Thư viện

Học bài học lớn Bác Hồ dạy làm báo

Từ khi rời Bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước đến khi viết bài báo cuối cùng trong đời, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh luôn vận dụng sáng tạo luận điểm của Lênin về báo chí là công cụ “tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể”.

Trong sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Người đã học viết báo, làm báo và cũng chính Người đã sáng lập nên nền báo chí cách mạng Việt Nam. Trong hệ thống các giá trị tư tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại, có một góc độ về tư tưởng – văn hóa – nghề nghiệp làm báo…

vbnhjgvbnhjgTranh châm biếm của Nguyễn Ái Quốc trên Báo Le Paria (Người Cùng Khổ):Văn minh bề trên! (Số 2, ngày 1-5-1922) và Mau lên du hành! (Số 5, ngày 1-8-1922).

Bài học viết báo, làm báo, sử dụng báo chí

Có câu chuyện kể rằng: Khi đặt chân đến nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc mưu sinh bằng nhiều nghề và trong tiềm thức của người thanh niên ấy muốn chứng kiến những gì diễn ra ngay trên đất nước có nền văn minh “đi khai hóa thuộc địa”, muốn tiếp cận các trào lưu tiến bộ trên thế giới và nhằm mục đích lớn lao là “tìm con đường giải phóng cho dân tộc mình”. Trên đất nước ấy, với vốn tiếng Pháp tự học, Người đã học viết báo, làm báo.

Chuyện kể rằng, khi viết bài báo đầu tiên gửi đến tòa soạn, vị chủ bút đã góp ý để Người sửa chữa. Rồi các bài báo tiếp theo được chọn đăng, khi ấy vị chủ bút lại bảo: “Bây giờ ông có thể viết dài ra”. Một thời gian sau, vị chủ bút lại bảo: “Ông có thể viết ngắn lại”.

Câu chuyện buổi đầu Nguyễn Ái Quốc học viết báo bằng chính ngôn ngữ “mẫu quốc” có thể tóm tắt như vậy và đó cũng là bài học vỡ lòng cho người làm báo hôm nay (nhất là những người đang bước vào nghề).

Không chỉ học viết báo, chính Người vừa sáng lập, phụ trách trình bày, vẽ biếm họa, in báo… và phát hành báo đến đối tượng cần tuyên truyền, giác ngộ cách mạng. Đó là những tờ báo gắn bó với cuộc đời hoạt động cách mạng của Người như: Le Paria (Người Cùng Khổ), Tạp chí Quốc Tế Nông Dân, Thanh Niên, Việt Nam Hồn, Thân Ái, Lính Cách Mệnh, Việt Nam Độc Lập, Cứu Quốc…

Người để lại bài học lớn, chính Người tổ chức quy trình xuất bản báo, chính Người phụ trách trình bày báo vừa in đậm dấu ấn nghệ thuật độc đáo, vừa hiện đại vừa bình dân. Đó là bài học sinh động về hình ảnh “cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng”, bài học sử dụng công cụ báo chí như “tờ hịch cách mạng” vẫn tươi nguyên.

Bài học về tính khuynh hướng chính trị của báo chí

Luận điểm báo chí mà Nguyễn Ái Quốc khẳng định trong suốt thời kỳ lịch sử lâu dài dưới chế độ thực dân phong kiến là đấu tranh cho quyền tự do báo chí. Với Nguyễn Ái Quốc, đấu tranh cho tự do báo chí về thực chất luôn gắn bó với đấu tranh cho khuynh hướng chính trị, bởi Nguyễn Ái Quốc nhận thức được rằng làm báo chính là làm chính trị – Báo chí là sản phẩm của khuynh hướng chính trị nhất định.

Trước sự đàn áp của thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên nghịch lý đến nỗi khó tin được “Giữa thế kỷ XX này ở một đất nước có đến 20 triệu dân mà không có lấy một tờ báo! Các bạn có thể tưởng tượng được thế nào không? Không có lấy một tờ báo bằng tiếng mẹ đẻ của chúng tôi”.

Một tờ báo mà không đề cập đến các vấn đề chính trị và những chuyện thiết thân đến cuộc sống của người dân thì thủ tiêu chức năng của mình. Xu hướng chính trị của tờ báo, nói như Lênin “Một tờ báo mà không có xu hướng chính trị là điều lố lăng phi lý, chướng tai, gai mắt và có hại”. Nguyễn Ái Quốc phê phán tình trạng mất tự do của báo chí dưới chế độ thực dân Pháp nhưng đồng thời cũng nêu lên chức năng của báo chí.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính khuynh hướng chính trị của báo chí cũng là luận điểm cơ bản để lý giải vấn đề “tự do báo chí” mà phương Tây rêu rao. Báo chí là công cụ, là sản phẩm chính trị của một giai cấp nhất định, do đó không có chuyện “tự do báo chí” chung chung.

Báo chí (dù là tờ báo mang đậm chất giải trí, chuyên về một lĩnh vực nào đó…) cũng do một tầng lớp, một tập đoàn, thậm chí một nhóm người…thực hiện. Tất cả đều phục vụ lợi ích của những người nắm giữ tờ báo. Đó chính là sự chi phối bởi tính khuynh hướng, vấn đề tự do báo chí, do đó không thể tách rời quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế của một giai cấp, chế độ chính trị.

Tiếp thu quan điểm này, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã phát biểu “Tự do báo chí của chúng ta chính là tự do phục vụ lợi ích, vì hạnh phúc của nhân dân, vì chế độ XHCN”.

Ngày nay, dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, báo chí cách mạng nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, với các loại hình báo chí: Báo viết (báo in), báo hình (truyền hình), báo nói (phát thanh), báo điện tử.

Báo chí hoạt động trong thời đại bùng nổ thông tin, thông tin đã trở thành lực lượng sản xuất ra của cải vật chất trực tiếp, trong đó báo chí đóng vai trò là kênh thông tin quan trọng đã thật sự trở thành sản phẩm chính trị đặc biệt có tính chất hàng hóa và trong chừng mực nào đó báo chí tỏ rõ quyền lực chính trị của mình.

Vì vậy bài học về tính khuynh hướng chính trị của báo chí càng phải thấm nhuần và vận dụng nhằm đảm bảo tính định hướng chính trị của hoạt động báo chí. Dù tờ báo thuộc cơ quan, tổ chức nào, nội dung thông tin – tuyên truyền phục vụ đối tượng người xem – người nghe là ai cũng phải có chính kiến, có định hướng rõ ràng.

Trong mối quan hệ đan xen ấy, vấn đề bản lĩnh chính trị để xử lý thông tin không chỉ là sự vững vàng, nhất quán về lập trường, quan điểm của Đảng đối với hoạt động báo chí mà còn là một thử thách mang tính cọ xát trước mỗi sự việc – sự kiện – vấn đề, mỗi tình huống trong quá trình tác nghiệp của những người làm báo, cơ quan báo chí lấy lợi ích chung của nhân dân, của đất nước đặt lên hàng đầu.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta những bài học vô giá về báo chí cách mạng. Từ bài học vỡ lòng khi Người bắt đầu viết báo đến những quan điểm, phong cách… làm báo mà mỗi khi ôn lại, chúng ta càng thấm thía.

Đứng trước mỗi sự việc – sự kiện – vấn đề – tình huống…, người làm báo hôm nay hãy tự đặt câu hỏi và trả lời như Bác đã huấn thị: “- Viết cho ai? – Viết để làm gì? – Viết như thế nào?”. Đó là bài học lớn, rất cụ thể, rất thiết thực Bác để lại cho các thế hệ làm báo.

CỎ THƠM
baoapbac.vn

Bác Hồ nói về công việc “bếp núc” của nhà báo

(BG) – Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ II (tháng 4-1959) vinh dự được đón Bác đến thăm. Hôm đó, Bác rất vui, khi bước lên bục nói chuyện, Bác để tập báo xuống và giơ tay ra hiệu cho mọi người ngồi xuống rồi Bác nói dí dỏm:

– Mời toàn thể “an toạ”!

Bác nhấn mạnh từ “an toạ” cho vui, nhưng thực ra mọi người hiểu là Bác có ý nhắc một số nhà báo sính dùng chữ nước ngoài. Bác bảo: “Mọi việc đồng chí Trường Chinh và anh Hoàng Tùng đã nói đủ, Bác chỉ nói về nghiệp vụ thôi, Bác khen báo chí của ta đạt được thành tích đáng kể song phải cố gắng nhiều hơn nữa!”. Tiếp đó Bác lấy ra một tập báo đã đánh dấu sẵn, cầm một tờ báo có ảnh một nữ công nhân đang ngồi, ảnh cỡ lớn, giơ cao cho mọi người xem rồi hỏi:

– Cô này đang ngồi làm gì đây?

Tất cả đều chịu, chỉ biết đó là một cô công nhân rất xinh, để trang nhất cũng đẹp, thế là Bác chỉ cho biết: “Dùng ảnh trên báo phải hết sức chú trọng nội dung, không được dễ dãi”. Bác nói tiếp: – Các chú nhiều danh từ lắm, thế “không phận” là gì?

Một đại biểu thưa: – Thưa Bác là… vùng trời ạ!

– Thế gọi là “vùng trời” có phải ai cũng dễ hiểu hơn dùng chữ “không phận” không?

– Thưa Bác, đúng vậy ạ!

– Các nhà báo có trách nhiệm đừng để tiếng mẹ đẻ chúng ta ngày càng mai một đi. Chúng ta đã có hai chữ “vẻ vang” rất hay lại không dùng, chỉ thích dùng chữ “vinh quang”. Nhiều người làm thơ lại gọi là “quang vinh” cho hợp vần!

