Thư viện

Những ngày cuối cùng của Bác Hồ

9 giờ ngày 2/9/1969, Bác bị một cơn đau tim nặng. Theo dõi trên máy điện tim thì đến 9 giờ 15 phút, tim Bác ngừng đập hẳn. Các bác sỹ, anh em bảo vệ chúng tôi thay nhau dùng sức ấn lên ngực Bác, mong sao tim Người đập trở lại. Cho đến 9 giờ 47 phút, Thủ tướng Phạm Văn Đồng trào nước mắt: “Thôi các đồng chí ạ, Bác của chúng ta không qua khỏi nữa rồi” – TS. Trần Viết Hoàn, nguyên cảnh vệ của Bác Hồ viết riêng cho VietNamNet.

Lãnh đạo Đảng và Nhà nước đến thăm Bác những ngày Bác ốm năm 1969.Ảnh do tác giả cung cấp

Bác nằm chữa bệnh tại ngôi nhà nhỏ phía sau nhà sàn, ngôi nhà mà Bộ Chính trị quyết định làm tháng 5/1967 – trong lúc Bác sang Trung Quốc chữa bệnh, với mục đích bảo đảm an toàn cho Người trong những năm máy bay giặc Mỹ bắn phá Hà Nội.

 

Khi nhà làm xong, Bác Hồ không nhận sử dụng riêng cho mình. Người nói: Khi nào có nhiều đồng chí phụ trách đến làm việc với Bác thì họp ở nhà ấy cho chắc chắn. Còn lúc ở một mình, Bác cứ ở nhà sàn gỗ thôi.” 

Kể từ ngày 20/7/1967 (ngày Bác đi Trung Quốc về), nơi đây trở thành địa điểm Bộ Chính trị họp mỗi tuần một lần, ra những quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước. Bây giờ, trong hồ sơ di sản, ngôi nhà này được gọi là nhà 67.

Bài viết cuối cùng

 

Kỷ niệm Đảng ta 39 tuổi (3/2/1969), tại ngôi nhà này, Bác Hồ đã viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, biểu dương tinh thần hy sinh gương mẫu, đạo đức trong sáng của cán bộ, đảng viên, đồng thời kịch liệt lên án những hành vi, tư tưởng cá nhân hẹp hòi.

Người chỉ ra rằng chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân, là bạn đồng hành của căn bệnh tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa, tham danh, trục lợi… làm hại đến quyền lợi của cách mạng, của nhân dân, làm giảm thanh danh, uy tín của Đảng cầm quyền.

Trong bài viết cuối cùng về đạo đức trước khi từ biệt thế giới này, Bác Hồ không quên dặn lại mọi người cách làm người, nâng cao phẩm giá – cái gốc quý báu để bảo đảm cho cuộc hành trình trong cuộc đời mỗi người tới đích vẻ vang. Ngẫm suy thời cuộc hiện nay, khi mà chủ nghĩa cá nhân đẻ ra tham nhũng đã trở thành nguy cơ nội xâm, quốc nạn, càng thấy giá trị lớn lao lời dạy của Bác.

Các đồng chí lãnh đạo Ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương thắp hương tại bàn thờ Bác Hồ. Ảnh do tác giả cung cấp

Và tại ngôi nhà này, Bác đã để lại tấm gương đạo đức trong sáng để bây giờ cho ta học và làm theo.

Một lần, đồng chí phục vụ đọc cho Bác nghe báo Hà Nội Mới đưa tin Hợp tác xã Ngũ Xã có ý định đúc bức tượng Bác bán thân bằng đồng. Bác nói với đồng chí phục vụ: “

Vào thời gian sau ngày 12/8/1969, Bộ Chính trị tổ chức họp bàn chuẩn bị tổ chức 4 ngày lễ lớn trong năm 1970. Cuộc họp vắng Bác, vì Người đang mệt nặng. Một hôm, có đồng chí ủy viên Bộ Chính trị vào thăm Bác và báo cáo lại với Bác quyết định của Bộ Chính trị.

Nằm trên giường bệnh, nghe nói về những kỷ niệm sắp tới, Bác rất vui. Nhưng khi nghe nói việc tổ chức kỷ niệm 80 năm ngày sinh của Người, Bác liền bảo: “

“Chúng tôi xin hiến tim mình để thay tim cho Bác”

16 giờ ngày 12/8/1969, Bác gặp đồng chí Lê Đức Thọ tại nhà nghỉ Hồ Tây nghe báo cáo tình hình Hội nghị Paris. Đêm hôm đó, Bác lên cơn sốt và ho, những ngày sau đó Bác ho nhiều hơn, sốt nặng hơn. Nhưng Bác vẫn lên, xuống nhà sàn làm việc. Theo đề nghị của bác sỹ, ngày 18/8, Bác Hồ không làm việc ở nhà sàn gỗ nữa. Người xuống ở và làm việc tại ngôi nhà 67. Kể từ hôm đó, những ngày quy luật của cuộc đời đến với Bác Hồ ở nơi đây.

Ngày 29/8/1969, Bác nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Ngày lễ Quốc khánh, Bác sẽ ra dự mươi, mười lăm phút”.

Ngẫm lại thì thấy thật kỳ lạ: 9 giờ ngày 2/9/1969, Bác bị một cơn đau tim nặng. Theo dõi trên máy điện tim thì đến 9 giờ 15, tim Bác ngừng đập hẳn. Các bác sỹ, anh em bảo vệ chúng tôi thay nhau dùng sức ấn lên ngực Bác, mong sao tim Người đập trở lại. Cho đến 9 giờ 47 phút, Thủ tướng Phạm Văn Đồng trào nước mắt: ” Thôi các đồng chí ạ, Bác của chúng ta không qua khỏi nữa rồi “.

Thế là, 9 giờ 47 phút ngày 2/9/1969, từ nơi đây truyền đến cho nhân loại nỗi đau Bác Hồ ra đi mãi mãi để cho “đời tuôn nước mắt”. Ngày 2/9/1945, Bác Hồ đã cứu dân tộc khỏi kiếp khổ nạn, mang lại hạnh phúc độc lập cho mọi người dân, nhưng ngày đó Bác có được hưởng đâu.

Và con số 9 mới linh thiêng làm sao: Bác ra đi lúc 9 giờ 47 phút, ngày 2/9/1969, thọ 79 tuổi. Ngày 9/9/1969, cả dân tộc làm lễ truy điệu tiễn đưa Người về với thế giới người hiền.

Suốt 15 năm, Bác sống và làm việc ở khu Phủ Chủ tịch, không có một lần nào dân kéo về nhà Bác để làm bận lòng Bác. Trong những ngày Bác yếu, tuy giữ bí mật rất cao về tình trạng sức khỏe của Bác, nhưng xe cộ hàng ngày ra vào nhiều, đưa các đồng chí Trung ương vào thăm Bác, đưa bác sĩ vào chữa bệnh cho Bác, đưa các phương tiện vào để chạy chữa bệnh cho Bác…, nên dân dự đoán rằng có thể Bác ốm.

Vì thế, có nhiều người dân đến Cổng đỏ (cổng ra vào Phủ Chủ tịch, hàng ngày Bác Hồ vẫn thường đi lại cổng này), nói lên một tâm nguyện: Nếu đúng Bác ốm, chúng tôi xin hiến trái tim của mình để thay tim cho Bác.

Từ ngày 3 đến ngày 6/9/1969, dòng người không lúc nào vắng, buồn rầu đội mưa thầm lặng, trật tự đi đến Lễ đài Ba Đình để viếng ảnh Bác. Và những ngày thi hài Bác quản trong linh cữu đặt tại Hội trường Ba Đình, vì đông người vào viếng nên có những cháu nhỏ không vào viếng Bác được, cứ giằng co với công an bảo vệ ngoài Hội trường, khóc lóc thảm thiết: Các chú trả Bác cho chúng cháu đây…

Ngày 2/9/1989, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và cố vấn Ban Chấp hành TƯ Đảng Phạm Văn Đồng thăm lại nơi Bác mất (tác giả đứng ngoài cùng, bên trái).

Sau ngày Bác mất, một số chiến sỹ công an, trong đó có tôi gác tay súng, chuyển sang tay chổi, tay bút chăm lo công việc bảo vệ di sản cho Bác, hàng ngày quét dọn lau chùi ngôi nhà 67 như khi phục vụ Bác lúc sinh thời. Bác đi rồi, ngôi nhà sao mà lạnh lẽo. Vì vậy chúng tôi đã đặt một lư đồng nhỏ ở cửa sổ cạnh giường Bác nằm, hàng ngày đốt nén hương trầm để nhà thêm ấm cúng.

9 giờ 47 phút ngày 2/9/1989, tôi đã mời và đón Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và cố vấn Ban Chấp hành TƯ Đảng Phạm Văn Đồng vào thăm lại nơi Bác mất và thắp nén hương tưởng nhớ Bác. Hai đồng chí cho ý kiến: “Nên có một nơi trang trọng để thờ cúng Bác, vì hương hồn Bác vẫn mãi mãi ở lại nơi đây với chúng ta”  

Để từng bước thực hiện lời căn dặn này, Khu Di tích Phủ Chủ tịch đã chỉnh trang để có được nơi thắp hương như hiện nay ở nơi Bác mất. Sau đó, dần dần để khách đến thăm nhà Bác được thắp nén hương nhớ Bác.

Và bắt đầu từ ngày 2/9/1994, chúng tôi mời các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước tới thắp hương tưởng nhớ Bác Hồ tại nơi đây vào những dịp lễ hàng năm 19/5, 2/9 và ngày Tết âm lịch. Theo phong tục cúng giỗ tổ tiên của Việt Nam, từ năm 1994, cứ đến ngày 21/7 âm lịch, chúng tôi lại sắp mâm cơm giỗ Bác.

Năm 2002, với tấm lòng thành kính của đứa con trông nhà cho Bác, tôi cầu khấn xin Bác cho lập nơi thờ cúng trang nghiêm, rộng rãi để cháu con hôm nay và mai sau về thắp hương tưởng nhớ người Ông, người Bác, người Cha, với bức tượng đồng Bác ngồi ghế, tay Bác cầm kính đặt lên tờ báo để trên đùi, mắt nhìn thẳng như dừng đọc báo để chào đón mọi người vào thăm.

Kể từ ngày lập bàn thờ Bác ở đây, các đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng cùng nhiều lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước đã về thắp hương tưởng nhớ Bác, cầu nguyện Bác phù hộ cho Quốc thái, Dân an.

TS. Trần Viết Hoàn (Nguyên Giám đốc Khu Di tích Phủ Chủ tịch)
Theo vietnamnet.vn
Nguồn Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Việt Nam – Hồ Chí Minh

“Bác nắm bàn tay THAN BỤI của chúng tôi”

Bác Hồ tặng quà cho ông Trần Văn Nỏ (Tam Đường, Lào Cai) năm 1958.

