Thư viện

Bác Hồ nói chuyện “Tết” và “Xuân”

 Tet va xuân

Trong một bài báo viết cho Tạp chí “Vì một nền hòa bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân” vào đầu năm 1952 (Xuân Nhâm Thìn), Bác Hồ kể với bạn bè quốc tế mùa Xuân ở Việt Nam:

“May mắn hơn nhiều dân tộc khác, người Việt Nam chúng tôi cũng như các bạn Trung Quốc và Triều Tiên, mỗi năm chúng tôi có hai ngày Tết. Một lần Tết theo dương lịch. Còn một Tết thứ hai tính theo âm lịch. Đó là ngày Tết theo tục lệ cổ truyền của nhân dân. Mùa Xuân ở nước chúng tôi bắt đầu từ ngày đầu tháng Giêng Âm lịch. Khắp nơi nơi là cả một bầu không khí tuyệt vời của mùa Xuân. Mặt trời tỏa sáng, ánh sáng dịu dàng đem lại sức sống tươi vui và lành mạnh. Lúa non phủ lên các cánh đồng, khác nào những tấm thảm xanh rộng mênh mông hứa hẹn năm tới sẽ no ấm được mùa. Chim chóc hót véo von, ríu rít trong những bụi cây bốn mùa xanh tốt sum suê. Từ các lâu đài cho đến những nhà tranh bé nhỏ đều có tranh vẽ, những lời chúc mừng dán ở cửa cổng ra vào. Ngày nay những lời chúc mừng và những tranh vẽ ấy đã trở thành những khẩu hiệu đấu tranh và lao động như:

– Mở rộng phong trào thi đua yêu nước trên mặt trận đấu tranh chống quân thù, trong sản xuất, trong công việc phát triển kinh tế!

– Đấu tranh chống bệnh quan liêu, tham ô và lãng phí!

– Công việc kiến quốc nhất định sẽ thu được thắng lợi!

Trong những ngày Tết này, mọi người đều mặc những quần áo đẹp nhất mà họ có. Gia đình nào cũng nấu nướng, sửa soạn những thức ăn ngon nhất. Người ta làm lễ trước bàn thờ tổ tiên. Bạn hữu đi chúc mừng thăm hỏi lẫn nhau. Người lớn tặng quà cho trẻ con. Nhân dân gửi tặng phẩm ủng hộ bộ đội… Nói tóm lại đây thật là ngày Tết của mùa Xuân .”

Với bè bạn quốc tế, Bác Hồ kể về những ngày Tết đầm ấm, vui tươi của dân tộc ta.

Với nhân dân mình, Bác có những lời khuyên nhủ để mùa Xuân  và ngày Tết càng thêm có nhiều ý nghĩa.

Trước hết Bác nói đến sự gắn bó sâu sắc trong những ngày Xuân  giữa làng và nước, giữa địa phương và quốc gia – đất nước, giữa Việt Nam và thế giới.

Trong bài “Mừng Xuân vĩ đại” đăng trên Báo Nhân Dân số 2141 ngày 27-1-1960, Bác viết:

“Xưa kia, người ta chỉ mừng Xuân hẹp hòi trong khuôn khổ gia đình. Ngày nay chúng ta mừng Xuân rộng rãi, từ gia đình đến cả nước, đến khắp thế giới”.

Hồ Chủ tịch thường căn dặn là phải hết sức tiết kiệm trong những ngày đón Xuân. Cũng trong bài “Mừng Xuân vĩ đại” Bác nhắc nhở “Chúng ta mừng Xuân một cách vui vẻ, tưng bừng, nhưng tuyệt đối không lãng phí”.

Trên Báo Nhân Dân số 2132, ngày 28/1/1960, trong bài “Mừng Tết Nguyên đán thế nào?” Bác viết:

“Suốt năm chúng ta thi đua lao động sản xuất. Nhân ngày Nguyên Đán, chúng ta vui chơi một hôm để chào Xuân. Việc đó cũng đúng thôi.

Nhưng chúng ta nên mừng Xuân một cách vui vẻ và lành mạnh. Nếu có bao nhiêu tiền đều bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù, thế là mừng Xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không Xuân. Nên nhớ rằng chúng ta phải cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội, không nên vì một cớ gì mà quên nhiệm vụ ấy.

Các đồng chí cán bộ ta cần phải hướng dẫn đồng bào làm cho ngày Tết vui vẻ và tưng bừng, tiết kiệm và thắng lợi”.

Trong sách “Thanh Hóa khắc sâu lời Bác” (1975), Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Thanh Hóa có ghi lại lời dặn dò của Bác Hồ với cán bộ và nhân dân tỉnh nhà nhân dịp Bác về thăm Thanh Hóa (1957): “Chúng ta làm việc suốt năm, vui ngày Tết là xứng đáng, nhưng vui một cách lành mạnh thì nên vui. Tôi mong các cụ các bà chống lãng phí, vì lãng phí chỉ có hại cho dân, cho nước, cho nhà, vì nó đưa đến phong tục hủ bại, rượu chè, hút xách…”.

Bác khuyên trong những ngày Tết, “Không nên chơi bời quá độ mà phải có chừng độ. Chơi quá độ, bừa bãi không nên. Nếu chơi nhiều thì không tăng gia sản xuất, học tập được. Ta có câu “Lạc bất khả cực, lạc cực sinh ai”. Nghĩa là vui không nên quá mức, vui quá mức đi đến cái buồn”.

Trên Báo Nhân dân ngày 18/1/1960, nhắc nhở đồng bào cố gắng tiết kiệm, đừng lãng phí trong ngày Tết, Hồ Chủ tịch có mấy câu thơ vừa giản dị, vừa sâu sắc:

Trăm năm trong cõi người ta,

Cần kiệm xây dựng nước nhà mới ngoan,

Mừng Xuân, Xuân cả thế gian

Phải đâu lãng phí, cỗ bàn mới Xuân.

Bác Hồ cũng thường nhắc nhở rằng đón Tết, vui Xuân trong ngày đầu năm phải nghĩ đến công việc của cả năm. Bác viết trong bài “Mùa Xuân quyết thắng” trên Báo Nhân Dân số 2147 ngày 3/2/1960.

Tục ngữ có câu: “Suốt năm kế hoạch, định từ mùa Xuân” (Nhất niên chi kế, thi ư Xuân). Thật đúng như vậy. Mùa Xuân thì trời vui, đất vui, người càng vui. Cho nên ngay từ đầu mùa Xuân mọi công việc làm được tốt, thì cả năm sẽ phát triển tốt và kết quả tốt”. Từ ngày Tết đầu năm phải lo nghĩ” để hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước, để Xuân sau thắng lợi hơn Xuân này”.

Bác Hồ tuy đã đi xa, nhưng người Việt Nam cảm thấy như Bác vẫn ở bên cạnh mình. Và cứ mỗi dịp Xuân về, nhân dân ta vẫn cảm thấy như có Bác trong ngày Tết ấm áp, vẫn nghe rõ những lời Bác căn dặn:

“Hãy mừng Xuân rộng rãi từ gia đình đến cả nước”, “Hãy mừng Xuân vui vẻ tưng bừng nhưng tuyệt đối không lãng phí” và hãy nhớ câu tục ngữ: “Suốt năm kế hoạch, định từ mùa Xuân”.

Phạm Hồng Việt
(Theo Tập san Sở GD&ĐT Thừa Thiên Huế, số 1, 2011)
Thu Hiền (st) / http://bachovoihue.violet.vn

bqllang.gov.vn

Một số bài viết, bài nói và hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Tết trồng cây”

1. Ngày 30/5/1959, trên Báo Nhân Dân số 1901 đăng bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Nông dân phải trồng cây chuẩn bị làm nhà ở” với bút danh Trần Lực. 1

1Bác Hồ chăm sóc cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi tặng Người (12/1957)

2. Với bút danh Trần Lực, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân, số 2082, ngày 28/11/1959; 2

3. Ngày 19/1/1960, với bút danh T.L, Bác đã viết “Tết trồng cây đã thắng lợi bước đầu” đăng trên Báo Nhân Dân số 2133;3

4. Bác viết bài “Thêm vài ý kiến về Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân số 2198 ngày 25/3/1960, bút danh Trần Lực; 4

5. “Tết trồng cây” với bút danh Trần Lực, đăng trên Báo Nhân Dân số 2506 ngày 28/1/1961; 5

2Chủ tịch Hồ Chí Minh trồng cây đa tại Công viên Thống Nhất mở đầu Tết Trồng cây do Người phát động (11/1/1960). Ảnh internet

3Ngày 25 tháng 1 năm 1961, Người đã về thăm HTX nông nghiệp Lạc Trung, nay là thôn Lạc Trung, xã Bình Dương, huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc. Đây là nơi có nhiều thành tích trong phong trào “Tết trồng cây” và trở thành điển hình tiên tiến của tỉnh
và toàn miền Bắc. 
Ảnh internet

6. Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài nói chuyện với thanh niên trong buổi trồng cây tại vườn hoa thanh niên ngày 5/2/1961 – Theo tường thuật của Báo Nhân Dân số 515 ngày 6/2/1961; 6

7. Ngày 30/12/1961, Bác viết bài “Tết trồng cây” với bút danh T.L đăng trên Báo Nhân Dân số 2839 ngày 30/12/1961; 6

4Về thăm HTX Yên Trường (Yên Định) năm 1961, Bác Hồ khen việc trồng cây gây rừng cũng có tiến bộ, đã trồng được 1 vạn cây lấy gỗ và cây ăn quả. Ảnh: Internet

