Thư viện

Đỉnh cao của khí phách và trí tuệ Việt Nam

Xã luận

QĐND – Hôm nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm 38 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2013). Thời gian càng lùi xa, chúng ta càng có điều kiện để nhìn nhận sâu hơn, rõ hơn ý nghĩa, tầm vóc vĩ đại của chiến thắng.

Suốt 30 năm kể từ khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả dân tộc ta đã chiến đấu kiên cường, bền bỉ để giành thắng lợi trọn vẹn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước mà đỉnh cao là Chiến thắng 30-4 mãi mãi được ghi tạc là một trong những mốc son chói lọi nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, là biểu tượng sáng ngời của Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, đỉnh cao của khí phách và trí tuệ của con người Việt Nam. Chiến thắng 30-4 là một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc.

Chiến thắng vĩ đại 30-4 bắt nguồn từ đường lối chính trị, quân sự đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta dựa trên sự vận dụng sáng tạo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Đó là chiến thắng của sức mạnh Việt Nam, kết tinh những giá trị tốt đẹp của truyền thống yêu nước, văn hóa dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Đồng thời, đó là thắng lợi của sự ủng hộ, giúp đỡ chí nghĩa, chí tình của bạn bè quốc tế, của các nước XHCN anh em và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. 38 năm trôi qua, nhưng không khí náo nức của những ngày “Bắc Nam sum họp một nhà” vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức của mỗi người dân Việt Nam.

Chiến thắng 30-4 để lại cho chúng ta và các thế hệ mai sau nhiều bài học quý giá, đặc biệt là bài học về tiến hành chiến tranh nhân dân, xây dựng LLVT nhân dân làm nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân. Vận dụng sáng tạo bài học kinh nghiệm đó trong điều kiện mới, Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển, đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ chủ nghĩa xã hội…”. Yêu cầu cơ bản để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới được Đảng ta xác định là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi chúng ta phải phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, toàn quân; kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế với củng cố QP-AN, QP-AN với kinh tế; ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng LLVT nhân dân, mà nòng cốt là Quân đội nhân dân vững mạnh.

Để xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, trước sự chống phá của các thế lực thù địch, cùng những khó khăn, thách thức của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ quân đội ta phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhận thức rõ mục tiêu chiến đấu, âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, không dao động trước những khó khăn, thử thách, diễn biến phức tạp của tình hình và những đòn tiến công thâm hiểm của các thế lực thù địch. Cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải thực sự là lực lượng tinh nhuệ về chính trị, là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, kiên quyết đập tan âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, chia rẽ Đảng với quân đội, quân đội với nhân dân, Quân đội nhân dân với Công an nhân dân. Quân đội ta phải ra sức huấn luyện, rèn luyện nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu đáp ứng yêu cầu tác chiến mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Cùng với tiếp tục quán triệt và nắm vững mục tiêu, phương châm chỉ đạo của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, quân đội ta cần tích cực nghiên cứu, tổng kết hoạt động lý luận, thực tiễn, tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm quý báu trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đặc biệt là trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nhằm không ngừng đổi mới công tác huấn luyện nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội. Đặc biệt, phải tập trung nghiên cứu các kiểu chiến tranh, gắn với phân tích nhận định tình hình để có những dự báo về các tình huống chiến tranh xâm lược mà kẻ thù có thể tiến hành đối với Việt Nam; tập trung đi sâu nghiên cứu phát triển khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự Việt Nam, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Trong xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, phải lấy xây dựng chính trị làm cơ sở. Quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là người đứng đầu phải thực sự gương mẫu, nói đi đôi với làm, kịp thời có các biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực, tăng cường kỷ luật, pháp luật trong quân đội. Mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải không ngừng rèn luyện, phấn đấu để quân đội ta mãi mãi xứng đáng là quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta có nhiều thuận lợi nhưng cũng còn nhiều gian nan, thách thức. Phát huy truyền thống và kinh nghiệm dựng nước, giữ nước của dân tộc và những thành tựu quan trọng đạt được trong công cuộc đổi mới, chúng ta tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân và toàn quân sẽ chung sức, chung lòng viết tiếp bản thiên anh hùng ca bất hủ của Chiến thắng 30-4, giành thắng lợi mới trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

QĐND
qdnd.vn

Tấm bản đồ má trao

Kỷ niệm 38 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước:

Cuộc chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã ca khúc khải hoàn cách đây 38 năm, trong thời khắc lịch ấy, có những ký ức, những kỷ vật và những con người mãi mãi đi vào lịch sử như biểu tượng sáng ngời cho chủ nghĩa yêu nước nồng nàn của dân tộc và nghệ thuật chiến tranh nhân dân thần diệu. Hình ảnh bà má miền Nam Sáu Ngẫu trong ký ức của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu là một trong rất nhiều hình ảnh cao quý ấy.

Từ trái sang phải: Em Phước, Chính ủy Trịnh Văn Thư, má Sáu Ngẫu, Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu và em Đức (Ảnh: TL)

Năm nay đã bước sang tuổi 67, nhưng khi kể cho chúng tôi nghe về thời khắc lịch sử của Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, đôi mắt của Tướng Nguyễn Huy Hiệu rực sáng lấp lánh, ông như sống lại những ngày tháng Tư đỏ lửa với hình ảnh má Sáu Ngẫu ở vùng Lái Thiêu, cửa ngõ Sài Gòn mà ông cùng đồng chí của mình không bao giờ quên.

Sau 38 ngày hành quân thần tốc, vượt 1.700 km từ Tam Điệp, Ninh Bình vào đến Đồng Xoài, ngày 26/4, Trung đoàn 27 Triệu Hải Anh hùng (thuộc sư 320B) do Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu chỉ huy bắt đầu nổ súng hạ các mục tiêu của địch dọc trục đường 16 và tiến sát đến Búng, bắc Lái Thiêu. Đến ngày 29/4, Trung đoàn 27 được lệnh đập tan tuyến phòng thủ của địch ở Gò Vấp, phối hợp cùng các mũi tấn công khác tiến vào giải phóng Sài Gòn. Lúc này, một khó khăn đặt ra cho vị chỉ huy mới bước qua tuổi 28 là quân ta chưa nắm được tình hình các điểm phòng thủ cũng như cách bố trí lực lượng của địch ở Lái Thiêu. Trong lúc khó khăn, một nguồn tin của ta cho biết, cách khu vực Lái Thiêu 3km có một gia đình là cơ sở cách mạng.

Ngay trong đêm 29/4, vượt mưa gió, Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu cùng Chính ủy Trịnh Văn Thư và tổ trinh sát đã thâm nhập vùng Lái Thiêu, qua bãi tha ma của khu dân cư đi vào mé bìa rừng để liên hệ với cơ sở cách mạng. Đến khuya, tổ trinh sát phát hiện một ngôi nhà lá có ánh đèn le lói. Các chiến sỹ gõ cửa rồi phát mật hiệu “Hồ Chí Minh” và được người má già, tay cầm đèn đáp lại “Muôn năm”. Nhận ra đúng mật hiệu, má liền mời các anh lính bộ đội Cụ Hồ vào nhà. Bên ngoài, một số chiến sỹ trinh sát làm nhiệm vụ cảnh giới. Sau những lời giới thiệu ngắn gọn, các chiến sỹ cũng được biết má tên Sáu Ngẫu, có chồng tên là Hai Nhương, hoạt động cách mạng, bị giặc bắt và giết hại năm Mậu Thân 1968, hiện má ở cùng hai con là Phước, 17 tuổi, con gái và con trai tên Đức, 14 tuổi.

Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu giở tấm bàn đồ quân sự ra và nhờ má Sáu Ngẫu chỉ dẫn cho các mục tiêu. Má Sáu đeo chiếc kính, nhìn một lát thì bảo má không rành các ký hiệu trên tấm bàn đồ, rồi má đi vào buồng và lấy ra tấm bản đồ đô thành Sài Gòn. Trải tấm bản đồ lên chiếc bàn gỗ, dưới ánh đèn dầu, má thoăn thoắt đánh dấu từng địa điểm, mục tiêu của địch với các thông tin về vũ khí, lực lượng với các mục tiêu quan trọng như ngã ba Lái Thiêu, cầu Vĩnh Bình, cầu Bình Phước, cầu Sắt Sài Gòn. Má vừa nói vừa ghi chú cẩn thận lên tấm bản đồ, các chiến sỹ của ta bất ngờ nhận ra, chữ má viết rất đẹp. Má vừa khoanh vùng trên tấm bản đồ, vừa bảo: “Đây là Trại Huỳnh Văn Lương, có hơn hai nghìn địch đang án binh bất động, các con không nên đánh vào trại này mà có thể kêu hàng, tránh đổ máu. Tiếp đó, các con nên đánh vượt qua mục tiêu Lái Thiêu, nhanh chóng đánh thẳng cầu Vĩnh Bình, cầu sắt Sài Gòn không địch nó phá mất.”

Trung đoàn trưởng Hiệu cùng các chiến sỹ cám ơn má và xin phép lên đường. Má bảo để má cùng em Phước, em Đức trực tiếp dẫn đường cho quân giải phóng. Thấy má già, các em lại nhỏ nên các chiến sỹ hứa sẽ trả thù cho má và sau khi chiến thắng sẽ trở lại thăm má cùng các em. Ngay trong đêm đó, Trung Đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu cùng các đồng chí của mình đã lên kế hoạch thần tốc tiêu diệt địch ở chi khu và quận lỵ Lái Thiêu, bao vây chia cắt cô lập và bức hàng Trại huấn luyện Huỳnh Văn Lương, đánh chiếm cầu Bình Phước, cầu Vĩnh Bình và cầu Lái Thiêu, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng của ta thọc sâu, đánh vào các mục tiêu chủ yếu trong Sài Gòn.

Khoảng 4h sáng 30/4/1975, Trung đoàn 27 bắt đầu tấn công Lái Thiêu và làm chủ khu vực này sau 2 giờ chiến đấu. Tiếp đó, đơn vị đánh chiếm cầu Vĩnh Bình, là nơi địch tử thủ quyết liệt. Ngoài Trung đoàn 27 lúc này có thêm Đại đội xe tăng của tiểu đoàn 66 tăng cường. Các lực lượng của ta phát huy hỏa lực mạnh của xe tăng và pháo 37 ly, đánh tan hệ thống tử thủ của địch, làm chủ cầu Vĩnh Bình. Đến khoảng 9h30 phút, mũi thọc sâu của Trung đoàn đã chiếm toàn bộ khu Gò Vấp, xưởng Bộ tư lệnh thiết giáp quân ngụy, Căn cứ 25, 26 truyền tin và chiếm Tổng y viện Cộng hòa. Sau đó, cùng đơn vị khác đánh tiếp các mục tiêu trong nội thành góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam. Má Sáu Ngẫu cùng tấm bản đồ đã góp phần cho đơn vị thần tốc đánh chiếm các mục tiêu của địch và giảm thương vong cho trung đoàn.

Ngay buổi chiều 30/4 lịch sử, Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu cùng một số đồng chí đã trở lại ngôi nhà của má Sáu Ngẫu. Má cùng nhân dân Lái Thiêu hồ hởi đón các anh trong niềm vui chiến thắng và tặng cho các chiến sỹ rất nhiều hoa quả như chôm chôm, mãng cầu, lê ki ma, măng cụt… Sau này, các chiến sỹ mới biết má là giáo viên dạy tiếng Pháp của một trường phổ thông. Đây cũng là lý do vì sao chữ má viết trên tấm bản đồ đẹp đến thế!

Đất nước thống nhất, Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu ngày nào nay đã là Thượng tướng, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Quân sự Liên bang Nga, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Tuy kinh qua nhiều cương vị công tác, nhưng ông vẫn thường xuyên vào thăm má Sáu Ngẫu và em Phước, em Đức. Năm 1989, má Sáu Ngẫu qua đời, tướng Hiệu vô cùng đau đớn. Ông cùng đơn vị đã tạc một tấm bia bên mộ má với dòng chữ “Đại đoàn Đồng bằng, Trung đoàn 27 Triệu Hải anh hùng ghi công má Sáu Ngẫu đã chỉ đường cho đơn vị tiến vào giải phóng Sài Gòn năm 1975”. Tấm bản đồ quý giá của má Sáu đã khơi nguồn cảm hứng và trở thành nguyên mẫu của ca khúc “Tấm bản đồ má trao” do nhạc sỹ Văn Thành Nho sáng tác.