Bác lấy ra một tờ báo khác. Trên trang nhất tờ báo hàng ngày có đưa tin về hai đoàn đại biểu nước ngoài cùng một ngày đến thăm nước ta. Bác chỉ vào đấy và phân tích:

– Như thế này là các chú bên trọng bên khinh, hai đoàn đến cùng ngày, tại sao lại đưa đoàn bên này lên trên, in chữ to, còn đoàn kia in chữ nhỏ, sắp phía dưới?

Bác còn chỉ rõ những chỗ sai lầm làm lộ bí mật về tài nguyên trên báo. Đến phần “Điểm báo” địa phương, Bác kể cho nghe câu chuyện mà không ai nhịn được cười. Đó là nhân ngày sinh Bác, tờ báo của địa phương nọ có đăng một số thư của đồng bào chúc mừng Bác. Có đồng bào muốn chúc mừng Bác mạnh khoẻ, sống lâu, lại viết là “Chúc Bác bách niên giai lão”. Tờ báo ấy đăng nguyên văn như vậy, Bác cười và nhắc nhở mọi người:

– Họ chúc Bác “bách niên giai lão” mà báo cũng đăng đấy!

Câu chúc mừng ấy dành riêng cho cô dâu, chú rể trong buổi thành hôn, bỗng lại dành chúc thọ Bác, làm mọi người cười không ngớt.

Lê Hồng Bảo Anh
baobacgiang.com.vn

Bác Hồ với báo chí cách mạng Việt Nam (Bài 4)

(DVHNN) Trong thời đại ngày nay, sự hội nhập của báo chí nước ta với báo chí quốc tế là một dấu ấn không thể quên được. Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, dù đổi mới, hiện đại và hội nhập, báo chí nước ta vẫn là nền báo chí cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập. Một Người thầy vĩ đại của Báo chí Cách mạng Việt Nam.

Ảnh tư liệuBác Hồ làm việc trong vườn Phủ Chủ Tịch (1957). Ảnh tư liệu

Bác Hồ là vị lãnh tụ của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới mà còn là Người khơi nguồn và chỉ đạo báo chí cách mạng Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước, Người rất coi trọng báo chí đối với sự nghiệp cách mạng. Với mục đích làm công cụ tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê Nin, giác ngộ những người yêu nước trong cuộc đấu tranh cách mạng để giành độc lập cho dân tộc, tự do của nhân dân.

Báo Người cùng khổ 1922 và báo Thanh niên 1925 đã tập trung vào mục tiêu đó. Với báo Người cùng khổ bằng ngòi bút sắc sảo, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần tội ác của bọn xâm lược tại các thuộc địa để cho nhân dân Pháp và nhân dân thế giới thấy rõ và ủng hộ cho cuộc chiến tranh chính nghĩa đòi quyền sống, quyền con người, quyền dân tộc của các dân tộc thuộc địa. Ngày 21/6/1925, tờ báo Thanh Niên do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, chỉ đạo và là Người biên tập chính ra số đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của Báo chí Cách mạng Việt Nam. Các tổ chức cách mạng ở trong nước dùng tờ báo này để tuyên truyền, giác ngộ và giáo dục quần chúng, làm cầu nối truyền ánh sáng tư tưởng cách mạng của Bác về cho dân tộc, góp phần to lớn cho sự nghiệp giải phóng đất nước.

Người đề ra rằng mỗi khi viết một bài báo, người viết phải tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho đơn giản, dễ hiểu, phổ thông, thiết thực, hoạt bát, đặc biệt là viết ngắn…. Báo chí là một công cụ để tuyên truyền và cổ động rất có hiệu quả và Người hơn ai hết hiểu được điều đó. Qua báo chí Người tập hợp và kêu gọi, động viên, cổ vũ nhân dân và đồng bào, chiến sĩ vượt qua hy sinh gian khổ để chiến thắng kẻ thù…

Với Bác, báo chí phục vụ mục đích trong sáng và cao cả của Đảng, của sự nghiệp cách mạng, là công cụ để tuyên truyền khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân ta, biểu dương những cái tốt, người tốt, việc tốt, ngăn chặn và đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực.

Tháng 4/1959, tại Đại hội lần thứ II của Hội nhà báo Việt Nam, Người chỉ rõ “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyền truyền đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ”. Để báo chí luôn là diễn đàn của nhân dân, phục vụ nhân dân, Người khẳng định “Một tờ báo không được đại đa số (dân chúng) ham muốn thì không xứng đáng là một tờ báo” và “Không riêng vì viết sách, viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt điều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”. Bác Hồ với các nhà báo “Nếu các bạn viết báo mà quần chúng hiểu, quần chúng ham đọc, quần chúng khen hay, thế là các bạn tiến bộ. Trái lại, là các bạn chưa thành công”.

Những người làm báo hôm nay thật vinh dự và tự hào có Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nhà báo cách mạng vĩ đại và là người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Tư duy, phong cách, đạo đức báo chí Hồ Chí Minh là một kho tàng quý báu mà Người để lại cho các thế hệ người làm báo hôm nay và mai sau. Các thế hệ những người làm báo luôn phấn đấu kế thừa và phát triển sự nghiệp báo chí của Bác trong giai đoạn cách mạng hiện nay./.

Tôn Phúc (viết theo tư liệu)

Theo dvhnn.org.vn
Vkyno (st)

Học tập phong cách làm báo của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh – người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Ảnh tư liệu

Để lại một kho tàng đồ sộ với hơn 2.000 tác phẩm báo chí, gần 300 bài thơ, khoảng 500 trang truyện và ký, nhưng khi nói chuyện với các văn nghệ sĩ, Bác khiêm tốn không nhận mình là nhà thơ, mà chỉ cho mình là nhà báo có kinh nghiệm. Có dịp Bác kể, đại ý,  khi bôn ba tìm đường cứu nước, Bác sớm nhận thấy báo chí là vũ khí sắc bén của cách mạng nên đã tự học viết báo. Ban đầu Bác tập viết tin ngắn rồi đến những bài báo nhỏ sau đó là những bài chính luận, truyện, ký… Từ một người tự học làm báo, Bác đã sáng lập ra 9 tờ báo. Bằng kinh nghiệm thực tiễn, Bác căn dặn các “chiến sĩ cầm bút” trước khi viết báo luôn luôn phải đặt ra những câu hỏi: viết cho ai, viết để làm gì, viết cái gì và viết như thế nào? Theo Bác những câu hỏi trên đều thuộc nội dung viết báo, mà nội dung là cái quyết định nhất chất lượng của bài báo. Viết mà không rõ  đối tượng, mục đích, nội dung thì lạc đề. Phải viết gọn gàng, rõ ràng, vắn tắt nhưng vẫn phải có đầu, có đuôi. Bác khuyên người làm báo: “Chớ viết khô khan quá, phải viết cho văn chương, vì ngày trước khác, bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới đọc”.

Maxim Gorky có câu nói nổi tiếng “Văn học là nhân học”, tức văn là người và học văn để học làm người. Chúng ta cũng biết phong cách viết làm cho nhà báo, nhà văn này khác với nhà báo, nhà văn khác. Tìm hiểu phong cách làm báo của Bác chúng ta nhận thấy cách viết giản dị, ngắn gọn, cô đọng, phóng khoáng, thiết thực, giàu sức sáng tạo ngôn ngữ và hấp dẫn người đọc. Nếu không phải là nhà cách mạng kiệt xuất, một danh nhân văn hoá của thế giới, yêu nước thương dân tột bậc thì không thể có phong cách viết như thế.

Đánh giá cao vai trò, vị thế của báo chí và đội ngũ những người làm báo, Bác khẳng định báo chí cách mạng là một mặt trận chiến đấu của cách mạng, cán bộ báo chí là chiến sĩ trên mặt trấn ấy, “bài báo là tờ hịch cách mạng”. Bác căn dặn các nhà báo muốn hoàn thành sứ mệnh vẻ vang phải suốt đời học tập và rèn luyện để có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ,  sẵn sàng vượt qua khó khăn, hy sinh gian khổ, phải coi cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén trong cuộc chiến đấu chống áp bức, bóc lột, cái ác và cái xấu, chứ không phải làm báo “cho oai” và để được “lưu danh thiên cổ”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng là tài sản tinh thần to lớn, là phương pháp luận cho hoạt động báo chí nước ta, là “hành trang” của mỗi nhà báo chân chính. Việc học tập phong cách làm báo của Bác trong điều kiện hiện nay là nhân tố quan trọng và vô cùng cần thiết đối với mỗi người làm báo. Muốn trở thành nhà báo giỏi, chúng ta hãy không ngừng học tập, khổ công rèn luyện, trau dồi bản lĩnh chính trị và bản lĩnh nghề nghiệp theo gương Bác Hồ – Người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam.

Ngân Giang
baobacgiang.com.vn

Học tập Bác Hồ trả lời phỏng vấn báo chí

QĐND – Ngày nay, trong một “xã hội mở” cả ở trong lẫn ngoài nước, sự tiếp xúc với giới báo chí trở thành một hoạt động thường ngày. Tuy nhiên, khi đọc và nghe các câu trả lời phỏng vấn của nhiều người cảm thấy còn rất nhiều điều cần được cải tiến để nội dung thêm sâu sắc và phương cách thể hiện thêm sống động. Để được vậy, cách tốt nhất là đọc lại và nghiền ngẫm, học theo cách Bác Hồ đã từng trả lời phỏng vấn báo chí.

Bác Hồ chẳng những là người sáng lập ra báo chí cách mạng Việt Nam mà bản thân Bác là một nhà báo dày dạn kinh nghiệm. Bác tự viết nhiều bài báo, đồng thời nhiều lần trực tiếp trả lời phỏng vấn báo chí trong và ngoài nước. Lần theo Toàn tập Hồ Chí Minh do Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2011 có thể thấy, kể từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công đến khi trút hơi thở cuối cùng, Bác đã trả lời phỏng vấn báo chí tới 95 lần và lần cuối cùng chỉ cách giờ phút Bác ra đi có 49 ngày! Các nhà báo phỏng vấn Bác rất đa dạng, từ nhiều quốc gia, châu lục, thuộc đủ loại chính kiến khác nhau.

