Thư viện

Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện Công an nhân dân Việt Nam

CAND chup anh cung BH Cán bộ lớp Trung cấp Công an rất phấn khởi, vinh dự được
 Bác Hồ đến thăm và chụp ảnh kỷ niệm (1950). (Ảnh sưu tầm)

Suốt quá trình đấu tranh cách mạng, từ khi còn trứng nước đến lúc trưởng thành, các thế hệ “Công an cách mệnh” luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh rèn luyện, lãnh đạo sát sao. Sự quan tâm của vị lãnh tụ kính yêu đối với lực lượng Công an thể hiện từ những văn bản pháp lý do Người ký đánh dấu từng mốc son trưởng thành của lực lượng Công an đến các bài nói, bài viết nhắc nhở, rèn luyện cán bộ, chiến sỹ về nhiều mặt.

Hồ Chí Minh khẳng định bản chất nhân dân của Công an cách mạng Việt Nam. Người xem việc “làm cho anh chị em Công an nhận rõ Công an của ta là Công an nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ” là nhiệm vụ thường xuyên. Từ đó, Người nêu lên phương thức tốt nhất để lực lượng Công an hoàn thành nhiệm vụ là phải “dựa vào nhân dân mà làm việc” vì “nhân dân ta có hàng chục triệu người, có mấy chục triệu tai mắt, tay, chân. Nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong” . Nhân dân giúp đỡ nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ít thì thành công ít, giúp đỡ hoàn toàn thì thành công hoàn toàn. Trong bài nói tại lớp Chỉnh huấn Khóa 2 ( tháng 5 năm 1959) Bác huấn thị: “Làm Công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có dựa vào nhân dân thì Công an mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ của mình. Nếu trong công tác các cô, các chú được dân ủng hộ, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, thì nhất định các cô, các chú thành công…” . Tuy nhiên, dựa vào dân theo Hồ Chí Minh không phải là ỷ lại, trông chờ ở nhân dân mà cần phải chủ động khai thác sức mạnh của nhân dân. Người yêu cầu “mỗi Công an viên đóng chỗ nào phải dạy cho dân quân, tự vệ nơi đó cách điều tra, xét giấy, phòng gian,…”  và “dạy cho dân nơi đó giữ bí mật” . Cán bộ, chiến sỹ Công an phải nhận phần khó về mình, tạo thuận lợi cho nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân – đó là yếu tố quan trọng để Công an ngày càng được dân tin yêu, giúp đỡ. Đây là những quan điểm sâu sắc về xây dựng nền an ninh nhân dân Việt Nam.

Muốn khai thác được sức mạnh của nhân dân, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi Công an viên phải giữ tư cách, đạo đức. Người rút ra “những đạo đức và tư cách mà người Công an cách mệnh phải có, phải giữ cho đúng” thông qua sáu mối quan hệ của lực lượng công an nhân dân. Hiếm thấy Người nói về đạo đức, tư cách của cán bộ, chiến sỹ một tổ chức hết sức rành rọt, rõ ràng, chi tiết như vậy. Không những thế, Hồ Chí Minh còn nêu lên phương thức tuyên truyền, phổ biến việc thực hiện những yêu cầu trên: “Những điều đó, chẳng những luôn luôn nêu trên báo mà lại nên viết thành ca dao cho mọi người Công an học thuộc, nên viết thành khẩu hiệu dán tại những nơi anh em công an thường đến (bàn giấy, nhà ăn, phòng ngủ,…”. Điều này cho thấy đạo đức của người Công an cách mệnh không phải là cái gì cao siêu, xa vời mà là những điều dễ nghe, dễ hiểu, dễ thuộc và dễ thực hiện. Hồ Chí Minh cũng là người duy nhất khai thác, sử dụng, phát huy sức mạnh của các giá trị văn hóa dân gian, cụ thể là “ca dao” trong giáo dục, rèn luyện tư cách cho một lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam.

Công an phải phát huy lối làm việc dân chủ. Người dặn: “Lề lối làm việc phải dân chủ. Cấp trên phải thường kiểm tra cấp dưới. Cấp dưới phải phê bình cấp trên. Giúp nhau kinh nghiệm và kháng chiến, giúp nhau tiến bộ. Tự phê bình và phê bình nhau theo tinh thần thân ái và lập trường cách mạng”. Người nhắc nhở “phê bình để tiến bộ, không phải để xoi mói”. Song, trong bài nói chuyện tại Trường Công an Trung ương, Người nhắc nhở “dân chủ và chuyên chính phải đi đôi với nhau. Muốn dân chủ thực sự phải chuyên chính thực sự”. “Đối với người không sửa được thì phải tẩy trừ ra khỏi ngành kẻo để lại thì con sâu làm rầu nồi canh”.

“Đối với nhân dân, đối với Đảng, với cách mạng xã hội chủ nghĩa, trách nhiệm của Công an rất lớn, rất nặng nề. Cho nên phải xây dựng một bộ máy Công an rất tốt, rất chắc chắn”. Theo Người, “cách tổ chức Công an phải giản đơn, thiết thực, tránh cái tệ hình thức, giấy má”; chú trọng “củng cố thật tốt Công an khu phố, huyện và xã”. Hồ Chí Minh cho rằng “mỗi cán bộ Công an đều có trách nhiệm vào đấy. Ai cũng tiến bộ, cũng khắc phục được khuyết điểm, phát huy được ưu điểm, thì toàn bộ bộ máy Công an sẽ tốt”. Do vậy, Người yêu cầu “Công an thường phải kiểm soát nhân viên và công việc của mình” để “kiện toàn tổ chức thành một lực lượng thật vững chắc của nền chuyên chính vô sản”.

Bác luôn nhắc nhở việc xây dựng khối đoàn kết, xem “đoàn kết là rất cần thiết” vì “có thế thì công tác mới làm được”. Đoàn kết theo Hồ Chí Minh gồm có ba cấp bậc: “đoàn kết nội bộ ngành Công an, đoàn kết với các ngành khác, đoàn kết với nhân dân”. Trong nội bộ ngành, “từ cấp cao cho đến nhân viên phải đoàn kết nhất trí” trên tình thân ái giúp đỡ. “Cấp trên phải chú ý đến đời sống vật chất và tinh thần của chiến sỹ… đoàn kết và học tập lẫn nhau, luôn luôn giúp đỡ nhau tiến bộ”. Tuyệt đối đấu tranh chống tình trạng “chén chú chén anh,… anh A giấu lỗi cho anh B”. Đối với các ngành khác, Hồ Chí Minh chú trọng nhắc nhở đoàn kết chặt chẽ giữa Công an với Quân đội. Trong quan hệ với nhân dân, “Công an với dân phải đoàn kết – nghĩa là phải khuyến khích cho dân phê bình Công an”, phải khéo – “nghĩa là phải thực sự trung thành, tôn kính, thương yêu dân”.

Về công tác giáo dục – đào tạo lực lượng Công an nhân dân, Hồ Chí Minh có nhiều bài nói, bài viết, thư gửi cán bộ, giáo viên, học viên Trường Công an Trung ương, Ban Huấn luyện Công an, Trường Công an Trung cấp Khóa 2. Người khẳng định “Đảng, Chính phủ rất chú ý… đến việc giáo dục cán bộ Công an”. Nói chuyện tại Trường Công an Trung ương (28/1/1958), Người cho rằng: “Ở trường này một người giúp đỡ hướng dẫn 4 học viên. Một người phục vụ bốn người như thế là thiếu hay là thừa? Bác thấy là nhiều đấy”. Qua tổng kết số liệu đảng viên Trường Công an Trung ương, Bác nhắc nhở “không có cơ quan nào lại nhiều cán bộ như thế này” nên “các cô, các chú phải xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng và Chính phủ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên quan điểm về công tác báo chí của lực lượng Công an nhân dân thông qua nhận xét tờ Báo của Công an Khu XII do đồng chí Hoàng Mai gửi biếu. Theo đó, báo chí của lực lượng công an cách mạng “cần làm ngắn lại và viết những vấn đề thiết thực, mọi người đọc đều có thể hiểu và làm được”. Có như vậy, công tác báo chí “mới có tác dụng giúp đẩy mạnh công tác, đẩy mạnh thi đua”, hướng tới “thường xuyên làm cho anh chị em Công an nhận rõ” bản chất nhân dân và “nhắc nhở anh em rèn luyện tư cách đạo đức”.

Tóm lại, Người căn dặn: “Công an đánh địch bên ngoài đã khó, đánh địch bên trong người còn khó khăn hơn. Vì vậy phải nâng cao kỷ luật, tính tổ chức, chống ba phải, nể nang. Công tác phải đi sâu và thiết thực. Làm việc phải có điều tra, nghiên cứu, không được tự kiêu, tự đại. Phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân thì khuyết điểm mới có thể khắc phục được và ưu điểm mới có thể phát huy được. Phải đi đường lối quần chúng thì nhân dân mới tin yêu, giúp công an và công an mới thành công được. Phải đoàn kết nội bộ, đoàn kết với nhân dân và với các ngành khác thì công việc mới thắng lợi”.

Trên cơ sở lời dạy của Bác, Đảng và Nhà nước ta mà trực tiếp là Bộ Công an đã xây dựng tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo các tiêu chí: lập trường chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu và con đường xã hội chủ nghĩa, quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới; kiến thức và năng lực tham gia các hoạt động tập thể và khả năng tổ chức thực hiện; hiệu quả thực hiện nhiệm vụ trên mỗi vị trí công tác; ý thức tổ chức kỷ luật, gắn bó với quần chúng và được quần chúng tín nhiệm. Đó là sự trung thành, vận dụng, bổ sung những luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lực lượng Công an cách mạng Việt Nam.