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu khẳng định, đại thắng mùa xuân năm 1975 là chiến thắng của nghệ thuật chiến tranh nhân dân, của thế trận lòng dân mà Đảng, Bác Hồ đã dày công xây dựng. Nghệ thuật ấy, bắt nguồn từ truyền thống bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc với biết bao thế hệ con Lạc cháu Hồng. Má Sáu Ngẫu, cùng với triệu triệu người con của dân tộc đã góp phần “làm nên đất nước muôn đời”.

Tự Cường ghi
daibieunhandan.vn

Đặc công của Việt Nam luôn sẵn sàng mọi tình huống

Thiếu tướng Trần Xuân Hòe. (Ảnh: Trung Hiền/Vietnam+)

Bộ đội Đặc công là một lực lượng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong chiến tranh giải phóng, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc,… Binh chủng Đặc công đều lập được nhiều chiến công hiển hách, đi vào huyền thoại.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Binh chủng Đặc công vẫn là một trong những lực lượng sẵn sàng chiến đấu, cơ động nhanh của Quân đội nhân dân Việt Nam, luôn xứng đáng với lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “… Đặc công tức là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải cố gắng đặc biệt, các chiến sĩ đặc công được tin tưởng đặc biệt, bất kỳ nhiệm vụ gì, bất kỳ nhiệm vụ đặc biệt nào cũng phải hoàn thành và hoàn thành cho tốt. Bất kỳ khó khăn đặc biệt nào cũng phải vượt qua, cũng phải khắc phục cho kỳ được…”

Phóng viên Vietnam+ đã có cuộc trò chuyện cởi mở với Thiếu tướng Trần Xuân Hòe, Tư lệnh Binh chủng Đặc công về vấn đề này.

– Thưa Tư lệnh, trong những năm tháng chiến tranh, Binh chủng Đặc công đã lập được nhiều chiến công chói lọi, với cách đánh độc đáo, táo bạo “bí mật bất ngờ, luồn sâu đánh hiểm” làm cho quân thù kinh hồn, bạt vía. Trong bối cảnh hiện nay, để phát huy truyền thống ấy, công tác huấn luyện của Binh chủng Đặc công được duy trì thế nào?

Thiếu tướng Trần Xuân Hòe: Đặc công là một Binh chủng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Để phát huy tốt truyền thống anh hùng trong chiến đấu, tinh thần tích cực, chủ động, sáng tạo trong xây dựng, huấn luyện và công tác, những năm qua Binh chủng Đặc công đã tập trung nghiên cứu, tham mưu cho Bộ Quốc phòng xây dựng và phát triển các lực lượng Đặc công theo hướng tinh, gọn, chất lượng cao.

Cùng với xây dựng lực lượng, chúng tôi rất coi trọng việc nghiên cứu khoa học và phát triển nghệ thuật tác chiến của Bộ đội Đặc công. Binh chủng luôn phát huy trí tuệ của mọi cán bộ, chiến sỹ trong nghiên cứu, cải tiến, sáng chế một số mô hình học cụ, vũ khí trang bị kỹ thuật phục vụ trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Tham mưu cho Bộ mua sắm một số loại vũ khí trang bị kỹ thuật mới, đặc chủng phù hợp với cách đánh đặc công trong điều kiện mới.

Đặc biệt, chúng tôi luôn tổ chức huấn luyện bộ đội theo phương châm “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”; coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu theo nhiệm vụ, sát với đối tượng và địa bàn tác chiến (bảo đảm kỹ thuật, chiến thuật phải được huấn luyện đặc biệt thuần thục).

Hiện nay chúng tôi đã đào tạo, giáo dục, rèn luyện được lực lượng chiến đấu viên trung thành, dũng cảm, tinh nhuệ, có ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

– Được biết, Binh chủng Đặc công được giao nhiệm vụ tác chiến chống khủng bố. Bộ Tư lệnh đã làm gì để hoàn thành tốt nhiệm vụ này?

Thiếu tướng Trần Xuân Hòe: Chống khủng bố là nhiệm vụ mới, lực lượng đặc công chưa có nhiều kinh nghiệm trong tác chiến đối tượng này. Tuy nhiên, với truyền thống quyết chiến quyết thắng, bất luận trong mọi điều kiện hoàn cảnh, cho dù nhiệm vụ được giao có mới, có khó khăn, phức tạp đến đâu chúng tôi cũng phải khắc phục cho kỳ được.

Do đó, trong thời gian qua, Bộ Tư lệnh Đặc công đã tập trung chỉ đạo cho các bộ phận chức năng nghiên cứu kỹ đối tượng tác chiến. Trên cơ sở đó xác định cách đánh, tổ chức xây dựng lực lượng chống khủng bố, xây dựng các phương án và thực hành huấn luyện chuyên sâu theo từng tình huống khủng bố có thể xảy ra. Cùng với đó, chúng tôi cũng nghiên cứu, biên soạn hệ thống tài liệu cho lực lượng chuyên trách chống khủng bố một cách đặc biệt hơn so với các lực lượng khác.

Đoàn đặc công biệt động 1 luyện tập chống khủng bố. (Ảnh: Trung Hiền/Vietnam+)

Hiện nay, tất cả các đơn vị trong Binh chủng, các Quân khu… đều có lực lượng chống khủng bố. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, chúng tôi đã đưa nội dung huấn luyện nhảy dù cho lực lượng làm nhiệm vụ tác chiến chống khủng bố trong toàn Binh chủng; tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện võ thuật, bắn súng, sử dụng thành thạo các loại vũ khí mới được trang bị.

Lực lượng chống khủng bố của Binh chủng Đặc công hiện nay đã đạt đến trình độ tinh nhuệ, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ.

– Từ khi thành lập vào ngày 19/3/1967 đến nay, lực lượng đặc công có 210 cá nhân, 90 tập thể được phong tặng Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân. Bên cạnh đó còn nhiều chiến công thầm lặng, vậy việc tôn vinh những đóng góp ấy trong thời gian tới sẽ được Binh chủng tiến hành như thế nào, thưa Tư lệnh?

Thiếu tướng Trần Xuân Hòe: Thực tế vấn đề giải quyết chế độ, chính sách, đãi ngộ người có công với cách mạng luôn được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm.

Về phía mình, Binh chủng cũng đã làm tốt những công việc hết sức cụ thể, đặc biệt là đã chủ động tìm hiểu, phát hiện những hoàn cảnh còn gặp nhiều khó khăn, những mất mát trong cuộc sống hiện tại cũng như trong chiến đấu của nhiều trường hợp, qua đó đã có những hỗ trợ, giúp đỡ cả về vật chất, tinh thần để phần nào cuộc sống của đồng chí, đồng đội đỡ khó khăn hơn.

Ngoài ra, trước đây lực lượng đặc công trong kháng chiến hoạt động rất bí mật, đặc biệt là lực lượng đặc công biệt động. Thậm chí, có những người trong thời chiến cùng chung một nhiệm vụ, một chiến hào mà đồng đội cũng không biết được nhau. Đến nay, chúng tôi cũng đã và đang tìm hiểu, xác minh, đề nghị, công nhận… để cho đồng đội mình được về với Binh chủng.

Bên cạnh đó, Binh chủng cũng sẽ phối hợp tốt hơn nữa với các cơ quan truyền thông để giới thiệu với đại chúng, với bạn bè trong và ngoài nước những tấm gương tiêu biểu trong lực lượng Đặc công. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng, làm cho thế hệ trẻ thấy được lòng yêu nước, ý chí quật cường, tinh thần quyết chiến quyết thắng của Bộ đội đặc công trong mọi thời kỳ. Qua đó, góp phần khích lệ, khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc, nêu cao ý thức cảnh giác cho thế hệ trẻ trước mọi âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch.

– Xin cảm ơn Tư lệnh

Trung Hiền (Vietnam+)
vietnamplus.vn

——————–

Tin liên quan
Bài 1: Những trận đánh làm nên lịch sử đặc công Việt Nam
Bài 2:Giải phóng Trường Sa bằng cách đánh mới, táo bạo
Bài 3: Người chiến sĩ phất cờ chiến thắng tại Dinh Độc Lập

Những trận đánh làm nên lịch sử đặc công Việt Nam

Để làm nên Đại thắng mùa xuân năm 1975, dân tộc Việt Nam đã đổ biết bao xương máu. 38 năm qua, nhiều chiến công của quân và dân ta đã được tôn vinh, nhưng còn đó biết bao chiến công vang dội nhưng lại thầm lặng, ít người biết tới.

Vietnam+ xin giới thiệu tới độc giả chùm bài viết “Chuyện ít biết về Bộ đội Đặc công Việt Nam” với mong muốn đóng góp cái nhìn chính xác hơn về những chiến sĩ đặc công với nhiều trận đánh oanh liệt, góp phần vào chiến thắng Mỹ-Ngụy của toàn dân tộc.

Bài 1: Những trận đánh làm nên lịch sử của đặc công Việt Nam

Được phát triển từ nghệ thuật đánh giặc của cha ông, song đến kháng chiến chống Mỹ, nghệ thuật đánh giặc của đặc công Việt Nam được phát triển tới một tầm cao mới. Những ngón đòn hiểm hóc của những chiến sĩ “đầu trần, chân đất” đã làm cho Mỹ-Ngụy kinh hồn, bạt vía.

Năm người phá cả kho bom

Những ngày cuối tháng Tư lịch sử, ngôi nhà nhỏ nằm ở thành phố Bắc Ninh rôm rả bất chợt khi tốp khách lạ tìm đến hỏi về đại thắng mùa xuân năm 1975. Tiếp khách bằng nụ cười đầm ấm và cái bắt tay chắc nịch của người lính từng vào sinh ra tử nơi chiến trường bom đạn, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân-Đại tá Đỗ Văn Ninh (nguyên Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Binh chủng Đặc công) bảo rằng: Đặc công luôn có những cách đánh độc đáo để giành chiến thắng đặc biệt.

Nhấp ngụm trà nghi ngút khói, người đàn ông đã bước vào độ tuổi 75 ấy kể, vào thời điểm mùa xuân năm 1975, ông đang giữ chức Phó Trung đoàn đặc công 113 thuộc Binh chủng Đặc công.

Tháng 3 năm ấy, Đoàn 113 nhận lệnh đánh bằng được vào phía Đông của sân bay Biên Hòa, đánh phá kho bom Bình Ý và hướng dẫn cho pháo chiến dịch vào điểm xây dựng trận địa. Trong các nhiệm vụ ấy, việc phá kho bom Bình Ý để địch không còn bom đánh phá quân ta là cực khó bởi địch tập trung bố trí phòng vệ rất cẩn mật.

“Nhiều tổ trinh sát của chúng tôi khi đó không tiếp cận được bên trong kho bom bởi nhiều hàng rào phức tạp. Chúng tôi đào hầm, ăn nghỉ ngoài rào để đợi đến đêm sẽ vào trong đánh phá nhưng không được,” ông Ninh kể.

Khó khăn là vậy, nhưng cấp trên lại lệnh cho Đoàn 113 phải khẩn trương đánh kho bom cho kỳ được, thậm chí là dùng cách đánh của bộ binh. Sau khi bàn bạc với Chính ủy, ông Ninh đã quyết định báo cáo không thể đánh theo cách bộ binh bởi như vậy sẽ bị lộ và nhiều khả năng địch sẽ tập trung hỏa lực tiêu diệt cả Trung đoàn. Sau đó, ông xin gia hạn thêm 7 ngày để nghĩ cách phá kho bom.

Sau khi tìm hiểu kỹ địa hình, sơ đồ tác chiến…, ông Ninh đã cử một tổ gồm 5 chiến sĩ đặc công vượt sông Đồng Nai để tiếp cận với kho bom. Ở hướng đi này, 5 chiến sĩ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và kho bom đã bị phá hủy.

