Thư viện

Bài báo cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng

Cách đây tròn mười năm, Báo Nhân Dân kỷ niệm 50 năm Ngày ra số đầu, tôi có dịp được gặp lão đồng chí Vũ Kỳ, nguyên thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được nghe kể những kỷ niệm về Người đối với Báo Nhân Dân. Chiều hôm ấy, mưa xuân như phủ lớp sương khói mờ ảo trên mọi phố phường Hà Nội.

Căn nhà ông mới được cấp ở phố Hoàng Cầu còn thơm mùi vôi, đồ đạc tuềnh toàng, chỉ có giá sách rất đầy đặn vây quanh phòng khách. Do đã hẹn trước, ông mở cửa đón tôi vui vẻ, niềm nở và rất đỗi chan hòa.

– Nào, bây giờ chúng ta nói chuyện về Bác Hồ với chủ đề gì?

– Thưa, xin bác vui lòng kể lại những kỷ niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc rèn dạy Báo Nhân Dân? Tôi đặt câu hỏi.

Ông suy ngẫm một hồi lâu rồi nở nụ cười rạng rỡ, đôi mắt cũng cười theo.

– Báo Nhân Dân, báo Ðảng. Bác Hồ viết về xây dựng Ðảng trên Báo Nhân Dân nhé!

Ðúng quá rồi! Tôi nhẩm tính, từ khi Báo Nhân Dân ra số đầu, đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về cõi vĩnh hằng là quãng thời gian 18 năm. Người đã viết cho báo Ðảng 1.205 bài báo. Bài báo cuối cùng của Bác Hồ viết về xây dựng Ðảng là bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” đăng số báo ra ngày 3-2-1969. Ðó là bài báo thứ 1.204 mà Người viết cho Báo Nhân Dân.

Dừng ở bài báo này, đồng chí Vũ Kỳ kể: Trước ngày 3-2 năm ấy, Bác Hồ giao đồng chí Tố Hữu dự thảo cho Người một bài báo nói về chống chủ nghĩa cá nhân, đề cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Bài báo viết xong, Bác Hồ cho gọi đồng chí Tố Hữu đến để xem lại bài Bác đã sửa chữa. Ðồng chí Vũ Kỳ cũng được Bác cho cùng dự. Nhìn thấy bài được sửa chữa, đồng chí Tố Hữu nói:

– Thưa Bác, Bác đã chữa hết cho cháu rồi.

– Không, phần nói về đạo đức cách mạng của chú, Bác vẫn giữ nguyên đấy chứ!

Ðồng chí Tố Hữu đưa mắt nhìn đồng chí Vũ Kỳ rồi thưa:

– Phần lớn cán bộ, đảng viên đều nêu cao đạo đức cách mạng, số người mang nặng chủ nghĩa cá nhân chỉ là thiểu số! Do vậy xin Bác cho sửa tít của bài báo thành “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” thay vì: “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”. Bác Hồ trầm ngâm suy nghĩ và nói:

– Các chú nói có lý nhưng chưa hợp lý. Vợ chồng chú Kỳ tằn tiện sắm được bộ bàn ghế mới. Trước khi kê nó vào nhà thì phải quét sạch nhà cửa đã. Ý kiến của hai chú là đa số, Bác đồng ý về tên bài báo. Nhưng nội dung của bài báo Bác vẫn giữ nguyên ý kiến: “Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nêu cao đạo đức cách mạng”.

Thế đã rõ thái độ kiên quyết như thế nào của Bác Hồ đối với chủ nghĩa cá nhân. Ðồng chí Vũ Kỳ còn cho biết, bài báo viết xong, Bác bảo cho đánh máy thành nhiều bản để gửi cho từng đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị sửa trực tiếp vào bản thảo và trả ngay trong ngày. Ðến chiều, Bác hỏi:

– Chú Kỳ cho biết ai là người sửa nhiều nhất?

– Thưa Bác, đồng chí Trường Chinh sửa nhiều nhất.

– Vậy chú lấy bản sửa của đồng chí Trường Chinh làm bản chính để tiếp thụ ý kiến của tất cả các đồng chí trong Bộ Chính trị.

Ðó là phong cách làm việc dân chủ, tôn trọng ý kiến mọi người của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng theo tôi, còn một hàm ý nữa, thông qua việc lấy ý kiến đóng góp vào bài báo, Người muốn những đồng chí, những cộng sự của Người cùng suy nghĩ và hành động cho nhiệm vụ thật nặng nề “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” mà Người là biểu tượng rực rỡ của đức tính cao thượng ấy.

43 mùa Xuân đã trôi qua kể từ khi bài báo ra đời, hôm nay chúng ta cùng đọc lại những câu, những chữ Người viết về chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện tệ hại của nó, càng suy ngẫm càng thấm thía. Bác viết: “… còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém.

Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”.

Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Ðảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân…”.

Trong bài báo đó, Người căn dặn để cán bộ, đảng viên xứng đáng với lời khen chân thành của nhân dân “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, Ðảng ta phải tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, “phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Ðảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên”. Ðúng là trong Ðảng phải nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình thì mới mở đường cho quần chúng nhân dân thật thà phê bình cán bộ, đảng viên.

Những tháng, ngày của năm 1969, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ngày càng gian khổ, ác liệt, bệnh của Người ngày một nặng thêm nhưng Bác Hồ vẫn dành những lời căn dặn chân thành, tha thiết nhất cho mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta. Bởi vì Người đã biết rõ, chủ nghĩa cá nhân với những biểu hiện đã nêu là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Mùa Xuân này, một mặt tập trung lãnh đạo kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, mặt khác, Ðảng ta triển khai thực hiện cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Chúng ta học lại bài báo để tìm thấy ở đó nguồn năng lượng mới, nguồn sáng mới để tiếp tục xây dựng Ðảng ta ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Theo Phạm Đạo/Nhân dân

baodatviet.vn

Người nặng lòng với báo chí

Thấm thoắt 86 năm đã đi qua kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ra tờ báo Thanh Niên, tờ báo cách mạng đầu tiên ở nước ta. Những quan điểm, tư tưởng của Bác về báo chí cách mạng Việt Nam đến nay vẫn còn nguyên giá trị và bản thân Bác là một tấm gương mẫu mực cho những người làm báo.

Năm 1911, khi vừa tròn 21 tuổi, Nguyễn Tất Thành đã rời cảng Sài Gòn ra đi tìm đường cứu nước. Trong những năm tháng bôn ba kiếm tìm chân lý, Người đã đến với báo chí, coi báo chí là một phương tiện có hiệu quả và nhạy bén trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và nhân dân.

Lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam còn mãi nhớ đến những đêm đông tuyết rơi lạnh thấu xương bên bờ Đại Tây Dương, nơi căn phòng nhỏ, có một chàng thanh niên mảnh khảnh với viên gạch hồng nung để sưởi ấm, vẫn cặm cụi viết báo, viết sách. Người sau này trở thành lãnh tụ vĩ đại, nhà văn hóa kiệt xuất và là một chiến sĩ tiên phong trên mặt trận báo chí cách mạng Việt Nam. Kể từ bài báo đầu tiên của Bác được đăng trên báo Nhân Đạo của Đảng Cộng sản Pháp ngày 2-8-1919 có tên “Vấn đề của người bản xứ” cho đến bài báo cuối cùng “Nâng cao tinh thần trách nhiệm về chăm sóc và giáo dục thanh thiếu niên, nhi đồng” đăng trên báo Nhân Dân ra ngày 1-6-1969, Người đã để lại cho báo chí cách mạng Việt Nam trên 2.000 bài báo đủ các thể loại với nhiều bút danh khác nhau. Đó là di sản vô giá của một nhà báo, nhà cách mạng kiệt xuất và người thầy mẫu mực về báo chí. Trong bài nói ở Đại hội lần thứ II – Hội Nhà báo Việt Nam (16-4-1959), Bác đã nhận mình “là một người có nhiều duyên nợ với báo chí”(1). Câu nói ấy giản dị, khiêm nhường và thật gần gũi Quả thật, duyên nợ với báo chí dường như đã đi theo Bác trong suốt cả cuộc đời. Từ những bài viết ngắn vài chục chữ bằng tiếng Pháp, đến sáng lập tờ báo Người cùng khổ (Le Paria, năm 1922), sau đó là tờ Thanh Niên (năm 1925) ở Trung Quốc, báo Thân Ái, Đồng Thanh ở Thái Lan. Năm 1943, khi đang ở núi rừng Việt Bắc với muôn vàn gian khổ, Bác cho ra đời tờ Việt Nam Độc lập.

Những bài viết của Bác là lời kêu gọi, động viên đồng bào, thấm đượm trong đó truyền thống văn hóa, lịch sử, giá trị nhân văn, nhân bản và cả một phong cách báo chí rất riêng. Người dùng báo chí đấu tranh cho độc lập, tự do, công bằng, bình đẳng, bác ái. Ở lĩnh vực nào, góc độ nào, phong cách báo chí của Người cũng toát lên sự sắc sảo, trung thực, tính chiến đấu và đầy ắp lòng vị tha, khoan dung. Mỗi bài viết hay câu nói của Người đều rất giàu hình tượng, uyển chuyển, hòa quyện đến lạ lùng đồng thời mạnh mẽ, đanh thép có sức lay động lớn. Tuy nhiên, Bác Hồ chưa bao giờ gọi mình là nhà báo mà chỉ khiêm nhường nhận mình là người nặng lòng với báo chí. Tại Đại hội lần thứ II của Hội Nhà báo Việt Nam, Bác phát biểu những lời đầy tâm huyết: “Nói về Hội nhà báo. Đó là một tổ chức chính trị và nghiệp vụ. Nhiệm vụ của Hội là phải làm cho hội viên đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau để nâng trình độ chính trị và nghiệp vụ. Có như thế thì Hội nhà báo mới làm tròn nhiệm vụ của mình và những người làm báo mới phục vụ nhân dân, phục vụ tốt cách mạng”(2). Người nhắc nhở: “Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới. Chính vì thế cho nên tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành…) phải có lập trường chính trị vững chắc… Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính quần chúng và tinh thần chiến đấu”(3). Bác đã nhiều lần căn dặn những người làm báo một vấn đề có tính nguyên tắc là phải luôn luôn tự hỏi: “viết cho ai xem, viết để làm gì”, cả hai mặt đó gắn bó với nhau và chính Người đã thể hiện được nguyên tắc ấy trong mỗi tác phẩm báo chí của mình.

Dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng và nhất là sau hơn 25 năm đất nước đổi mới, báo chí Việt Nam đã có bước phát triển to lớn với 745 cơ quan báo chí, 1003 ấn phẩm. và gần 17.000 nhà báo được cấp thẻ. Cùng với sự phát triển không ngừng thì báo chí hiện nay cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Mỗi người làm báo cần rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao nghiệp vụ, xứng đáng với 25 chữ vàng mà Đảng ta đã dành tặng: Báo chí cách mạng Việt Nam trung thành, đoàn kết, trí tuệ, đổi mới vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

——————————

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, H 2000, tr 412.
(2),(3) Sđd, tr 414.

Trần Minh Hiền
Nha Trang, Khánh Hòa

xaydungdang.org.vn

Hồ Chí Minh với báo chí cách mạng Việt Nam

Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm tới báo chí

Nhìn lại chặng đường họat động cách mạng của Bác, lúc bôn ba hải ngọai cũng như khi đặt chân về nước, Bác đã sớm thấy lợi khí cách mạng của báo chí. Bác sử dụng thành thạo, sắc bén báo chí làm phương tiện quan trọng chiến đấu vì sự nghiệp cứu nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà báo lớn và là người khai sinh nền báo chí cách mạng Việt Nam. Bác sáng lập tờ báo Thanh Niên và ngày 21-6-1925. Đó là một điểm mốc lịch sử đáng ghi nhớ của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Ngày 1-2-1985, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã quyết định lấy ngày 21-6 hằng năm làm Ngày Báo chí cách mạng Viêt Nam.

Nhìn lại chặng đường họat động cách mạng của Bác, lúc bôn ba hải ngọai cũng như khi đặt chân về nước, Bác đã sớm thấy lợi khí cách mạng của báo chí. Bác sử dụng thành thạo, sắc bén báo chí làm phương tiện quan trọng chiến đấu vì sự nghiệp cứu nước. Ngày 1-4-1922, khi đang họat động cách mạng ở Pháp, Bác đã sáng lập tờ báo Người cùng khổ (Le Paria). Tại Thái Lan, Bác thành lập báo Thân Ái, Đồng Thanh. Năm 1943, Bác cho ra đời tờ Việt Nam Độc lập. Sau khi khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, ngày 7-9-1945, Bác chỉ thị thành lập Đài phát thanh quốc gia (nay là Đài tiếng nói Việt Nam). Ngày 19-9-1945, Hãng tin quốc gia (nay là Thông tấn xã Việt nam) cũng được thành lập(1).

Quan điểm nhất quán của Bác khi đề cập đến báo chí cách mạng là phải xác định được mục đích, tôn chỉ và nhiệm vụ. Bác từng nói: Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có 4 vấn đề cần phải chú ý đến cùng, phải coi quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Báo chí vừa là bộ phận cấu thành của văn hóa vừa là phương tiện cổ vũ, truyền bá thực thi văn hóa. Nó là đội quân đi đầu trong công tác tư tưởng (2).

Trong lớp học viết báo đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng), Bác đề ra 6 điểm chính của báo. Bác nói:

1. Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung.

