Thư viện

Hội Liên hiệp các Thuộc địa

 -Ngày 26/6/1921, tại Paris, Nguyễn Ái Quốc cùng một số đồng chí là người của các thuộc địa Pháp như Algerie, Tunisie, Madagascar… họp bàn việc thành lập Hội Liên hiệp Thuộc địa.

Tháng 7/1921, Hội Liên hiệp Thuộc địa được thành lập với lời kêu gọi: “Nếu câu phương ngôn “Đoàn kết làm ra sức mạnh” không phải là một câu nói suông. Nếu đồng bào muốn giúp đỡ lẫn nhau. Nếu đồng bào muốn bênh vực cho quyền lợi của bản thân mình, cũng như quyền lợi của tất cả đồng bào ở các xứ thuộc địa. Hãy gia nhập Hội Liên hiệp Thuộc địa”.

d Tờ báo Le Paria (Người cùng khổ)

Điều lệ của Hội xác nhận: “Mục đích của Hội là tập hợp và hướng dẫn cho mọi người dân các xứ thuộc địa hiện sống trên đất Pháp để soi sáng cho những người dân thuộc địa về tình hình mọi mặt ở nước Pháp nhằm mục đích đoàn kết họ; thảo luận và nghiên cứu tất cả những vấn đề chính trị và kinh tế thuộc địa…Trong phạm vi tài chính sẵn có, Hội có thể cung cấp cho tất cả hội viên những báo chí và tài liệu có liên quan đến sinh hoạt các thuộc địa, hoặc chuyên lo bênh vực cho các thuộc địa”.

Thành phần tham gia Ban chấp hành ban đầu có Nguyễn Ái Quốc, thợ sửa ảnh (đại diện cho Đông Dương) và đại diện các thuộc địa khác như Dahomey (nay là Bénain), Réunion, Guadeloup, Quần đảo Antilles, Martinique, Guyanne. Địa chỉ của Nguyễn Ái Quốc (9 ngõ Compoint, quận 17, Paris) được dùng là một trong những địa chỉ của Hội.

Hội đã ra tờ báo Le Paria (Nguời cùng khổ) làm cơ quan ngôn luận của Hội với lời kêu gọi: “Trong lịch sử phong trào quần chúng bản xứ ở các thuộc địa của Pháp, chưa bao giờ có một tờ báo được lập ra để nói lên nỗi đau khổ và tình trạng cùng khốn của họ, bất kể là họ thuộc đất nước và giống nòi nào…

Le Paria tố cáo những sự lạm quyền về chính trị, lối cai trị độc đoán, tình trạng bị bóc lột về kinh tế mà nhân dân các vùng lãnh thổ rộng lớn ở hải ngoại đang là nạn nhân. Báo kêu gọi họ đoàn kết lại, đấu tranh cho tiến bộ về vật chất và tinh thần của chính họ. Báo kêu gọi họ, tổ chức họ, nhằm mục đích giải phóng những người bị áp bức khỏi các lực lượng thống trị, thực hiện tình yêu thương và bác ái”.

Tờ Le Paria ra số đầu ngày 1/4/1922 với khẩu hiệu “Diễn đàn của các dân tộc thuộc địa”, đến 1/1924 đổi thành “Diễn dàn của vô sản thuộc địa”. Hội quy tụ được khoảng 200 hội viên.

Như thế, không chỉ trên phương diện lý luận mà ngay trong hoạt động thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành người khởi xướng và tiên phong trong sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa.

X&N
bee.net.vn

“Lời than vãn của Bà Trưng Trắc”

 – Ngày 24/6/1922, tờ “L’Humanité” (Nhân Đạo) của Đảng Cộng sản Pháp đăng bài “Lời than vãn của Bà Trưng Trắc” ký tên Nguyễn Ái Quốc.