Tháng 4/1975, Trung đoàn 113 lại nhận được lệnh đánh vào Chi khu Di An (Thủ Đức), Thiết đoàn cơ giới Hốc Bà Thức, chốt giữ một đoạn của xa lộ Biên Hòa và đánh phá cầu Ghềnh-một trong những cây cầu huyết mạch tiến về Sài Gòn.

[Cận cảnh “tuyệt kỹ” võ thuật của đặc công Việt Nam]

Kế hoạch tác chiến được vạch ra, các chiến sĩ đã di chuyển tới các vị trí chiến đấu thì Trung đoàn 113 lại nhận được lệnh không đánh kho Di An, không được phá cầu mà phải đánh-giữ cầu Ghềnh chờ Đại quân tiến vào Sài Gòn.

Bản thân ông Ninh vào đêm 28/4 dẫn quân đánh chiếm Hốc Bà Thức, bắt được Đại tá chỉ huy Thiết đoàn của địch và hơn 30 tên lính. Sau khi đánh xong, lập tức ông chỉ huy cho các chiến sĩ phòng ngự bởi tới sáng 29, địch điên cuồng dùng máy bay, xe tăng tấn công hòng lấy lại căn cứ. Tuy nhiên, trước sự quyết liệt của các chiến sĩ đặc công, chúng đã điên cuồng đánh bom phá hủy chính căn cứ của mình.

Giữ cầu, bắc nhịp giành đại thắng

Nhiều trận đánh vang dội, nhưng có lẽ chiến công quan trọng nhất góp phần vào đại thắng 38 năm về trước của đặc công chính là việc đánh giữ 14 cây cầu huyết mạch vào Sài Gòn trong những ngày cuối cùng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Việc này tạo điều kiện thuận lợi để 5 cánh quân thần tốc tiến thẳng vào giải phóng Sài Gòn, đánh thẳng vào cơ quan đầu não địch.

Về trận cầu Ghềnh, ông Ninh kể rằng, nhiệm vụ của đặc công trước kia thường đi… đánh, phá và công việc này được hoàn thành dễ dàng. Song, nhiệm vụ đi “đánh, chiếm, giữ” quả thật nặng nề. Để hoàn thành nhiệm vụ, đặc công phải tiêu diệt toàn bộ giặc trên cầu vào ban đêm một cách nhanh gọn.

Tuy đã diệt địch, nhưng đại quân vẫn chưa tới nên khi đã chiếm được cầu Ghềnh vào đêm 27, rạng sáng 28 thì tới cả ngày 28 và ngày 29, địch tổ chức nhiều đợt tấn công hòng cướp lại cây cầu huyết mạch.

Trước hỏa lực cực mạnh của quân thù, 50/52 chiến sĩ đặc công đã anh dũng hy sinh, song không ai vì thế mà rút khỏi trận địa. Cuối cùng, khi đại quân tiến vào, địch buộc phải rút chạy và nhiệm vụ bảo vệ cầu Ghềnh đã hoàn thành rực rỡ.

“Đặc công đánh và giữ cầu, song lại không thể biết khi nào đại quân tiến vào để có sự chuẩn bị hợp lý hơn,” ông Ninh trầm buồn khi nghĩ tới những người đồng đội đã ngã xuống trước thềm chiến thắng.


Thiếu tướng Trịnh Xuân Chuyền cho hay, đánh giữ cầu là nhiệm vụ đặc biệt, có ý nghĩa quyết định đến bước tiến và thời cơ của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. (Ảnh: Trung Hiền/Vietnam+)

Chiến sĩ Đoàn 113 luyện tập chân đất vượt rào thép gai. (Ảnh: Trung Hiền/Vietnam+)

Trò chuyện với phóng viên Vietnam+, Thiếu tướng Trịnh Xuân Chuyền, Chính ủy Binh chủng Đặc công cho hay, đánh chiếm, giữ cầu là nhiệm vụ đặc biệt, thầm lặng, khó khăn, ác liệt, khốc liệt, có ý nghĩa quyết định đến bước tiến và thời cơ của Chiến dịch. Do đó, lần đầu tiên Bộ đội đặc công được sử dụng với một lực lượng lớn nhất gồm 1 sư đoàn (gồm 7 trung đoàn); 1 lữ đoàn; 4 tiểu đoàn và nhiều tổ, đội biệt động.

Theo lời tướng Chuyền, nhiều trận đánh chiếm, giữ cầu đã ghi những chiến công thầm lặng của bộ đội đặc công. Nhiều chiến sĩ đã hy sinh anh dũng không phải vì đánh cầu, mà là do giữ cầu, phục vụ chiến dịch. Bởi, nếu cầu bị phá, Đại quân sẽ mất rất nhiều thời gian để vừa bắc cầu qua sông, vừa chống lại địch bên kia sông dung hỏa lực tấn công.

Thực tế cũng cho thấy, ở nhiều trận đánh giữ cầu, lực lượng đặc công bị địch phản công đã phải gồng mình chống đỡ. Thậm chí, khi chỉ còn vài chiến sĩ, họ cũng quyết chiến đấu tới hơi thở cuối cùng. Bởi với họ, cầu còn thì người còn, cầu mất thì người chết.

Với sự quyết tâm ấy, cuối cùng, 14 cây cầu dẫn lối về Sài Gòn đã được bộ đội đặc công bảo vệ thành công, hiên ngang trong lửa đạn.

“Có thể nói, ngày toàn thắng lịch sử đã đến, giờ phút cuối cùng của Chiến dịch đã điểm nhưng máu của nhiều chiến sĩ đặc công vẫn đổ để cho những cây cầu được giữ vững, để bánh xích xe tăng, để ý chí và sức mạnh tổng hợp của năm cánh quân rầm rập băng qua những cây cầu, thần tốc tiến vào giải phóng Sài Gòn, góp phần làm nên mùa xuân đại thắng của dân tộc,” Thiếu tướng Trịnh Xuân Chuyền chốt lại./.

Bài 2: Giải phóng Trường Sa bằng cách đánh mới, táo bạo

Trung Hiền (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Từ hang Cốc Bó đến dinh Độc Lập

Cập nhật lúc: 08:22, 11/09/2010

Nhân kỷ niệm lần thứ 65 Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, NXB Quân đội nhân dân xuất bản cuốn “Từ hang Cốc Bó đến dinh Độc Lập” của Đại tá Trần Trọng Trung

Ông nguyên là cán bộ Bộ Tổng tham mưu thời kỳ chống Pháp, về sau làm việc tại Viện Khoa học quân sự, tác giả của nhiều cuốn sách viết về hai cuộc kháng chiến của dân tộc như “Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu” nói về việc Mỹ xâm lược nước ta, cuốn “Võ Nguyên Giáp – danh tướng thời đại Hồ Chí Minh” (tái bản lần thứ 2, NXB Chính trị Quốc gia 2010)… Bài báo đầu tiên ông viết về Bác Hồ đăng trên báo Cứu quốc (tháng 8/1945) nhan đề “Ông già làm ruộng ở Tân Trào”.

Cuốn “Từ hang Cốc Bó đến dinh Độc Lập” dày 642 trang. Ngoài phần mở đầu “Cùng bạn đọc”, và “Lời cuối sách”, được chia thành 36 chương, không đánh theo số thứ tự, mà chia theo nội dung từng vụ việc, gắn với từng sự kiện lịch sử, từng con người cụ thể.

Trong “Cùng bạn đọc”, Trần Trọng Trung nêu vấn đề: Sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta đã kết thúc cách đây hơn một phần ba thế kỷ. Những mốc son chói lọi Điện Biên Phủ và Xuân 1975 đã tô đậm thêm những trang sử huy hoàng chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Vậy mà đến nay, ở nơi này nơi kia vẫn tồn tại những câu hỏi đại loại như: Vì sao nhân dân Việt Nam phải hứng chịu hai cuộc chiến tranh khốc liệt suốt 30 năm? Vì sao một nước nhỏ bé, nghèo nàn và lạc hậu như Việt Nam lại có thể liên tiếp đánh thắng “hai đế quốc to” là Pháp và Mỹ? Đâu là những bài học đối với các cường quốc đã dính líu đến Việt Nam để rồi phải chấp nhận thất bại và cuốn cờ, lui quân…?

Với hai tuyến sự kiện và nhân vật ở hai phía đối lập, tác giả đã đi sâu phân tích, khái quát con đường đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do của Dân tộc, vì sự nghiệp thống nhất đất nước gần một thế kỷ của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; cũng như vạch trần mọi âm mưu thâm độc, thủ đoạn tàn bạo của các thế lực đế quốc thực dân hòng tiêu diệt chính quyền cách mạng Việt Nam, duy trì ách nô dịch đối với người Việt Nam, đối với đất nước Việt Nam.

Bắt đầu từ thời điểm đồng chí Nguyễn Ái Quốc về nước (tháng 2/1941) trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam, tác giả đã lần lượt giới thiệu sự chuyển hướng chiến lược của Đảng ta, lấy “giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu”. Từ đó, bám sát thực tiễn của cuộc đấu tranh, theo dõi rất sát tình hình trong nước và thế giới, với những khẩu hiệu đấu tranh thích hợp Đảng ta đã lãnh đạo phong trào cách mạng của nhân dân phát triển mạnh mẽ từ Bắc chí Nam, để đến lúc thời cơ chín muồi, trong vòng nửa tháng (tháng 8/1945) nổi dậy giành chính quyền trong cả nước, thành lập nhà nước công – nông đầu tiên trong lịch sử Đông Nam Á. Rồi tiếp tục hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (tháng 5/1954) và cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975, thu giang sơn về một mối.

Trong lịch sử 65 năm qua, thời gian Đảng ta, dân tộc ta phải dùng “bạo lực cách mạng” để giành và giữ chính quyền, giải phóng đất nước khỏi quân xâm lược chiếm một giai đoạn khá dài. Vì vậy, trong cuốn “Từ hang Cốc Bó đến dinh Độc Lập”, Trần Trọng Trung đã giành khá nhiều tâm sức để viết về cuộc chiến đấu này.

Tác giả nhấn mạnh: Tư tưởng quân sự của Nguyễn ái Quốc là “người trước súng sau”. Quán triệt tư tưởng ấy, Đảng ta đã từng bước xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam, mà nòng cốt là Quân đội nhân dân Việt Nam, lập nên những chiến công vang dội, hoàn thành sứ mệnh lịch sử mà Tổ quốc và nhân dân giao cho.

Những chương tác giả viết về hoạt động của Bộ chỉ huy tối cao – của Tổng hành dinh QĐNDVN trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, quá trình xây dựng quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam sau khi hiệp định Paris được ký kết (tháng 1/1973) là những chương viết hấp dẫn, có nhiều phân tích quý giá và bổ ích.

Cuối cùng, Đại tá Trần Trọng Trung nhấn mạnh: Một trong những sai lầm lớn nhất của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là đem quân xâm lược một nước mà không hiểu biết gì về lịch sử và văn hóa của dân tộc nước đó. Năm 1946, giữa thủ đô Paris (Pháp), trả lời phỏng vấn của nhà báo Mỹ Pavid Schoenbrun, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Việt Nam có một thứ vũ khí cũng mạnh như loại pháo hiện đại nhất: đó là tinh thần dân tộc”. Với vũ khí vô địch là lòng yêu nước, dù chiến đấu trong điều kiện không cân sức nhưng với tinh thần dân tộc, với truyền thống và kinh nghiệm chống ngoại xâm, nhân dân Việt Nam không chỉ quyết chiến và quyết thắng, mà còn biết đánh và biết thắng địch từng bước cho đến khi đạt được mục đích cuối cùng là độc lập dân tộc và thống nhất đất nước./.

Trương Công Thành (Báo TNVN)
vov.vn

Những bức ảnh lịch sử ngày toàn thắng

(VOV) – Ngày này 38 năm về trước, 5 mũi tấn công của ta đã thần tốc tiến vào đánh chiếm sào huyệt cuối cùng Sài Gòn, đưa non sông về một mối.