Hiện nay, những biến thể đa dạng, phức tạp của các loại hình tội phạm thời hội nhập đặt lên vai lực lượng Công an nhân dân Việt Nam trọng trách rất lớn. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là đảm bảo cuộc sống bình yên của nhân dân. Để làm được điều đó, lực lượng Công an nhân dân phải không ngừng tự đổi mới, rèn luyện, trưởng thành về mọi mặt. Người cán bộ, chiến sỹ Công an phải luôn luôn biết mình từ đâu mà ra, do ai mà chiến đấu, chiến đấu như thế nào, rèn luyện bản thân và tổ chức ra sao. Tất cả đều được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra và dạy bảo trong suốt quá trình Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện tổ chức Công an cách mạng Việt Nam. Những quan điểm của Người về Công an nhân dân cho đến ngày nay vẫn mang giá trị thời sự sâu sắc, là nền tảng tư tưởng cho đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng và phát triển lực lượng Công an Việt Nam tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh. Mọi thế hệ Công an nhân dân Việt Nam luôn hướng về Người để noi theo, nghe lời Người mà hành động, nguyện phấn đấu thực hiện thắng lợi lý tưởng của Người vì một đất nước “độc lập, tự do, hạnh phúc”.

Nguyễn Phương An 
(Trường Chính trị Tôn Đức Thắng – An Giang)
Theo hvcsnd.edu.vn
Kim Yến
(st)

 

 

 

Xây dựng lực lượng, thế trận toàn dân

Không chỉ là một nhà chính trị kiệt xuất, một danh nhân văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một nhà chiến lược quân sự thiên tài. Nét nổi bật trong nghệ thuật quân sự theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nghệ thuật xây dựng lực lượng và thế trận toàn dân.

Người chỉ rõ việc tạo lực cách mạng như lúc mới bắt đầu “nhóm lửa”. Đây là công việc rất khó, nhưng biết cách làm, biết cách dựa vào dân thì chắc chắn làm được. Do đó, người cách mạng phải có “tín tâm” và “quyết tâm”, biết đi vào quần chúng để thức tỉnh họ; tổ chức, đoàn kết, huấn luyện họ; làm cho dân ta ai cũng biết “đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong điều kiện cụ thể của nước ta, lực lượng để tiến hành khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng không chỉ đơn thuần dựa vào lực lượng vũ trang, quân đội, mà trước hết và quan trọng nhất là lực lượng chính trị của quần chúng được giác ngộ, được tổ chức chặt chẽ và rộng khắp; phải bắt đầu bằng việc xây dựng lực lượng chính trị quần chúng, rồi trên cơ sở đó xây dựng và phát triển lực lượng mọi mặt của cách mạng.

Lực lượng chính trị quần chúng không chỉ là nền tảng vững chắc và nguồn tiếp sức vô hạn cho việc phát triển lực lượng vũ trang nhân dân, mà còn là một lực lượng trực tiếp tiến công địch, tiến hành công tác binh vận, địch vận, làm tan rã hàng ngũ địch. Theo Người, lực lượng của cách mạng, của kháng chiến không ngừng được phát huy, phát triển trong quá trình thực hiện đường lối “khởi nghĩa toàn dân” và “chiến tranh nhân dân”. Đường lối đó lôi cuốn được hết thảy mọi người Việt Nam yêu nước tham gia, “người có tiền góp tiền”, “người có sức góp sức”, mỗi người dân là một chiến sĩ, đánh địch trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, tiến công địch ở khắp mọi lúc, mọi nơi, cả ở tiền tuyến và hậu phương. Nhờ đó, đã huy động và tạo thành sức mạnh to lớn của toàn dân đánh giặc.

Trong chỉ đạo thực tiễn, để tạo lực lượng cho cách mạng, từ năm 1941 khi về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh, thúc đẩy việc xây dựng các tổ chức cách mạng của quần chúng, hình thành các đạo quân chính trị ngày càng hùng hậu. Trên cơ sở đó, Người chỉ thị tổ chức các đội du kích, thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đồng thời chăm lo xây dựng các vùng căn cứ địa và chính quyền cách mạng ở các địa phương. Nhờ thế mà khi thời cơ đến, với lực lượng cách mạng được chuẩn bị sẵn sàng và chu đáo, nhân dân ta trên mọi miền đất nước đã vùng lên giành toàn bộ chính quyền bằng cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Kế đó, trong kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, ra sức phát triển kinh tế để bồi dưỡng sức dân, tăng thực lực kháng chiến. Người và Đảng ta chăm lo chỉ đạo công tác xây dựng và bảo vệ vững chắc hậu phương kháng chiến vững mạnh về mọi mặt, xem đó là một nhân tố thường xuyên, quyết định thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến.

Vận dụng tư tưởng, nghệ thuật quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn chủ động xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân 1975 là những mốc son chói lọi của cách mạng Việt Nam và cũng là những mẫu mực về nghệ thuật quân sự Việt Nam dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

  • Việt Quân

baobinhdinh.com.vn

Tàn nhưng không phế

Sau hơn ba chục năm bôn ba khắp năm châu tìm đường cứu nước, cho đến ngày Tổng khởi nghĩa thành công, Bác Hồ từ chiến khu lần đầu tiên mới về tới Hà Nội. Đón Tết độc lập đầu tiên ấy, đêm giao thừa thì Bác “vi hành” đi thăm, chúc Tết các gia đình “khá”, gia đình “trung bình” và gia đình nghèo… Nhưng rồi kháng chiến trường kỳ với chiến thắng Điện Biên Phủ, kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hòa bình lập lại trên miền Bắc, Bác Hồ từ chiến khu trở về sống và làm việc ở Hà Nội. Đón “Tết hoà bình” đầu tiên ấy, đêm giao thừa Bác Hồ chỉ đi thăm một nơi, đó là đến thăm anh chị em ở Trường Thương binh hỏng mắt ở Hà Nội.

 Thuongbinhtan nhung khong phe

Bác Hồ đến thăm, động viên anh em thương binh ở Trường Thương
binh hỏng mắt Hà Nội

Trường Thương binh hỏng mắt là ngôi trường được thành lập sau ngày đất nước có hoà bình, vào đúng ngày kỷ niệm lần thứ 65 Ngày sinh của Bác 19/5/1955. Trường được thành lập để đón nhận những anh chị em từ các chiến trường, trận địa… cảnh ngộ khác nhau về đây cùng sống, học tập. Đón giao thừa năm ấy, Nhà trường đã chuẩn bị để tổ chức một buổi họp mặt với tất cả các anh chị em học viên để đón Tết – mừng xuân, liên hoan văn nghệ và cùng chờ đón nghe thơ chúc Tết của Bác Hồ qua làn sóng phát thanh lúc giao thừa. Đêm ấy, giữa lúc mọi người đang vui với các tiết mục văn nghệ “cây nhà lá vườn” thì bỗng có tiếng một người nào đó vang lên: “Bác, Bác Hồ đến thăm anh em ơi!”. Thế là cả hội trường đang ồn ào sôi động bỗng trở nên im lặng, rồi dường như tất cả cùng vỗ tay như sấm dậy reo mừng. Mọi người, nhất là các đồng chí nữ xô ghế, tìm lối đi lên phía trước. Những tiếng hô: “Bác Hồ muôn năm!” như sóng trào lên không dứt…

Giữa không khí náo nhiệt, ồn ào ấy, anh thương binh hỏng mắt Hoàng Văn Vượng, một nghệ sĩ đàn vi-ô-lông trong Ban Văn nghệ của trường, bỗng nghe tiếng nói của Bác Hồ ấm áp bên cạnh:

– Thôi, thôi, các chú, các cô đừng hoan hô nữa! Các cô, các chú ngồi xuống cả đi…

Khi mọi người trong hội trường đã ngồi xuống, yên lặng, thì Bác bắt đầu hỏi thăm sức khỏe và việc chuẩn bị đón Tết của anh chị em thương binh: Tết này có bánh chưng không? Có kẹo, có mứt không? Việc học tập qua chữ nổi có khó lắm không?… Rồi bỗng Bác hỏi nhỏ một đồng chí:

– Các chú đã nhận được con cá trắm các cháu nhi đồng miền Nam tặng Bác chưa?

Một đồng chí trong Ban Giám hiệu nhà trường thưa với Bác là con cá trắm rất to ấy đã được làm thịt nấu ăn bữa chiều nay rất ngon và xin cảm ơn Bác.

Một nữ thương binh học viên đứng dậy xin phép Bác được phát biểu:

– Thưa Bác, hồi này Bác có khỏe không ạ?

Nghe vậy, Bác hiền từ hỏi lại:

– Thế các cô, các chú có muốn Bác khỏe không?

Mọi người đồng thanh: “Thưa Bác, có ạ !”. Bác lại nói tiếp:

– Thế thì các cô, các chú phải giữ gìn sức khỏe. Các cô, các chú tàn nhưng không phế…

Anh chị em thương binh đêm ấy nghe Bác nói những lời động viên, lời dạy đầy ân tình ấy của Bác, tất cả đều lặng đi, ai cũng ứa nước mắt sung sướng, xúc động…

Một thương binh đứng dậy, giọng ngắt quãng vì xúc động:

– Thưa Bác, chúng cháu được nghe Bác nói nhưng không nhìn… thấy Bác được. Bác cho phép cháu… nắm tay của Bác ạ…

Từ lúc nghe người học viên thương binh nói như vậy thì đôi mắt của Bác như nhoà đi… Rồi giọng Bác nhẹ nhàng, âu yếm:

– Thế các cô, các chú định giữ Bác ở lại đây đến hết giao thừa hay sao? Phải để cho Bác đi chúc Tết các nơi khác nữa chứ…

Sau khi chúc Tết anh chị em thương binh lần nữa, Bác bước nhanh đi ra. Lên xe, Bác nói ngay với đồng chí bảo vệ: “Về nhà thôi…”. Anh em biết Bác đang rất xúc động, nhìn thấy mắt Bác vẫn nhoè lệ nghẹn ngào… Đêm giao thừa năm ấy, Bác không đi thăm đâu nữa. Cũng từ lời Bác dặn đêm giao thừa ấy, không chỉ anh chị em thương binh hỏng mắt như được Bác đem lại ánh cuộc đời, mà từ ngày ấy anh chị em thương binh luôn thực hiện lời dạy của Bác: “Tàn nhưng không phế…”, sống học tập, lao động có ích tiếp tục góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Mỹ Hạnh
Theo tư liệu của Bảo tàng Hồ Chí Minh
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

“Trung với Đảng, hiếu với dân…”!

