Thư viện

Bác Hồ và những vị tướng đầu tiên của Quân đội ta

Lễ tấn phong các vị tướng lẽ ra tổ chức vào ngày 27/5/1948, nhưng vì nước lũ to nên phải lùi sang ngày hôm sau.

– Ngày 28/5/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp của Hội đồng Chính phủ và một sự kiện quan trọng: lễ tấn phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp. 

Từ ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh phong các vị tướng lĩnh đầu tiên của Quân đội ta, gồm: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Nguyễn Bình và các Thiếu tướng: Nguyễn Sơn, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa và Trần Tử Bình.

 Bác Hồ và đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm ngày thành lập QQĐNDVN năm 1962.jpg (76KB)Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp chụp nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1962

Lễ tấn phong lẽ ra được Chính phủ tổ chức vào ngày 27/5, nhưng vì nước lũ to nên các đại biểu từ các nơi trên chiến khu về chậm phải lùi sang ngày hôm sau. Hồi ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến ghi lại:

“Trong một căn nhà dựng bên cạnh suối lớn, dựa một bên núi, cây cối che phủ kín… Một phòng trưng bày đặc biệt. Có bàn thờ Tổ quốc, chung quanh băng đỏ ghi các khẩu hiệu: ”Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”, “Thống nhất độc lập nhất định thành công”. Sự trưng bày đơn giản mà trang nghiêm.

Đến giờ làm lễ, Hồ Chủ tịch và cụ Trưởng ban Thường trực Quốc hội lên đứng 2 bên bàn thờ, toàn thể nhân viên Chánh phủ đứng sắp hàng trước bàn thờ. Hồ Chủ tịch tay cầm sắc lệnh gọi Võ Nguyên Giáp lên trước bàn thờ, rồi Cụ nín lặng, sụt sùi rơi nước mắt mà không nói được tiếng gì…

Giây lâu, Hồ Chủ tịch mới cất được tiếng mà tuyên bố: “Nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trao cho chú chức vụ Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ làm tròn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho”.

Võ Nguyên Giáp nhận sắc lệnh… Cụ Trưởng ban Thường trực thay mặt Quốc hội tuyên bố mấy lời. Ông Phan Anh thay mặt Chính phủ nói mấy câu chúc mừng. Cuối cùng, Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhân danh bộ đội tỏ lời mừng của toàn thể bộ đội và nêu cao tinh thần phấn đấu anh dũng dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Sau cùng Võ Nguyên Giáp đứng lên cảm ơn Hồ Chủ tịch, Quốc hội và Chánh phủ và tuyên bố sẽ tiếp tục nỗ lực làm tròn nhiệm vụ để đem lại độc lập và thống nhất cho đất nước…

Sau khi hết lễ, ai nấy ngồi chung quanh Hồ Chủ tịch và nghe Cụ nói sự xúc cảm của Cụ trong buổi lễ… 12 giờ đêm, xong các cuộc hội nghị Hồ Chủ tịch từ giã chúng mình ra về và dặn ai nấy sáng mai nên phân tán cho sớm…”.

Khi sự kiện này được công bố trên Đài Tiếng nói Việt Nam, có phóng viên phương Tây hỏi Bác việc phong tướng này được tiến hành dựa trên tiêu chuẩn nào? Bác trả lời giản dị: “Đánh thắng đại tá thì phong đại tá. Đánh thắng thiếu tướng, phong thiếu tướng. Đánh thắng trung tướng, phong trung tướng. Thắng đại tướng, phong đại tướng!”.

X&N
Vkyno (st)

Bác Hồ với Quân đội nhân dân Việt Nam qua những bức ảnh

(Dân trí) – Từ đội tuyên truyền giải phóng quân đến những cuộc trường chinh vĩ đại giải phóng dân tộc đều mang đậm dấu ấn của vị Cha già dân tộc – người luôn dõi theo từng bước phát triển của lực lượng vũ trang chính quy – Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo (huyện Nguyên Bình, tinh Cao Bằng) với 34 chiến sĩ. Đây được coi là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam – lực lượng vũ trang “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ”.

Trong 68 năm hình thành và phát triển, Quân đội nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sinh thời, Bác Hồ đã dành những tình cảm yêu mến đối với những người “đầu sóng ngọn gió”, ngày đêm chịu đựng gian khổ và hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Dù bận nhiều công việc, Người vẫn dành thời gian chăm sóc và giáo dục, rèn luyện các lực lượng vũ trang nhân dân. Trong các chiến dịch lớn, Bác luôn dành thời gian đi thăm, động viên các đơn vị bộ đội. Và sau mỗi chiến dịch, mỗi thắng – bại của cuộc trường chinh vĩ đại, Người luôn kịp thời động viên, biểu dương các cá nhân, đơn vị lập công xuất sắc và phê bình những việc của tốt của cán bộ, chiến sĩ.

Ngay cả khi trước lúc đi xa, người để lại di chúc căn dặn Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân ta phải làm tốt chính sách đền ơn, đáp nghĩa đối với những người đã hi sinh một phần xương máu cho sự nghiệp cứu nước.

Sự quan tâm của Bác đối với lực lượng vũ trang nhân dân thể hiện bằng những việc làm cụ thể, bình dị nhưng chứa chan tình cảm của vị Cha già dân tộc. Và cũng vinh dự và tự hào thay, lực lượng chính quy, tinh nhuệ này đã được gọi với cái tên hết sức thân mật – Bộ đội cụ Hồ.

Bác Hồ với Quân đội nhân dân Việt Nam qua những bức ảnhChủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước họp bàn quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ

Gắn huy hiệu chiến sĩ Điện Biên cho bộ đội xuất sắc
Gắn huy hiệu chiến sĩ Điện Biên cho bộ đội xuất sắc

Gắn huy hiệu chiến sĩ Điện Biên cho bộ đội xuất sắc
Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 16 tại Đền Hùng (Phú Thọ): “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”

Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ đơn vị 600 tại Na Đỏong, Trung Sơn, Yên Sơn năm 1953
Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ đơn vị 600 tại Na Đỏong, Trung Sơn, Yên Sơn năm 1953

với cán bộ chiến sĩ quân đoàn 1146
với cán bộ chiến sĩ quân đoàn 1146

Bác Hồ quan sát trận địa ở chiến dịch Biên giới 1950
Bác Hồ quan sát trận địa ở chiến dịch Biên giới 1950

Bác Hồ nói chuyện với cán bộ chiến sĩ pháo phòng không năm 1950Bác Hồ nói chuyện với cán bộ chiến sĩ pháo phòng không năm 1950

Với cán bộ, chiến sĩ quân khu 4 năm 1957Với cán bộ, chiến sĩ quân khu 4 năm 1957

Với cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 938
Với cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 938

Bác Hồ thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ bộ đội tỉnh Cao Bằng
Bác Hồ thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ bộ đội tỉnh Cao Bằng

Thăm một đơn vị Hải quân năm 1954
Thăm một đơn vị Hải quân năm 1954

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bộ đội diễn tập năm 1957
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bộ đội diễn tập năm 1957

Thăm bộ đội Hải quân bảo vệ bờ biển tỉnh Quảng Ninh năm 1957
Thăm bộ đội Hải quân bảo vệ bờ biển tỉnh Quảng Ninh năm 1957

Bác Hồ chụp ảnh lưu niệm cùng bộ đội giải phóng miền Nam ngày 20/12/1962
Bác Hồ chụp ảnh lưu niệm cùng bộ đội giải phóng miền Nam ngày 20/12/1962

Tặng Huy hiệu cho các chiến sĩ lập công xuất sắc
Tặng Huy hiệu cho các chiến sĩ lập công xuất sắc

Giản dị đến tham dự triển lãm công binh
Giản dị đến tham dự triển lãm công binh

Bác Hồ thăm một đơn vị miền Nam tập kết năm 1957Bác Hồ thăm một đơn vị miền Nam tập kết năm 1957

Thăm đơn vị đảm bảo kỹ thuật đường băng thuộc quân chủng Phòng không - Không quân vào Tết Đinh MùiThăm đơn vị đảm bảo kỹ thuật đường băng thuộc quân chủng Phòng không – Không quân vào Tết Đinh Mùi

Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ quân đoàn 768 - lực lượng phòng không bảo vệ thủ đô năm 1966
Bác Hồ với cán bộ, chiến sĩ quân đoàn 768 – lực lượng phòng không bảo vệ thủ đô năm 1966

Bác đến thăm một cán bộ phòng không tại xã Phú Cường, Sóc Sơn, Hà Nội tháng 12/1967
Bác đến thăm một cán bộ phòng không tại xã Phú Cường, Sóc Sơn, Hà Nội tháng 12/1967

Tặng quà Tết và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ đoàn không quân Sao Vàng năm 1967
Tặng quà Tết và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ đoàn không quân Sao Vàng năm 1967

Nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ kỹ thuật xưởng máy bay A3 ngày 25/9/1966
Nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ kỹ thuật xưởng máy bay A3 ngày 25/9/1966

Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ quân đoàn 209
Nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ quân đoàn 209

Bác Hồ ăn cơm cùng bộ đội Hải quân
Bác Hồ ăn cơm cùng bộ đội Hải quân

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Hoàng Lam
Ảnh : Tư liệu
dantri.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, pháp luật, kỷ luật trong Quân đội

6TTHCM ve van hoa ky luat trong quan doi

Tư tưởng về giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật trong Quân đội là một nội dung trong hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh. “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”(1). Do đó, việc quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật của Quân đội có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trình độ văn hoá pháp luật của quân nhân.

Văn hoá pháp luật trong Quân đội là một bộ phận, một biểu hiện của văn hoá nói chung, là tổng hoà những tri thức, tình cảm, hành vi ứng xử của quân nhân đối với pháp luật, với nền pháp chế và hệ thống quan hệ pháp luật. Văn hoá pháp luật của quân nhân biểu hiện tập trung ở sự hiểu biết sâu sắc, sự nhất trí và lòng tin vào pháp luật Nhà nước, điều lệnh kỷ luật quân đội, tự giác hành động theo pháp luật của Nhà nước, điều lệnh kỷ luật quân đội. Bởi vậy, muốn có văn hoá pháp luật, kỷ luật tự giác nghiêm minh, con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất là phải học tập chính cương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh kỷ luật của Quân đội. Phải thực hiện phương châm: “Mỗi mệnh lệnh đưa xuống, cấp trên đã thảo luận cân nhắc kỹ càng nên cấp dưới phải phục tùng và kiên quyết chấp hành…”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến các biện pháp bồi dưỡng, nâng cao trình độ văn hoá pháp luật, kỷ luật cho quân nhân. Nghiên cứu tư tưởng của Người, có thể thấy:

Thứ nhất, chú trọng giáo dục tri thức pháp luật, kỷ luật, xây dựng ý thức tự giác và bản lĩnh chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội.

