Thư viện

Đọc tâm hồn xuân Bác Hồ

Theo gương Bác Hồ làm báoNhư một hoài niệm thấm đượm tâm hồn Việt, cứ mỗi độ xuân về, ký ức con người lại dấy lên những vần thơ Xuân Bác Hồ. Ấy là vì, như thành lệ, khi xuân đến trong cảnh đất trời rực rỡ, lòng người lại xốn xang chờ đợi những lời chúc mừng năm mới của lãnh tụ: “Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”. Xuân về, nhớ Bác là tình cảm thiêng liêng tự nhiên.

Gần như suốt những năm với cương vị người đứng đầu Nhà nước, Bác Hồ đều gửi thu bằng thơ mừng xuân như một phong tục đẹp mới vừa truyền thống, vừa rất cách mạng.

Trong tâm hồn người cầm súng tự vệ mùa xuân Đinh Hợi 1947 là lồng lộng tung bay lá cờ đỏ sao vàng và rộn rã “Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông”. Lời lãnh tụ từ đài Tiếng nói Việt Nam ở cơ sở Chùa Trầm, ngay sát Thủ đô khói lửa, có sức kêu gọi ghê gớm cả lớp thanh niên Quyết tử quân mùa xuân ấy. Rồi cả nước, từ hải đảo xa xôi đến vùng biên hẻo lánh nghe Bác Hồ cất tiếng nói Mừng Xuân 1968 kêu gọi trong niềm hy vọng cháy bỏng: “Tiến lên!/Toàn thắng ắt về ta”

Mùa xuân Kỷ Dậu 1969, không ai ngờ Mừng Xuân như một lời gĩa biệt trước khi Người đi xa mãi mãi.

Nếu ngược dòng thời gian ta sẽ nhớ lại những mùa xuân trọng đại từ trước Cách mạng của Bác Hồ.

Mùa xuân Canh Ngọ, sau nhiều năm bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng : Ôi sáng xuân nay, Xuân 41/ Trắng rừng biên giới nởhoa mơ” (Theo chân Bác – Tố Hữu). Năm sau, đúng ngày 01/01/1942, Mừng xuân 1942 là bài thơ khởi đầu cho chùm hơn hai chục bài thơ vào dịp năm mới của vị Nguyên thủ Quốc gia tương lai.

Hồ Chí Minh gắn bó với Mùa xuân – một sự gắn bó mật thiết từ trong tâm hồn. Không phải đợi đến kỳ chuyển giao thời tiết mà, đối với Người, mỗi năm không chỉ có một mà là những bốn mùa xuân – như một ý thơ mừng xuân.

Mùa xuân là “mùa xanh” của vạn vật, mùa của đâm chồi nảy lộc, của sinh sôi cây lá. Bức tranh thiên nhiên xanh tuyệt đẹp ấy chính là phiên bản của một “tâm hồn xanh” – tâm hồn vui tươi yêu đời lạc quan tột độ.

Không chỉ là phong cách mà chính là cốt cách. Hồ Chí Minh là người ưa sống với thiên nhiên, bầu bạn với thiên nhiên. Chủ tịch phủ gắn với Bách thảo như một khu rừng với cây cao bóng cả. Riêng Vườn Bác đã là một bảo tàng sống thực vật “Cõi Bác” tiên cảnh mà đời thường “Đường xoài hoa trắng nắng đu đưa, Có bốn mùa rau tươi tốt lá… ” (Tố Hữu). Sở thích riêng là tính cách con người hòa nhập tự nhiên theo một quan niệm triết lý.

Từ bạt ngàn xanh Chủ tịch phủ “Lộc non về như trận thắng Mùa Xuân”, Người muốn “Lộc của đời chia đến mỗi người dân” (Lộc của đời-Chế Lan Viên). Màu “xanh” chính là màu “xuân” – báu vật của thiên nhiên và đời người.

Mùa xuân là mùa hy vọng, mùa của những ước mơ.

Đông qua, xuân tới. Mỗi khi năm hết tết đến, trong thâm tâm Bác Hồ lại nổi lên lòng trắc ẩn, nỗi niềm đồng chí, đồng bào, tình yêu con người.

Năm 1948, người viết bài thơ Tư chiến sĩ (Nhớ chiến sĩ) có câu : “Gửi mau áo rét ra tiền tuyến/ Nhờ ấm truyền tin xuân sắp sang”. Lòng người trĩu nặng tình cảm gắn liền trách nhiệm trước mùa xuân nhân sinh.

Ưu tư nhưng vẫn thanh thản, đó là cốt cách của bậc đại nhân. Nguyên tiêu viết trong kháng chiến thể hiện rất rõ một tâm hồn tuyệt đẹp qua một bài thơ tuyệt bích/Rằm xuân lồng lộng trăng soi/Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân/ Giữa dòng bàn bạc việc quân/ Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

Từ lâu lý tưởng cao đẹp nhất của Người là đấu tranh vì độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc và nhân loại. Lý tưởng ấy chính là mùa xuân của loài người. Đấu tranh cho một mùa xuân vĩnh viễn là tất cả tâm can, ý chí và ước vọng của người.

Mừng xuân, xuân cả thế gian.

Mùa xuân là mùa trăm hoa đua nở, muôn hồng nghìn tía.

Trong mùa xuân của thơ Bác không có những cảnh tượng thiên nhiên rực rỡ mặc dầu nhà thơ Hồ Chí Minh thừa sức mô tả.

Có hoa nhưng nổi lên là “hoa lao động” : “Bốn mùa hoa Duyên Hải, Đại Phong”, nhất là “hoa chiến đấu” : “Tin vui thắng trận nở như hoa”. Trong kháng chiến phải là những bó “hoa lửa” chiến công. Nhưng năm cuối đời, với tâm trạng “Lắng mỗi tin mừng, tiếng súng xa” (Bác ơi – Tố Hữu), tâm hồn lãnh tụ chói ngời hy vọng, niềm tin sắt đá chiến thắng. Bài thơ lớn của Bác vang lên âm thanh của chiến trận. Tin vui lớn là tin vui thắng trận : “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/Thắng trận tin vui khắp nước nhà”

Lời mừng xuân cũng là lời chúc thắng lợi : “Tiến lên!/Toàn thắng ắt về ta” (Mừng xuân – 1968).

Như để đáp lại tấm lòng mong mỏi của Bác Hồ qua thơ Mừng xuân 1969, nhà thơ Tố Hữu diễn đạt ý thơ của Người qua vần thơ Xuân 69 : “Tưng bừng năm 68 chuyển nhanh/ Như một chuyến tốc hành chở đầy hoa chiến thắng/ Hoa Việt Nam – Hoa bốn mùa mưa nắng” Tứ thơ gói gọn ý Bác, lòng Dân.

***

Nghe thơ chúc mừng đầu năm của Bác, lòng người phấn khích tưng bừng nở hoa cùng với đất trời vào xuân :

Xuân về xin có một bài ca

Đúng, đó là một bài ca, bài ca chiến thắng, bài ca hy vọng.

Nhưng hơn thế, đó còn là một lời “kêu gọi” vang lên giọng đanh chắc như một mệnh lệnh thép có sức chấn động lương tâm, ý thức con người, như lời truyền hịch hào hùng.

Qua thơ mừng xuân của Người, người dân đọc được bản tổng kết “thắng lợi vẻ vang” và hướng tới nhiệm vụ thời sự, đường hướng chiến lược mới “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy” (Mừng xuân 1969) .Lịch sử đã diễn ra đúng như dự cảm, tiên đoán của lãnh tụ thiên tài.

Nhưng lẽ trời là thế “Ví không có cảnh đông tàn/ Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân (Tự miễn, Nhật ký trong tù). Lẽ đời cũng vậy. Với Người, vượt lên bức xúc, phiền hà, gian khó, hiểm nguy là lòng yêu đời lạc quan tin tưởng.

Dự cảm tương lai của Hồ Chí Minh là cực kỳ mạnh mẽ, nhanh nhạy. Thăm bạn, trên đường về, chợt thấy cây mai núi mà lòng Người đã xốn xang (Tầm hữu vị ngộ).

Mỗi đóa hoa vàng một điểm xuân

Rất nhạy cảm với tín hiệu, nhiều khi còn ở dạng ẩn hiện, thấp thoáng, mơ hồ. Với thiên nhiên là vậy, với công cuộc đấu tranh lại càng như vậy!

Mừng thấy miền Nam, luôn thắng lớn
Một năm là cả bốn mùa xuân
(Vô đề – 1963)

Với Hồ Chí Minh, trong đời Người, mùa xuân như bao trùm hết – trong bốn mùa, trên cả bốn mùa. Ấy là mùa xuân trong tâm tưởng – mùa xuân tâm hồn.

Bình sinh, Người mong ước một Đất nước xanh tức một Đất đẹp, tràn đầy sức sống. Như câu thơ tươi trẻ: “Mùa xuân là tết trồng cây/ Làm cho Đất nước mỗi ngày một xuân”.

Trước lúc ra đi mãi mãi, Người còn để lại thông điệp lạc quan. Đời người là liên tục những mùa xuân như tinh thần Di chúc : “Khi người ta đã ngoài 70 xuân”.

Đặc biệt Người rất coi trọng tuổi thanh xuân .Trong mấy lời Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến, Người nói: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.”

Qua cuộc đời anh hùng của Người, qua thơ của bậc danh nhân văn hóa thế giới, có thể thâu tóm một nhận định như chân lý nhân sinh và nghệ thuật.

Hồ Chí Minh -một con người sống đầy xuân sắc
Hồ Chí Minh- một cuộc đời sáng mãi mùa xuân
Hồ Chí Minh -một tâm hồn xuân

Thành phố Hồ Chí Minh
Tất niên Nhâm Thìn, nghênh xuân Quý Tỵ
Đoàn Trọng Huy(*)

CHÚ THÍCH:

1.Tất cả thơ văn trích dẫn đều lấy từ Hồ Chí Minh -Thơ – toàn tập, Danh ngôn Hồ Chí Minh – Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2000; Nhà xuất bản Văn học – Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2011.

2.Tất cả thơ Tố Hữu lấy từ Tố Hữu toàn tập – Thơ ca Nhà xuất bản Văn học , Hà Nội, 2008.