Ngày 22.12.1964, nhân dịp kỷ niệm quân đội ta tròn 20 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và khen ngợi “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Người khẳng định: Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, được sự giúp đỡ hết lòng của nhân dân, quân đội ta hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ trao cho, chiến đấu anh dũng, công tác và lao động tích cực, tiết kiệm, cần cù, khiêm tốn giản dị, đoàn kết nội bộ, đồng cam cộng khổ với nhân dân…

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ có lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân, mà dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân đội ta còn làm tròn chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân sản xuất, Người nói: “Quân đội ta là quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng. Mới ra đời với gậy tầm vông, súng kíp đã cùng toàn dân đánh Pháp, đánh Nhật, đưa cách mạng tháng Tám đến thành công”. Bác còn chỉ rõ là quân đội cách mạng phải biết vượt qua khó khăn thử thách, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. “Bộ đội ta là bộ đội nhân dân, bộ đội cách mạng có truyền thống anh dũng, khắc khổ, kiên nhẫn, cần cù, chất phác, việc khó khăn nguy hiểm mấy cũng không sợ, nhất định làm cho kỳ được. Đó là truyền thống, đạo đức, tác phong tốt, phải luôn được giữ vững và phát triển”… – Người nhắc nhở.

Thực tiễn đã chứng minh trải qua hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lời khen của Bác đã trở thành lời thề danh dự của quân đội ta đối với Tổ quốc. Điều đó được thể hiện trong bất luận hoàn cảnh nào, Quân đội nhân dân Việt Nam cũng luôn luôn một lòng trung thành vô hạn với sự nghiệp cách mạng của Đảng, luôn giương cao ngọn cờ bách chiến, bách thắng, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng cao cả của Đảng, của giai cấp, của dân tộc. Quân đội ta đã cùng với toàn dân hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội; đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vươn lên chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu; thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, bảo vệ thành quả cách mạng, viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc, xây đắp nên truyền thống vẻ vang của quân đội anh hùng sinh ra từ một dân tộc anh hùng.

Thấm nhuần lời dạy của Bác đối với quân đội, hơn ai hết, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội ta thấy được vinh dự và tự hào, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình. Từ đó, luôn trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực, phương pháp, tác phong công tác theo tư tưởng và đạo đức của Người, góp phần xây dựng quân đội thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành tin cậy bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, như lời Người dạy.

  • Hoàng Quân

baobinhdinh.com.vn

Bác Hồ với công tác Thương binh – Liệt sỹ: “Tôi nghiêng mình trước linh hồn các chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh vì tổ quốc”

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm chăm sóc công tác Thương binh-Liệt sĩ(TB-LS).Trong cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp(1945-1954) hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác, rất nhiều thanh niên đã tham gia quân đội. Một số chiến sĩ đã hy sinh anh dũng, một số nữa là thương binh, bệnh binh, đời sống gặp nhiều khó khăn.Tháng 6/1947, Bác đã đề nghị Chính phủ chọn một ngày nào đó trong năm làm “Ngày thương binh” để đồng bào ta có dịp tỏ lòng hiếu nghĩa, yêu mến thương binh. Ngày 27/7/1947- được chọn làm tưởng niệm các TB-LS-những người đã không tiếc máu xương vì sự nghiệp độc lập thống nhất của Tổ quốc đã ra đời tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Ảnh: Hoàng Long

1. Báo Vệ quốc quân số 11, ra ngày 27 tháng năm 1947 đã đăng thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thường trực Ban tổ chức “Ngày thương binh toàn quốc” Đầu thư, Người viết: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp. Cha mẹ, anh em, vợ con, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù? Đó là những chiến sĩ mà nay một số đã thành ra thương binh”. Bác giải thích: “Thương binh là người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đã chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”.Cuối bức thư, Người vận động đồng bào nhường cơm sẻ áo, giúp đỡ thương binh.Bản thân Người đã xung phong góp chiếc áo lụa, một tháng lương và tiền ăn một bữa của Người và của tất cả các nhân viên của Phủ Chủ Tịch, tổng cộng là một ngàn một trăm hai mươi bảy đồng (1.127 đồng) để tặng thương binh.

Về một trường hợp cụ thể, ngày 7 tháng 1 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới bác sĩ Vũ Đình Tụng, bức thư viết: “Thưa ngài, tôi được báo cáo rằng: con trai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không con cái. Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi, vật chất họ mất nhưng tinh thần họ sẽ luôn luôn sống mãi với non sông Việt Nam.Những thanh niên đó là anh hùng dân tộc. Đồng bào Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ”. Một năm sau đó, ngày 27/7/1948, trong một lá thư dài đầy tình thương yêu, Bác nói: “Nạn ngoại xâm như trận lụt to đe doạ tràn ngập cả non sông Tổ quốc, đe doạ cuốn trôi cả tính mệnh, tài sản, chìm đắm cả bố mẹ, vợ con, dân ta. Trong cơn nguy hiểm ấy, số đông thanh niên yêu quý của nước ta quyết đem xương máu của họ đắp thành một bức tường đồng, một con đê vững để ngăn cản nạn ngoại xâm tràn ngập Tổ quốc, làm hại đồng bào”.Người xót xa viết: “Họ quyết liều chết chống địch, để cho Tổ quốc và đồng bào sống. Ngày nay, bố mẹ họ mất một người con yêu quý. Vợ trẻ trở nên bà góa. Con dại trở nên mồ côi. Trên bàn thờ gia đình thêm một linh bài tử sĩ. Tay chân tàn phế của thương binh sẽ không mọc lại được. Và những tử sĩ sẽ không thể tái sinh”.

2. Ở các địa phương nơi xa, chưa đến được Người biên thư thăm hỏi chiến sĩ bị thương trong các chiến dịch và mặt trận: Lê Hồng Phong, Quang Trung, Đông Khê, Trung Du và Đông Bắc… Trong bức thư đề ngày 23 tháng 9 năm 1949 gửi đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ, miền Nam Trung Bộ – Người viết: “Cuộc kháng chiến oanh liệt ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ vừa đúng hai năm.Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ và nhân dân toàn quốc nghiêng mình trước linh hồn các chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh vì tổ quốc. Tôi gửi lời an ủi những chiến sĩ và đồng bào bị thương, bị địch giam cầm hoặc đang bị khổ sở nơi địch chiếm đóng. Tôi gửi lời thân ái khen ngợi toàn thể đồng bào và chiến sĩ đang hăng hái chiến đấu. Đã hai năm nay, chiến sĩ và đồng bào ta hy sinh nhiều tính mạng, tài sản, chịu nhiều cực khổ gian nan, chí dũng cảm ngày càng bền chặt, sức chiến đấu ngày càng tăng gia, chí quyết thắng ngày càng vững chắc.Các bạn là đội xung phong của dân tộc, con yêu của đất nước nhà”..Bác cũng quan tâm giáo dục cán bộ ngành thương binh – những người được giao nhiệm vụ thay mặt và chịu trách nhiệm trước nhân dân và Chính phủ để săn sóc đời sống tinh thần, vật chất cho anh em thương binh, bệnh binh. Trong thư gửi hội nghị cán bộ ngành thương binh, cựu binh tháng 1 năm 1954, Người viết: “Trong công tác, anh chị em đều có tiến bộ. Đó là một điều đáng khen. Nhưng vẫn còn những khuyết điểm cần sửa chữa… Nhiệm vụ của cán bộ và nhân viên trong ngành là phải hết lòng kính mến, thương yêu, chăm sóc thương binh, bệnh binh. Ra sức làm cho họ vui vẻ, lành mạnh, tiến bộ”. Tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Quan tâm chăm sóc giúp đỡ thương binh và gia đình liệt sĩ là nhiệm vụ lâu dài, bền bỉ chứ không phải nhất thời. Mọi người, mọi ngành, mọi cấp đều phải tham gia với tình cảm uống nước nhớ nguồn. Bác Hồ chủ trương chính quyền và các đoàn thể xã hội tổ chức đón thương binh về làng. Người đề ra biện pháp cụ thể: Mỗi xã trích một phần ruộng công hoặc khai hoang thêm diện tích mới đề cày cấy, chăm nom, gặt hái thu hoa lợi để nuôi thương binh. Người động viên thương binh, bệnh binh tàn mà không phế tuỳ theo sức của mình làm những công việc nhẹ như học may, đan lát, hớt tóc hoặc giúp việc phòng giấy, việc bình dân học vụ trong làng…

3. Bác Hồ cũng chính là người đã sớm chủ trương xã hội hóa toàn dân chăm sóc TB-LS và người có công với kháng chiến. Tháng 7 năm 1951, Người kêu gọi: “Với lòng hăng hái và cố gắng của đồng bào, với sự nỗ lực của cán bộ chính quyền và đoàn thể các địa phương, tin chắc rằng công việc đón thương binh về làng sẽ có kết quả tốt đẹp”. Như vậy, tư tưởng xã hội hoá của Chủ tịch Hồ Chí Minh hình thành rất sớm, từ những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhiều địa phương còn nhớ mãi những lần quê hương nghe lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch đón thương binh về làng, sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Anh em thương binh, bệnh binh được sống trong tình cảm nồng ấm của gia đình, họ hàng, đoàn thể, chính quyền. Nhân dân tự nguyện giúp đỡ thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ bằng việc làm thiết thực: Gánh nước, kiếm củi, lợp nhà, tát nước, làm cỏ ngô, lúa… Những việc làm đền ơn đáp nghĩa ấy còn quí hơn tiền tử tuất và hưu bổng thương tật. Từ những lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được sự cảm thông chia sẻ khuyến khích của bà con làng xóm đã có nhiều cô gái yêu và tự nguyện lấy những anh thương binh và họ đã nỗ lực chia sẻ và vượt qua cuộc sống khó khăn thường nhật để cùng sống hạnh phúc.