Văn hoá pháp luật, kỷ luật của quân nhân được hình thành phát triển trên cơ sở có nhận thức, hiểu biết sâu sắc, sự nhất trí, lòng tin tưởng tuyệt đối vào pháp luật của Nhà nước, điều lệnh kỷ luật của Quân đội và hành vi tự giác chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật. Trong giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật cho cán bộ, chiến sỹ, Bác dạy phải chăm lo giáo dục những tri thức về pháp luật, điều lệnh, điều lệnh của Quân đội, chỉ rõ những điều nên làm và không nên làm: “Đối với mỗi công tác quan trọng, cần phải làm cho mọi người hiểu cái gì nên làm, cái gì nên tránh, thế nào là đúng, thế nào là sai kỷ luật của Đảng. Như vậy kỷ luật của Đảng sẽ được bảo đảm, công tác của Đảng sẽ được thuận lợi, nhiệm vụ của Đảng sẽ chắc chắn hoàn thành”(3). Cùng với việc giáo dục tri thức pháp luật, cần khơi dậy ý thức tự giác chấp hành nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh của Quân đội. Phải làm cho bộ đội có nhận thức đúng đắn, sâu sắc nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ của đơn vị, quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; thấy rõ ý nghĩa, tầm quan trọng, yêu cầu khách quan của việc chấp hành pháp luật, kỷ luật, trên cơ sở đó có thái độ, động cơ, ý chí, trách nhiệm, tinh thần đoàn kết và ý thức tự giác chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật.

Hai là, phát huy vai trò trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị trong bồi dưỡng văn hoá pháp luật.

Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy là người chịu trách nhiệm về mọi mặt của đơn vị. Nhận thức sâu sắc vị trí trách nhiệm của mình, cán bộ quản lý, chỉ huy các cấp thường xuyên nêu cao trách nhiệm và năng động, sáng tạo đổi mới hình thức, biện pháp, phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng, nâng cao chất lượng giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật, đồng thời tổ chức, quản lý đơn vị chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật. Mặt khác, bản thân mỗi cán bộ quản lý, chỉ huy cần tự tu dưỡng, tự rèn luyện, “phải làm gương mẫu, phải chăm nom đến đời sống tinh thần, vật chất của chiến sỹ, phải gương mẫu học tập và giữ kỷ luật”(4). Hồ Chí Minh cho rằng, muốn có kỷ luật, điều quan trọng là cán bộ phải quyết tâm cao, tự giác: “Kỷ luật này là do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Đảng”(5). Thực tế cho thấy, ở đâu, lúc nào cán bộ quản lý, chỉ huy thực sự là tấm gương sáng về chấp hành pháp luật, kỷ luật, thì ở đó chiến sỹ sẽ có ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật tốt và ngược lại, ở đâu cán bộ quản lý, chỉ huy thiếu gương mẫu, tự do tuỳ tiện, thì ở đó sẽ có nhiều hiện tượng vi phạm pháp luật, kỷ luật.

Ba là, duy trì nghiêm pháp luật, kỷ luật, rèn luyện tác phong chính quy, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật.

Theo Hồ Chí Minh, việc bồi dưỡng văn hoá pháp luật, kỷ luật phải gắn với việc duy trì nghiêm pháp luật, kỷ luật và quản lý chặt chẽ mọi chế độ, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật, “khi cần thiết thì phải thi hành kỷ luật nghiêm minh, đúng mức”(6). Bác nhắc nhở cán bộ, chiến sỹ phải hình thành thói quen có kỷ luật hằng ngày. Việc rèn luyện tác phong giữ nghiêm kỷ luật phải được thông qua việc hướng dẫn cụ thể, tỷ mỉ của người cán bộ; càng tỷ mỷ, cụ thể bao nhiêu thì càng bớt sai lầm, vi phạm pháp luật, kỷ luật bấy nhiêu. Người quan niệm: “Trừ những người cố ý phá hoại, ngoài ra không ai cố ý sai lầm, sai lầm là vì không hiểu, không biết”(7). Vì vậy, nâng cao trình độ văn hoá pháp luật, kỷ luật của quân nhân không chỉ dựa trên công tác giáo dục cơ bản, mà còn phải dựa vào sự hướng dẫn, nhắc nhở thường xuyên, sâu sát của cán bộ các cấp, làm cho việc chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật trở thành thói quen. Người chỉ rõ: “Các cán bộ từ chỉ huy trở xuống phải cố gắng hơn nữa trong công tác, trong học tập, từ bước đi, từ cái chào đều phải chính quy hoá, cán bộ phải tiến trước và làm gương mẫu cho các chiến sỹ”(8).

Trong việc giữ vững tính nghiêm minh của pháp luật, Bác chỉ rõ: “Có cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền thế của Đảng và Nhà nước làm những việc trái với chính sách và pháp luật, xâm phạm đến lợi ích vật chất và quyền tự do dân chủ của nhân dân, nhưng chưa bị xử lý kịp thời… Như vậy là kỷ luật chưa nghiêm”(9). Người yêu cầu kiên quyết trừng trị những kẻ vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền lợi của người khác. Bác lưu tâm nhiều đến khen thưởng và xử phạt để động viên cán bộ, chiến sỹ chấp hành nghiêm pháp luật, kỷ luật. Bác nói: “Khen thưởng người tốt, trừng phạt người xấu…”(10) và “Phải nâng cao kỷ luật, giữ vững kỷ luật. Những cán bộ có ưu điểm thì phải khen thưởng; người làm trái kỷ luật thì phải phạt. Nếu không thưởng thì không có khuyến khích; nếu không có phạt thì không giữ vững kỷ luật”(11).

Bốn là, thống nhất bồi dưỡng văn hoá pháp luật, kỷ luật với việc nâng cao giáo dục đạo đức.

Pháp luật và đạo đức điều chỉnh hành vi con người, hướng con người tới chân – thiện – mỹ. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đạo đức là cơ sở thực hiện pháp luật. Đạo đức có tác dụng thúc đẩy, định hướng hành vi của quân nhân phù hợp yêu cầu của pháp luật, kỷ luật. Đạo đức cao nhất, theo Hồ Chí Minh là “Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc”(12). Khi quân nhân biết tôn trọng và tuân thủ các chuẩn mực đạo đức của xã hội thì đó sẽ là điều kiện tốt để họ chấp hành pháp luật, tỏ rõ tinh thần bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chân lý, giữ nghiêm kỷ luật. Đối với cán bộ Quân đội ta, Người yêu cầu phải luôn luôn là tấm gương sáng trong bồi dưỡng cũng như thực hành đạo đức cách mạng: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, “khổ trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”(13).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục văn hoá pháp luật, kỷ luật đối với cán bộ, chiến sỹ mãi mãi là kim chỉ nam cho hành động, là ngọn đèn pha soi đường để quân nhân phấn đấu bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ văn hoá pháp luật, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, NXBCTQG, H.2002, tr.560. (2) Sđd, tr.318. (3) Sđd, tập 7, tr.336. (4) Sđd, tập 8, tr.308. (5) Sđd, tập 5, tr.250. (6) Sđd, tập 12, tr.146. (7) Hồ Chí Minh, về xây dựng Đảng, NXBCTQG, H.1996, tr.426. (8) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, NXBCTQG, H.2002, tr.426. (9) Hồ Chủ tịch và pháp chế, Nxb TP. Hồ Chí Minh,1998, tr.148. (10) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXBCTQG, H.2002, tr.392. (11) Sđd, tập 7, tr.466. (12) Sđd, tập 9, tr.285. (13) Hồ Chí Minh với lực lượng vũ trang nhân dân,

Theo NXBQĐND, H.1975, tr.157-158.
Thượng tá. Vũ Văn Thường
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kỷ luật quân sự

Kỷ luật quân sự được hiểu là một hình thức đặc biệt của kỷ luật mà đặc trưng của nó được quyết định bởi tính chất của hoạt động quân sự. Kỷ luật quân sự đòi hỏi những người thực hiện nghĩa vụ quân sự tính tập trung, chính xác, tinh thần chấp hành triệt để vô điều kiện, tự chủ, kịp thời, nhanh chóng thực hiện tốt nhất mệnh lệnh, chỉ thị của người chỉ huy. Khi nói về ý nghĩa của kỷ luật với tư cách là một phương tiện quan trọng nhằm nâng cao năng lực chiến đấu của quân đội, V.I.Lênin viết: “Nếu suy nghĩ đến cùng, do nguyên nhân sâu xa mà có được cái kỳ tích lịch sử là một nước suy yếu, bị kiệt quệ và lạc hậu lại chiến thắng được những nước hùng cường nhất thế giới, thì chúng ta thấy nguyên nhân đó là chế độ tập trung, kỷ luật và tinh thần hy sinh chưa từng có” [i].

Là người khai sinh Quân đội nhân dân Việt Nam, Bác luôn dày công chăm lo, rèn luyện và giáo dục quân nhân trong mọi lĩnh vực, nhất là tính kỷ luật. Kế thừa một cách khoa học, sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, trong quá trình giáo dục, rèn luyện Quân đội ta, Bác chỉ rõ: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua” [ii] hay “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm. Vì vậy, kỷ luật phải nghiêm minh” [iii]Trong nội dung xây dựng kỷ luật quân đội, Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ phải chăm lo xây dựng kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Kỷ luật ấy phải xuất phát từ tính tự giác, tự nguyện của từng cá nhân và của cả tập thể.

Đối với Bác, để có kỷ luật tốt, trước tiên phải nâng cao trình độ tri thức về mọi phương diện cho cán bộ, chiến sĩ. Trong một lá thư gửi bộ đội, Bác dạy: “Quân nhân phải biết võ, phải biết văn. Võ như tay phải, văn như tay trái của quân nhân. Muốn biết thì phải thi đua học…” [iv].

Trong công tác giáo dục kỷ luật quân sự, Bác đặc biệt quan tâm đến giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật cho sĩ quan, đặc biệt là cán bộ chủ trì đơn vị. Nói chuyện với đại biểu quân đội nhân dịp Tết Đinh Dậu, Bác nhắc nhở:“Trong quân đội cách mạng, cán bộ gương mẫu, phải chăm nom đến đời sống tinh thần, vật chất của chiến sĩ, phải gương mẫu học tập và giữ kỷ luật”.