Hôm ấy, Bác đáp tàu từ Hà Nội lên thăm tỉnh Lào Cai. Anh Tư được phân công phục vụ toa có Bác. Thoạt đầu, anh đứng trên toa, nhìn xuống sân trông rõ Người. Anh đứng lên xoay mãi quả đấm cửa mà không mở được. Ngày thường anh chỉ “xoạch” một cái là đẩy rộng cửa ra. Bác đưa tay ra hiệu bảo Tư cứ từ từ, bình tĩnh.

Anh thật không ngờ hôm nay được dịp thuận lợi nhất để tỏ lòng kính yêu Bác. Theo thói quen, anh đã chăm sóc toa xe sạch sẽ, bóng lộn. Cả bàn ghế cũng đã sáng loáng như gương. Thế mà anh vẫn thấy mình chưa tròn nhiệm vụ. Tư mời Bác nghỉ lưng, Bác ôn tồn bảo:

– Chú cứ để mặc Bác.

Tàu vẫn chạy như thường mà sao Tư thấy lắc lư nhiều. Tư lo cho Bác không được yên tĩnh. Mặt trời từ từ vén sương núi ngoi lên vàng chóe. Bình minh ở miền trung du thật đẹp đẽ, dịu dàng. Bác từ trong toa bước ra vui vẻ hỏi anh trật tự viên:

– Chú có thể cho Bác đứng ở đầu toa ngắm phong cảnh chứ?

Anh trật tự vâng một tiếng nhẹ và cúi xuống đóng chấn song cửa cẩn thận. Tàu chạy nhanh. Vẻ mặt Bác hồng hào. Gió lùa chòm râu bạc bay lướt qua trên các cánh đồng xanh mướt và núi rừng trùng điệp. Chiếc áo nâu giản dị bay phấp phới. Bác xoay qua Tư hỏi:

– Chú đi tập kết có gia đình đi cùng không?

– Dạ thưa Bác, không ạ!

– Có nhớ vợ con không?

– Dạ có.

– Nhớ nhiều không?

– Dạ nhiều.

– Thế là tốt. Càng nhớ càng cố gắng làm việc nhé?

Bác hỏi đến cô Thọ, nhân viên trên tàu:

– Quê cháu ở đâu?

– Thưa Bác, cháu ở Hồng Quảng.

– Công tác ngành đường sắt được bao lâu rồi?

– Dạ cháu đã làm hơn ba năm…

Bác cười:

– Ở ngành nào cũng đều có mặt các cháu gái, thế là tốt.

Khi tàu đỗ, Bác đi thoăn thoắt lên đầu máy. Anh Thị lái tàu và anh em đốt than, phụ việc tay còn dầu mỡ, lấm lem, thấy Bác đến thì luống cuống. Tất cả đứng thẳng mà hai bàn chân cứ nhấp nhổm. Bác chìa tay ra. Có anh vì tự thấy tay mình bẩn quá không dám bắt tay Bác. Bác ôn tồn bảo:

– Chính là có than bụi bám bàn tay các chú thì Bác và bà con đây mới được ngồi thảnh thơi mà vẫn đi đến nơi về đến chốn được.

Thế là mọi người đều mạnh dạn đưa bàn tay đen sạm nắm lấy tay Bác. Anh Thị cảm động quá giữ bàn tay Bác một hồi lâu. Bác chúc anh em kéo hàng vượt mức và đạt kỷ lục tiết kiệm than cao hơn nữa.

Ở Lào Cai, Bác lên tàu rất đúng giờ. Tàu bắt đầu chạy mà còn hai anh làm công tác báo chí và điện ảnh đến muộn, xách cặp, vác máy chạy theo vẫy gọi tàu. Bác đồng ý đề nghị của anh em công nhân đỗ tàu lại vài phút đợi. Khi hai người leo được lên tàu yên ổn, Bác mới phê bình:

– Báo chí, điện ảnh thì phải đi trước chứ. Các chú đừng để phải chạy theo sau đoàn tàu nữa nhé!

Hai anh ngồi vào toa đưa mắt nhìn nhau bẽn lẽn. Bác đi thăm nhiều nơi: Lào Cai, mỏ A-pa-tít, cầu Làng Giàng, thị xã Yên Bái. Nơi nào cũng đông nghịt đồng bào và công nhân nghe Bác nói chuyện. Nhất là thiếu nhi thì nhanh tay, nhanh chân hơn cả. Các em vừa hoan hô vừa đổ về phía Bác như làn sóng nhỏ cuốn vào bờ. Bác về đến Hà Nội lâu rồi mà dư âm của chuyến đi còn truyền mãi…

(Theo cuốn “Hồ Chí Minh- Một huyền thoại kỳ vĩ”, NXB Lao động)

Ảnh: Bác Hồ tặng quà cho ông Trần Văn Nỏ (Tam Đường, Lào Cai) năm 1958.

Theo phuly.edu.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Gặp Bác ở Liên Xô

Nguyễn Ái Quốc ở Liên Xô năm 1923

Đầu năm 1933, một hôm tôi có việc đến cơ quan Quốc tế Cộng sản ở Moskva, đang ngồi trong phòng của một đồng chí thì có điện thoại bảo tôi đừng về vội. Khi họ báo cho biết có thể ra về được, tôi ra đến cửa thì bỗng thấy Bác đang nói chuyện với người lái xe. Tôi nghe rõ Bác nói với người lái xe câu tiếng Nga: “I-a sca-giu!”. (Tôi sẽ bảo).

Tất cả các đồng chí Việt Nam ở Moskva lúc đó chưa ai biết là Bác đã sang. Chỉ có đồng chí nữ thư ký của nhóm Việt Nam ở Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa (NCCVĐ DT&TĐ) biết, vì có đồng chí phụ trách nhóm Việt Nam báo cho. Đồng chí cán bộ phụ trách nhóm Việt Nam hồi đó cũng là một nữ đồng chí và là cán bộ của Quốc tế Cộng sản.

Vài hôm sau, thì được gặp chính thức. Một đồng chí Việt Nam nữa với tôi được gọi đến Quốc tế Cộng sản. Bác đợi chúng tôi ở tầng gác thứ tư trong buồng làm việc hàng ngày của đồng chí phụ trách nhóm Việt Nam ở Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Nhà đó ở đường Makhovaia; hiện nay là chỗ tiếp khách của Chủ tịch đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao.

Thấy Bác, tôi mừng quá:

– Anh!

Bác niềm nở cười.

Người Bác rất gầy, nước da xanh tái, đầu cúp trọc lốc. Tất cả tinh thần ở hai con mắt sáng quắc.

Hôm đó gặp Bác là để báo cáo Bác rõ tình hình trong nước những năm qua, và thảo ra một số tài liệu để gửi về nước.

Từ đó về sau, trong nội bộ, Bác là người lãnh đạo nhóm học sinh Việt Nam ở Viện NCCVĐDT&TĐ.

Bác vào Trường Lênin là trường Đảng cao cấp cho các lãnh tụ các nước ngoài. Trường này có hai ban: Ban dài hạn 3 năm và Ban ngắn hạn 6 tháng. Bác học Ban ngắn hạn. Ở trường, Bác lấy tên là Linov. Còn đối với nhóm học sinh Việt Nam ở Viện NCCVĐDT&TĐ, thì Bác lấy tên là Lin.

Trong khi còn học ở Trường Lênin, Bác liên hệ với nhóm Việt Nam rất chặt chẽ. Thường thường buổi tối, Bác đến nói chuyện về kinh nghiệm đấu tranh cách mạng, nhất là Bác chú ý bồi dưỡng cho anh em về đạo đức cách mạng, và đặc biệt là tinh thần đoàn kết. Đôi khi, trong những anh em đó, có người còn ít tuổi, và cũng chưa được rèn luyện mấy trong trường đấu tranh cách mạng, có những chuyện xích mích lặt vặt có tính chất cá nhân, Bác phải phân xử.

Điều mà Bác muốn làm cho anh em thấm nhuần là cần bỏ những tính tự cao tự đại, tự tư tự lợi, những biểu hiện vô kỷ luật, vô tổ chức, và phải luôn luôn đoàn kết, đặt lợi ích cách mạng lên trên hết. Bác thường nói với anh em: “Nếu chúng ta ở đây, chỉ có mấy người mà không đoàn kết với nhau được thì còn nói gì đến khi về nước đoàn kết nhân dân, quần chúng để đánh thực dân, cứu nước?”.

Học xong Trường Lênin, thì Bác chuyển hẳn sang Viện NCCVĐDT&TĐ đồng thời làm việc ở Quốc tế Cộng sản. Bác dạy nhóm Việt Nam về tổ chức và lịch sử Đảng.

Tuy là lãnh đạo nhóm, nhưng Bác rất hòa mình với anh em, tham gia mọi công tác như các anh em khác: viết báo tường tham gia các tiết mục trong những buổi biểu diễn, tổ chức đi tham quan, đi chơi với các anh em, nhận phiên dịch ra tiếng Việt các tài liệu, v.v…

Trong khi nói chuyện với anh em về kinh nghiệm đấu tranh của mình, Bác thường dùng những thí dụ cụ thể, thiết thực, vì phần đông anh em trình độ còn thấp. Ví dụ nói đến đoàn kết thì Bác lấy câu chuyện bó đũa, cả nắm khó bẻ, lấy ra từng chiếc thì dễ bẻ gẫy, v.v…

Đọc báo Đảng bằng tiếng Trung Quốc, tiếng Anh có bài nào nói đến những cuộc đấu tranh thắng lợi của quần chúng ở các nước, Bác đều dịch cho anh em nghe, một là để bồi dưỡng tinh thần quốc tế chủ nghĩa cho các đồng chí, hai là để tăng thêm sự tin tưởng của anh em ở lực lượng cách mạng.

Bác rất chú ý dạy cho anh em cách viết: qua việc duyệt các bài báo hoặc những tài liệu do anh em dịch ra tiếng Việt, Bác luôn luôn chú ý làm cho anh em viết một cách giản đơn, dễ hiểu.

Vào mùa thu 1934, đồng chí Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai sang Liên Xô. Cùng sang với hai đồng chí có hai đồng chí ở nước ngoài và một đồng chí người Nùng, quê ở Cao Bằng.

Đồng chí Minh Khai và ba đồng chí kia học ở lớp đặc biệt của Viện NCCVĐDT&TĐ. Nhóm này, về Đảng thì do đồng chí Lê Hồng Phong phụ trách. Còn Bác thì phụ trách chung cả nhóm cũ và cả nhóm này. Vì điều kiện bí mật nên hai nhóm ở hai nhà riêng biệt.

Cùng đồng chí Lê Hồng Phong và Minh Khai, các đồng chí kia sang để dự Đại hội thứ 5 Quốc tế Cộng sản. Đến năm 1935 thì Quốc tế Cộng sản khai mạc Đại hội, và công nhận Đảng ta chính thức gia nhập quốc tế. Đồng chí Lê Hồng Phong trước học ở Trường Hàng không quân sự, rồi sau sang Trường Đại học Cộng sản phương Đông (1929), được bầu vào Ban chấp hành mới của Quốc tế Cộng sản.

