đã gần tuổi 60, một vị Chủ tịch nước, một nhà hoạt động quốc tế nổi tiếng, một con người vốn có bản lĩnh ung dung, bình thản trong mọi tình huống, đêm nay lại nóng lòng chờ đợi, gặp gỡ các em nhỏ như vậy.

Hồ Hoàn Kiếm tưng bừng náo nhiệt. Những bóng điện lấp lánh trong các vòm cây. Hàng ngàn, hàng vạn đèn giấy trên tay các em soi bóng xuống mặt hồ. Trên đỉnh Tháp Rùa rực sáng ánh điện với băng khẩu hiệu “Việt Nam độc lập”.

Đúng 20 giờ, lễ Trung thu độc lập đầu tiên bắt đầu. Sau lễ chào cờ, một em đại diện cho hàng vạn thiếu nhi Hà Nội phát biểu niềm vui sướng được trở thành tiểu chủ nhân của nước độc lập. Tiếp đó đồng chí Trần Huy Liệu, đại diện Chính phủ, trịnh trọng đọc thư của Bác Hồ gửi thiếu nhi, căn dặn các em cố gắng học tập để xứng đáng với sự quan tâm, chăm sóc của Bác.

Buổi lễ kết thúc, các đoàn đội ngũ chỉnh tề đều bước trong tiếng trống vang vang hướng về Bắc Bộ phủ. Dẫn đầu đoàn là những đội múa lân, múa sư tử cùng hàng ngàn, hàng vạn chiếc đèn giấy lung linh uốn lượn như một dòng sông sao…

Đúng 21 các em có mặt trước Bắc Bộ phủ. Bác Hồ xuất hiện tươi cười, thân thiết. Tiếng hoan hô như sấm dậy. Tiếng trống rộn ràng. Sư tử lại nhảy múa. Tất cả sung sướng hò reo. Chúc mừng Bác Hồ kính yêu.

Bác Hồ xúc động bước xuống thềm đón các em, tiếng hoan hô lại dậy lên. Một em đứng trước máy phóng thanh đọc lại lời chào mừng. Đọc xong em hô to “Bác Hồ muôn năm!”.Lập tức tiếng hô “Muôn năm” rền vang không ngớt.

Bác Hồ giơ cao hai tay tỏ ý cám ơn các em rồi Bác lần lượt bước đến bắt tay từng em đứng ở hàng đầu. Cặp mắt của Bác ánh lên một niềm vui đặc biệt. Trong lúc ở phía ngoài, các đoàn “xe tăng”, các binh sĩ của Hai Bà Trưng, của Đinh Bộ Lĩnh, các đội sư tử với rất nhiều em đeo mặt nạ… ùn ùn kéo vào dinh của Chủ tịch trong tiếng trống hò reo vang dậy, khu vườn Phủ Chủ tịch bỗng nhiên im phăng phắc khi đồng chí phụ trách giới thiệu Bác Hồ sẽ nói chuyện với các em.

Bằng giọng xứ Nghệ có pha lẫn giọng các miền của đất nước, Bác thân thiết trò chuyện với các cháu: “Các cháu! Đây là lời Bác Hồ nói chuyện…”.

Cuối cùng Bác nói: Trước khi các cháu phá cỗ, ta cùng nhau hô hai khẩu hiệu: “Trẻ em Việt Nam sung sướng!”, “Việt Nam độc lập muôn năm!”.

Tiếng hô hưởng ứng của các em rền vang cả một vùng trời.

Trăng rằm vằng vặc tỏa sáng. Niềm vui tràn ngập cả Hà Nội. Bác Hồ vui sướng đứng nhìn các em vui chơi.

Ai hiểu được hết niềm vui của Bác Hồ lúc này. Bao nhiêu năm xông pha chiến đấu, phải chăng Bác cũng chỉ mong ước có giây phút sung sướng như đêm nay.

“Trẻ em Việt Nam sung sướng!”. Khẩu hiệu đó của Bác Hồ cách đây 45 năm, vẫn đang là mục tiêu phấn đấu của các thế hệ hôm nay và mãi mãi mai sau.