Ảnh minh họa/ Internet

Ngay điều này đã mách bảo chúng ta rằng, quyết không nên né tránh mà cần tích cực, chủ động trả lời phỏng vấn báo chí vì đây là một kênh hết sức hữu hiệu làm cho dư luận thế giới hiểu rõ tình hình cũng như chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, đấu tranh với những luận điệu sai trái và trong nhiều trường hợp đưa ra những thông điệp, tín hiệu cần thiết phục vụ cho cuộc đấu tranh ngoại giao.

Nội dung trả lời của Bác hết sức phong phú, bao quát nhiều vấn đề: Từ trong nước đến quốc tế, từ chính sách đối nội đến chính sách đối ngoại, từ chính trị đến kinh tế -xã hội, từ an ninh đến quốc phòng và cả đời tư… Trong gần 100 lần Bác trả lời phỏng vấn hàm chứa biết bao tư tưởng, triết lý lớn mà bài báo này chưa thể đề cập.

Nội dung bao la như vậy song các cuộc trả lời phỏng vấn của Bác luôn thể hiện tinh thần “kiệm lời, nhiều ý”, không lần nào Bác nói dài, nhiều khi chỉ vài ba câu và không bao giờ dùng những từ chung chung, không rõ nội hàm. Cùng một ý Bác thể hiện dưới nhiều dạng thức, uyển chuyển, biến hóa, vừa kiên quyết, vừa mềm dẻo. Ví dụ trong những năm 1945-1946, khi đủ loại thù trong giặc ngoài đe dọa độc lập, chủ quyền và sự thống nhất giang sơn, trong 11 lần trả lời phỏng vấn Bác đều nhấn mạnh quyết tâm đấu tranh cho độc lập thống nhất: Khi thì khẳng định “chúng ta không chống lại tất cả nước Pháp, tất cả dân chúng Pháp. Nếu có những người Pháp muốn qua đây điều đình một cách hòa bình…thì điều kiện căn bản…là người Pháp phải thừa nhận nền độc lập của Việt Nam…” [1]; hay lấy ngay lý tưởng cao đẹp của cách mạng Pháp để khẳng định ý chí của dân tộc ta: “Dân Việt Nam có một ý muốn rất bình thường là muốn độc lập… chúng tôi tranh đấu từ trước tới bây giờ là cũng tranh đấu giống như người Pháp đó thôi. Ba tiếng Tự do, Bình đẳng, Bác ái đã làm cho Pháp thành một dân tộc tiên tiến, thì chúng tôi cũng chỉ muốn tranh đấu để được như thế” [2]. Cách thể hiện như vậy vừa góp phần củng cố lập luận của mình, vừa đẩy đối phương vào thế khó phản bác, vừa tranh thủ được dư luận rộng rãi.

Trả lời phỏng vấn, Bác luôn đi thẳng vào vấn đề được hỏi, không vòng vo, đồng thời luôn giữ thế chủ động, tinh thần tấn công, đôi khi hài hước, chế nhạo những thủ đoạn của một số nhà báo có ý móc máy. Trong một cuộc họp báo ngày 26-12-1945 liên quan tới thỏa thuận về sự hòa giải giữa Việt Minh, Việt Nam Cách mạng Đồng minh và Việt Nam Quốc dân đảng, có nhà báo hỏi 14 điều thỏa thuận đăng trên báo “Việt Nam” (cơ quan ngôn luận của Việt Nam Quốc dân đảng) có đúng không? Bác “tấn công” ngay: “Đúng, nhưng phải thêm một điều nữa là đôi bên đã đồng ý với nhau chưa nên công bố, không hiểu sao báo “Việt Nam” lại đăng. Có lẽ báo ấy quên chăng?”. Tiếp đó, trả lời câu hỏi móc máy của một nhà báo khác rằng, Báo “Liên hiệp” đăng Chính phủ Việt Minh từ chức là nghĩa gì? Bác bèn “đập” lại: “Làm gì có Chính phủ Việt Minh, mà đã không có thì từ chức làm sao?”[3].

Trong trả lời, Bác không bao giờ né tránh những câu hỏi “hắc búa”, nhạy cảm, đồng thời khéo léo xử lý tình huống theo cách: “Có nhưng có thể hiểu là không, không nhưng có thể hiểu là có”.

Lúc cách mạng nước ta mới thành công, do hoàn cảnh lúc bấy giờ Đảng ta tuyên bố “tự giải tán”, nhưng vẫn hoạt động dưới hình thức Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác, nhiều nhà báo nước ngoài tìm mọi cách để Bác khẳng định mình là “cộng sản” để phân hóa nước ta với các nước khác và một số tầng lớp trong nước hiểu sai về chủ nghĩa cộng sản.

Một lần kia có nhà báo hỏi: Nghe nói Chủ tịch tuyên bố rằng Chủ tịch có xu hướng cộng sản, nhưng có phải Chủ tịch cho rằng nước Việt Nam chưa có thể cộng sản hóa được trong một thời hạn 50 năm không? Bác bèn trả lời: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác. Cách đây 2000 năm Đức Chúa Giê -su đã nói là phải yêu mến kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được.

Còn khi nào thì chủ nghĩa Các Mác thực hiện thì tôi không thể trả lời được. Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình. ở nước chúng tôi những điều kiện ấy chưa có đủ” [4].

Trong nhiều trường hợp, Bác trả lời rất ngắn gọn, dứt khoát, rõ ràng. Trả lời phỏng vấn của Báo Frères D’Armes năm 1948, về câu hỏi Chủ tịch ghét gì nhất, Bác trả lời “Điều ác”; còn điều gì yêu nhất thì Bác đáp lại “Điều thiện”; về điều gì mong muốn nhất, Bác khẳng định: Nền độc lập của nước tôi và của tất cả các nước trên hoàn cầu; còn việc sợ gì nhất thì Bác nói rõ: Chẳng sợ gì cả. Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì![5]

Khi giao tiếp với báo chí, cũng như khi nói chuyện, Bác hay dùng những câu ví dân gian đầy hình tượng và dễ nhớ. Trả lời các nhà báo về những yêu sách ngang ngược của bọn Trung Hoa Quốc dân đảng ở ta, Bác dặn dân ta “muốn gánh được nặng phải chịu được khó nhọc” [6]. Trả lời câu hỏi về vấn đề ngoại giao, Bác nhấn mạnh: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn” [7].

ở đây mới chỉ xin lẩy ra đôi điều cảm nhận được khi đọc lại những câu trả lời phỏng vấn của Bác Hồ. ước gì các nhà báo và tất cả những ai tiếp xúc với báo chí hãy chịu khó nghiên cứu để học Bác không lảng tránh báo chí, tránh ăn nói dông dài, ý tứ không rõ ràng, đối đáp không sắc sảo, không có lợi cho hình ảnh đất nước. Gắn việc này với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có lẽ không phải là điều không có lý. Về lâu dài, nếu có người bỏ công nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn cả về nội dung lẫn phương pháp Bác Hồ tiếp xúc với báo chí là điều thật đáng hoan nghênh.

Vũ Khoan
qdnd.vn

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, t 4, tr.85
2. Như trên, tr.213
3. Như trên, tr. 145
4. Như trên, tr.315
5. Như trên, Tập 5, tr. 522
6. Như trên, Tập 4, tr.85
7. Như trên, tr.147

Bác Hồ với báo chí cách mạng Việt Nam (Bài 3)

Bác Hồ nhà văn hóa, nhà báo, nhà thơ lớn. Suốt đời, Bác Hồ là người cầm bút, chiến đấu trên mặt trận văn hóa, báo chí, với một văn phong đa dạng nhiều sắc thái, mà điều nổi bật là tính quần chúng, cách suy nghĩ và diễn đạt dân gian, dễ hiểu, đi sâu trong lòng người, gợi mở những tư tưởng lớn lao, thúc đẩy những việc làm tốt đẹp, bằng những lời lẽ bình dị giàu hình tượng.