Thanh Phúc
daidoanket.vn

Thương binh, liệt sỹ trong tư tưởng và tình cảm của Bác Hồ

Trong thư gửi Ban Thường trực của Ban Tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc (ngày 27 tháng 7 năm 1947), Người viết: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe doạ, của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập, ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta?  Đó là những chiến sỹ mà nay một số thành ra thương binh”.

Tam long bac voi thuong binhNgười đầu đoàn đại biểu của Đảng, Chính phủ tới đặt vòng hoa ở Đài liệt sỹ

Tư tưởng, tình cảm đó của Người lại được thể hiện trong lời kêu gọi, nhân ngày 27 tháng 7 năm 1948: “Khi nạn ngoại xâm ào ạt đến, nó như một trận lụt to. Nó đe doạ tràn ngập cả non sông Tổ quốc. Nó đe doạ cuốn trôi cả tính mệnh, tài sản, chìm đắm cả bố mẹ, vợ con của nhân dân ta.

Trước cơn nguy hiểm ấy, số đông thanh niên yêu quý của nước ta đã dũng cảm xông ra mặt trận. Họ quyết tâm đem xương máu của họ đắp thành một bức tường đồng, một con đê vững để ngăn cản nạn ngoại xâm tràn ngập Tổ quốc, làm hại đồng bào. Họ quyết hy sinh tính mệnh để giữ tính mệnh đồng bào.

Họ quyết hy sinh gia đình và tài sản họ để bảo vệ gia đình và tài sản đồng bào.

Họ quyết liều chết chống địch để cho Tổ quốc và đồng bào sống.

Họ là những chiến sĩ anh dũng của chúng ta.

Trong đó có người đã bỏ lại một phần thân thể ở mặt trận, có người đã bỏ mình ở chiến trường. Đó là thương binh, đó là tử sĩ…”

Trải qua hàng chục năm ròng chiến đấu cho lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” mà Đảng và Bác Hồ đã chỉ ra, hàng triệu đồng bào, đồng chí đã hy sinh cả cuộc đời mình, hàng chục vạn người đã cống hiến một phần thân thể của mình, những mất mát ấy không thể bù đắp được. Thấu hiểu những hy sinh to lớn đó, Người viết: Máu đào của các liệt sĩ đã nhuộm lá cờ cách mạng càng thêm đỏ chói. Sự hy sinh của các liệt sỹ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do”. Cho nên đối với “những người con trung hiếu ấy, Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng”, và Người giải thích: “Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy, mọi người phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt qua tất cả khó khăn, gian khổ hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã để lại”.

Với quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Bác Hồ đã đề ra phương châm thực hiện công tác thương binh, liệt sĩ thật rõ ràng, phù hợp với đạo lý truyền thống của dân tộc và hoàn cảnh của đất nước: “đồng bào sẵn sàng giúp đỡ, Chính phủ ra sức nâng đỡ, anh em có quyết tâm thì anh em nhất định dần dần tự túc được.”

Thể hiện trách nhiệm của Nhà nước, ngày 16 tháng 2 năm 1947, Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số 20/SL ban hành chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ. Người cũng đồng ý chọn ngày 27 tháng 7 làm Ngày Thương binh toàn quốc, là dịp để đồng bào “tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh”. Người còn thường xuyên viết thư thăm hỏi thương binh, gia đình liệt sĩ, nhắc nhở trách nhiệm và động viên, biểu dương các địa phương, các đơn vị và cá nhân đã hết lòng giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ.

Tháng 11 năm 1946, trong thư gửi các địa phương, Người viết:

“Vì muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ cảm ơn những chiến sĩ đã hy sinh tính mệnh cho nền tự do, độc lập và thống nhất của nước nhà, hoặc trong thời kỳ cách mệnh, hoặc trong thời kỳ kháng chiến.

Tôi gửi lời chào thân ái cho các gia đình liệt sĩ đó và tôi nhận các con liệt sĩ làm con nuôi của tôi…”

Tháng 2 năm 1948, Người gửi thư dặn dò các cháu nhi đồng phát động công tác Trần Quốc Toản, với những tình cảm thiết tha:

“… 2. Bác không phải mong các cháu tổ chức những “Đội Trần Quốc Toản” để đánh giặc và lập nhiều chiến công, nhưng mà cốt để tham gia kháng chiến, bằng cách giúp đỡ đồng bào.

3. Từ 5 đến 10 cháu tổ chức thành một đội, giúp nhau học hành. Khi học rảnh, mỗi tuần mấy lần cả đội đem nhau đi giúp đồng bào.

Trước thì giúp các nhà chiến sĩ, các thương binh, lần lượt giúp những nhà ít người. Sức các cháu làm được việc gì thì giúp việc ấy. Thí dụ: quét nhà, gánh nước, lấy củi, xay lúa, giữ em, dạy chữ quốc ngữ…

Đội này thi đua với đội khác. Mỗi tháng một lần, các đội báo cáo cho Bác biết. Đội nào giỏi hơn, Bác sẽ gửi giấy khen”.

Tháng 7 năm 1951, Người phát động phong trào “Đón thương binh về làng” với nội dung cụ thể“Chính quyền, đồng bào và các đoàn thể nhân dân trong mỗi xã phải tuỳ theo sự cố gắng và khả năng chung của mỗi xã mà đón một số anh em thương binh. Giúp lâu dài chứ không phải chỉ giúp một thời gian. Không phải giúp bằng cách góp gạo nuôi thương binh, nhưng giúp bằng cách này:

1. Mỗi xã trích một phần ruộng công, nếu không có ruộng công thì mượn ruộng của những đồng bào có hằng tâm, hằng sản, nếu không mượn được ruộng thì chính quyền, đoàn thể và đồng bào trong xã chung sức phát vỡ một số đất mới để giúp thương binh.

2. Chính quyền, đoàn thể và đồng bào trong xã tổ chức việc cày cấy, chăm nom, gặt hái những ruộng đất ấy. Hoa lợi để nuôi thương binh.

3. Tuỳ theo số ruộng đất trích được, mượn hoặc khai khẩn được, mà đón nhiều người hoặc ít người thương binh về xã. Anh em thương binh sẽ tuỳ sức mà làm những công việc nhẹ, như học may, đan lát, hớt tóc hoặc giúp việc phòng giấy, việc bình dân học vụ trong làng….

Kế hoạch tỉ mỉ sẽ do Chính phủ cùng Mặt trận Liên Việt định sau.

Với lòng hăng hái và cố gắng của đồng bào, với sự nỗ lực của cán bộ chính quyền và đoàn thể các địa phương, tôi tin chắc rằng công việc đón anh em thương binh về làng sẽ có kết quả tối đẹp”.

Và trong dịp Đảng, Chính phủ về Thủ đô sau 9 năm kháng chiến, Người đã dẫn đầu đoàn đại biểu của Đảng, Chính phủ tới đặt vòng hoa ở Đài liệt sỹ. Trong diễn từ tại buổi lễ, Người viết:

“Hỡi các liệt sỹ.

Ngày mai là năm mới, là ngày đồng bào và bộ đội mừng Chính phủ về Thủ đô. Trong lúc cả nước vui mừng thì mọi người đều thương tiếc các liệt sỹ đã hy sinh vì Tổ quốc, vì dân tộc.

Tôi thay mặt nhân dân, Chính phủ và bộ đội kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn bất diệt của các liệt sỹ.

Một nén hương thanh.

Vài lời an ủi”.

Cảm động biết bao khi một vị Chủ tịch nước, hàng năm cứ đến Ngày Thương binh liệt sĩ lại gửi thư cùng một tháng lương của mình, kèm đó, khi thì một bữa ăn, khi thì một món quà (do đồng bào gửi biếu) để tặng anh em thương binh.

Với quan điểm khoa học và đầy tinh thần lạc quan “tàn nhưng không phế”, Bác khuyên anh em thương binh: “Khi đã khôi phục sức khoẻ phải hăng hái tham gia công tác sản xuất để trở nên người công dân kiểu mẫu. Bác chúc các gia đinh liệt sỹ trở thành những “gia đình cách mạng gương mẫu”.

Đã 55 trôi qua kể từ Ngày Thương binh – Liệt sỹ đầu tiên ấy. Mỗi năm, cứ đến ngày 27 tháng 7, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lại nhớ đến Bác – Người cha già của dân tộc và thêm tự hào về bước phát triển của công tác thương binh, liệt sĩ theo tư tưởng và sự chỉ đạo của Người.