Bác tuy không ở trong Ban chấp hành nhưng vẫn luôn luôn tham dự mọi công tác. Như vậy là ở Quốc tế Cộng sản trước kia chưa có đại diện chính thức của Đảng ta, nay đã có.

Tuy có nhóm mới nhưng Bác vẫn săn sóc cả hai nhóm cũ, mới như nhau. Bác tham gia mọi hoạt động của cả hai nhóm rất tích cực: biểu diễn văn nghệ, viết bích báo, kể chuyện, đi tham quan, v.v…

Sau khi thôi học ở Trường Lênin, Bác đến ở cùng một nhà với nhóm thứ nhất. Lúc đầu Bác ở một chỗ riêng, trong ký túc xá của Trường Đại học Cộng sản phương Đông, rồi sau Bác dọn hẳn đến ký túc xá của Viện NCCVĐDT&TĐ, Bác ở một gian phòng nhỏ, vừa một người ở, rất giản dị, không khác gì một học sinh thường.

Khi Bác mới sang Liên Xô, nghe nói Quốc tế Cộng sản thấy Bác gầy yếu, có đề nghị Bác xuống nghỉ ở Xôchi, nhưng được một, hai ngày, Bác đã trở về.

Người Bác vẫn gầy, nước da vẫn xanh. Có điều lạ là không bao giờ mệt, ốm, không bao giờ chịu nằm luôn mấy hôm, chỉ thỉnh thoảng ho ra huyết.

Lần này, Bác ở Liên Xô lâu hơn hết. Mùa đông rất rét, có khi đến 30,34 độ dưới không độ, nhưng Bác vẫn giữ được sức khỏe, là vì sinh hoạt của Bác rất đều, có giờ giấc rất nghiêm: sáng nào dậy Bác cũng tập thể dục, trong buồng có những dụng cụ tập như quả tạ, dây chun, v.v…

Khi đi chơi, hoặc đến nhà anh em bạn, Bác cũng rất điều độ, nói giờ nào đến thì đến đúng giờ ấy, nói ở chơi được bao lâu thì ngồi chơi đúng bấy nhiêu, đố ai vì một lý do gì có thể giữ Bác lại được thêm mấy phút. Không lề mề, la cà, không việc nọ sang việc kia, đó là một biểu hiện của tính kỷ luật, tính tổ chức của tinh thần tự chủ mà Bác đạt đến cao độ.

Ở Moskva, ngày kỷ niệm Lao động quốc tế 1-5, các đoàn đại biểu ngoại quốc đến rất đông. Viện NCCVĐDT&TĐ có nhiều học sinh các thuộc địa. Để giữ bí mật, ngày đó nhà trường báo với học sinh đừng ra đường. Trong lúc ngoài phố thiên hạ nô nức, nhộn nhịp, Bác tổ chức cho anh em ăn Tết 1-5 ở nhà một cách thoải mái, vui vẻ.

Bác rất lo lắng đến việc học hành của anh em, nhất là đối với những người còn kém, học chậm. Có hôm tôi đến chỗ Bác thấy Bác đang viết một bài lục bát, hỏi Bác làm thơ phải không? Bác bảo:

– Đây là diễn ca địa lý lịch sử Việt Nam để dạy cho mấy anh em. Có người lớn tuổi, dạy thế nào cũng cứ quên, nên mình phải làm thế này để cho dễ nhớ.

– Thường ở trường anh em học môn gì, sau lớp, Bác vẫn kiểm soát lại: một là để xem anh em có hiểu mục đích, yêu cầu của môn đó không; hai là để xem học có thiết thực không, có gắn với thực tế, với đấu tranh cách mạng không; ba là những danh từ trong bài có đúng không, anh em đọc có hiểu nghĩa không. Do đó mà nhiều khi Bác bổ sung thêm cho bài học, làm cho anh em hiểu thêm được nhiều.

– Có điều là Bác làm một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, không phải quy định giờ để kiểm soát, mà là hỏi han trong khi nói chuyện thường, thành ra không có không khí gò bó, khiến anh em phải lo phải trả bài cho Bác.

– Thỉnh thoảng, ngày chủ nhật, trong nhóm tổ chức nấu cơm Việt Nam, có nơi các đồng chí phụ trách trường đến ăn, Bác cũng xuống nếp thổi nấu, dọn dẹp.

Sau khi các đồng chí Lê Hồng Phong, Minh Khai, v.v… về nước (vào năm 1936, sau Đại hội Quốc tế được ít lâu) thì Bác vào học năm thứ nhất lớp nghiên cứu sinh, Ban Sử học của Viện NCCVĐDT&TĐ. Vì hoàn cảnh còn khó khăn, Bác chưa về nước được, cho nên ở lại học thêm, chứ mục đích chính không phải là học. Vì học lớp nghiên cứu phải mất ba năm đằng đẵng, Bác là người hoạt động, không thể cứ ngồi nghiền sách.

Năm 1936 là năm ở Pháp Mặt trận nhân dân thắng. Trong nước, phong trào đấu tranh của quần chúng lại lên cao, Đảng có hoàn cảnh hoạt động nửa công khai, các nơi chuẩn bị Đông Dương đại hội. Lúc đó Bác rất chú ý theo dõi tình hình trong nước.

Trong phòng Bác luôn luôn có các báo Pháp, báo Việt Nam ở nhà gửi sang, Bác cắt ra thành từng mục để làm tài liệu. Bác đọc báo chí và nắm bắt rất sát tình hình Pháp và Trung Quốc, bởi vì hai nước đó, đặc biệt là Trung Quốc, có ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào cách mạng Việt Nam. Ngoài ra, Bác còn theo dõi tình hình ở các nước khác, như Đức, vì lúc đó Hitler đang thống trị và chuẩn bị chiến tranh; và từ năm 1936, Bác rất chăm chú theo dõi hàng ngày tin tức về Tây Ban Nha, khi nổ ra nội chiến.

Lúc này, nhóm Việt Nam ở Viện NCCVĐDT&TĐ cũng lần lượt về nước, chỉ còn vài ba người, mà những học sinh mới thì không sang nữa. Đương khi trong nước và trên thế giới phong trào lên cao như vậy, làm thế nào mà Bác yên tâm ngồi học cho được?

Bác lên đường về nước vào mùa thu năm 1938. Một buổi sáng, hồi 7 giờ, tôi còn ngủ, Bác đến chơi. Thường mọi bận, không bao giờ Bác đến sớm như vậy. Tôi tưởng là có việc gì cần, nhưng Bác chỉ nói chuyện bình thường, rồi Bác ra về.

Hôm sau, có đồng chí phụ trách ở Quốc tế Cộng sản cho hay là Bác đã đi rồi. Lúc đó tôi mới hiểu là sáng ngày hôm trước, Bác có ý đến từ biệt tôi.

Tôi rất buồn vì trước khi đi, Bác có ý đến thăm mà không biết…

GS.VS Nguyễn Khánh Toàn (1905-1993)

Theo ANTG Cuối tháng

Anh hùng quân đội và ký ức những lần gặp Hồ Chủ tịch

“Lúc Bác Hồ hỏi tôi đã nói được tiếng Kinh chưa, tôi đáp ‘Dạ, biết nhưng phát âm chưa “đủng dẩu” ạ’, mọi người trong phòng đều bật cười”, trung tá Hồ Vai kể về kỷ niệm vui trong lần đầu tiên được gặp Hồ Chủ tịch.

14 anh hùng quân đội hội ngộ ở thủ đô

Năm 1965, chàng trai 23 tuổi người Pakô Hồ Vai vinh dự cùng đoàn anh hùng miền Nam ra thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Là người dân tộc thiểu số duy nhất trong đoàn, Hồ Vai được Hồ Chủ tịch quan tâm, nói chuyện nhiều nhất.

Tuy nhiên, kỷ niệm khiến vị trung tá đã gần 70 tuổi không bao giờ quên là việc Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến lại gần ông và hỏi chuyện bằng ánh mắt trìu mến: “Cháu đã biết nói tiếng Kinh chưa?”. Anh Hồ Vai đáp, giọng hơi run: “Dạ, biết nhưng còn chưa ‘đủng dẩu’ ạ”. Câu trả lời của chàng thanh niên Pakô có nước da ngăm đen khiến cả đoàn bật cười vui vẻ.

Với anh hùng Hồ Vai, ký ức những lần gặp Hồ Chủ tịch đều in đậm trong trí nhớ.

Cũng năm đó, Hồ Vai được phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hai năm sau, người con của mảnh đất A Lưới (Thừa Thiên Huế) tiếp tục được ra Hà Nội.

“Năm 1967, lúc chiến sự ở miền Nam trở nên ác liệt, trước lúc trở về địa phương, Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi riêng tôi ra, căn dặn: ‘Cháu là cán bộ chỉ huy, khi làm việc, tiếp xúc với nhân dân phải nhớ điều trái dù nhỏ nhất cùng phải tránh, điều phải thì dù khó khăn mấy cũng phải làm bằng được’. Lời dặn khiến tôi đến bây giờ vẫn nhớ như in từng chữ, từng từ”, trung tá Hồ Vai nhớ lại.

Hoạt động du kích từ lúc 19 tuổi, chàng trai Hồ Vai nhanh chóng trở thành chỉ huy bộ đội địa phương và dân quân du kích tại A Lưới trong khi bộ đội chủ lực đã rút khỏi đây để tránh đối đầu trực tiếp với quân chủ lực địch.

Với lối đánh du kích thông minh và vận động tốt bà con dân tộc thiểu số, Hồ Vai đã biến mảnh đất A Lưới trở thành nỗi khiếp sợ của quân địch. Hơn 30 năm sau chiến tranh, điều khiến ông đau đáu là lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, ông đang bị thương, không thể ra Hà Nội chịu tang. “Người Pakô thương Bác Hồ lắm. Bác mất, nhiều người không ăn, không nói một lời suốt hai ngày liền”, vẫn chất giọng mộc mạc, ông Hồ Vai kể.

Tấm ảnh được trung tá Ngô Thị Tuyển gìn giữ như bảo vật.

Cùng đoàn ra Hà Nội với trung tá Hồ Vai dịp 22/12 còn có nhiều cái tên nổi tiếng trong kháng chiến chống Mỹ như đại tá La Văn Cầu; trung tá Ngô Thị Tuyển vác trên vai 2 hòm đạn nặng gần 100 kg (trong khi chị chỉ nặng 42 kg), hay phi công Nguyễn Văn Bảy từng bắn hạ 7 máy bay Mỹ… Tất cả đều hơn một lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong đó, câu chuyện về người nữ dân quân nhỏ bé Ngô Thị Tuyển đã trở thành huyền thoại. Bà là người con xứ Thanh vinh dự được 2 lần gặp Hồ Chủ tịch. Giữ gìn tấm ảnh cũ chụp năm 1969 bên linh cữu Chủ tịch Hồ Chí Minh như bảo vật, nữ trung tá ngày nào giờ đã lên chức bà.