2. Mục đích là kháng chiến và kiến quốc. Để đi đến kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, thì: 3. Tôn chỉ của tờ báo là đoàn kết toàn dân, thi đua ái quốc. Vì vậy:

4. Đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng. Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo. Muốn được dân chúng ham chuộng, coi tờ báo ấy là của mình, thì:

5. Nội dung tức là các bài báo phải giản đơn, dễ hiểu, phổ thông, thiết thực, hoạt bát. Và:

6. Hình thức tức là cách sắp đặt các bài, cách in phải sạch sẽ, sáng sủa”(3).

Báo chí của Đảng hay báo chí của các đoàn thể chính trị – xã hội, trước hết phải là cơ quan tuyên truyền cổ động, tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, là diễn đàn của quần chúng nhân dân về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước. Do vậy, các nhà báo cũng như các cơ quan báo chí cần phải nắm vững 6 điểm chính mà Bác đã nêu để không đi chệch đường lối chính trị của Đảng. Bác chỉ ra những khuyết điểm mà báo chí ta thường gặp đó là: “tuyên truyền thì không kịp thời và chính trị suông quá nhiều. Không biết giữ bí mật. Đôi khi đăng tin vịt…”(4). Bác nhắc nhở báo chí của ta không nên dùng chữ Tàu khi không cần thiết và phải thật sự tôn trọng sự kiện bởi nhà báo là người có khả năng tạo ra dư luận để ủng hộ hoặc phê phán một hiện tượng xã hội, vì thế mà phải công tâm, phải có phẩm chất trung thực.

Bác đã hướng dẫn các nhà báo một số điểm quan trọng khi viết báo:

1. Gần gụi dân chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực.

2. Ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài, để xem báo nước ngoài và học kinh nghiệm của người.

3. Khi viết xong một bài, tự mình phải xem lại ba bốn lần, sửa chữa lại cho cẩn thận. Tốt hơn nữa là đưa nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi họ những câu nào, chữ nào không hiểu thì sửa lại cho dễ hiểu.

4. Luôn luôn gắng học hỏi, luôn luôn cầu tiến bộ”(5).

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, những lời căn dặn của Bác đối với những người làm báo, viết báo đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

———————————————-

(1) Theo Niên giám báo chí, H 2000
(2) Báo Nhân Dân số 19-5-2001 (Phan Quang)
(3) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 5, tr 625.
(4), (5) Sđd, tr 626.

Đỗ Văn Thông
Q.Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh

xaydungdang.org.vn

Hồ Chí Minh – sự nghiệp báo chí nhân văn

Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh vừa kế thừa văn hóa truyền thống, vừa bao hàm tinh thần cách mạng mới để phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, đồng thời gắn với xu thế hội nhập tất yếu của văn hóa nhân loại. 

Sự nghiệp báo chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu từ năm 1919 ở Pari, lúc đó Nguyễn Ái Quốc đã tự rèn luyện để trở thành một cây bút sắc bén của các tờ báo: Nhân đạo, Đời sống công nhân, Dân chúng, Tạp chí cộng sản… Ông sáng lập, kiêm phóng viên, chủ bút và họa sỹ của tờ Le Paria (Người cùng khổ) nổi tiếng, cơ quan ngôn luận của Hội liên hiệp thuộc địa. Ngoài chuyên mục chính trị, tờ báo có Diễn đàn văn học giới thiệu các tác phẩm lớn có giá trị xã hội và lịch sử. Ông đã viết hơn 40 bài báo, chiếm trên 60% tổng số bài trên tờ diễn đàn của các dân tộc thuộc địa duy nhất trong lịch sử báo chí thế giới. Sang nước Nga, ông Nguyễn vẫn gửi bài cho các báo Pháp, viết thường kỳ cho các tờ Thông tin quốc tế, Tạp chí Quốc tế nông dân, Sự thật, Người công dân Bacu, Nữ công nhân, Tiếng còi… Ông cùng với một số sinh viên Trung Quốc viết cuốn Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc, được nhà xuất bản Matxcơva Mới ấn hành 1924. Tại Quảng Châu, ông Nguyễn làm phiên dịch cho đoàn cố vấn Liên Xô, đồng thời phụ trách mục tuyên truyền của tờ báo tiếng Anh Canton Gazette. Ông Nguyễn trực tiếp phụ trách và cùng Hội Việt Nam thanh niên cách mạng xuất bản 88 số báo Thanh Niên. Tờ báo có các chuyên mục xã hội, bình luận, tản văn, vấn đáp, thơ ca… sử dụng nhiều hình thức văn phong khác nhau như ca dao, tục ngữ quen thuộc và cải tiến chữ quốc ngữ gây ấn tượng đổi mới rộng rãi.

Ngày 28-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước lãnh đạo cách mạng, Người sáng lập và phụ trách tờ báo Việt Nam độc lập (gọi tắt là Việt Lập). Năm 1943, khi bị giam trong các nhà tù Quốc dân Đảng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã viết tập Ngục trung nhật ký bằng tiếng Hán, gửi gắm trong đó tâm ý của người chiến sĩ, một hồn thơ, sự cảm thông với những cuộc đời mất tự do, khốn khó và khẳng định chỉ chấp nhận thân thể ở trong lao còn tinh thần ở ngoài lao! Nhà phê bình Trung Quốc nổi tiếng Quách Mạt Nhược đánh giá, 133 bài thơ này ngang những bài thơ Tống – Đường hay nhất vì bút pháp trác tuyệt, ý thơ đương đại, biểu cảm và chân thực. Gần một năm bị quản thúc ở Liễu Châu, Người vẫn viết rất nhiều bài cho Nhật báo Liễu Châu về các vấn đề Trung Quốc, Việt Nam, Li Băng, trục phát xít… Giới văn sỹ đặc biệt chú ý đến những bài viết này và họ luôn tấm tắc: “Nếu nói văn của Hồ tiên sinh khác nào nhả ngọc phun châu, thật chẳng phải là nói quá. Sao lại có người Việt Nam viết văn Trung Hoa hay thế!”. Có thể thấy ở mọi thời điểm và hoàn cảnh, hoạt động văn hóa Hồ Chí Minh luôn luôn đáp ứng yêu cầu của thực tế và báo chí chính là diễn đàn biểu đạt tư tưởng văn hóa một cách rõ ràng nhất. Ngày 15-5-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh đề nghị trung úy John, báo vụ của cơ quan phục vụ chiến lược Mỹ OSS, điện về Tổng hành dinh ở Côn Minh nhờ tìm cho Người một cuốn Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ. Và bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam mới do Người đọc ngày 2-9-1945 đã mở đầu bằng câu trích từ Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ, sau đó là dẫn ý bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791.