            8. Với bút danh T.L, Bác viết bài “Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân số 3228 ngày 27/1/1963; 8

9. Ngày 5/2/1964, với bút danh T.L Bác viết bài “Ngày Xuân vui Tết trồng cây nơi nơi phấn khởi, người người thi đua” đăng trên Báo Nhân Dân số 3600; 9

10. Ngày 1/1/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh T.L đã viết bài “Năm mới hãy nhiệt liệt tổ chức Tết trồng cây”. 9

11. Với bút danh T.L, Bác viết bài “Tết trồng cây” đăng trên Báo Nhân Dân số 5411 ngày 5/2/1969. 1

5Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng bà con xã Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây (nay là Hà Nội) trồng cây vào mùa Xuân năm Kỷ Dậu, 16/2/1969. Ảnh internet

6Bác Hồ cùng cán bộ, nhân viên trồng cây trong Phủ Chủ tịch . Ảnh Internet

7Hình ảnh giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đang tưới nước, chăm sóc cây trong Phủ Chủ tịch. Ảnh internet

—————————————-

1, 2, 3, 4: Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần thứ 3, tập 12, trang 227; 337; 442; 535;
5, 6, 7: Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần thứ 3, tập 13, trang 22; 541; 302;
8, 9, 10: Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần thứ 3, tập 14, trang 19, 248, 445;
11: Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, XB lần thứ 3, tập 15, 549.

Huyền Trang (tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Mùa Xuân Cụ Hồ… Mùa Xuân Cụ Hồ…

Bác Hồ chúc TếtTrong cuộc đời 79 mùa Xuân của Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, có 30 mùa Xuân “Tha hương”, cộng thêm hai mùa Xuân vừa tha hương vừa nằm trong ngục Tưởng Giới Thạch. Trong 30 mùa Xuân cách xa Tổ quốc ấy cũng có hai lần đón Xuân tại nhà tù Víctoria ở Hồng Kông và 5 cái Tết ở trên đất Liên Xô, chỉ có đọc sách mà không được hoạt động nhiều (từ năm 1934 đến năm 1938).

Nếu tính từ tuổi 17 đã biết tự lập thì trừ đi những năm thơ ấu, những năm “ly hương” và tù ngục, Bác Hồ thân yêu thực sự chỉ “ăn” được 30 cái Tết trong nước. Chưa được một nửa cuộc đời – 17 mùa Xuân lênh đênh biển cả, 4 Xuân trong xà lim, 5 Xuân ít được hoạt động… Những mùa Xuân đắng cay ấy cũng không dồn đủ ngọt ngào cho những Xuân còn lại của Người. Bác Hồ đã một lần nói với đồng chí Hoàng Đạo Thuý rằng: “Người ta ai cũng là người, ai cũng có vui, có buồn… Với anh em, đồng chí, đồng bào, tôi cố giữ cho mình được vui…”

Bác không nói tới vế sau, nhưng ai cũng hiểu. Với niềm tin tưởng và tinh thần lạc quan cách mạng. Người đã có những mùa Xuân tươi đẹp nhất. Phải chăng đó là mùa Xuân năm 1923 trên đất Pháp, khi Người viết truyền đơn cổ động mua báo Le Paria. Mùa Xuân ấy, lần đầu tiên, sau bao nhiêu năm kiểm nghiệm cuộc sống, Nguyễn Ái Quốc viết: “Cho đến nay chủ nghĩa tư bản chỉ là những vách tường dày ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và thương yêu nhau”. Mùa Xuân năm 1924, Người đã đến Mátxcơva quê hương của một mùa Xuân mới. Mùa Xuân năm 1930 là một mùa Xuân tươi đẹp, sung sướng nhất của Bác Hồ, vì “từ nay đã có Đảng lãnh đạo, cách mạng sẽ thành công”. Mùa Xuân năm 1941, sau 30 năm cách xa Tổ quốc, sau khi mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ ở biên giới Việt – Trung, theo nội dung sách sau này được in lưới tên gọi Con đường giải phóng.Con đường mới đi được chặng đầu trong khí trời trong lành của một buổi sớm xuân, trong hương thơm của hoa rừng biên cương, Người trở về Tổ quốc.

Những mùa Xuân phấn khởi như vậy rất ít với Người, vì rằng Người đã nghĩ mình trong bước gian truân, tai ương rèn luyện tinh thần thêm cao, như Nguyễn Trãi đã tự nói “vì trời giao ta làm việc lớn nên thử thách ta”.

Mùa Xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một mùa Xuân của nghĩa tình, chan chứa lòng yêu thương đồng cảm với nhau. Xuân năm 1959, trên đất Liên Xô, Bác nói với các cháu thiếu nhi: “Tết bây giờ khác trước rồi. Mùa Xuân của chúng ta không phải là ba tháng mà là dài hơn, gia đình, họ hàng của ta là cả gia đình quốc tế vô sản”. Người mong muốn mùa Xuân cho mọi người, xuân ở trong mọi ngày. Trong ngày xuân, gặp được đồng bào, đồng chí, bạn bè, người lại thấy Xuân này, xuân lại thêm xuân, nước non xa, anh em gần, vui thật là vui.

Khi Tết đến, Xuân về, dù không có tiền bạc, bánh quà để tặng những người nghèo khổ, Bác vẫn đến với họ, sẻ chia một tấm lòng, một sắc xuân của trái tim Người. Cô công nhân vệ sinh bất ngờ “không bao giờ nghĩ là Bác đến”. Hiền lành như một ông Tiên, ông Bụt, Bác xót xa mà nói “Bác không đến thăm cháu, còn thăm ai?”. Mùa Xuân ấy đối với căn nhà rách nát nghèo nàn, trong một hẻm phố nhỏ của chị công nhân thật là “một mùa Xuân cả thế gian, phải đâu lãng phí cỗ bàn mới xuân” như lời Bác dạy.

Nếu như “Chủ nghĩa cộng sản là mùa Xuân của nhân loại” còn quá cao trên đỉnh núi, mà ta chỉ chiêm ngưỡng được trong những ngày trời đẹp, hoặc còn quá xa như một viễn cảnh, thì trong những ngày này, thế giới này, quả đất này, có thể đã có một mùa Xuân “không gì ngăn cản được những người lao động trên thế giới hiểu nhau và thương yêu nhau”. Đó là lời tuyên bố của Nguyễn Ái Quốc trong mùa Xuân năm 1923. Đó là mong mỏi của Bác suốt cả cuộc đời mình mong muốn “Mùa Xuân dài hơn”, mùa Xuân với áo ấm, cơm no, với tự do, hạnh phúc, với cái “tâm”, cái “thiện” cho mỗi con người./.

Theo cuốn: Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh  do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hải Dương phát hành năm 2007

Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Nhớ “Tết trồng cây” của Bác Hồ

 Trong không khí rộn ràng khi Tết đến Xuân về, mỗi chúng ta lại nhớ tới cái “Tết” khác –  một mỹ tục do Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu khởi xướng từ cuối năm 1959, đó là “Tết trồng cây”. Quan tâm đến môi trường thiên nhiên và hiểu được ý nghĩa sâu sắc, giá trị thiết thực của môi trường sống, Bác đã động viên và kêu gọi nhân dân ta tích cực trồng cây, giữ lấy màu xanh của đất nước:

“Mùa xuân là Tết trồng cây,
Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân”.

Từ lâu, câu thơ của Bác Hồ đã thấm sâu vào tâm trí của hàng triệu trái tim con người Việt Nam, kể từ đó cho tới nay, đã thành một truyền thống tốt đẹp, mỗi dịp Xuân về là “Tết trồng cây” thực sự trở thành ngày hội của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trồng cây, gây rừng và bảo vệ môi trường sinh thái. Truyền thống đó đã mang lại giá trị thực tiễn, góp phần làm đẹp cảnh quan môi trường, nhất là trong tình hình biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường như hiện nay.

trong cay 1
Bác Hồ trồng cây đa tại xã Vật Li, Ba Vì, Hà Tây (nay là Hà Nội) ngày 16/02/1969