Cuối tháng 3/1975, đồng chí Lê Đức Thọ từ miền Bắc vào Nam cùng đồng chí Phạm Hùng và Đại tướng Văn Tiến Dũng thay mặt Bộ Chính trị trực tiếp chỉ đạo chiến dịch giải phóng Sài Gòn.

Tại khu rừng cao su phía Nam Dầu Giây, Sư đoàn 304 trao lá cờ quyết chiến, quyết thắng cho Trung đoàn 66 Anh hùng để cắm trên Dinh Độc lập ngày giải phóng Sài Gòn, ảnh của nhà báo, NSNA Đinh Quang Thành.

Lữ đoàn tăng 203 cùng Sư đoàn bộ binh 304, Quân đoàn 2 đánh địch trên xa lộ Biên Hòa-Sài Gòn, tiến vào giải phóng thành phố Sài Gòn (Ảnh: Đinh Quang Thành).

Tiến vào Dinh Độc Lập

Bức ảnh xe tăng húc đổ cảnh cổng Dinh Độc Lập do nữ phóng viên người Pháp Francoise Demulder chụp trưa ngày 30/4/1975.

Đại đội trưởng Bùi Quang Thận đang cầm lá cờ tiến vào Dinh Độc Lập

Các chiến sĩ Sư đoàn 10 Quân đoàn 3 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất ngày 30/4/1975.

Cảnh hỗn loạn của Sài Gòn trong giờ phút cuối cùng của chế độ Ngụy quyền.

Dương Văn Minh đọc lời đầu hàng vô điều kiện trên Đài phát thanh Sài Gòn.

Nhân dân Sài Gòn chào mừng các anh giải phóng quân.

Đông đảo các tầng lớp nhân dân Sài Gòn tham dự mít tinh mừng chiến thắng.

Bức ảnh đã đi vào tâm trí của nhiều thế hệ, “Mẹ con ngày gặp lại” của nhà báo Lâm Hồng Long.

Quang Trung/VOV online
(Ảnh tư liệu)
vov.vn

This entry was posted on Tháng Năm 1, 2013, in 30.04.1975.

Những trận đánh quyết định tiến về Sài Gòn

Có thể nói, để tiến vào giải phóng Sài Gòn ngày 30.4.1975, đòn quyết định là chiến thắng ở 2 mặt trận Phan Rang và Xuân Lộc.

Kể từ sau chiến dịch Tây Nguyên tháng 3.1975, quân ta giải phóng Buôn Ma Thuột, đánh tan toàn bộ Quân đoàn 2 của ngụy. Trên đà thắng lợi, quân ta thần tốc mở cuộc tấn công Huế, Đà Nẵng. Ngày 29.3, chỉ sau 18 ngày địch bị thất thủ tại Buôn Ma Thuột, toàn bộ Huế, Đà Nẵng đã được giải phóng, 10 vạn sỹ quan và binh lính địch ra hàng. Đây là hai đòn giáng cực mạnh vào tinh thần binh lính Sài Gòn.

Hòng cứu vãn tình thế, quân ngụy lập 2 phòng tuyến: Phan Rang và Xuân Lộc. Phòng tuyến Phan Rang giao cho Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi chỉ huy. Phan Rang cách Sài Gòn 361km về phía đông bắc, có Quốc lộ 1 và đường sắt xuyên Việt đi qua. Đây là lá chắn phía đông, hỗ trợ phòng ngự cho cụm cứ điểm Xuân Lộc và che chở từ xa cho Sài Gòn. Bọn chúng tập trung ở đây một lực lượng khá đông, gồm Sư đoàn 2 bộ binh, Lữ đoàn 2 lính dù và 3 tiểu đoàn dù được điều từ Sài Gòn ra. Mấy ngày sau, chúng còn được tăng cường 1 tiểu đoàn dù nữa. Về hỏa lực, 2 tiểu đoàn pháo binh và một số pháo do Quân đoàn 3 ngụy điều động đến. Phòng tuyến Phan Rang còn rất mạnh với Sư đoàn 6 không quân gồm hơn 150 máy bay.


Bản đồ trận Xuân Lộc

Ngày 16.4.1975, quân ta tấn công vào căn cứ không quân Phan Rang và trung tâm thị xã. Pháo lớn của ta bắn cấp tập vào các vị trí phòng ngự vòng quanh căn cứ không quân, đồng thời bắn phá dồn dập vào khu vực máy bay của địch đậu và đường băng để không cho máy bay chiến đấu của ngụy cất cánh. Cùng lúc đó, quân ta tấn công mạnh vào thị xã Phan Rang bằng ba hướng. Lần lượt các tuyến phòng thủ của ngụy bị chiếm. Một trung đoàn quân ta được lệnh cắt đứt đường giao thông trên Quốc lộ 1 ở khu vực Cà Ná cách thị xã Phan Rang khoảng 48km về hướng tây nam nhằm chặn đường rút của tàn quân ngụy.

Ngay từ những loạt đạn đầu tiên của quân ta, bọn ngụy vô cùng hoảng hốt, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi vội vã họp với Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân và Chuẩn tướng Trần Văn Nhật, Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh để bàn kế hoạch rút quân. Hệ thống truyền tin của địch bị pháo ta bắn trúng nên quân ngụy không liên lạc được với Bộ Tư lệnh chính của Quân đoàn 3 đóng tại Biên Hòa, cũng như Bộ Tổng tham mưu ở Sài Gòn. Đến trưa ngày 16.4.1975, quân ta hoàn toàn làm chủ thị xã Phan Rang. Phòng tuyến Phan Rang mà bọn ngụy hy vọng sẽ chặn đứng bước tiến của quân ta đã bị đập tan chỉ trong một ngày. Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang không kịp lên máy bay trực thăng, bị quân ta bắt sống. Riêng Chuẩn tướng Trần Văn Nhật đượåc trực thăng chở đỗ xuống tàu Hải quân, ông dùng máy truyền tin của Hải quân báo cáo về Sài Gòn, khi ấy bọn ngụy quyền chóp bu ở Sài Gòn mới biết tin Phan Rang thất thủ.

Ở Xuân Lộc, thuộc tỉnh Đồng Nai ngày nay, cách Sài Gòn 60km về phía đông bắc, bọn ngụy tập trung Sư đoàn 18 bộ binh còn nguyên vẹn, Lữ đoàn 5 tăng thiết giáp, 4 tiểu đoàn bảo an, 2 tiểu đoàn pháo binh với 42 khẩu pháo các loại, trong đó có 2 khẩu M107 175mm, 2 liên đoàn dân vệ. Tổng số quân phòng thủ Xuân Lộc khoảng 25.000 người. Chính quyền Sài Gòn giao cho Chuẩn tướng Lê Minh Đảo chỉ huy. Quân ta tấn công Xuân Lộc ngày 9.4.1975, những ngày đầu gặp bất lợi do địa hình Xuân Lộc tiện cho việc phòng thủ, ngoài ra địch lại tập trung rất đông quân ở đây. Bọn ngụy còn dùng cả bom CBU-55, một trong những loại vũ khí có sức hủy diệt hàng loạt, ném xuống xã Xuân Vinh, sát thị xã Xuân Lộc, gây thương vong hơn 200 quân ta và dân thường. Sau 4 ngày chiến đấu, quân ta tạm ngừng tấn công Xuân Lộc để củng cố lực lượng, đánh giá tình hình và thay đổi chiến thuật. Bọn ngụy mừng rỡ, tưởng rằng đã bẻ gãy được cuộc tiến công của ta, chúng huênh hoang tuyên bố, “khả năng chiến đấu của quân lực Việt Nam cộng hòa đã phục hồi” và “đủ mạnh để giữ vững chế độ”.

Tuy nhiên, đến ngày 15.4.1975, quân ta pháo kích mạnh vào sân bay Biên Hòa khiến quân ngụy không tổ chức được cuộc không kích nào. Trong ngày, quân ta đánh tan Chiến đoàn 52 và Chi đoàn thiết giáp số 13 của ngụy, phá vỡ tuyến phòng thủ phía tây Xuân Lộc. Toàn bộ chiến đoàn chỉ còn hơn 200 người sống sót. Hai ngày tiếp theo, bọn ngụy điên cuồng phản kích, sử dụng Lữ đoàn thiết giáp số 3 và Chiến đoàn 8 (sư đoàn 5) với sự yểm hộ của gần 200 phi vụ ném bom và hơn 100 khẩu pháo tại các căn cứ Nước Trong, Bà Thức, Long Bình, Đại An nhằm giải tỏa ngã ba Dầu Giây nhưng đều bị quân ta đẩy lui, tiêu hao lớn. Đến ngày 18.4.1975, khi phòng tuyến Phan Rang đã bị phá, các cánh quân ta ồ ạt tiến về bổ sung cho mặt trận Xuân Lộc, các trục lộ giao thông quan trọng nối Xuân Lộc với địa bàn xung quanh đều bị cắt đứt. Trước nguy cơ bị bao vây và tiêu diệt hoàn toàn, ngày 20.4.1975, quân ngụy bí mật rút khỏi Xuân Lộc. Vậy là “Cánh cửa thép” Xuân Lộc bị đập vỡ hoàn toàn.

Không giữ được Xuân Lộc, Sài Gòn hốt hoảng, tướng Nguyễn Cao Kỳ viết trong hồi ký: “Sỹ quan thì miệng kêu gọi lính tử chiến, nhưng lại thúc giục gia đình di tản. Tiếp theo đó là một tuần lễ cuối cùng kinh hoàng và hỗn loạn. Đến ngày 26.4, quân đội Bắc Việt đã cắt đứt Sài Gòn với đồng bằng sông Cửu Long – nơi cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm chính và nằm trong kế hoạch quân đội Sài Gòn sẽ lui về giữ đồng bằng miền Tây một khi Sài Gòn thất thủ. Thế là Sài Gòn bị cô lập”.

Chính quyền Sài Gòn khủng hoảng trầm trọng, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức (ngày 21.4). Phó tổng thống Trần Văn Hương lên nắm quyền nhưng cũng nhanh chóng phải nhường vị trí cho Dương Văn Minh – người được Mỹ hy vọng có thể đàm phán với quân đội Bắc Việt. Đến chiều 28.4, quân ta đã dùng máy bay phản lực A37 của Mỹ dội bom vào căn cứ Tân Sơn Nhất, gây hoang mang tột độ cho quân địch. Sang ngày 29.4, quân ta lại nã pháo dữ dội vào đường băng chính của sân bay Tân Sơn Nhất, kho nhiên liệu bùng cháy, nhiều máy bay trên đường băng nổ tung. Cũng theo hồi ký của tướng Nguyễn Cao Kỳ, khi ông ta đến Bộ Tổng tham mưu thì viên tướng ba sao Đồng Văn Khuyên – Tổng tham mưu trưởng chính thức vừa được Dương Văn Minh bổ nhiệm đã bỏ nhiệm sở tháo chạy và rời Sài Gòn ít giờ trước đó. Cả ngày 29.4 và sáng sớm 30.4, bầu trời Sài Gòn, trực thăng Mỹ lao vào, lao ra như con thoi để chở quan chức Mỹ di tản.

Đến 9h sáng ngày 30.4.1975, Tổng thống Chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh đã ra lệnh cho quân đội ngừng bắn để chờ quân giải phóng vào tiếp quản. Quân ta tiến vào Sài Gòn chỉ gặp vài kháng cự nhỏ lẻ của những kẻ ngoan cố. Đến 11h30 ngày 30.4, Sài Gòn giải phóng, non sông thu về một mối, chấm dứt 30 năm chiến tranh dằng dặc.

Duy Anh
daibieunhandan.vn

Không thể xuyên tạc, bóp méo thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam

Làm thất bài chiến lược “Diễn biến hòa bình”

QĐND – Lịch sử không thể thay đổi. Người ta chỉ có thể thay đổi cách nhìn nhận về lịch sử tùy theo quan điểm và lợi ích chính trị của mình mà thôi. Vì những lý do khác nhau, trong thời gian qua, không ít kẻ đã cố tình xuyên tạc, bóp méo lịch sử dân tộc ta, trong đó có ngày Chiến thắng 30-4-1975.

Trong thế kỷ XX, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, dân tộc ta đã viết nên những trang sử hào hùng trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong những trang lịch sử rực rỡ đó có thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đúng như Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã viết: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc” [1].