(Theo Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – NXB CTQG).

Việc nào cũng có tầm quan trọng của nó

Mọi việc Bác nêu ra đều thiết thực, ngắn gọn, cụ thể. Lời lẽ của Bác là những lời lẽ quen thuộc, mộc mạc, nhân dân thường dùng từ xưa đến nay trong sinh hoạt hằng ngày. Chỉ có khác ở chỗ Bác đã đưa vào đó một nội dung mới. Nhưng dù mới đến đâu, người nghe vẫn thấy dễ hiểu, hợp lý, hợp tình.
Các việc Bác nêu lên để yêu cầu đồng bào thực hiện đều là những điều Bác đã làm bền bỉ trong suốt cuộc đời. Nếu những điều bây giờ mới đề ra thì Bác gương mẫu làm trước. Ví dụ như việc hô hào nhân dân mười ngày nhịn ăn một bữa để cứu đói. Mỗi tháng ba lần, đến bữa không ăn, Bác tới lấy phần gạo của mình, tự tay đổ vào hòm gạo chống đói. Một hôm, đúng vào bữa cơ quan nhịn ăn để gom gạo thì Tiêu Văn mời Bác đến dự chiêu đãi. Khi Bác về, anh em báo cáo đã đem gom phần gạo của Bác rồi. Bác vẫn quyết định nhịn ăn một bữa vào ngày hôm sau.

Đối với Bác, việc lớn, việc nhỏ, việc nào cũng có tầm quan trọng của nó. Bác thường dặn cán bộ tự mình “phải làm gương mẫu cho đồng bào”, “miệng nói tay phải làm”, “chớ vác mặt làm quan cách mạng cho dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ”.

Bác dành nhiều thời giờ đi thăm các nơi xa gần. Nhiều cuộc đi thăm, Bác không cho báo trước. Khi Bác đi thăm hội nghị thanh niên, khi thăm cơ quan Ủy ban Hành chính Hà Nội, Trường Quân chính Việt Nam…Khi Bác đi thăm Nam Định, thăm nhà máy dệt, khi đi Bắc Ninh, Thái Bình. Ngoài việc động viên, giáo dục, Bác còn muốn tìm hiểu tình hình đời sống, tư tưởng, tình cảm của Nhân dân và cách thức làm việc của cán bộ.

(Theo Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – NXB CTQG).
Theo baclieu.gov.vn
Phương Thúy (st)

bqllang.gov.vn


CÂU CHUYỆN NHỎ VÀ BÀI HỌC LỚN

Chủ tịch Hồ Chí Minh và thủ tướng Phạm Văn Đồng

Trong một bài hồi tưởng về cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đồng chí Việt Phương kể lại một câu chuyện sau đây:

Vào một buổi sáng của năm 196… nào đó, Bác Hồ đi từ ngôi nhà sàn của Người sang Phủ Thủ tướng tìm đồng chí Phạm Văn Đồng để trao đổi về một vấn đề quan trọng. Lúc đó, đồng chí Phạm Văn Đồng đang làm việc tại Văn phòng, tuy cũng nằm trong khu Phủ Chủ tịch nhưng cách xa Phủ Thủ tướng tới vài trăm mét. Một đồng chí bảo vệ vội vã đạp xe ra báo với Thủ tướng. Vội quá, Thủ tướng dùng ngay chiếc xe đạp của đồng chí bảo vệ phóng về gặp Bác. Đồng chí bảo vệ không thể để Thủ tướng rời xa mình, mà lại không có thời gian tìm chiếc xe đạp khác, nên anh đành lập tức chạy bộ theo sau Thủ tướng. Bác Hồ đứng sẵn ở sân chờ đồng chí Phạm Văn Đồng. Khi Thủ tướng vừa xuống xe, chưa kịp chào hỏi gì, Bác đã nói ngay:

– Sao chú không đèo chú bảo vệ đằng sau xe để cùng về, lại để chú ấy chạy bộ?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc đó như chợt nhận ra, vội đáp:

– Xin lỗi Bác.