Trong một bài viết hoặc bài nói, Bác Hồ không chỉ chú ý từng câu, từng chữ mà còn chú ý nói cái gì trước, cái gì sau, có khi cái đó là điều quan trọng nhất. Những bài báo của Bác Hồ là những mẫu hình về cách viết, mỗi câu chữ khơi dậy những âm vang sâu thẳm trong tâm hồn người đọc. Câu văn của Bác Hồ cô đọng, chứa chan tư tưởng, tình cảm và đi thẳng vào khối óc và trái tim mọi tầng lớp nhân dân.Trên con đường cứu nước, Bác Hồ luôn luôn quan tâm đến công tác báo chí. Bác Hồ coi báo chí như là phương tiện, như là vũ khí sắc bén và sử dụng nó rất tài tình, hiệu quả trong các chặng đường, đấu tranh cách mạng. Bác Hồ vừa là chiến sỹ cách mạng kiên cường, vừa là nhà báo tiên phong mẫu mực và tài năng, có công lao to lớn khai sáng báo chí cách mạng Việt Nam. Qua báo chí của Bác Hồ những thanh niên yêu nước đã giác ngộ cách mạng, đến với chủ nghĩa Mác-Lê nin, trở thành lớp chiến sỹ cộng sản đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.Bác Hồ nói: “… Theo lời dạy của Lê nin, tờ báo là công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức và lãnh đạo, cho nên mình cố gắng ra một tờ báo ngay và phải làm rất bí mật vì luôn luôn có mật thám của Pháp, Nhật và Bảo Đại rình mò”… Điều đó đã nói lên Bác Hồ người chiến sỹ tiên phong trên mặt trận báo chí, đồng thời là người chiến sỹ cách mạng trung kiên. Làm báo, không phải là hoạt động nghề nghiệp thuần túy, đối với Bác Hồ, sự nghiệp báo chí gắn liền với sự nghiệp cách mạng. Bác Hồ là nhà báo – nhà cách mạng đầu tiên, khai sáng dòng báo chí cách mạng Việt Nam. Bác Hồ luôn đặt vấn đề “Viết cho ai”, “Viết để làm gì”, để định hướng nội dung, phương thức, sáng tạo các tác phẩm báo chí và xây dựng những tờ báo cách mạng.Viết văn, viết báo đối với Bác Hồ là sự rèn luyện rất công phu, viết sao cho ngắn gọn và súc tích. Những bài báo của Bác Hồ trong thời gian 1922-1926 đăng trên báo “Người cùng khổ”, “Đời sống công nhân”, “Nhân Đạo”, “Tạp chí đỏ” và nhiều báo và tạp chí khác là những bài xuất sắc về cả nội dung và bút pháp. Trong những bài báo này, Bác Hồ vừa tố cáo tội ác của bọn thực dân, vừa ủng hộ phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, An giê ri v.v… Bác Hồ thông cảm nỗi tủi nhục, đau khổ của người dân mất nước, nhất là của người da đen và lên án cái gọi là “Văn minh Mỹ”. Bản án chế độ thực dân Pháp của Bác Hồ là một bản cáo trạng chế độ nô lệ hiện đại hóa của Pháp đã hạ con người xuống hàng súc vật. ở các nước thuộc địa “Công lý không phải cho con người và cho công dân, mà công lý cho diều hâu và cá mập”.Đại hội của Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ III, Bác Hồ chỉ rõ: “Nhiệm vụ của báo chí là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta, cũng là nhiệm vụ của báo chí ta”. Bác Hồ khẳng định: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Vì nhiệm vụ của báo chí, vì “duyên nợ” với báo chí, dẫu phải gánh vác lo toan trăm công nghìn việc Bác Hồ luôn luôn quan tâm, gắn bó với báo chí, công tác báo chí. Bác Hồ đã từng sáng lập tổ chức, đóng góp tích cực hàng chục tờ báo cách mạng trong và ngoài nước. Riêng báo Nhân Dân từ số đầu ra ngày 11-3-1951 đến ngày Bác Hồ đi vào cõi vĩnh hằng, Bác Hồ viết đến 1.188 bài báo. Bác Hồ đã chính thức đặt tên cho báo Quân đội nhân dân từ lúc mới ra đời. Hầu hết các báo đều được Bác Hồ quan tâm theo dõi, góp ý xây dựng từ những tờ báo có tên tuổi đến những tờ báo của thiếu niên, nhi đồng ở một tỉnh lẻ.Bác Hồ mang nhiều bút danh, song khi đọc nghiền ngẫm, chúng ta thấy tỏa sáng riêng một phong cách Hồ Chí Minh, ngôn ngữ báo chí, phong cách diễn đạt, nội dung, lượng thông tin hàm chứa tính trung thực trong giản dị, sự uyên thâm vốn cổ, ca dao, tục ngữ, phương ngôn, Bác Hồ thường căn dặn các nhà báo phải luôn luôn trung thực, coi đó một tiêu chuẩn đạo đức của người làm báo, “không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết. Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết chớ nói, chớ viết càn”. Bác Hồ còn nhắc nhở “Không nên chỉ nói cái tốt mà giấu đi cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn. Nếu cái hay cái tốt thì phải có chừng mực, chớ phóng đại… phê bình phải phê bình thật thà, chân thành, đúng đắn”.Đối với báo chí và người làm báo, Bác Hồ yêu cầu lấy phê bình và tự phê bình để rèn luyện, tiến bộ, điều quan trọng là lắng nghe ý kiến phê bình của quần chúng: “Các nhà báo cũng cần khuyến khích quần chúng góp ý kiến và phê bình mình để tiến bộ mãi”. Quần chúng nhân dân đó là đối tượng phục vụ của báo chí theo quan điểm của Bác Hồ. Bác Hồ luôn luôn căn dặn khuyên bảo, tâm tình với các nhà báo phải biết “nghe”, biết “hỏi”, biết “thấy”, biết “xem” và biết “nghĩ”, đó là những kinh nghiệm dầy dạn về các “Công đoạn”, các thao tác để có được những tác phẩm báo chí thực sự bổ ích và thiết thực cho nhân dân, cho cách mạng.Bác Hồ muôn vàn kính yêu, người thầy, nhà báo Việt Nam vĩ đại, mãi mãi sống giữa lòng nhân dân, sống giữa tâm khảm các nhà báo Việt Nam. Chúng ta con cháu Bác Hồ, đi theo con đường của Bác, luôn luôn suy ngẫm học tập tấm gương đạo đức, phong cách làm báo của Bác Hồ. Mỗi nhà báo là chiến sỹ cách mạng. Tự rèn luyện, tự phấn đấu có nhiều tác phẩm báo chí hay phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

baobacninh.com.vn

Bác Hồ với báo Đảng

4-5.a.jpgICTnews – Sau 50 năm cầm bút, Bác Hồ đã cống hiến cho sự nghiệp báo chí cách mạng nước ta và thế giới hàng nghìn bài báo, dưới 53 bút danh khác nhau.

Tính từ bài báo đầu tiên của Bác là “Vấn đề người bản xứ” đăng trên báo Nhân đạo của Pháp, ngày 2/8/1919 đến bài báo cuối cùng là “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” đăng báo Nhân Dân, ngày 1/6/1969 thì sau 50 năm cầm bút, Người đã cống hiến cho sự nghiệp báo chí cách mạng nước ta và thế giới hàng nghìn bài báo, dưới 53 bút danh khác nhau.

Trong căn phòng nhỏ tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, ông Bùi Kim Hồng, Giám đốc Khu di tích bồi hồi kể lại việc Bác Hồ đã sử dụng phương tiện báo chí đại chúng như là một trong những hoạt động yêu nước của Người.

Hàng ngày, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn sắp xếp thời gian thích hợp để nắm bắt thông tin tổng hợp qua sách báo. Bác đọc báo rất nhanh và rất chính xác, chỗ nào có vấn đề cần chú ý hoặc liên quan đến các cấp, các ngành Bác đều ghi chép, đánh dấu những thông tin cần xử lý. Với gương người tốt, việc tốt Bác dùng bút bi hoặc bút chì màu đỏ ghi bên cạnh dấu (-) (nghĩa là thưởng huy hiệu), chỗ nào cần lưu ý Bác đánh dấu (/), vấn đề nào chưa rõ Bác đánh dấu (?) và yêu cầu văn phòng xác minh lại. Khi đã xem xong Bác vạch hai vạch //, thỉnh thoảng Bác cũng sử dụng các loại chữ Hán, Nga, Pháp, Anh làm ký hiệu bên lề trang báo. Bác còn ghi tóm tắt thông tin vào cuốn sổ nhỏ, hoặc cho cắt dán để làm tư liệu. Gặp những chữ báo in sai, Bác đánh dấu và nói để báo sửa. Bài nào cần nghiên cứu, Bác nhắc các đồng chí giúp việc cắt dán lưu lại theo chuyên đề: về Đảng, về các ngành, về miền Nam và tin thế giới…

Một lần đến thăm trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, Bác nói với những cán bộ viết báo được cử đi học: “Các chú phải nhớ là viết cho ai, viết cái gì, nhằm mục đích gì. Phải viết cho dân hiểu để dân làm, phải nghe lời phê bình hàng ngày của dân”. Cũng vì thế, mỗi khi xem báo Đảng thấy có sai sót Bác nhắc ngay để rút kinh nghiệm. Đôi khi Bác còn làm vài con tính để kiểm tra báo đăng đã đúng chưa, số liệu kết quả có khớp không? Bác đặc biệt quan tâm đến báo Nhân Dân vì đây là cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng. Sáng nào cũng vậy, cứ 6h30 sáng là tờ Nhân Dân đã có mặt trên bàn làm việc của Bác.

4-5.b.jpgMột bài báo của Bác đăng trên tờ Le Paria (Người cùng khổ)

Bác thường xuyên viết bài, phê bình và góp ý cho báo, căn dặn bài viết cho báo phải ngắn gọn để đăng được nhiều bài, người đọc đỡ tốn thời gian. Khi nào báo đăng văn kiện của Đảng và Nhà nước thì ra thêm phụ trương khổ nhỏ cho cán bộ, đảng viên dễ lưu giữ và tiện tra cứu. Bác còn yêu cầu báo Nhân Dân mỗi tháng hai lần tổng hợp tình hình trong nước và quốc tế cho Bác.

Ngày 18/1/1957 đến thăm báo Nhân Dân, Bác căn dặn các anh chị em phóng viên phải viết đúng, viết hay. Nếu viết sai hay in sai phải đính chính. Nhà báo cần biết ngoại ngữ và phải thương yêu, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau.

Bác cũng thường xuyên xem báo địa phương, báo các ngành. Bác không quên khen thưởng những thành tích và nhắc nhở những sai lầm. Những hiện tượng sai trái, tham ô, cửa quyền… các tệ nạn xã hội cũ còn rớt lại, Bác nghiêm khắc phê bình… Bài báo về những sai lầm trong ba khoán, đăng báo Hà Nội mới trên bàn làm việc của Bác vẫn còn bút tích ghi: K.g.đ.c Trường Chinh những sai lầm về “ba khoán”. Xem xong xin trả lại cho B’. Bác còn chú ý theo dõi mục: Ý kiến bạn đọc. Có lần xem báo Lao Động có vần thơ vui ở mục “Nói thật không mất lòng”, phê bình một công trường để nhà tắm nữ trống trải, chị em làm việc xong không có nơi để tắm. Bác đã gửi bài báo và ý kiến xuống công trường để các đồng chí lãnh đạo sửa chữa.