* Tác giả Đoàn Trọng Huy nguyên là nhà giáo, đã từng dạy học ở Tây Bắc từ năm 1953-1958, chuyên gia giáo dục ở Angola, hiện đã về hưu và sống tại thành phố Hồ Chí Minh

(Theo Bản tác giả gửi NBĐ)
Theo Nguoibanduong.net

nguoixunghekiev.vn

Bác Hồ khai bút đầu xuân

Bác Hồ chúc TếtNgoài những thư và thơ chúc tết gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước, đầu xuân Bác Hồ thường khai bút bằng những bài báo với nhiều bút danh khác nhau, khi thì C.B, T. Lan hoặc Trần Lực (T.L). Thường mỗi tết, Bác viết từ một đến hai bài báo. Đặc biệt tết năm 1960, Bác viết tới 4 bài báo. Chủ đề Bác viết rất phong phú, bài viết ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu. Có bài Bác viết tố cáo kẻ thù xâm lược bị nhân dân lên án như “Mỹ không mừng xuân” (T.L 1961).

Khi phê phán tệ nạn lãng phí xa hoa, lấy tiền công quỹ để chè chén lu bù, trong ngày lễ, ngày tết – Bác viết bài: “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?” (T.L 1960). Bác lên án những kẻ “đục khoét” của dân là những kẻ bất nhân, có tội với dân. Đồng thời, Bác khen ngợi cán bộ của hai HTX vì dân đã không những không chè chén mà còn biết động viên dân ăn tết tiết kiệm, lấy tiền dự định liên hoan đầu tư vào sản xuất và trích thưởng nếu tăng năng suất. Bác kết luận, như vậy cán bộ ở đó biết nâng cao đời sống cho dân và làm cho dân yêu quý HTX, tin tưởng ở cán bộ hơn. Bác nhắc nhở tiết kiệm là quốc sách, làm giàu đất nước, tạo cho con người nếp sống văn minh lành mạnh, làm việc vì mọi người, khi ăn uống biết nghĩ đến người nghèo. Trong bài viết khai bút đầu xuân, Bác đề xướng phong trào “Tết trồng cây”, giữ mãi trong chúng ta hình ảnh đẹp đẽ đầu xuân Bác đi trồng cây. Trong di sản những bài báo ký nhiều bút danh, có nhiều bài cổ vũ Tết trồng cây. Bác nêu gương những người trồng cây giỏi, như cụ Vũ Văn Lân ở Hưng Yên tuy đã 104 tuổi, tự mình trồng và chăm bón cây tốt. Anh Cao Xuân Nhĩ ở Vĩnh Phúc, tuy kém cả hai mắt nhưng vẫn trồng được 6.000 cây. Bác khen những địa phương có phong trào trồng cây tốt như Lạc Trung, Ngọc Long (Vĩnh Phúc), Vĩnh Thành (Nghệ An), Nà Vó (Hòa Bình), Vinh Quang (Phú Thọ), Lê Hồng Phong (Hà Tĩnh)…

Bác khen Đoàn thanh niên thực sự là đội quân chủ lực của phong trào trồng cây. Riêng năm 1963, Đoàn thanh niên đã trồng được hàng triệu cây. Thanh niên tỉnh Hải Dương đã biến 1.500ha đồi trọc thành rừng cây. Bác khích lệ: “Vì lợi ích 10 năm trồng cây” để có gỗ làm nhà, có củi đun, có bóng mát, góp phần cho bầu không khí trong lành. Trồng cây có lợi cho xuất khẩu, cho công nghiệp như cây keo lá tràm, cây trẩu, quế, hồi… Trồng cây chắn sóng, chắn cát, chắn gió. Trồng cây cho quả ăn, tăng thu nhập kinh tế gia đình như cam, quýt, mận, mơ, nhãn, vải… mang lại lợi ích gần gũi với người dân. Đặc biệt, Bác động viên không những đồng bào miền xuôi trồng cây mà đồng bào miền ngược cũng phải tích cực trồng cây, phủ xanh đồi núi trọc, có rừng cây xanh giữ nước tránh lụt, giữ đất tránh khỏi bạc màu. Bác kết luận, lợi ích trồng cây là cho hôm nay và cho cả mai sau. Bác mong muốn thiết tha là phong trào trồng cây phải được giữ gìn, phát huy mãi mãi, vì nó luôn gắn với sự tồn vong và phồn vinh của đất nước.

Có bài khai bút đầu xuân, Bác nhắn nhủ vui xuân mới không quên xuân cũ, những cái tết thiếu thốn, gian khổ, ác liệt đã qua. Bác nhắc nhở mỗi một chúng ta, ăn tết sung sướng hôm nay là nhờ những ngày gian khổ hôm qua, không được quên đi quá khứ, không được quên đi lịch sử. Bác nhắc nhở không được quên nhân dân lao động vì cách mạng mà nay vẫn còn thiếu thốn, nghĩa cử “uống nước nhớ nguồn” là lẽ sống của người cách mạng.

QUỲNH LINH
baophuyen.com.vn

Bác Hồ và mùa xuân năm ấy

Việt Nam - Hồ Chí MinhTrong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ có 30 mùa xuân bôn ba đáng ghi nhớ.

Những cái Tết đạm bạc trên đất khách quê người nhiều khi chỉ là bát cháo và cái bánh mỳ rẻ tiền ở một quán ăn nhỏ, cũng có khi lại là những tháng ngày buồn tẻ trong ngục tối với cuốn sách thơ mà ngậm ngùi nhớ về đồng bào đang lầm than. Những ngày Tết, Bác nhớ đất nước, nhớ quê hương da diết cùng với bao dự định lớn lao. Dấu mốc lớn nhất phải kể đến mùa xuân năm 1930 của Bác và cũng là mùa xuân lịch sử của Cách mạng Việt Nam.

Mùa xuân Canh Ngọ 1930, Bác quyết định tổ chức Hội nghị hợp nhất các Đảng Cộng sản ở Việt Nam vào đúng dịp Tết Nguyên đán. Hội nghị họp từ ngày 3 đến mồng 7 tháng 2 năm 1930 tại Cửu Long, Trung Quốc thành lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày cuối cùng của hội nghị, Bác tổ chức một bữa cơm nhỏ ở tại phòng và xúc động nói: “Các đồng chí! Hôm nay là ngày lịch sử của chúng ta. Bây giờ chúng ta đã có một Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt nhân dân ta đi đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành Độc lập, Tự do cho Tổ quốc thân yêu”.

83 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giành được những thắng lợi hết sức to lớn, đó là thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Trong suốt  83 năm, Đảng ta luôn luôn làm theo lời Bác, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, đoàn kết nhân dân thành một khối vững chắc để xây dựng nước nhà. Đảng ta luôn coi ý kiến, nguyện vọng của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng.

Đón xuân mới Quý Ty 2013, cùng với kỷ niệm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta lại nhớ đến Bác Hồ kính yêu – Vị cha già dân tộc, nhà lãnh đạo thiên tài. Không những chúng ta mà bạn bè thế giới đã nói: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là “Một cuộc đời, một bước ngoặt kỳ diệu, một sự nghiệp vĩ đại…”./.

ttttninhbinh.gov.vn

Bác Hồ với mùa xuân kháng chiến đầu tiên xuân Đinh Hợi 1947

Bác Hồ chúc TếtĐêm 13 tháng 1 năm 1947, tức là ngày 23 tháng chạp, đúng ngày ông Táo lên chầu trời, Bác Hồ bí mật lặng lẽ rời xã Xuyên Dương, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (cũ), chuyển đến xã Cầu Kiệm, huyện Quốc Oai tỉnh Sơn Tây,tiếp tục chặng đường trường kỳ kháng chiến.

Trên đường đi, ngồi trong xe, Bác trầm ngâm suy nghĩ, Bác đang nghĩ nhiều đến những người con yêu dấu của dân tộc đang chiến đấu giữa vòng vây của thực dân Pháp trong lòng Hà Nội. Quá nửa đêm, Bác mới đến địa điểm mới. Các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh bố trí Bác ở trong một ngôi nhà mới làm xong, nhưng nền đất chưa nện kỹ, các bức vách chưa được trát bùn. Bác ở trong một gian buồng nhỏ cuối nhà đã đặt sẵn một chiếc giường tre lót ổ rơm. Cạnh giường là một cái bàn nhỏ, một chiếc ghế để ngồi làm việc. Đây là ngôi nhà ông Nguyễn Đinh Khuê làm cho người con thứ, nhưng chưa đến ở. Thường ngày, Bác ngồi trên giường vai khoác chiếc áo ba – đờ – xuy cũ, đọc sách báo hoặc viết.

Tối 16 tháng 1 năm1947, tức ngày 26 tháng chạp, Bác chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ ở Chương Mỹ. Trong cuộc họp Bác căn dặn: trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được để các

em đói ăn, thiếu mặc, các cụ già phải khổ sở vì chiến tranh, đặc biệt là trong dịp Tết sắp tới. Khi nhắc đến vấn đề này, cặp mắt Bác rưng rưng như muốn khóc. Tất cả các thành viên Hội đồng chính phủ đều im lặng xúc động.

Tối ngày 21 tháng 1 năm 1947, tức ngày 30 tết, Hội đồng Chính phủ họp phiên tất niên tại phủ Quốc Oai. Ngoài các thành viên Chính phủ đều có mặt đầy đủ, còn có cụ Bùi Bằng Đoàn, Trưởng ban và linh mục Phạm Bá Trực, Ủy viên Ban thường trực Quốc hội khóa I. Có mặt đêm nay ở đây là những người tiêu biểu cho khối đại đoàn kết của dân tộc ngay trong những ngày đầu tiên của cuộc kháng chiến. Có người trước đây là thượng thư của triều đình cũ, có người là đức giám mục, có người là tri thức, có người là đảng viên Đảng Cộng sản, có người là Việt minh, có người tóc đã điểm bạc, có người đang lứa tuổi thanh niên… Đây là hình ảnh thu nhỏ của Hội nghị Diên Hồng đời Trần năm xưa. Tất cả đều cùng chung một ý chí: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” theo lời kêu gọi khẩn thiết của Bác Hồ.