Đáp vậy, nhưng sau đó đồng chí Phạm Văn Đồng đã suy nghĩ rất kỹ về lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà nghiêm khắc của Bác Hồ. Sáng hôm sau, trong lúc làm việc với một số đồng chí cấp dưới, ông kể lại câu chuyện trên cho mọi người cùng nghe, rồi nói:

– Tôi đã nghĩ về lời của Bác. Lòng nhân ái, thương yêu và kính trọng con người, phải chân thực từ trong tâm của ta, rồi tự nhiên bật ra thành thái độ và hành động, chẳng phải suy nghĩ gì, như là từ bản năng.

Câu chuyện trên đây gợi cho chúng ta một số bài học lớn, có ý nghĩa sâu sắc.

Thứ nhất, ngay cả những nhà lãnh đạo cao cấp nhất cũng luôn luôn cần trau dồi đạo đức, bồi bổ nhân cách và rèn luyện phong cách ứng xử sao cho thực sự nhân ái, xứng tầm. Ai cũng biết Thủ tướng Phạm Văn đồng là một trong những nhà lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, Nhà nước và dân tộc ta. Ông không những được nhân dân ta rất kính trọng, yêu mến mà còn được cộng đồng thế giới thừa nhận như một nhà lãnh đạo thông tuệ, hào hoa, lịch thiệp, giỏi giang bậc nhất. Thế mà, tuy ông đã làm tới chức Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không ngần ngại nhắc nhở, phê bình để giúp đồng chí Phạm Văn Đồng ứng xử cho đúng, tu tâm, dưỡng tính cho thuần hậu, nhân ái, sao cho trở thành “bản năng” của nhà lãnh đạo.

Ở đây ta thấy nét rất đẹp của Bác Hồ trong vai trò của người Thầy, và Thủ tướng Phạm Văn Đồng với tư cách người học trò. Thầy không ngần ngại chỉnh sửa, chỉ bảo học trò theo một cách vừa nhân hậu, nhẹ nhàng, nhưng cũng đủ nghiêm khắc để trò nhận thức được điều Thầy cần chỉ bảo. Về phía mình, học trò là người thực sự cầu thị, thành thực, nghiêm túc tiếp thu sự chỉ bảo của Thầy, suy ngẫm kỹ càng, không hời hợt qua loa mà ghi tâm, khắc cốt, qua đó mà hoàn thiện nhân cách của mình.

Ngày xửa, ngày xưa, Đức Phật Tổ và Đức Khổng Tử cũng dùng phương pháp này để rèn dạy, trao truyền tâm ấn cho học trò. Ngày nay thiết tưởng vẫn cần, rất cần những sự chỉ dẫn – học hỏi như vậy, nhất là đối với các bậc, các cấp lãnh đạo, nếu như họ không muốn trở thành những người “vác mặt quan cách mạng” – như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cảnh báo.

Thứ hai, là bài học về lòng nhân ái. Bài học này Thủ tướng Phạm Văn Đồng suy ngẫm và rút ra từ câu chuyện nói trên. Theo Thủ tướng thì lòng nhân ái, thương yêu và kính trọng con người không phải là cái gì có thể nguỵ tạo theo kiểu “giả nhân giả nghĩa” để mị dân, mà phải chân thực từ trong tâm của ta, rồi tự nhiên bật ra thành thái độ và hành động, chẳng phải suy nghĩ gì, như là từ bản năng. Đây là một nhận thức rất sâu sắc về đạo đức cách mạng. Lòng nhân ái phải thực sự trở thành cái cốt lõi, thành điểm tựa cho nhân cách của một nhà lãnh đạo chân chính. Chỉ khi đó tình thương yêu và kính trọng con người mới phát từ trong tâm mà ra, hoà quyện vào trong ứng xử hàng ngày của nhà lãnh đạo một cách hết sức tự nhiên, như một bản năng vậy. Như vậy thì lòng nhân ái không thể là cái gì có thể “chế tác”, ngụy tạo một cách giản đơn và chỉ có lòng nhân ái chân thực mới tạo nên uy tín, tạo nên sức thu hút quần chúng và nâng cao tầm của nhà lãnh đạo. Ngược lại, nhà lãnh đạo phải đạt tới tầm nào đó rồi mới hiểu thấu đáo được cội rễ của lòng nhân ái, mới biết yêu thương và kính trọng con người như một bản năng.