Những ngày tháng cuối cùng, tuy yếu mệt nhưng Bác vẫn theo dõi sát tình hình đất nước qua báo chí. Trên bàn làm việc tại nơi Bác điều trị bệnh và đi xa, bên cạnh những chồng báo hàng ngày Bác đang đọc dở là những nét chì đỏ của Bác khoanh tròn trong bản tin “Nichxơn hoãn rút thêm quân”, dấu bút đỏ trên bài “Nam Bắc một nhà là anh em ruột thịt quyết không thể chia cắt được” đăng báo Thống Nhất, còn có bài báo “Phê bình và sửa chữa khuyết điểm ở chi bộ Phú Thành (Nghệ An)” đăng trên báo Nhân Dân được Bác lưu giữ để theo dõi phong trào vận động quần chúng xây dựng Đảng ở cơ sở. Những tờ báo và bản tin cuối cùng Bác xem đều phát hành vào ngày 24/8/1969.

Quan điểm lý luận và hoạt động báo chí thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn phù hợp, gắn bó với cuộc sống và phục vụ lợi ích nhân dân. Bác rất coi trọng đối tượng và hiệu quả tuyên truyền báo chí. Vì vậy, những người làm báo của Đảng cần phải luôn ghi nhớ lời dạy của Người: “Báo của ta là báo của nhân dân, phải nói thật với dân. Thổi phồng khó khăn làm dân sợ, dân hoang mang là sai, là không tốt. Nhưng ngược lại nói quá dễ dàng, tưởng để động viên nhưng khi dân thấy sự thật không đúng như thế, dân không tin ta nữa, không xem báo nữa! Muốn viết trung thực thì phải đến tận nơi, phải nghiên cứu, phải suy nghĩ nên viết cái gì và viết như thế nào”.

Ngọc Tuấn (ghi)
qdnd.vn

Bác Hồ với Báo chí cách mạng Việt Nam (Bài 2)

(BLC) – Bác Hồ không chỉ là nhà chính trị lỗi lạc, danh nhân văn hoá thế giới mà còn là một nhà báo vĩ đại. Bác là người sáng lập ra nền báo chí cách mạng Việt Nam, người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Mở đầu là tờ báo Thanh niên, số ra đầu tiên vào ngày 21/6/1925. Đây là tờ báo của Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội – Tổ chức tiền thân của Đảng cộng sản Việt Nam. Với vai trò và ý nghĩa lịch sử của tờ Báo Thanh niên đối với cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã quyết định lấy ngày 21.6 hàng năm làm ngày báo chí cách mạng Việt Nam.

Trong 50 năm hoạt động cách mạng kể từ khi Bác tìm ra con đường cứu nước, (năm 1919) cũng là 50 năm gắn liền với hoạt động báo chí, Bác đã viết trên 2.000 bài báo, 3.000 bài thơ, gần 500 trang chuyện và ký với nhiều thứ tiếng, nhiều thể loại, nhiều chủ đề hấp dẫn với tinh thần cách mạng rất cao. Mỗi bài báo, mỗi bài thơ, mỗi câu chuyện trên báo đều là những lời hiệu triệu, huấn thị và là ánh sáng soi đường cho dân tộc Việt nam. Chính từ cách viết độc đáo, những tác phẩm báo chí xuất sắc, tinh thần cách mạng triệt để và tấm gương đạo đức trong sáng của Bác đã tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân làm cách mạng, đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập báo chí cách mạng Việt Nam.

Kế thừa và phát huy Chủ nghĩa Mác Lê-Nin về báo chí cùng với hoạt động thực tiễn phong phú, Bác đã để lại cho dân tộc, những người làm báo Việt Nam một di sản vô cùng quí giá – Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng. Đó là những quan điểm, tư tưởng, kinh nghiệm vô cùng phong phú, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của báo chí cách mạng; về vị trí, vai trò chức năng của báo chí trong sự nghiệp cách mạng; về các tính chất cơ bản của báo chí như tính chính trị, tính tư tưởng, tính chiến đấu, tính Đảng, tính nhân dân, tính chân thật và tính khoa học…; về nghĩa vụ và trách nhiệm của người làm báo với tư cách là chiến sỹ cách mạng trên mặt trận báo chí và là chiến sỹ tiền phong trong sự nghiệp cách mạng; đạo đức báo chí và phong cách làm báo, viết báo… Điều này chính Bác là người đi đầu vận dụng thực hiện và là tấm gương sáng về đạo đức của người làm báo cách mạng Việt Nam.

Phóng viên Báo Lai Châu xuống cơ sở.

Về bản chất và vai trò của báo chí cách mạng, Bác khẳng định báo chí là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, nó như là một vũ khí sắc bén của Đảng, nhà nước để góp phần “Chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Để đảm bảo tính tư tưởng, tính Đảng của báo chí thì trong đó phải thể hiện tính chiến đấu, tính giáo dục và tính quần chúng cao. “Báo chí phục vụ nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền cổ động cho Chủ nghĩa Mác Lê-Nin và mang chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước đến với nhân dân”. “Báo chí của ta thì cần phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, hoà bình thế giới”.

Phóng viên Báo Lai Châu trao đổi nghiệp vụ. 

Báo chí là người tuyên truyền cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung và luôn có tính chiến đấu cao để bảo vệ lợi ích cho nhân dân, Bác nói: “Báo chí của ta không phải để cho số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính quần chúng và tính chiến đấu”. Báo chí phải đi tiên phong đấu tranh không khoan nhượng với những gì đi ngược lại quyền lợi của nhân dân và sự phát triển của lịch sử dân tộc. “Đối với bản thân báo chí, bản thân người làm báo phải có tính chiến đấu mới làm báo tốt được”.

Báo chí cũng là một mặt trận, tờ báo như một thứ vũ khí sắc bén, nhanh nhạy, đại chúng, tuyên truyền cổ động, huấn luyện, giáo dục mọi người hiểu, nhớ và làm theo. Bác cho rằng: “Tờ báo như những lớp huấn luyện giản đơn, thiết thực và rộng khắp, nó dạy bảo chúng ta những điều cần biết làm về tuyên truyền, tổ chức lãnh đạo và công tác. Hằng ngày nó giúp nâng cao trình độ chính trị và năng suất công tác của chúng ta. Nếu cứ nhắm mắt làm việc, mà không xem báo Đảng thì khác nào nhắm mắt đi đêm, nhất là lúng túng hỏng việc”.

Bác nhắc nhở các cơ quan báo chí: “bên cạnh việc đấu tranh chống cái xấu phải cổ vũ nhân tố mới, nêu gương người tốt, việc tốt, lấy gương người tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng tổ chức cách mạng, xây dựng cuộc sống mới, con người mới”. Để làm tốt nhiệm vụ của mình Bác yêu cầu các cơ quan báo chí, người làm báo phải gần gũi quần chúng hơn nữa, cách làm việc của báo chí phải cải thiện hơn nữa, tích cực xây dựng lối sống mới, biểu dương người tốt, việc tốt, thúc đẩy nâng cao tinh thần nhân dân… Báo chí cách mạng là phải quan tâm bảo vệ Đảng, đường lối của Đảng, vững vàng lập trường, quan tâm sửa chữa sai lầm của mình, quan tâm chống tiêu cực và quan tâm chống kẻ thù…

Bác xác định báo chí cách mạng là tiếng nói của Đảng và là diễn đàn của nhân dân. Báo chí phản ánh những ý kiến xây dựng của nhân dân, nói lên tâm tư nguyện vọng, kiến nghị của nhân dân đối với công cuộc xây dựng đất nước. Đồng thời báo chí cũng quyết liệt chống tham nhũng buôn lậu, chống lại tội ác và các tệ nạn xã hội, chống lại những biểu hiện tha hoá sa sút về phẩm chất, đạo đức và lối sống. Vì vậy, báo chí phải giữ vững vai trò “lãnh đạo dư luận”, nghĩa là phải định hướng dư luận đúng đắn, lành mạnh, phải nâng cao tinh thần đấu tranh của nhân dân. Mỗi tờ báo phải thể hiện ý chí nguyện vọng và sức mạnh của tập thể, của cộng đồng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người, xây dựng xã hội mới văn minh tiến bộ.

Quan điểm nhất quán của Bác khi đề cập đến báo chí cách mạng là phải xác định được mục đích, tôn chỉ, nhiệm vụ và coi báo chí là một lĩnh vực quan trọng: “Trong cuộc kiến thiết nước nhà có 4 vấn đề cần phải chú ý đến cùng, phải coi trọng ngang nhau: Chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá. Báo chí vừa là bộ phận cấu thành của văn hoá, vừa là phương tiện cổ vũ, truyền bá thực thi văn hoá, nó là đội quân đi đầu trong công tác tư tưởng”.

Đối với người làm báo, Bác rất quan tâm đến tư tưởng chính trị và đạo đức người làm báo: “đối với bản thân báo chí, bản thân người làm báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để tập hợp và hướng dẫn nhân dân”. “Cán bộ báo chí là chiến sỹ cách mạng, cây bút trang giấy là vũ khí của họ, ngòi bút của các bạn là vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”. Bác luôn nhắc nhở các nhà báo sống phải trung thực, phải luôn tự hỏi mình “Viết cho ai xem? viết để làm gì? Viết về cái gì? Viết như thế nào?”.

Tính chân thật luôn được coi là đạo đức của người làm báo cách mạng. Nhà báo cách mạng cũng là người cách mạng nên nhà báo cũng phải có đạo đức cách mạng, người làm báo cách mạng phải luôn rèn luyện đạo đức cách mạng và đạo đức báo chí cách mạng. Bác khuyên “Muốn trở thành nhà báo giỏi phải học tập và rèn luyện không ngừng”. Bác căn dặn cán bộ báo chí “Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hoá, chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ, đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động”. “Tất cả những người làm báo… phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ; chính trị đúng thì mọi việc mới đúng. Nhà báo phải góp phần nâng cao chất lượng báo chí để nó làm tròn nhiệm vụ cao cả của nó là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng”.