Dưới hình thức một truyện ngắn, bằng việc hư cấu một giấc mơ của vua Khải Định (lúc này đang “xa giá” đến nước Pháp) và mượn lời của vị nữ anh hùng dân tộc chống ngoại xâm, tác giả lên án nặng nề chế độ phong kiến Nam triều và chính vua Khải Định đã để mất nước, ươn hèn cam tâm làm tay sai cho ngoại bang.

xNgày 24/6/1959 Bác đón Tổng thống Indonesia Sukarno tại sân bay Gia Lâm

Bài viết cũng đề cập tới môt số quan niệm về lịch sử dân tộc của tác giả:


“… theo tập tục ngàn năm của nước Nam ta xưa cũ thì Hoàng đế là chịu mệnh trời để trị dân, vì thế mà được coi là con của trời, cha mẹ của dân.

Vua muốn xứng với lòng trời và làm tròn nhiệm vụ chí tôn của mình thì phải chịu khổ trước dân và chia sướng sau dân. Vua phải tuân lệnh trời, mà tiếng dân chính là truyền lại ý trời. Bằng không thì ấy là rời đoạn tuyệt, tổ tiên từ bỏ, nhân dân ruồng rẫy.

Giở sử đất nước ra mà xem, sẽ thấy tổ tiên đã treo bao tấm gương đạo đức và dũng cảm, chí khí và tự tôn. Lý Bôn với một nhóm nghĩa sĩ, đã nổi dậy và bẻ gẫy ách đô hộ của Hán tộc. Ngô Quyền (năm 938) đã phá tan đạo quân nước ngoài kéo vào đánh chiếm đất đai Tổ quốc ta.

Dân ta sống trong hạnh phúc và thịnh vượng dưới triều nhà Đinh. Năm 980, Lê Đai Hành đã dũng cảm không chịu khuất phục trước yêu sách của láng giềng hùng mạnh hơn mình gấp bội, ông đã đánh thắng địch, giết chết tướng địch. Do đó đã giải thoát được đồng bào khỏi nạn nô dịch.

Quân Mông Cổ đi đến đâu phá sạch đến đấy, đã bị nhà Trần vẻ vang của chúng ta đánh bại (1225). Lê Lợi đã hùng dũng đứng ra lãnh đạo cuộc cách mạng nước Nam, đập tan chế độ tàn bạo và hạch sách mà những lẻ tự xưng là bảo hộ ta bắt ta chịu… Năm 1407, Tầu (phong kiến) đánh nhau với ta; nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao tự do hơn là nhờ quân đông sức mạnh, nước Nam đã thắng…

Trong rất nhiều bài viết vận động cách mạng của mình Bác đã khai thác những đề tài lịch sử làm gương khích lệ lòng hăng hái yêu nước của dân ta hòng tạo nên sức mạnh to lớn của truyền thống kết hợp với tinh thần cách mạng của thời đại mới.

X&N

bee.net.vn

Về công cuộc giải phóng thuộc địa

 – Ngày 23/6/1924, đại biểu Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại diễn đàn của phiên họp thứ 8 của Đại hội V Quốc tế Cộng sản.

Người nói: “Tôi đến đây để không ngừng lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật là: thuộc địa vẫn đang tồn tại và vạch ra để Quốc tế Cộng sản thấy rằng: cách mạng, ngoài vấn đề tương lai của các thuộc địa còn có cả nguy cơ của các thuộc địa.

Song tôi thấy rằng hình như các đồng chí hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có đựơc, gợi ra những vấn đề và nếu cần tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa”.

Với một tinh thần thẳng thắn, Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ sai lầm là: “Muốn đánh chết rắn đằng đuôi. Tất cả các đồng chí đều biết rằng, hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc chủ nghĩa tư bản đang tập trung ở thuộc địa hơn là chính quốc…

Tại sao các đồng chí lại xem thường các thuộc địa trong lúc chủ nghĩa tư bản lại dựa vào nó để tự bảo vệ và chống lại các đồng chí?… Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng, các đồng chí lại khinh thường thuộc địa?… Chính vì thế, tôi hết sức kêu gọi các đồng chí: Hãy chú ý !”.