Năm 1967, cô dân quân 20 tuổi làng Nam Ngạn (thành phố Thanh Hóa) gặp Hồ Chủ tịch lần đầu và không bao giờ quên hình ảnh vị Chủ tịch nước vẫn chỉ mặc bộ kaki giản dị dù trời rét căm căm. Giữa cuộc gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi: “Cháu nào biết hai chớ hai nên?”. Lúc đó Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngồi cạnh cô dân quân Tuyển và khuyến khích cô đứng dậy trả lời.

“Sau một thoáng hồi hộp, tôi nói to: ‘Thưa Bác, hai chớ là chớ chủ quan thỏa mãn, chớ xa rời quần chúng, hai nên là nên khiêm tốn học tập, nên gần gũi quần chúng”. Hồ Chủ tịch cười, hỏi mọi người rằng cháu nào làm được như Tuyển không thì mọi người đồng thanh: ‘Thưa Bác, cháu làm được ạ’. Không khí cuộc gặp ấm cúng lạ thường”, bà Tuyển nhớ lại.

Trung tá Nguyễn Thị Chiên là người đã tổ chức đội nữ du kích với tên gọi “Trung đội nữ du kích Nguyễn Thị Chiên”, trực tiếp huấn luyện cho chị em cách đánh du kích, gài mìn, ném lựu đạn, mưu trí tay không bắt địch và cũng là phụ nữ đầu tiên được phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Người anh hùng đã vinh dự 6 lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh nhớ nhất lầu đầu tiên là tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc tại Việt Bắc tháng 5/1952. “Người mặc bộ quần áo nâu, đầu đội mũ lá cọ, chân đi đôi dép cao su… Biết Chủ tịch Hồ Chí Minh giản dị nhưng không ngờ lúc gặp lại thấy gần gũi đến thế”, nữ anh hùng Chiên nhớ lại.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng trò chuyện với trung tá Ngô Thị Tuyển (trái) và đại tá La Văn Cầu (phải) trong dịp 14 anh hùng hội ngộ ở thủ đô.

Còn đại tá La Văn Cầu vẫn giữ những ký ức không thể nào quên lần được gặp Hồ Chủ tịch tại An toàn khu. Lần đó, ông cùng đồng đội vừa lập chiến công ở chiến dịch Biên giới, vết thương chưa lành. Ông được dùng cơm cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh đạo như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt. Hồ Chủ tịch giới thiệu: “Thực đơn hôm nay có thịt gà Bác nuôi, rau Bác trồng, nên mọi người đều phải ăn hết, tránh lãng phí”.

Ông kể: “Lúc chia tay, Bác đã ân cần căn dặn, trong thời gian dưỡng bệnh vẫn phải tranh thủ học để nâng cao kiến thức”. Sau lần gặp và nghe Hồ Chủ tịch dặn dò “Các cháu tuy tàn mà không phế”, tinh thần của mọi người như được tiếp thêm sức mạnh, phấn chấn và vững vàng hơn để tiếp tục chiến đấu…

Bài, ảnh: Nguyễn Hưng

vnexpress.net

Hồi ức về bức ảnh chụp cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đất Việt – Đối với PGS TS Vũ Thu Giang, ký ức về lần đầu tiên được tặng hoa và chụp ảnh cùng Bác Hồ lúc nào cũng tươi mới và vẹn nguyên trong tâm khảm, như kim chỉ nam soi sáng cả cuộc đời của bà.

Một buổi sáng tháng 5, nắng lung linh trên những ngọn xà cừ rợp lá, chúng tôi gặp lại “em bé” trong bức ảnh chụp cùng Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc. Giờ tóc đã điểm sương, cầm trên tay tấm ảnh mà bà gìn giữ như bảo vật, nhà khoa học, nhà giáo ưu tú từng làm Chủ nhiệm bộ môn Kinh tế vĩ mô, ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội xúc động nhớ lại…

Ấn tượng đẹp trong tâm hồn trẻ thơ

Để tổng kết phong trào thi đua yêu nước mà Bác Hồ phát động từ năm 1948, đồng thời, chuẩn bị sức người sức của cho giai đoạn chiến đấu cam go sắp tới, Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua, cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức tại Đại Từ, Thái Nguyên.

Những ngày ấy, bé Vũ Thu Giang, lúc đó mới 7 tuổi, thường chơi đùa ở cơ quan của mẹ, một cán bộ trí thức giữ cương vị nòng cốt trong Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam, gần nơi tổ chức đại hội. Trong giờ nghỉ bé Thu Giang và Đặng Minh Châu (con gái của bộ trưởng bộ tài chính khi đó (*) được gọi vào ăn cơm cùng với Bác.

Bác Hồ chụp ảnh với 2 cháu thiếu nhi Vũ Thu Giang (bên trái) và Đặng Minh Châu (bên phải). Ảnh: Đinh Đăng Định

Ngày khai mạc đại hội, tổ chức sang cơ quan Hội phụ nữ nhờ bé Thu Giang và bé Minh Châu đại diện cho thiếu niên, nhi đồng cả nước dâng hoa mừng Bác Hồ, bác Tôn và các anh hùng, chiến sĩ thi đua. “Đề nghị khá bất ngờ nên mọi người vội vào rừng hái hoa để chúng tôi dâng tặng các Bác và anh hùng La Văn Cầu, Nguyễn Thị Chiên… Sau đó, chúng tôi được chụp ảnh chung với Người. Trong ảnh, Bác Hồ và chị Minh Châu cười rất tươi nhưng tôi chỉ cười mỉm vì lúc đó đang thay răng nên rất ngại”, bà Thu Giang vui vẻ kể lại.

Tối hôm đó, bé Thu Giang còn tham gia buổi biểu diễn văn nghệ mừng đại hội, đóng một vai “nhí” trong vở kịch nông dân vùng lên chống thực dân. Lúc diễn, có đoạn giằng co, ruột tượng đựng gạo trên vai rơi ra, gạo bị vãi hết xuống sàn. Kết thúc vở kịch, Bác Hồ lên sân khấu, lấy một mẩu giấy vun các hạt gạo rơi, đổ lại vào một cái hũ.

Cử chỉ giản dị mà ân cần của Bác đã để lại ấn tượng lung linh trong tâm trí của bà Giang khi ấy và suốt quãng đời sau nay khi sang Liên Xô học, hay lúc về công tác trong nước tại ĐH Xây dựng và ĐH Kinh tế Quốc dân.

Kiên quyết bảo vệ cái mới

Sau thống nhất, đất nước trải qua một thời gian chuyển mình chậm chạp để đến với đổi mới. Khi đó, chuyển đổi nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN là nhu cầu bức thiết của cuộc sống, là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thế nhưng, chuyển đổi như thế nào lại là bài toán khó đối với những người trực tiếp vận hành và quản lý nền kinh tế, bởi trong nước không nhiều người am hiểu kinh thị trường và những quy luật của nó. Còn trên giảng đường, chương trình đại học, cơ cấu ngành học, lý thuyết giảng dạy thì thiếu thực tế.

Với những kiến thức tích lũy khi thực tập nghiên cứu sinh ở nước ngoài, TS Vũ Thu Giang đã đề xuất, vận động và góp phần đưa các kiến thức quản lý kinh tế thị trường vào trong nước.

Điều đáng nói, việc tìm hiểu kinh tế thị trường của TS Vũ Thu Giang xuất phát hoàn toàn từ ham mê hiểu biết chứ không phải một nhiệm vụ được giao từ trước. Trong năm 1983-1985, khi giành được một suất thực tập ở Nhật Bản để thực hiện đề tài nghiên cứu sinh liên quan tới kinh tế xây dựng, giáo sư hướng dẫn nói với bà rằng: “Chị sang đây học là khó. Vì ở đất nước các chị dạy kinh tế học của Marx, còn chúng tôi lại dạy theo trường phái kinh tế học của Mỹ, với học thuyết của Keynes và các nhà kinh tế học khác”.

Trong quá trình đưa môn kinh tế vĩ mô vào giảng dạy ở Việt Nam, bà gặp không ít khó khăn, trong đó, trở ngại lớn nhất chính là tư duy, thái độ tiếp nhận kiến thức mới. Thậm chí, có người đưa ra lý do “không đủ quỹ thời lượng” để làm khó cho việc triển khai môn học này. Kiên quyết bảo vệ cái mới, tại một hội thảo bàn về dạy  hay không dạy môn học này, bà từng nói: “Nếu các anh muốn nền giáo dục đại học Việt Nam tụt hậu 100 năm nữa thì các anh hãy loại bỏ môn học này”.

PGT TS Vũ Thu Giang kể về kỷ niệm được chụp ảnh chung cùng Bác Hồ.

Bảo vệ cái mới, có ích trước hết là việc làm phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh. Bác từng nói: “Cái tốt mà lạ, người ta có thể cho là xấu”. Vì vậy, chỉ với lòng nhiệt tình không thôi thì chưa đủ và cùng lắm chỉ phá được cái xấu, cái cũ mà không xây được cái tốt, cái mới. Yêu cầu tối thiểu là đội ngũ này phải hiểu biết công việc của mình, biết quản lý Nhà nước, do vậy, phải được đào tạo và tự mình phải luôn luôn học hỏi.

Chính nhờ quá trình tự trau dồi, tự học hỏi nghiên cứu mà TS Vũ Thu Giang đã cùng các đồng nghiệp xây dựng một trong những môn học cơ bản của kinh tế học, giúp các cán bộ quản lý và các thế hệ sinh viên thời kỳ đầu của công cuộc Đổi mới nắm được các khái niệm cơ bản và công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế, vực đất nước ra khỏi khó khăn. Đến nay, “Kinh tế vĩ mô” là môn học không thể thiếu đối với mọi ngành đào tạo kinh tế từ bậc đại học. Nói về đóng góp của mình, PGS TS Vũ Thu Giang chia sẻ: “Cái đó nằm trong máu của mình rồi, được gặp Bác, được giáo dục, luôn luôn nhớ công ơn của Bác, nghĩ về trách nhiệm của mình với đất nước”.

Do những đóng góp cho ngành giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học, PGS TS Vũ Thu Giang đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Nhà giáo ưu tú”, danh hiệu bà rất trân trọng vì nghĩ rằng đó chính là kết quả phấn đấu suốt đời làm theo lời Bác Hồ kính yêu.

(*) Bà Đặng Minh Châu – em bé thứ hai trong tấm ảnh chụp với Bác hồ tại Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua, cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất ở Chiến khu Việt Bắc, sau này cũng sang Liên Xô học chuyên ngành toán. Những năm 1960, bà đã gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam, sau đó chuyển sang nghiên cứu khoa học tại Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cho tới khi về hưu.

Văn Tuấn

baodatviet.vn

Ký ức đẹp soi sáng cả cuộc đời

Đối với PGS, TS Vũ Thu Giang, ký ức về lần đầu tiên được tặng hoa và chụp ảnh cùng Bác Hồ lúc nào cũng tươi mới và vẹn nguyên trong tâm khảm. Ký ức đó như “kim chỉ nam” soi sáng cả cuộc đời bà.