Nhân dân Sài Gòn vui mừng trong ngày chiến thắng. Ảnh tư liệu/internet.

Lịch sử không thể thay đổi. Người ta chỉ có thể thay đổi cách nhìn nhận về lịch sử tùy theo quan điểm và lợi ích chính trị của mình mà thôi. Vì những lý do khác nhau, trong thời gian qua, không ít kẻ đã cố tình xuyên tạc, bóp méo lịch sử dân tộc ta, trong đó có ngày Chiến thắng 30-4-1975. Có kẻ nói rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ là “nồi da, nấu thịt”, là ‘Cuộc chiến tranh của Hà Nội”, “Ngày 30-4-1975 không phải là ngày giải phóng miền Nam vì quân đội Mỹ đã rút”… Thậm chí gần đây có kẻ còn nói: “Người Mỹ không thua vì tổng số thương vong, người Mỹ bị thiệt hại ít hơn hẳn đối phương”; hay: “Cuộc chiến tranh này với mục tiêu ngăn chặn làn sóng Cộng sản ở Đông Nam Á nên không thể nói là chính phủ Mỹ thất bại”(!).

Lịch sử dân tộc ta từng ghi nhận nhiều chiến công hiển hách, đã từng đánh bại nhiều đội quân xâm lược hùng mạnh bậc nhất thế giới, nhưng chưa bao giờ dân tộc ta lại phải đương đầu với một lực lượng xâm lược ở một trình độ phát triển cao hơn mình về nhiều phương diện đến thế. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ đương nhiên không phải là một thắng lợi dễ dàng mà đây còn là cuộc đối đầu về ý chí, bản lĩnh và trí tuệ của hai bộ máy lãnh đạo chiến tranh. Để đi đến thắng lợi 30-4-1975, quân dân ta đã đánh bại 3 chiến lược chiến tranh của Mỹ và với 5 đời tổng thống Mỹ.

Vì vậy, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đã được bè bạn quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Trong điện chúc mừng thắng lợi của nhân dân ta, ngày 30-4-1975, các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Trung Quốc viết: “Thắng lợi của nhân dân Việt Nam một lần nữa chứng minh hùng hồn rằng, nhân dân một nước, dù là nhân dân một nước nhỏ, miễn là dám vùng dậy đấu tranh, dám cầm vũ khí, lấy chiến tranh chính nghĩa chống lại chiến tranh phi nghĩa, thì nhất định có thể đánh bại bất cứ kẻ thù nào… nhằm bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc, giải phóng dân tộc” [2]. Trong điện mừng của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Cu-ba, có đoạn viết: “Trong hơn 20 năm qua, toàn thể nhân dân Việt Nam ở miền Bắc cũng như ở miền Nam, với chủ nghĩa anh hùng tuyệt vời đã chiến đấu chống lại những hình thức xâm lược đế quốc tàn bạo nhất… Thắng lợi của nhân dân Việt Nam đã mở ra một giai đoạn mới cho nhân dân Việt Nam” [3].

Còn từ phía bên kia, trong cuốn hồi ký với tiêu đề “Nhìn lại quá khứ- Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam”, Robert S.McNamara, từng là Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ thời kỳ chiến tranh Việt Nam, không chỉ thừa nhận thất bại của Mỹ, coi đó là “một thảm kịch”, mà còn thừa nhận đây là cuộc chiến tranh do Hoa Kỳ gây ra do những sai lầm về chính trị của nhiều đời tổng thống! Trong những sai lầm đó có những sai lầm về: “Đánh giá sai những chủ đích địa chính trị của các đối thủ, đã phóng đại những mối nguy hại của họ đối với nước Mỹ”; rồi: “Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh tinh thần dân tộc của họ”; và: “Cách nhìn nhận của chúng ta về bạn và thù phản ánh sự dốt nát sâu sắc của chúng ta về lịch sử, văn hóa và chính trị của nhân dân Việt Nam”.[4]

Ý nghĩa và tầm vóc vĩ đại của Chiến thắng 30-4-1975 đã được lịch sử kiểm chứng sáng tỏ, rõ ràng như vậy. Nhưng thời gian gần đây, vẫn có những kẻ hoặc là thiển cận về chính trị, hoặc vì “đầu óc nô lệ” đã không thể, không muốn thừa nhận thắng lợi vĩ đại đó của dân tộc ta. Thế nên, họ cố tình lập luận một cách phi lý rằng: Những cuộc xuống đường của nhân dân Mỹ và sự nhân nhượng của Chính phủ Mỹ đâu phải là “thắng lợi của Việt Nam”(!), hay như: Thất bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (sau khi Mỹ rút dần quân đội ở chiến trường) đâu phải là trách nhiệm của quân đội Hoa Kỳ(!).

Trên thực tế, những kẻ xuyên tạc cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta không biết một điều căn bản rằng, cách nhìn nhận một cuộc chiến tranh trước hết phải bắt đầu xem xét tính chất của cuộc chiến tranh đó, tức bên nào là chính nghĩa, bên nào là phi nghĩa. Trong cuộc chiến tranh này không chỉ là cuộc chiến tranh giữa hai quốc gia mà còn là cuộc đấu tranh giữa hai phía: Chính nghĩa và phi nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị, cuộc kháng chiến của dân tộc ta đã làm rõ ý nghĩa, giá trị của chính nghĩa trong việc huy động sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại như thế nào. Bởi vậy, không phải là không có lý khi nhiều nhà nghiên cứu chiến tranh Việt Nam đã thừa nhận rằng, lực lượng hiếu chiến, chống cộng Mỹ “đã thua Việt Nam ngay trên đất nước mình”. Còn ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Thủ tướng chính quyền Sài Gòn sau 30 năm chiến tranh kết thúc, năm 2004, lần đầu tiên trở về quê hương đã nhìn nhận về chính quyền cũ như sau: “Quân đội miền Nam không có ai đáng giá cả, kể từ ông Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống kiêm Tổng tư lệnh trở xuống. Trong số những vị cùng vai với tôi, cứ mười ông thì đến mười một ông tham sống sợ chết!”. [5]

Tôn trọng tính chân thực của lịch sử ngày nay không chỉ vì bảo vệ các giá trị của dân tộc mà còn để bảo đảm sự công bằng đối với các thế hệ đi trước. Đồng thời còn giúp cho các thế hệ sau nắm bắt được những bài học quý báu của thế hệ cha anh. Tôn trọng lịch sử không chỉ là vấn đề chính trị mà còn là vấn đề đạo đức. Vì vậy chúng ta không cho phép bất cứ ai xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược vì đó là sự xúc phạm đến danh dự, phẩm giá chính nghĩa của cả một dân tộc anh hùng, xúc phạm đến anh linh của hàng triệu đồng bào, chiến sĩ đã hy sinh anh dũng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

——

[1]- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.37, tr. 471.
[2] – Thế giới ca ngợi thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta. NXB ST, HN, 1977, Tr 31.
[3] – Thế giới ca ngợi…SĐD, Tr 72.
[4] – “Robert McNamara: 11 sai lầm của Mỹ trong chiến tranh Việt” … Dân trí, 22-04- 2005.
[5] – “Nguyễn Cao Kỳ và những phát ngôn ấn tượng”. Theo www.baodatviet.vn, 24-07-2011.

BẮC HÀ – LỆ CHI
qdnd.vn

Những người tác động tới nội các Dương Văn Minh

QĐND – Tôi có dịp gặp Thiếu tướng Nguyễn Văn Khiêm (tức Sáu Trí), người chỉ huy Khối điệp báo-Tình báo quân sự Quân giải phóng miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và được nghe ông kể lại những năm tháng hoạt động nội tuyến trong Tổng Nha Cảnh sát của chính quyền Sài Gòn, nhất là thời điểm ông và đồng đội từng tham gia tác động để nội các Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng ngày 30-4-1975…

Trưa 28-4-1975, sau bữa cơm trưa, tôi đang ngồi đọc báo trên gác nhà H3 (bí danh của Ba Lễ, một cán bộ điệp báo của ta) tại khu Nguyễn Tri Phương, Chợ Lớn thì một người con của H3 lên báo tin: Có hai người không phải bạn của H3 nhưng lại nói muốn gặp Sáu Trí. Đây là một tình huống bất ngờ, song tôi nghĩ mình cần phải tìm hiểu cụ thể hơn nên đã nhờ H3 xuống phòng khách xem hai người ấy là ai, tại sao lại biết tôi ở đây, gặp tôi để làm gì? Một lát sau, H3 lên cho biết: Đó là anh Tô Văn Cang, một nhân sĩ trí thức yêu nước, công tác trong lưới tình báo của anh Đinh Sơn Đường (tức Hai Thắng) Cụm A24 từ đầu năm 1973. Cùng đi với anh là kỹ sư Lê Văn Giàu, một cơ sở trí vận của ta. Tô Văn Cang đến đây là do nội các Dương Văn Minh muốn nhờ anh đi tìm đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng nhằm thương lượng một vấn đề quan trọng.

Thiếu tướng tình báo Nguyễn Văn Khiêm (tức Sáu Trí, bên phải) trong một lần gặp mặt đồng đội. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Sở dĩ Tô Văn Cang biết tôi có mặt tại Sài Gòn là do Hai Thắng tiết lộ. Thấy việc đó không ảnh hưởng nhiều tới công việc của lưới tình báo nên tôi đã xuống gặp. Khi thấy tôi, Tô Văn Cang đứng dậy chào, tự giới thiệu là cán bộ của Cụm A24 và là cha ruột của một chiến sĩ tình báo công tác tại A24. Anh xin lỗi vì đã vi phạm nguyên tắc bí mật, đường đột đến tìm tôi và cho biết: “Tôi là bạn thân của Nguyễn Văn Diệp (Tổng trưởng Tiếp thương trong nội các Dương Văn Minh, trước đó Diệp là Giám đốc Việt Nam ngân hàng). Vì Dương Văn Minh muốn bố trí gặp người đại diện cấp cao của Mặt trận Dân tộc Giải phóng nên Diệp đã nhờ tôi đi tìm”. Tô Văn Cang cũng giải thích vì nội các Dương Văn Minh chia làm hai phe, một phe chịu thương lượng với Mặt trận Dân tộc Giải phóng để kết thúc chiến tranh với bất cứ giá nào, phe thứ hai với người đại diện là Nguyễn Bảo Kiếm quyết tử thủ Sài Gòn, cố gắng kéo dài chiến tranh thêm một thời gian hòng kiếm giải pháp có lợi cho chính quyền Sài Gòn. Phe chủ hòa do Diệp cầm đầu có nhiều ảnh hưởng đến Dương Văn Minh nên muốn tìm gặp đại diện của ta để xử trí trong bối cảnh căng thẳng. Tôi trả lời Tô Văn Cang là chỉ vào Sài Gòn có việc riêng nên không có tư cách đại diện của cách mạng để gặp gỡ bất cứ ai, còn chính quyền Dương Văn Minh muốn gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời thì cứ đến cơ quan bốn bên tại Tân Sơn Nhất, ở đó luôn có người thường trực. Tô Văn Cang truyền đạt câu hỏi thứ hai của Nguyễn Văn Diệp: Trong hoàn cảnh hiện nay, nội các Dương Văn Minh nên xử trí ra sao? Tôi trả lời rằng, Dương Văn Minh là một nhà quân sự nên ông ta có thừa khả năng để đánh giá tình thế khi Sài Gòn đang bị các quân đoàn của Quân Giải phóng bao vây. Quân đội Sài Gòn sẽ không còn đủ lực lượng để chống đỡ, Mỹ không thể đưa quân trở lại và cũng không còn thì giờ tiếp cứu. Chính quyền Sài Gòn đừng ảo tưởng vì sự cứu viện của Mỹ cũng như của bất cứ cường quốc nào. Sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn được tính từng ngày, nếu để kéo dài tình trạng ấy sẽ gây tác hại lớn, đồng bào thương vong nhiều, thành phố Sài Gòn sẽ đổ nát. Nếu chọn giải pháp tử thủ Sài Gòn thì nội các Dương Văn Minh sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước nhân dân. Vì thế, việc đầu hàng ngay và đầu hàng vô điều kiện là thái độ có trách nhiệm trước sinh mạng của nhân dân…

Sau đó, Tô Văn Cang đã thông qua Nguyễn Văn Diệp và Nguyễn Đình Đầu (một trí thức có nhiều ảnh hưởng đối với Dương Văn Minh) nhằm tác động đến viên tổng thống cuối cùng của chính quyền Sài Gòn. Thảo luận với Nguyễn Văn Diệp xong thì 16 giờ ngày 29-4, Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền lên đài phát thanh tuyên bố “sẵn sàng thương thuyết hòa bình với Mặt trận Giải phóng”.