Vấn đề thuộc địa còn được Nguyễn Ái Quốc kiên trì đề cập tới tại nhiều phiên họp khác và dần tìm được sự quan tâm của Đại hội.

f Nguyễn Ái Quốc cùng với các đồng chí thuộc địa của mình.

Tại phiên họp lần thứ 22 của Đại hội này (1/7/1924), Nguyễn Ái Quốc thẳng thắn phê phán: “… sẽ không phải là quá đáng nếu nói rằng chừng nào Đảng Pháp và Đảng Anh chúng ta chưa thi hành một chính sách thật tích cực trong vấn đề thuộc địa, thậm chí chưa đề cập đến quần chúng các nước thuộc địa thì toàn bộ chương trình rộng lớn của hai đảng đó vẫn không có hiệu quả gì!

Chương trình ấy sẽ không có hiệu quả gì vì nó trái với chủ nghĩa Lênin… Theo Lênin, cách mạng phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch và vấn đề dân tộc…”.

Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra những kiến nghị cụ thể trong đó có vấn đề tuyên truyền và huấn luyện…và kết luận: “Vì chúng ta coi mình là học trò của Lênin, cho nên chúng ta cần phải tập trung tất cả sức lực và nghị lực để thực hiện trên thực tế những lời di huấn quý báu của Lênin đối với chúng ta về vấn đề thuộc địa cũng như các vấn đề khác”.

Và trong bài viết “Cách mạng Nga và các dân tộc thuộc địa” đăng trên tờ “Đời sống Công nhân” (La Vie Ouvrière) cũng trong năm 1924, lý luận về chủ nghĩa thực dân và phong trào giải phóng thuộc địa của Nguyễn Ái Quốc càng trở nên sắc nét khi viết: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và môt cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra…” Những luận điểm ấy đã được thể hiện trong nhiều bài báo khác và được trình bày một cách tập trung trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” được viết vào năm 1925.

Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh trở thành người chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa bắt nguồn từ đó.

X&N
bee.net.vn

Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc

– Ngày 22/6/1946, mở đầu chuyến thăm chính thức nước Cộng hoà Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm bày tỏ sự thân thiện giữa 2 quốc gia và tìm giải pháp cho việc xác lập mối quan hệ giữa hai nước bằng một cuộc đàm phán sẽ diễn ra cùng thời gian này tại Fontainebleau.

Từ Biarritz, máy bay của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hạ cánh xuống sân bay Le Bourget của thủ đô Paris nơi diễn ra lễ đón tiếp trọng thể  với những nghi thức  quốc gia.

Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại cùng nhiều thành viên trong Chính phủ, đông đảo nhân dân Pháp và bà con Việt kiều đã nghênh tiếp. Đoàn lưu lại tại Khách sạn Royal Monceau gần Phủ Tổng thống.

Ngay tại sân bay, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước máy ghi âm của Hãng Thông tấn Pháp AFP: “Tôi rất lấy làm bằng lòng được đặt chân lên đất của một nước đã chịu đau khổ nhiều vì lý tưởng và tự do. Cảm ơn Chính phủ và dân chúng Pháp tiếp đãi tôi một cách long trọng. Mong sau này hai dân tộc Pháp và Việt Nam cộng tác một cách bình đẳng, thật thà và thân thiện”.

Cuộc viếng thăm nước Pháp kéo dài tới tận ngày 16/9/1946, Bác mới rời Paris sau khi ký được một bản “Tạm ước” (14/9) với Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại nhằm cứu vãn nguy cơ chiến tranh.