Theo Bác nhà báo phải viết chân thật vì chân thật là sức mạnh, là niềm tin. Mỗi bài báo đều bắt nguồn từ thực tế cuộc sống với những con số, những sự kiện được xem xét kiểm tra, chọn lọc. Bài viết phải đem cho người đọc lượng thông tin cao và chính xác, viết phải đúng sự thật không được bịa ra, không nên nêu ẩu, chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ chớ nói, chớ viết.

Bác Hồ cũng rất quan tâm đến nội dung bài viết, tức là bài viết phải đúng sự thực và coi đó như một tiêu chuẩn đạo đức nhà báo: “Không biết rõ, hiểu rõ chớ nói chớ viết. Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết chớ nói chớ viết càn”. “Không nên chỉ nói cái tốt mà giấu đi cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn”.

Về cách diễn đạt nhất là sử dụng ngôn ngữ, Bác luôn nhắc nhở các nhà báo phải giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, coi tiếng nói là tài sản của dân tộc, phải giữ gìn, quí trọng và phát triển nó…

Đã 87 năm trôi qua kể từ khi tờ Báo Thanh niên đầu tiên do Bác sáng lập và 44 năm Bác của chúng ta đã đi xa, song những quan điểm, tư tưởng và tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác vẫn còn in đậm trong lòng dân tộc Việt Nam. Những người làm báo Việt Nam hôm nay thật vinh dự và tự hào có Bác Hồ, một nhà báo cách mạng vĩ đại, một người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức Bác Hồ để trở thành nhà báo cách mạng là nghĩa vụ và trách nhiệm của những người làm báo Việt Nam. Nhớ công ơn, công lao trời biển của Người, những người làm báo Việt Nam nguyện khổ công rèn luyện, mài giũa ngòi bút, tự trao dồi và nâng cao cho mình bản lĩnh chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp và tác phong, đạo đức của người làm báo cách mạng để xứng đáng là học trò của Người và yêu cầu nhiệm vụ mới đang đặt ra.

Nguyễn Cảnh Phượng
baolaichau.vn

Bác Hồ với các nhà báo

Bác Hồ tặng hoa và ân cần thăm hỏi các nhà báo. Ảnh tư liệu

(BG)-Trước năm 1954, tại Chiến khu Việt Bắc, mấy anh em nhà báo có tăng gia được mấy cây cải lớn sang biếu Bác. Ở rừng thiếu rau lắm, Bác hỏi: Tại sao cây rau to? Sau khi nghe anh em trình bày, Bác nói: “Các chú làm báo cũng như trồng rau, phải chọn chỗ đất nào tốt nhất trồng rau cho cây rau mau to. Các chú làm báo cũng phải chọn đề tài, chọn vấn đề tức là chọn chỗ, chọn việc, làm sao cho phát triển như cây rau, mới thành công”. Nhà báo Trần Quang Huy qua nhiều năm làm báo, rất thấm thía những lời dạy của Bác.

Năm 1960, nhà báo Trần Kiên, phóng viên báo Nhân Dân thường trú tại Mát-xcơ-va kể: “Một buổi sáng tháng 11-1960, đọc báo Văn học Liên Xô tôi rất vui mừng thấy có đăng bài của Bác Hồ viết về nhà văn nổi tiếng Lép Tôn-xtôi. Bài của Bác ngắn gọn, đọc rất hay và xúc động. Tôi bàn với đồng chí phiên dịch người Nga dịch bài đó sang tiếng Pháp, rồi tôi vội vàng dịch bài báo sang tiếng Việt và điện về nhà… Bài báo được đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 21-11-1960. Vài hôm sau, Bác đến thăm Đại sứ quán ta. Tôi vội cầm máy ảnh sang đón Bác. Thấy tôi, Bác hỏi:

– Chú là phóng viên thường trú phải không?

– Dạ, thưa Bác vâng ạ!

– Bác vừa nhận được báo Nhân Dân… Sao bài của Bác thiếu một câu…?
Tôi giật thót mình. Trời lạnh mà người toát mồ hôi. Tôi nhận lỗi và Bác dịu dàng dặn:

– Làm việc gì cũng phải chu đáo, cẩn thận!

Cũng tại chiến khu Việt Bắc, nhà báo Quang Đạm kể, một hôm Bác gọi tới hỏi:

– Chú làm gì? Trước chú có viết báo không?

Nhà báo Quang Đạm thưa:

– Thưa Bác, cháu chưa viết báo. Trước cháu làm hướng đạo; Thời kỳ ở Cục thông tin Bộ Tổng tham mưu, cháu chuyên làm mật mã…

Bác cười:

– Trước chú làm mật mã, tức là chú viết một cái gì mà không ai nắm được luật, thì không hiểu được, không đọc được, không sử dụng được. Bây giờ làm báo thì chú phải làm ngược lại, chú phải viết thế nào cho ai cũng hiểu được.

Năm 1951, bắt đầu có thuế nông nghiệp, sau đó giảm tô, giảm tức. Đồng chí Hà Xuân Trường có viết một truyện ký với đầu đề “Thửa ruộng vỡ hoang” nói về sự nghèo khó của người nông dân, không có ruộng phải đi làm thuê, sau đó cách mạng chia ruộng đất đăng suốt nhiều kỳ trên báo Nhân Dân. Bác đọc suốt cả bốn số báo, rồi viết thư sang cơ quan báo hỏi: “Còn dài nữa không? Viết gòn gọn chứ!…”.

Mọi người hiểu ý Bác nhắc như vậy là rất đúng, báo Nhân Dân lúc đó khổ hẹp, chưa ra hàng ngày, mà cho đăng bài dài như vậy, làm hạn chế bao nhiêu bài, tin tức cập nhật cần thiết hơn.

Nhà báo Thanh Phong, nguyên phóng viên báo Nhân Dân thường trú tại Nghệ An kể lại. Năm 1961 Bác về thăm quê. Lúc Bác đang tần ngần, nước mắt rơm rớm bước vào ngôi nhà lá đơn sơ mà Bác đã từng sống trong những ngày thơ ấu, đoàn người đi theo im lặng, không ai muốn phá vỡ những phút thiêng liêng đó, thì bỗng có tiếng “roạt”… Thì ra một nữ phóng viên nhiếp ảnh muốn chụp được hình ảnh của Bác trước ngôi nhà cũ, đã trèo lên đống rạ giữa vườn để chụp, chẳng may đống rạ bị đổ. Cô phóng viên hốt hoảng lắm, song Bác bước ngay lại, đỡ cô lên và trìu mến hỏi:

– Cháu có đau không? Lần sau cẩn thận nhé!

Rồi Bác bảo tiếp:

– Cháu chưa chụp được ảnh phải không? Bây giờ cháu chụp nhé!

Nói xong, Bác trở lại chậm rãi bước trước cửa nhà để cô phóng viên chụp bức ảnh theo ý muốn.

*       *

*

Qua các mẩu chuyện trên, Bác đã chỉ bảo rất cụ thể những chi tiết về nghiệp vụ làm báo cả tình yêu thương của Bác dành cho các nhà báo nói riêng và cả dân tộc Việt Nam nói chung… Bởi chính Bác là nhà báo lớn, người đã sáng lập ra nền báo chí Cách mạng Việt Nam.

Lê Hồng bảo Uyên (Biên soạn)
baobacgiang.com.vn

Bác Hồ với các nhà báo nước ngoài

Trên con đường đi tìm độc lập, tự do cho Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu một cách sâu sắc báo chí là một vũ khí sắc bén của cách mạng. Báo chí như V.I.Lênin khẳng định, là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể. Ngay từ những ngày đầu hoạt động, Bác Hồ đã viết báo để phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng của mình.

Đầu tiên Bác viết báo bằng tiếng Pháp cho những tờ “Đời sống thợ thuyền”, “Nhân loại” và những tờ báo cánh tả khác ở Pháp. Trong khi cộng tác với các báo cánh tả, Bác nhận thấy là người Pháp biết quá ít, cũng có thể nói là nhiều người chẳng biết gì về Việt Nam. Bác muốn viết nhiều những bài báo nói về tình hình của xứ Đông Dương thuộc địa, về bọn thực dân tàn ác đã mang đến cho người dân Đông Dương nhiều đau khổ. Mỗi bài báo của Bác như mũi tên, hòn đạn làm náo động dư luận Pháp và có ảnh hưởng lớn trong các nước thuộc địa.

Đối với các nhà báo nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn là một người bạn lớn. Những nhà báo quốc tế khi đến Việt Nam đều mong muốn được gặp Người.

Trong chiến khu Việt Bắc, trước ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, nhà báo Ô-xtrây-li-a Uyn-phrết Bớc-sét đã gặp Bác Hồ. Ông viết: “Dường như không thể tin được, nhưng thực sự chẳng có gì đáng nghi ngờ. Con người mảnh khảnh với chòm râu dài từ trong cánh rừng bước ra, gậy cầm tay, áo vắt vai, không phải ai khác mà chính là Cụ Hồ Chí Minh truyền thuyết. Được người Pháp đưa tin đã chết đến vài chục lần. Cụ vẫn ở đó tay dang rộng, mảnh dẻ, nhưng không thể nào nhầm được. Không thể nào quên được buổi gặp gỡ đầu tiên đó, với vẻ ấm cúng và thông minh trong đôi mắt nâu thẫm của Người. Đầu tiên, Cụ Hồ Chí Minh ân cần hỏi thăm về sức khoẻ của tôi.