Cuộc họp tất niên của Hội đồng Chính phủ được các đồng chí Hoàng HữuNam, Nguyễn Văn Lưu lo chạy được một tí mứt kẹo, thuốc lá và mấy chiếc bánh chưng. Mọi người nhất trí bánh chưng thì để chờ Bác, còn mứt kẹo, thuốc lá thì đem ra dùng trước.

21 giờ, Bác đột ngột bước vào phòng họp. Bác đội mũ cát, cổ quấn khăn che kín bộ râu, chân lấm bùn lên tận đầu gối. Bác bắt tay tất cả mọi người, đặc biệt Bác xiết chặt tay hồi lâu cụ Bùi Bằng Đoàn và linh mục Phạm Bá Trực, và nói: “Tôi chỉ lo hai cụ không đến được. Hôm nay có mặt thế này là thắng lợi! Đại thắng lợi”. Rồi Bác kể chuyện xe bị sa lầy dọc đường. Xe sa bánh ba lần xuống ruộng, phải vận động nhân dân địa phương ra khiêng lên, rồi đẩy cho xe nổ máy. Bác nói vui: “chỉ một việc xe đi thôi, không có nhân dân thì Chủ tịch nước cũng đành chịu. Huống hồ chi việc kháng chiến kiến quốc, một công việc to lớn vĩ đại, nhất định phải dựa vào khối đại đoàn kết toàn dân mới thành công”. Bác chủ trì cuộc họp tất niên của Hội đồng chính phủ. Kết thúc cuộc họp, Bác đọc cho Hội đồng Chính phủ nghe trước bài thơ “ Chúc năm mới” Đinh Hợi mà lát nữa Bác sẽ đọc tại Đài Tiếng nói ViệtNam đặt ở chùa Trầm.

22 giờ 30 phút, Bác lên xe ra đi trong mưa phùn gió rét.Tất cả các thành viên Hội đồng Chính phủ đều tiễn Bác ra cửa. Riêng đồng chí Võ Nguyên Giáp tiễn Bác ra tận xe. Khi ngồi trong xe, Bác gọi đồng chí Võ Nguyên Giáp đến gần,và dặn: “Tối mai, bảo Nhân (đồng chí Trường Chinh) cùng chú đến chỗ Bác nhé!”.

Do đường lầy lội khó đi, gần 12 giờ đêm, Bác mới tới chùa Trầm. Đài tiếng nói Việt Nam đặt trong hang núi đá, điện sáng trưng, máy chuyển ầm ầm. Bác vào buồng thu, đọc trước máy: Chúc năm mới:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,

Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông

Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,

Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.

Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!

Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.

Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!

Thống nhất độc lập, nhất định thành công!

Bài thơ như một lời hiệu triệu vang dậy non sông, như một hồi kèn thúc giục quân và dân cả nước xông lên giết giặc lập công…. Trong 24 năm ở cương vị chủ tịch nước, tết năm nào Bác cũng có thơ “Chúc năm mới” gửi đến đồng bào và chiến sĩ cả nước. Nhưng có lẽ bài thơ “Chúc năm mới” Đinh Hợi là một trong những bài thơ hay nhất.

Sau đó, Bác nói chuyện thân mật với cán bộ, nhân viên Đài Tiếng nói ViệtNam.

Bác sắp ra về thì sư cụ chùa Trầm xin yết kiến. Chú tiểu thành kính đội mâm bánh chưng đặt lên bàn. Sư cụ thưa với Bác: “Đây là lòng thành của nhà chùa kính dâng, mong cụ Chủ tịch thu nhận cho”.

Bác cám ơn sư cụ, và chúc nhà chùa sang năm mới càng ra sức cầu Phật cho kháng chiến chóng thành công!

Gần một giờ đêm, trời vẫn mưa to. Bác ra về, cách nhà khoảng hai cây số thì xe tụt cả hai bánh trước xuống ruộng. Giờ này, chẳng còn nhờ được ai khênh xe. Thế là Bác và những người tùy tùng phải lội bùn đi bộ, khi về đến nhà đã gần bốn giờ sáng. Đồng chí lái xe phải ngủ lại trên xe giữa cánh đồng.

Tối ngày 22 tháng 1 năm 1947, tức tối Mồng một Tết, các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp đến chúc mừng năm mới Bác. Lúc này, Bác đang ngồi trên giường, vai khoác chăn, và đang viết bên ngọn đèn dầu. Đồng chí Võ Nguyên Giáp rút trong cặp ra một gói mứt, một gói chè do phu nhân đồng chí gửi, và năm bao thuốc lá ngon mà đồng chí Trần Quốc Hoàn ở trong Liên khu I ra gửi biếu Bác.

Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đưa bánh chưng ra đãi hai đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp. Cùng dự có đồng chí Trần Đăng Ninh. Đồng chí Trường Chinh báo cáo với Bác về công tác xây dựng đảngở Nam Bộ, một vấn đề mà lâu nay Bác rất quan tâm. Đồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo với Bác tình hình khả quan về kháng chiến và kiến quốc ở Liên khu V. Những người có mặt hôm ấy ngồi vây quanh bếp lửa nghe Bác nói về tình hình thế giới, tình hình nước Pháp, triển vọng của phong trào đòi độc lập của các dân tộc thuộc địa.

Một giờ sáng, các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp xin phép Bác ra về.

Ngày 27-1- 1947, tức mồng sáu Tết, Bác còn viết thư đầy xúc động gửi đến các chiến sĩ cảm tử quân thủ đô. Cuối thư, Bác viết:” Các em hăng hái tiến lên, lòng Già Hồ, lòng Chính phủ và lòng  toàn thể đồng bào luôn luôn ở bên cạnh các em…”

CHÍNH LUẬN (tổng hợp)
xaydungdang.org.vn

Bác Hồ và người gánh nước đêm giao thừa

“Một Đảng cầm quyền mà để người dân mình nghèo hết còn chỗ để nghèo thì đó là lỗi của Đảng với nhân dân…” – điều Bác Hồ nói vào mùa Xuân cách đây 45 năm đến nay còn thấm thía.

Chuyện suy tư đêm 30

Bác Hồ chúc TếtTrước thời khắc chuyển giao giữa năm mới và năm cũ của 45 năm về trước, khi nhà nhà sum họp, quây tụ, Bác “vi hành”.

Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, nguyên là cận vệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh kể lại: Đúng 11 giờ đêm giao thừa, bác mặc áo bông, quần vải gụ, đi dép cao su, đội mũ len đen và quấn khăn chòng cổ, tìm đến nhà “một gia đình nghèo nhất Hà Nội” như người cận vệ của bác báo về. Đó là nhà chị Nguyễn Thị Tín, góa chồng, ngoài 40 tuổi, đêm trừ tịch vẫn phải đi gánh nước thuê nuôi các con.

Đến nay, sau gần nửa thế kỷ, liệu đất nước chúng ta đã hết những cảnh nghèo khổ, cơ cực như chị Tín?

Tết năm ấy Bác Hồ buồn. Trước những người hàng phố quanh nhà cô Tín ở, Bác đã hỏi: “Tại sao cả một khu phố như vậy mà không thấy ai quan tâm đến một gia đình như cô Tín? Chúng ta đã quá quan liêu để không biết những câu chuyện như vậy ở ngay thủ đô nước mình”.

Nếu bây giờ Bác Hồ hoặc bất kỳ ai hay tin về những vụ bạo hành trong các khu dân cư âm ỉ hàng chục năm – biểu hiện của sự thờ ơ, vô cảm – chắc chắn là Bác sẽ buồn biết bao nhiêu? Mong rằng, mỗi lần nhớ đến Bác với những câu chuyện như thế này, bệnh quan liêu sẽ được thuyên giảm. Nên chăng, cuối năm, chúng ta nên lắng lại để nhìn lại mình và nhớ tới những người sống quanh mình, để trái tim cởi mở hơn, ấm áp hơn.

Lúc ấy, Người đã nói về tinh thần “lá lành đùm lá rách” mà chúng ta vẫn luôn cho rằng đó là truyền thống quý báu của mình. Trước hết là trách nhiệm của khu phố, và như Bác nói “điều lớn nhất vẫn là trách nhiệm của Chính phủ”.  Ngày ấy Bác Hồ đã đích thân nhờ cảnh vệ đi tìm một gia đình nghèo thực sự để chúc Tết, vì thế, sau nhiều ngày, người thân cận bên Bác mới có thể tìm đến đúng nhà cô Tín. Và như Bác nói là “đu đúng người thật, việc thật”.

Bác còn nói một chữ “nếu”: “Nếu mà mình báo trước với thành phố, hỏi nhà nào nghèo nhất thì chắc chắn không phải nhà cô Tín rồi…”.

Điều ấy khiến ta giật mình vì đến nay những chuyện viếng thăm đầy tính hình thức, thiếu tính thực tâm đâu đã mất đi?

Gương soi mỗi độ Xuân về

Giở những trang báo Xuân, năm nào cũng vậy, luôn gặp những câu chuyện về Bác. Đó là điều rất đỗi tự nhiên và dễ hiểu, không cần phải đợi đến những đợt vận động hay thi đua nào để thấm thía những lời nói và hành động vì nước, vì dân của Người. Bản thân những câu chuyện thật, việc thật – dù chỉ bình dị thôi – nhưng luôn có sức lan truyền.

Câu chuyện này gieo cho chúng ta một mong ước trước thềm Xuân rằng: Mỗi “người trong một nước” rung động với nhau nhiều hơn, Chính phủ và các cấp chính quyền đến gần dân hơn – để không còn những cảnh nghèo như gia đình chị Nguyễn Thị Tín – thì nước mới mạnh.

Tổng hợp: Văn Hòa
thanhdoanquynhon.org

Bác Hồ với mùa xuân Tây Nguyên

Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vui mừng đón xuân Quý Tỵ năm 2013 cùng lúc với sự kiện khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên nằm trong khuôn viên quảng trường Đại Đoàn Kết tại thành phố Pleiku – tỉnh Gia Lai. Đây là một công trình lịch sử – văn hoá mang tính thời đại và đáp ứng nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Gia Lai cũng như đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

Ngày 19 tháng 4 năm 1946 – cách đây 67 năm – tại Pleiku, tỉnh Gia Lai đã tổ chức Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam với hơn 1000 người tham dự. Tại Đại hội này, đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên rất vinh dự và tự hào đón nhận bức thư đầy tâm huyết của Bác Hồ gửi đến. Trong thư, Bác Hồ viết: “Hôm nay đồng bào khai hội, sum họp một nhà thật là vui vẻ. Tiếc vì đường sá xa xôi, tôi không đến dự Đại hội được. Tôi tuy xa nhưng lòng tôi và Chính phủ vẫn gần gũi đồng bào… Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Giarai hay Ê đê, Xê đăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác đều là anh em ruột thịt… Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng để giữ vững quyền tự do độc lập của chúng ta”.