Sau khi nước ta giành được độc lập và rồi cả dân tộc lại phải trường kỳ kháng chiến chín năm, trên những chặng đường gian khổ vượt qua bao núi cao, rừng rậm, đèo sâu, hang lạnh của các tỉnh Cao Bằng – Bắc Kạn – Tuyên Quang – Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn là linh hồn của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ cho đến ngày thắng lợi cuối cùng. Không những là một vị lãnh tụ tối cao về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, Người còn là một cây bút chiến sĩ kiệt xuất. Trong suốt 3000 ngày kháng chiến, với điều kiện sống và làm việc kham khổ, thiếu thốn, không kể những sắc lệnh, công điện, mật điện, thư khen, thư tay, bài nói chuyện, trả lời phỏng vấn, lời kêu gọi và cả những bài thơ đầy cảm xúc, Bác đã viết 7 cuốn sách: Đời sống mới (3-1947), Sửa đổi lối làm việc (10-1947), Việt Bắc anh dũng (12-1947), Một đoạn lịch sử Việt Nam từ 1847 đến 1947 (1948), Giấc ngủ mười năm (4-1949), Cần kiệm liêm chính (6-1949), Thường thức chính trị (1953); dịch cuốn sách: Tóm tắt lịch sử nội chiến ở Liên Xô sang tiếng Việt và theo con số thống kê chưa đầy đủ, Người đã viết 593 bài đăng các báo dưới 32 bút danh khác nhau về tất cả những lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, ngoại giao trong và ngoài nước. Quan điểm lý luận và hoạt động báo chí thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn phù hợp, gắn bó với cuộc sống và phục vụ lợi ích nhân dân, Người rất coi trọng đối tượng và hiệu quả tuyên truyền báo chí. Vì vậy, trong thời gian kháng chiến, Bác đã dạy những người làm báo của Đảng: “Báo của ta là báo của nhân dân, phải nói thật với dân. Thổi phồng khó khăn làm dân sợ, dân hoang mang là sai, là không tốt. Nhưng ngược lại nói quá dễ dàng, tưởng để động viên nhưng khi dân thấy sự thật không đúng như thế, dân không tin ta nữa, không xem báo nữa! Báo không còn tác dụng nữa thì gọi là báo lá cải, vì nó không có giá trị bằng lá rau cải. Muốn viết trung thực thì phải đến tận nơi, phải nghiên cứu, phải suy nghĩ nên viết cái gì và viết như thế nào”.

Trở lại Thủ đô, trong 15 năm sống và làm việc tại Khu di tích Phủ Chủ tịch, dưới khoảng 38 bút danh khác nhau, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết khoảng 859 bài cho các báo trong và ngoài nước, đề cập đến mọi lĩnh vực trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng cơ sở của chủ nghĩa xã hội, góp sức cho đồng bào miền Nam, đấu tranh thống nhất đất nước và ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của các dân tộc đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập tự do trên toàn thế giới. Khi đến thăm và nói chuyện với Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam, Người đã xung phong phê bình các báo: “Thường nói một chiều và đôi khi thổi phồng các thành tích, mà ít hoặc không nói đúng mức đến khó khăn và khuyết điểm của ta; Đưa tin tức hấp tấp, nhiều khi thiếu thận trọng; Thiếu cân đối, tin nên dài thì viết ngắn, nên ngắn lại viết dài, nên để sau thì để trước, nên trước lại để sau…” và Người căn dặn: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng”.

Suốt cuộc đời hoạt động chính trị – văn hóa của mình, ngoài những bài tham luận, phát biểu, thăm hỏi, trả lời phỏng vấn, viết sách, gửi thư – điện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết hơn 2000 bài báo và Người thường xuyên đọc khoảng 70 loại báo trong và ngoài nước. Jean Lacouture nhận định: “Văn phong kỳ lạ, rõ ràng là thế! Người ta không thấy có giọng văn này ở cả Xtalin, Churchill hay De Gault, còn văn Cụ Hồ thì vươn tới tiếng nói của lịch sử”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu những thành tựu văn hóa nhân loại từ đỉnh cao của nền văn hóa Việt Nam, sáng tạo và tỏa sáng. Người không chỉ gắn bó với dân tộc mình mà còn dành tình cảm thắm thiết cho các dân tộc khác trên thế giới, luôn luôn ủng hộ mọi cuộc đấu tranh yêu nước bất cứ đâu, quan tâm săn sóc ân cần tất cả bạn bè quốc tế. Cho dù thế giới trải qua bao đổi thay, Bác Hồ vẫn luôn được tôn kính và ngưỡng mộ như biểu tượng cao cả của nhân đạo, chính nghĩa, hòa bình và nhân văn. UNESCO khẳng định: Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại. Người đã đóng góp quan trọng về nhiều mặt trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, nghệ thuật và những tư tưởng của Người là khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau. Người là một lãnh tụ cách mạng, một danh nhân văn hóa, một cây bút chiến sĩ vì sự nghiệp cao cả của nhân loại mà: “Bất cứ người nào có lương tri trên thế giới này muốn có cuộc đời như cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ cảm thấy cuộc sống như ấm áp hơn, đáng tự hào và có hy vọng hơn. Cuộc đời ấy, tấm lòng ấy khác nào biển rộng, sông dài, còn tươi sáng mãi trong lịch sử thời đại ngày nay!”.

Theo HNM điện tử

cpv.org.vn

Bác Hồ – cây bút xuất sắc của báo chí cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh Internet

Không chỉ là một chiến sỹ cách mạng xuất sắc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một cây bút xuất sắc, một nhà báo lớn, người khai sinh nền báo chí cách mạng Việt Nam. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Bác đã nhận thấy báo chí là thứ vũ khí sắc bén, phương tiện hữu ích phục vụ sự nghiệp cứu nước. Năm 1922, trên hành trình tìm đường cứu nước, tại Pháp, Bác đã tham gia sáng lập tờ báo “Le Paria” (Người cùng khổ) và được coi là “linh hồn” của tờ báo, làm “chủ bút, chủ nhiệm, giữ quỹ, phát hành và bán báo”. Các công đoạn làm báo đều được Người đảm nhiệm. Mối một số ra là sự lên án chủ nghĩa thực dân, sự kêu gọi nhân dân các nước thuộc địa cùng nhau đoàn kết giải phóng dân tộc. Năm 1924, Người sáng lập báo

“Quốc tế nông dân”. Đặc biệt, đến năm 1925, tờ báo “Thanh niên” – cơ quan ngôn luận của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, ra số đầu tiên ngày 21/6/1925 là điểm mốc đáng nhớ, đánh dấu sự ra đời của nền báo chí cách mạng Việt Nam hay nói cách khác là sự mở đầu cho cả một dòng báo chí ở Việt Nam. Trên thực tế, báo Thanh niên ra đời nhằm mục đích tuyên truyền đường lối cách mạng cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ thanh niên, chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong thời điểm năm 1925, Bác đồng thời sáng lập 2 tờ báo ‘Công nông”, “Lính Kách mệnh” (ở Trung Quốc) và sau đó là các tờ “Thân ái” (tại Thái Lan năm 1928), “Đỏ” – cơ quan của chi bộ An Nam Cộng sản Đảng (tại Trung Quốc năm 1929). Sau nhiều năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Bác về nước và thành lập tờ “Việt Nam độc lập” (1941), “Cứu quốc” (1942) và sử dụng chúng làm diễn đàn để đấu tranh cách mạng.

Sau này, nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp của báo chí cách mạng và nêu cao trách nhiệm của báo chí, của nhà báo trước xã hội, Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định lấy ngày 21/6 là ngày Báo chí Việt Nam.