Trên đường đến Việt Nam, tôi nghe đài sóng ngắn và thấy rằng phần nhiều tin từ Hà Nội bị Pháp chiếm đóng, đều nói về một địa điểm gọi là Điện Biên Phủ. Người Pháp đã chiếm được địa điểm này, làm một căn cứ để tấn công Việt Minh từ phía sau và để quét sạch các sở chỉ huy của họ. Câu hỏi đầu tiên của tôi là điều gì đang xảy ra ở Điện Biên Phủ?

Cụ Hồ lật ngửa chiếc mũ lưỡi trai che nắng của Người xuống bàn, đưa mấy ngón tay mảnh khảnh vòng quanh vành mũ và nói: “Đây là rừng núi, nơi có các lực lượng của chúng tôi. Dưới kia là thung lũng Điện Biên Phủ, ở đó là người Pháp với những đội quân tinh nhuệ nhất. Họ sẽ không bao giờ ra được – tuy có thể mất một ít thời gian”.

– Một Xta-lin-grát ở Đông Dương?

– Trên một phạm vi khiêm tốn, vâng, hơi giống Xta-lin-grát!”(1).

Và sau vài lần gặp gỡ, Bớc-sét viết: “Như tôi đã phát hiện trong nhiều cuộc gặp về sau, nét điển hình ở Cụ Hồ Chí Minh là chỉ với một vài từ, hoặc một vài hình ảnh, Cụ có thể trình bày được những vấn đề rất phức tạp! Hình ảnh những quân tinh nhuệ nhất của đội quân viễn chinh Pháp bị nhốt vào đáy mũ lưỡi trai của Cụ, sẽ là một cuộc chiến đấu lịch sử Điện Biên Phủ khi lên đến đỉnh cao”(2).

Chúng ta biết, Uyn-phrết Bớc-sét là một nhà báo nổi tiếng. Ông đã đem hết nhiệt tình của một nhà báo để ủng hộ những cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Bớc-sét là nhà báo nước ngoài đã có mặt ở Hà Nội trong những ngày giải phóng Thủ đô 1954. Ông cũng là tác giả của cuốn sách “Phía bắc vĩ tuyến 17” được xuất bản ở nhiều nước. Trên bìa cuốn sách được in bằng tiếng Anh này, Bớc-sét đã ghi: “Tác giả bày tỏ niềm tin rằng không có sức mạnh nào có thể ngăn cản được nhân dân Việt Nam bắt tay với nhau qua hàng rào giả tạo đó để quét sạch nó!”.

Trong cuốn Hồi ký của mình, Bớc-sét viết: “Tôi đến Hải Phòng để theo dõi việc lá cờ Pháp bị hạ xuống lần đầu tiên ở phía Bắc vĩ tuyến 17 và việc các quan chức quân sự và hành chính cuối cùng xuống tàu chiến đi Sài Gòn. Vét-xa đánh dấu sự kiện lịch sử này, bằng việc cho Gioóc-giơ chào đời ở một bệnh viện Hà Nội”(3) (Vét-xa là vợ của Bớc-sét, cùng đến Việt Nam trong thời gian đó và sinh con trai ở Hà Nội).

Năm 1957, Bác Hồ sang thăm Mát-xcơ-va. Lúc đó Bớc-sét và Vét-xa cũng có mặt ở đó và cả hai cùng ra đón Bác. Sau này Bớc-sét đã kể lại một kỷ niệm lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho vợ chồng ông: “Một phần thưởng mà chúng tôi sớm nhận được để bù lại nỗi nhớ nhung Việt Nam là chỉ sau vài tuần chúng tôi đến Mát-xcơ-va, Cụ Hồ Chí Minh đã đến thăm chính thức Liên Xô. Nghi lễ đón tiếp có 21 phát súng đại bác, quốc ca hai nước, diễu hành của đội danh dự, giới thiệu với đoàn ngoại giao, rồi đến đoàn báo chí. Cụ Hồ đã trông thấy chúng tôi đứng ở hàng thứ ba trong giới báo chí. Trước sự lo sợ của nhân viên an ninh, lễ tân và trước cả sự ngạc nhiên của đoàn ngoại giao, Cụ Hồ đã rời hàng danh dự của những người đứng đón chào Cụ và bước đến chỗ chúng tôi, đặt bó hoa lớn mà Cụ vừa nhận được khi bước xuống máy bay vào tay của Vét-xa. Những thành viên khác của phái đoàn cũng làm giống như vậy, chuyển các bó hoa của họ cho chúng tôi và ôm hôn chúng tôi trước sự ngạc nhiên của các nhân viên an ninh và lễ tân.

Tính giản dị và quan hệ trước sau như một với bạn cũ của Cụ Hồ Chí Minh luôn luôn đứng trên mọi thứ nghi lễ ngoại giao. Một vài ngày sau, sau vài lần gọi giây nói, một xe hòm đen lớn chở chúng tôi đến một biệt thự đã từng là nơi ở của Xtalin trong khu rừng ngoại ô Mát-xcơ-va. Và ở đó, chúng tôi ăn cơm sáng với Cụ Hồ Chí Minh. Đó là một toà nhà gạch khá đơn giản, một số tường của nó có thể dễ dàng ngã xuống khi người ta bấm vào một cái nút để cho những người bảo vệ có thể chạy ra ngoài, đối phó với những kẻ xâm nhập. Bác Hồ kể cho chúng tôi nghe về những phát triển ở Việt Nam kể từ lúc chúng tôi ra đi. Bữa cơm sáng chỉ là sự nối lại của một tình bạn thân thiết và nói lên tình cảm thân ái của Cụ Hồ Chí Minh”. Và Bớc-sét đã ghi lại một sự kiện nữa: “Những biểu hiện chú ý đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh hầu như chắc chắn đã giúp chúng tôi giải quyết được một trong những khó khăn lớn. Việc cung cấp nhà ở cho những nhà ngoại giao và nhà báo là do cơ quan phục vụ ngoại giao đoàn phụ trách và cho đến trước khi có cuộc đi thăm của Bác Hồ, mỗi lần tôi hỏi về nhà cửa thì chỉ được đáp bằng những cái nhìn lạnh lẽo. Nhưng sau đó, thình lình tôi được cấp chỗ ở tại khu Vi-xốt-ni Đôm, một khu nhà đẹp nhìn xuống sông Mát-xcơ-va, cách nửa dặm về phía Crem-li. Cùng ở với chúng tôi trong ngôi nhà đó là những nhân vật nổi tiếng như nữ diễn viên ba-lê Ga-li-na U-la-nô-va và nhà viết xã luận A-lếch-xăng-đrơ Tva-đốp-xki. Người ta nói rằng trước kia chính Xtalin trực tiếp duyệt danh sách những người được ở ngôi nhà này”(4).

Một nhà báo Chi-lê viết: Trong cách đối xử với chúng tôi, Người thân ái một cách đặc biệt, nhất là khi Người nói với chúng tôi bằng tiếng Tây Ban Nha. Người đã từng đến Châu Mỹ La-tinh, làm phụ bếp trên những chiếc tàu buôn. Con người từng bôn ba ở nước ngoài, từng kiếm sống bằng nghề nấu bếp bình thường ấy đứng trước chúng tôi giản dị thế, mặc dù Người có sức hút khổng lồ trên thế giới. Hình như nhà báo nào đã có vinh dự gặp Bác, đều ghi lại những ấn tượng đặc biệt!

Một trong những niềm yêu thích của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đọc sách báo. Trong phòng làm việc của Người luôn có các tờ báo xuất bản ở trong nước và cả báo chí nước ngoài nữa. Người đọc kỹ, ghi những nhận xét vào bên cạnh những bài báo mà Người quan tâm. Nhiều đêm khuya, công việc xong. Người ngả lưng trên giường, mở chiếc đài nhỏ nghe những buổi phát thanh trong và ngoài nước và Người nói: Tôi muốn nghe tiếng nói của nhân loại!

Trong Phủ Chủ tịch, phía sau có một khoảng đất rộng chừng 100 mét vuông, trải sỏi. Bao quanh phía ngoài là một giàn hoa hình bán nguyệt. Giàn hoa rực rỡ màu đỏ tím của hoa, màu xanh của lá, hoà nhập với cảnh quan của khu vườn nổi tiếng. Chính ở nơi đây, với bộ bàn ghế giản dị, Bác Hồ đã tiếp và trả lời phỏng vấn của nhiều nhà báo nước ngoài. Sau này, nhiều người trở lại Việt Nam đứng dưới giàn hoa này đã xúc động nói: Chúng tôi rất nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người rất hiểu chúng tôi. Người là người anh, người bạn và cũng là Bác Hồ của chúng tôi! Năm 1946, trong dịp Bác Hồ sang thăm Pháp, bà Ăng-đrê Vi-ô-lit, tác giả cuốn Đông Dương kêu cứu đã giới thiệu với Người, một cô gái trẻ 18 tuổi, một nhà báo mới vào nghề, đang tập sự ở toà soạn Báo Se Soir (Chiều Nay). Hồ Chủ tịch vui vẻ đến gần, Người nói một cách trìu mến bằng tiếng Pháp: Con gái của tôi! Đó chính là Ma-đơ-len Ri-phô! Tuy còn trẻ nhưng cô gái xinh đẹp và dũng cảm này đã từng là một chiến sỹ chống phát-xít. Bác Hồ ân cần nói với cô: Làm báo là một nghề chân chính!

Sau này, Ri-phô đã nhiều lần sang Việt Nam. Nhiều bài báo của chị nói về cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đã được in trên Báo Nhân đạo, giúp nhân dân Pháp hiểu rõ cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc ta.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, trong một cuộc tiếp xúc với các nhà báo ở Phủ Chủ tịch tại Hà Nội, Bác Hồ đã chủ động đến bên cạnh Ma-đơ-len Ri-phô, Người nói một cách vui vẻ:

– Ô kìa các vị hãy nhìn cô gái nhỏ nhắn này! Cô ấy không còn nhận ra tôi nữa chắc?