Chủ tịch Hồ Chí Minh vốn yêu thiên nhiên, sống gần gũi với thiên nhiên nên từ những ngày hoạt động cách mạng, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Người vẫn luôn chú trọng tới việc xây dựng môi trường để bảo đảm cho điều kiện sống và công tác bí mật trong kháng chiến. Ở thời điểm đó, cơ quan thường xuyên phải di chuyển, Người căn dặn cán bộ phải chọn những nơi:“Trên có núi, dưới có sông, có đất ta trồng, có bãi ta vui”. Đến địa điểm mới, Người cùng cán bộ bắt tay ngay vào việc cuốc đất trồng cây vừa để cải thiện đời sống, vừa để hòa nhập vào thiên nhiên. Người coi việc sống gần gũi, hòa mình với thiên nhiên như một cách để nuôi dưỡng tâm hồn, trí tuệ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt vấn đề phải đấu tranh chống lại những tai họa của thiên nhiên,“quan tâm đến việc trồng cây” và bảo vệ rừng, cấm phá rừng. Theo Bác, trồng cây ngoài ý nghĩa to lớn là để cho môi trường tự nhiên và quang cảnh đất nước trở nên tươi đẹp hơn thì còn ý nghĩa thiết thực nữa là để chuẩn bị lấy gỗ làm nhà ở cho nhân dân. Ngày 30-5-1959, với bút danh Trần Lực, Bác đã viết bài: “Nông dân phải trồng cây chuẩn bị làm nhà ở”, đăng trên Báo Nhân dân số 1901, trong đó Bác chỉ ra: “Muốn làm cửa nhà tốt, phải ra sức trồng cây, chúng ta chuẩn bị từ nay, dăm năm sau, sẽ bắt tay dựng nhà”. Ngày 28-11-1959, trên Báo Nhân dân số 2082, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Tết trồng cây” và đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây để thiết thực kỷ niệm ngày thành lập Đảng. Trong bài viết, Bác nêu rõ tác dụng của việc trồng cây là công việc đó “tốn kém ít mà ích lợi nhiều”, tất cả nhân dân miền Bắc mỗi người phụ trách trồng một hoặc vài ba cây và chăm sóc cho tốt. Tại thời điểm đó, Bác đã tính “ở miền Bắc có độ 14 triệu, trong số đó độ 3 triệu là trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ tám tuổi trở lên đều có thể trồng cây…Như vậy, mỗi Tết trồng được độ 15 triệu cây. Từ năm 1960 đến 1965, chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa cây ăn quả, cây có hoa, vừa cây làm cột nhà. Và trong hai mươi năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp hơn, khí hậu điều hòa hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”. Cuối bài báo, Bác Hồ đã viết Tết trồng cây “cũng là một cuộc thi đua dài hạn nhưng nhẹ nhàng mà tất cả mọi người – từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng đều có thể hăng hái tham gia”. Điều đó có thể thấy, ý nghĩa của “Tết trồng cây” là hết sức thiết thực và lớn lao.

trong cay 2

Vào buổi sáng ngày 11/1/1960, không khí Tết trồng cây đầu tiên mừng Đảng, mừng Xuân thật sôi nổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đồng bào Thủ đô đã trồng cây ở Công viên Hồ Bảy Mẫu (nay là Công viên Thống Nhất). Tại nơi đây, Bác đã tự tay cầm xẻng, xúc đất vun cho một cây đa nhỏ. Trồng cây xong, Bác nói chuyện thân mật với mọi người về lợi ích của việc trồng cây. Người nói đại ý rằng, mấy năm trước nơi đây còn là bãi rác, nhờ có lao động của mọi người mà nay cây đã lên xanh tốt. Ngày nghỉ, các cô, các chú dẫn con cái ra đây hóng mát, xem hoa, ngắm cây vui chơi. Đây chính là vườn hoa của các cô, các chú. Vậy chúng ta phải lao động cho thật tốt, ta làm cho ta và cho con cháu đời sau.

trong cay 3
Cây đa Bác Hồ trồng ở Công viên Thống Nhất (Hà Nội) năm 1960, nay sum suê xanh tốt, tỏa bóng mát quanh năm. Ảnh internet

52 mùa Xuân kể từ ngày ấy, Công viên Thống Nhất hôm nay đã trở thành một khu vui chơi giải trí lớn của Thủ đô Hà Nội. Cây đa nhỏ năm xưa Bác trồng giờ đã là một cây đa cổ thụ sum suê xanh tốt, tỏa bóng mát quanh năm.

Mùa Xuân năm 1969, sức khỏe của Bác yếu nhiều, việc bố trí để Bác trồng cây ở một địa phương nào đó theo ý của Bác là một vấn đề hết sức khó khăn. Những người phục vụ Bác rất lo lắng nên nhiều lần đề nghị Bác hoãn lại việc trồng cây. Nhưng Bác rất kiên quyết. Người nói: “Đây là dịp kỷ niệm 10 năm ngày phát động Tết trồng cây nên các chú phải bố trí cho Bác trồng cây ở một địa phương nào đó có nhiều thành tích…”. Sau đó, Bác gợi ý chọn xã Vật Lại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) là nơi có phong trào trồng cây tốt.

Theo kế hoạch đã chuẩn bị, Bác đến địa điểm trồng cây. Đông đảo các đại biểu, các tầng lớp nhân dân đã đứng trên những đồi cây đón Bác. Bác trực tiếp trồng thêm một cây đa. Nhìn những xẻng đất, bình nước Bác tưới mát cho cây, mọi người ai cũng xúc động. Trồng cây xong, Bác cùng mọi người quây quần dưới tán bạch đàn và thân mật hỏi chuyện và chúc Tết mọi người. Bác căn dặn: “Đất nước này là của chúng ta nên phải thi đua sản xuất giỏi, trồng cây giỏi”.

Bác không chỉ nêu rõ giá trị của việc trồng cây, gây rừng mà còn chỉ rõ những hậu quả và thiệt hại khi chặt phá rừng bừa bãi, khai thác không hợp lý: “Ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống rất nhiều” và “nếu rừng kiệt thì không còn gì và mất nguồn nước thì ruộng mất màu, gây ra lụt và hạn hán”. Chính vì thế mà Bác ví rừng là vàng và căn dặn: “Chớ lãng phí vàng mà phải bảo vệ vàng của chúng ta”. Đau xót trước cảnh rừng bị tàn phá, bị khai thác bừa bãi, Bác nói: “Những cây gỗ to bị chặt để đốt hay cho mục nát không khác gì đồng bào mình tự đem tiền bạc bỏ xuống sông”. Và rồi Bác kêu gọi nhân dân ta “phải có kế hoạch trồng rừng và tích cực bảo vệ rừng… Phải bảo vệ rừng như bảo vệ nhà của mình”.

Ngay cả đến giờ phút sắp đi xa, trong Di chúc, Bác Hồ cũng không quên nhắc nhở nhân dân ta phải tiếp tục công việc trồng cây gây rừng: “Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây hoa làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho công nghiệp”.

Như vậy có thể thấy, trong suốt cuộc đời mình, Bác Hồ rất quan tâm tới công cuộc trồng cây, gây rừng và bảo vệ rừng. Tết trồng cây là bài học lớn của Bác để lại cho thế hệ sau về cách sống gần gũi với thiên nhiên, bảo vệ tài nguyên môi trường, về phát triển bền vững, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nhưng phải luôn giữ được màu xanh cây cỏ, vì chất lượng cuộc sống của người dân.

Ngày nay, trong bối cảnh trái đất của chúng ta đang đứng trước những vấn nạn như ô nhiễm môi trường, trái đất nóng lên do hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu, thiên tai lũ lụt, hạn hán…..thì công cuộc bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu đã trở thành một trong những chính sách quan trọng hàng đầu của Chính phủ các nước trên thế giới, trong đó có Đảng và Nhà nước Việt Nam. Hơn 50 năm đã trôi qua, “Tết trồng cây” do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động và những lời căn dặn của Người về giữ gìn, bảo vệ môi truờng sinh thái thân thiện, bền vững với đời sống con người càng có ý nghĩa lớn lao và thiết thực. Tấm gương sống giản dị, gần gũi với thiên nhiên, tư tưởng, triết lý sống tiến bộ về bảo vệ cảnh quan môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên để phát triển bền vững của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành kim chỉ nam hành động đúng đắn cho các thế hệ hôm nay và mãi về sau./.

Huyền Trang (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Mùa xuân nhớ Bác

Kính tặng đồng chí Lê Đức Thọ, tác giả bài thơ “Lẽ sống” và đồng chí Hồ Thiện Ngôn, tác giả bài thơ “Đọc thơ anh”.

Hình nền

Mùa xuân về nhớ Bác khôn nguôi
Tiếng pháo giao thừa nhớ ngày xuân Bác còn chúc Tết

Vần thơ thân thiết
Ấm áp lòng người
Bác đã đi xa rồi
Để lại chúng con bao nỗi nhớ
Người cha đã đi xa.

Các anh ơi, Mùa xuân về đọc thơ xuân các anh trên báo Đảng
Lòng càng nhớ Bác nhiều hơn
Làm sao có thể quên
Mỗi lần gặp Bác
Bác bắt nhịp bài ca đoàn kết
Người thường nhắc nhở:
Yêu nước, thương dân
Dẫu thân mình có phải hy sinh
Cũng chỉ vì trường xuân cho đất Việt.

Mùa xuân về đọc thơ xuân các anh
Tuổi trẻ chúng tôi thấy lòng mình day dứt
Day dứt vì mình chưa làm được
Những điều hằng ước mơ
Những điều chúng tôi thề
Dưới cờ Đoàn trong giờ kết nạp,
Tuổi trẻ chúng tôi tha thiết
Được Đảng chăm lo
Được cống hiến cho quê hương nhiều nhất

Nhưng tuổi trẻ chúng tôi
Không ít người đang lỡ thì, mai một.

Theo năm tháng cuộc đời
Ngoảnh lại nhìn, mình chưa làm được bao nhiêu
Bởi một lẽ chịu hẹp hòi, ích kỷ
Thanh niên chúng tôi thường nghĩ:
Bỏ công gieo cấy, ai quên gặt mùa màng

Mỗi vụ gieo trồng
Có phải đâu là lép cả?

Tuổi trẻ chúng tôi vẫn tự hào
Những trang sử vẻ vang dân tộc
Chúng tôi được học
Được thử thách nhiều trong chiến tranh

Chúng tôi nghĩ: Nguyễn Huệ – Quang Trung
Lứa tuổi hai mươi lập nên nhiều chiến công hiển hách.
Lẽ nào tuổi trẻ hôm nay thua thiệt
Có học hành, lại phải sống cầu an
Phải thu mình, xin hai chữ “bình yên”
Bởi lẽ đấu tranh – tránh đâu cho được?