Thấu hiểu nguyện vọng, tình cảm của Bác đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên và tấm lòng của các đồng bào dân tộc Tây Nguyên đối với Bác; năm 2008, Bộ Chính trị TW Đảng đã đồng ý cho xây dựng tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên tại Gia Lai. Ngày 21 tháng 9 năm 2010, Ban Bí thư đã chọn duyệt được mẫu tượng Bác Hồ cùng bức phù điêu khá hoành tráng về các dân tộc Tây Nguyên. Sau hai năm xây dựng, ngày 11 tháng 12 năm 2012, nhân dịp kỷ niệm 67 năm ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Gia Lai, lễ khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên đã được tổ chức trọng thể với sự hiện diện của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Các bộ ban ngành TW … các đồng chí lãnh đạo tỉnh Gia Lai cùng đông đảo đồng bào các dân tộc tỉnh Gia Lai và các tỉnh bạn

Trích đoạn phù điêu tượng đài

Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên nằm trong khuôn viên với một quần thể các kiến trúc, biểu tượng có diện tích 12,5ha. Có thể coi đây là một trung tâm tâm linh, lịch sử, văn hoá, mỹ thuật, kiến trúc và một không gian xanh.

Tượng đài Bác Hồ – sáng tác của nhà điêu khắc Nguyễn Bá Đua, được thể hiện bằng chất liệu đồng tấm, dày 5 ly, có chiều cao 10,8m và trọng lượng 16 tấn. Bức tượng được thực hiện bằng phương thức ép khuôn thuỷ lực từ những lá đồng nguyên chất và hàn lại với nhau theo một quy trình với chất lượng cao, đảm bảo việc chuyển đổi chất liệu đúng nguyên mẫu tượng. Đây là lần đầu tiên tượng đài bằng đồng ở Việt Nam được thực hiện với kỹ thuật ép khuôn hiện đại này với sự tham gia của các nhà khoa học chuyên ngành. Tượng được đặt trên bệ cao 4,5m, lõi là bê tông cốt thép nhưng phủ ngoài được thực hiện bằng đá tảng có tạo hình khối như những ngọn núi của Tây Nguyên. Phía trước bệ tượng có dòng chữ nổi bằng đồng “Chủ tịch Hồ Chí Minh (1891-1969)” cùng một bông hoa sen cách điệu. Phía dưới là tảng đá để đặt các lẵng hoa và hoa kính viếng Bác. Phía sau tượng Bác là bức phù điêu đá có hình cánh cung – sáng tác của nhà điêu khắc Lê Lạng Lương – có chiều dài 58m và chiều cao nhất là 11m, tổng diện tích 600m2 được làm từ đá tự nhiên của Thanh Hoá với khối lượng trên 1000 tấn. Bức phù điêu này được đặt trên bệ cao 1,5m. Nhìn vào tổng thể phù điêu, ta thấy có hình hoa sen cách điệu, nhấp nhô như núi rừng Tây Nguyên, mặt trời và nhà rông. Nội dung phù điêu được chia làm ba phần: Phần chính diện ở giữa thể hiện những hoạt động văn hoá truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên. Phía bên phải có nội dung “Tây Nguyên chiến đấu”. Phía bên trái có nội dung “Tây Nguyên sản xuất”. Phía sau tượng đài Bác Hồ và phù điêu là một ngọn núi nhân tạo có hình dáng mô phỏng núi Hàm Rồng – ngọn núi linh thiêng cao nhất ở cao nguyên Pleiku được trồng cây cỏ, trong tương tai, ngọn núi này sẽ trở thành một rừng cây phía sau tượng đài và phù điêu. Điều đặc biệt của công trình này là không có các lễ đài được xây sẵn. Các nhà thiết kế đã dành khu vực sân đặt tượng đài và phù điêu có diện tích hơn 1000m2 để làm sân biểu diễn nghệ thuật với các bậc có độ rộng 2m ở phía trước để đến ngày lễ khi đặt bàn và ghế sẽ có một lễ đài hoành tráng.

Phía cánh phải và trái của bức phù điêu các dân tộc Tây Nguyên là hai dàn cồng chiêng gồm các chiêng bằng và chiêng núm (biểu tượng của không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên đã được Unesco công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại). Phía trước tượng đài Bác Hồ ở hai bên là đài phun nước. Cách con đường lớn là Quảng trường “Đại đoàn kết” có diện tích 23.823m2 với 205 ô cỏ cùng các đường đi lát đá granit được khai thác và chế tạo ở các nhà máy đá trong tỉnh. Trước nữa là cột cờ cao 25m với lá Quốc kỳ 40m2. Bên trái quảng trường là Thạch thư Bác Hồ bằng khối đá hoa cương cao 6m, rộng 3,5m và dày 2,5m. Mặt trước khắc thư Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tổ chức tại Pleiku ngày 19 tháng 4 năm 1946. Phía bên phải quảng trường là Biểu tượng Đại đoàn kết được tạo hình như một tháp đá ba tầng, cao 12m với 54 trụ đá ba gian tự nhiên – loại đá đĩa ta thấy ở Phú Yên nhưng được khai thác ở một mỏ đá ở tỉnh Gia Lai. Hồ sen Bách tán Hà Nội được chọn giống cùng với bùn Hồ Tây được đưa vào để đảm bảo cho sen được phát triển và có vẻ đẹp như sen Hồ Tây (hồ sen này để gợi nhớ đến Thủ đô yêu quý của cả nước). Phía sau, bên phải của tượng đài là quần thể các bảo tàng, bao gồm Bảo tàng Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên chi nhánh Gia Lai – Kon Tum, Bảo tàng Gia Lai, Bảo tàng Cổ vật Gia Lai, tượng Anh hùng Núp. Bao quanh quảng trường và tượng đài là một vườn Bách thảo với hàng trăm loại cây cỏ của Tây Nguyên và nhiều vùng miền trên đất nước. Nhiều cây thông cổ thụ, cùng với nhiều cây khác được trồng trước đây được giữ gìn nguyên trạng cùng với các loại cây cổ thụ từ các huyện chuyển về trồng và các loại cây khác được trồng mới, đã tạo nên một không gian xanh cho quảng trường, tạo bóng mát cho du khách và cũng là nơi giúp du khách có thêm cơ hội để tìm hiểu về các loại thực vật đặc hữu của đất nước. Ngoài ra các nhà thiết kế quy hoạch còn dành nhiều không gian rộng để có thể tổ chức các hoạt động lễ hội, hội chợ, thể thao, cắm trại,… Đặc biệt, không gian quảng trường không đặt các ghế ngồi như ở các quảng trường khác mà kết hợp thiết kế bệ bao quanh các bồn hoa, hồ sen, cây và những khối đá ba zan được cắt ngắn, xếp đặt tạo thành hàng ngàn chỗ ngồi khắp quảng trường. Cùng với đó là những ki-ốt thấp thoáng trong các vườn cây làm chỗ bán hàng lưu niệm, giải khát phục vụ du khách tham quan.

Có thể nói, công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên và Quảng trường Đại đoàn kết là một quần thể kiến trúc có bố cục tốt, được các nghệ sĩ tạo hình, kiến trúc sư sáng tạo hoàn chỉnh và được các công ty tổ chức thực hiện với tinh thần trách nhiệm và chất lượng cao. Để có công trình hoàn chỉnh cho đến ngày khai mạc, (được nhân dân Gia Lai đánh giá là “niềm tự hào của người Gia Lai”) chúng tôi đánh giá cao sự chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo, tỉnh Ủy, Ủy ban nhân dân và các Sở ban ngành của tỉnh Gia Lai và đặc biệt là đồng chí Phạm Thế Dũng – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật đã biết tập hợp và trân trọng các ý kiến đóng góp của Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam, của các nhà điêu khắc, kiến trúc thuộc hai Hội; không nệ vào bản vẽ đã được phê duyệt, lấy không gian thực để điều chỉnh trong quá trình thực hiện dự án. Qua đó đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, không ngại một số thay đổi chi tiết phát sinh mới nhưng vẫn đảm bảo tiến độ, kỹ thuật, mỹ thuật với chất lượng cao nhất. Công ty này thuộc về công ty TNHH một thành viên Bảo tồn Di sản Văn hoá trực thuộc Hội Di sản Văn hoá Việt Nam do ông Nguyễn Văn Mạc – giám đốc công ty trực tiếp chỉ đạo. Có thành công như hôm nay, còn có sự đóng góp to lớn của lãnh đạo Sở Văn hoá, Sở Xây dựng và các Sở ban ngành, các cán bộ được tỉnh giao theo dõi và thực hiện dự án.

Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên thực sự là một công trình nghệ thuật kiến trúc có chất lượng nghệ thuật cao, là một bài học cho việc tổ chức xây dựng các tượng đài sau này ở Việt Nam.

Mùa xuân này, Bác Hồ đến với các đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Cây ở quảng trường xanh lá, nở hoa. Lòng người Tây Nguyên rạo rực trong niềm vui Mừng Đảng, Mừng Xuân, Mừng Bác Hồ với một công trình văn hoá có ý nghĩa lịch sử và nhân văn tiêu biểu của đồng bào dân tộc Tây Nguyên… và là niềm vui chung của những người đã tham gia xây dựng công trình và là niềm tự hào của tất cả chúng ta.

Trần Khánh Chương
vietnamfineart.com.vn

Mùa Xuân đầu tiên Bác Hồ trở về Pác Bó

(PL&XH) – Sau 30 năm xa Tổ quốc, ngày 28-1-1941 (mùng 2 Tết Nguyên đán năm Tân Tỵ), Bác Hồ qua cột mốc 108 biên giới Việt – Trung về Việt Nam. Nơi đây thuộc dãy núi cao được Bác đặt tên là núi Các Mác.