Ngay từ đầu, Bác đã coi báo chí là một bộ phận cấu thành văn hóa, là phương tiện cổ vũ, truyền bá và thực thi văn hóa. Đây là đội quân đi đầu trong công tác tư tưởng là diễn đàn của quần chúng nhân dân về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước. Nhận thức rõ tầm quan trọng của báo chí trong dư luận trong nước và thế giới, đối với riêng bản thân mình, Bác rất cẩn trọng trong từng câu chữ, ý tứ, nội dung các bài báo mình viết. Bác luôn quan niệm phải viết sao cho dân chúng hiểu và quan tâm đọc. Bác có một thói quen là thường đem những bài báo sau khi viết xong cho những người xung quanh nghe và góp ý, kể cả khi Người đã làm Chủ tịch nước. Khi người đọc không hiểu hoặc hiểu không đúng, Bác thường sửa ngay. Vì thế, văn phong của Bác thường ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu, dễ nhớ mà vẫn thể hiện những nội dung quan trọng cần truyền bá tới người dân.

Bác căn dặn nhà báo trước hết phải là một chiến sỹ cách mạng, các nhà báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, nội dung và cách viết. Trong một lần nói chuyện với cán bộ, phóng viên được cử đi học tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, Bác có nói “Các chú phải nhớ là viết cho ai, viết cái gì, nhằm mục đích gì. Phải viết cho dân hiểu để dân làm, phải nghe lời phê bình hằng ngày của dân. Đừng cậy mình nhiều chữ rồi dài dòng văn tự, chẳng ai hiểu các chú nói và viết cái gì, rồi lại cho là đàn gảy tai trâu”.

Báo chí cách mạng là tiếng nói đúng và kiên định của Đảng và nhân dân. Để báo chí không đi chệch đường lối chính trị của Đảng, Bác có đề ra 6 điểm chính đối với các nhà báo cũng như các cơ quan báo chí:

“1. Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung.

2. Mục đích là kháng chiến và kiến quốc. Để đi đến kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, thì:

3. Tôn chỉ của tờ báo là đoàn kết toàn dân, thi đua ái quốc. Vì vậy:

4. Đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng. Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo. Muốn được dân chúng ham chuộng, coi tờ báo ấy là của mình, thì:

5. Nội dung tức là các bài báo phải giản đơn, dễ hiểu, phổ thông, thiết thực, hoạt bát. Và:

6. Hình thức tức là cách sắp đặt các bài, cách in phải sạch sẽ, sáng sủa”.

Những lời dạy đó của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự sâu sắc. Các cơ quan báo chí luôn quán triệt quan điểm có tính nguyên tắc, đó là báo chí đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, vừa là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức, chính trị, xã hội, nghề nghiệp vừa là diễn đàn của nhân dân; tích cực tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới.

Theo dòng chảy của cách mạng, của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, học tập, vận dụng và phát triển tư tưởng, quan điểm của Bác Hồ, báo chí cách mạng Việt Nam không ngừng lớn mạnh. Thế giới phát triển không ngừng, các mối quan hệ giao lưu trong nước và quốc tế không ngừng mở rộng, công nghệ thông tin bùng nổ nhưng những nguyên tắc của báo chí cách mạng Việt Nam thì không thay đổi. Trong suốt chặng đường phát triển, báo chí Việt Nam và đội ngũ các nhà báo đã không ngừng cố gắng, cống hiến, làm tốt vai trò là người tuyên truyền cổ động, huấn luyện, giáo dục, và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung của sự nghiệp cách mạng nước nhà./.

Huyền Trân (Tổng hợp)

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo

Nhân kỷ niệm 86 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam:

 

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn coi báo chí là thứ vũ khí sắc bén để động viên, giáo dục quần chúng và chiến đấu với kẻ thù. Động lực làm cho ngòi bút báo chí của Người ngày càng sắc bén, linh hoạt chính là sự giác ngộ từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa quốc tế vô sản. Vì mục đích rõ ràng nên Bác không ngừng rèn luyện cách viết, không ngừng nâng cao trình độ. Nếu tính từ tác phẩm đầu tiên Tâm địa thực dân, khoảng tháng 7.1919 đến tác phẩm cuối cùngThư trả lời Tổng thống Mỹ(đăng trên báo Nhân dân số 25.8.1969) thì trong 50 năm hoạt động liên tục, Người đã viết hơn 2.000 bài báo các loại, ở hàng trăm tờ báo. Hồ Chí Minh cũng đã sáng lập 9 tờ báo: Người cùng khổ (Le Paria, năm 1922), Quốc tế nông dân(1924); Thanh niên(1925); Công nông(1925); Lính Kách mệnh(1925); Thân ái(1928);Đỏ (1929), Việt Nam độc lập(1941); Cứu quốc(1942), Hồ Chí Minh đã sử dụng khoảng 150 bút danh bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Hoa, tiếng Việt và nhiều ngôn ngữ khác.

Ngày 20.9.1919, Nguyễn Ái Quốc (dường như) đã có lần trả lời phỏng vấn đầu tiên, với báo Yiche Pao, xuất bản tại Thiên Tân, Trung Quốc. Đó là cuộc trao đổi giữa Nguyễn Ái Quốc, Phan Văn Trường, một đại biểu của Triều Tiên là Tchong Wen và một phóng viên người Mỹ tại nhà phóng viên này. Phóng viên hỏi: “Ông đến Pháp với mục đích gì?”. Đáp: “Để đòi những tự do mà chúng tôi phải được hưởng”. Khi được hỏi về những hoạt động từ khi đến Pháp, Nguyễn Ái Quốc cho biết: “Ngoài việc vận động các thành viên Nghị viện, tôi đã tìm cách nhen nhóm thiện cảm mỗi nơi một chút, trong đó Đảng Xã hội tỏ ra ít thỏa mãn với các biện pháp của Chính phủ và đã sẵn lòng ủng hộ chúng tôi. Về hoạt động của chúng tôi ở các nước khác, lính ở nước ông (Mỹ) chúng tôi có nhiều thành công hơn”.  Ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã có ý thức rõ ràng về việc sử dụng báo chí làm công cụ tuyên truyền, tác động đến các tầng lớp, các giới để phục vụ cho nhiệm vụ chính của mình là đấu tranh vì nền độc lập, tự do cho dân tộc mình.