Đồng chí không bằng đồng tiền
Bằng lòng vẫn hơn bằng cấp
Có ai thấu chăng
Và ai phải sửa?
Mỗi xuân về con càng thêm nhớ Bác

Lòng vẫn thầm mơ ước
Bác Hồ được sống đến hôm nay
Làm nắng mặt trời xua tan hết mây
Trừ những thói đời làm dân oán trách

Có mắt giả mù, có tai giả điếc
Thích nghe nịnh hót, ghét bỏ lời trung
Trấn áp đấu tranh, dập vùi khốn khổ

Cùng chí hướng sao bầy mưu chia rẽ?
Tham quyền cố vị
Sợ trẻ hơn già

Quên mất lời người xưa:
“Con hơn cha là nhà có phúc”
Thời buổi này,
Không thiếu người xông pha thuở trước
Nay say sưa trong cảnh giàu sang
Thoái hóa, bê tha khi dân nước gian nan?

Mùa xuân đất nước
Nhớ mãi Bác Hồ
Ta vẫn hằng mong lý tưởng của Người

Cho đất nước khải hoàn, mùa xuân mãi mãi.

Phạm Thị Xuân Khải – Xuân Bính Dần

Theo nguồn Báo Tiền Phong 
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Hai Tết với Bác Hồ

Bà Lê Tâm là một cán bộ hoạt động Công đoàn chuyên nghiệp. Suốt cuộc đời tham gia cách mạng, bà đã vinh dự 2 lần được đến chúc Tết và ăn Tết cùng với Bác Hồ. Kỷ niệm về hai sự kiện này đã ghi sâu trong tâm khảm của bà. Khi chạm tới niềm sâu thẳm đó, bà rưng rưng tâm sự:

Tết Độc lập đầu tiên năm 1946, tôi công tác ở Hội Công nhân cứu quốc, trụ sở tại 51 Hàng Bồ (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) được cơ quan cử tham gia Đoàn đại diện cho các đoàn thể đi chúc Tết Bác Hồ và ông Vĩnh Thụy.

Đoàn đến 51 Trần Hưng Đạo – nơi ở của ông Vĩnh Thụy. Ông ta mặc bộ comlê vải đũi, đầu chải bóng loáng ra tiếp. Chị Hải đại diện cho Đoàn cầm hoa tặng, ông Vĩnh Thụy cảm ơn nhận hoa và tỏ ra xúc động lắm. Sau đó, Đoàn về Nhà khách Chính phủ chúc tết Bác. Các đồng chí Văn phòng bảo Đoàn chờ tại phòng khách. Bác mặc bộ đồ kaki màu vàng đã bạc, giày vải, nhanh nhẹn đi ra phòng khách tươi cười chào mọi người.

2 tet
Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng cán bộ – nhân viên
Văn phòng Phủ chủ tịch – Tết 1963. Ảnh: Tư liệu

Nhìn Bác gầy, đôi mắt trũng sâu nhưng ánh mắt vẫn sáng, ai cũng xúc động và thương Bác quá. Chúng tôi kính tặng Bác bó hoa layơn trắng rồi vây quanh Bác như đàn con cháu tíu tít bên người cha, người ông trong ngày Tết cổ truyền. Bác vui lắm cảm ơn cả Đoàn. Bác chúc Tết mọi người rồi căn dặn, chúng ta vừa giành chính quyền, dân còn khổ, các cô các chú phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Ai nấy đều thắc mắc, ở thành phố lấy đâu ra đất để tăng gia. Bác nói: “Phải tận dụng mọi chỗ nếu tận dụng được… phải chống mù chữ… Lần sau đến chúc Tết Bác, chỉ cần báo cáo cho Bác biết trồng được bao nhiêu rau, giúp được bao nhiêu người biết chữ”. Rồi Bác hỏi thăm và gửi lời chúc Tết gia đình, thăm hỏi bà con. Khi về cơ quan, tôi đã đi vận động nữ công nhân trồng rau ở bãi Phúc Tân, Phúc Xá, vận động nhau học chữ. Công việc tăng gia và học chữ quốc ngữ được mọi người thực hiện tốt cho đến khi Hà Nội cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 9 năm gian khổ.

Đầu năm 1952, đồng chí Trần Danh Tuyên cho phép 2 đại biểu đến ăn Tết ở Trung ương. Đại diện cho nam giới là đồng chí Trần Bảo, còn tôi đại diện cho phụ nữ. Hai anh em, sáng 30 Tết khăn gói lên đường từ cơ quan Tổng Liên đoàn (Sơn Dương- Tuyên Quang) đến trưa tới đèo De thì mở cơm nắm ra ăn, chiều đến chiến khu gặp anh Hoàng Quốc Việt – Thường vụ Trung ương Đảng phụ trách dân vận trực tiếp phụ trách công vận.

Anh Việt đưa đến thăm anh Thận (đồng chí Trường Chinh), anh Thận mời ở lại ăn Tết với vợ anh vừa ở khu Ba lên. Buổi chiều, chúng tôi trở về chỗ anh Hoàng Quốc Việt. Thời gian này chị Thục Chinh chuẩn bị tổ chức đám cưới với anh Nguyễn Lương Bằng; nhưng có việc đột xuất ở biên giới, anh Bằng đi công tác ở đó nên hoãn đám cưới lại. Chị Thục Chinh đang ở chỗ Bác. Các anh cho phép tôi lên cùng chị Thục Chinh ăn Tết với Bác. Vừa tới nơi, Bác quan tâm hỏi:“ Cháu có mệt không?”. Tôi phấn khởi quá trả lời: “Thưa Bác, cháu không thấy mệt ạ!”.

Tối 30 Tết, Bác ngồi đọc tài liệu. Tài liệu rất nhiều, nhiều nhất là thư của công nhân, nông dân, bộ đội, thiếu nhi gửi Bác. Bác bảo tôi đọc những bức thư đó cho Bác nghe, chỗ nào lưu ý Bác bảo dừng lại, Bác đánh dấu để dễ tìm khi cần đọc lại. Khuya Bác bảo tôi đi ngủ, còn Bác vẫn chong đèn đọc tiếp. Bác ở nhà sàn, còn chúng tôi ở nhà ngang, đêm ấy chúng tôi không ngủ được vì thấy Bác vẫn thỉnh thoảng ho nên lo cho sức khỏe của Bác. Bảo vệ giục Bác đi ngủ nhiều lần nhưng Bác vẫn thức.

Sáng mùng 1 Tết, tỉnh dậy chúng tôi xuống bếp đã thấy Bác ở đấy, chúng tôi ùa vào chúc Bác mạnh khỏe sống lâu muôn tuổi. Bác nói, muốn Bác mạnh khỏe sống lâu, các cô cần làm việc tăng gấp 2 – 3 lần… Một lúc sau, các cháu thiếu nhi con em của các đồng chí lãnh đạo đến chúc Tết, Bác đưa các cháu lên nhà sàn bắt nhịp cho các cháu hát rồi chia kẹo, chia quà. Gần trưa, gia đình các đồng chí Trường Chinh, Lê Văn Lương, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt… đến chúc Tết Bác, không khí lúc này rất vui và quá đầm ấm.

Tất cả quây quần bên Bác như một gia đình lớn có nhiều thế hệ. Bữa cơm trưa mùng một Tết có một đĩa thịt lợn kho tàu, cá kho, trứng rán, dưa chua và một bát canh tôm nấu với rau cải soong. Rau cải soong do tự tay Bác trồng. Đến đâu Bác cũng ở gần suối. Dưới suối Bác thả bè rau cải soong, ở trên đồi Bác trồng rau cải, rau muống. Tôi hỏi đồng chí phụ trách bếp, Tết của Bác sao lại không có bánh chưng.

Đồng chí đó nói đồng bào gửi biếu Bác nhiều thứ, bánh chưng, giò, còn có cả con bò, bà con vùng kháng chiến cũng gửi quà cho Bác nhưng Bác bảo mang cho bộ đội, thiếu nhi… Thức ăn mỗi bữa, Bác bảo chia nhau ăn hết không được lãng phí. Đang ăn, anh Cù Huy Cận đến, một lúc sau bác sĩ Chánh là bác sĩ phục vụ Bác cũng tới. Mọi người cười nói, chuyện trò rôm rả. Sau bữa ăn là tiết mục sinh hoạt văn nghệ, có người lấy soong nồi lên gõ đệm cho người khác hát, anh Huy Cận đọc thơ, có người hát chèo, tôi và chị Thục Chinh rụt rè e ngại. Bác động viên mãi, tôi đọc bài thơ của anh Tố Hữu:

“Em là con gái Bắc Giang, Rét thời mặc rét nước làng em lo…”. “Nhà em con bế con bồng, Em cũng theo chồng đi phá đường quan”… Bác cười, bây giờ không được vận động bà con phá đường mà vận động bà con đắp đường để bộ đội, dân công có đường đi đánh giặc. Bác cháu sinh hoạt văn nghệ vui quá, vui đến tận chiều… Tối hôm đó khi Bác cháu cơm nước xong, Bác bảo hai chị em đi xem phim do Văn phòng Trung ương Đảng tổ chức. Ở chỗ chiếu phim, hai chị em gặp anh Trường Chinh, anh Hoàng Quốc Việt,… phim hay thích xem, nhưng hai chị sốt ruột muốn về.