Từ Paris đi tàu hoả tới thành phố Marseille rồi đi cảng Toulon. Ngày 18/9, Bác xuống tàu “Dumont D’ Urville” cùng với một số trí thức tình nguyện về nước phục vụ, trong đó có bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa)… Tàu rời cảng, cho tới ngày 20/10/1946 mới về tới Cảng Hải Phòng và ngày hôm sau (21/10) trở về Hà Nội bằng tàu hoả.

d

Một năm sau, hai nước đã ở trong tình trạng chiến tranh, ngày 22/6/1947, tại chiến khu, trả lời phỏng vấn của một nhà báo nước ngoài. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một là Chính phủ Việt Nam gồm rất nhiều đảng phái, hai là chính sách Việt Nam rất rõ rệt: cốt làm cho nước Việt Nam thống nhất và độc lập, làm cho dân được tự do và khỏi khổ, khỏi dốt. Bao giờ nước Việt Nam được thật thà thống nhất và độc lập thì chiến tranh sẽ kết liễu”.

Đề cập tới tới một chương trình kiến thiết, người đứng đầu nhà nước kháng chiến cho biết: “Chương trình kiến thiết của Việt Nam bước đầu tiên là làm cho dân khỏi khổ, khỏi dốt. Muốn như thế thì chúng tôi phải ra sức tăng gia sản xuất, muốn tăng gia sản xuất rộng rãi và chóng có kết quả thì chúng tôi cần có tư bản, trí thức và lao đông. Dân Việt Nam rất siêng năng và chịu khó, cho nên chúng tôi đủ sức lao động. Việt Nam có rất nhiều phụ nguyên, chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước công tác thật thà với chúng tôi”.

Đề cập tới vai trò của trí thức, Bác khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế. Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức Việt Nam đã chứng thực một phần quan trọng… Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam là cùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc”.

X&N
bee.net.vn

“Phải kính trọng độc lập và tự do của mọi dân tộc”

 – Ngày 19/6/1947, nhân tròn nửa năm Toàn quốc Kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi, trong đó nhấn mạnh: “Đồng bào ta đại đoàn kết. Toàn dân ta chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ. Chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước. Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc.

Sự đồng tâm của đồng bào đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại… Địch muốn dùng cách đánh mau, thắng mau. Nếu chiến tranh kéo dài, hao binh tổn tướng, chúng sẽ thất bại…Thế địch như lửa. Thế ta như nước. Nước nhất định thắng lửa…

Về mặt tinh thần địch đã hoàn toàn thất bại, ta đã hoàn toàn thắng lợi… Chúng ta quyết hy sinh chịu khổ và gắng sức 5 năm, 10 năm để phá tan cái xiềng xích nô lệ 80 năm vừa qua, để tranh lấy quyền thống nhất và độc lập cho muôn đời sắp đến… Chúng ta đã đồng tâm nhất trí. Chúng ta nhất định sẽ thắng lợi”.

Trong lời kêu gọi nhân dân thế giới được viết sau đó (20/6/1947), Bác viết: “Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp đều chung một lý tưởng: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp có một mục đích chung: cộng tác thân thiện và bình đẳng giữa hai dân tộc.

dChủ tịch Hồ Chí Minh trên chiến khu Việt Bắc.

Chúng tôi rất mong các bạn cùng chúng tôi hành động để ngăn trở bọn thực dân phản động phá hoại cái lý tưởng chung, lợi ích chung và tình nghĩa của hai dân tộc ta”. Lời kêu gọi còn hướng đến các dân tộc châu Á và “các nhân sĩ dân chủ trên thế giới”: “Mong các bạn lên tiếng ủng hộ hoà bình, ủng hộ chính nghĩa, ủng hộ dân chủ, ủng hộ Việt Nam”.