>> 100 năm ngày Bác Hồ tới Pháp

Một buổi sáng tháng 5, nắng lung linh trên những ngọn xà cừ rợp lá, chúng tôi gặp lại “em bé” trong bức ảnh chụp cùng Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc. Giờ tóc đã điểm sương, cầm trên tay tấm ảnh mà bà gìn giữ như bảo vật, người phụ nữ từng làm Chủ nhiệm Bộ môn Kinh tế Vĩ mô (ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội) xúc động nhớ lại…

Ấn tượng đẹp trong tâm hồn trẻ thơ

Những năm 1950, để tổng kết phong trào thi đua yêu nước mà Bác Hồ phát động từ năm 1948, Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua, cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức tại Đại Từ, Thái Nguyên. Ngày ấy, bé Vũ Thu Giang, mới 7 tuổi, thường chơi đùa ở cơ quan của mẹ – một cán bộ trí thức làm việc trong Trung ương Hội phụ nữ VN, gần nơi tổ chức đại hội. Trong giờ nghỉ, bé Thu Giang và Đặng Minh Châu (con của Bộ trưởng Bộ Tài chính Đặng Việt Châu) được gọi vào ăn cơm cùng với Bác.

 Bác Hồ chụp ảnh với 2 cháu thiếu nhi Vũ Thu Giang (bên trái) và Đặng Minh Châu (bên phải). Ảnh: Đinh Đăng Định

Ngày bế mạc đại hội, bé Thu Giang và bé Minh Châu được vinh dự đại diện cho thiếu niên, nhi đồng cả nước dâng hoa lên Bác Hồ. “Đề nghị khá bất ngờ, mọi người vội vào rừng hái hoa để chúng tôi dâng tặng Bác và các anh hùng, chiến sĩ thi đua. Sau đó, chúng tôi được chụp ảnh chung với Người. Trong ảnh, Bác Hồ và chị Minh Châu cười rất tươi. Tôi chỉ cười mỉm, vì lúc đó răng mới mọc nên rất ngại”, bà Thu Giang vui vẻ kể .

Tối đó, bé Thu Giang còn tham gia biểu diễn văn nghệ mừng đại hội với một vai nhí trong vở kịch nông dân vùng lên chống thực dân. Lúc diễn, có đoạn giằng co, ruột tượng trên vai rơi ra, gạo vãi hết xuống sàn. Kết thúc vở kịch, đích thân Bác Hồ lên sân khấu, lấy một mẩu giấy vun các hạt gạo rơi, đổ lại vào cái hũ. Cử chỉ giản dị mà ân cần của Bác đã để lại ấn tượng lung linh trong tâm trí của bà Giang khi ấy và suốt quãng đời sau này khi sang Liên Xô học, hay lúc về ĐH Xây dựng, ĐH Kinh tế Quốc dân giảng dạy.

Kiên quyết bảo vệ cái mới 

Việc đất nước chuyển đổi nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN là nhu cầu bức thiết của cuộc sống, là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, nhưng cũng là bài toán khó, bởi không nhiều người am hiểu kinh thị trường. Còn trên giảng đường, chương trình đại học, cơ cấu ngành học, lý thuyết giảng dạy thì thiếu  thực tế. Với những kiến thức tích lũy ở nước ngoài, bà Thu Giang đã đề xuất và vận động đưa các kiến thức quản lý kinh tế thị trường vào trong nước.

 Vũ Thu Giang và Đặng Minh Châu chụp ảnh với Bác Hồ và các anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc. Ảnh tư liệu.

Việc tìm hiểu kinh tế thị trường xuất phát từ niềm đam mê của bà, chứ không phải một nhiệm vụ được giao. Năm 1983-1985, khi sang Nhật Bản để thực hiện đề tài nghiên cứu sinh liên quan tới kinh tế xây dựng, một vị giáo sư nói với bà rằng: “Chị sang đây học sẽ gặp nhiều cái khó. Vì ở đất nước các chị dạy kinh tế học của Marx, còn chúng tôi lại dạy theo kinh tế học của Mỹ với học thuyết của Keynes hay David Begg”. Vì vậy, bà đã quyết tâm tìm mua sách đọc để bồi đắp thêm hiểu biết và mang kiến thức mới về xây dựng đất nước.

Trong quá trình đưa môn kinh tế vĩ mô vào giảng dạy ở VN, bà gặp không ít khó khăn. Trở ngại lớn nhất chính là tư duy, thái độ tiếp nhận kiến thức mới. Có người đưa ra lý do “không đủ quỹ thời lượng” để làm khó cho việc triển khai môn học này. Kiên quyết bảo vệ cái mới, tại một hội thảo bàn về môn học, bà từng nói: “Nếu các anh muốn nền giáo dục VN tụt hậu 100 năm nữa, thì các anh cứ loại bỏ môn học này đi”.

Bảo vệ cái mới, cái có ích là việc làm phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh. Bác từng nói: “Cái tốt mà lạ, người ta có thể cho là xấu”. Vì vậy, chỉ với lòng nhiệt tình thì chưa đủ, cùng lắm chỉ phá được cái xấu, cái cũ mà không xây được cái tốt, cái mới. Bà đã cùng các đồng nghiệp giúp các cán bộ quản lý và nhiều thế hệ sinh viên thời kỳ đầu Đổi mới nắm được những khái niệm cơ bản và công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế. PGS Vũ Thu Giang chia sẻ: “Cái đó nằm trong máu của mình rồi. Được gặp Bác, luôn nhớ công ơn Người, nghĩ về trách nhiệm của mình với đất nước”.

BOX: Bà Đặng Minh Châu – em bé thứ 2 trong tấm ảnh chụp với Bác Hồ tại Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua, cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất ở chiến khu Việt Bắc, sau này cũng sang Liên Xô học chuyên ngành toán. Những năm 1960, bà đã gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam, sau đó chuyển sang nghiên cứu khoa học tại Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cho tới khi về hưu.

Những hoạt động hướng đến ngày sinh Bác trong ngày 17/5

Ngày 17/5, Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh TP HCM phối hợp với Đài TH thành phố tổ chức Lễ trồng cây nhớ ơn Bác. Cây bàng vuông, quà tặng của quân, dân huyện đảo Trường Sa đã được trồng tại vị trí trang trọng tại cửa bảo tàng. Đặc biệt, cây bàng được trồng với 5 loại đất lấy từ các địa phương, như : Nghệ An, Cao Bằng, Hà Nội, TP.HCM và Đồng Tháp, là những địa phương in đậm dấu ấn về Người.

Nhà văn hóa Phụ nữ TP HCM khai mạc triển lãm tranh cát mang chủ đềHành trình vì đất nước giới thiệu 90 tác phẩm được sáng tác bằng 72 màu cát tự nhiên không chất kết dính của họa sĩ Nguyễn Chí Nhật Quang. Các bức tranh là những câu chuyện sống động, ghi dấu ấn rõ nét về chặng đường đi tìm chân lý cách mạng của Bác, những nơi Bác đã đi qua trong những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước cho đến những ngày tháng hòa bình độc lập.

Hội Nghệ sĩ Múa TP HCM tổ chức đêm diễn kỷ niệm 121 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhiều tiết mục múa, hát ca ngợi Bác Hồ Dấu chân phía trướcNhững người Cộng SảnKý ức lời ruQuê hương vàĐêm Đại Ngàn

Sở VH-TT-DL Hà Nội khai mạc triển lãm ảnh “Hồ Chí Minh – Người là niềm tin tất thắng” giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp của Bác Hồ đã được khai mạc tại Trung tâm Thông tin Triển lãm thành phố. Triển lãm đã trưng bày gần 100 bức ảnh quý, ghi lại những khoảnh khắc từ khi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, thời gian Bác hoạt động tại nước ngoài, quá trình lãnh đạo dân tộc kháng chiến giành thắng lợi cũng như trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội tại miền Bắc. Triển lãm cũng trưng bày khoảng 50 đầu sách viết về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, các câu chuyện kể về Bác Hồ…

Văn Tuấn

baodatviet.vn

Ký ức đón Tết bên Bác Hồ của người cảnh vệ già

(Nguoiduatin.vn) – Thật bất ngờ khi chúng tôi gặp lại đại tá Nguyễn Hữu Trực (ở thôn Giữa, xã Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang). Cuộc sống, con người của đại tá vẫn “không thể giản dị hơn” như chính tính cách và con người ông.

Trong quá trình trò chuyện, tôi luôn cảm nhận được sự xúc động, tôn kính của đại tá mỗi khi nói về Bác và luôn gần gũi như thể ông vẫn đang là người vinh dự được phục vụ Bác vậy. Và trong không khí tết đang đến gần, kỷ niệm những cái tết được ở bên Bác lại sống động hơn cả.

“Thấm và ngấm” phong cách của Bác

Đại tá Trực sinh năm 1932 trong một gia đình bình thường như bao gia đình khác ở vùng quê bán sơn địa. Năm 18 tuổi (năm 1950), ông tham gia lực lượng Thanh niên xung phong và từng đi phục vụ Chiến dịch biên giới ở Tây Bắc, sau đó là các chiến dịch Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám.

Đại tá Trực hiện nay

 Đại tá Trực kể: “Nhiệt huyết tham gia đánh đuổi thực dân, đế quốc, phát xít xâm lược của thanh niên ngày ấy luôn sục sôi. Song, khi đã được tham gia vào chiến dịch lớn, tôi vẫn bồi hồi, thoáng chút lo lắng với suy nghĩ, mình sẽ đóng góp phần việc nhỏ bé như thế nào?”.

Vì hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tháng 2/1955, ông Trực chính thức được nhận vào công tác tại ngành công an và tham gia một khoá huấn luyện nghiệp vụ. Theo đại tá Trực, đây là khoá huấn luyện rất lạ, thú vị đối với một thanh niên mới lớn như ông. Thời điểm đó, ông không biết rằng  được huấn luyện như vậy thì sẽ được phân công làm công tác gì? ông cùng một số anh em cứ âm thầm học, tập luyện, vậy thôi. Những tình huống, những giả định như thật trong bài tập nghiệp vụ đã cho ông cái nhìn lạc quan cũng như rất rõ ràng về công việc trước mắt cũng như sau này của người chiến sỹ công an.

Đại tá Trực kể: “Khi biết mình có tên trong danh sách được cùng với đội cảnh vệ tháp tùng Bác Hồ đi viếng nghĩa trang liệt sỹ vào ngày 2/9/1955 – ngày Quốc khánh lần thứ 10 thì tôi đã định nhảy và hét lên vì sung sướng. Song cảm xúc đó đã được kìm nén lại, đúng như những gì tôi được huấn luyện trước đó. Và trong suy nghĩ của tôi lúc đó xuất hiện chữ vinh dự kèm với trách nhiệm”.