Về phương pháp thực hành kỷ luật, Bác nhấn mạnh việc dùng vũ khí phê bình và tự phê bình trong việc quản lý và duy trì chấp hành kỷ luật. Bác dạy: “Người cán bộ muốn tốt thì phải có đạo đức cách mạng, phải biết phê bình và tự phê bình, phải biết kỷ luật”Phương pháp nêu gương được Bác coi là biện pháp hữu hiệu để hướng dẫn các hành vi về đạo đức và ý thức tổ chức kỷ luật cao. Trước hết là sự gương mẫu về hành vi kỷ luật của cán bộ sĩ quan. Theo Bác: “Giữ gìn kỷ luật, học tập kỹ thuật, luyện tập lập công, xung phong hãm trận, thân ái đoàn kết, nói tóm lại mỗi việc trong bộ đội, cán bộ đều phải làm  gương”.

Để duy trì kỷ luật, thưởng và phạt là quan trọng và cần thiết nhằm động viên trong mọi người giữ nghiêm kỷ luật. Trong quốc lệnh tháng 1-1946, Bác yêu cầu: “Phải nâng cao kỷ luật, giữ vững kỷ luật. Những cán bộ có ưu điểm thì phải khen thưởng; người làm trái kỷ luật thì phải phạt. Nếu không thưởng thì không có khuyến khích; nếu không có phạt thì  không giữ vững kỷ luật. Thưởng phạt nghiêm minh là cần thiết. 

Một phương pháp quản lý và thực hành kỷ luật có hiệu quả nhất theo lời dạy của Bác,  là từng người phải tự giác chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật nghiêm của quân đội, mệnh lệnh chỉ thị của người chỉ huy. Bác nhắc nhở cán bộ: “…Phải khiêm tốn, nghiêm chỉnh. Phải giữ gìn tính chất trong sạch, chất phác của người chiến sĩ cách mạng… Giấu khuyết điểm thì khuyết điểm ngày càng nhiều… Mình phải tự đấu tranh với mình”.

Những tư tưởng của Người về xây dựng quân đội nói chung và tư tưởng về kỷ luật quân sự nói riêng luôn là kim chỉ nam cho quá trình nhận thức và thực hiện các nhiệm vụ của quân đội ta trong suốt chặng đường gần 70 năm qua.

Ths. Nguyễn Văn Công
Đồng Nai


[i] V.I. Lênin, Toàn tập, tập 40, Nxb Tiến bộ, 1978, tr.279.  [ii] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H, 1996, tr.341. [iii] Sđd, tập6, tr.560.  [iv] Sđd, tập 5, tr.588.

xaydungdang.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân – Bài 2

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị cha già của lực lượng vũ trang nhân dân luôn chăm lo đến sự trưởng thành, vững mạnh của Quân đội nhân dân. Với đường lối chính trị đúng đắn, sự mềm dẻo, linh hoạt trong chỉ đạo, Người đã thực hiện thành công việc tập hợp toàn dân vào các hình thức mặt trận, phát huy đến cao độ khả năng của dân trong cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện, trường kỳ để rồi bằng chính sức mạnh của mình giành thắng lợi.Tư tưởng quốc phòng toàn dân của Hồ Chí Minh được biểu hiện trước tiên bằng việc phát động một cuộc chiến tranh nhân dân, dùng sức mạnh của toàn dân để đánh thắng kẻ thù.

Kế thừa truyền thống “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” của dân tộc, vận dụng quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Dân là chủ, kháng chiến kiến quốc là sự nghiệp của dân; có dân là có tất cả; khởi nghĩa toàn dân để giành lại nền độc lập cho dân tộc, kháng chiến toàn dân để giữ vững nền độc lập ấy. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh viết: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp để cứu nước”.

Trong quá trình kháng chiến, Người đã nhiều lần khẳng định: 20 triệu đồng bào Việt Nam quyết đánh tan mấy vạn quân thực dân phản động. Bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Người kêu gọi toàn dân với tinh thần: mỗi làng xóm là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Từ khi Đảng ta ra đời vào ngày 3-2-1930, dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Đảng đã chú ý xây dựng các hình thức mặt trận. Đây chính là tổ chức nhằm tập hợp đông đảo, rộng rãi các tầng lớp nhân dân, là cơ sở để xây dựng một đội quân chính trị rộng khắp.

Trong xây dựng lực lượng vũ trang, Hồ Chí Minh chú ý đến việc giáo dục tư tưởng chính trị và nhiệm vụ chính trị cho họ. Đội quân chủ lực đầu tiên của cách mạng là Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Ở Hồ Chí Minh, giữa chính trị và quân sự có mối quan hệ mật thiết. Dùng chính trị để phục vụ cho quân sự, dùng quân sự để xây dựng chính trị và kết hợp chính trị với quân sự để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bằng tinh thần và sức mạnh của toàn dân.

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: xây dựng lực lượng quân sự bao gồm ba thứ quân, kết hợp xây dựng lực lượng chính trị rộng khắp và chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, sử dụng linh hoạt các phương pháp tiến công.

Trong hai cuộc kháng chiến, Tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện rất rõ trong kết hợp giữa kháng chiến và kiến quốc, giữa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ở kháng chiến chống thực dân Pháp, Người chủ trương “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, khẩn trương xây dựng chính quyền và Mặt trận Liên Việt, kêu gọi toàn dân thi đua ái quốc “chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm”, “hậu phương thi đua với tiền phương”, “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, thi đua thực hành cần, kiệm, liêm, chính, thi hành đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, thực hiện các chính sách bồi dưỡng sức dân để kháng chiến lâu dài.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Người chủ trương xây dựng miền Bắc làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến miền Nam và là cơ sở vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Người đã động viên quân và dân miền Bắc ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện cả nước có chiến tranh, phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, đánh bại chiến tranh phá hoại của địch và chi viện cho miền Nam, với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”.

Tiếp nối Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân, hiện nay, Đảng ta rất coi trọng việc giáo dục ý thức quốc phòng cho các tầng lớp nhân dân, kêu gọi nhân dân đề cao cảnh giác, chống các âm mưu và thủ đoạn của địch. Cùng với chiến lược phát triển kinh tế, Đảng ta đề ra chiến lược về quốc phòng và an ninh quốc gia; kết hợp kinh tế với quốc phòng; kết hợp giữa xây dựng lực lượng vũ trang chính quy với các lực lượng tự vệ ở các địa phương, tạo nên thế trận quốc phòng toàn dân nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Để động viên, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong thời kỳ mới, ngày 17-10-1989, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị tổ chức ngày Hội “Quốc phòng toàn dân” trong phạm vi cả nước, nhân dịp kỷ niệm 45 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Thực hiện chủ trương đó, hơn 20 năm qua, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương đã thường xuyên chăm lo củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; nâng cao nhận thức và phát huy trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn dân trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn, nhất là xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trị, tạo môi trường thuận lợi để phát triển đất nước.

Trong những năm tới, chúng ta đang đứng trước những thuận lợi to lớn để phát triển toàn diện đất nước. Song, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới có vị trí hết sức quan trọng, với những yêu cầu và nội dung rất toàn diện; đòi hỏi chúng ta phải phát huy tốt sức mạnh tổng hợp của toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước.

Văn kiện Đại hội XI của Đảng nhận định: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc.

Có thể nói, “dựng nước phải đi đôi với giữ nước”, xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn chặt với bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thấm nhuần tư tưởng đó, chúng ta phải tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng; phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, các đoàn thể, của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng; đẩy mạnh thực hiện “Ngày hội Quốc phòng toàn dân” lên tầm cao mới, trong đó Quân đội là lực lượng nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, làm cho sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc thực sự là sự nghiệp của toàn dân, toàn quân ta.

Nguyễn Thanh Hoàng
xaydungdang.org.vn

————————-

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân – Bài 1

Bác Hồ vào thăm bộ đội giới tuyến

Đúng 14 giờ ngày 15-6-1957, xe của Bác đến Sư đoàn 325. Cùng đi có đồng chí Nguyễn Chí Thanh, đồng chí Trần Quốc Hoàn… Đồng chí Hoàng Văn Thái, Chính ủy kiêm Sư đoàn trưởng hô to: “Chúc Bác Hồ khỏe! Bác Hồ muôn năm!”. Cả đơn vị đang đứng thẳng hàng hai bên đường đón Bác, hô theo: “Bác Hồ muôn năm, muôn năm!”. Bác đưa tay vẫy chào, trìu mến.

BH tham bo doi gioi tuyenChủ tịch Hồ Chí Minh thăm bộ đội miền Nam tập kết

Bác nghỉ ngơi một lát, rồi làm việc với Sư đoàn. Làm việc xong, đồng chí Thái mời Bác và đoàn đi tắm biển. Từ nhà ra bãi tắm khoảng hơn 200m. Bác đi bộ thoăn thoắt trên bãi cát mịn. Đến nơi tắm, có cán bộ, chiến sĩ bảo vệ xuống biển trước, bơi vòng ngoài. Bác cởi quần dài, mặc quần đùi. Bác nói vui: “Ở đây, chúng ta đều là làng đực, hãy tắm cho thoải mái!”. Mọi người đều cười vui.

Bác có bộ ngực đẹp, toát lên vẻ khỏe mạnh của một người thường xuyên rèn luyện thể lực. Bác tắm khoảng 30 phút. Cán bộ bảo vệ mời Bác đến tắm nước ngọt. Bác nói: “Đã lâu, Bác chưa tắm biển, nay vào giới tuyến thăm và tắm biển là một kỷ niệm đối với Bác. Bác không tắm nước ngọt”. Thế là không có ai tắm lại nước ngọt. Bác lấy khăn lau và mặc quần áo. Bác mặc bộ quần áo lụa bà ba màu nâu.

Từ nơi tắm về, các đồng chí của Sư đoàn đi phía sau, đồng chí Nguyễn Chí Thanh và đồng chí Trần Quốc Hoàn đi phía trước. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh mặc quần đùi, áo vắt vai để lưng trần. Bác nhìn phía sau lưng đồng chí Thanh và nói: “Lưng của chú Thanh đúng như lưng của nông dân hè”. Đồng chí Hoàn nói: “Thưa Bác, anh Thanh là từ nông dân mà ra”. Mọi người đều cười vui vẻ.

Bác ngồi hóng mát trên hiên nhà nghỉ. Bác hỏi thăm quê quán những đồng chí ngồi xung quanh. Mấy cô văn công và cháu nhỏ xúm đến, ngồi sát bên Bác. Bác vuốt ve các cháu như một người ông thật sự. Đến giờ, đồng chí Thái mời Bác vào ăn cơm chiều. Bác ăn rất ngon miệng. Bác khen những món đặc sản ở Huế và Đồng Hới, như cá, mực, mắm nêm, cà, rau chuối chát, mắm tôm chua ăn với thịt lợn luộc, canh mướp đắng nấu với tôm bóc trần.