Với sự mở đầu của Sắc lệnh số 20/SL ngày 16 tháng 2 năm 1947 ban hành chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sỹ, qua từng thời kỳ cách mạng được bổ sung, sửa đổi cả về đối tượng, tiêu chuẩn và các nội dung ưu đãi; đến nay chính sách thương binh, liệt sĩ đã phát triển thành hai Pháp lệnh: Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng.

Từ An dưỡng đường số 1 được thành lập tháng 6 năm 1947 tại xã Lục Ba, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (cơ sở nuôi dưỡng thương binh) và một bộ phận làm chân tay giả ra đời ở vùng tự do trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, hệ thống cơ sở sự nghiệp của ngành được mở rộng ở nhiều tỉnh phía Bắc. Trong thời kỳ cả nước bước vào cuộc trường chinh chống Mỹ, cả nước đã có hàng trăm cơ sở sự nghiệp từ Trung ương đến địa phương, với những trang thiết bị được đổi mới, phục vụ kịp thời cho việc phục hồi chức năng, nuôi dưỡng, đào tạo, dạy nghề và tổ chức sản xuất cho thương binh, thân nhân liệt sỹ.

Kế thừa đạo lý truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, Cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ” “Giúp binh sĩ bị thương”, từ những việc làm “Hiếu nghĩa bác ái” theo lời kêu gọi của Bác Hồ trong những ngày đầu cuộc kháng chiến “9 năm” đến những “hũ gạo tình nghĩa, con gà tình nghĩa, thửa ruộng tình nghĩa” trong thời kỳ cả nước “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, đến nay phong trào toàn dân chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ đã phát triển thành 5 chương trình của thời kỳ đổi mới. Phong trào “vườn cây tình nghĩa”, “ao cá tình nghĩa”…. được nảy nở từ ngay các thôn bản, làng xã, chương trình xây dựng, quản lý, sử dụng thống nhất Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” (Theo pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng) được thể chế hoá theo Nghị định 91/1998/NĐ-CP của Chính phủ đã làm cho công tác thương binh liệt sỹ mang tính xã hội hoá cao.

Theo lời Bác dạy: “tàn nhưng không phế”, tiếp nhận những ưu đãi từ chính sách của Nhà nước và sự tiếp sức của cộng đồng anh chị em thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sỹ đã phát huy truyền thống, năng lực, sở trường của mình trong hoàn cảnh mới để xứng đáng là những “Công dân kiểu mẫu”, những “Gia đình cách mạng gương mẫu”. Nhiều người trong số đó đã trở thành những nhà khoa học xuất sắc, thành những người làm ăn giỏi hoặc đang đảm đương những trọng trách là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý ở nhiều lĩnh vực từ Trung ương đến cơ sở, một số đã được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới.

Những thành tựu nói trên không chỉ góp phần ổn định và nâng cao mức sống của thương binh, gia đình liệt sỹ mà còn góp phần ổn định tình hình chính trị xã hội trên địa bàn, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, có tác dụng giáo dục toàn dân, đặc biệt là thế hệ trẻ về lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Điều có ý nghĩa hết sức quan trọng là tự những kết quả của những năm thực hiện chính sách ưu đãi và chăm sóc thương binh, liệt sĩ, chúng ta có thể rút ra nhiều bài học để đẩy mạnh toàn diện công tác này, nhằm đạt mục tiêu mà Đại hội lần thứ IX của Đảng đã nêu ra: “Chăm lo tốt hơn đối với các gia đình chính sách và những người có công với cách mạng, bảo đảm tất cả các gia đình chính sách có cuộc sống bằng hoặc khá hơn mức sống trung bình so với người dân địa phương trên cơ sở kết hợp 3 nguồn lực: Nhà nước, cộng đồng và cá nhân đối tượng chính sách tự vươn lên”. Đó cũng là điều mong ước của Bác trong thư Người gửi Bộ trưởng Bộ Thương binh – Cựu binh (tháng 7 năm 1951) là làm cho thương binh, gia đình liệt sỹ được “yên ổn về vật chất, vui vẻ về tinh thần và có dịp tham gia hoạt động ích lợi cho xã hội”./

Theo uongnuocnhonguon.vn
Phương Thúy (st).
bqllang.gov.vn

Xuất xứ tên gọi Bộ đội Cụ Hồ

xuatxutengoibodoicuho

Suối nguồn Việt Bắc” – tranh sơn dầu của họa sỹ Phan Thăng (Ảnh: A.V) (Internet)

Mùa Thu năm Ất Dậu (1945), Cách mạng Tháng Tám thành công, các chiến sỹ giải phóng quân từ chiến khu Việt Bắc về Thủ đô Hà Nội. Do yêu cầu bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, để chuẩn bị đối phó với âm mưu của bọn phản động, của thực dân Pháp đang chống phá cách mạng, hòng tái xâm lược nước ta lần nữa, ta gấp rút xây dựng các đơn vị chủ lực và thành lập dân quân tự vệ. Các quân nhân cách mạng hồi đó còn nghèo, chưa có quân trang, quân phục thống nhất.

Chỉ phân biệt ở phù hiệu đính trên mũ ca lô: Lính chủ lực thì phù hiệu nền đỏ sao vàng hình tròn, tự vệ dân quân thì phù hiệu nền đỏ sao vàng hình vuông. Hình ảnh anh Giải phóng quân lần đầu tiên xuất hiện trên văn đàn mới chỉ vẻn vẹn mấy dòng thân thương: “Trên đường phố, các anh đi hàng một theo lối đi rừng, mắt không hề nhìn hai bên phố các cửa hàng cửa hiệu đèn điện sáng trưng” (“Một lần tới Thủ đô” – Bút ký của Trần Đăng). Các chiến sỹ của ta thiếu thốn đủ bề, nhưng kỷ luật rất nghiêm, bảo vệ hiệu quả trật tự an ninh phố phường và đặc biệt rất ôn tồn, lễ phép, quý trọng nhân dân.

Đầu năm 1946, theo Hiệp định sơ bộ (ngày 6 tháng 3), ta đồng ý cho quân đội Đồng minh vào Việt Nam giải giáp quân Nhật, từ vĩ tuyến 16 trở vào do quân Anh, từ vĩ tuyến 16 trở ra do quân của Trung Hoa dân quốc Tưởng Giới Thạch. Theo chân bọn Tàu Tưởng là các đảng phái phản động như Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân Đảng của nhóm Nguyễn Tường Tam), Việt Cách (Việt Nam cách mạng đồng minh của nhóm Nguyễn Hải Thần). Chúng cũng mộ lính chiếm đóng nhiều nơi, ở Hà Nội bọn chúng chốt đông nhất ở Ô Quan Chưởng, ở phố Ôn Như Hầu, ăn vận quần áo y hệt lính Tàu. Quân lính Tàu Tưởng nhếch nhác, ô hợp đã đành, quân lính Việt Quốc, Việt Cách càng tệ hại hơn. Chúng ngang nhiên hạch sách, hà hiếp dân lành. Đã đến lúc không thể đánh đồng anh lính cách mạng với bọn “lính kẻ cướp” ấy, do yêu cầu tất yếu của quần chúng mà hai tiếng “Bộ đội” thiêng liêng, thân mật ra đời, để gọi tên quân đội đằng mình (phải chăng vì quân ta hồi đó chỉ có bộ binh nên mới gọi là “Bộ đội”?).

Cho đến nay, chưa thấy ai công bố văn bản đầu tiên xuất hiện hai tiếng “Bộ đội”, nhưng chắc chắn rằng, từ ghép “Bộ đội” không thể xuất hiện trước ngày 22 tháng 12 năm 1944. Những năm đầu cách mạng, chỉ có các em thiếu nhi mới gọi Bác Hồ là Bác:

Ai yêu Bác Hồ Chí Minh
Bằng thiếu nhi Việt Nam.

(Ca khúc của Phong Nhã)

Trung Thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng…

(Thơ Hồ Chủ tịch -1948)

Hồi đó, ở Trung ương Chính phủ, mọi người vẫn kính cẩn gọi Người là “Cụ Chủ tịch”, nhân dân vẫn thân mật gọi Người là Già Hồ: “Ứng lời Già Hồ, dự ngày kháng chiến, bắt đầu mang biển đi dán khắp nơi, rợp đất rợp trời, có hai biểu ngữ: Quyết chống giặc dữ bọn chó xâm lăng và giết hết mọi thằng Việt gian bán nước…” (Báo Thiếu niên – 1946).

Còn phần lớn đều gọi Người là Ông Cụ là Cụ Hồ (Bài thơ “Muối Cụ Hồ” của Bàn Tài Đoàn – 1948), “Cơm chữ Cụ Hồ, phải đánh Tây mà giữ” (Thơ của Trung Anh – 1948), “Cụ Hồ với dân, như chân với tay, như chày với cối, như cội với cành…” (Hò giã gạo Bình Trị Thiên), hay “Tháp Mười đẹp nhất bông sen; Nước Nam đẹp nhất có tên Cụ Hồ” (Bảo Định Giang)… Còn hai tiếng “Bác Hồ” thân thương, trìu mến mới xuất hiện về sau. Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp ở núi rừng Việt Bắc “Thủ đô gió ngàn”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng cán bộ Trung ương cùng chung “ăn ngô nếp nướng… chén thịt rừng quay” như anh em trong một gia đình nên ai ai cũng gọi Người là Bác và Người gọi anh em cộng sự là “các cô các chú”…

Lại nhớ đầu năm 1946, cả nước ta, nhất là ở Hà Nội, nhân dân cơ khổ vì bọn Tàu Tưởng, rất bất bình với bọn Việt Quốc, Việt Cách. Ở chợ Đồng Xuân, chợ Bắc Qua, nơi buôn bán sầm uất đô hội nhất Hà Thành, bọn chúng ăn quỵt, mua cướp trắng trợn, bà con tiểu thương tẩy chay bất hợp tác, thậm chí còn gõ xoong, gõ nồi la ó như đuổi tà. Bà con nói thẳng vào mặt chúng: “Nhìn các anh Bộ đội Cụ Hồ kia kìa! Người nhà của chúng tao đấy! Còn chúng mày, bám gót quan thầy về đây, chỉ là quân phá hoại, đồ Việt gian bán nước!”.