Nguyễn Ái Quốc có cuộc trả lời phỏng vấn của phóng viên Giovanni Germaneto, đăng trên báo L’ Unità của Đảng Cộng sản Ý ngày 15.3.1924. Lúc này, Nguyễn Ái Quốc đang học tại Trường Đại học Phương Đông ở Moscow. Trong bài trả lời phỏng vấn ít nhiều có tính cởi mở này, Nguyễn Ái Quốc đã nói nhiều về mục đích học tập và tình hình học tập, ăn ở của các sinh viên tại trường. Trả lời câu hỏi “Khi học xong, anh dự định làm gì”, Nguyễn Ái Quốc đáp: “Dĩ nhiên là tôi sẽ trở về Tổ quốc để đấu tranh cho sự nghiệp của chúng tôi. Ở bên chúng tôi có nhiều việc phải làm lắm. Chúng tôi chẳng có quyền gì cả, trừ quyền đóng thuế cho mẫu quốc Pháp, cho bọn chủ bản xứ. Sự việc nổi bật nhất là như thế này: chúng tôi là những người bị đô hộ, như đồng chí biết, chúng tôi là những dân tộc “hạ đẳng”, và vì thế chúng tôi không có quyền ứng cử, bầu cử. Ở nước Nga, “cái nước của những người dã man” – giai cấp tư sản dân chủ gọi các đồng chí Nga như thế – chúng tôi có đầy đủ những quyền như công dân Nga. Thật vậy, những đại biểu của chúng tôi do Xô Viết của chúng tôi bầu ra theo đúng kỳ hạn, đã cùng hội họp với các đại biểu công, nông, binh. Đó, anh đã thấy sự đối xử khác nhau của chế độ dân chủ tư sản và chế độ dân chủ công nhân đối với chúng tôi! Chúng tôi đã đau khổ nhiều và chúng tôi còn phải đau khổ nữa. Những người “khai hóa” các nước chúng tôi không để chúng tôi tự do. Nhưng chúng tôi tiếp tục đi theo con đường Cách mạng tháng Mười đã vạch ra, chúng tôi sẽ vận dụng vào thực tiễn những bài học đã học được. Các đồng chí của tôi làm việc phấn khởi, tin tưởng, nghiêm túc. Nhiều người còn rất trẻ đã có một trình độ mácxít ít có thể tưởng tượng là có thể có được vào độ tuổi đó. Chúng tôi hiểu rõ chúng tôi có trách nhiệm rất nặng nề, và tương lai của các dân tộc thuộc địa tùy thuộc vào sự tuyên truyền, tinh thần hy sinh của chúng tôi. Ở phương Đông, từ Syria đến Triều Tiên, tôi chỉ nói đến các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, có một diện tích rộng mênh mông với hơn 1.200 triệu dân. Cả vùng rộng lớn này nằm dưới ách thống trị của đế quốc tư bản chủ nghĩa. Các dân tộc ở đó không bao giờ ngẩng đầu lên được nếu không gắn bó với giai cấp vô sản thế giới. Những nghị quyết của phái dân chủ xã hội tỏ cảm tình dù nồng nhiệt đến đâu cũng không có sức nặng”. Trong bài phỏng vấn khá dài này, Nguyễn Ái Quốc đã tỏ rõ quan điểm chính trị về con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa, đó là không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc cũng ít nhiều cảnh báo tinh thần cải lương, thỏa hiệp của một số người đối với những người thuộc giai cấp dân chủ tư sản.

Sau khi trở thành Chủ tịch Nước, là một nhà báo có nhiều kinh nghiệm, Hồ Chí Minh tôn trọng và có mối quan hệ rất tốt đẹp với các nhà báo. Chỉ tính từ ngày đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, cho đến ngày qua đời, Người đã có khoảng 150 cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, trả lời phỏng vấn với các nhà báo. Ngay ngày 7.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh  đã có buổi tiếp các phóng viên báo chí trong nước. Trả lời câu hỏi của các nhà báo về tiểu sử và hoạt động cách mạng của mình, Người nói: “Từ khi ra đời, tôi đã thấy nước mình là nô lệ. Không muốn sống cảnh nô lệ nữa, ngay từ thuở niên thiếu, tôi đã đấu tranh để giải phóng đất nước. Có lẽ đó là công lao duy nhất của tôi”. Nội dung của cuộc gặp gỡ này đã được đăng tải trên tạp chí Tri Tân số 205, ngày 20.9.1945 và báo La République số 9, ngày 2.12.1945.

Đối với Hồ Chí Minh, tiếp xúc với báo chí là một cách để giới thiệu đường lối, chủ trương đúng đắn của mình trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Qua đó, lên án chính sách hiếu chiến của kẻ thù, sự phá hoại của các thế lực chống phá. Người đã gặp gỡ, tiếp, thăm, trả lời phỏng vấn (cả trực tiếp và qua điện tín) của phóng viên nhiều nước trên thế giới, cả Pháp, Anh, Mỹ, Nhật, Liên Xô, Trung Quốc, Đức, Ý, Ấn Độ, Indonesia, Uruguay, sau này còn có Cuba, Cộng hòa Dân chủ Đức, Hungary… tất nhiên có cả các nhà báo trong nước. Bên cạnh nhiều trường hợp các nhà báo xin được gặp Bác để phỏng vấn  thì cũng không ít lần Người đến tòa soạn thăm hoặc mời các phóng viên đến để thông tin. Thái độ của Người đối với các nhà báo là cởi mở, thân tình và cũng hết sức khéo léo.

Cuối tháng 10.1945, trả lời các nhà báo về thái độ hiện thời của Chính phủ Việt Nam đối với Trung Hoa và Pháp, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Nước Việt Nam được thắng lợi trong sự độc lập, thì sự thắng lợi ấy sẽ làm một điều lợi cho Trung Hoa. (…) Trung Hoa và Việt Nam có quan hệ như răng với môi vậy. (…) Các chính sách của Việt Nam đối với Trung Hoa lúc này tóm lại là phải thân thiện… Đối với bọn thực dân pháp cố tâm dùng vũ lực lập lại chủ quyền của chúng ở đây, chúng ta nhất định sẽ phải thắng lợi. Sự hy sinh của đồng bào ta trong cuộc chiến đấu oanh liệt trong Nam Bộ bây giờ, cái cử chỉ phi thường của một chiến sỹ tự tẩm xăng vào mình để vào đốt một kho dầu của bên địch, tỏ ra rằng một dân tộc đã có tinh thần cao đến bậc ấy thì sức mạnh nào đó có thể đè bẹp được”. Qua báo chí, Người đã khẳng định một cách đanh thép khát vọng độc lập của nhân dân Việt Nam đồng thời thể hiện quyết tâm sắt đá sẽ chống giặc đến cùng.

Cuối tháng 12.1945, Hồ Chí Minh trả lời phóng viên các báo hàng ngày và hàng tuần của Việt Nam về vấn đề đoàn kết. Trước đó ngày 24.12.1945, Việt Minh, Việt Nam Cách mạng đồng minh (Việt Cách) và Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc) đã ký kết văn bản thỏa thuận hợp tác nhằm tăng cường sự đoàn kết, củng cố mặt trận Liên Hợp quốc dân để tập trung lực lượng vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Phóng viên hỏi: “Tại sao có 70 ghế đặc cách (dành cho Quốc dân Đảng) trong Quốc hội?”. Người nói: “Vì anh em Quốc dân đảng không ra ứng cử”. Phóng viên hỏi: “Sao lại trái nguyên tắc dân chủ vậy?”. Bác đáp: “Muốn đi tới dân chủ, nhiều khi phải làm trái lại. Thí dụ muốn đi tới hòa bình có khi phải chiến tranh”. Cách trả lại ngắn gọn mà hết sức thuyết phục, không chỉ giải quyết ngay vấn đề các phóng viên đặt ra mà còn hàm chỉ một vấn đề khác: muốn có hòa bình, bên cạnh những cách hòa bình, đôi khi phải dùng đến sức mạnh của vũ lực. Nhà báo cònvặn vẹo: “Cần làm trái dân chủ? Thế sao Cụ không tự chỉ định Cụ ra làm Chủ tịch Việt Nam, Cụ còn phải ra ứng cử lôi thôi?”. Thay vì trả lời thẳng vào câu hỏi, Bác đáp đầy hàm ý:  “Vì tôi không muốn làm như vua Louis thập tứ”. Những ai biết lịch sử nước Pháp đều không lạ gì Louis XIV (1638 – 1717), người giữ ngôi hoàng đế nước Pháp những năm 1664 – 1715 là một ông vua chuyên quyền độc đoán.