Dưới chân núi có hồ nước lớn trong xanh, nơi bắt đầu dòng suối chảy uốn quanh đổ xuống đồng bằng của bản Khuổi Nậm, Bác đặt tên là suối Lê-nin. Cột mốc 108 nằm trên núi cao cách chân núi chừng nghìn mét thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ngay trong tiết xuân ấm áp của ngày đầu trở về Tổ quốc, Bác đã có cảm hứng với cảnh vật nơi này nên làm bài thơ đầu tiên tựa đề “Pác Bó hùng vĩ”:

Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lê-nin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà.

Ở lưng chừng núi gần cột mốc 108 là hang Pác Bó, nơi Bác chọn làm chỗ ở  ngay sau khi trở về nước. Dưới chân núi có chiếc bàn đá làm việc của Bác nằm bên cạnh đầu nguồn của suối Lê-nin. Chiếc bàn đá và cửa hang trên sườn núi nhìn xuống hồ nước trong xanh, thấy cá lội và bóng cây rừng, núi đá.

Sự kiện Bác Hồ trở về nước vào đầu năm 1941 là sự kiện lớn của lịch sử đấu tranh cách mạng của đất nước và dân tộc Việt Nam, đã làm thay đổi tình hình cách mạng trong nước. Đây là mốc lịch sử quan trọng dẫn tới cuộc cách mạng tháng Tám 1945 và ngày 2-9-1945, Bác đọc Tuyên ngôn độc lập tuyên bố sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa .

Bác Hồ về thăm lại Pác Bó (Cao Bằng – 1961)

Theo biên niên sử Hồ Chí Minh, từ ngày 11-11-1924, Bác Hồ từ Mát-xcơ-va (Nga) về tới Quảng Châu (Trung Quốc) lần đầu. Khoảng thời gian 1925-1927, Người mở lớp huấn luyện chính trị cho các thanh niên yêu nước từ trong nước tới đây với giáo trình là sách “Đường kách mệnh” và thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội (tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam). Do Sở Mật thám Anh truy lùng, Bác phải trở lại Nga. Ngày 25-4-1928, Người được Quốc tế cộng sản cử trở về Đông Dương theo nguyện vọng. Người tới Thái Lan ở một thời gian rồi về lại Hồng Kông (Trung Quốc) tiến hành thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 3-2-1930.

Năm 1931, Người trở lại Mát-xcơ-va và năm 1938 về lại Quảng Châu. Trong năm 1939, Người di chuyển tới các thành phố Quế Lâm, Liễu Châu, Nam Ninh, Long Châu, Quý Dương, Côn Minh nằm dọc theo cuộc trường chinh vĩ đại của Đảng và đoàn quân giải phóng Trung Quốc từ Nam lên Bắc.

Đầu năm 1940, Bác Hồ gặp các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp ở Côn Minh từ Việt Nam sang. Sau ngày 20-6-1940, được tin Paris (Thủ đô Pháp) bị quân Đức chiếm, Bác  triệu tập cuộc họp Ban hải ngoại của Đảng, phân tích: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Đầu tháng 1-1940, tại Tĩnh Tây (tỉnh Quảng Tây) cách biên giới Trung Quốc – Việt Nam 50km, Bác cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp tổ chức lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị gần một tháng rồi cùng các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp và Hoàng Văn Lộc lên đường về nước.

Lớp huấn luyện cấp tốc này dành cho những cán bộ cách mạng và người yêu nước từ trong nước sang để chuẩn bị cơ sở “nhân hòa” cho “thời cơ” và “địa lợi” cách mạng mới. Đây là thời kỳ sau ngày khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ, vừa là thời cơ, đồng thời là thách thức vì cuộc nổi dậy của nhân dân đã có sự lãnh đạo của Đảng.

Lúc ấy, Bác còn nói: “Trước tình hình mới, vấn đề đoàn kết dân tộc càng quan trọng, ta phải nghĩ đến việc lập một Mặt trận rộng rãi, có hình thức và tên gọi cho thật thích hợp. Việt Nam giải phóng đồng minh? Hay Việt Nam độc lập đồng minh? Theo ý Bác, nên lấy tên Việt Nam độc lập đồng minh”.  Ý kiến đó của Bác được đem ra thảo luận trong Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ 8 của Đảng ngày 19-5-1941 và tên chính thức của Mặt trận được gọi tắt là Việt Minh.

Đối với Bác, đó là ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời làm cách mạng của mình. Sau đó, Bác đi tìm một chỗ ở kín đáo hơn. Đó chính là hang Pác Bó (Cốc Bó) nằm ở lưng chừng sườn núi Các Mác. Hôm Bác rời về ở trong hang là 8-2-1941, tức đúng 12 ngày sau ngày về nước.

Bước chân đầu tiên về đất mẹ cũng là giây phút Người lắng nghe sự sống của sinh thể đất nước đang phôi thai. Nhà thơ Chế Lan Viên đã diễn tả lại hình ảnh ấy bằng những câu thơ đầy xúc động:

“Kìa! Bóng Bác đang hôn lên hòn đất.
Lắng nghe trong màu hồng hình đất nước phôi thai”.

Bác về nước đúng vào mùa xuân, mùa tươi đẹp nhất của đất trời, mùa của trăm hoa đua nở, mùa của lộc biếc chồi xanh, vạn vật như khoác lên mình sắc áo mới hứa hẹn một tương lai tươi sáng ở phía trước. Người về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cả thiên nhiên đất trời như reo vui:

“Ôi sáng xuân nay, xuân bốn mốt.
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ.
Bác về… im lặng. Con chim hót.
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”.

                                (Theo chân Bác của Tố Hữu)

Chỉ hơn bốn năm sau, ngày 2-9-1945, sơn hà của Tổ quốc đã được thu về một mối, từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau. Hồ Chí Minh trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và mùa Xuân độc lập đầu tiên, Xuân Bính Tuất năm 1946 đã trở về trên toàn cõi đất nước ta.

Sự kiện Bác Hồ về nước mùa Xuân năm 1941 là một mùa xuân đặc biệt trong cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân của Người, vì đó là mùa xuân đầu tiên Bác Hồ trở về Tổ quốc, kết thúc chặng đường dài sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, hoạt động ở nước ngoài, để rồi từ đó trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và cùng Đảng ta đem lại những mùa xuân cho dân tộc, chấm dứt trăm năm nô lệ tăm tối. Đã bảy mươi hai mùa xuân trôi qua nhưng hình ảnh khi lần đầu tiên Bác trở về với Tổ quốc sau 30 năm xa cách ấy vẫn mãi không phai nhòa trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Mỗi chúng ta đều không khỏi bồi hồi xúc động và thành kính tưởng nhớ đến Bác Hồ kính yêu đã hy sinh trọn đời mình cho dân tộc, đã dành cả cuộc đời chăm lo cho hạnh phúc nhân dân mà không gợn chút riêng tư để đất nước hôm nay trọn niềm vui độc lập tự do và đổi mới phát triển.  Càng nhớ Bác Hồ, mỗi người chúng ta hôm nay càng phải thực hiện tốt Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, tạo thành nguồn sức mạnh to lớn cổ vũ toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cùng thi đua, phấn đấu thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ trong thời kì cách mạng mới, xứng đáng với lòng mong ước của Bác Hồ kính yêu “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Phong Anh (Biên soạn)
phapluatxahoi.vn

Từ “XUÂN” trong thơ Bác Hồ

Chúng ta đều biết từ XUÂN có nghĩa gốc (nghĩa đen) là mùa xuân. Nhưng từ nghĩa gốc đó, từ XUÂN còn được dùng với nghĩa rộng và nghĩa bóng. Hãy đọc thơ văn Bác Hồ để thấy Bác đã sáng tạo, biến hóa tài tình trong cách dùng từ XUÂN.

Trong thơ chúc Tết, từ XUÂN được Bác dùng để chỉ thời gian một năm:

Xuân này kháng chiến đã năm xuân
Nhiều xuân kháng chiến càng gần thành công

          (Thơ chúc Tết Tân Mão – 1951)

Thơ cổ thường dùng thu, đông để chỉ một năm (Ba thu dọn lại một ngày dài ghê – Truyện Kiều). ở đây, Bác lại dùng XUÂN, 5 xuân tức là 5 năm. Thật là mới mẻ, sáng tạo và phù hợp với không khí một bài thơ xuân.

Bác còn dùng XUÂN để chỉ tuổi – tuổi của Nước và của Đảng:

Mừng Nhà nước ta mười lăm xuân xanh!
Đảng chúng ta ba mươi tuổi trẻ!

(Thơ mừng năm mới- Xuân năm 1960)

Từ XUÂN được kết hợp với xanh thành xuân xanh để chỉ tuổi trẻ. Câu trên “mười lăm xuân xanh”, câu dưới “ba mươi tuổi trẻ” làm cho ý thơ khoẻ khoắn, phơi phới niềm tin, cảm hứng thơ xuân in rõ dấu ấn thời đại.

Trong thơ nói về tuổi già, từ XUÂN được Bác dùng như một tính từ đối lập với già là trẻ:

Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán,
So với ông Bành vẫn thiếu niên

(Sáu mươi tuổi – năm 1950)

Người viết câu thơ ấy phải trẻ trung và yêu đời biết bao! “Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười- Quên tuổi già tươi mãi tuổi đôi mươi” (Tố Hữu). Ngay cả khi sắp từ giã cuộc sống thì sự trẻ trung và yêu đời ấy vẫn thấm trong Di chúc, trong một từ XUÂN kỳ diệu: “Khi người ta đã “ngoài 70 xuân…” ( “ngoài 70 tuổi” gợi ý già nhưng “ngoài 70 xuân” thì lại đầy sức trẻ).

Từ XUÂN còn được Bác dùng để nói lên niềm vui và sự chiến thắng. Trong bài thơ cuối cùng trước lúc Bác đi xa, niềm vui ấy vẫn bừng sáng lên một sắc xuân chiến thắng:

Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn
Một năm là cả bốn mùa xuân

(Không đề – Khương Hữu Dụng dịch)

Trong nguyên văn: Một năm cả bốn mùa đều là xuân, có nghĩa là cả bốn mùa đều tràn đầy niềm vui và chiến thắng.