Đến 19 giờ 30 phút, Bác gặp cán bộ, chiến sĩ cơ quan Sư đoàn và đơn vị trực thuộc. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh tuyên bố lý do, rồi nói: “Hôm nay, Bác đến thăm vui chung với tất cả mọi người. Ai có thơ, ca, hò, vè thì lên hát vui với Bác. Bác nghe rồi sẽ có thưởng…”. Cơ quan đã chuẩn bị bánh kẹo và dưa hấu. Đồng chí Thanh đem ra một mâm đầy bánh kẹo phân phát cho các cháu. Bác mặc bộ đồ nâu. Bác không ngồi ghế mà ngồi trên nền xi măng. Bác vẫy các cháu bé đến ngồi cạnh Bác. Một cháu gái bé nhất được ngồi vào lòng Bác và được Bác cho nhiều kẹo. Các cháu khác cũng được Bác cho kẹo. Bác bảo: “Có chú nào ra hát ít bài cho vui”. Một số anh chị em lên hát, hò vè, ngâm thơ đều được Bác trực tiếp thưởng cho từ hai đến bốn cái kẹo. Một đồng chí ngâm bài: “Đêm nay Bác không ngủ”. Vừa ngâm xong, Bác nói: “Bác không ngủ nì!” và cho hai cái kẹo. Có đồng chí hò theo điệu “mái nhì Huế”:

“Nhà không có cột thì nhà xiêu

Cây không có gốc thì cây đổ,

Nay ta đã có Cụ Hồ

Dựng xây đất nước cơ đồ Việt Nam”.

Bác nói: “Giọng hò hay, Bác thưởng 2 kẹo. Nhưng nội dung chỉ được 2 câu trên, còn hai câu sau thì Bác phạt. Đáng lẽ được 4 kẹo, nhưng Bác trừ 2 còn 2”. Tất cả vỗ tay reo vui và rất xúc động vì Bác không nghĩ cho riêng mình.

Kết thúc buổi liên hoan, Bác nhắc mọi người công tác giỏi, không tự phụ, mỗi người trồng ba cây dương liễu để phủ xanh cái đồi trọc này.

Bộ Chính trị có điện khẩn đề nghị Bác ra ngay Hà Nội. Bác bảo đồng chí Sư đoàn trưởng: “Bác muốn gặp cán bộ, chiến sĩ cả Sư đoàn trước khi Bác về”. Sư đoàn báo các đơn vị sẽ có mặt tại thị xã Đồng Hới trước 4 giờ sáng ngày 16-6-1957.

Đúng giờ, Bác đến. Bác vẫy tay chào bộ đội và nói về tình hình nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ quân đội và trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ. Bác đặc biệt xúc động khi nhắc tới cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào miền Nam đang diễn ra sôi sục ở bên kia sông Bến Hải, đòi địch phải nghiêm chỉnh thi hành hiệp nghị Giơ-ne-vơ, chống khủng bố, đàn áp những người kháng chiến cũ, đòi tự do dân chủ, cải thiện đời sống… Bác căn dặn sư đoàn phải nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu thật tốt. Phải ra sức học tập chính trị, quân sự, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân. Phải kiên quyết làm tròn nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc và làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Cuối cùng Bác nói: “Vì bận công việc, Bác phải ra ngay Hà Nội. Bác ủy nhiệm đồng chí Nguyễn Chí Thanh thay mặt Bác nói chuyện tiếp với các chú. Bác chúc các chú khỏe…”.

Đồng chí Hoàng Văn Thái hô to: “Chúng cháu xin hứa với Bác quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ”. Cả Sư đoàn hô to: “Xin hứa, xin hứa, xin hứa!”. Bác ngắm nhìn toàn đội hình của Sư đoàn ân cần trìu mến và vẫy tay chào tạm biệt.

Thiếu tướng Nguyễn Công Trang
Theo http://quangtri-ict.gov.vn
Thu Hiền
(st)
bqllang.gov.vn

Những chuyện ít biết về Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn

– Trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn – tiền thân của trường Sĩ quan Lục quân 1 (Đại học Trần Quốc Tuấn) – là đơn vị đầu tiên vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng lá cờ thêu 6 chữ vàng “Trung với nước hiếu với dân”. Nhân kỷ niệm 65 năm lễ khai giảng khóa 1 của ngôi trường đào tạo cán bộ chính quy đầu tiên của nước Việt Nam mới (26-5-1946 – 26-5-2011), xin giới thiệu với bạn đọc bài viết về những chuyện ít biết của đơn vị này.

Tiền thân của Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn

Ngay từ năm 1924, Bác Hồ đã cử nhiều thanh niên, học sinh Việt Nam sang du học ở Quảng Châu, Trung Quốc rồi Trường đại học Phương Đông Matxcơva… Cho đến ngày chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, Trung ương đã cho thành lập Trường Quân chính kháng Nhật.

Từ sau ngày 2-9 cho tới cuối năm 1945, theo chỉ thị của Bác để phù hợp với tình hình thực tế, trường đã 2 lần đổi tên: Trường Quân chính Việt Nam và Trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam. Trong vòng nửa năm với 7 khóa huấn luyện, nhà trường đã cung cấp 1.500 cán bộ trẻ cho lực lượng vũ trang và các địa phương.

Ngày 17-4-1946, theo chỉ thị của Người, nhà trường được đổi tên thành Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn với nhiệm vụ: đào tạo cán bộ chỉ huy cấp trung, đại đội trong thời gian 6 tháng.

dHiệu trưởng Hoàng Đạo Thuý đón nhận lá cờ thêu 6 chữ vàng của Bác Hồ

Để đáp ứng yêu cầu huấn luyện, Người bổ nhiệm đồng chí Hoàng Đạo Thuý làm Hiệu trưởng cùng Chính trị uỷ viên Trần Tử Bình. Các đồng chí Vương Thừa Vũ, Vũ Lập phụ trách huấn luyện. Trường rời từ Hà Nội (khu Việt Nam Học xá, nay là Đại học Bách khoa) lên đóng quân tại sân bay Tông, thị xã Sơn Tây.

Lễ khai giảng khoá 1 và lá cờ thêu những chữ vàng

Chủ nhật 26-5-1946, nhà trường làm lễ khai giảng khoá 1. Hồ Chủ tịch cùng Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng Phan Anh và một số đại biểu đến trường từ sớm.

Tránh nghi lễ đón tiếp, Bác đi thẳng vào doanh trại xem bố trí nơi ăn chốn ở. Đến nhà bếp, thấy anh em ăn thừa Người đã phê bình là lãng phí cơm gạo, nhất là khi dân ta vừa qua nạn đói khủng khiếp đầu 1945. Tiếp thu ý kiến Bác, ngay hôm sau, cơm thừa còn sạch được tận dụng ủ làm tương cho bộ đội ăn.

Trong không khí trang nghiêm của buổi lễ, lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên trên nền nhạc hùng tráng của bài “Tiến quân ca”. Từ trên lễ đài Hồ Chủ tịch bước xuống tiến về phía hàng quân, trao cho nhà trường lá cờ thêu những chữ vàng “TẶNG TRƯỜNG VÕ BỊ TRẦN QUỐC TUẤN “TRUNG VỚI NƯỚC – HIẾU VỚI DÂN” – 1946”.

Học viên Bùi Minh Trân, một chiến sĩ của Nam bộ, thay mặt 288 học viên khoá 1 đón nhận lá cờ.

Phát biểu với cán bộ, học viên, Người nói: “Trung với Nước, Hiếu với Dân là bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề, nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”.

Đáp lời Người, Giám đốc Hoàng Đạo Thuý nói: “…Thế kỷ 13, Nguyên-Mông là một đế quốc lật đất, nghiêng trời, chiếm từ bể Đông đến giữa châu Âu. Họ bảo nước ta là to bằng bàn tay ếch. Ba lần họ cất quân sang xâm lược nước ta. Ba lần tướng Trần Quốc Tuấn đã dựa vào thế đất và lòng người đuổi quân giặc phải tháo chạy. Cụ Chủ tịch lấy tên Trần Quốc Tuấn đặt tên cho trường ta, ý Cụ mong cho chúng ta trở thành học trò của Trần Quốc Tuấn”.

Với khẩu hiệu “Thao trường đổ mồ hôi để chiến trường không đổ máu”, mặc nắng mưa, mặc ngày đông tháng giá, học viên khoá 1 đã hăng say, miệt mài học rèn.

dTrường Đại học Trần Quốc Tuấn hôm nay tại TP Sơn Tây, Hà Nội (Ảnh: VECI)

dMột góc khuôn viên của trường Đại học Trần Quốc Tuấn (Ảnh: VECI)

Cuối khoá, nhà trường tổ chức diễn tập hành quân dài ngày từ Sơn Tây, qua Đồn Vàng, lên Phú Thọ, Việt Trì, có sự phối hợp giữa bộ đội và dân quân, nâng cao công tác chỉ huy, kỹ-chiến thuật, công tác chính trị, dân vận. Sau diễn tập, học viên có thêm kinh nghiệm tổ chức hành quân dã ngoại, tình cảm quân dân thêm sâu đậm.

Tháng 10-1946, vừa từ Pháp về, Bác lên thăm trường. Người vui vẻ nói chuyện với anh em: “Sau khi ở Pháp về, nhớ những đồng chí trẻ của mình ở đây, đồng chí già liền lên thăm ngay và dặn anh em mấy điểm: Một là phải kỷ luật. Hai là phải quần chúng hoá. Ba là phải thực tế. Bốn là phải ham học, ham làm. Năm là phải quyết tâm, chịu khó. Sáu là không lúc nào tự cho mình là đủ, không kiêu, không nịnh.Bảy là phải đoàn kết, thân ái tự phê bình, phê bình và khuyến khích lẫn nhau”.

Bác tặng nhà trường 16 chiếc huy hiệu để trao cho 15 học viên đỗ xuất sắc và học viên đỗ cuối cùng trong kỳ thi tốt nghiệp.

Ngày 8-12-1946, Võ bị khoá 1 làm lễ tốt nghiệp. Toàn bộ học viên tốt nghiệp được điều động về ngay các đơn vị, bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp sẽ nổ ra vào ngày 19-12-1946.