Cũng bằng tư duy ấy, trong buổi tiếp nhà báo Pháp Jean Michel Hetrich cuối năm 1945, Hồ Chí Minh nói:  “Nước Pháp thật là một xứ sở kỳ lạ. Nước Pháp sản sinh ra những tư tưởng tuyệt diệu, nhưng khi xuất cảng, chẳng bao giờ nước Pháp cho đưa ra những tư tưởng ấy”.

Giữa tháng 1.1946, trả lời phỏng vấn các báo nước ngoài Hồ Chí Minh nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh, phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Tôi chỉ có một điều ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Tháng 7.1947, trả lời phỏng vấn của một nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh gần như tâm sự: “Tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp một cách thực thà: Tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất dân chủ. Bao giờ đạt được mục đích đó, tôi sẽ  trở về làm một công dân du ngoạn sơn thủy, đọc sách làm vườn”. Đó gần như là một quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh về mục tiêu làm cách mạng của mình.

Trong khi tiếp xúc với các nhà báo, Hồ Chí Minh luôn chủ động thẳng thắn không để người hỏi cuốn vào ý đồ của họ. Cách trả lời của Người luôn dứt khoát rõ ràng, sắc sảo. Ngày 20.2.1946, Pháp và Trung Quốc (của Tưởng Giới Thạch) ký hiệp ước Hoa – Pháp, Pháp đã có những nhượng bộ cho Quốc dân đảng Trung Quốc tại Việt Nam, tiến tới độc chiếm Đông Dương. Ngày 23.2, các nhà báo gặp và phỏng vấn Hồ Chí Minh. Có nhà báo hỏi: “Có phải nước ta không cho nước Trung Hoa đủ những quyền lợi về kinh tế như Pháp đã cho Trung Hoa nên mới có bản hiệp ước Hoa – Pháp?”. Bác trả lời: “Vấn đề đó không thành câu hỏi”. Nói câu này, Người có hàm ý không bằng lòng. Rõ ràng, nếu không phải người có ý đồ gài bẫy thì câu hỏi này cũng cho thấy người hỏi non về chính trị. Vì vậy trong phần trả lời tiếp theo sau đó, Người ca ngợi chủ nghĩa Tam dân của Trung Quốc, khẳng định quan hệ tốt đẹp của hai dân tộc mà không đả động gì đến nội dung chính của câu hỏi.

Ngày 12.7.1946, trả lời câu hỏi của các nhà báo tại Pháp “Nếu Nam Kỳ từ chối không sáp nhập vào Việt Nam, Chủ tịch sẽ làm gì?”. Hồ Chí Minh nói: “Nam Kỳ cùng một tổ tiên với chúng tôi, tại sao Nam Kỳ lại không muốn ở trong đất nước Việt Nam? Người Basques, người Breton, không nói tiếng Pháp vẫn là người Pháp. Người Nam Kỳ nói tiếng Việt Nam, tại sao còn nghĩ đến sự cản trở việc thống nhất đất nước Việt Nam?”. Không dùng đao to búa lớn để trả lời ý: “Chủ tịch sẽ làm gì?”, Hồ Chí Minh dùng những lý lẽ không thể bác bỏ được để đập tan ý đồ chia rẽ Nam Bộ khỏi Việt Nam bằng cái gọi là Nam Kỳ quốc tự trị.

Liên quan đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngày 2.1.1947, Hồ Chí Minh khẳng định: “Việt Nam không muốn chiến tranh chống nước Pháp và nhân dân Pháp vì ta muốn hai dân tộc Việt – Pháp cộng tác thật thà. Nhưng tự do độc lập là quyền trời cho mỗi dân tộc. Bọn thực dân phản động dùng vũ lực phá hoại quyền thống nhất và độc lập của dân tộc ta, cho nên nhân dân ta phải kháng chiến để giữ gìn đất nước”. Trả lời câu hỏi “Cuộc kháng chiến sẽ kết liễu như thế nào?”, Người nói “Lịch sử thế giới và lịch sử nước ta đã tỏ cho ta biết rằng, hễ một dân tộc đã đứng lên kiên quyết tranh đấu cho Tổ quốc họ thì không ai, không lực lượng gì chiến thắng được họ. Dân Việt Nam muốn được hòa bình, nhưng vì vận mệnh của Tổ quốc, của giống nòi thì sẽ kháng chiến đến cùng, kháng chiến đến thắng lợi”. Hơn 4 tháng sau, vào tháng 5.1947, Hồ Chí Minh lại có những khẳng định tương tự khi trả lời phỏng vấn của thông tín viên Vasidep Rao (Hãng tin Reuters): “Nếu không hòa bình được, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng. Toàn dân Việt Nam cương quyết đấu tranh cho thống nhất và độc lập”. Trong bài trả lời khá dài này, Hồ Chí Minh đã khéo léo sử dụng điển tích nổi tiếng Con chó sói và con cừu trong Truyện ngụ ngôn La Fontanie để khẳng định một thực tế là thực dân Pháp đang thể hiện “chân lý của kẻ mạnh”, bằng cách sử dụng sức mạnh quân sự đè bẹp khát vọng và tinh thần của nhân dân ta.

Trong số những nhà báo nổi tiếng thế giới được Bác Hồ tiếp kiến, có thể kể nhà báo người Úc Wilfred Burchett. Giữa đợt 1 (bắt đầu từ ngày 13.3.1954) và đợt 2 (bắt đầu từ ngày 30.3.1954) của chiến dịch Điện Biên Phủ, tại căn cứ địa Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên tiếp Wilfred Burchett, người sau này tiếp tục gắn bó, phản ánh và ủng hộ nhân dân ta cho đến cuộc kháng chiến chống Mỹ. Trong hồi ức của mình, nhà báo Úc đã thuật lại cách giải thích của người đứng đầu Chính phủ Việt Nam kháng chiến: “Bác Hồ đặt ngửa chiếc mũ trên bàn. Đưa những ngón tay gầy guộc theo vành mũ và nói: Tình hình thế này, đây là những ngọn núi mà lực lượng chúng tôi nắm giữ. Dưới kia là thung lũng Điện Biên Phủ. Đó là nơi đóng quân của người Pháp với những đội quân thiện nghệ nhất mà họ có tại Đông Dương… Và họ sẽ không bao giờ rút ra được”. “Vậy đây chính là Stalingrad ở Đông Dương?” – Burchett hỏi, và Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: “Căn cứ vào điều kiện ở đây thì đúng như vậy. Nói khiêm tốn thì đó là một điều gì đó giống như thế”. W. Burchett sau này nhiều lần đến Việt Nam đã đưa ra nhận xét “Cảm giác đầu tiên của tôi là sự thân mật, ấm áp và giản dị. Hồ Chủ tịch có khả năng khiến người ta thấy nhẹ nhõm, ngay từ khoảng khắc đầu tiên và trình bày những vấn đề phức tạp nhất chỉ trong vài từ và cử chỉ rõ ràng. Trong những cuộc gặp gỡ tiếp theo với nhân cách vĩ đại này, sự ấm áp, giản dị, cách thể hiện rõ ràng xuất phát từ trí tuệ mẫn tiệp và sự thấu hiểu trọn vẹn chủ đề khiến ta có ấn tượng vô cùng sâu sắc. Bất cứ ai được Hồ Chủ tịch tiếp đều bình luận về những phẩm chất ấy, và cao hơn hết là cảm giác của họ ngay lập tức như người trong nhà của Chủ tịch”.