Ngày 19/6/1948, nhân “kỷ niệm 1000 ngày kháng chiến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi một văn kiện đăng trên báo “Vệ Quốc” có nhan đề “Các tướng sĩ yêu mến tiến lên!” trước hết biểu dương danh sách “những bộ đội đã làm cho giặc Pháp thiệt hại nhiều, đã có thành tích vẻ vang” và “Tôi cũng phải nhắc đến những bộ đội du kích phụ lão và phụ nữ cùng các chú liên lạc đã tỏ ra rất oanh liệt, đã làm cho thế giới biết rằng: người già, đàn bà, trẻ con Việt Nam đều là những chiến sĩ yêu nước và dũng cảm tranh đấu hy sinh cho Tổ quốc… Song những tiến bộ và thành tích ấy mới là bước đầu. Trong cuộc thi đua ái quốc tới đây, các bạn phải tiếp tục tiến bộ mau hơn nữa, nhiều hơn nữa. Các bạn phải thi đua nhau đánh những trận to lớn hơn nữa, giết giặc nhiều hơn nữa, cướp nhiều súng hơn nữa…”.

X&N
bee.net.vn

Bản Yêu sách 8 điểm

 – Cách đây 90 năm, ngày 18/6/1919, văn kiện “Những yêu sách của nhân dân An Nam” ký tên Nguyễn Ái Quốc thay mặt Nhóm những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, đã được gửi tới Hoà hội Versailles, nơi các nước thắng trận họp để phân chia trật tự thế giới sau Đại chiến lần thứ nhất. Văn kiện này cũng được gửi tới Tổng thống Mỹ Wilson, một số đoàn đại biểu tham dự (trong đó có Nicaragoa) và được đăng tải trên nhiều tờ báo ở Pháp.

Nội dung yêu sách gồm 8 điểm: “1.Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị; 2.Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng đuợc quyền đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu, xoá bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam; 3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận; 4. Tự do lập hội và hội họp; 5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương; 6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ; 7. Thay chế độ các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật; 8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ”.

Văn kiện này cũng được đăng tải trên nhiều tờ báo lớn ở Pháp vào thời điểm này.

sNăm 1920 Nguyễn Ái Quốc hoạt động tại Pháp.

Cùng ngày, một bức thư cũng ký tên Nguyễn Ái Quốc đã gửi tới Tổng thống Mỹ  viết:  “Chúng tôi mạn phép gửi đến Ngài, kèm theo đây là bản ghi các yêu sách của nhân dân An Nam. Tin tưởng ở lòng độ lượng cao cả của Ngài, chúng tôi mong Ngài ủng hộ trước những người có thẩm quyền…”.

Nguyễn Ái Quốc lúc đầu là tên chung của cả nhóm người Viêt Nam yêu nước gồm: Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Thế Truyền, sau đó Nguyễn Tất Thành đứng ra chịu trách nhiệm trước chính quyền thực dân về văn bản này và kể từ đó cái tên Nguyễn Ái Quốc trở nên nổi tiếng gắn với một thời kỳ hoạt động sôi nổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhận xét về văn kiện này Bộ Nội vụ Pháp khẳng định: “Qua cuộc điều tra… có thể rút ra kết luận rằng hiện nay linh hồn của phong trào đó chính là Nguyễn Ái Quốc”.

Nội dung bản yêu sách này còn được Nguyễn Ái Quốc “diễn ca” bằng quốc ngữ để truyền bá sâu rộng trong cộng đồng Việt kiều và trong nước, với lời kết luận thống thiết: “Hai mươi triệu quốc hồn Nam Việt/ Thế cuộc này phải biết mà lo/ Đồng bào, bình đẳng, tự do/ Xét mình rồi lại đem so mấy người/ Ngổn ngang lời vắn ý dài/ Anh em đã thấu lòng này cho chưa”.

X&N
bee.net.vn

“Những anh hùng vô danh”

– Ngày 17/6/1956, báo “Nhân Dân” đăng bài “Bình dân học vụ” của Bác (C.B) biểu dương một trong những phong trào quần chúng mang tính xã hội cao được duy trì trong suốt cuộc vận động giải phóng dân tộc.

Bài báo mở đầu bằng ý kiến của một chiến sĩ diệt dốt “Đoàn quân văn hoá của nhân dân trống rung cờ mở, ào ạt tiến lên, quyết chiến quyết thắng” và cho biết, tính đến thời điểm này ở miền Bắc đã có 1.715.000 người tham các lớp học từ “itờ” đến các lớp bổ túc cấp 2.