Khoảng hơn 8 giờ ngày 30-4, Nguyễn Đình Đầu điện thoại cho anh Cang báo tin là Dương Văn Minh đã chịu chấp thuận đầu hàng vô điều kiện. Nguyễn Văn Diệp cũng gọi điện thoại mời Tô Văn Cang vào Dinh Độc Lập để tổ chức đón tiếp Chính phủ Cách mạng lâm thời và dặn nên đi theo lối đường Nguyễn Du, tại đó Nguyễn Văn Diệp sẽ ra đón. Tô Văn Cang liền đi cùng xe do kỹ sư Lê Văn Giàu lái hướng về phía Dinh Độc Lập, nhưng đến cầu Bông thì xe bị cảnh sát Sài Gòn chặn lại, không cho vào nội thành. Xe phải chạy ra lối ngã tư Hàng Xanh, đến ngã tư xa lộ thì gặp đoàn xe thiết giáp của Quân Giải phóng từ hướng cầu Sài Gòn chạy đến và đang lúng túng chưa biết đi đường nào. Tô Văn Cang liền tiến đến chiếc đi đầu và ra hiệu cho đoàn xe thiết giáp chạy theo xe của mình…

Khoảng 9 giờ 30 phút sáng 30-4, tại nhà H3, tôi nghe trên Đài Phát thanh Sài Gòn lời phát biểu của Dương Văn Minh kêu gọi quân đội Sài Gòn buông súng, chấp nhận những điều kiện của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Vài giờ sau, Tô Văn Cang và người bạn của anh là kỹ sư Lê Văn Giàu lại mời tôi và H3 vào Dinh Độc Lập để chứng kiến sự đầu hàng của nội các Dương Văn Minh, tránh mọi hành động đáng tiếc xảy ra khi Quân Giải phóng vào tiếp quản Dinh Độc Lập. Tôi và H3 cùng theo xe của Tô Văn Cang vào Dinh Độc Lập, đến phòng của Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền thì có một bộ phận Quân Giải phóng đã có mặt trong dinh. Bộ đội ta đòi bắt toàn bộ các nhân vật này làm tù binh. Sợ anh em vi phạm chính sách của Mặt trận Giải phóng, tôi liền gặp và giải thích: Nội các Dương Văn Minh đã chấp thuận theo những điều kiện của ta nên vừa có thông báo đầu hàng trên Đài phát thanh. Lúc đầu, anh em không tin vì thấy tôi mặc thường phục. Tôi tự giới thiệu là Đại tá Sáu Trí, Sĩ quan Bộ Tham mưu B2 vào Sài Gòn làm công tác đặc biệt trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. May sao, đúng lúc đó xuất hiện một sĩ quan thuộc đơn vị thiết giáp, anh chính là người bạn học cùng khóa quân sự cấp cao với tôi ở Hà Nội. Anh tới bắt tay tôi và thân mật nói: “Đi đâu cũng gặp thằng tình báo này!”.

Sau đó, tôi gặp Thiếu tướng Nguyễn Hữu An-Tư lệnh Quân đoàn 2 -và cùng anh bàn việc tiếp quản Dinh Độc Lập. Chúng tôi nhất trí nên có lời công bố chính thức của Quân Giải phóng trên đài phát thanh. Thiếu tướng Nguyễn Hữu An phân công tôi soạn thảo gấp. Tôi cùng với Tô Văn Cang, Ba Lễ bàn nhau và thống nhất giao cho Tô Văn Cang chấp bút bản thông báo với tựa đề “Thông báo số 1”. Viết xong, tôi đến gặp Thiếu tướng Nguyễn Hữu An để thông qua. Ông tế nhị từ chối không đề tên đơn vị mình và đề xuất chỉ nên đề là “Bộ tư lệnh Quân Giải phóng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định”. Anh Cang được phân công cùng với anh Giàu lên xe com-măng-ca chạy ra Đài phát thanh. Phải khó nhọc lắm xe của anh mới vào được trong. Anh Cang lên lầu, đọc chậm và rõ bản “Thông báo số 1”. Anh Giàu đọc lại lần hai. Sau đó dặn cứ 5 phút thì lặp lại một lần.

Bản “Thông báo số 1” của Bộ tư lệnh Quân giải phóng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định là bản tin chính thức được ta phát trên Đài phát thanh, vài giờ sau lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh.

Trong lúc tôi và Thiếu tướng Nguyễn Hữu An đang bàn công tác bảo đảm an ninh thì anh em cho biết những thành viên nội các Dương Văn Minh đang tỏ ra hoảng loạn. Anh An bảo tôi nên đi gặp gỡ họ vì tôi là người miền Nam, lại làm tình báo nên biết tâm lý, tình cảm của họ. Tôi mời họ ra hành lang để nói chuyện. Tướng Minh đứng trước, các thành viên đứng kế tiếp. Tôi động viên họ về sự chiến thắng vĩ đại của quân, dân ta và về việc đầu hàng không điều kiện của nội các Dương Văn Minh đã giúp cho thành phố Sài Gòn vẫn giữ được nguyên vẹn. Tôi còn hứa sẽ bảo đảm việc an toàn tính mạng cho họ. Lúc ấy, Dương Văn Minh xin phép tạt qua phòng riêng để thăm người vợ đang lo lắng cho số phận của chồng, anh Cang cũng rảo bước theo sau…

PHẠM XUÂN TRƯỜNG
qdnd.vn

This entry was posted on Tháng Năm 1, 2013, in 30.04.1975.

Tổng thống Giê-rôn Pho và tháng 4-1975 “nước sôi lửa bỏng”

QĐND – Đầu tháng 4-1975, nước Mỹ và nhiều nơi trên thế giới ngập vào một thời khắc nguy hiểm. Vua Ả-rập Xê-út, Phai-xan (Faisal) (bạn của nước Mỹ) bị ám sát, các sứ mạng “con thoi” ở Trung Cận Đông của Kít-xinh-giơ (Kissinger) nhằm hòa giải I-xra-en và Ai Cập đã đổ bể thảm hại, chính quyền thân Mỹ ở Phnôm Pênh đang hấp hối trong vòng vây của Khơ-me Đỏ, quân đội của Thiệu ở Nam Việt Nam “đột nhiên” tan chảy dưới sức nóng của đòn tiến công của đối phương…

“Nước sôi lửa bỏng”

Tới giữa tháng 4, lộ rõ là Mỹ đang mất Việt Nam Cộng hòa. Cố đô Huế lại về tay “Việt cộng”. Nước Mỹ kinh hoàng bởi sự kiện các lính thủy đánh bộ (LTĐB) Sài Gòn, “do Mỹ huấn luyện”, “đã cướp bóc, giết, hãm hiếp những người dân tản cư, trong một đám đông hỗn độn chen nhau leo lên tàu Mỹ để chạy thoát thân khỏi Đà Nẵng” (Tạp chí Time, số ra ngày 7-4-1975). Tờ Thời báo Niu Y-oóc (The New York Times) ngày 30-3-1975 tường thuật: Khoảng 300 quan lính Sài Gòn dùng súng “cướp” một chiếc Bô-ing chở thường dân di tản về Sài Gòn…

Tại Lầu Năm Góc, các tướng Mỹ đang so sánh cuộc tháo chạy tán loạn ở Nam Việt Nam với những thảm bại quân sự khác: Na-pô-lê-ông rút khỏi Mát-xcơ-va băng giá năm 1812, cuộc thất thủ nước Pháp năm 1940, sụp đổ của Tưởng Giới Thạch ở Hoa lục năm 1949. Quan trọng là dòng thác quân đội Sài Gòn bỏ chạy với nhiều đơn vị chưa hề chạm súng với đối phương, theo các nhà quan sát, là không có cách gì chặn lại.

Cùng kỳ, báo đăng ảnh Giê-rôn Pho (Gerald Ford), vị Tổng thống Mỹ mới nhậm chức nhưng không được dân bầu, đang dùng gậy cố đẩy trái gôn vào lỗ (?) trên sân Pam Sprinh (Palm Spring), Cali!

“Cú sốc Nam Việt Nam” đối với nước Mỹ đang bị chính quyền làm cho tồi tệ hơn, Time viết. Nhà Trắng đã phản ứng một cách kỳ cục xen giữa sự đổ lỗi và rụt rè.

Kẻ dẫn dắt lạc đường

Cáo buộc của công luận Mỹ quyết liệt nhằm vào Ngoại trưởng, rằng Kít-xinh-giơ từng cố tình dẫn dắt lạc đường trong thời kỳ “Hiệp định Pa-ri”, để đánh bóng cho học thuyết “khoảng cách vừa phải” của ông ta, thực chất là “câu giờ” để có thể rút được quân Mỹ về, để lại một Sài Gòn đủ “mạnh”, đứng được vài năm, để rồi khi sự sụp đổ hoàn toàn, thì cũng không bị nhìn nhận như một thảm bại của Oa-sinh-tơn.

Theo báo chí, các quan chức gần gũi với Kít-xinh-giơ bênh ông này. Họ cho rằng một khi uy tín của Bộ Ngoại giao Mỹ đang bị đặt cược, Pho cần biện hộ cho chính sách của Ních-xơn – Kít-xinh-giơ về Việt Nam, nhờ vào đó mà một ngoại trưởng Mỹ từng giành Giải thưởng Nobel hòa bình. Họ muốn lời buộc tội sẽ được gán cho Quốc hội Mỹ, rằng việc không thực hiện được hiệp định là do Quốc hội đã cắt giảm viện trợ cho Sài Gòn. Các quan chức khác cho rằng mọi sự không đơn giản như thế.

Tổng thống Pho ù té khỏi các nhà báo phỏng vấn về Việt Nam. Tạp chí Time số ra ngày 14-4-1975.

Pho bực bội với quan điểm khá phổ biến, rằng Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ mới là người cầm trịch chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Mặt khác, cũng có ý kiến đánh giá Pho đã đủ tỉnh táo để điều chỉnh những khẳng định của Kít-xinh-giơ, kiểu như uy tín trên trường quốc tế của nước Mỹ đang bị thử thách một cách sinh tử tại Việt Nam. Các nhận định tỉnh táo hơn chỉ ra, chưa từng “thử lửa” ở nước ngoài, Pho dĩ nhiên phải dựa vào “phù thủy” Kít-xinh-giơ để tạo đà và lấy hướng. Thay ngoại trưởng “giữa dòng” hẳn là không thể, dù theo báo chí, giữa tháng 4, Pho vẫn còn chịu ảnh hưởng của lời khuyên là tìm kẻ chịu báng cho thảm họa ở Việt Nam.

Con dê tế thần?

Báo chí phản ánh Pho đã trốn tránh chất vấn về tình hình “nước sôi lửa bỏng” này. Trong một khung cảnh kỳ cục đầu tháng 4, Pho đã chọn cách “cười trừ” và ù té chạy khỏi các thợ săn làng báo cố vây ông để phỏng vấn về Việt Nam… Ông để lộ sự thiếu quyết đoán trong các tình thế phải đối đáp, không được các mưu sĩ chuẩn bị trước.

Ký giả nổi tiếng chuyên về các tổng thống Mỹ thời “Chiến tranh lạnh” Hiu Xi-đây (Hugh Sidey) ngậm ngùi: Trong suốt 40 năm trở lại đây (1975) chưa bao giờ chính phủ Mỹ lại “sa lầy trong những khốn khó và tự xem thường chính mình đến thế này”.