Các anh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt cũng đốt đuốc về cùng. Tới nhà, thấy Bác vẫn chăm chú đọc tài liệu. Mấy anh chị em trước cảnh tượng Bác ngồi làm việc áo đại cán khoác hờ trên vai, quên cả cái rét cắt thịt cắt da ở miền núi mà thấy nao lòng. Chúng tôi ăn Tết với Bác hết ngày mùng 3, hằng ngày hai chị em xuống bếp giúp các đồng chí phục vụ làm bữa… Bác bận tiếp khách ban ngày, ban đêm đọc tài liệu, đọc sách.

Sáng mùng 4, chúng tôi chào Bác để trở về cơ quan công tác. Bác cho mỗi chị em một gói cơm nếp lạc và dặn chúng tôi lúc chia tay: “Các cháu đi đâu cũng phải gần gũi dân mới được dân giúp đỡ… Công tác tốt sang năm lại lên ăn Tết với Bác”.

Đỗ Văn Phú
Theo http://www.tinmoi.vn
Thu Hiền
(st)

bqllang.gov.vn

Muốn ăn quả thì phải trồng cây

QĐND – Dịp kỷ niệm 15 năm Ngày Bác Hồ đi xa, tôi đã gặp lại những cán bộ và chiến sĩ bảo vệ Bác và Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thiếu tá Trần Văn Nhỏ bồi hồi kể lại một kỷ niệm sâu sắc và đầy ý nghĩa: “Mấy chiến sĩ trẻ chúng tôi làm nhiệm vụ bảo vệ nhà sàn và khu vườn sau Phủ Chủ tịch. Trong vườn Bác trồng một khóm ớt, quả rất sai và chín đỏ tươi. Chúng tôi lại rất thích ăn ớt. Thế là cứ đến bữa đi ăn cơm, chúng tôi lẻn vào vườn hái ớt. Chắc là Bác cũng biết nhưng không nói gì. Nhưng một hôm Bác đi bộ từ Phủ Chủ tịch về, bắt quả tang mấy anh em chúng tôi đang hái ớt. Ai cũng ngượng và sợ. Nhưng Bác đã vẫy cả nhóm lại rồi nói: “Các cháu thích ăn ớt thì chọn một quả thật chín, lấy hạt rửa sạch, phơi khô rồi gieo xuống vườn. Khi ớt mọc cây, mỗi cháu trồng lấy một khóm như của Bác. Như vậy sẽ có đủ ớt cho Bác cháu ta ăn thường xuyên được. Muốn ăn quả thì phải trồng cây chứ!”.

Ảnh minh họa/ Internet

Chúng tôi đã làm theo lời Bác dạy, mỗi người trồng được một khóm ớt và mỗi lần ăn quả, chúng tôi lại thấy thấm thía câu chuyện rất nhỏ mà ý nghĩa rất lớn ấy. Bác là Chủ tịch nước, bận rộn với bao công việc lớn mà vẫn quan tâm tới cả việc nhỏ trong đời sống sinh hoạt của anh em chúng tôi”.

Đúng như lời tâm sự của Thiếu tá Trần Văn Nhỏ, từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ở chiến khu cách mạng, Bác đã chú ý tới việc tăng gia sản xuất, tự cung, tự cấp. Sau giờ làm việc, Người cũng tham gia cuốc đất trồng rau và thường xuyên nhắc nhở các cơ quan, đơn vị chăm lo công việc tăng gia, chăn nuôi, bảo đảm đời sống trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn.

Hiện nay, phong trào tăng gia chăn nuôi ở các đơn vị bộ đội vẫn được duy trì và phát triển mạnh mẽ. Nơi biên giới, hải đảo xa xôi như các đồn biên phòng và quần đảo Trường Sa, bộ đội vẫn có những vườn rau xanh tốt quanh năm. Nhiều đơn vị đóng quân ở đồng bằng đã có cả một hệ thống vườn, ao, chuồng quy mô lớn; không chỉ bảo đảm đủ rau, thịt, cá cho bộ đội mà còn bán ra thị trường, thu về khoản kinh phí đáng kể. Đó là việc làm thiết thực của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân ta thực hiện và làm theo lời Bác dạy “muốn ăn quả thì phải trồng cây”.

Nhớ lại những năm Bác mới đi xa, cả nước rộ lên phong trào xây dựng “Ao cá, vườn quả Bác Hồ”. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn thì phong trào lắng xuống rồi ở nhiều địa phương, phong trào này đã đi vào quên lãng. Thiết nghĩ, nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Bác ra đi tìm đường cứu nước, để thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, các cấp, các ngành và các địa phương nên quan tâm “xốc lại” những phong trào thi đua đã từng được phát động để khắc phục tình trạng “Đầu voi đuôi chuột”, “Đánh trống bỏ dùi”.

Đức Toàn
qdnd.vn

Mùa xuân là Tết trồng cây

Mùa xuân năm 1960, Bác Hồ khởi xướng Tết trồng cây. Người phát động “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. Từ đó tới nay, cứ mỗi độ xuân về, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, nhân dân cả nước lại nô nức thực hiện Tết trồng cây theo lời kêu gọi của Bác Hồ.

Tết trồng cây mở đầu cho năm sản xuất mới, tạo ra phong trào trồng cây gây rừng và chăm sóc, bảo vệ rừng sâu rộng trong cả nước, đem lại những lợi ích thiết thực về kinh tế, xã hội và môi trường. Nét đẹp truyền thống của Tết trồng cây nhắc nhở chúng ta ý thức giữ gìn môi trường sinh thái, làm cho đất nước ngày càng xanh. Sau mỗi Tết trồng cây, đất nước có thêm hàng trăm triệu cây xanh, mang lại lợi ích nhiều mặt, góp phần điều hòa khí hậu và tô đẹp cảnh quan đất nước.

Những diễn biến phức tạp của khí hậu, thời tiết và thiên tai bão lụt liên tiếp xảy ra những năm gần đây, gây thiệt hại to lớn về nhiều mặt cho đời sống, dân sinh, có nguyên nhân từ nạn phá rừng, làm suy giảm diện tích cây xanh, tàn phá môi trường sinh thái. Điều đó đặt ra nhiệm vụ cấp bách là phải tổ chức trồng cây gây rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Tổ chức Tết trồng cây, thực hiện thật tốt lời dạy của Bác Hồ là dịp để các địa phương, hộ nông dân chuyển dịch cơ cấu cây trồng, thay cây có giá trị kinh tế thấp bằng các loại cây trồng có giá trị và hiệu quả kinh tế cao, hình thành các vùng trồng cây hàng hóa theo chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Các địa phương, cơ quan, đơn vị cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân về mục đích, ý nghĩa của Tết trồng cây, trồng rừng và bảo vệ phát triển rừng.

Tết trồng cây là một nét đẹp văn hóa có ý nghĩa kinh tế – xã hội và giá trị nhân văn sâu sắc. Từ nhiều năm trước Tết trồng cây đã trở thành một mỹ tục trong đời sống xã hội ở đất nước ta. Tuy nhiên, trong những năm gần đây tập quán tốt đẹp này đã không còn được duy trì như trước là một điều rất đáng tiếc.

Hiện nay cả nước ta đã và đang tiếp tục hưởng ứng và tích cực thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Việc học và làm theo Bác để “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân” là rất thiết thực và rất có ý nghĩa.

Duy Bình
baobinhdinh.com.vn

Bình rượu thuốc quý – Quà Tết của Bác Hồ

(GD&TĐ) – May mắn được nhiều dịp hầu chuyện cố thư ký của Bác Hồ, ông Vũ Kỳ (1921 – 2005), chúng tôi nhắc đến tên tuổi những nhân vật được gặp Bác, hầu như ai ông cũng có chuyện để kể, thật lạ và thú vị.

Quà cáp nên chọn dịp

Chuyện lần ấy là về nhà điện ảnh Xô viết nổi tiếng Rôman Carmen.

Dịp đó, năm 1967, tròn nửa thế kỷ xảy ra sự kiện “10 ngày rung chuyển thế giới”, tức Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, ông Vũ Kỳ trình Bác danh sách dự kiến người và quà biếu. Bác xem đến chỗ “Bình rượu Ngũ xà của đồng bào Tây Bắc tặng” thì dừng lại khen Chú khá! Lại hỏi: – Bác đồng ý với chú gửi bình rượu sang Liên Xô biếu đồng chí Carmen vì lý do gì chú đoán xem nào?

– Dạ thưa Bác, rượu Tây Bắc là gợi nhớ, cảm ơn đồng chí ấy suốt gần 8 tháng đã đem hết tâm lực dàn dựng, quay phim, có thể nói là quên cả thân mình trong mọi hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm để hoàn thành hai bộ phim lịch sử cho ta: “Điện Biên Phủ” và “Việt Nam trên đường thắng lợi” – bộ phim màu đầu tiên của chúng ta…

Bác còn giải thích thêm: – Mấy chú quay phim, chụp ảnh nhà ta dường như còn tự ty “tốt đẹp trưng ra, xấu xa đậy lại”. Thế là dàn cảnh sân khấu, không phải phim ảnh thời sự tư liệu…

Quả thực, ông Vũ Kỳ nhắc lại với chúng tôi một số cảnh quay về sinh hoạt thường ngày của lãnh tụ mà chắc chắn đời đời các thế hệ con cháu chúng ta được xem đều vô cùng xúc động, có thể dễ dàng so sánh với bất kỳ bậc danh nhân, lãnh tụ nào từ Đông Tây kim cổ về sự giản dị, khiêm nhường, hết mình thương dân, yêu nước như Bác Hồ của chúng ta.