Những từ XUÂN nói trên Bác dùng thật tài tình, biến hoá. Nhưng sáng tạo nhất, hàm chứa nhiều ý nghĩa phong phú nhất, phải nói đến từ XUÂN trong câu thơ về Tết trồng cây Bác viết vào mùa xuân 1965:

Mùa Xuân là Tết trồng cây,
Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân.

XUÂN ở đây là tính từ, bao hàm nhiều nghĩa: Xanh tươi, trẻ, đẹp, trù phú, đầy sức sống, đầy sức phát triển… để nói lên đất nước trong mùa xuân vĩnh viễn mở ra một tương lai bát ngát bởi lòng người viết cũng tràn đầy sức XUÂN.

Xuân Nguyên
dostquangtri.gov.vn

Xuân về nhớ Bác nhiều hơn

TP – “Mỗi khi xuân về, chúng ta càng nhớ Bác, càng thấy phải học Bác nhiều lắm…” – Ông Phạm Thế Duyệt – nguyên Ủy viên Thường vụ, Thường trực Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch UBTƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trò chuyện với Tiền Phong bên thềm xuân mới.

Bác Hồ với thiếu nhi. Ảnh: Tư liệuBác Hồ với thiếu nhi. Ảnh: Tư liệu.

Ông Phạm Thế Duyệt chia sẻ:

Têt không chỉ là ngày họp mặt gia đình đông vui, mà còn mong như dấu ấn chuyển tiếp thời điểm sang năm mới tốt đẹp hơn. Bây giờ trong nước, thế giới có nhiều vấn đề phức tạp khác trước.

Trong cuộc đua tranh kinh tế, cạnh tranh theo nhiều nghĩa khác nhau. Cái người ta day dứt, suy tư là phân hoá giàu nghèo nhiều hơn, khoảng cách các vùng miền xa nhau hơn, rồi quyền lực cũng bị đua nhau giành giật hơn!

Đời sống vẫn còn nhiều khó khăn, mình mới chỉ thoát nghèo theo nghĩa tính bình quân theo GDP, chưa thoát nghèo theo nghĩa vùng miền, gia đình.

Trong niềm vui chung

Ông Phạm Thế DuyệtÔng Phạm Thế Duyệt.

Trong niềm vui chung của thời khắc chuyển giao đón năm mới, điều mà ông suy tư nhất là gì?

Mừng nhất là đất nước mình ổn định. Nhưng trong cái vui chung, có nhiều điều làm tôi trăn trở. Mục tiêu phấn đấu để dân giàu, nâng độ đồng đều lên chưa làm được nhiều. Người nghèo nhiều nơi vẫn nghèo.

Có lẽ ít năm nào, Đảng tiến hành phê và tự phê như năm nay. Chúng ta có bài học từ thời Cải cách ruộng đất đến Đổi mới, nhưng hiếm khi các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước phải xin lỗi nhân dân về những việc quản lý xã hội còn yếu kém, một bộ phận không nhỏ cán bộ sa sút phẩm chất, đạo đức kéo dài. Đảng rất quyết tâm nhưng vẫn chưa chuyển hoá, khắc phục được tình hình.

Tình hình Biển Đông cũng đang khiến ta lo lắng. Chúng ta khát khao, yêu chuộng hòa bình, phấn đấu xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân và vì sự tiến bộ của nhân loại trên toàn thế giới. Nhưng ngay cả bạn bè, anh em lân cận cũng có những “ứng xử” không hay; chắc nhân dân sẽ không thể hoàn toàn an vui. Tết đến, không thể không nghĩ đến Trường Sa, Hoàng Sa, nơi biên giới, hải đảo, những chiến sỹ đang phải lăn lộn bảo vệ Tổ quốc.

Chúng ta cũng trăn trở, làm gì đây để vượt qua khó khăn của cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay. Các bộ ngành đều hứa giữ ổn định kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, sắp xếp lại doanh nghiệp, chỉnh đốn lại tổ chức. Đấy là hướng tốt, nhưng đừng nghĩ quá đơn giản. Bởi nó đụng đến nhiều người có trách nhiệm ở nhiều cấp, đã đang được hưởng “một đặc ân” nào đó. Ta không bi quan, nhưng không thể không nhìn thẳng vào sự thật, để thấy những khó khăn của hôm nay và ngày mai. Tôi chỉ mong là tôi đã nghĩ quá, nhưng tôi chắc sẽ còn khó khăn lắm…

Năm qua để lại dấu ấn quan trọng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4. Là một đảng viên, từng giữ cương vị cao trong Đảng, ông có tâm sự gì?

Không phải đến Tết tôi mới nghĩ, mà Tết đến thì nghĩ nhiều hơn. Mình không thể không mừng về việc Nghị quyết T.Ư4 vừa triển khai, ai cũng chỉ mong có bước phát triển. Đảng lãnh đạo đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới, đe dọa sự tồn vong của cả chế độ. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Đảng ta luôn luôn nhấn mạnh phải đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, chế độ ta”.

Đất nước ta có truyền thống quý báu: Mỗi lúc khó khăn nhất thì đều đã tìm ra cách tốt nhất để xoay chuyển tình thế. Người lãnh đạo rất cần biết phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, trước hết là của các đồng chí từng trải, có kinh nghiệm, thì chắc sẽ có nhiều ý kiến quý báu, đóng góp, xây dựng cho Đảng. Bác Hồ căn dặn: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”. Xuân về, chúng ta càng nhớ Bác, càng thấy phải học Bác nhiều lắm.

Soi tấm gương Bác

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến đồng bào nghèo. Tết đến, người dành thời gian thăm hỏi, gửi thư chúc tết đồng bào, chiến sỹ cả nước. Hình ảnh ấy của Bác luôn làm chúng ta xúc động, thưa ông?

Đúng thế! Bác sống rất sâu sắc. Bác là niềm tự hào của cả dân tộc, làm vinh quang cho đất nước ta trong thế kỷ 20. Mỗi việc làm của Bác đều rất thiết thực, tấm lòng của Bác rộng mở, bao la. Cuộc đời của Bác đã chứng minh đầy đủ thực sự nhân nghĩa, đạo lý truyền thống của dân tộc, giá trị tốt đẹp của nhân loại.

Chúng ta học tập Bác, không phải chỉ mang túi quà tết đến biếu người nghèo, người có công, mà phải ra sức học tấm gương “cần kiệm liêm chính chí công vô tư” của Bác. Bác “chỉ có một ham muốn tột bậc” là làm cho nước “được hoàn toàn độc lập”, dân “được hoàn toàn tự do”, “đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Bác mong toàn Đảng phải đoàn kết, xứng đáng là Đảng của nhân dân, giữ được uy tín với nhân dân. “Phải giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Lời dạy đó của Bác sâu xa lắm, chỉ tiếc là mình làm chưa được bao nhiêu.

Là cán bộ cao cấp về hưu, ngày tết ở gia đình ông có gì đặc biệt không?

Tôi có 6 người con đều đã ở riêng, nhưng bữa cơm nào các cháu đều đến ăn chung, ngày tết bao giờ cũng sum vầy bên nhau. Trong bữa cơm, tôi vẫn thường tâm sự, bảo ban các cháu. Ngày tết tôi cũng vẫn thấy phải tiết kiệm, hiếm khi mua cây đào; cùng lắm các cháu mua một vài cây quất để trước nhà.

Hồi trước làm lãnh đạo ở Hà Nội, nhiều năm cũng được anh em ở quận Tây Hồ cho cây quất… Nghĩ lại thấy đời sống của dân mình so với trước đây cũng đã hạnh phúc hơn nhiều.

Tết gia đình tôi thường tự gói lấy bánh chưng, có năm kéo cả nhà về quê ăn tết với quê hương, thật là đầm ấm.

Chúc ông năm mới tràn đầy sức khỏe và hạnh phúc.

Nguyễn Tuấn thực hiện
tienphong.com.vn

Đảng, Bác Hồ và mùa xuân dân tộc !

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng. Ảnh: Tư liệu

(THO) – Mùa xuân năm 1930, ngày 5 Tết Canh Ngọ, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời!

82 năm đã qua, Đảng vĩ đại, anh hùng đã gắn bó với nhân dân làm nên mùa xuân đất nước.

Biết bao mùa xuân đã trôi qua, nhưng một mùa xuân thực sự, một mùa xuân khởi đầu, đặt nền móng cho hạnh phúc của chúng ta hôm nay lại chính là mùa xuân thành lập Đảng.

Nhớ lại thời dựng Đảng, chúng ta càng thấy Đảng ta thật là vĩ đại.

Cuối năm 1929, nhận được liên lạc của Đảng, Bác Hồ đã từ một vùng quê ở Thái Lan, đáp xe lửa đi Băng Cốc, rồi từ đó đi tàu thủy đến Xinh-ga-po. Tại đây người chuyển sang một con tàu khác đi Hồng Công. Các đồng chí Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn đã ra tận cảng biển đón Bác. Và Bác đã quyết định họp hội nghị thành lập Đảng vào đúng dịp Tết Nguyên đán. Ở Trung Quốc cũng như Việt Nam, Tết Nguyên đán là ngày Tết lớn nhất trong năm và thường kéo dài nhiều ngày liền. Đó chính là dịp để những đại biểu tham gia hội nghị có thể đi khỏi đất nước mà không ai để ý. Còn ở Cửu Long thì một cuộc họp mặt như vậy cũng sẽ có nhiều thuận lợi.

Và thế là ngày 3-2-1930, đúng ngày mùng 5 Tết Canh Ngọ, hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp tại Cửu Long (Trung Quốc) dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Đảng ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của Cách mạng Việt Nam. Ngày 7-2-1930 ngày cuối cùng của hội nghị, một hội nghị có tầm vóc lịch sử như một Đại hội thành lập Đảng, Bác Hồ tổ chức một bữa liên hoan nhỏ ngay tại phòng ở của mình. Khi các đại biểu đã ngồi xung quanh bàn, Người xúc động nói:

“Các đồng chí, hôm nay là ngày lịch sử của chúng ta. Lê-nin vĩ đại đã nói, chỉ có Đảng nào có được một lý luận tiền phong mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong. Bây giờ, chúng ta đã có một Đảng như thế rồi – Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Nhân dân ta từ xưa có truyền thống đấu tranh anh dũng, nhưng suốt những năm ấy, nhân dân ta thiếu người cầm lái sáng suốt. Giờ đây Đảng của chúng ta phải gánh lấy vai trò này và tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt nhân dân ta đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc thân yêu”.