Từ đó, rất tự nhiên, Bộ đội Cụ Hồ trở thành tên gọi thiêng liêng. Trên thế giới, có lẽ hiếm có một dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, cả nước đều là “đồng bào” (chung một bọc) và gọi lực lượng vũ trang của mình là Bộ đội Cụ Hồ!

Theo Báo Nghệ An
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Mở mặt trận trên không thắng lợi

 – Ngày 5/4/1965, sau sự kiện Không quân nhân dân Việt Nam lần đầu xuất kích đánh to và thắng lớn không lực Hoa Kỳ trong 2 ngày 3 và 4/4/1965, đặc biệt là trên bầu trời bảo vệ cầu Hàm Rồng (Thanh Hoá),  Bác Hồ đã gửi thư khen ngợi:

“Các chú đã chiến đấu dũng cảm, đã tiêu diệt máy bay Mỹ. Các chú đã thực hiện được khẩu hiệu “Đã đánh là thắng”. Như thế là xứng đáng với truyền thống của quân và dân ta. Bác gửi lời khen ngợi các chú và nhắc các chú luôn luôn phải: Nâng cao tinh thần quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thắng không kiêu, khó không nản. Ra sức rèn luyện để tiến bộ mãi mãi. Đoàn kết chặt chẽ với các đơn vị bạn và với nhân dân.Chúc các chú lập nhiều chiến công hơn nữa”.

Bác Hồ thăm một đơn vị không quânBác Hồ thăm một đơn vị không quân

Cách đó hơn một thập kỷ, ngay sau khi tiếp quản sân bay Gia Lâm (10/1954), Ban Nghiên cứu sân bay được thành lập và đến năm 1959 thì chuyển thành Cục Không quân. Năm 1963 thành lập lực luợng Phòng không-Không quân với 2 trung đoàn vận tải và huấn luyện trong khi đó lực lượng không quân tiêm kích đang được huấn luyện ở nước ngoài.

Ngày 5/8/1964, Mỹ phát động cuộc Chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, thì ngay ngày hôm sau Trung đoàn tiêm kích mang phiên hiệu 921 được trang bị loại máy bay MIG17 đã hạ cánh xuống sân bay quân sự Nội Bài. Ngày 9/11/1964, Bác đến thăm Trung đoàn và căn dặn: “Tổ tiên ta ngày xưa đã có những chiến công oanh liệt trên sông, biển như Bạch Đằng, Hàm Tử… trên bộ như Chi Lăng, Vạn Kiếp, Đống Đa. Ngày nay chúng ta phải mở mặt trận trên không thắng lợi. Trách nhiệm này trước hết là của các chú”.

Và ngày 3/4/1965, biên đội đầu tiên do phi công Phạm Ngọc Lan chỉ huy đã xuất kích, nghênh chiến với máy bay của Không lực Hoa Kỳ trên bầu trời Hàm Rồng (Thanh Hoá) bắn rơi 2 máy bay F8U đầu tiên. Trong trận đánh tiếp theo diễn ra ngày 4/4, biên đội của Trần Hanh xuất kích lại bắn rơi 2 chiếc máy bay F5D hiện đại hơn; 3 phi công Phạm Giấy, Trần Nguyên Năm và Lê Minh Huân hy sinh là những liệt sĩ không chiến đầu tiên của binh chủng.

Cũng trong ngày 5/4/1965, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp nghe Bộ tư lệnh Quân chủng báo cáo và đi đến kết luận: Không quân ta có thể đánh thắng được Không quân Mỹ và Thường vụ Đảng uỷ Quân chúng cũng đưa ra kết luận: Đánh với đối tượng mạnh hơn ta, có số lượng đông, trang bị kỹ thuật hiện đại, người lái được huấn luyện có giờ bay cao, phải có cách đánh độc đáo phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Không quân Việt Nam, luôn tạo thế bất ngờ chủ động tấn công, phải mưu trí linh hoạt sáng tạo trong cách đánh”.

Kể từ đó, ngày 3/4 trở thành Ngày truyền thống của Không quân nhân dân Việt Nam anh hùng.

X&N
bee.net.vn

Lớp học viết báo “Huỳnh Thúc Kháng”

 – Ngày 18/7/1946, tiếp tục chuyến thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ các tầng lớp nhân dân ở nhiều địa phương, tìm hiểu đời sống và công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh của Chính phủ và nhân dân Pháp. Cùng trong ngày, Bác tiếp Tổng bí thư Đảng Cộng sản Pháp Maurice Thorez.

Tháng 7/1941, để động viên quần chúng tham gia cách mạng, Nguyễn Ái Quốc viết bài thơ “Hoan nghênh thanh niên học quân sự” gồm 44 câu theo thể lục bát.

Thơ có đoạn: “Nước ta mất đã lâu rồi/ Đồng bào cực khổ suốt đời gian nan/ Suốt đời chịu kiếp lầm than/ Sưu cao thuế nặng, cơ hàn xót xa! Vì ai tan cửa nát nhà?/ Chồng lìa vợ, con lìa cha tơi bời? Vì ai non nước giã rời/ Giống nòi sỉ nhục chơi vơi thế này? Vì giặc Nhật! vì giặc Tây!/” để đi đến kết luận: “… Muốn đánh Nhật, muốn đánh Tây/ Thanh niên ta phải ra đây học hành/ Một là học việc nhà binh/ Hai là học biết tình hình người ta/ Thanh niên là chủ nước nhà/ Phải cho oanh liệt mới là thanh niên”.

dNgày 7/1/1958, Bác tiếp Đoàn đại biểu ĐCS Pháp do đồng chí Gianet Vecmet dẫn đầu thăm VN.

Tháng 7/1949, Bác gửi thư cho lớp học viết báo mang tên “Huỳnh Thúc Kháng”. Là một nhà báo lão luyện, với tình đồng nghiệp Bác diễn giải: “Có thể thí dụ rằng, 3 tháng này các bạn đã học cửu chương. Còn muốn giỏi các phép tính thì phải học nữa, phải học mãi. Học ở đâu? Học với ai? Học trong xã hội, học nơi công tác thực tế, học ở quần chúng. Nếu các bạn viết báo mà quần chúng hiểu, quần chúng ham đọc, quần chúng khen hay, thế là các bạn tiến bộ. Trái lại, là các bạn chưa thành công. Các bạn nên thật thà phê bình ban huấn luyện, để các lớp sau học tập mỹ mãn hơn…”.

Cũng vào thời điểm tháng 7/1949, Bác viết thư gửi báo “Quân Du Kích” là tờ báo của Cục Dân quân là một thành phần tiền thân của báo “Quân Đội Nhân Dân” hiện tại.

Trong thư Bác viết: “Làm cho “Mỗi quốc dân là một chiến sĩ, mỗi xóm làng là một pháo đài. Làm cho Quân đội giặc đến đâu cũng bị khuấy, bị phá, bị diệt; bộ đội ta đến đâu cũng được giúp đỡ đầy đủ về vật chất và tinh thần. Đó là nhiệm vụ của báo: Quân Du Kích”.

Ngày 17/7/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc chuyến đi thăm hữu nghị chính thức Liên Xô đầu tiên. Phát biểu tại sân bay Moscow, Bác cảm ơn sự giúp đỡ của Liên Xô đối với sự nghiệp kháng chiến chống Pháp, đấu tranh ngoại giao ở Hội nghị Genève và đánh giá:

“Sự giúp đỡ vô tư ấy làm cho nhân dân Việt Nam thêm tin tưởng và thêm sức mạnh, đồng thời làm cho chúng tôi thấy rõ trách nhiệm to lớn của mình trong việc mau chóng khôi phục lại nền kinh tế, cải thiện đời sống và bồi dưỡng lực lượng của nhân dân”.

Ngày 18/7/1960, Bác đi thăm huyện Quảng Xương, một huyện nghèo nhất tỉnh Thanh Hoá, thăm trại nuôi dưỡng thương binh và trại an dưỡng của cán bộ miền Nam tập kết. Cùng ngày, trên báo “Nhân Dân” đăng bài “Nhà máy giúp đỡ nông thôn” nêu rõ mối quan hệ cần có giữa giai cấp công nhân với quảng đại quần chúng nông dân.

Bài báo cũng lưu ý: “Về phía nông thôn thì tuyệt đối không nên có tâm lý ỷ lại, cái gì cũng chờ Chính phủ, hoặc các đoàn thể giúp”. 

Tháng 7/1967, ghi nhận câu chuyện, Bác Hồ quan tâm đến điều kiện trực chiến của đơn vị phòng không bố trí trên nóc Hội trường Ba Đình nên đã cử cán bộ của mình lên khảo sát. Bác đã quyết định rút hết số tiền tiết kiệm mình đang có để chuyển cho quân đội bổ sung các thứ giải khát cho bộ đội trực chiến.

X&N
bee.net.vn

Nơi Bác Hồ định đô kháng chiến

Dòng sông lặng ngắt như tờ
Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo
Bốn bề phong cảnh vắng teo
Chỉ nghe cót két tiếng chèo thuyền nan
Lòng riêng riêng những bàn hoàn
Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng
Thuyền về trời đã rạng đông
Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi.