Thứ ba, là bài học về mối quan hệ giữa lãnh tụ với nhân dân. Đây chính là điều mà Bác Hồ đã quán triệt cho các học trò của Người ngay từ những ngày đầu của sự nghiệp Dựng Đảng – Cứu Quốc, rằng “công nông là gốc kách mệnh”. Đặc biệt là từ sau khi Đảng ta trở thành một “đảng cầm quyền” thì Người càng đặc biệt chú trọng đến việc giáo dục cho cán bộ, đảng viên, trí thức ý thức gần dân, thực sự thương yêu và kính trọng nhân dân. Ngay trong tháng đầu tiên của chính quyền cách mạng Hồ Chí Minh đã nhận thấy cán bộ các cấp phạm vào một loạt các sai phạm như: trái phép, cậy thế, hủ hoá, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Vì vậy, ngày 17 tháng 10 năm 1945 Người đã viết Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, huyện và làng yêu cầu cán bộ ta khẩn trương, nghiêm túc rút kinh nghiệm, gột rửa những sai phạm nói trên. Hai năm sau, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang trải qua giai đoạn rất khốc liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian biên soạn cuốn sách “Sửa đổi lối làm việc” để nghiêm khắc vạch ra những sai phạm trong đạo đức và phong cách lãnh đạo, làm việc của cán bộ các cấp, đồng thời chỉ ra những phương hướng và biện pháp cụ thể để khắc phục. Người cho rằng đạo đức của một người cán bộ, đảng viên phải gồm đủ cả Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm; rằng “sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”, nhưng “tuyệt đối không theo đuôi quần chúng”.

Có thể nói tác phẩm trên đây là những chỉ dẫn sâu sắc và mẫu mực của Hồ Chí Minh về đạo đức và phong cách lãnh đạo, ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.
Việt Đức

(Bản tin ĐHQG Hà Nội – số 178, tháng 12/2005)

NHỮNG LỜI BÁC DẠY ĐẦU TIÊN

Mùa thu năm 1946, tôi và ba đồng chí nữa được vinh dự theo Bác về nước trên chiếc tàu Đuymông Đuếvin. Tàu này là một chiếc tàu chiến đã cũ, chạy lừ đừ chậm chạp. Lúc bấy giờ, tình hình ở trong nước đang căng thẳng ai nấy đều sốt ruột mong về sớm, nhưng giờ đây nghĩ lại, đối với chúng tôi, đó là một dịp may hiếm có để được kéo dài những ngày chung sống với Bác.

Trên chuyến xe lửa từ Pari đi Macxây, Bác nói:

– Nước ta còn nghèo vì 80 năm bị đế quốc bóc lột, chiếm đóng. Đồng bào Nam bộ giờ đây còn đổ máu. Chúng ta còn gian khổ chiến đấu nhiều chứ chưa được sung sướng ngay đâu. Các chú về nước chính là để phục vụ Tổ quốc, phục vụ đồng bào…

Lên tàu rồi, một hôm Bác dặn:

– Ở nhà không có gì đâu. Nước ta thiếu máy móc, nguyên liệu, thiếu cả thợ lành nghề, tiền của ta lại ít. Song nước ta giàu về rừng núi, sông biển, đồng bào ta giàu về quyết tâm, dũng cảm và sáng tạo. Các chú về phải chịu thương, chịu khó làm ăn, đưa những cái đã học ở nước ngoài về áp dụng thiết thực vào trong nước, giúp đỡ và hướng dẫn anh em trong nước cùng làm.