Khóa 2 : Theo thầy Nguyễn Sơn hành quân vào khu IV

Ngày 16-2-1947, Võ bị khóa 2 với 340 học viên được khai giảng tại thị xã Tuyên Quang. Đồng chí Nguyễn Sơn – nguyên Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Miền Nam, người đã chiến đấu trong Bát Lộ Quân và tham gia “Vạn lý trường chinh” ở Trung Quốc – được chỉ định làm Hiệu trưởng.Sau đó, đồng chí lại được giao nhiệm vụ Khu trưởng Khu IV nên khóa 2 theo thầy hành quân vào Khu IV. Học viên được biên chế thành các đại đội chuyên sâu: C1 quân sự, C2 chính trị, C3 dân quân. Ngày 28-7-1947, nhà trường làm lễ mãn khóa 2 và ngày 8-8-1947 hành quân ra Bắc.

Khóa 2 + 3 và 4 chữ vàng “Trung dũng, Quyết thắng”.

Giữa tháng 4-1947, khóa 3 được khai giảng tại Bắc Cạn. Thầy Hoàng Đạo Thuý lại được chỉ định làm Hiệu trưởng. Là một nhà giáo, nhà sử học, xã hội học, có kinh nghiệm trong công tác hướng đạo sinh và đã kinh qua đào tạo khóa 1, thầy Thuý giảng về Binh pháp Tôn Tử, về lịch sử ông cha giữ nước, về chiến thuật, chiến lược quân sự, về cả thông tin “moóc-xơ”… Trong khóa học, ngày 1-5-1947, thầy Thuý được vinh dự kết nạp vào Đảng.

Để thống nhất trong đào tạo và bổ sung kiến thức chiến thuật cấp trung đoàn, các khóa 2 và 3 được hợp nhất. Trong buổi lễ, Tổng bí thư Trường Chinh đến thăm.
Sau đó, khóa 2 tiến hành trao cờ “Trung với nước, Hiếu với dân” cho khóa 3. Đây là lá cờ truyền thống mà khóa 1 đã trao cho khóa 2 trước khi hành quân vào Khu IV. Hai đồng chí Vũ Khổng Tước (khóa 2) và Nguyễn Đôn Tự (khóa 3) vinh dự thay mặt 2 khóa trao và nhận lá cờ.

Khi chương trình huấn luyện gần kết thúc, ngày 7-10-1947, giặc Pháp nhảy dù xuống khu vực gần trường. Nhà trường biên chế thành trung đoàn E79 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Hoàng Đạo Thuý và Chính trị viên Lê Đình đã đánh thắng trận Đầm Hồng và trận tập kích Yên Thịnh, phá vỡ kế hoạch hợp điểm của địch ở Bản Thi.

Ngày 28-10-1947, lễ bế giảng được tổ chức tại đình Nghĩa Tá. Khóa 2 và 3 của nhà trường vinh dự đón nhận 4 chữ vàng của Bác “Trung dũng, Quyết thắng”.

Tô thắm thêm những chữ vàng

65 năm trôi qua, các cựu giáo viên, học viên khoá 1-2-3 Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh, nhiều đồng chí được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT (nhà tình báo chiến lược Phạm Ngọc Thảo, thiếu tướng Kim Tuấn – Tư lệnh Quân đoàn 3, đại đội trưởng trinh sát Nguyễn Ngọc Bảo…), nhiều đồng chí được phong hàm cấp tướng…

Kế thừa truyền thống vẻ vang của thế hệ cha anh là Trường Sĩ quan Lục quân 1 – Đại học Trần Quốc Tuấn, đơn vị AHLLVTND. Với những chiến công hiển hách trong sự nghiệp giải phóng chống Mỹ cứu nứớc và bảo vệ Tổ quốc, họ đã góp phần tô đẹp thêm những chữ vàng mà Bác Hồ kính yêu đã trao tặng.

Trần Kiến Quốc
bee.net.vn

Có đức mới vực được nghề

Làm nghề nào muốn tốt thì cũng phải tinh thông mọi ngón chuyên môn. Làm người chiến sĩ công an nhân dân nếu muốn hoàn thành thật tốt chức phận của mình thì không chỉ giỏi nghiệp vụ mà còn phải thấm nhuần những tiêu chí đạo đức cách mạng, trong đó có những phẩm chất cá nhân đặc biệt quan trọng rất cần được thường xuyên tự rèn luyện như những đức tính cần, kiệm, liêm, chính. Đây cũng là một trong những điều mà Bác Hồ từng nhấn mạnh khi viết hoặc nói với lực lượng Công an nhân dân.

Đầu năm 1948, đồng chí Hoàng Mai, lúc đó là Giám đốc Sở Công an Khu XII, đã gửi biếu Bác Hồ số Tết Báo Bạn dân (Nội san của Công an Khu XII). Đọc xong số báo này, tháng 3 năm 1948, Bác Hồ đã gửi thư cho đồng chí Hoàng Mai và căn dặn: “Trên tờ báo phải luôn luôn nhắc nhở anh em rèn luyện tư cách đạo đức”. Theo Bác, tư cách người công an cách mạng là phải đáp ứng được đủ những yêu cầu sau:

Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.
Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ.
Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.
Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.
Đối với công việc, phải tận tụy.
Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”

Bác Hồ đã luôn luôn nhấn mạnh tới việc “tu thân” của người chiến sĩ công an nói riêng và của cán bộ cách mạng nói chung, sao cho thực sự thấm nhuần tư tưởng cần, kiệm, liêm, chính. Trong loạt bài viết in trên Báo Cứu Quốc năm 1949, Bác Hồ đã nhắc nhở:

“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Thiếu một mùa thì không thành trời.
Thiếu một phương thì không thành đất.
Thiếu một đức thì không thành người

Khi dạy về bốn đức tính trên, Bác Hồ đã rất lưu ý tới sự liêm khiết của mọi người nói chung và của đội ngũ cán bộ cách mạng nói riêng. Và Bác đã nhắc lại lời của Khổng Tử: “Người mà không Liêm, không bằng súc vật”. Nói chung, trong tinh hoa văn hóa phương Đông, chữ Liêm luôn là một khái niệm được coi trọng.

Quân tử là phải biết làm tròn phận sự và “tri túc” (biết đủ), không tham những gì không phải của mình. Xưa nay, tri nhân (biết người), tri kỷ (biết mình) đã là quý rồi. Nhưng tri túc (biết đủ) lại càng quý hơn nữa. Không biết đủ thì sẽ không biết dừng lại trên hoạn lộ và những tham vọng thành đạt cũng như làm giàu, những tham vọng nếu ở mức độ hữu lý không bao giờ là xấu cả.

Cổ Ngạn có viết: “Người quân tử cũng mến của cải chứ không phải là không, tuy nhiên có hợp đạo lý thì mới lấy, người quân tử thường mưu cầu ở đạo, chứ không mấy lo nghĩ tới cái sự giàu nghèo, người quân tử có lo chăng là lo đến đạo, chứ không hề lo đến việc ăn uống”.

Còn Lão Tử thì nói: “Không họa nào lớn bằng không tự biết đủ. Không hại nào to bằng sự muốn chiếm hữu. Bởi đó, biết đủ trong cái đủ thì luôn luôn được đủ”. Cũng trong Cổ Ngạn còn có câu: “Biết đủ, coi là đủ, đợi đủ bao giờ mới đủ. Biết nhàn, coi là nhàn, đợi nhàn bao giờ mới nhàn”. Đó là giữ chữ Liêm theo cách hiểu của người xưa.

18co duc moi vuc duoc ngheBác Hồ đến thăm cán bộ, chiến sỹ
Cảnh sát nhân dân Hà Nội nhân dịp Tết Quý Mão (1963)

Đến Bác Hồ, Người đã lý giải chữ Liêm trên một bình diện rộng hơn và dân chủ hơn. Bài báo “Thế nào là Liêm” đã được Bác cho đăng trên tờ Báo Cứu Quốc số ra ngày 1/6/1949 với bút danh Lê Quyết Thắng. Vẫn phong cách giản dị nhưng sâu sắc, Bác giải thích:

“Liêm là trong sạch, không tham lam. Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là Liêm, chữ Liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp. Cũng như ngày xưa Trung là trung với vua, Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi.

Ngày nay, nước ta là nước Dân chủ cộng hòa, chữ Liêm có nghĩa rộng hơn; là mọi người đều phải Liêm. Cũng như Trung là trung với Tổ quốc, Hiếu là hiếu với nhân dân; ta thương cha mẹ ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ.

Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm. Cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần.

Có Kiệm thì mới Liêm được. Vì xa xỉ mà sinh ra tham lam.

Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất Liêm…”.

Hơn ai hết, Bác hiểu những người cán bộ của chế độ mới, những công bộc kiểu mới của nhân dân trong chính thể Dân chủ cộng hòa, chống lại thói bất liêm là một nhiệm vụ không hẳn đã dễ dàng. Bác nói thẳng thắn: “Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư” chính là bất liêm. Bất liêm chính là nguyên nhân của mọi hiện tượng tham ô, lãng phí, làm mất uy tín và sức mạnh của bộ máy chính quyền:

“Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp dục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”.

Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ Liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân”.

Vị trí càng nổi bật thì càng phải đáp ứng những yêu cầu cao về giữ gìn tư cách đạo đức nói chung và về chữ Liêm Chính nói riêng. “Phải lo thì lo trước thiên hạ; hưởng thì hưởng sau thiên hạ” (trích từ bài “Đạo đức cách mạng”, 6/6/1955).

Cũng trong bài báo vừa nêu, công bố với bút danh C.B, Bác Hồ từ rất sớm đã cảnh báo hiện tượng tiêu cực: “Nhưng chúng ta cũng phải nhận ra rằng: Ảnh hưởng xấu của xã hội cũ làm cho một số đảng viên và cán bộ (trong Đảng và ngoài Đảng) hủ hóa. Họ tưởng rằng cách mạng là cốt để làm cho họ có địa vị, được hưởng thụ. Do đó họ mắc phải những sai lầm: Kiêu ngạo, chưng diện, hưởng lạc, lãng phí của công, tự tư tự lợi, không tiết kiệm đồng tiền bát gạo là mồ hôi nước mắt của nhân dân. Họ quên mất tác phong gian khổ phấn đấu, lạt lẽo với công việc cách mạng, xa rời Đảng, xa rời quần chúng. Dần dần họ mất cả tư cách và đạo đức người cách mạng, sa vào tham ô, hủ bại và biến thành người có tội với Đảng, với Chính phủ, với nhân dân”.

Bác Hồ đã hiểu quá rõ rằng, trên thế giới đã có không chỉ một cuộc cách mạng bị hỏng vì đã không xây dựng được một đội ngũ cán bộ cầm quyền với những phẩm chất đạo đức mới, thực sự liêm chính mà chỉ thay đẳng cấp cầm quyền tham nhũng hủ bại này bằng một đẳng cấp cầm quyền tham nhũng hủ bại khác.