Trong chuyến thăm Indonesia tháng 3.1959, trả lời các nhà báo nước bạn, Hồ Chí Minh có những lời đáp rất tế nhị. Chẳng hạn, có nhà báo hỏi “Xin Chủ tịch cho biết ý kiến của Chủ tịch về tình hình chính trị ở Indonesia?”. Người hỏi ngược lại: “Tôi đến đây mới ba ngày. Làm thế nào tôi có thể có ý kiến về tình hình ở đây được?”. Một nhà báo khác hỏi: “Giữa Chủ tịch và Tổng thống Soekarno có cuộc thảo luận chính trị nào không?”. Người trả lời rất chặt chẽ về ngôn ngữ: “Có thể nói là có. Nhưng chúng tôi gọi đó là cuộc trao đổi ý kiến, chớ không phải là cuộc thảo luận. Chúng tôi nói chuyện với nhau một cách thân mật anh em”. Những câu trả lời này vừa thể hiện sự dí dỏm mà cũng hết sức thông minh, khéo léo của Người đối với những vấn đề ngoại giao…

Sự trân trọng của Hồ Chí Minh đối với các nhà báo còn được thể hiện rõ trong cuộc tiếp nữ nhà báo Cuba Marta Rojas (báo Granma) vào ngày 14.7.1969. Đây là lúc sức khỏe của Bác Hồ không được tốt, nhưng với một nhà báo đến từ một nước xã hội chủ nghĩa anh em, Người đã dành thời gian tiếp chuyện mà đến hơn 40 năm sau vẫn để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người được tiếp. Bà Marta Rojas hồi tưởng: “Những lần ở Hà Nội tôi đều tới thăm báo Nhân dân và nói với nhà báo Hoàng Tùng rằng tôi muốn có một cuộc phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một buổi, đồng chí Hoàng Tùng  gọi cho tôi: 6 giờ sáng mai tôi qua đón chị vào phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là buổi sáng một ngày khoảng giữa tháng 7.1969, tôi, nhà báo Hoàng Tùng và người phiên dịch bước vào  Phủ Chủ tịch thì gặp một cụ già mặc một bộ quần áo màu trắng tươi cười đi tới và chào tôi bằng tiếng Tây Ban Nha: “Chào buổi sáng đồng chí Marta”. Tôi đã nghe nói nhiều về Bác Hồ, nhưng không nghĩ Người lại giản dị, thân tình đến thế”. Marta Rojas nói tiếp: “Tôi chỉ định phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng thật bất ngờ và thú vị là Người đã phỏng vấn lại tôi. Người hỏi tôi về những cảm nhận, những trải nghiệm của tôi ở Tây Ninh… Rồi Người hỏi thăm Fiel và nói: “Tôi đã đọc rất nhiều bài phát biểu của Fiel và rất thích những bài phát biểu đó”. Marta Rojas cho biết, câu hỏi tuyệt nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bà lúc đó là nhà báo nhìn nhận thế nào về những lá cờ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam. Marta trả lời Bác: “Miền Nam mưa, nắng nhiều, nhưng lá cờ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc nào cũng như mới”. Sau đó, lý giải của Bác khiến Marta không thể nào quên: “Vì mục tiêu đấu tranh của  mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam là bảo vệ cho lá cờ đỏ ở đúng vị trí mà nó cần phải có. Đó là biểu tượng của Việt Nam. Chắc chắn chúng tôi sẽ chiến thắng người Mỹ. Tất cả sự chịu đựng và nỗi đau của người dân miền Nam cũng là sự chịu đựng và nỗi đau của tôi”.

Dĩ nhiên còn rất nhiều chuyện khác liên quan đến thái độ, tình cảm ứng xử của Hồ Chí Minh đối với nhà báo. Lược qua những cuộc trao đổi giữa Hồ Chí Minh với các nhà báo ta dễ dàng nhận ra một Hồ Chí Minh chính khách đầy quyết đoán, sắc sảo; một Hồ Chí Minh nhà báo luôn quan tâm, thông cảm và cũng hiểu rõ những thủ thuật của các phóng viên. Hồ Chí Minh sử dụng vũ khí báo chí và sử dụng ngôn từ trên báo chí đã đạt đến trình độ nghệ thuật cao, cả khi Người trả lời phỏng vấn.

Theo Dấu ấn của nhà báo Nguyễn Ái Quốc –
Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc

Vân Tâm

daibieunhandan.vn

Hồ Chí Minh “xung phong phê bình các báo”

 – Ngày 8/9/1962, Bác đến dự và nói chuyện tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam. “Bây giờ Bác lấy tư cách một đồng chí có ít nhiều kinh nghiệm về báo chí nêu ra vài kinh nghiệm sau đây… Sẵn đây, nếu các cô, các chú đồng ý, thì Bác xung phong phê bình các báo:

Bài báo thường quá dài, “dây cà ra dây muống” không hợp với trình độ và thời giờ của quần chúng. Thường nói một chiều và đôi khi thổi phồng thành tích mà ít hoặc không nói đúng mức đến khó khăn và khuyết điểm của ta. Đưa tin hấp tấp nhiều khi thiếu thận trọng. Thiếu cân đối, tin nên dài thì viết ngắn, nên ngắn lại viết dài; nên để sau lại để trước, nên trước lại để sau. Lộ bí mật. Có khi quá lố bịch. Khuyết điểm nặng nhất là dùng chữ nước ngoài quá nhiều và nhiều khi dùng không đúng… Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp. Của mình có mà không dùng, lại đi mượn của nước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen ỷ lại hay sao.

dNgày 8/9/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội III những người viết báo VN.

Báo chí cần khéo lợi dụng vũ khi phê bình và tự phê bình. Nhưng phê bình phải nghiêm chỉnh, chắc chắn,  phụ trách, nói có sách mách có chứng. Phải phê bình với tinh thần thành khẩn, xây dựng “trị bệnh cứu người”. Chớ phê bình lung tung không chịu trách nhiệm. Mặt khác, cần khuyến khích quần chúng góp ý kiến và phê bình báo”.

“Kinh nghiệm của tôi là thế này: Mỗi khi viết một bài báo, thì tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc. Khi viết xong thì nhờ anh em xem và sửa giùm. Chớ tự ái, tự cho bài của mình là “tuyệt” rồi. Tự ái tức là tự phụ là kẻ địch dữ tợn nó ngăn chặn con đường tiến bộ của chúng ta… Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn  nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần tu dưỡng đạo đức cách mạng…”. Đó là những nội dung trong bài nói của Bác tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam, ngày 8/9/1962, họp tại Hà Nội.

X&N
bee.net.vn