Tôi còn nhớ lúc đi tàu, thỉnh thoảng có những hôm tên đại tá chỉ huy tàu tổ chức tập trận trên giữa biển cả mênh mông, tiếng súng đại bác, súng máy các loại thi nhau gầm thét, khói mịt mù, nước biển tung toé ngoài khơi. Trong chúng tôi, thoạt tiên cũng có người hồi hộp, nhưng riêng Bác vẫn điềm nhiên, ung dung hút thuốc lá, đứng xem. Bác mỉm cười bảo chúng tôi:

– Đấy, người ta thử kiểm tra tinh thần của các chú. Các chú có sợ không?

Nhân đó, Bác chỉ cho chúng tôi thấy bọn đế quốc thường hay phô trương, khoe khoang về sức mạnh vật chất, còn nhân dân cách mạng tuy nghèo nhưng hàng triệu người đoàn kết thành một khối, có tinh thần dũng cảm và mưu trí, nhất định đánh bại được bọn chúng…

Tại Đại hội liên hoan anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất, tôi được Bác khen…

Vinh dự đó thuộc về anh em ngành quân giới trong đó tôi nhờ sự chỉ bảo, dẫn dắt của Bác đã đóng góp một phần.

Những lời dạy của Bác như bức cẩm nang quyết định mọi thắng lợi trong công tác của tôi.

Theo thiếu tướng Trần Đại Nghĩa
(Hậu Giang, số 395 ngày 30/3/2007)

TẤM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI CHIẾN SĨ

Đối với chiến sĩ là những người hy sinh nhiều nhất cho dân tộc, Bác Hồ thường dành cho anh em sự chăm lo, săn sóc ân tình, chu đáo nhất.

Mùa đông, thương anh em chiến sĩ rét mướt ở rừng núi hay bưng biền, Bác đem tấm áo lụa của mình được đồng bào tặng, bán đấu giá để lấy tiền mua áo ấm gửi cho các chiến sĩ.

Bác thường nói: “Chiến sĩ còn đói khổ, tôi ăn ngon sao được!”. “Chiến sĩ còn rách rưới, mình mặc thế này cũng là đầy đủ lắm rồi!”.

Mùa hè năm ấy (1967), trời Hà Nội rất nóng. Sức khỏe Bác Hồ đã kém, thần kinh tuổi già cũng suy nhược, dễ bị toát mồ hôi, ướt đầm, có ngày phải thay mấy lần quần áo, có khi hong tại chỗ, rồi lại thay ngay. Bác không cho dùng máy điều hoà nhiệt độ. Bác bảo: Mùi nó hôi lắm, Bác không chịu được! (Bác không dùng nên nói vậy thôi, chứ máy đã có nút xã thơm).

Thấy trời oi bức quá, Bác nói với đồng chí Vũ Kỳ:

– Nắng nóng thế này, các chú bộ đội trực phòng không trên nóc hội trường Ba Đình thì sao chịu được? Các chú ấy có đủ nước uống không? Chú thử lên tìm hiểu xem thế nào, về cho Bác biết.

Đồng chí Vũ Kỳ lên, được biết trên đó có một tổ súng 14 ly 5. Ụ cát sơ sài, nêu địch bắn vào thì chỉ có hy sinh, rất nguy hiểm.

Trời nắng chói, đứng một lúc mà hoa cả mắt. Đồng chí Vũ Kỳ hỏi:

– Các đồng chí có nước ngọt uống không?

– Nước chè thường còn chưa có, lấy đâu ra nước ngọt!

Đồng chí Vũ Kỳ về nói lại với Bác, Bác gọi điện ngay cho đồng chí Văn Tiến Dũng:

– Sao các chú không lo đủ nước uống cho các chiến sĩ trực phòng không? Nghe nói ụ súng trên nóc hội trường rất sơ sài, chú phải lo sửa ngay để đảm bảo an toàn cho chiến sĩ trong chiến đấu!

Sau đó Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đi lấy sổ tiết kiệm của Bác, xem tiền tiết kiệm của Bác còn bao nhiêu.