Không ngẫu nhiên mà theo hồi ức của các bậc lão thành cách mạng, trong thời kỳ cách mạng mới giành được chính quyền, Bác Hồ đã xử lý rất nghiêm khắc những trường hợp cán bộ, kể cả cấp cao, vi phạm những tiêu chí liêm chính của người cách mạng. Bác muốn phòng ngừa những diễn biến “đạn bọc đường” đối với một chính Đảng cầm quyền.

Cho đến những bài viết cuối cùng trên cõi thế, Bác Hồ vẫn trước sau như một nhấn mạnh tới việc giáo dục đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân để “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.

Người chiến sĩ công an muốn giữ chữ Liêm thì phải như thế nào? Cũng theo những lời dạy của Bác Hồ, trước hết và hơn hết là phải chống lại chủ nghĩa cá nhân. Trong bài nói tại Trường Công an Trung ương ngày 28/1/1959, Bác thêm một lần lý giải: “Thế nào là chủ nghĩa cá nhân? Là so bì đãi ngộ: Lương thấp cao, quần áo đẹp xấu; là uể oải, muốn nghỉ ngơi, hưởng thụ, an nhàn”.

Bác đã thấy trước tất cả những hệ lụy mà chủ nghĩa cá nhân có thể làm nảy nòi, làm ảnh hưởng xấu tới chữ Liêm của người chiến sĩ công an: “Chủ nghĩa cá nhân như vi trùng đẻ ra nhiều bệnh khác: Sợ khó, sợ khổ; tự do chủ nghĩa; vui thì làm, không vui thì không làm, thích thì làm, không thích không làm…”.

Cũng trong bài viết trên Báo Cứu Quốc, Bác Hồ đã dạy rằng, để người cán bộ nói chung và người chiến sĩ công an nói riêng có thể liên tục giữ gìn được chữ Liêm, ngoài sự tu dưỡng bản thân của họ, còn cần tới sự giúp đỡ, kiểm tra của nhân dân. Bác viết:

“Quan tham vì dân dại. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì “quan” dù không Liêm cũng phải hóa ra liêm.

Vì vậy, dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ Liêm.

Pháp luật cũng phải thẳng thay trừng trị những kẻ bất Liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì…”.

Đọc lại những dòng Bác Hồ đã viết nhiều năm về trước, hôm nay, chúng ta vẫn cảm thấy như mọi điều vẫn còn nóng hổi tính thời sự. Để giữ chữ Liêm cho mình, không có gì tốt hơn là chúng ta sống, học tập, làm việc và chiến đấu theo đúng tinh thần những điều Bác Hồ đã dạy.

Chính Nhân
cand.com.vn

Bác Hồ với vị tướng Trần Canh, tại chiến dịch Biên giới năm 1950

Đúng dịp Tết Nguyên đán Canh Dần năm 1950, Bác Hồ thực hiện một chuyến đi bí mật sang Trung Quốc, Liên Xô. Ngày 2-1-1950, Bác cùng đồng chí Trần Đăng Ninh, từ Tuyên Quang đi bộ tới Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng, rồi đi tiếp đến Long Châu, Quảng Tây. Đến đây, Bác bắt được liên lạc với Bạn. Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã bố trí xe đón Đoàn đi Nam Ninh, từ đó Đoàn đi xe lửa đến Bắc Kinh. Bác làm việc ở Bắc Kinh một tuần, sau đó Bác cùng đồng chí Trần Đăng Ninh đi xe lửa liên vận đến Liên Xô

Ngày 16-2-1950, Nguyên soái Xtalin mở tiệc chiêu đãi đại biểu sứ quán các nước xã hội chủ nghĩa tại Mát-xcơ-va nhân dịp Liên Xô và Trung Quốc ký “Hiệp ước Tương trợ Đồng minh hữu hảo Xô-Trung” ngày 14-2-1950. Xtalin tự xếp chỗ ngồi gần Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh. Sau buổi tiệc, Xtalin mời Chủ tịch Mao Trạch Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang phòng riêng để trao đổi về việc Liên Xô, Trung Quốc giúp Việt Nam đánh thực dân Pháp.

Chuyến đi bí mật này, Bác đã thành công ở cả hai phương diện chính trị và ngoại giao, đó là chuyến đi lịch sử làm tiền đề cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam – Liên Xô, giữa Việt Nam – Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Ngày 11-3-1950, Bác và đồng chí Trần Đăng Ninh về đến Bắc Kinh, giữa tháng 4 năm 1950, Bác mới về đến Tuyên Quang.

Tháng 6 năm 1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên giới. Ngày 7 tháng 7, Bộ Tổng Tư lệnh ra Mệnh lệnh về chiến dịch Biên giới. Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới Việt – Trung, mở đường nối liền Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ Việt Bắc. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy chiến dịch, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng làm Tham mưu trưởng chiến dịch, Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp phụ trách hậu cần cho chiến dịch. Trung tuần tháng 9 năm 1950, Hồ Chủ tịch lên đường đi chiến dịch.

Đầu năm 1950, Trung tướng Trần Canh đang chỉ huy quân đội trên chiến trường Vân Nam (khi đó Vân Nam chưa giải phóng). Thực hiện cam kết không thành văn giữa Nguyên soái Xtalin, Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc Trung Quốc giúp Việt Nam, Chủ tịch Mao Trạch Đông đích thân điều động Trung tướng Trần Canh về Bắc Kinh nhận nhiệm vụ dẫn đầu Đoàn Cố vấn Quân sự Trung Quốc gồm 14 đồng chí sang Việt Nam. Ngày 7 tháng 7, Đoàn Cố vấn Trung Quốc xuất phát từ Côn Minh đi đến Thái Nguyên. Tại một nhà sàn đơn sơ trên chiến khu, Bác Hồ cảm kích gặp lại người bạn. Bác Hồ và Trần Canh là bạn cũ của nhau. Tháng 5 năm 1924, Trần Canh học khóa 1 Trường Quân sự Hoàng Phố – Quảng Châu, còn Bác Hồ khi đó là Thư ký của Phái bộ Brôđin – Cố vấn Chính trị của Chính phủ Liên Xô bên cạnh Tôn Trung Sơn, khi đó hai người thường xuyên gặp nhau trao đổi công tác.

Ngày 16-9-1950, chiến dịch Biên giới mở màn bằng trận đánh Đông Khê tỉnh Cao Bằng, đến trưa 18 tháng 9 kết thúc thắng lợi. Trong niềm vui lớn, Bác Hồ viết tặng Trần Canh một bài thơ bằng chữ Hán. Theo nguyên bản tài liệu trong “Nhà kỷ niệm Trần Canh” bài thơ này có nội dung như sau:

Huề trượng đăng cao quan trận địa

Vạn trùng sơn ủng vạn trùng vân

Nghĩa binh tráng khí thôn ngưu đẩu

Thệ diệt sài lang xâm lược quân.

Dịch:

Chống gậy lên non xem trận địa

Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây

Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu

Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy.

Đọc xong bài thơ, Trần Canh rất cảm kích, vui vẻ nói với Bác Hồ: “Hồ Chủ tịch đã hạ quyết tâm như thế, thì một mống quân Pháp cũng chạy không thoát!”.

Ngày 8-10-1950, Bác viết thư biểu dương các chiến sĩ ngoài mặt trận và gửi tặng Trần Canh bài thơ thứ hai:

Hương tân mỹ tửu dạ quang bôi

Dục ẩm, tỳ bà  mã thượng thôi

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

Địch nhân hưu phóng nhất nhân hồi.

Dịch:

Rượu ngọt sâm banh lấp lánh ly

Muốn uống, tì bà thúc ngựa phi

Đừng cười say nghỉ nơi trận mạc

Không tha quân địch một tên về.

Từ 10 tháng 9 đến 23 tháng 10 năm 1950, quân Pháp tháo chạy khỏi Thất Khê Cao Bằng, Na Sầm, Lạng Sơn, Đình Lập, An Châu. Ta hoàn toàn phá vỡ hệ thống phòng ngự đường số 4 của địch, giải phóng 5 thị xã, 13 thị trấn với 35 vạn dân, nhiều vùng quan trọng của biên giới Việt – Trung được củng cố và mở rộng, chiến khu Việt Bắc được nối liền với các tỉnh và với các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Đây là chiến dịch tiến công trên qui mô lớn đầu tiên của quân đội ta, tạo ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đánh dấu sự trưởng thành về tổ chức, chỉ huy và trình độ tác chiến của quân đội ta. Trong bữa tiệc mừng thắng lợi, Hồ Chủ tịch tặng tướng Trần Canh hai câu thơ :

Loạn thạch sơn trung cao sỹ ngọa

Mậu mật lâm lí anh hùng lai.

(Tạm dịch: Ẩn sĩ nơi núi đá. Anh hùng chốn rừng xanh. TG).

Qua những bài, câu thơ Bác tặng Trần Canh trên đây, đủ thấy tình cảm của Bác Hồ quí trọng vị tướng Trần Canh đến mức nào! Ngày 11-11-1950, tướng Trần Canh tạm biệt Hồ Chủ tịch và Việt Nam về nước nhận nhiệm vụ mới.

Theo Nguyễn Ngọc Điệp
Thu Hiền (st) / theo http://khcncaobang.gov.vn
bqllang.gov.vn

Bác Hồ bạn đọc lớn của Báo Công an nhân dân

Sinh thời, mặc dù bận trăm công ngàn việc nhưng Bác Hồ vẫn thường xuyên đọc các loại báo, trong đó có Báo Công an nhân dân.

Ngày 1/11/1946, Tờ Công an mới – tiền thân của Báo Công an nhân dân – ra mắt bạn đọc, được phát hành rộng rãi trong nhân dân. Ngay trong những số báo đầu tiên đã dành một phần đưa tin về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng như huấn thị công tác của Người.

Trong những năm ở chiến khu Tân Trào, Nội san Rèn  luyện, kế tiếp Báo Công an mới, đã tập trung hướng dẫn, uốn nắn để cán bộ, chiến sỹ thực hiện tốt lời dạy của Bác về sửa đổi lề lối làm việc mà Bác đã viết dưới bút danh X.Y.Z.