Sau lần đó, ông được điều về làm cảnh vệ vòng ngoài của Phủ Chủ tịch. “Có nghĩa là được nhìn thấy Bác thường xuyên hơn, được thấy dáng Người hàng sáng tập thể dục, cho cá ăn, chăm sóc cây, nâng niu trái quả, ngồi trầm tư… Những cử chỉ, lời nói, việc làm đơn giản, bình dị, thường ngày đó cứ thấm, ngấm dần vào tính cách, cuộc sống của những chiến sỹ bảo vệ, phục vụ Bác như chúng tôi…” – vị đại tá già nhớ lại.

Qua tìm hiểu, tôi rất tâm đắc lời đại tá Trực nói về cái sự “thấm và ngấm” ấy. Hiện tại, cuộc sống của đại tá Trực cũng rất bình dị. Cả 5 người con của ông đã trưởng thành và ra ở riêng, hàng ngày ông vui với ngôi nhà nhỏ, đầy cây xanh và ao cá. Dù tuổi đã thượng thọ nhưng ông vẫn thích lội ao, vớt cái bèo, cho con cá ăn, quét dọn vườn tược, tỉa cây… Và có một thói quen ông chưa bao giờ không làm, đó là sáng sáng dậy tập thể dục và nghe chim hót.

“Các chú lại bố trí rồi!”

Đại tá Trực kể: “Trong sự nghiệp, tôi có 5 năm là bảo vệ và 2 năm được trực tiếp phục vụ Bác Hồ. Tất cả những gì liên quan đến 7 năm này là ký ức tôi không thể quên. Trong rất nhiều những sự kiện diễn ra trong thời gian đó, có những sự kiện là dấu ấn quan trọng.

Tháng 6/1957, lần đầu tiên Bác trở về thăm lại quê Nghệ An. Bác đã đau đáu mong chờ chuyến trở về quê sau bao năm bôn ba tìm đường cứu nước. Lần đó, tôi được tham gia bảo vệ Bác. Cũng năm đó, tôi được kết nạp Đảng. Kết nạp Đảng xong, tôi được ông Vũ Kỳ phân công nhiệm vụ là trực tiếp bảo vệ Bác trong Phủ Chủ tịch. Cảm xúc lúc nhận nhiệm vụ mới lạ lắm, vinh dự xen lẫn mơ hồ trong thoáng qua của sự lo lắng. Lúc đó, tôi hiểu nghiệp vụ mà mình được huấn luyện, luyện tập bắt đầu phải ứng dụng tối đa trong sự sáng tạo của cái chuẩn đến từng chi tiết nhỏ nhất”.

Theo Đại tá Trực, bảo vệ Bác trong Phủ Chủ tịch là việc thường ngày nhưng bảo vệ Bác ra ngoài thì phức tạp hơn nhiều. Khi ra khỏi Phủ Chủ tịch,  Bác luôn muốn tận mắt nhìn thấy mọi thứ, trực tiếp tiếp xúc, hỏi han mọi người. Phần lớn những sự bố trí của cảnh vệ đều bị Bác phát hiện và thay đổi lịch trình.

Lực lượng cảnh vệ đang hộ tống một đoàn đại biểu

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III thành công tốt đẹp, Bác muốn đi thăm bà con nông dân, muốn trực tiếp ngắm nhìn đồng lúa, nhìn bà con nông dân gặt lúa. Cánh đồng lúa ở khu vực tỉnh Hà Tây (cũ) được bố trí để đưa Bác đến thăm nhưng khi phát hiện ra, Bác đã yêu cầu lái xe tiếp tục chạy mà không dừng lại nơi cảnh vệ đã bố trí trước. Bác còn nói vui nhưng chứa đựng sự phê bình rằng: “Các chú lại bố trí rồi”!. Cả đoàn lo lắng nhưng Bác bình thản và vui lắm.

Xe chạy đến cánh đồng lúa ở huyện Đan Phượng, thấy nhiều bà con đang gặt lúa, nói chuyện rộn ràng, khuôn mặt ai cũng tươi rói vì mùa vụ bội thu, Bác yêu cầu dừng xe. Bác xuống xe, xuống ruộng, đến hỏi han người nông dân đang gặt lúa. Nhận ra Bác, mọi người đều vui, xúc động. Bác vui, người nông dân xúc động còn cảnh vệ và phục vụ như Đại tá Trực thì lo lắng…

Sau 7 năm vinh dự được phục vụ Bác, năm 1962, đại tá Trực đi học nghiệp vụ ở Liên Xô (cũ), rồi về làm giảng viên Học viện An ninh. Năm 1976, Đại tá được cử về giảng dạy tại Trường Đào tạo cán bộ cho nước bạn Lào.

Năm 1990, nghỉ hưu với quân hàm đại tá. Đại tá được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, Huân chương chiến công hạng nhất, và Huân chương tự do hạng nhì của nước bạn Lào.

Đại tá Trực thừa nhận: Bác ra ngoại ô, thăm nông dân, trẻ em, trí thức… phương án tác chiến của cảnh vệ, phục vụ nhẹ nhàng hơn. Bác đi thăm những nơi công cộng, chợ… quả thật, anh em cảnh vệ phải linh hoạt đến tối đa có thể. Cụ thể, chiều 30 Tết năm 1960, Bác quyết định đi thăm chợ Đồng Xuân xem bà con tiểu thương buôn bán, đồng bào mua hàng, sắm Tết thế nào. Kế hoạch của cảnh vệ đề xuất là có người sẽ đến giúp Bác cải trang nhưng Bác không đồng ý. Bác tự mặc áo bông, đội mũ và quàng khăn che bộ râu rồi đi. Bác đến khắp các dãy hàng trong chợ, qua từng cửa hàng, đứng nhìn, ngắm, thậm chí hỏi mua hàng thế mà không ai nhận ra Bác.

Khi đi đến dãy hàng cuối cùng của chợ, có một cháu thiếu niên theo mẹ đi chợ, nhận ra Bác. Có lẽ do bất ngờ và sung sướng nên cháu chỉ kịp thốt lên lời “A… Bác Hồ! “thì rất may cảnh vệ kịp phát hiện và yêu cầu giữ im lặng. Bác không biết chi tiết đó vẫn vừa đi vừa nhìn đồng bào mua sắm rồi đi thẳng ra xe. Trong những chuyến đi công tác, Bác thường đến thăm người lao động, thiếu niên, nhi đồng, thăm nơi họ làm việc, sinh hoạt trước khi đến trụ sở chính quyền, nhà máy. Bác muốn biết tình hình làm việc, sinh sống của đồng bào trước khi làm việc với chính quyền, với lãnh đạo nhà máy. Đặc biệt, Bác luôn ăn, ở, sinh hoạt cùng đội ngũ cán bộ đi cùng trong những chuyến công tác dài ngày và với tác phong giản dị, tiết kiệm…

“Được Bác quý mến, dạy bảo, uốn nắn… là phần thưởng lớn của anh em cảnh vệ và đội ngũ phục vụ” – Đại tá Trực bày tỏ. Vào ngày nghỉ, Bác luôn tổ chức và trực tiếp cùng cảnh vệ, đội ngũ phục vụ xem phim hoặc ngồi chơi trò gì đó. Có thể là đố vui; có thể là hỏi kiến thức địa lý, lịch sử; có thể là đặc tính của cây; của con cá… Rất vui và chứa đựng ý nghĩa giáo dục rất dễ nhớ. Ngày lễ, ngày Tết, Bác hầu như vẫn làm việc, vẫn tiếp khách, nhất là khách quốc tế vào dịp tết cổ truyền nên cảnh vệ, người phục vụ vẫn phân công thay nhau trực.

Vũ Hoàng Quế Ngân

nguoiduatin.vn

Nhớ Bác Hồ trồng cây năm xưa…

Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về, trong không khí rộn ràng, phấn khởi những ngày đầu năm mới, nhân dân khắp mọi miền Tổ quốc lại nhớ tới lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. Từ lời kêu gọi của Người năm xưa, đến nay, Tết trồng cây đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của cả đất nước, cả dân tộc.

Nhà sàn Bác Hồ luôn ngập tràn màu xanh thiên nhiên (Nguồn: Internet)

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất yêu và gần gũi với thiên nhiên. Nơi ở của người, đâu đâu cũng thấy bóng mát của cây cối, hương thơm cây cỏ, âm thanh muôn loài. Người trồng cây, nuôi chim, đào ao thả cá. Người sống và làm việc giữa những người bạn thiên nhiên tâm giao thân thiết, giữa những suy nghĩ cho vận mệnh nước nhà là những phút thả hồn vào muôn hoa vạn vật…

Cuối năm 1959, đầu 1960, nhân dịp cả nước thi đua lập nhiều thành tích mừng xuân, mừng Đảng tròn 30 tuổi, Bác Hồ đã phát động Tết trồng cây trong toàn dân với lời dạy “Việc này ít tốn kém mà lợi ích nhiều”. Bác nói: “Trong 10 năm nữa, phong cảnh nước ta sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu sẽ hiền hoà hơn, cây gỗ sẽ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”.

Bác Hồ chăm sóc cây Vú sữa của đồng bào miền Nam tặng (Nguồn: Internet)

Ngày 5/01/1961 (ngày 9 tháng Chạp năm Canh Tý), Bác Hồ về thăm Hợp tác xã Lạc Trung, tỉnh Vĩnh Phúc – nơi có phong trào trồng cây hai bên đường và trên các bãi đất trống. Bác ôm ghì 2 đồng chí lãnh đạo của xã thật chặt và hỏi: “Các chú có thấy khó chịu không?”. Rồi Bác ôn tồn bảo: “Cây cũng như người, nó phải có khoảng cách để sống và phát triển, các chú cần hướng dẫn nhân dân trồng cây theo kỹ thuật, trồng cây nào tốt cây đó”.

Hàng năm, cứ mỗi độ Tết đến, xuân về, Bác vừa viết báo nhắc nhở nhân dân thực hiện Tết trồng cây, vừa đi thăm và tham gia trồng cây cùng với nhân dân. Người luôn biểu dương những địa phương, đơn vị, cá nhân trồng cây tốt và nhắc nhở những địa phương, những hợp tác xã chưa quan tâm đến việc tổ chức “Tết trồng cây”. Người đặc biệt lưu ý phải liên hệ chặt chẽ “Tết trồng cây” với kế hoạch trồng cây gây rừng, “trồng cây nào, chắc cây ấy”. Người còn lưu ý: “Có nơi nhầm cho rằng Tết trồng cây chỉ một đợt và một năm thôi; chứ không hiểu rằng Tết trồng cây cũng là một kế hoạch kinh tế lâu dài và liên tục…”, “Sở dĩ Tết trồng cây đã trở nên một phong trào quần chúng mạnh mẽ, là vì mọi người đều thấy lợi ích thiết thực và lâu dài của nó”.