Tại sao Bác có tiền tiết kiệm? Lương Bác cao nhất nước, nhưng hàng tháng cũng chỉ đủ tiêu. Mọi chi phí sinh hoạt của Bác, từ cái chổi lông gà, đều ghi vào lương cả.

Tiền tiết kiệm của Bác là do các báo trả nhuận bút cho Bác. Bác viết báo nhiều, có năm hàng trăm bài. Các báo gửi đến bao nhiêu, văn phòng đều gửi vào sổ tiết kiệm của Bác. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác cũng đã có tiền tiết kiệm. Đến dịp Tết Nguyên đán, Bác lại đem chia cho cán bộ các cơ quan chung quanh Bác mua lợn để đón xuân.

Đồng chí Vũ Kỳ xem sổ và báo cáo:

– Thưa Bác, còn lại tất cả hơn 25.000 đồng (lúc đó là một món tiền rất lớn, tương đương với khoảng 60 luợng vàng).

Bác bảo:

– Chú chuyển ngay số tiền đó cho Bộ Tổng tham mưu và nói: “Đó là quà của Bác tặng để mua nước ngọt cho anh em chiến sĩ trực phòng không uống, không phải chỉ cho những chiến sĩ ở Ba Đình, mà cho tất cả các chiến sĩ đang trực chiến trên mâm pháo ở khắp miền Bắc. Nếu số tiền đó không đủ thì yêu cầu địa phương nào có bộ đội phòng không trực chiến góp sức vào cùng lo!”

Về sau, Bộ Tư lệnh Phòng không quân báo cáo lại cho Văn phòng Phủ Chủ tịch biết: Số tiền của Bác mua nước uống cho bộ đội phòng không, không quân được một tuần.

Theo TRẦN ĐỨC HIẾU
(Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh)
(Hậu Giang, số 389 ngày 16/3/2007)

SỰ GIẢN DỊ CỦA BÁC HỒ

Qua bao năm tháng năm tháng bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, Hồ Chủ tịch tích lũy được vốn kiến thức rất uyên thâm, kết tinh tinh hoa trí tuệ loài người, nhưng khi đến với cán bộ, quần chúng nhân dân, Bác đã chuyển hoá những kiến thức đó thành những câu chuyện nhẹ nhàng, dễ hiểu, rất bình dị và gần gũi.

Đầu năm 1946, có cuộc họp cán bộ từ Trung ương đến các địa phương. Bác đến thăm và nói chuyện, khi giải thích mối quan hệ giữa chính sách của Chính phủ với nhân dân thông qua đội ngũ cán bộ địa phương, Bác dùng một tấm bìa hình tam giác cân. Bác quay đáy tam giác lên trên, hướng đỉnh xuống dưới và nói, đây là chủ trương của Chính phủ (vừa nói Bác vừa chỉ tay dọc đáy trên của tấm bìa) có nhiều vấn đề lớn.

Rồi Bác chỉ tay xuống đỉnh tam giác phía dưới và nói, nhưng những chủ trương đó qua nhiều cấp, nhiều cán bộ yếu kém đến khi xuống dân thì bé lại chỉ còn chừng này. Sau đó, Bác lật tấm bìa đáy xuống dưới, đỉnh lên trên và giải thích, chiều đáy là nguyện vọng của nhân dân, có rất nhiều, rất phong phú được phản ánh từ cơ sở nhưng khi qua nhiều cấp, nhiều cán bộ thì chỉ còn bé chừng này, Bác chỉ tay vào đỉnh trên, xong Bác kết luận: “Vậy thì chúng ta phải làm gì để cho Chính phủ gần dân”. Ai dự họp cũng đều thấm thía lời dạy của Bác và tự tìm ra câu trả lời đúng với công việc của của mình.