Như vậy là ngay trong những ngày đầu tiên thành lập Đảng, trong lời phát biểu ngắn gọn ấy, Bác đã ba lần nhắc đến nhân dân ta.

Năm 1960, kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại… Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”.

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng là trí tuệ, là phẩm chất của cả dân tộc, kế thừa tinh hoa của hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Sức mạnh của Đảng chính là sự gắn bó máu thịt với nhân dân, là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Và Bác Hồ đã nói: “Nhiệm vụ của Đảng ta có thể nói gọn trong 8 chữ: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Và chính Người là đỉnh cao của đạo đức và văn minh đó. Người là hình ảnh tuyệt đẹp về mối liên hệ thân thiết, gắn bó giữa lãnh tụ với nhân dân và Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên ta phải thường xuyên liên hệ chặt chẽ với nhân dân.

Bác nhấn mạnh: “Đảng phải liên hệ với quần chúng như chân tay ruột thịt… Đảng viên thì phải dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng. Tức là hết lòng ra sức phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, học hỏi nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành một khối” (1).

Chưa ở đâu mà tình cảm giữa lãnh tụ với quần chúng lại thân thiết, gần gũi và được kính trọng, tin tưởng như Hồ Chủ tịch với nhân dân ta. Một nhà văn nước ngoài đã viết: “Bác Hồ – cách xưng hô quen thuộc của Việt Nam, chứa đựng cả sự kính trọng sâu sắc và sự ngưỡng mộ của cả một dân tộc đối với một người cha. Không có một từ nào có thể diễn tả được một cách trong sáng và đẹp đẽ như hai tiếng đó!”.

Hồ Chủ tịch nói: Dân là gốc của nước, dân là gốc của cách mạng, do đó dân cũng là người tham gia xây dựng Đảng.

“Gốc có vững cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Người nói thế và suốt đời Người luôn luôn gương mẫu làm đúng, làm hơn cả những điều mình nói. Người luôn luôn đặt đời sống của mình trong đời sống của nhân dân. Trong Di chúc của mình, Người dặn dò:”Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

Trong bản Di chúc ấy, Bác đã 17 lần nhắc đến chữ “Nhân dân”. Và trong Di chúc của Người những chữ “Nhân dân” Bác đều gạch dưới.

Đồng chí Nguyễn Thọ Chân kể lại, hồi còn làm Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội, một lần vào làm việc với Bác, đồng chí đã đề nghị Bác cho xây dựng trụ sở của Trung ương Đảng tại Hà Nội cho có bề thế.

Bác im lặng, rồi trả lời: – Trụ sở bề thế của Đảng ta, phải xây dựng ở trong lòng dân ấy, chú ạ ! (2).

Lại nhớ một lần, Bác đến nói chuyện với cán bộ, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo. Trong câu chuyện, Bác hỏi: – Bác đố các chú, ai to nhất nước ta?

Tất cả trả lời:

– Thưa Bác, là Bác ạ! Bác cười: – Các chú nhầm rồi, các chú còn phong kiến quá. Bác đọc cho các chú nghe nhé: “Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Bác nhấn mạnh hai chữ dân chủ, rồi hỏi lại:

– Ai là chủ ở đây các chú?

– Thưa Bác, dân là chủ ạ. Và Bác kết luận: – Các chú phải luôn nhớ. Dân là người to nhất, nhân dân là lực lượng to lớn nhất! “Gốc có vững, cây mới bền. Xây lầu hạnh phúc trên nền nhân dân”.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự nghiệp đổi mới của nước ta đã được đẩy mạnh trên mọi lĩnh vực. Việt Nam đã hội nhập với thế giới, trong nước thì chính trị xã hội ổn định, kinh tế phát triển, an sinh xã hội được chăm lo, quốc phòng và an ninh được tăng cường, chủ quyền và lãnh thổ được giữ vững. Mùa xuân này, mỗi người Việt Nam trong cuộc sống mới của mình, ai cũng có thể trực tiếp cảm nhận thấy những gì mà Đảng đã đem lại cho gia đình mình, cho đất nước mình và cho mỗi người chúng ta.

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, trang 231-235.
(2) Báo Nhân dân ngày 23-9-1996.

Hải Bình
baothanhhoa.vn

Những mùa xuân năm Tỵ của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Ðảng quyết định mở chiến dịch Ðiện Biên Phủ. ( Ảnh: Ảnh tư liệu )

Trong suốt 79 mùa xuân của cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trải qua bảy lần đón những mùa xuân năm Tỵ với những dấu ấn đặc biệt.

Khi là cậu bé ba tuổi với tên gọi Nguyễn Sinh Cung, Người đã đón Xuân Quý Tỵ (1893) đầu tiên trong vòng tay yêu thương của người mẹ, trong sự ấm áp của quê hương xứ Nghệ. Cũng năm này, chỉ vài tháng sau Tết, Người chịu nỗi đau đầu tiên: Ông ngoại Hoàng Xuân Ðường qua đời (22-5-1893).

12 năm sau, Người đón Xuân Ất Tỵ (1905) trên quê hương Nam Ðàn, Nghệ An. Thời gian này, Người được theo cha đến các vùng trong tỉnh và một số tỉnh khác. Những chuyến đi này giúp Nguyễn Sinh Cung – Nguyễn Tất Thành mở rộng thêm tầm nhìn và tầm nghĩ trước cảnh thống khổ của nhân dân. Ðặc biệt (tháng 9-1905, khi cha cho theo học Trường tiểu học Pháp – bản xứ Vinh) chính trong năm này, lần đầu tiên Người tiếp xúc với khẩu hiệu: Tự do – Bình đẳng – Bác ái của cách mạng Pháp, khẩu hiệu đó đã thôi thúc Người đi tìm hiểu thực chất điều gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy, để về cứu giúp đồng bào.

Kể từ khi rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, ngày 5-6-1911, năm Tỵ đầu tiên mà Người đón Xuân trong nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương da diết là Tết Ðinh Tỵ -1917. Xuân năm đó, Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh đang sống và hoạt động trên xứ sở đảo quốc sương mù, như Người nói “để học tiếng Anh và xem nước tự nhận là “Mặt trời không bao giờ lặn trên đất nước của mình hiện tình ra sao“. Ðể có tiền sống, khảo sát và tìm hiểu, Nguyễn Tất Thành đã phải làm rất nhiều nghề, có nghề rất nặng nhọc: quét tuyết cho một trường học, làm thợ đốt lò ở trung tâm sưởi ấm của Luân Ðôn, rửa bát đĩa, rồi làm bánh tại khách sạn Carlton ở Thủ đô Luân Ðôn… Những năm tháng sống ở nước Anh, Nguyễn Tất Thành đã tích lũy được thêm những hiểu biết về chế độ chính trị của xã hội tư sản, về đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa chính quốc và thuộc địa của một nước tư bản chủ nghĩa sớm phát triển, nhất là trang bị cho mình một trình độ kiến thức khá vững vàng về tiếng Anh – công cụ giao tiếp rất quan trọng trong sinh hoạt và đấu tranh chính trị.

Xuân Kỷ Tỵ (1929), Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đang hoạt động ở vùng Ðông Bắc Thái-lan, nơi mà một đêm nghe một bà mẹ hát ru con bằng tiếng Việt, sáng ra Người đã thốt lên “Xa nhà chốc mấy mươi niên/Ðêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con“. Những vần thơ đưa về ký ức tuổi thơ với những tình cảm sâu nặng nơi quê nhà. Ở thời điểm này, với tên gọi Thầu Chín, Nguyễn Ái Quốc tích cực xây dựng cơ sở, lực lượng cách mạng trong Việt kiều yêu nước, để từ đó tuyên truyền yêu nước và phong trào đấu tranh cách mạng về trong nước. Xuân Kỷ Tỵ này cũng khởi đầu cho những khó khăn, nỗi đau riêng: Ngày 11-11-1929, theo lệnh thực dân Pháp, tòa án Nam Triều ở Vinh đã kết án tử hình bảy người Việt Nam yêu nước, trong đó Nguyễn Ái Quốc bị kết án tử hình vắng mặt. Nửa tháng sau đó, ngày 27-11-1929, người cha thân yêu – Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã qua đời (thọ 66 tuổi) tại Cao Lãnh, Ðồng Tháp. Nhưng đây cũng là năm Nguyễn Ái Quốc và những đồng chí tiên phong truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin về trong nước, soi đường cho phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta phát triển, đòi hỏi sự lãnh đạo của một chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân: cuối năm 1929, ba tổ chức cộng sản Việt Nam được thành lập. Nhận thức được tầm quan trọng nguy cơ chia rẽ phân liệt của phong trào đấu tranh cách mạng, cuối năm 1929, Nguyễn Ái Quốc đã gấp rút từ Thái-lan về Hồng Công (Trung Quốc) gặp gỡ bàn việc hợp nhất các tổ chức cộng sản. Mùa Xuân năm 1930, Ðảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam ở thế kỷ 20.

Tròn 30 năm ra đi tìm đường cứu nước, ngày Bác trở về Tổ quốc giữa thời khắc cả nước đón Tết Tân Tỵ (ngày 28-1-1941 là ngày mùng 2 Tết), Người đã đưa về cho cả dân tộc ta mùa xuân mới tràn ngập những niềm vui hạnh phúc.

Sau này, Người kể lại: “Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng cảm động…” (*). Ngày 8-2-1941, với tên gọi Già Thu, Bác Hồ về sống và làm việc tại hang Cốc Bó (theo tiếng Nùng có nghĩa là đầu nguồn), một hang núi kín đáo ở thôn Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Nơi núi rừng hùng vĩ, chan chứa xúc cảm gợi nguồn thi hứng, Người đã làm bài thơ tả cảnh Pác Bó hùng vĩ:

Non xa xa, nước xa xa,/Nào phải thênh thang mới gọi là./Ðây suối Lê nin, kia núi  Mác,/Hai tay xây dựng một sơn hà.