Nhưng các phe đối lập, theo Time, đã khá đồng thuận nhau ở hậu đài để tạo dựng một hình ảnh khả dĩ cho Tổng thống Hợp chủng quốc trong mắt dân chúng. Trong phát biểu tại Xan Đi-ê-gô (San Diego) ngày 3-4-1975, Pho nhận định tình hình ở Nam Việt Nam là “bi đát”, kêu gọi xây dựng “nhận thức mới về đoàn kết dân tộc tại những thời khắc buồn và hỗn loạn này”. Pho khuyên, “chớ lao vào những cáo buộc lẫn nhau, hoặc cố áp đặt những lời buộc tội”.

Trong cuộc họp báo trên truyền hình cùng kỳ, quả thực Pho đã cố tránh những lời buộc tội, trừ chủ đề như thi hành Hiệp định Pa-ri ở Việt Nam, hoặc trách cứ Thiệu về quyết định “đơn phương” mà không bàn bạc với Hoa Kỳ. Nhưng dù khẳng định ông không “chĩa ngón tay phê phán vào ai”, ông (vốn là thủ lĩnh phe thiểu số trong Hạ viện tới cuối 1973) vẫn cố cáo buộc Quốc hội kiểm soát bởi Đảng Dân chủ là lực lượng chính đứng đằng sau sự sụp đổ của Nam Việt Nam. Pho cho hay đã “nản chí vì hoạt động của Quốc hội”, cụ thể trong vấn đề thông qua khoản viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam. Bị hỏi thẳng là Tổng thống có nghĩ rằng, 56.000 người Mỹ thiệt mạng ở Nam Việt Nam là uổng, Pho đã diễn đạt vòng vèo, vừa phủ định cho rằng Hiệp định Pa-ri đã giúp Hoa Kỳ rút ra khỏi chiến sự, và đưa được các tù binh Mỹ về nhưng lại ngầm khẳng định (là sự uổng phí của những lính Mỹ chết trận đang xảy ra), do viện trợ quân sự đột xuất cho Thiệu không thành hiện thực. Ông ngụ ý đang có một cơ hội để cứu con tàu đang đắm ở Sài Gòn, miễn là trao cho Thiệu một cơ hội (ý nói số tiền viện trợ) để được “chiến đấu vì tự do”!

Nhưng Time, số ra ngày 14-4-1975 lại nghĩ khác: “Pho đang có một cơ hội lớn để giúp nước Mỹ giao hảo với Việt Nam”, bằng cách đưa nước Mỹ rút “chân” nhanh ra khỏi Việt Nam chính vào lúc này.

Vì nếu Pho có “đòi” được Quốc hội dành cho Thiệu khoản viện trợ khẩn cấp 722 triệu USD đi nữa, thì quân đội VNCH, đang “cuống cuồng” (in fenzy) bỏ chạy khỏi miền Trung, quẳng lại sau số phương tiện chiến tranh cũng có giá tới 700 triệu USD. Riêng máy bay, đã có tới hàng trăm chiếc còn nguyên vẹn bị bỏ lại tại các sân bay vùng chiến thuật I. Người ta đều biết quân Sài Gòn đang được trang bị các phương tiện chiến tranh hiện đại nhất thế giới …

Một quan chức Lầu Năm Góc chia sẻ với Time: “Hay là chúng ta gửi thẳng số viện trợ này sang Hà Nội? Ít nhất chúng sẽ không bị phá hủy bởi chiến sự”.

Đến giữa tháng 4, vẫn theo Time, tổng thống thấy rõ việc đổ lỗi cho Quốc hội Mỹ không có lợi gì về chính trị. Xét về lý trí, các nhà lập pháp đang làm đúng chức phận của họ, thay mặt cho lợi ích của người dân Mỹ để quyết định ngân sách. Nhất là sau khi Tướng Uây-en (Weyand), vừa đi Việt Nam về, không thể đưa ra bảo đảm gì là viện trợ quân sự sẽ cứu được chế độ Thiệu.

Thúc đẩy chấm dứt bi kịch

Trong chính giới Mỹ, có những ý kiến, nên chăng, nhờ Mát-xcơ-va và Bắc Kinh gây áp lực lên Hà Nội, để có được một hiệp định ngừng bắn. Nhưng các quan chức cao cấp nhất coi điều này là không thực tế, “nhờ vả họ liệu có xứng khoản nợ mà chúng ta phải gánh?… Nếu cần đàm phán với Hà Nội để đầu hàng, chúng ta chẳng cần họ (Liên Xô và Trung Quốc)”…

Cuối tháng 4, các lãnh tụ Thượng viện tới viếng thăm bất thường Nhà Trắng, phát biểu rõ với tổng thống, rằng Quốc hội sẽ sẵn sàng thông qua một khoản viện trợ nhân đạo nào đó, và làm những gì cần thiết để đưa Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh. Nhưng các Thượng nghị sĩ cũng cho hay: Không có hy vọng nào là Quốc hội Mỹ sẽ thông qua viện trợ quân sự bổ sung cho Thiệu mà Tổng thống Mỹ đang đề xuất.

Thực vậy, trong đề xuất của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện cuối tháng 4, chỉ có khoản 200 triệu USD viện trợ nhân đạo dành cho Đông Dương, và để di tản người Mỹ khỏi Nam Việt Nam. Sau những bàng hoàng kiểu viện trợ thế này thì “tệ hơn là không có” của trợ lý, Tổng thống Pho đã nghĩ lại và đầu hàng Thượng viện. Ông ra lệnh triển khai chiến dịch di tản người Mỹ khỏi Nam Việt Nam trước khi tháng 4 kết thúc.

Nhưng chính quyền Mỹ, theo báo giới, vẫn cố vớt vát: Một khi viện trợ quân sự chưa được đưa ra cho Quốc hội biểu quyết, thì “vẫn nuôi sống được ở Sài Gòn một tâm trạng chờ đợi (Mỹ sẽ can thiệp)”. Một cố vấn của Tổng thống khuyên: “Nên tránh làm cho người VNCH lo sợ”. Time kết luận: “Đau đớn là sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam chắc sắp kết thúc trong một màn diễn lừa dối, quả là trơ tráo, nhưng chắc là cần thiết”.

Nhưng mọi sự đã không bi kịch như thế. Vì, theo Pho, cuộc điện đàm của ông với Ních-xơn hôm 10-4-1975 cho thấy: Không có một “hiệp định bí mật” nào ký trước đó với Sài Gòn buộc Hoa Kỳ phải quay lại giải cứu chế độ Thiệu.

Nếu khẳng định này có tác động đến việc Thiệu từ chức, đẩy nhanh sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn, thì có thể xem là một trong những đóng góp của Pho, đáp ứng nguyện vọng của nhiều chính khách và dân thường trên báo chí tháng 4-1975, là nước Mỹ nên hành động để cuộc chiến tranh ở Việt Nam kết thúc càng sớm càng tốt.

LÊ THÀNH (tổng hợp)
qdnd.vn

Nét độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975

QĐND – Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Từ thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc, chúng ta có thể rút ra một số vấn đề cơ bản sau:

Nghệ thuật tổ chức lực lượng toàn dân đánh giặc

Nghệ thuật quân sự của ta là nghệ thuật tổ chức toàn dân đánh giặc. Nó khác hẳn với nghệ thuật quân sự của kẻ xâm lược-nghệ thuật tổ chức lực lượng quân sự nhà nghề với những cỗ máy chiến tranh khổng lồ, chuyên nghiệp.

Đối tượng của nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng của ta là toàn dân. Ta tổ chức lực lượng theo cấu trúc toàn dân đánh giặc; bao gồm lực lượng vũ trang ba thứ quân gắn liền với lực lượng kháng chiến của từng huyện, tỉnh, thành phố; kết hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực. Đó là nghệ thuật tổ chức có tính khoa học, tính thống nhất và chặt chẽ, làm cho toàn dân ta triệu người như một, tạo sức mạnh tổng hợp lớn nhất để đánh địch, thắng địch.

Đi đôi với nghệ thuật tổ chức lực lượng, ta xác định hai hình thức đấu tranh chủ yếu: Đấu tranh quân sự kết hợp đấu tranh chính trị; hai phương thức tác chiến cơ bản: Tác chiến tập trung và tác chiến du kích. Với nghệ thuật tổ chức và vận dụng các hình thức, phương thức tác chiến như thế, ta đã xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân “thiên la địa võng”, rộng khắp, vững chắc, nhưng mạnh ở trọng điểm. Điều đó lý giải vì sao ta có thể “Mở mặt trận ở bất cứ nơi nào có bóng địch, đánh ngay ở cả sau lưng địch, trong trung tâm phòng ngự của địch” và “Kéo địch ra khỏi hang ổ mà đánh, căng địch ra mà đánh, luồn sâu vào hậu phương địch mà đánh…”. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, ta luôn đánh địch ở thế chủ động, càng đánh càng mạnh. Ngược lại, địch luôn ở thế bị động, càng đánh càng bộc lộ sơ hở, càng đánh càng bị dồn vào nguy cơ thất bại. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhờ nghệ thuật tổ chức toàn dân đánh giặc mà ta vừa có điều kiện tập trung đánh lớn ở các thành phố lớn, tiêu diệt và bắt sống hàng nghìn tên địch; đồng thời, vừa có điều kiện đánh địch rộng khắp, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm nghìn tên địch ở các chiến trường khác.

Xe tăng Quân Giải phóng chiếm Dinh Độc Lập vào 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975. Ảnh tư liệu.

Nét độc đáo của nghệ thuật tác chiến chiến lược

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, ta tiến hành 3 chiến dịch lớn với 3 đòn chiến lược: Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch chiến lược Huế-Đà Nẵng và chiến dịch quyết chiến chiến lược Hồ Chí Minh. Ba đòn chiến lược đó thể hiện được phương thức nghệ thuật tác chiến chiến lược hay của ta. Xuất hiện từ đường lối chiến tranh nhân dân toàn diện, với hai lực lượng, ba thứ quân, tác chiến cài xen kẽ với địch không phân tuyến của ta, làm cho địch bị phân tán, chia cắt, bị động; còn ta thì chủ động tập trung, cơ động linh hoạt.

Trên cơ sở của đường lối chiến tranh đó, nghệ thuật tác chiến chiến lược của ta là nghệ thuật của chiến tranh nhân dân, là kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, giữa quân sự với chính trị; tiến hành tác chiến trên toàn bộ chiến trường; đánh địch trên toàn bộ chiến tuyến, đánh cả ở phía trước mặt địch và đằng sau lưng địch, trên cả 3 vùng chiến lược.

Tiến công chiến lược là phải phá vỡ chiến lược, tiêu diệt lực lượng tiến công chiến lược của địch, giải phóng những vùng đất đai quan trọng, đánh bại biện pháp chiến lược của địch, làm suy sụp ý chí chiến đấu của chúng, làm lung lay quyết tâm chiến lược của địch. Tổng tiến công chiến lược là phá vỡ nhiều mảng chiến lược của địch, đi đến phá vỡ toàn bộ chiến lược của địch, tiêu diệt các lực lượng chiến lược chủ yếu của chúng, giải phóng phần lớn lãnh thổ, đánh chiếm thủ phủ, sào huyệt cuối cùng của địch, đánh bại mọi biện pháp thủ đoạn chiến lược của địch, làm mất ý chí đề kháng của địch, đi đến kết thúc chiến tranh.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, ta đã bố trí được 2 tập đoàn chiến lược ở 2 đầu chiến tuyến, và 1 tập đoàn chiến dịch ở giữa chiến tuyến. Tập đoàn chiến lược thứ nhất gồm Quân đoàn 2 cùng các sư đoàn, trung đoàn và LLVT địa phương của 2 quân khu Trị-Thiên và quân khu vùng Huế-Đà Nẵng. Tập đoàn chiến lược thứ 3 vũ trang địa phương của Quân khu 7 đứng chân ở chung quanh Sài Gòn. Tập đoàn chiến dịch thứ 3, gồm 2 sư đoàn, các trung đoàn của Mặt trận Tây Nguyên cùng Sư đoàn 3 Sao Vàng của Quân khu 5 và lực lượng vũ trang địa phương của các tỉnh Tây Nguyên và Bình Định, Phú Yên, Nha Trang đứng chân ở địa bàn Tây Nguyên.