Thiếu nữ ở Thủ đô kháng chiến Tuyên Quang hôm nay. Ảnh: Đồng Khắc Thọ

Đó là bài thơ của Bác Hồ mang tựa đề Đi thuyền trên sông Đáy. Nhân đầu Xuân năm Rồng, tôi muốn nói đôi điều với chiến sĩ ta, nhìn từ phía lịch sử.

Dù chiến sĩ ta đã lên hay chưa lên Sơn Dương, Tuyên Quang hẳn đã nghe, đã đọc “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”. Tân Trào là “Thủ đô Khu giải phóng” trước năm 1945. Sự tôn danh dân dã thôi mà trở nên thiêng liêng cao quý, chứ đâu có văn bản quy pháp gì – ý dân là ý trời mà! Ý trời thành văn hẳn hoi, chẳng rõ tự bao giờ, là hai câu đối trong đình:

Để Giang tả bảo linh nguyên hội
Ngọc tỉnh hữu triều thụy Khí chung

Để Giang là tên chữ Hán của dòng sông, nôm na gọi sông Đáy Con, Tiểu Đáy. Tôi khi nghe lần đầu tên sông Phó Đáy lại nghĩ Phó là phụ, là thứ, là nhánh… của sông Đáy. Đâu phải! Ngọn nguồn như bao con sông khác: Những dòng suối nhỏ, những tia nước róc rách từ khe núi cao nhảy ra – con sông lớn chảy từ lòng suối nhỏ. Dòng Phó Đáy hợp lưu những dòng suối từ dãy núi Phia Bi Oóc trên Bắc Kạn, qua các huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn), Định Hóa (Thái Nguyên), Chiêm Hóa, Yên Sơn, Sơn Dương (Tuyên Quang) về gần trên ngã ba Việt Trì, Phú Thọ thì hòa chung vào dòng sông Lô lịch sử.

Năm 1953-1954, chính tôi là cán bộ TNXP, quân của Đoàn trưởng Vũ Kỳ, Đội trưởng đặc trách ATK Tạ Quang Chiến đóng quân bên này Chợ Chu, Định Hóa, bên kia Hùng Hợi, Yên Sơn.

Núi Hồng sừng sững như một trường thành cách ngăn địa giới hai tỉnh. Trong sách Bác Hồ với Thái Nguyên – Thái Nguyên với Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Tôi bàn với hai anh Tấn và Song Hào đề nghị Bác chọn Tân Trào vì Chợ Chu tuy cơ sở chính trị, kinh tế đều tốt nhưng có đường thông thương với Thái Nguyên dễ bị uy hiếp; còn Tân Trào dân cư có thưa thớt, kinh tế có khó khăn nhưng địa thế hiểm trở hơn. Châu Sơn Dương còn cách tỉnh lỵ Tuyên Quang bởi con sông Lô, tiện bảo vệ”.

Vậy là ngày 21-5-1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tân Trào, đặt cơ quan đầu não lãnh đạo công cuộc giành độc lập – nơi đây được tôn danh Thủ đô của Khu giải phóng gồm 6 tỉnh: Cao-Bắc-Lạng, Hà-Tuyên-Thái cho đến sau ngày 19-8, Người về Hà Nội. Rồi Toàn quốc kháng chiến, ngày 2-4-1947, Bác trở lại làng Sảo cũng thuộc Tân Trào, bắt đầu cuộc định đô mới, cùng tọa lạc bên “dòng sông nguồn thiêng Để Giang”.

Anh em đi tìm địa điểm mới đã thuộc lòng lời Bác dặn:

Trên có núi, dưới có sông
Có đất gieo trồng, có bãi vui chơi
Tiện đường sang Bộ Tổng
Thuận lối tới Trung ương
Nhà thoáng ráo, kín mái
Gần Dân, không gần đường.

Xin phép viết hoa chữ “dân” bởi chữ đó như cuộc đời máu thịt của Bác Hồ. Ngày ấy, chúng tôi thực hành triệt để kỷ luật “3 không”: Không biết, không hỏi, không nói. Xã Bình Yên có tới 7 thôn, 8 dân tộc anh em sinh sống. BKT12 chỉ ở gọn trong thung lũng đại ngàn bên tả ngạn Phó Đáy, nay là rộc ruộng trồng lúa.

Đường Hồ Chí Minh xuyên Việt từ Pác Bó sẽ qua Tân Trào – Thác Dẫng về Đền Hùng và đi khắp nước. Mong sao, Thác Dẫng nhanh chóng dựng xây một công trình – một tháp cao vút có ngôi sao chói sáng, xứng danh Hồ Chí Minh.

Trịnh Tố Long
qdnd.vn

Bác Hồ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Ngày 20-1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 110 phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp. Đến ngày 28-5-1948, tại buổi lễ phong quân hàm cho vị Đại tướng đầu tiên của Quân đội ta, Hồ Chủ tịch long trọng tuyên bố: “Nhân danh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trao cho chú chức vụ Đại tướng, để chú điều khiển binh sỹ, làm trọn sứ mệnh mà quốc dân phó thác”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25-8-1911, tại làng An Xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Thân sinh là cụ Võ Nguyên Thân – một nhà nho yêu nước và giàu chí khí. Cụ bị Pháp bắt ở Huế (khoảng 1946-1947). Chúng đánh cụ rất dã man và mắng: “Không biết dạy con, để con chống lại quân đội Pháp”. Cụ Thân cười bảo: “Tôi đẻ con ra, chưa kịp dạy thì nó đã bỏ nhà đi làm cách mạng. Chừ tôi muốn dạy con thì còn mô mà dạy? Vậy tôi nhờ quân đội Pháp hùng mạnh đi bắt giúp con tôi về đây để tôi dạy thử, coi con tôi có chịu nghe không”. Chúng lại càng điên cuồng tra tấn nhưng vẫn không moi được một lời khai nào, sau đó chúng đã thủ tiêu cụ.

Từ bé, Đại tướng đã được cụ thân sinh dạy học tại nhà và sau đó đi học ở trường làng. Đại tướng luôn được bố mẹ rèn cặp, hun đúc lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Đến năm 13 tuổi, Đại tướng vào học ở trường Quốc học Huế, sau ra Hà Nội học tiếp và đã hăng hái tham gia các hoạt động yêu nước của sinh viên, học sinh. Năm 1929, Đại tướng tham gia cải tổ Tân Việt Cách mạng Đảng thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, sau đó tiếp tục hoạt động trên lĩnh vực văn hóa – giáo dục, làm thầy giáo dạy lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long và có nhiều bài viết cho các tờ báo ra công khai lúc bấy giờ như Tin Tức, Nhân Dân, Lao Động. Giai đoạn 1936-1939, Đại tướng là một trong những người sáng lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương và có nhiều hoạt động nổi bật về vấn đề đấu tranh đòi ruộng đất cho nông dân. Sau thời kỳ này, Đại tướng đã ra nước ngoài, hoạt động trong phong trào hải ngoại ở Trung Quốc.

Tháng 6-1940, Đại tướng được gặp Bác Hồ lần đầu tiên ở Thúy Hồ (Trung Quốc). Được sự dìu dắt của Bác, ngay trong năm 1940, Đại tướng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ năm 1941, Đại tướng trở về nước hoạt động, tích cực tham gia thành lập Mặt trận Việt Minh và được giao phụ trách Ban Xung phong Nam tiến.

Cuối năm 1944, Bác Hồ tin tưởng giao cho Đại tướng chọn lựa những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất với những vũ khí tốt nhất, lập thành một đội vũ trang mang tên là “Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân”. Bác đã nói: Việc quân sự thì giao cho chú Văn (Văn là bí danh của Đại tướng). Sau một thời gian chuẩn bị, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập vào ngày 22-12-1944, tại một khu rừng ở châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Sau này, khu rừng ấy được đặt tên là khu rừng Trần Hưng Đạo, còn Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chính là tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trước khi thành lập, Bác nói với Đại tướng là trong vòng một tháng phải có hoạt động. Điều kỳ diệu là chỉ hai hôm sau, vào ngày 24 và 25-12-1944, Đội đã liên tiếp đánh thắng hai trận vang dội, diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần của địch.

Trong những ngày cả nước sục sôi khí thế cách mạng, khi chiến tranh thế giới lần thứ II đã dần ngã ngũ với thắng lợi thuộc về phe đồng minh thì ở căn cứ Việt Bắc, Bác bị ốm rất nặng. Lúc này, cán bộ Trung ương ở bên cạnh Bác chỉ có Đại tướng. Bác sốt liên tục, hễ tỉnh lại lúc nào là nói chuyện tình hình và nhiệm vụ cách mạng như có ý dặn lại mọi việc với Đại tướng. Trong những điều Bác dặn dò ấy, có một câu nói đã mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc: “Lúc này, thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh đến đâu, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho được độc lập!”.

Cách mạng Tháng Tám vừa thành công thì thù trong giặc ngoài ráo riết chống phá, hòng bóp chết Nhà nước Cộng hòa non trẻ. Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo ra sức chèo lái vận mệnh sơn hà và đã phải nhân nhượng với kẻ thù nhiều điều nhằm kéo dài thời gian hòa hoãn, chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến. Song những nhân nhượng ấy cũng có một số cán bộ chưa đồng tình. Để thông suốt chủ trương, trong một cuộc họp, Bác đã hỏi: “Mình đứng đây, cái bục ở đây – Bác chỉ vào cái bục ở ngay trước ngực – Mình có thể nhảy qua cái bục này được không?”. Mọi người ngạc nhiên, chưa biết Bác định nói gì, thì Bác chỉ tay vào Đại tướng: “Chú Giáp! Chú là người giỏi văn, giỏi võ, chú thấy có thể nhảy qua được không?”. Đại tướng từ tốn trả lời: “Thưa Bác! Có thể nhảy qua được với một điều kiện”. Bác hỏi tiếp: “Điều kiện gì?”. Đại tướng bình tĩnh đáp: “Thưa Bác! Mình phải lùi lại một khoảng để lấy đà”. Bác liền khen: “Chú nói đúng! Chúng ta nhân nhượng với giặc chính là đang lùi lại để lấy đà đấy!”.