Tháng 5-1945, tại đây Bác Hồ đã chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 để quyết định chuyển hướng chiến lược cách mạng Việt Nam, chuẩn bị lực lượng và phương pháp lãnh đạo toàn dân đấu tranh đi tới thắng lợi của Cách mạng Tháng  Tám – 1945, giành độc lập dân tộc.

Bác Hồ cùng cả dân tộc đón Xuân Quý Tỵ 1953, khi cuộc kháng chiến của chúng ta bước sang năm thứ bảy, với những thắng lợi lớn trên các mặt trận quân sự, ngoại giao, trong phát triển lực lượng. Thơ chúc Tết xuân này, Người viết:

Mừng năm Thìn vừa qua,/Mừng xuân Tỵ đã tới./Mừng phát động nông dân,/Mừng hậu phương phấn khởi./Mừng tiền tuyến toàn quân/ Thi đua chiến thắng mới./Mừng toàn dân kết đoàn,/Mừng kháng chiến thắng lợi./Mừng năm mới, nhiệm vụ mới,/Lực lượng mới, thành công mới/Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào,/Mừng phe dân chủ hòa bình thế giới.

Những vần thơ Tết của Bác Hồ đã thấm sâu trong tình cảm của người dân nước Việt Nam ta.

Năm 1954, niềm tin vào Bác Hồ và Ðảng đã đưa dân tộc ta đoàn kết đi tới thắng lợi Ðiện Biên Phủ lẫy lừng năm châu, kết thúc chín năm kháng chiến gian khổ để bước vào  cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lâu dài, khó khăn, gian khổ nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, khi đế quốc Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền nam Việt Nam, đồng thời mở rộng chiến tranh đánh phá miền bắc nước ta bằng không quân và hải quân. Ðã có lúc, không ít bạn bè quốc tế bi quan về thắng lợi của nhân dân ta trong công cuộc chống Mỹ, cứu nước, bởi sự khốc liệt của nó, do sự tàn bạo của đế quốc Mỹ gây ra…

Nhưng toàn dân ta thêm vững lòng tin khi được nghe giọng nói trầm ấm, thiết tha của Bác Hồ đọc thơ chúc Tết mỗi độ Xuân về. Lời thơ chúc Tết của Bác những năm tháng này như tiếng kèn xung trận vang dậy khắp non sông… với những vần thơ hào hùng, tràn ngập niềm tin tất thắng.

Tết Ất Tỵ 1965 là Tết năm Tỵ cuối cùng “Trước khi từ biệt thế giới này”, Bác Hồ làm thơ Xuân tặng đồng bào và chiến sĩ cả nước:

Chào mừng Ất Tỵ xuân năm mới,
Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi,
Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi,
Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới,
Ðồng bào hai miền thi đua sôi nổi,
Ðấu tranh anh dũng, cả nước một lòng,
Chủ nghĩa xã hội nhất định thắng lợi!
Hòa bình thống nhất ắt hẳn thành công!

Những vần thơ xuân của Bác luôn thấm đẫm tư tưởng cách mạng, ngôn từ không cao siêu mà giản dị dễ hiểu, bao la tình nhân ái, ấm áp như mùa xuân, lay động lòng người và có sức thuyết phục lớn.

Trong ngày đầu năm 1-1-1965, Báo Nhân Dân số 3928 đã đăng bài báo Bác viết về Tết trồng cây với hai câu thơ mở đầu“Mùa Xuân là Tết trồng cây/Làm cho đất nước càng ngày càng xuân“. Những vần thơ như nỗi lòng Bác lo cho tương lai của đất nước, của dân tộc, khi Người đã bước sang tuổi 75 và đã bắt đầu nghĩ tới việc viết Di chúc để lại cho đời sau. Nhiều xuân Tỵ đã đi qua, nhân dân Việt Nam đã và đang phấn đấu thực hiện trọn vẹn di huấn của Người. Hôm nay, dù còn gặp nhiều khó khăn trở ngại, song ánh sáng tư tưởng, đạo đức của Người đang dẫn dắt chúng ta đi tới đích trong sự nghiệp xây dựng “đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, như Người hằng mong ước.

Ðã bốn mùa Xuân của những năm Tỵ không được nghe thơ mới của Bác, nhưng những vần thơ Xuân của Người vẫn sống mãi với dân tộc, sống mãi với thời gian.

(*) T.Lan: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb CTQG, Hà Nội, 2009, tr.82.

TS CHU ĐỨC TÍNH, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh.
nhandan.com.vn


Phim tài liệu: Những mùa xuân năm Tỵ của Bác Hồ

Bác Hồ với thế hệ mùa xuân của xã hội

Trong suốt cuộc đời mình, bằng thực tiễn lịch sử và kinh nghiệm hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến thanh niên, thiếu niên và nhi đồìng. Theo Người, “Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”.

Sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thế hệ trẻ được thể hiện ở việc Người luôn đánh giá cao vai trò, vị trí của tầng lớp thanh thiếu niên đối với sự phát triển của quốc gia, dân tộc; đồng thời, còn là người tổ chức, giáo dục và rèn luyện thanh niên xứng tầm với vai trò, vị trí của họ. Ngay từ những năm tháng hoạt động sôi nổi ở nước ngoài để tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ về vai trò của thế hệ trẻ đối với sự phát triển của quốc gia, dân tộc. Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” năm 1925, phần Phụ lục Gửi thanh niên An Nam, Người đã kêu gọi: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”. Rõ ràng, phải sớm thấy được sức mạnh, vai trò to lớn của thế hệ trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới đặt vấn đề sinh tử, tồn vong của dân tộc vào sự “hồi sinh” của lực lượng thanh niên Đông Dương, lúc bấy giờ đang bị đầu độc bằng rượu cồn và thuốc phiện dưới ách cai trị của thực dân phong kiến.

Chỉ một thời gian ngắn sau khi về hoạt động tại Quảng Châu, Trung Quốc, tháng 6.1925, Người đã tập hợp những thanh niên Việt Nam yêu nước đang sống và hoạt động tại đây lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên – tổ chức tiền thân của Đảng ta, xuất bản báo Thanh niên, mở các lớp huấn luyện và trực tiếp đào tạo, rèn luyện họ thành lực lượng nòng cốt trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Với tầm nhìn chiến lược về tương lai của dân tộc, năm 1926, Người đã viết thư đề nghị Ủy ban Trung ương thiếu nhi Liên Xô và Đại diện Đoàn Thanh niên cộng sản Pháp tại Quốc tế Thanh niên về việc gửi một nhóm thiếu nhi Việt Nam sang Liên Xô học tập. Mong muốn của Người là để các em được tiếp thu một nền giáo dục tốt hơn, và đào tạo các em thành “những chiến sỹ Lêninnít chân chính nhỏ tuổi”, làm hạt nhân cho Đoàn thanh niên Cộng sản sau này.

Nguồn: vietbao.vn

Trở về nước sau hơn 30 năm hoạt động ở nước ngoài, tháng 5.1941 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tại Pác Bó, Cao Bằng. Tại Hội nghị này, theo sáng kiến của Người, Mặt trận Việt Minh và các hội Cứu quốc được thành lập, trong đó có Đoàn Thanh niên cứu quốc, Đội Thiếu nhi cứu quốc và Đội Nhi đồng cứu quốc… Từ đây, phong trào thanh thiếu niên phát triển nhanh chóng, trở thành lực lượng xung kích trong mọi công tác cách mạng, góp phần cùng với các tổ chức yêu nước khác tiến tới tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trong cả nước. Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, thế hệ trẻ Việt Nam thực sự trở thành người chủ tương lai của đất nước. Trong thư gửi thanh niên năm 1947, Người viết: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”; họ là người “tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai – tức là các cháu nhi đồng”.Tin tưởng và đặt niềm tin vào thế hệ trẻ, Bác Hồ luôn đòi hỏi cao sự tự tu dưỡng, rèn luyện và phấn đấu của họ. Thanh niên có vinh dự to lớn thì cũng có trách nhiệm nặng nề, muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại “phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải ra làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó”. Nhiệm vụ và khẩu hiệu của thanh niên trong mọi thời kỳ cách mạng là: “Tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên”, có nghĩa “thanh niên phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng. Thanh niên phải trở thành một lực lượng to lớn và vững chắc trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc”. Đặc biệt, trên đường đi kinh lý vùng biên giới năm 1951, khi ghé thăm một đơn vị thanh niên xung phong đang làm đường tại Nà Cù – Bắc Kạn, Người làm bài thơ tặng: Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên. Lời dạy trên của Người đã trở thành phương châm sống của lực lượng thanh niên trong thời kỳ cách mạng.

Dưới ánh sáng niềm tin của Bác Hồ, lại được Người trực tiếp rèn luyện, các thế hệ thanh niên Việt Nam tiếp bước nhau, không ngừng phấn đấu vươn lên, dũng cảm đi đầu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình trong các thời kỳ cách mạng. “Từ chỗ chỉ có một Lý Tự Trọng đến ngày nay chúng ta có 78 vạn đoàn viên Đoàn Thanh niên Lao động hăng hái ra sức giúp Đảng xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc” (Phát biểu tại Đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam năm 1961).

Di chúc của Người một lần nữa đã khẳng định niềm tin tưởng lớn lao dành cho thế hệ trẻ. Người dặn dò: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” lại vừa chuyên”. Cụm từthừa kế ở đây vừa là sự duy trì, tiếp nối vừa là sự phát triển đi lên của dân tộc mà Người tin tưởng, kỳ vọng, đặt niềm tin ở thế hệ đi sau. Người đúc kết: bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết. Đây là chân lý, một lời khẳng định bằng kinh nghiệm hoạt động cách mạng trong suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bằng chính những năm tháng tuổi trẻ của Người.

Kỷ niệm 80 năm thành lập Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, chúng ta càng khắc sâu những lời căn dặn của Bác Hồ về đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ. Đó là vấn đề sống còn của dân tộc, hướng tới đích cuối cùng là đưa Việt Nam “bước tới đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu”.

Phạm Thị Thanh Mai
daibieunhandan.vn