Rôman Carmen nhận ra rất rõ sự vĩ đại của bậc vĩ nhân không thể có đối tượng so sánh bắt nguồn từ những bóng hình huyền thoại ấy trong rừng sâu vùng nhiệt đới xa lạ.

Bác Hồ tiếp R.Carmen ngày 26/7/1954 tại Việt Bắc.Bác Hồ tiếp R.Carmen ngày 26/7/1954 tại Việt Bắc.

Lộc bất tận hưởng

Tám tháng trời ở Việt Nam, R. Carmen bất kể ngày đêm luồn rừng, lội suối, vượt núi, băng đèo, len lỏi cả giữa các đồn bốt giặc vùng đồng bằng trung du, ông còn dành thời gian ít ỏi để “ba cùng”: ăn – ở – làm lụng với đồng sự và nhân dân để nâng cao chất lượng thước phim, tìm hiểu con người, văn hóa địa phương, học thuộc một số câu, từ tiếng Việt, nhất là các câu tục ngữ Bác Hồ hay dùng.

Chúng tôi đôi lần được đi theo đến thăm ông ở Moskva vào đầu những năm 1960. Trong nhà dành riêng một phòng trưng bày vật lưu niệm, nổi bật nơi chính giữa là của các lãnh tụ: chiếc píp hút thuốc của Phidel Castro, khẩu súng săn của Agienđê, chiếc khăn quấn rằn ri của Araphát… Sau Tết Mậu Thân – 1968, nghe anh em kể lại, nổi bật chính giữa, rất lạ mắt là bình rượu những con rắn cuộn tròn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mỗi khi đón khách từ Việt Nam, bao giờ chủ nhà cũng hãnh diện hướng dẫn tới xem góc Việt Nam những hàng mỹ nghệ tre mây đan, chiếc nón, áo trấn thủ…, rồi quay lại nơi đặt kỷ vật của các lãnh tụ, giới thiệu Bình rượu Bác Hồ. Hai tiếng Bác Hồ ông nói nhấn mạnh khá rõ, còn “Bình rượu” không dấu, chắc là mới học phát âm.

R. Carmen bộc bạch, mình cũng là dân nghiền vodka, vả lại làm việc nhiều cũng cần bồi bổ sức khỏe, ngũ xà là rượu bổ rất quý, nhưng bình rượu là kỷ vật vô giá của bậc vĩ nhân thế kỷ, chỉ đặt nó nơi trang trọng nhất một thời gian thôi, rồi sẽ trao luân lưu theo câu Hồ Chí Minh từng nói: Lộc bất tận hưởng như tập quán của người Nga vậy.

Tháng 9/1969, sau khi được tin Bác Hồ qua đời, trong một buổi gặp mặt cảm động, R. Carmen trân trọng trao bình rượu cho nhà nữ đạo diễn nổi tiếng Gruzia Pompenxkaia. Và rồi 3 năm sau khi Bình rượu Bác Hồ đã có chủ nhân mới được chủ nhân đầu tiên đồng thuận, bà Pompenxkaia mời người chủ vừa lập công lớn với cuộc đấu tranh anh dũng của anh em Việt Nam – Giáo sư Ôlếch Côngxtantinnôvich – giảng sư Đại học VGIK, Nghệ sĩ công huân Liên Xô, Trưởng đoàn đạo diễn quay phim thế chân R. Carmen tiếp nhận bình rượu. Ông và đồng nghiệp gần như có mặt tại hầu hết các điểm nóng trên cả hai miền Nam Bắc để tố cáo tội ác gây chiến tranh của các nhà cầm quyền bên kia Đại Tây Dương và kêu gọi nhân dân Mỹ, nhân loại tiến bộ đoàn kết, ủng hộ Việt Nam đấu tranh chống xâm lược. Đó là các bộ phim “Phóng sự từ miền Bắc Việt Nam”, “Mêkong trong khói lửa”…

Ngày nay, cứ mỗi dịp hiếm hoi họp mặt hữu nghị Nga – Việt, GS O. Congxtantinnôvich lại mở tủ, trịnh trọng bưng ra Bình rượu Bác Hồ rót vào một cốc nhỏ tượng trưng rồi san ra, lại san ra… chút xíu gọi là vào các cốc vodka của mỗi người truyền nhau cùng nâng cốc Đavai – đatna (Nào, xin mời cạn chén). Anh em mình có mặt, cảnh xa nhà, xa nước càng xúc động, tự nhiên bật ra câu hát cửa miệng đầy tự hào, các bạn Nga người hát theo, người vỗ tay hoà nhịp tràn ngập niềm hứng khởi: Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng! Lời Bác nay thành chiến thắng huy hoàng… Việt Nam Hồ Chí Minh…

Theo SKĐS
gdtd.vn

Thiếp mừng nǎm học mới (20-9-1956)

Thân ái gửi các trường học,

Nhân dịp năm học mới,

Bác mong các cháu học sinh thi đua học hành, kính thầy yêu bạn, và tiến bộ nhiều.

Tôi mong các giáo viên thi đua dạy bảo cho các cháu mau tiến bộ.

Tôi mong cha mẹ học trò hết sức giúp đỡ nhà trường trong việc giáo dục con em chúng ta cho có kết quả tốt đẹp.

Chào thân ái
Ngày 20 tháng 9 năm 1956

HỒ CHÍ MINH

——————————

Báo Nhân dân, số 930, ngày 21-9-1956.
cpv.org.vn

Lời chúc nǎm mới (1-1-1958 )

Thưa đồng bào yêu quý,

Tôi thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ thân ái chúc đồng bào nǎm mới vui vẻ, mạnh khoẻ, đoàn kết và tiến bộ.

Đồng thời tôi xin thay mặt đồng bào gửi lời nhiệt liệt chúc mừng nhân dân các nước bạn.

Thưa đồng bào, nhân dịp này, tôi xin tóm tắt nhắc lại mấy việc rất quan trọng trên thế giới và trong nước trong nǎm vừa qua để đồng bào rõ thêm.

Nói chung thì tình hình thế giới nǎm ngoái phát triển theo hướng có lợi cho lực lượng hoà bình và chủ nghĩa xã hội.

Việc rất quan trọng là sau ngày kỷ niệm 40 nǎm Cách mạng Tháng Mười (1) vĩ đại, đã có cuộc Hội nghị của các đảng cộng sản, đảng công nhân và đảng lao động các nước trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa (2) . Tiếp theo đó thì có cuộc Hội nghị của 64 đảng cộng sản, đảng công nhân và đảng lao động trên thế giới (3) . Hai cuộc hội nghị ấy đã tỏ rõ sự đoàn kết chặt chẽ không gì lay chuyển được giữa các nước xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô. Nó đã tỏ rõ quyết tâm của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đấu tranh cho hoà bình thế giới, cho độc lập dân tộc, cho chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay đang có cuộc Đại hội nhân dân Á – Phi họp ở Thủ đô nước Ai Cập (4) , có đại biểu hơn 40 nước tham gia, thay mặt cho 2 phần 3 nhân dân trên thế giới. Tiếp tục và phát triển tinh thần của Hội nghị Bǎngđung (5) , cuộc Đại hội này nhằm mục đích thắt chặt thêm tình đoàn kết giữa nhân dân các nước Á – Phi, chống chủ nghĩa thực dân, chống chiến tranh và ủng hộ phong trào độc lập của các dân tộc.

Kết quả tốt đẹp của những hội nghị ấy có ảnh hưởng cực kỳ rộng lớn đến vận mạng của nhân dân toàn thế giới: Phong trào đấu tranh cho hoà bình, cho độc lập dân tộc, cho chủ nghĩa xã hội ngày càng lớn mạnh, bọn đế quốc hiếu chiến do Mỹ cầm đầu ngày càng bị cô lập, chủ nghĩa thực dân đã đến ngày tan rã.

Trong nước ta từ khi hoà bình lập lại đến nay, toàn dân ta từ Bắc đến Nam ra sức phấn đấu để hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước. Nhân dân miền Bắc đã vượt nhiều khó khǎn gian khổ, cǎn bản đã hoàn thành cải cách ruộng đất (6), đã thu được nhiều thành tích trong công cuộc khôi phục kinh tế và phát triển vǎn hoá, làm cho miền Bắc càng thêm vững vàng. Đồng bào miền Nam đã bền bỉ và anh dũng đấu tranh chống chế độ tàn bạo của Mỹ – Diệm, đòi cải thiện đời sống, đòi tự do dân chủ, đòi thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình.

Sang nǎm mới, thời kỳ khôi phục kinh tế đã kết thúc và mở đầu thời kỳ phát triển kinh tế một cách có kế hoạch.

Đó là một tiến bộ mới trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Chúng ta phải lợi dụng những kinh nghiệm trong mấy nǎm qua, đồng thời xuất phát từ tình hình và đặc điểm của miền Bắc, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta phải làm cho tốt công tác kế hoạch hoá kinh tế của ta và thực hiện đầy đủ kế hoạch Nhà nước nhằm phát triển kinh tế và vǎn hoá, nâng cao dần đời sống của nhân dân, trước hết là của nhân dân lao động. Phát triển kinh tế và vǎn hoá tức là dần dần xây dựng chủ nghĩa xã hội. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài. Nhân dân ta hãy đoàn kết chặt chẽ dựa trên nền tảng liên minh công nông, bền bỉ phấn đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, thì chúng ta nhất định thắng lợi.