Đến một cuộc họp Hội đồng Chính phủ sau đó, Bác Hồ hỏi Đại tướng: “Nếu địch mở rộng chiến tranh trên miền Bắc, Hà Nội có thể giữ được bao lâu?”, Đại tướng trả lời: “Thưa Bác! Có thể giữ được một tháng”. Bác lại hỏi: “Các thành phố khác thì sao?”, Đại tướng trả lời: “Các thành phố khác thì ít khó khăn hơn”. Bác hỏi tiếp: “Còn vùng nông thôn?”, Đại tướng trả lời: “Vùng nông thôn ta nhất định giữ được”.  Sự trả lời vững vàng của Đại tướng làm cho Bác nhanh chóng quyết định “Ta lại trở về Tân Trào”,  chọn căn cứ địa Việt Bắc làm Thủ đô kháng chiến. (Thực tế khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, chúng ta đã giữ được Hà Nội hơn 2 tháng).

Xuân Mậu Tý 1948, tại chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ đã ra một vế đối: “Giáp phải giải pháp”, ý nói Đại tướng Võ Nguyên Giáp phải chỉ huy quân đội đánh thắng giặc Pháp, nhưng vế đối khó ở chỗ 2 chữ Giáp phải khi nói lái sẽ trở thành giải pháp. Mọi người còn đang đăm chiêu suy nghĩ thì ông Tôn Quang Phiệt đứng lên xin đối là: “Hiến tài hái tiền”. Hiến chỉ Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến và Hiến tài  nói lái sẽ trở thành hái tiền. Thật là hay! Vế xướng nói về kháng chiến, vế đối nói về kiến quốc, chính là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta trong thời kỳ này.

Cuối năm 1953, Đại tướng được giao nhiệm vụ ra mặt trận làm Tổng tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trước khi Đại tướng lên đường, Bác Hồ đã căn dặn: “Chú ra mặt trận, tướng quân tại ngoại, có toàn quyền quyết định. Trận này rất quan trọng. Các chú nhất định phải thắng. Chắc thắng thì đánh. Không chắc thắng, không đánh”. Nhớ lời căn dặn của Bác, khi đến Điện Biên Phủ, trực tiếp theo dõi tình hình địch suốt 11 ngày đêm, thấy địch đã xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố, Đại tướng xét thấy phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” không bảo đảm chắc thắng. Từ đó, Đại tướng đã quyết định thay đổi phương châm từ đánh nhanh, giải quyết nhanh thành đánh chắc, tiến chắc. Thực tế đã chứng minh sự thay đổi ấy là một yếu tố cực kỳ quan trọng để làm nên Chiến thắng  lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu và Bác Hồ đã gọi đó là “cây cột mốc bằng vàng”.

Những chiến công của quân đội ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ luôn gắn liền với tên tuổi của Đại tướng. Là một vị tướng lừng danh thế giới, nhưng Đại tướng luôn coi mình là người học trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hiện nay, Đại tướng là Chủ tịch danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Đại tướng thường kể lại với mọi người về những ấn tượng sâu sắc trong lần đầu tiên được gặp Bác Hồ: “Ngay từ đầu, tôi đã cảm thấy như mình được ở rất gần Bác, được quen biết Bác từ lâu rồi! ở Bác toát ra một cái gì đó rất trong sáng, gần gũi. Một điều làm tôi  hết sức cảm phục là khi nói chuyện với tôi, Bác nói rất nhiều tiếng địa phương. Tôi không ngờ một người xa đất nước lâu năm như Bác mà vẫn giữ được nguyên vẹn tiếng nói của quê hương…”

Theo Báo Bắc Ninh

hcmpc.com.vn

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng về Đảng lãnh đạo quân đội là một bộ phận hợp thành, giữ vai trò trọng yếu trong tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng của Người về tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Ngay từ đầu năm 1930, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề “tổ chức ra quân đội công nông”(1) và trong suốt quá trình xây dựng, giáo dục và rèn luyện Quân đội ta, Người đã yêu cầu “Xây dựng quân đội – một quân đội nhân dân thật mạnh, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng”(2). Người nói: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(3). Người nhiều lần nhắc nhở “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội”(4), bởi theo Người đó là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, sức chiến đấu và chiến thắng của Quân đội ta.

Để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc thiết lập hệ thống tổ chức đảng trong quân đội từ Quân uỷ Trung ương đến các tổ chức đảng ở cơ sở; đồng thời tổ chức quân đội theo những nguyên tắc tổ chức phù hợp với đường lối chính trị, quân sự và tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay từ đội vũ trang đầu tiên – Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Người đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng theo mô hình lấy chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh đạo, có đại diện của Đảng (chính trị viên) bên cạnh người chỉ huy quân sự để chăm lo công tác chính trị. Bằng công tác tư tưởng, Hồ Chí Minh yêu cầu phải thường xuyên giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội lòng trung thành với Đảng. Sự trung thành ấy thể hiện trước hết ở chỗ phải trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, phải làm cho mọi quân nhân sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; phải lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho các hoạt động của quân đội. Hồ Chí Minh yêu cầu sự trung thành của quân đội đối với Đảng phải được thể hiện ở việc hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho, mà trước hết là hoàn thành thật tốt chức năng chiến đấu, đánh thắng mọi kẻ thù. Trong lần về thăm Trường Chính trị trung cấp quân đội (tháng 10-1951), Người nói: “Riêng về các chú, chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc. Học chính cương, chính sách rồi thì phải thực hiện. Nếu thuộc lầu mà không biết đánh giặc thì vô dụng”(5). Trong buổi chiêu đãi mừng Quân đội ta 20 tuổi, Người đã khen ngợi: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(6). Đó vừa là sự khẳng định bản chất, truyền thống và mục tiêu chiến đấu của Quân đội, vừa là yêu cầu có tính nguyên tắc của Hồ Chí Minh đối với mọi hoạt động của Quân đội.

Lịch sử hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta đã chứng tỏ tư tưởng của Hồ Chí Minh về Đảng lãnh đạo quân đội luôn luôn được quán triệt sâu sắc. Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, thực sự là công cụ sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng Quân đội ta theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại đang đứng trước nhiều thuận lợi và thách thức to lớn. Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc thời kỳ hậu gia nhập WTO có nhiều nội dung mới, đòi hỏi quân đội phải thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, đủ sức làm nòng cốt cho toàn dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và chế độ XHCN trong mọi tình huống. Đồng thời, những biến đổi kinh tế-xã hội to lớn ở trong nước gắn liền với tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp đang tác động đa chiều đến việc giữ vững bản chất cách mạng và sức mạnh chiến đấu của Quân đội; trong đó phải kể đến những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch hòng “phi chính trị hóa” quân đội, tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội ta. Những vấn đề đó đang đòi hỏi việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội theo Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được đặt lên hàng đầu.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong giai đoạn hiện nay, cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp về tổ chức, tư tưởng và chính sách, mà trước hết là đẩy mạnh công tác xây dựng đảng, để Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, lãnh đạo Quân đội trong thời kỳ mới, bởi theo Hồ Chí Minh “Đảng có vững, cách mệnh mới thành công”. Vì vậy, một mặt, cần tiếp tục đi sâu, thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng với những yêu cầu, biện pháp mới, phù hợp; đồng thời tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; mặt khác, cần tiếp tục thực hiện nghiêm túc các Quy định số 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115-QĐ/TW ngày 20-8-2004 về chức năng, nhiệm vụ của 8 loại hình tổ chức đảng trong Quân đội và “Xây dựng, bổ sung cơ chế lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước đối với hoạt động quốc phòng, an ninh”(7), chỉ đạo tốt việc thực hiện Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 20-7-2005 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”; đồng thời đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, làm thấu triệt trong toàn xã hội nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội.

Hai là, tăng cường xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh (TSVM); tập trung vào nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng. Trong giai đoạn hiện nay, cần hết sức quan tâm nâng cao năng lực của các cấp uỷ đảng trong việc quán triệt và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng; nâng cao tính tiền phong gương mẫu của đảng viên, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, gắn chặt công tác rèn luyện, quản lý đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng đội ngũ cấp uỷ viên với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, xây dựng tổ chức đảng TSVM với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; tích cực tìm các giải pháp tăng cường vững chắc số chi bộ đại đội có cấp uỷ, chăm lo xây dựng cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị để nâng cao tính hiệu lực và hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội.

Ba là, làm tốt hơn nữa công tác giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng trong Quân đội, đặc biệt là ở cơ sở; làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội hiểu sâu sắc nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội, cùng những nội dung mới trong tư duy của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc được Đại hội X của Đảng xác định. Đó là “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ”. Trên cơ sở đó, mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội tự giác rèn luyện, phấn đấu, góp phần cùng toàn quân hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng và Tổ quốc giao phó, tiếp tục xứng đáng là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 3, tr.1. (2) Sđd, tập 7, tr.220. (3,6) Sđd, tập 11, tr.350. (4) Sđd, tập 7, tr.14. (5) Sđd, tập 6, tr. 319. (7) Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ X, NXBCTQG, H.2006, tr.111.

THIẾU TƯỚNG, PGS, TS. NGUYỄN NGỌC HỒI
Phó tổng Biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân

xaydungdang.org.vn