Tuy vậy, ta cũng chưa có đủ khả năng sử dụng phương pháp tiến công chiến lược đồng thời trên toàn bộ chiến tuyến của địch, mà mới nhằm vào điểm yếu sơ hở, bất ngờ, tiến công phá vỡ chiến lược ở Tây Nguyên, còn các chiến trường khác chỉ đánh nhỏ để phối hợp, bảo đảm cho Chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi.

Tạo lập thế trận tác chiến để giành thắng lợi quyết định

Trong giai đoạn tổng tiến công chiến lược, ta tổ chức từ 2 tập đoàn quân chiến lược trở lên là rất cần thiết để tạo lập và chuyển hóa thế trận tác chiến chiến lược đẩy mạnh nhịp độ tiến công với tốc độ cao và làm cho kẻ địch khó có bề chống cự rồi bị đánh bại nhanh chóng. Tạo lập thế trận tác chiến chiến lược phải theo quyết tâm đánh vào đâu trước, hướng tiến công chủ yếu và mục tiêu chủ yếu đánh vào đâu? Các hướng tiến công khác ở đâu để phối hợp? Và các bước tiếp theo đánh vào vị trí chiến lược nào để phát triển nghệ thuật quân sự trong tác chiến chiến dịch, rồi từ mưu kế mà chuyển hóa thế trận. Tạo lập thế trận linh hoạt, hợp lý có lợi để thực hiện thắng lợi mưu kế và quyết tâm.

Nét độc đáo trong tạo lập thế trận của ta là thế trận của chiến tranh nhân dân đã được xây dựng từ đầu cuộc chiến tranh. Ta tiến công địch bằng 2 lực lượng, 3 thứ quân, trên cả 3 vùng chiến lược và tác chiến cài xen kẽ với địch trên toàn bộ chiến tuyến. Do chiến tranh nhân dân phát triển cao, nên các binh đoàn chủ lực của ta đã đứng chân ở phía nam Vĩ tuyến 17, lập thế tiến công ở phía tây chiến tuyến của địch từ Vĩ tuyến 17 đến Sài Gòn, đến Đồng bằng sông Cửu Long. Các binh đoàn chủ lực của ta không tiến công địch từ phía bắc Vĩ tuyến 17. Không đánh vào chiều dọc chiến tuyến của địch có chiều sâu lớn mà từ các bàn đạp chiến tuyến của địch, chỉ cách Huế-Đà Nẵng có ba bốn chục ki-lô-mét ở phía tây. Thậm chí các binh đoàn chủ lực của ta cũng có mặt sát gần ngay Sài Gòn, chỉ cách phía tây Sài Gòn khoảng 50 đến 60km. Nếu các binh đoàn chủ lực của ta phát động cuộc tiến công từ phía bắc Vĩ tuyến 17, đánh theo dọc chiến tuyến có độ dày lớn của địch từ Quảng Trị đến Huế, Đà Nẵng, Nha Trang thì đến bao giờ ta mới đánh tới Sài Gòn – tuy là có mũi vu hồi chiến dịch và chiến lược.

Thế trận chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 là một thế trận triển khai từ Quảng Trị qua Tây Nguyên đến Sài Gòn và Đồng bằng Nam Bộ. Một thế trận không đánh từ phía Bắc, từ Quảng Trị qua Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Tây Nguyên, mà đánh thẳng vào trận tuyến của địch trên đường số 1 rồi cùng với Tập đoàn chiến lược phía nam đã đứng chân sẵn ở phía bắc Sài Gòn, tập trung một lực lượng lớn giáng một đòn sấm sét vào Sài Gòn, giải phóng nhanh gọn Sài Gòn.

Nghệ thuật tạo lập thế trận tác chiến chiến lược mùa Xuân 1975 là một nghệ thuật độc đáo, tài tình và cũng đầy sáng tạo của chiến tranh nhân dân Việt Nam, ít thấy trong chiến tranh. Do đó, chỉ trong 56 ngày đêm ta đã giải phóng được miền Nam một cách ít tổn thất, thương vong. Đây là nét độc đáo, sáng tạo nhất của nghệ thuật quân sự Việt Nam được phát triển cao trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ KHQS NGUYỄN HUY HIỆU -Nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
qdnd.vn

Đi lên từ đòi hỏi của chính thực tiễn cuộc sống, của chính nhân dân

Chiến thắng 30/4/1975 là một chiến thắng vẻ vang và to lớn nhất trong lịch sử dựng nước và xây dựng đất nước của Việt Nam suốt hàng nghìn năm lịch sử. Nhân kỷ niệm 38 năm Ngày giải phóng hoàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Nguyên Ủy viên TƯ Đảng, nguyên Ủy viên UBTVQH, nguyên Chủ nhiệm VPQH, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Vũ Mão chia sẻ những cảm nhận của mình về ngày chiến thắng cũng như những trăn trở về sự phát triển của đất nước trong tương lai. Với nguyên Chủ nhiệm Vũ Mão, chúng ta vui mừng nhưng chúng ta không thỏa mãn với cái gì đã có. Thực tiễn đòi hỏi, nhân dân đòi hỏi, chính lãnh đạo cũng phải tự thấy mình phải vươn lên đưa đất nước của chúng ta tiến lên.

– Sinh ra và trưởng thành trong chiến tranh, trải qua nhiều cương vị lãnh đạo cấp cao của Nhà nước, Ông có thể chia sẻ những cảm xúc của mình khi đón nhận tin chiến thắng ngày 30/4/1975 của dân tộc ?

Nguyên Chủ nhiệm Vũ Mão: Ngày 30/4 là ngày chiến thắng vẻ vang của dân tộc Việt Nam, khi đó tôi đang công tác ở tỉnh Quảng Ninh, đón nhận tin vui đó rất hào hứng và rất xúc động. Chiến thắng đó làm cho tôi nhớ lại và suy nghĩ về những gì dân tộc chúng ta đã hy sinh, đã phấn đấu vượt qua bao gian khổ, khó khăn, bao nhiêu bão tố để dành được thắng lợi. Để có được thắng lợi đó, tất cả người dân Việt Nam, từng nhà một đều có hy sinh, mất mát, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang đó. Đó là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và chúng ta đã huy động được sức mạnh tổng hợp của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta. Trước hết, người lãnh đạo sáng suốt nhất, người chỉ đường, dẫn lối cho dân tộc chúng ta là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Có thể nói, chiến thắng 30/4/1975 mang ý nghĩa lịch sử vĩ đại, là ánh hào quang rực rỡ của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX và là một chiến thắng vẻ vang và to lớn nhất trong lịch sử dựng nước và xây dựng đất nước của Việt Nam suốt hàng nghìn năm lịch sử.

– 38 năm đã trôi qua, nhưng ý nghĩa và bài học lịch sử của chiến thắng 30/4/1975 vẫn còn vẹn nguyên cho sự phát triển của đất nước hôm nay, thưa Ông?

Nguyên Chủ nhiệm Vũ Mão: Có thể nói, chiến thắng 30/4/1975 cho chúng ta rất nhiều những bài học kinh nghiệm: về xây dựng Đảng, về công tác giáo dục, tuyên truyền, về những sách lược, mưu lược trong các trận đánh cũng như đánh giá đúng địch và ta, ta và địch; đánh giá đúng, nhìn nhận đúng. Điều đó giúp chúng ta có những chủ trương rất cụ thể trong từng thời kỳ và trong từng trận đánh. Bài học về công tác đối ngoại và ngoại giao quốc tế, sức mạnh tổng hợp của dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại. Có thể nói, nhân dân thế giới rất ủng hộ; đến bây giờ ta vẫn phải nhớ lại những bài học kinh nghiệm đó trong nước và quốc tế để cùng tìm ra những giải pháp, công việc, chủ trương để chúng ta tiếp tục xây dựng và bảo vệ tổ quốc thân yêu.

– Trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay còn rất nhiều thời cơ và thách thức. Theo Ông, chúng ta cần phát huy truyền thống quý báu trong lịch sử như thế nào vào tình hình thực tiễn của Việt Nam?

Nguyên Chủ nhiệm Vũ Mão: Tôi thấy bài học đầu tiên là bài học đoàn kết, đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết trong Đảng và đoàn kết với bạn bè quốc tế; đoàn kết để giúp chúng ta chung sức, chung lòng để dành những chiến thắng. Thứ hai là bài học về sự sáng suốt của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo đã trải qua nhiều thử thách, những người có bản lĩnh chính trị vững vàng và sự nhạy cảm với thời cuộc rất lớn lao. Chính những điều đó đã dẫn dắt nhân dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Bài học ngày hôm qua rất bổ ích cho bài học ngày hôm nay, nó vẫn còn mang tính thời sự.

Chúng ta nhớ lại Đại hội VI là Đại hội đổi mới, sau khi chúng ta giành được chiến thắng 30/4/1975 cho đến năm 1985 đầu 1986, trong thời kỳ 10 năm, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn. Rõ ràng, Đảng ta nghiêm túc, chúng ta nhìn thẳng vào sự thật thấy rõ sự tồn tại, yếu kém và đưa ra đường lối đổi mới để làm cách mạng trong tư duy, cách mạng trong cuộc sống, đưa đất nước có bước tiến mới. Đây là một thành công, chiến thắng 30/4/1975 là bài học rất lớn, nhưng bài học của sự nghiệp đổi mới mở ra từ Đại hội VI là bài học thiết thực, cụ thể và gần gũi.

Tình hình hiện nay, không phủ nhận những thành tích chúng ta đã đạt được, bên cạnh thành tựu đạt được có nhiều vấn đề tồn tại. Cụ thể như nền kinh tế yếu kém; cuộc chiến với tệ nạn xã hội, tham nhũng vẫn còn nhiều cam go… Nghị quyết Trung ương 4 đã chỉ ra, phải kiểm điểm, nghiêm túc, xem xét; một nguy cơ to lớn cho đến nay rất nhiều vấn đề đặt ra cho nên chúng ta không thể chủ quan, không thể thỏa mãn, kiêu ngạo. Và hơn bao giờ hết, bài học đoàn kết là to lớn, muốn đoàn kết được thì từng người một phải thấy rõ mình.

Nhân kỷ niệm 38 năm giành chiến thắng 30/4, thống nhất được tổ quốc, chúng ta vui mừng nhưng chúng ta không thỏa mãn với cái gì đã có. Thực tiễn đòi hỏi, nhân dân đòi hỏi, chính lãnh đạo cũng phải tự thấy mình phải vươn lên đưa đất nước của chúng ta tiến lên. Đó là nguyện vọng của toàn dân, chúng tôi là những người đã đi qua những thời kỳ công tác, đóng góp, chúng tôi khao khát như vậy để con đường đi lên cách mạng của Bác Hồ sẽ mãi mãi vinh quang, mãi mãi tỏa sáng.

– Kỷ niệm 38 năm Ngày giải phóng hoàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc (30/4/1975 – 30/4/2013) cũng là dịp toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang tiến hành góp ý kiến vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Đó cũng đánh dấu một bước chuyển mới trong sự phát triển của đất nước, thưa Ông?

Nguyên Chủ nhiệm Vũ Mão: Hiện nay, chúng ta đang tiến hành nghiên cứu sửa đổi và bổ sung Hiến pháp. Hiến pháp năm 1992 là bản Hiến pháp đã có quá trình tổng kết và thực thi trong hơn 20 năm qua. Rõ ràng, cũng có một số tồn tại, chưa thích hợp với cuộc sống ngày hôm nay, chúng ta cần phải sửa. Tôi tin rằng, với những gì chúng ta đang tiến hành sẽ nhìn nhận một cách thực tiễn hơn với hoàn cảnh đất nước. Những người lãnh đạo của chúng ta hiện nay sẽ lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân, sẽ có bước tiến hành cụ thể. Và điều quan trọng phải thận trọng, chín chắn và phải có bản Hiến pháp mới có chất lượng và được nhân dân phúc quyết, trước khi Quốc hội thông qua lần cuối.

– Xin cám ơn Ông về những trao đổi tâm huyết này !

Diệp Anh (thực hiện)
daibieunhandan.vn