Còn nhớ, trên báo Hà Đông ra ngày 20/1/1965, trong bài “Hãy nhiệt liệt tổ chức Tết trồng cây”, Bác viết: Muốn xây dựng nông thôn mới, việc đầu tiên của nông thôn mới là xây dựng lại nhà ở cho đàng hoàng. Muốn vậy thì ngay từ bây giờ phải trồng cây nhiều và tốt để lấy gỗ. Chỉ có việc đó cũng đủ thấy cần phải đẩy mạnh phong trào Tết trồng cây…

Bác Hồ cùng cán bộ, nhân viên trồng cây trong Phủ Chủ tịch (Nguồn: Internet)

Trong những lần thăm nước bạn hoặc tiếp đón các vị nguyên thủ quốc gia đến thăm Việt Nam, Bác đều tổ chức trồng cây lưu niệm. Người đã trồng cây Đại ở Ấn Độ, trồng cây sồi ở Nga và tặng chúng những cái tên thân mật là “những cây hữu nghị”. Theo thời gian, cây cối lớn dần lên cũng giống như tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với bạn bè thế giới ngày càng thêm thân tình, gắn bó. Những năm chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc, Bác Hồ vẫn kêu gọi nhân dân trồng cây, giữ lấy màu xanh của đất nước. Bác viết: “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân”.

Bác trồng cây Đa cùng bà con xã Vật Lại (huyện Ba Vì, Hà Tây) mùa xuân năm Kỷ Dậu (Nguồn: Internet)

Trong bài viết cuối cùng của mình về Tết trồng cây ngày 5/2/1969, Bác nhắc tới “ích lợi to lớn cho kinh tế quốc phòng” của việc trồng cây gây rừng, và nhắc nhở “đồng bào các địa phương phải biến đồi trọc thành vườn cây”. Ngày mùng một Tết Kỷ Dậu (16.2.1969), trong mùa xuân cuối cùng của cuộc đời, Bác đã tự tay trồng một cây đa trên đồi cây xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).

Ngay cả khi nằm trên giường bệnh, Bác vẫn không quên nhắc nhở Đảng bộ Nghệ An cần “có kế hoạch trồng cây bảo vệ rừng”. Di chúc của Người cũng không quên nhắc nhở nhân dân ta phải tiếp tục trồng cây gây rừng. Người viết: “Nếu có kế hoạch trồng cây trên đồi, ai đến thăm thì trồng 1 cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho công nghiệp”.

*****

Hơn 40 năm kể từ ngày Bác đi xa, đất trời đã bước vào nhiều mùa xuân mới. Tết trồng cây đã trở thành một truyền thống tốt đẹp được nhân dân ta gìn giữ qua nhiều đời. Từ lời Người dạy, phong trào trồng cây, gây rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc luôn được toàn Đảng, toàn dân ta ra sức hưởng ứng bằng nhiều hành động cụ thể. Mỗi độ Tết đến, xuân về, nhìn những bóng cây xanh mát khắp các ngả đường từ Nam tới Bắc, lại càng nhớ lời Người dạy năm xưa:

Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân

Thu Hiền (Tổng hợp)

backan.gov.vn

Ký ức về Bác với người Việt xa xứ

Bác Nguyễn Lan Phương

Những ký ức về Bác Hồ vĩ đại luôn là niềm tự hào và động lực vô giá với các thế hệ con cháu người Việt, trong đó có kiều bào sống xa Tổ quốc.

Nhiều gia đình Việt Kiều cho đến giờ vẫn cố gắng gìn giữ những kỷ vật về quê nhà, về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc và truyền lại cho con cháu. Kỷ vật đôi lúc có thể đơn giản chỉ là một tờ báo. Nhưng hàng chục năm lưu lạc mà vẫn nâng niu gìn giữ được một tờ báo viết về Bác từ năm 1975 – ngay sau ngày đất nước thống nhất – để bây giờ trao lại cho con cháu, lại là một câu chuyện rất đáng được nói tới.

PV VOV thường trú tại Pháp đã có may mắn gặp gỡ và trò chuyện với gia đình bác Nguyễn Lan Phương – người đã giữ tờ báo Nhân dân có bài viết “Thời thanh niên của Bác Hồ” từ 36 năm qua.

Thật bất ngờ và xúc động khi trong một cuộc trò chuyện, anh Nguyễn Hải Nam – Chủ tịch Hội Doanh nhân Việt Nam tại Pháp – lật dở trong cặp làm việc lấy ra tờ báo Nhân dân ngày 02/ 06 /1975 mà mẹ anh mới trao lại. Tờ báo có bài “Thời thanh niên của Bác Hồ” do cố nhà báo Hồng Hà viết, ghi lại những ngày tháng Bác tới nước Pháp tìm đường cứu nước.

Trên tờ báo có nét bút gạch chân dưới cái tên Nguyễn Duyên (hay còn gọi là Tư Duyên) – chính là ông ngoại của anh Nam, một thợ ảnh người Việt tại Pháp từng nhiều lần được gặp Bác Hồ. Những ký ức được ông bà cha mẹ kể lại tràn về đầy ắp và thật tự nhiên giữa anh với chúng tôi – đều là những người con đất Việt thế hệ sinh ra sau chiến tranh, những ký ức dù không đầy đủ và chi tiết vì đã qua nhiều thế hệ.

Tìm tới nhà anh Nam, chúng tôi được nghe mẹ anh – bác Nguyễn Lan Phương kể lại chuyện bà gìn giữ tờ báo và nay trao lại cho con trai – một nhân vật có uy tín trong cộng đồng người Việt tại Pháp. Câu chuyện được bác kể lại rất mộc mạc vì ký ức đã từ hàng chục năm, lúc nhớ lúc quên. Và cũng vì đó là niềm tự hào riêng của gia đình nhiều năm qua mà bác chưa thổ lộ với ai.

“Lúc đó tôi đang ở Sài gòn, có được tờ báo và giữ làm kỷ niệm, tình cờ tự nhiên đọc hay xem báo Nhân dân, giữ luôn đến giờ, mới chuyển cho con trai. Vì cụ sinh ra các chị em thường cụ hay nhắc nói chuyện đến Bác Hồ, mọi người cũng để ý; nghe thấy rất phấn khởi và giữ đấy” – Bác Nguyễn Lan Phương chia sẻ.

Bác Nguyễn Lan Phương kể, thân sinh của bác là cụ Tư Duyên, khi đó là một thợ ảnh trong nhóm người Việt Nam tham gia phong trào yêu nước đã nhiều lần được gặp Bác Hồ khi Người tham gia hoạt động cách mạng tại Pháp những năm 1917 – 1923 sau khi trở về từ Mỹ, Anh. Nhà cụ Tư Duyên vừa là nơi làm ảnh, vừa là chỗ ăn ở của những người bạn Việt Nam tham gia phong trào ái quốc, trong đó có chí sỹ Phan Chu Trinh. Cụ cũng thường mời Bác Hồ cùng với ông Phan Văn Trường đến nhà chia sẻ kinh nghiệm làm ảnh và nghệ thuật chụp ảnh cũng như tâm sự nỗi nhớ quê hương.

Theo lời kể của cụ Tư Duyên được gia đình thuật lại, sau những lần gặp Bác Hồ, ông đã bị thu hút bởi lòng yêu nước, tinh thần dân tộc sâu đậm của của người thanh niên tuổi rất trẻ nhưng có tư tưởng và hoài bão lớn lao. Còn Bác Hồ thì quý sự cần cù, bản tính ít nói, tình cảm thân thiện của người bạn Tư Duyên với tâm sự : “Tôi chỉ biết rửa ảnh và chụp ảnh thôi, nhưng sẽ tích cực giúp đỡ những người hoạt động cách mạng như anh, ông Trinh và ông Trường”.

Bác Lan Phương nhớ lại: “Gia đình có tới 11 chị em, tôi là cả, lúc đó khoảng 17-18 tuổi; tất cả nghe bố nói chuyện, các em cũng nhớ hết. Bao nhiêu lần, cụ nhớ kỷ niệm cụ ngồi cụ nói. Lúc cụ sang Pháp là 17 tuổi. Cụ bảo cụ ở Paris, cụ sang học tiếng và nghề ảnh. Cụ có căn nhà nhỏ, ở cùng cụ Phan Chu Trinh, có gặp bác Phan Vân Trường và Bác Hồ. Cụ kể Bác Hồ rất thân thiện, rất quý. Cụ bảo là thích làm ảnh, bằng không thì theo chính trị nhưng không có khiếu”.

Thuộc thế hệ con cháu sinh sau chiến tranh, anh Nguyễn Hải Nam luôn trân trọng và tâm niệm phải gìn giữ những ký ức đã nuôi dưỡng và tạo động lực cho anh từ khi còn nhỏ: “Những kỷ niệm đó mẹ đã nói khi đó mình chỉ ghi nhận lúc trước không chú ý mấy nhưng ký ức lúc nào cũng tiềm ẩn trong thâm tâm, có sự kiện nào về Bác Hồ tôi lại nhớ đến. Trong xây dựng cộng đồng, tôi cũng thấy Bác Hồ luôn là động lực thúc đẩy cho người Việt ở xa quê hương.

Tôi đã đi xa Việt Nam hơn 20 năm nhưng chưa bao giờ cảm thấy rời xa Việt Nam. Mỗi khi có các sự kiện diễn ra, mình lại nhớ nguồn gốc gia đình tự hào từng có mối liên hệ với Bác. Một tờ báo nho nhỏ, mình muốn giữ lại. Mình cũng muốn đi xa hơn, mẹ có nói là có vài cuốn sách, ảnh. Gia đình sẽ cố gắng tìm lại những kỷ vật, mình cố gắng tìm lại; ngoài sự kiện lịch sử; đó còn là nguồn gốc của chính mình”.

Anh Nam cũng cho biết, mới đây bất ngờ có một người bạn Pháp bày tỏ với anh nguyện vọng nghiên cứu về Bác Hồ và thời gian Người hoạt động ở Pháp. Anh sẽ cố gắng tìm lại và cung cấp cho người bạn đó những gì gia đình có được để phục vụ cho việc gìn giữ những ký ức về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc- Người vẫn luôn là nguồn động viên và đoàn kết những người con Việt Nam đang sống xa Tổ quốc./.

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Thùy Vân – Quang Hưng (Từ Paris)/ VOV
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Như người cha hiền…

Tôi nhớ mãi mùa hè năm ấy, cách đây vừa tròn 50 năm, vào một ngày tháng 6 – 1957, Bác Hồ về thăm sư đoàn 325 chúng tôi, lúc ấy đang đóng quân ở Đồng Hới, Quảng Bình. Bốn giờ chiều, tin Bác đến, lòng chúng tôi rạo rực nôn nao một niềm vui khôn tả…

Chiếc xe con màu trắng đưa Bác đến. Hàng ngũ bộ đội nhốn nháo, ai cũng muốn nhoài người ra để được gần Bác hơn, được nhìn Bác rõ hơn. Đến gần bộ đội, Bác xuống xe, giơ mũ vẫy chào. Bác mặc bộ kaki màu sáng quen thuộc, chân đi đôi dép lốp. Tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!” muốn vỡ tung lồng ngực. Bác đáp lại: “Các cháu về đi, tối nay Bác cháu ta họp mặt”.