Cũng trong năm 1946, Nhà nước cách mạng non trẻ phải đối phó với nhiều kẻ thù trong giặc ngoài, bọn Việt cách, Việt quốc gây cho ta bao khó khăn, gian nan. Nhiều người lên yêu cầu Bác cho quét sạch chúng đi, Bác cười bảo: “các chú giữ sức đánh Tây?”, rồi Bác giải thích “dòng nước đang chảy có cây gỗ chắn ngang, làm rác rưởi, lá cây đọng lại, các chú cứ vứt từng cái rác, từng cái lá thì không xuể mà phải tìm cách gạt cây gỗ đi thì dòng nước sẽ thông thoát”.

Trong thời kỳ kháng chiến nhiều cán bộ đi tuyên truyền về đường lối “trường kỳ kháng chiến”, khi nhân dân chất vấn “kháng chiến khi nào thành công?” nhiều người không giải thích được bèn về hỏi Bác. Bác bảo: “Các chú biết rằng đồng bào ta phần lớn là nông dân thì phải lấy hình ảnh cụ thể, để đồng bào dễ hiểu, các chú lấy chữ nghĩa, nào là “phụ thuộc”, “khách quan”, “chủ quan” thì dân ít người hiểu, mà phải lấy những ví dụ cụ thể như muốn có khoai ăn, lúa ăn cũng phải chờ đến 3 tháng hoặc 6 tháng mới có thu hoạch, người phụ nữ có thai cũng phải hơn 9 tháng mới sinh con. Khi đến với nhân dân, với đồng chí, Bác ở bên họ như người thân, không có sự cách biệt giữa lãnh tụ với dân. Con người Bác, phong cách Bác, tư tưởng Bác toát lên một chân lý dễ hiểu: dân dã mà thanh cao, cụ thể dễ hiểu mà uyên bác, tinh tuý.

THƯỜNG SAN (Hậu Giang số 382, ngày 28/2/2007)

HỌC TÁC PHONG SÂU SÁT CỦA BÁC

Vinh dự cho cuộc đời chiến sĩ của tôi đã được đón Bác Hồ ba lần về thăm Trường sĩ quan Lục quân. Lần thăm nào cũng vậy, Bác đều đến bếp ăn xem thành tích tăng gia sản xuất của cán bộ, chiến sĩ. Bác xem kỹ thực đơn. Có lần Bác hỏi:

– Cán bộ đại đội, tiểu đoàn có cùng ăn chung với học viên không?

– Dạ thưa Bác, có ạ!

Đồng chí hiệu trưởng trả lời Bác. Bác thăm bệnh xá, hỏi y, bác sĩ có đủ thuốc để chữa bệnh không? Bộ đội hay mắc bệnh gì…?

Nhớ đến Bác là nhớ đến tác phong quần chúng hết sức gần gũi mọi người; tình yêu thương vô bờ bến của Bác dành cho nhân dân cả nước. Những lời dạy của Bác thật dễ hiểu, cụ thể giản dị nhưng vô cùng sâu sắc.

Tiếc rằng hôm nay một số cán bộ, đảng viên tuy đã được học tập tư tưởng và đạo đức của Bác Hồ nhưng lại không làm theo Bác. Nhiều người nói thì tốt đấy nhưng lại khó làm hoặc việc làm không được như lời nói. Nhất là căn bệnh quan liêu xa dân, rất ít sâu sát cơ sở để nghe trực tiếp ý kiến, nguyện vọng, nhìn tận mắt cuộc sống của nhân dân và dường như cán bộ của địa phương nào, ngành nào cũng có. Giải quyết việc cho dân còn phiền phức qua nhiều bậc trung gian, sợ những lời nói thật, một số còn gây phiền hà cho dân hoặc mắc tội tham ô, lãng phí.

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư là đạo đức cách mạng mà Bác dạy cán bộ phải có. Mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta phải thường xuyên lấy đạo đức của Người để soi xét lại lời nói và hành động của mình, phấn đấu tích cực để cùng với toàn dân thực hiện có hiệu quả mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội, công bằng, dân chủ, văn minh.

Theo Nguyễn Thụ, báo QĐND điện tử

longan.gov.vn