Xây dựng miền Bắc vững mạnh và tốt đẹp, đồng thời giữ vững và phát triển phong trào yêu nước ở miền Nam là tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà và góp phần bảo vệ hoà bình thế giới.

Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thống nhất nước nhà, chúng ta có nhiều thuận lợi ở trong nước và trên thế giới. Cũng như phong trào cách mạng trên thế giới, như công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, ở Trung Quốc và ở các nước anh em khác, phong trào cách mạng ở nước ta đã liên tiếp thắng lợi trong công cuộc chống đế quốc và phong kiến. Dựa vào thuận lợi ấy, phát huy truyền thống cần kiệm và anh dũng của nhân dân ta, chúng ta sẽ vượt được mọi khó khǎn và giành được thắng lợi mới.

Đồng bào cả nước hãy đoàn kết và đấu tranh đòi đối phương thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ (8) , đòi lập quan hệ bình thường giữa hai miền, ra sức phấn đấu cho sự nghiệp thống nhất Tổ quốc và cho hoà bình thế giới.

Đồng bào miền Bắc, nhất là anh chị em công nhân, nông dân, thợ thủ công, mỗi người hãy ra sức thi đua sản xuất và tiết kiệm, ra sức sản xuất nhiều, nhanh, tốt và rẻ; do tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm mà xây dựng nước nhà và dần dần cải thiện đời sống.

Cán bộ và đồng bào miền Nam tập kết ở Bắc hãy đoàn kết chặt chẽ với nhau và đoàn kết với đồng bào miền Bắc, ra sức làm việc góp phần vẻ vang vào việc xây dựng và củng cố miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội làm nền tảng vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Quân đội và công an ta hãy cố gắng học tập chính trị và kỹ thuật, ra sức bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn trật tự, an ninh, ra sức tham gia phong trào sản xuất và tiết kiệm.

Anh chị em lao động trí óc hãy cố gắng học tập chủ nghĩa Mác- Lênin, tuỳ theo khả nǎng mà tham gia lao động chân tay, để tự rèn luyện mình và để góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Các cụ phụ lão hãy làm gương mẫu “lão đương ích tráng”, đôn đốc con cháu thi đua tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm.

Để xứng đáng là người chủ của nước nhà mai sau, các cháu thanh niên hãy xung phong trong mọi việc: đoàn kết, học tập, lao động.

Các cháu nhi đồng hãy chǎm lo học tập và tuỳ sức mình mà tham gia lao động cho quen.

Đảng viên, cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng hãy cố gắng công tác và học tập để tiến bộ không ngừng. Tǎng cường đoàn kết nhất trí trên cơ sở tư tưởng Mác – Lênin, nhận thức đúng đắn về tình hình và nhiệm vụ. Nâng cao ý thức trách nhiệm, ý thức tổ chức và kỷ luật, ý thức đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội.

Kiều bào ở nước ngoài giàu lòng yêu nước, luôn luôn hướng về Tổ quốc, hãy đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, hãy tôn trọng pháp luật của Chính phủ và tǎng cường cảm tình với nhân dân nước mình ở.

Chúng ta đoàn kết nhất trí, cả nước một lòng, ra sức phấn đấu thì chúng ta nhất định thắng lợi!

Nǎm mới, cố gắng mới, thắng lợi mới!

Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh muôn nǎm!

——————————–

(1) Cách mạng Tháng Mười Nga: Cuộc cách mạng vô sản thắng lợi đầu tiên trên thế giới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bônsêvích Nga, đứng đầu là V.I. Lênin, ngày 7-11 (tức ngày 25-10, theo lịch Nga) nǎm 1917, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã vùng dậy lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản, thành lập Chính phủ xôviết do V.I. Lênin đứng đầu. Trong cuộc cách mạng này, giai cấp công nhân Nga đã đập tan bộ máy thống trị của giai cấp bóc lột, thiết lập Nhà nước kiểu mới – Chính quyền xôviết, một hình thức của chuyên chính vô sản.

Cách mạng Tháng Mười thắng lợi đã mở ra một thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười đã thức tỉnh giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động bị áp bức, soi sáng con đường cho các dân tộc bị nô dịch đi tới cách mạng giải phóng và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

(2) Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghĩa: Họp ở Mátxcơva từ ngày 14 đến ngày 16-11-1957. Tham gia Hội nghị có các đoàn đại biểu của 12 nước xã hội chủ nghĩa. Hội nghị đã thảo luận những vấn đề khẩn cấp về tình hình quốc tế, về cuộc đấu tranh cho hoà bình và chủ nghĩa xã hội và những vấn đề quan hệ giữa các đảng mácxít – lêninnít ở các nước xã hội chủ nghĩa. Hội nghị đã nhất trí thông qua một bản Tuyên bố quan trọng. Những vấn đề nêu lên trong bản Tuyên bố có tác dụng đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa giáo điều và tư tưởng bè phái, củng cố về mặt tư tưởng, tổ chức và tǎng cường sự đoàn kết giữa các đảng cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa trên cơ sở những nguyên tắc chung. Bản Tuyên bố cũng nêu lên những nguyên tắc chung về những hình thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở các nước khác nhau, về ý nghĩa lịch sử của hệ thống xã hội chủ nghĩa và sự cần thiết phải tǎng cường sức mạnh của chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Tr. 1.

(3) Hội nghị 64 đảng cộng sản, đảng công nhân và đảng lao động trên thế giới: Nhân dịp đến Liên Xô dự Lễ kỷ niệm 40 nǎm Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại, đại biểu các đảng cộng sản và công nhân các nước đã tổ chức một cuộc Hội nghị từ ngày 16 đến ngày 19-11-1957 tại Mátxcơva. Tham dự Hội nghị gồm 64 đoàn đại biểu của các đảng cộng sản và công nhân quốc tế. Tại Hội nghị, các đại biểu đã trao đổi ý kiến về những vấn đề cấp bách của tình hình thế giới và ra bản Tuyên ngôn hoà bình, kêu gọi nhân dân toàn thế giới, những người có thiện chí hãy làm cho nhân loại thoát khỏi sự đe doạ của chiến tranh. Tr.1.

(4) Đại hội Á – Phi họp ở Thủ đô Ai Cập: Tức Hội nghị đoàn kết các nước Á – Phi họp ở Cairô (Ai Cập) từ ngày 26-12-1957 đến ngày 1-1-1958.

Dự Hội nghị gồm có các đoàn đại biểu của 45 nước ở châu á và châu Phi. Tuy có sự khác nhau về chế độ chính trị, nhưng các nước đến Hội nghị đã thống nhất mục đích chung là đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo đảm hoà bình và an ninh giữa các dân tộc.

Trong Tuyên ngôn, Hội nghị tuyên bố hoàn toàn ủng hộ “Những nguyên tắc của Hội nghị Bǎngđung”, kêu gọi nhân dân thế giới áp dụng mọi biện pháp có thể để đi đến những thoả thuận và tǎng cường sự hiểu biết lẫn nhau.

Hội nghị cũng đã kêu gọi chính phủ các nước có vũ khí hạt nhân hãy chấm dứt việc thử và sản xuất vũ khí hạt nhân – bước đầu để đi tới tổng giải trừ quân bị. Sau khi lên án mọi biểu hiện của chủ nghĩa thực dân, Hội nghị đã tuyên bố hoàn toàn ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của các dân tộc vì tự do và độc lập, trong đó có Việt Nam; lên án chính sách phân biệt chủng tộc. Hội nghị kêu gọi mở rộng việc buôn bán với tất cả các nước, không có sự phân biệt đối xử; cộng tác chặt chẽ giữa các nước Á – Phi trong việc phát triển công nghiệp và nông nghiệp. Hội nghị đã thành lập Hội đồng đoàn kết nhân dân Á – Phi và Ban thư ký của Hội đồng. Tr.1.

(5) Hội nghị Bǎngđung: Họp từ ngày 18 đến ngày 24-4-1955 tại Bǎngđung (Inđônêxia).

Dự Hội nghị, ngoài 5 nước khởi xướng là Inđônêxia, Ấn Độ, Mianma, Xri Lanca và Pakíxtan, còn có 24 đoàn đại biểu các nước thuộc châu á và châu Phi, trong đó có Đoàn đại biểu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Thông cáo chung của Hội nghị nêu rõ: chủ nghĩa thực dân, dưới mọi biểu hiện của nó, là một tai hoạ cần phải nhanh chóng tiêu diệt. Hội nghị hoàn toàn ủng hộ quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc, lên

án chính sách phân biệt chủng tộc và yêu cầu Hội đồng bảo an Liên hợp quốc kết nạp một số nước, trong đó có nước Việt Nam, làm thành viên của Liên hợp quốc. Thông cáo chung kêu gọi các nước hãy tiến hành ngay việc giải trừ quân bị, nghiêm cấm việc sản xuất vũ khí hạt nhân, thực hiện hoà bình, hợp tác thân thiện và giải quyết những vấn đề tranh chấp bằng thương lượng.

Hội nghị Bǎngđung thể hiện bước tiến mới của phong trào giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ xã hội ở các nước Á – Phi. Tr. 1.

(6) Cải cách ruộng đất: Cuộc vận động chống phong kiến được thực hiện từ tháng 11-1953 và kết thúc vào tháng 7-1956.