Ngày 11/3/1948, tại khu căn cứ địa Việt Bắc, sau khi nhận được tờ Nội san Bạn dân do đồng chí Hoàng Mai, Giám đốc Công an khu 12 gửi lên biếu Bác, Bác đã viết thư gửi Công an khu 12, trong đó có đoạn:

“… Trên báo cần làm cho anh chị em công an nhận rõ, công an của ta là công an nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ và dựa vào dân mà làm việc. Nhân dân ta có hàng chục triệu người, có hàng mấy chục triệu tai, mắt, tay, chân. Nếu biết dựa vào dân thì làm việc gì cũng xong.

Trên tờ báo phải luôn luôn nhắc nhở anh em rèn luyện tư cách đạo đức. Tư cách người Công an cách mệnh là:

– Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.

– Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.

– Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.

– Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.

– Đối với công việc, phải tận tụy.

– Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo.

Nói tóm lại, là những đạo đức và tư cách mà người công an cách mệnh phải có, phải giữ cho đúng. Những điều đó chẳng những luôn luôn nêu trên báo mà lại nên viết thành ca dao cho mọi người học thuộc, nên viết thành khẩu hiệu tại những nơi anh em công an thường đến (bàn giấy, nhà ăn, phòng ngủ…). Ngoài ra, công an thường phải kiểm soát nhân viên và công việc của mình. Mỗi cng an viên đóng chỗ nào thì cần dạy cho dân quân, tự vệ nơi đó cách điều tra, xét giấy, phòng gian… dạy cho dân ở nơi đó giữ bí mật, và tự mình phải luôn luôn giữ lễ phép, tránh hách dịch”.

“Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa…” Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam năm 1962.

Thư Bác được anh em trong đơn vị chuyền tay nhau đọc. Các số Báo Rèn luyện của Nha Công an Trung ương đã đăng lại bức thư của Bác và được chuyển về các khu, các tỉnh để học tập, sau đó lực lượng Công an cả nước phát động phong trào học tập và làm theo Sáu điều Bác Hồ dạy.

Trở lại thời gian trước đây, vào giữa năm 1949, một hôm, Nha Công an Trung ương gửi đến Nhà in Rèn luyện một tập bản thảo viết tay, được viết theo thể văn vần, nội dung huấn luyện cán bộ. Nha yêu cầu phải in thật đẹp và hẹn ngày phải có sách để gửi về Nha. Sau đó, Nha mới cho biết đó là tập tài liệu do Bác Hồ viết, vì thế anh em nhà in ai nấy đều cảm thấy phấn khởi vì đó là niềm vinh dự: Sự kiện này đã trở thành một kỷ niệm không bao giờ quên đối với những anh em đã làm việc ở Nhà in Báo Rèn luyện hồi đó.

Báo Công an nhân dân vinh dự được đón nhận một độc giả rất đặc biệt: Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Khi đọc bài “Lực lượng Cảnh sát nhân dân phục vụ tốt công cuộc vận động chống đầu cơ, buôn lậu, lấy cắp vật tư, tài sản của Nhà nước”, Bác ghi bằng mực đỏ hai chữ “nên khen” và mở vòng đơn (đã nói với A. Hoàn rồi) – (đồng chí Trần Quốc Hoàn là Bộ trưởng Bộ Công an); khi đọc những bài về gương người tốt, việc tốt: “Dũng cảm cứu dân và cứu tài sản của Nhà nước”, “Hết lòng vì dân”… Bác khuyên vòng tròn đỏ trên đầu bài và ghi “Tặng 1 hh” (tức là tặng một Huy hiệu của Người cho chiến sỹ lập công).

Báo Công an nhân dân số 361, ra ngày 4/6/1968 đăng bài “Công an khu phố Hai Bà Trưng (Hà Nội) vận động quần chúng đấu tranh chống bọn tội phạm hình sự và các tệ nạn xã hội khác”. Tờ báo được gửi đến Bác. Bác Hồ xem xong, thấy đây là việc làm tốt, liền viết thư cho đồng chí Bộ trưởng Bộ Công an lúc bấy giờ để biểu dương và nhắc nhở công an Thủ đô Hà Nội nên học tập gương điển hình này. Bác viết: “Khu phố Hai Bà làm việc này tốt. Nếu đôn đốc các khu phố khác học tập và thi đua với khu phố Hai Bà, thì chắc họ cũng làm được như thế, và toàn Thủ đô Hà Nội có thể triệt được tệ lưu manh, trộm cắp…”.

Đó là bút tích của Bác, hiện còn lưu giữ trong Bảo tàng Công an nhân dân.

Bao CAND
Bút tích của Bác trên Báo Công an nhân dân số 462

Ngày nay, Báo Công an nhân dân tiếp tục tuyên truyền về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, về các điển hình tiên tiến thực hiện tốt Sáu điều Bác dạy trong cuộc vận động “Công an nhân dân chấp hành nghiêm điều lệnh, xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ”; tuyên truyền những cuộc thi tìm hiểu về Đảng, Bác… Các thế hệ làm báo luôn ghi nhớ và giữ mãi những kỷ niệm sâu sắc về Bác Hồ kính yêu.

Theo www.cand.com.vn
Kim Yến (st)

Đời đời nhớ ơn các Anh hùng liệt sỹ

Cách mạng Tháng Tám thành công, khi chính quyền cách mạng còn non trẻ, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta. Với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, chiến tranh bùng nổ. Trong cuộc chiến đấu này, nhiều chiến sỹ, đồng bào ta đã bị thương, nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường.

Ngày 16/2/1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL “Quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sỹ”. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sỹ đối với công cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc.

Cũng trong thời gian này, tại một cuộc họp ở xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn huyện Đại Từ (Thái Nguyên), đại diện cho Đảng và Nhà nước đã chọn ngày 27 tháng 7 hàng năm là Ngày Thương binh toàn quốc.

Tháng 7 năm 1955, “Ngày Thương binh” được đổi thành “Ngày Thương binh – Liệt sỹ” để ghi nhận những hy sinh lớn lao của đồng bào, chiến sỹ cả nước cho chiến thắng vẻ vang của toàn dân tộc.

Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8/7/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27 tháng 7 hàng năm chính thức trở thành “Ngày Thương binh – Liệt sỹ” của cả nước.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến thương binh, liệt sỹ.

Bh vieng nghia trang LSBác Hồ viếng nghĩa trang liệt sỹ

Đã 65 năm trôi qua kể từ Ngày Thương binh – Liệt sỹ đầu tiên ấy, mỗi năm cứ đến ngày 27 tháng 7, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cả nước lại tưởng nhớ đến Bác và thêm tự hào về bước phát triển của công tác thương binh, liệt sỹ theo tư tưởng và sự chỉ đạo của Người. Cứ đến những ngày này mỗi người dân Việt Nam lại vô cùng xúc động, tưởng nhớ đến các Anh hùng liệt sỹ đã hy sinh, các mẹ Việt Nam anh hùng, các thươngbinh, bệnh binh đã hy sinh xương máu của mình, tô thắm những trang sử vẻ vang của dân tộc. Trong đó có những người tuổi đời còn rất trẻ đã gạt lại phía sau những hạnh phúc riêng tư, nguyện đem thân mình dâng hiến cho Tổ quốc. Biết bao người đã mãi mãi nằm lại trong lòng đất mẹ, hay để lại một phần thân thể, đã hy sinh máu xương vì lý tưởng cao đẹp, như Anh hùng lực lượng vũ trang, liệt sỹ, bác sỹ Đặng Thuỳ Trâm đã viết: “Hãy giữ vững tinh thần của người cộng sản, tinh thần trong suốt như pha lê, cứng rắn như kim cương và chói lọi muôn nghìn hào quang của lòng tin tưởng …”.

Nhân dịp này Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã xây dựng Kế hoạch 1037/KH-LĐTBXH, tiếp tục đẩy mạnh công tác đền ơn đáp nghĩa với Người có công và thân nhân của họ, tuyên truyền sâu rộng và tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về chính sách ưu đãi Người có công với cách mạng; giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” cho thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các Bộ, Ban , ngành, đoàn thể Trung ương, các cấp ủy chính quyền địa phương; các tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội tổ chức thực hiện các hoạt động thiết thực cụ thể để tất cả Người có công và nhân thân của họ đều được quan tâm, chăm sóc, ổn định về vật chất, động viên về tinh thần.

Tại thành phố Đà Nẵng, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã tổ chức Hội nghị biểu dương Người có công với cách mạng, tham dự Hội nghị gồm có các cấp lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và các vị lão thành cánh mạng, Anh hùng lực lượng vũ trang, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và gần 400 đại biểu là thương binh, thân nhân liệt sỹ và người có công tiêu biểu đại diện cho gần 8,8 triệu người có công với cách mạng trên cả nước. Theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, hiện nay đối tượng Người có công có khoảng 8,8 triệu người (chiếm gần 10% dân số). Bên cạnh chế độ trợ cấp ưu đãi của Nhà nước, các hoạt động chăm sóc đời sống người có công cũng được duy trì thường xuyên. Hầu hết, người có công và thân nhân của họ đã được hưởng các chế độ ưu đãi về chăm sóc sức khỏe, cải thiện nhà ở, ưu đãi trong giáo dục, đào tạo và dạy nghề, tạo việc làm…Hàng vạn người có công được vay vốn từ Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm để phát triển sản xuất; hỗ trợ các cơ sở sản xuất, kinh doanh của thương bệnh binh và người có công, tạo điều kiện cho con, em của họ có việc làm, tăng thu nhập ổn định cuộc sống…Hệ thống cơ sở sự nghiệp phục vụ thương binh, thân nhân liệt sỹ và người có công bao gồm: các cơ sở nuôi dưỡng thương bệnh binh nặng, điều dưỡng luân phiên, các trung tâm chỉnh hình, phục hồi chức năng, sản xuất dụng cụ chỉnh hình đã có những hình thức quản lý hoạt động hiệu quả hơn, năng động hơn. Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ, xây dựng, tu bổ nghĩa trang, đền đài liệt sỹ cũng được Nhà nước và toàn xã hội chăm lo. Cả nước hiện có gần 7.000 các công trình ghi công liệt sỹ, trong đó có 237 Đài tưởng niệm liệt sỹ, 3.540 Nhà bia ghi tên liệt sỹ và 3.077 Nghĩa trang liệt sỹ với tổng số trên 780.000 mộ, trong đó 630.000 mộ có đầy đủ thông tin và khoảng 303.000 mộ còn thiếu thông tin, hơn 208.000 hài cốt liệt sỹ chưa phát hiện, quy tập được. Nhiều công trình ghi công liệt sỹ trở thành công trình lịch sử – văn hóa, như: Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn (là nơi quy tụ hơn 10.333 phần mộ của các liệt sỹ, có tổng diện tích 140.000m2); Nghĩa trang Điện Biên Phủ; Nghĩa trang Đường 9, Đền liệt sỹ Bến Dược, Đài tưởng niệm liệt sỹ Thái Nguyên; Khu di tích kỷ niệm 10 cô gái ở Ngã Ba Đồng Lộc… đặc biệt phải kể đến như Thành cổ Quảng Trị chỉ trong vòng 81 ngày, Mỹ – ngụy đã ném xuống đây gần 330.000 tấn bom đạn, tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Nhật Bản năm 1945. Riêng ngày 25 tháng 7, chúng xả vào Thành Cổ hơn 5000 quả đại bác. Nhưng với tinh thần chiến đấu kiên cường quân và dân ta đã đánh địch bật ra khỏi Thành Cổ. Nơi đây là nghĩa trang duy nhất của Việt Nam chỉ có một nấm mồ chung, một nấm mồ tượng trưng. Những nơi này đã chở thành một tượng đài kỷ niệm chiến tranh bất diệt,một địa chỉ đỏ để giáo dục truyền thống yêu nước và là điểm thu hút hấp dẫn khách tham quan trong nước và bè bạn quốc tế.

Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” của cả nước ngày càng thu hút được đông đảo các tấm lòng hảo tâm quan tâm đóng góp. Chỉ tính riêng từ năm 2007 đến nay, Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” cả nước đã vận động được 1.263 tỷ đồng (riêng năm 2007, nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ, cả nước đã vận động được 242 tỷ đồng), trong đó Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” Trung ương đạt 17,5 tỷ đồng.

Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cũng phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ đạo trong toàn Đoàn và ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức Tuần “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” (từ ngày 20 tháng7 đến ngày 27 tháng 7). Các cấp bộ Đoàn và ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tập trung tổ chức các hoạt động tuyên truyền về ý nghĩa ngày 27 tháng 7; chăm sóc, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng; động viên, thăm hỏi, tặng quà, khám sức khỏe thương bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng; tổ chức các hoạt động vệ sinh môi trường, tu sửa, chỉnh trang, tạo cảnh quan môi trường sạch, đẹp tại các nghĩa trang, tượng đài liệt sỹ, các di tích lịch sử văn hóa; tổ chức các hoạt động của tuổi trẻ giúp đỡ nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam. Theo báo cáo đăng ký của các địa phương, tính đến thời điểm này, các cấp bộ Đoàn đã tổ chức 33.216 hoạt động giúp đỡ gia đình thương binh, liệt sỹ; tổ chức thắp nến tri ân tại 2.098 nghĩa trang liệt sỹ với trên 800.000 ngôi mộ của các Anh hùng liệt sỹ; tổ chức trên 569.000 ngày công làm đẹp các nghĩa trang và công trình Tổ quốc ghi công các Anh hùng liệt sỹ… thu hút hơn 1 triệu đoàn viên thanh niên, sinh viên tham gia.

Tối ngày 20 tháng 7, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã dâng hương, hoa tại Đài tưởng niệm Trung tâm Thành cổ và làm lễ thả hoa trên dòng sông Thạch Hãn tưởng nhớ các Anh hùng liệt sỹ đã anh dũng chiến đấu và hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc trong chiến dịch bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị 81 ngày đêm năm 1972. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trao tặng quà cho Mẹ Việt Nam anh hùng, thương bệnh binh và thân nhân các gia đình liệt sỹ.

thăp hương tương niem cac AHLS tai thanh co QtThắp hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ tại Thành cổ Quảng Trị. Ảnh Internet

Trong những ngày tháng 7 tri ân này, các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có những hoạt động tích cực hưởng ứng Kế Hoạch 1037/KH-LĐTBXH, tiếp tục đẩy mạnh công tác đền ơn đáp nghĩa với Người có công và thân nhân của họ, tuyên truyền sâu rộng và tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về chính sách ưu đãi Người có công với cách mạng; giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” cho các cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ trong đơn vị. Ban Quản lý Lăng đã xây dựng Kế hoạch 1898/KH-TM về phục vụ lễ tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ. Lãnh đạo Ban và tập thể cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ đã có những hoạt động thiết thực như: động viên, thăm hỏi, tặng quà, thương bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng; Tham gia khởi công xây dựng nhà tình nghĩa ở Phú Thọ, Sầm Sơn; Dự lễ cầu siêu các Anh hùng liệt sỹ ở Thành cổ Quảng Trị; ngày 26 tháng 7 Lãnh đạo Ban và tập thể cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Ban Quản lý Lăng đã dâng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Bác; Thăm gia đình chính sách ở tỉnh Thái Bình; các đoàn viên thanh niên Đoàn 285 đã đến thăm hỏi và tặng quà Mẹ Việt nam anh hùng trên địa bàn; tập trung trang trí, làm đẹp khu vực Lăng và Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ; phục vụ công tác đón tiếp các Đoàn chính sách, Đoàn Người có công của các địa phương, các tổ chức xã hội về báo công dâng Bác và đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng Liệt sỹ.

65 năm qua, hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách tôn vinh, ưu đãi, chăm sóc người có công ngày càng được hoàn thiện. Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ; xây dựng, tu bổ nghĩa trang, đền, đài liệt sỹ được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội luôn chăm lo. Hệ thống cơ sở vật chất cho thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sỹ và người có công ngày càng được tăng cường. Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước, diện người có công được mở rộng, chế độ chăm sóc, ưu đãi được nâng lên dần. Đến nay, hầu hết những người có công và thân nhân, con em người có công đã được hưởng các ưu đãi về chăm sóc sức khỏe, giáo dục – đào tạo, giải quyết việc làm, cải thiện về nhà ở. Các hoạt động “đền ơn đáp nghĩa,” chăm sóc người có công đã thật sự trở thành một phong trào rộng khắp trong các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội, các cấp, các ngành, các địa phương trong cả nước với nhiều hình thức tổ chức, nhiều việc làm cụ thể, thiết thực, hết sức phong phú, sáng tạo, trở thành nét đẹp văn hoá trong đời sống xã hội./.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2012)

65 năm ngay TBLS

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8 tháng 7 năm 1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27 tháng 7 hàng năm chính thức trở thành “Ngày Thương binh, Liệt sĩ” của cả nước.

Gần 4 thập niên đã trôi qua kể từ ngày hoà bình thống nhất đất nước song những đau thương mất mát mà chiến tranh để lại vẫn không gì bù đắp được. Chúng ta mãi mãi biết ơn những người đã hy sinh, đã bỏ lại một phần xương máu của mình nơi chiến trường và mang thương tật không thể chữa lành của chiến tranh. Cứ đến ngày 27 tháng 7 hàng năm, đồng bào cả nước có dịp tưởng nhớ những người con của dân tộc đã chiến đấu quên mình vì nền độc lập của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Khi chính quyền cách mạng còn non trẻ, thực dân Pháp âm mưu xâm lược nước ta. Trong cuộc chiến đấu này, nhiều chiến sỹ, đồng bào ta đã bị thương, nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường. Kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, “không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, quân dân ta đã anh dũng chiến đấu, đánh đuổi bọn xâm lược. Ngày 19/12/1946, Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, chiến tranh bùng nổ, số người bị thương và hy sinh tăng lên. Đời sống của đồng bào và chiến sỹ gặp nhiều khó khăn thiếu thốn. Trong tình hình ấy, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định nhiều chính sách quan trọng về công tác thương binh, liệt sĩ, góp phần đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần cho các gia đình chính sách trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến.

Tháng 6 năm 1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Tổng hội Phụ nữ cứu quốc, Cục chính trị quân đội Quốc gia Việt Nam, Nha thông tin tuyên truyền một số địa phương đã họp tại Đại Từ – Thái Nguyên. Nội dung cuộc họp là thực hiện Chỉ thị của Hồ Chủ tịch chọn ngày kỷ niệm thương binh, liệt sĩ và bảo vệ công tác thương binh, liệt sĩ,  Hội nghị đã nhất trí lấy ngày 27/7/1947 làm ”Ngày Thương binh toàn quốc”, là dịp để cán bộ, chiến sỹ và nhân dân cả nước dành những tình cảm thiêng liêng nhất để tưởng nhớ, biết ơn những thương binh, liệt sĩ đã hy sinh xương máu của mình vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, để cho mỗi chúng ta có được cuộc sống thanh bình và hạnh phúc ngày hôm nay. Ngày 27-7-1947, một cuộc mít tinh quan trọng đã được diễn ra tại Thái Nguyên (có trên 2.000 người tham gia). Tại đây Ban Tổ chức đã trịnh trọng đọc thư của Hồ Chủ tịch. Người đã gửi tặng một chiếc áo lụa, một tháng lương và một bữa ăn của nhân viên trong Phủ Chủ tịch. Từ năm 1947, ngày Thương binh được tổ chức thường kỳ hàng năm. Năm nào vào dịp này, Hồ Chủ tịch cũng có thư và quà gửi anh chị em thương binh và các gia đình liệt sĩ. Tháng 7 năm 1954 sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Đảng và Nhà nước ta càng đặc biệt quan tâm giải quyết vấn đề chiến sỹ, gia đình liệt sĩ và công tác thương binh. Và từ năm 1955, ngày 27-7, Ngày Thương binh được đổi thành ngày Thương binh – Liệt sĩ để ghi nhận những hy sinh lớn lao của đồng bào, chiến sỹ cả nước cho chiến thắng vẻ vang của toàn dân tộc.

Từ năm 1970, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quyết định lấy ngày 01 tháng 12 hàng năm làm “Ngày Thương binh – Liệt sĩ”. Theo đó, hàng năm đến ngày 01 tháng 12, cùng với việc cử các Đoàn đại biểu đến tặng quà, úy lạo thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đều có thư động viên, thăm hỏi thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và nhắc nhở quân dân các địa phương quan tâm, săn sóc, giúp đỡ anh, chị em. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8 tháng 7 năm 1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27 tháng 7 hàng năm chính thức trở thành “Ngày Thương binh – Liệt sỹ” của cả nước. Ngày 29/3/1978, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã ban hành Chỉ thị số 07-CT/TBXH về cuộc vận động chính trị trong thương binh, gia đình liệt sĩ, phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang, mãi mãi xứng đáng là “người công dân kiểu mẫu” và “gia đình cách mạng gương mẫu”.

Đã 65 năm trôi qua kể từ Ngày Thương binh – Liệt sĩ đầu tiên ấy, mỗi năm cứ đến ngày 27 tháng 7, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cả nước lại tưởng nhớ đến Bác và thêm tự hào về bước phát triển của công tác Thương binh – Liệt sĩ theo tư tưởng và sự chỉ đạo của Người.

Kim Yến
bqllang.gov.vn