Chúng tôi giải tán về doanh trại, bồn chồn đứng ngồi không yên, chỉ chờ tiếng còi tập hợp để ra sân gặp Bác. Từ trong nhà, Bác ung dung đi ra, với bộ đồ nâu giản dị, một tay xách chiếc chiếu đơn gấp lại ở giữa, một tay cầm chiếc quạt giấy, thong thả trải chiếc chiếu lên thềm rồi ngồi xuống.

Tất cả chúng tôi, ai ai cũng muốn ngâm một bài thơ, hát một bài để nói lên niềm kính yêu vô hạn đối với Bác.
Cứ sau một tiết mục, Bác lại lấy ra từ một bọc vải một hoặc hai cái kẹo; ai ngâm thơ hay hát thì Bác cho hai cái, ai đọc thơ thì Bác cho một cái… Cứ như thế, Bác cháu quây quần suốt hai tiếng đồng hồ, giữa lãnh tụ và chiến sĩ không còn khoảng cách mà như hòa làm một, khác nào cha với con trong niềm thương yêu dạt dào tình cảm.

Thời gian trôi đi nhanh quá. Bác đứng dậy nhìn đoàn quân, giọng ôn tồn như lời cha hiền dặn con: “Các cháu ngâm thơ và hát rất hay, Bác còn muốn nghe mãi…. Nhưng trời đã khuya, mai các cháu còn phải học tập và công tác, Bác cũng phải làm việc. Trước khi ra về Bác đề nghị một việc: để kỷ niệm ngày Bác cháu mình gặp mặt, mỗi người hứa trồng cho Bác hai cây phi lao. Các cháu có làm được không?”.

“Được ạ! Được ạ! Hồ Chủ tịch muôn năm !”.

Theo lời Bác, kể từ ngày ấy khắp sư đoàn rộ lên một phong trào trồng cây phi lao phủ xanh bờ biển. Mỗi chúng tôi không chỉ trồng hai cây mà thi đua trồng thật nhiều, có chiến sĩ trồng hàng ngàn cây dọc suốt bờ biển Quảng Bình.
Mười tám năm sau…

Năm 1975, ngày thống nhất đất nước, trên đường về Nam, ngang qua Quảng Bình, tôi chú ý quan sát vùng đất mà bộ đội, trong đó có tôi, trồng phi lao ngày trước. Ôi! Không ngờ ngay trên tuyến lửa này, mặc cho bom cày đạn xới, suốt mười mấy năm chống Mỹ, những cây phi lao bé bỏng ngày xưa đã thành rừng dày đặc, xanh um, chạy dài tít tắp.

Ôi! Bác của chúng ta vĩ đại mà gần gũi biết bao! Màu xanh Bác để lại vẫn muôn đời còn đó.

Lê Đức Minh (Cựu chiến binh, Tân Phú, TP.HCM)

bqllang.gov.vn

Còn mãi những kỷ niệm về Bác Hồ !

Đó là Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, nơi Bác đã sống và làm việc suốt 15 năm cuối đời (1954-1969). Trải dài từ Bắc vào Nam, có hơn 600 di tích và điểm di tích về Bác Hồ. Mỗi di tích chứa đựng những nội dung lịch sử, văn hóa khác nhau, cùng góp phần làm phong phú thêm các sự kiện và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng tìm hiểu tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh ở di tích của Người tại Phủ Chủ tịch có ưu thế hơn cả.

Đây là nơi Bác ở và làm việc liên tục lâu nhất trong cuộc đời và hơn thế lại là 15 năm ở cương vị người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, song những chuẩn mực đạo đức cách mạng vẫn được Người thực hiện một cách gương mẫu và là giai đoạn Người viết nhiều bài nhất về vấn đề đạo đức. Đây cũng là một trong số rất ít di tích về Bác còn giữ được gần như nguyên vẹn các bộ phận cấu thành di tích cũng như cảnh quan môi trường. Di tích lại ở ngay trung tâm chính trị, văn hóa, lịch sử Ba Đình, gắn với Lăng và Bảo tàng Hồ Chí Minh, rất thuận lợi trong việc phối hợp hoạt động cũng như các điều kiện phục vụ đông đảo nhân dân tới tham quan, học tập.

Những lý do nêu trên đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của Khu di tích. 37 năm qua, Khu di tích đã đón và phục vụ chu đáo gần 50 triệu lượt khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu, học tập. Theo kết quả điều tra những năm gần đây, thì có tới 82% số người được hỏi bày tỏ nguyện vọng sẽ trở lại thăm di tích nhiều lần. Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trong sự giản dị. Mọi người – từ các nhà khoa học, các chính khách đến tầng lớp bình dân – đều có chung đánh giá: Người là lãnh tụ cao mà không xa, mới mà không lạ, lớn mà không làm ra vĩ đại, soi sáng mà không gây choáng ngợp, gặp lần đầu mà như thân thuộc từ lâu.

Những nội dung chính của đạo đức Hồ Chí Minh (trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; tình yêu thương con người và tinh thần quốc tế trong sáng) đều hội tụ đủ và có thể khai thác hiệu quả thông qua việc tìm hiểu cuộc sống và những cống hiến của Người trong 15 năm sống và làm việc tại Khu di tích. Được nghe những câu chuyện chân thực, sinh động về hành vi đạo đức của Người trong sinh hoạt, cuộc sống, cách ứng xử, được tận mắt chứng kiến những đồ dùng tiện nghi của một nguyên thủ quốc gia, cũng như ý nghĩa của mỗi tài liệu, hiện vật trưng bày, đã thực sự gây xúc động đối với khách đến thăm Khu Di tích.

Hưởng ứng Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, hơn 2 tháng qua, Khu di tích đã tổ chức phục vụ 25 đơn vị với hơn 3.500 lượt người đến học tập, sinh hoạt chính trị như báo công, phát động thi đua… Rất nhiều người đã ghi những cảm tưởng xúc động, chân thành. Đoàn cán bộ, học viên Học viện Hậu cần ghi: “Về viếng Bác và thăm nơi ở, làm việc của Người, chúng cháu càng thêm kính trọng và thương nhớ Bác…”. Đoàn sinh viên Học viện Ngân hàng ghi: “Chúng cháu xin hứa với Bác sẽ không ngừng phấn đấu nhiều hơn nữa, góp phần xây dựng đất nước. Bác ơi ! Chúng cháu yêu Bác rất nhiều”…

Thực tế ở Khu Di tích cho thấy, muốn hiệu quả, thiết thực trong tuyên truyền, vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trước hết cần phải nhận thức rõ: Học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ không có nghĩa là bắt chước một cách máy móc, mà phải hiểu rõ tinh thần cốt lõi của từng bài học để mỗi người soi vào đó, giải quyết hài hòa ba mối quan hệ: với người, với mình và với công việc. Qua đó, ai cũng nhận thấy việc học tập và làm theo Người không phải là xa lạ hoặc quá sức, ngược lại mỗi người đều có thể sáng tạo, vận dụng ở mỗi công việc cụ thể hằng ngày…

Theo Hà Nội mới

bqllang.gov.vn

Như người cha hiền..

Tôi nhớ mãi mùa hè năm ấy, cách đây vừa tròn 50 năm, vào một ngày tháng 6 – 1957, Bác Hồ về thăm sư đoàn 325 chúng tôi, lúc ấy đang đóng quân ở Đồng Hới, Quảng Bình. Bốn giờ chiều, tin Bác đến, lòng chúng tôi rạo rực nôn nao một niềm vui khôn tả…

Chiếc xe con màu trắng đưa Bác đến. Hàng ngũ bộ đội nhốn nháo, ai cũng muốn nhoài người ra để được gần Bác hơn, được nhìn Bác rõ hơn. Đến gần bộ đội, Bác xuống xe, giơ mũ vẫy chào. Bác mặc bộ kaki màu sáng quen thuộc, chân đi đôi dép lốp. Tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!” muốn vỡ tung lồng ngực. Bác đáp lại: “Các cháu về đi, tối nay Bác cháu ta họp mặt”.

Chúng tôi giải tán về doanh trại, bồn chồn đứng ngồi không yên, chỉ chờ tiếng còi tập hợp để ra sân gặp Bác. Từ trong nhà, Bác ung dung đi ra, với bộ đồ nâu giản dị, một tay xách chiếc chiếu đơn gấp lại ở giữa, một tay cầm chiếc quạt giấy, thong thả trải chiếc chiếu lên thềm rồi ngồi xuống.

Tất cả chúng tôi, ai ai cũng muốn ngâm một bài thơ, hát một bài để nói lên niềm kính yêu vô hạn đối với Bác.
Cứ sau một tiết mục, Bác lại lấy ra từ một bọc vải một hoặc hai cái kẹo; ai ngâm thơ hay hát thì Bác cho hai cái, ai đọc thơ thì Bác cho một cái… Cứ như thế, Bác cháu quây quần suốt hai tiếng đồng hồ, giữa lãnh tụ và chiến sĩ không còn khoảng cách mà như hòa làm một, khác nào cha với con trong niềm thương yêu dạt dào tình cảm.

Thời gian trôi đi nhanh quá. Bác đứng dậy nhìn đoàn quân, giọng ôn tồn như lời cha hiền dặn con: “Các cháu ngâm thơ và hát rất hay, Bác còn muốn nghe mãi…. Nhưng trời đã khuya, mai các cháu còn phải học tập và công tác, Bác cũng phải làm việc. Trước khi ra về Bác đề nghị một việc: để kỷ niệm ngày Bác cháu mình gặp mặt, mỗi người hứa trồng cho Bác hai cây phi lao. Các cháu có làm được không?”.

“Được ạ! Được ạ! Hồ Chủ tịch muôn năm !”.

Theo lời Bác, kể từ ngày ấy khắp sư đoàn rộ lên một phong trào trồng cây phi lao phủ xanh bờ biển. Mỗi chúng tôi không chỉ trồng hai cây mà thi đua trồng thật nhiều, có chiến sĩ trồng hàng ngàn cây dọc suốt bờ biển Quảng Bình.
Mười tám năm sau…

Năm 1975, ngày thống nhất đất nước, trên đường về Nam, ngang qua Quảng Bình, tôi chú ý quan sát vùng đất mà bộ đội, trong đó có tôi, trồng phi lao ngày trước. Ôi! Không ngờ ngay trên tuyến lửa này, mặc cho bom cày đạn xới, suốt mười mấy năm chống Mỹ, những cây phi lao bé bỏng ngày xưa đã thành rừng dày đặc, xanh um, chạy dài tít tắp.

Ôi! Bác của chúng ta vĩ đại mà gần gũi biết bao! Màu xanh Bác để lại vẫn muôn đời còn đó.

Lê Đức Minh (Cựu chiến binh, Tân Phú, TP.HCM)

bqllang.gov.vn