– Ma-đơ-len Ri-phô xúc động, nói:

– Thưa Bác, không, con gái của Người vẫn nhận ra Người đấy chứ! Nhưng con thật không ngờ Người vẫn nhớ đến con!

Khi nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Ma-đơ-len Ri-phô lại sang Việt Nam. Chị đã cùng nhà báo Bớc-sét vượt Trường Sơn vào vùng giải phóng miền Nam Việt Nam. Ri-phô cũng mặc quần áo bà ba đen, đội mũ tai bèo, đi dép lốp cao su và khăn rằn trên vai như những cô gái du kích miền Nam.

Chị đã viết những cuốn phóng sự nổi tiếng: Trong căn cứ Việt Cộng và ở miền Bắc Việt Nam viết dưới bom đạn và chị đã gửi tặng Bác Hồ cả hai cuốn sách đó, với lời đề tặng:

Kính tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự biết ơn sâu sắc và tất cả tấm lòng yêu mến của con đối với Người, với Đảng, với nhân dân của Người, đang chiến đấu và chiến thắng những tên phát-xít mới!

(1,2,3,4) Hồi ký Bớc-sét, NXB Thông tin lý luận, H.1985, các trang 254, 255, 276, 286, 287, 288.

Theo Bùi Công Bính/tapchixaydungdang
Kim Yến(st)
bqllang.gov.vn

Hồ Chủ tịch với báo chí cách mạng Việt Nam

Ngày 21/6/1925, số báo Thanh niên đầu tiên do Bác Hồ sáng lập đã trở thành thời điểm lịch sử đáng ghi nhớ của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Trong chặng đường hoạt động cách mạng của mình, Bác đã sớm thấy được lợi khí cách mạng của báo chí và Bác cũng là người đã sử dụng sắc bén báo chí để làm một trong những phương tiện quan trọng nhằm chiến đấu cho sự nghiệp cứu nước. Ngày 01/4/1922, tại Pháp, Bác sáng lập báo Le Paria (Người cùng khổ). Tại Trung Quốc, Bác cho ra đời tờ Thanh niên; tại Thái Lan, Bác thành lập báo Thân ái, Đồng Thanh. Năm 1943, hai năm sau khi về nước Bác cho ra đời tờ Việt Nam Độc lập. Năm ngày sau khi khai sinh nước Việt Nam độc lập, Bác cùng Trung ương Đảng thành lập Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam.

Mối quan tâm và quan điểm nhất quán của Bác khi đề cập báo chí cách mạng là xác định được mục đích và nhiệm vụ của nó. Bác nói: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có 4 vấn đề cần phải chú ý đến cùng, phải coi quan trọng ngang nhau là chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Báo chí vừa là bộ phận cấu thành của văn hóa vừa là phương tiện cổ vũ, truyền bá thực thi văn hóa. Nó là đội quân đi đầu trong công tác tư tưởng”.

Trong thư gửi cho lớp học viết báo đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – lớp học viết báo mang tên nhà báo, chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng, Bác đề ra yêu cầu của báo là phải xác định nhiệm vụ, mục đích, tôn chỉ, đối tượng và hình thức. Tuy rất dễ hiểu nhưng những lời dạy của Bác lại mang tính lý luận rất kinh điển của báo chí hiện đại, sát đúng tình hình cách mạng của đất nước vừa mới giành độc lập. Bác nói: Nhiệm vụ của báo là tuyên truyền cổ động, huấn luyện giáo dục và tổ chức dân chúng, để đưa dân chúng đến mục đích kháng chiến và kiến quốc. Để đi đến kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công thì tôn chỉ của tờ báo là đoàn kết toàn dân, thi đua ái quốc. Đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng. Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo. Muốn được dân chúng ham chuộng coi tờ báo ấy là của mình thì hình thức cách sắp đặt bài vở, cách in phải sáng sủa.

Báo chí Đảng phải tuyên truyền, cổ động, tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, là diễn đàn của quần chúng nhân dân với các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước. Bác chỉ ra những khuyết điểm mà báo chí chúng ta thường gặp là: tuyên truyền không kịp thời, chính trị suông quá nhiều, Bác nhắc nhở báo chí phải thật sự tôn trọng sự kiện. Bởi “nhà báo là người có khả năng tạo ra dư luận để ủng hộ hoặc phê phán một hiện tượng xã hội, vì thế mà phải công tâm, phải có phẩm chất trung thực”.

Với vốn kinh nghiệm của một nhà báo cách mạng tài năng, Bác đã hướng dẫn các nhà báo một số điểm cần lưu ý khi viết báo: Gần gũi dân chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực, ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài, để xem báo nước ngoài và học kinh nghiệm của người. Khi viết xong một bài, tự mình phải xem lại 3,4 lần, sửa chữa lại cho cẩn thận. Tốt hơn nữa là đưa nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi họ những câu nào, chữ nào khó hiểu thì sửa lại cho dễ hiểu.

Những lời căn dặn của Bác đối với những người làm báo, viết báo đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

BAN TUYÊN GIÁO QUẬN ỦY TÂN PHÚ
tanphu.hochiminhcity.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với báo chí cách mạng Việt Nam

Từ ngày Báo Thanh niên ra số đầu tiên đến tháng 8-1945, trong vòng 20 năm, hoạt động báo chí nước ta luôn gắn liền với cuộc vận động cách mạng của nhân dân. Sau bao năm bôn ba ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước và sáng lập tờ Việt Nam độc lập, nhằm kêu gọi nhân dân đoàn kết đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp.

Hàng loạt tờ báo, tạp chí khác cũng được thành lập như Cứu quốc, Cờ giải phóng, Tạp chí Cộng sản và nhiều tờ báo ở các địa phương đã góp phần tuyên truyền đường lối cứu nước trong cán bộ, nhân dân.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, báo chí cách mạng được Đảng trao cho sứ mệnh là người tiên phong trong việc tuyên truyền, giáo dục về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phản ánh thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với quan điểm xuyên suốt: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Đây cũng là mục tiêu, là tiêu chí quy định chức năng, nhiệm vụ; đồng thời cũng là môi trường phát triển của nền báo chí nước nhà.

Với Bác Hồ, mặc dù bận rất nhiều công việc của một vị Chủ tịch nước, nhưng Người vẫn luôn quan tâm đến sự phát triển của nền báo chí cách mạng. Nói về mục tiêu của báo chí cách mạng, trong phát biểu tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ II (4-1959), Người chỉ rõ: “Về nội dung viết, mà các cô các chú gọi là đề tài thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một đề tài là chống thực dân, đế quốc, chống phong kiến, địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác đối với báo chí là như vậy đó”.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ đã viết khoảng 2000 bài báo, tác phẩm với nhiều thể loại, và được ký bằng 174 tên gọi, bí danh và bút danh khác nhau. Đó là những tác phẩm lý luận quan trọng, là cẩm nang chỉ đường cho Đảng và nhân dân ta trong các giai đoạn cách mạng.

Ảnh tư liệu

Theo Người, giữa cách mạng và báo chí có sự thống nhất hữu cơ, bởi vì “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Đối với một vấn đề, mọi người bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó, quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý. Chân lýlà cái gìcó lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chân lý là Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là đích phấn đấu của báo chí cách mạng Việt Nam trong suốt 80 năm qua.

Để thực hiện được chân lý đó, Người khẳng định: “Phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên, các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng”. Tính tư tưởng cao của báo chí suy cho cùng chính là điều này.

Xuất phát từ mục đích hoạt động của nền báo chí cách mạng là vì dân và từ vai trò to lớn của báo chí đối với xã hội, Người nhắc nhở những người làm báo: “Không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết. Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn”. Để báo chí luôn là diễn đàn của nhân dân, Người khẳng định: “Một tờ báo không được đại đa số (dân chúng) ham muốn thì không xứng đáng là một tờ báo”, và “không riêng gì viết sách, viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”.

Cũng là để bảo vệ quyền lợi của nhân dân, nên với Hồ Chí Minh, báo chí không chỉ là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể; mà còn là vũ khí sắc bén chống lại mọi biểu hiện phản động, tiêu cực đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, của đất nước; báo chí là công cụ đấu tranh xã hội, đấu tranhdân tộc và đấu tranh giai cấp. Trong bức điện gửi Hội Nhà báo Á Phi (ngày 24-4-1965), Người viết: “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng”. Với đội ngũ các nhà báo nước ta Người nhắc nhở: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng, cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén”, “ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”, “cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”.

Trong cách thể hiện, Người cho rằng, để báo chí hoàn thành sứ mệnh là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng; là cầu nối giữa các quốc gia,là phương tiện để các cộng đồng hiểu biết nhau hơn, “cho nên, làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung, về cách viết”. Theo tư tưởng đó, Đảng ta khẳng định: báo chí, một mặt phải chủ động, sáng tạo “làm tốt công tác thông tin đối ngoại, giúp cho cộng đồng quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có thông tin kịp thời, đúng đắn về tình hình đất nước, tranh thủ sự đồng tình của nhân dân ta”. Mặt khác “không ngừng nâng cao chất lượng chính trị, văn hóa, khoa học công nghệ, nghề nghiệp, từng bước hiện đại hóa”.

Có thể nói, với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 80 năm qua báo chí cách mạng Việt Nam đã trưởng thành vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, nội dung và hình thức; cũng như sự lớn mạnh chưa từng có của đội ngũ những người làm báo. Đặc biệt, trong gần 20 năm đổi mới, báo chí nước ta đã đi đầu trong việc định hướng tư tưởng, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tích cực đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; là một trong những động lực trực tiếp tham gia và thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Theo Hà Nội Mới
congdoanbinhthanh.org.vn