Sau gần 3 nǎm tiến hành, cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc nước ta đã giành được những thắng lợi có tính chất chiến lược: đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến; xoá bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến; thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”, đưa nông dân lên địa vị người làm chủ ở nông thôn; tǎng cường và củng cố khối liên minh công nông, cơ sở vững chắc của Mặt trận dân tộc thống nhất và của chính quyền dân chủ nhân dân.

Cải cách ruộng đất là một chủ trương đúng của Đảng. Song trong quá trình thực hiện, có những nơi, những lúc do không quán triệt đúng đường lối của Đảng ở nông thôn, không cǎn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương nên đã phạm những sai lầm nghiêm trọng. Những sai lầm đó đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát hiện và kịp thời chỉ đạo việc thực hiện sửa sai. Tr. 2.

(8) Hiệp định Giơnevơ: Ngày 8-5-1954, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương chính thức được thảo luận ở Hội nghị Giơnevơ (Thụy Sĩ).

Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do đồng chí Phạm Vǎn Đồng dẫn đầu.

Tham gia thảo luận về vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương có Bộ trưởng Ngoại giao các nước: Liên Xô, Anh, Pháp, Mỹ, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và đại diện của Lào, Campuchia và của chính quyền Bảo Đại.

Tuyên bố chung của Hội nghị và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương được ký kết vào ngày 21-7-1954. Các nước tham gia Hội nghị đã cam kết thừa nhận tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia, quy định quân Pháp phải rút khỏi Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Bản Tuyên bố chung còn ghi rõ, ở Việt Nam lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự và chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi đó là biên giới chính trị hoặc lãnh thổ và quy định ở Việt Nam cuộc tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước sẽ được tiến hành vào tháng 7-1956.

Nhưng ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đế quốc Mỹ đã ra sức chống phá việc thi hành Hiệp định. Chúng nhanh chóng hất cẳng Pháp, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và cǎn cứ quân sự của chúng hòng xâm lược cả nước ta và toàn bán đảo Đông Dương. Tr.3.

cpv.org.vn

Lời chúc mừng nǎm mới 1961 (1-1-1961)

Thưa đồng bào yêu quý,

Tôi thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ thân ái chúc đồng bào nǎm mới vui vẻ, mạnh khoẻ, đoàn kết và tiến bộ. Đồng thời tôi xin thay mặt đồng bào gửi lời nhiệt liệt chúc mừng nhân dân các nước bạn.

Thưa đồng bào, nhân dịp này, tôi xin tóm tắt nhắc lại mấy điểm rất quan trọng trên thế giới và trong nước trong nǎm qua để đồng bào rõ thêm. Nói chung thì tình hình thế giới nǎm ngoái phát triển theo hướng có lợi cho lực lượng hoà bình và chủ nghĩa xã hội. Việc rất quan trọng là sau ngày kỷ niệm bốn mươi nǎm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại đã có cuộc Hội nghị của các đảng cộng sản, đảng công nhân và đảng lao động các nước trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa. Tiếp theo đó thì có cuộc Hội nghị của sáu mươi bốn đảng cộng sản, đảng công nhân và đảng lao động trên thế giới. Hai cuộc hội nghị ấy đã tỏ rõ sự đoàn kết chặt chẽ không gì lay chuyển được giữa các nước xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô. Nó đã tỏ rõ quyết tâm của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đấu tranh cho hoà bình thế giới, cho độc lập dân tộc, cho chủ nghĩa xã hội. Hiện nay đang có cuộc Đại hội nhân dân Á – Phi họp ở Thủ đô nước Ai Cập, có đại biểu hơn bốn mươi nước tham gia, thay mặt cho 2 phần 3 nhân dân trên thế giới, tiếp tục và phát triển tinh thần của Hội nghị Bǎngđung. Cuộc Đại hội này nhằm mục đích thắt chặt thêm tình đoàn kết giữa nhân dân các nước Á – Phi chống chủ nghĩa thực dân, chống chiến tranh và ủng hộ phong trào độc lập

của các dân tộc. Kết quả tốt đẹp của những hội nghị ấy có ảnh hưởng cực kỳ rộng lớn đến vận mạng của nhân dân thế giới. Phong trào đấu tranh cho hoà bình, cho độc lập dân tộc, cho chủ nghĩa xã hội ngày càng lớn mạnh. Bọn đế quốc hiếu chiến do Mỹ cầm đầu thì ngày càng bị cô lập, chủ nghĩa thực dân đã gần đến ngày tan rã.

Trong nước ta thì từ khi hoà bình lập lại đến nay, toàn dân ta từ Bắc đến Nam ra sức phấn đấu để hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước. Nhân dân miền Bắc đã vượt nhiều khó khǎn gian khổ, cǎn bản đã hoàn thành cải cách ruộng đất, đã thu được nhiều thành tích trong công cuộc khôi phục kinh tế và phát triển vǎn hoá, làm cho miền Bắc càng thêm vững vàng. Đồng bào miền Nam thì đã bền bỉ và anh dũng đấu tranh chống chế độ tàn bạo của Mỹ – Diệm, đòi cải thiện đời sống, đòi tự do dân chủ, đòi hoà bình thống nhất nước nhà.

Sang nǎm mới, thời kỳ khôi phục kinh tế đã kết thúc và mở đầu thời kỳ phát triển kinh tế một cách có kế hoạch. Đó là một tiến bộ mới trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Chúng ta phải lợi dụng những kinh nghiệm trong mấy nǎm qua đồng thời xuất phát từ tình hình và đặc điểm của miền Bắc để tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta phải làm cho tốt công tác kế hoạch hoá kinh tế của ta và thực hiện đầy đủ kế hoạch Nhà nước nhằm phát triển kinh tế và vǎn hoá, nâng cao dần đời sống của nhân dân trước hết là nhân dân lao động. Phát triển kinh tế và vǎn hoá tức là dần dần xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài. Nhân dân ta hãy đoàn kết chặt chẽ dựa trên nền tảng liên minh công nông, bền bỉ phấn đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ thì chúng ta nhất định thắng lợi. Xây dựng miền Bắc vững mạnh và tốt đẹp, đồng thời giữ vững và phát triển phong trào yêu nước ở miền Nam, là tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà và góp phần bảo vệ hoà bình thế giới. Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thống nhất nước nhà, chúng ta có nhiều thuận lợi ở trong nước và trên thế giới. Cũng như phong trào cách mạng trên thế giới, như công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, ở Trung Quốc và ở các nước anh em khác, phong trào cách mạng ở nước ta đã liên tiếp thắng lợi trong công cuộc chống đế quốc và phong kiến. Dựa vào thuận lợi ấy và phát triển truyền thống cần kiệm và anh dũng của nhân dân ta, chúng ta sẽ vượt được mọi khó khǎn và giành được những thắng lợi mới.

Đồng bào cả nước hãy đoàn kết đấu tranh đòi đối phương thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, đòi lập quan hệ bình thường giữa hai miền, ra sức phấn đấu cho sự nghiệp thống nhất Tổ quốc và cho hoà bình thế giới.

Đồng bào miền Bắc, nhất là anh chị em công nhân, nông dân, thợ thủ công, mọi người hãy ra sức thi đua sản xuất và tiết kiệm, ra sức sản xuất nhiều, nhanh, tốt và rẻ, tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, do đó mà xây dựng nước nhà và dần dần cải thiện đời sống.

Cán bộ và đồng bào miền Nam tập kết ở Bắc hãy đoàn kết chặt chẽ với nhau và đoàn kết với đồng bào miền Bắc ra sức làm việc, góp phần vẻ vang vào việc xây dựng và củng cố miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, làm nền tảng vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Quân đội và công an ta hãy cố gắng học tập chính trị và kỹ thuật, ra sức bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn trật tự an ninh, ra sức tham gia phong trào sản xuất và tiết kiệm.

Anh chị em lao động trí óc hãy chú ý học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tuỳ theo khả nǎng của mình mà tham gia lao động chân tay để tự rèn luyện mình và để góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Các cụ phụ lão hãy làm gương mẫu, “lão đương ích tráng”, đôn đốc con cháu thi đua tǎng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xứng đáng là người chủ nước nhà mai sau.

Các cháu thanh niên hãy xung phong trong mọi việc, đoàn kết học tập lao động. Các cháu nhi đồng hãy chǎm lo học tập và tuỳ sức mình mà tham gia lao động cho quen.

Đảng viên, cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng hãy cố gắng công tác và học tập để tiến bộ không ngừng, tǎng cường đoàn kết nhất trí trên cơ sở tư tưởng Mác – Lênin, nhận thức đúng đắn về tình hình và nhiệm vụ, nâng cao ý thức trách nhiệm, ý thức tổ chức và kỷ luật, ý thức đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội.

Kiều bào ta ở nước ngoài giàu lòng yêu nước luôn luôn hướng về Tổ quốc hãy đoàn kết chặt chẽ yêu thương lẫn nhau, hãy tôn trọng pháp luật của Chính phủ và tǎng cường cảm tình với nhân dân nước mình ở.

Chúng ta đoàn kết nhất trí, cả nước một lòng ra sức phấn đấu thì chúng ta nhất định thắng lợi.

Nǎm mới, cố gắng mới, thắng lợi mới.

Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh muôn nǎm!

Ngày 1 tháng 1 nǎm 1961

—————————————

Bǎng ghi âm Lời chúc mừng nǎm mới, lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I.
cpv.org.vn