Tháng 3-1956 HCM thăm một lớp học buổi tối của bà con lao động Lương Yên,HN_.jpg (68KB)Tháng 3/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một lớp học buổi tối của bà con lao động Lương Yên, Hà Nội

Tác giả nhận định: “Có thành tích ấy là vì nhân dân ta hiểu thấu rằng: Bất kỳ làm nghề gì, nếu không biết chữ thì khó tiến bộ, cho nên nhiều nguời cố gắng đi học. Từ thành thị đến thôn quê, ở các đường phố, các nhà máy, các công trưòng, các chợ búa… khắp nơi có lớp học. Già, trẻ, gái,trai, ai chưa biết chữ đều tìm cách vượt khó khăn để đi học. Buổi sáng, buổi trưa, buổi tối, đến đâu cũng nghe tiếng học. Thật là một phong trào sôi nổi, một cảnh tượng tưng bừng của một dân tộc quyết rời bỏ chỗ tối, bước lên chỗ sáng…”

Sau khi nêu lên một số tấm gương học tập và dạy học cũng như các áng kiến rất phong phú, bài báo khẳng định: “Bình dân học vụ đã trở thành một phong trào quần chúng. Tuy vậy, đó mới chỉ là bước đầu. Hiện nay còn nhiều người mù chữ chưa đi học…

Để hoàn thành nhiệm vụ thanh toán nạn mù chữ trong 3 năm (1956-1958), …cần phải thiết thực phụ trách đẩy mạnh phong trào thanh toán nạn mù chữ một cách có kế hoạch, liên tục và bền bỉ. Các cơ quan văn hoá, giáo dục cần phải có sách và báo rất thông tục, dễ xem, dễ hiểu, cho những người đã biết đọc, biết viết có thể tiếp tục học thêm…”.

Trong bài viết Bác đã đưa ra một quan điểm sáng suốt: “Một dân tộc siêng làm, ham học thì làm việc gì cũng thành công”.

Trước đó, ngày 8/9/1955, kỷ niệm 10 năm Bình dân Học vụ (1945-1955) trên báo Nhân Dân Bác viết:”Dốt thì dại, dại thì hèn. Vì không chịu dại, không chịu hèn, cho nên thanh toán nạn mù chữ là một trong những việc cấp bách và quan trọng của nhân dân các nước dân chủ mới… Bình dân học vụ không những dạy đọc, dạy viết, mà còn phải chú trọng dạy đạo đức công dân” và biểu dương: “Những anh chị em giáo viên và cán bộ bình dân học vụ đã xứng đáng là những “Anh hùng vô danh”…”

Ngày 30/3/1956, nói chuyện với lớp học bình dân học vụ ở Khu lao động Lương Yên (Hà Nội), Bác căn dặn: “Đời sống ví như chiếc thuyền. Sản xuất ví như nước. Mực nước lên cao, thì con thuyền càng nổi cao. Mình cố gắng còn là mưu đời sống sung sướng cho con, cho cháu mình nữa”.

Ngày 17/6/1958, Bác đã ký sắc lệnh tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất cho nhân dân và cán bộ huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá đã xoá xong nạn mù chữ trước thời hạn quy định và sớm nhất trong các huyện ở miền Bắc.

X&N
bee.net.vn

“Những lời thô thiển mà thiết thực”

– Ngày 16/6/1947, nửa năm sau ngày Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi các nhân viên cơ quan chính phủ” nhằm động viên đội ngũ những công chức của nhà nước kháng chiến xuất thân từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau đang chịu đựng nhiều gian khổ, thiếu thốn. Bức thư còn chia sẻ những quan niệm và kinh nghiệm sống của một nhà cách mạng từng trải.

Thư có đoạn: “Những anh chị em ở tiền phương đem xương máu giữ gìn Tổ quốc, là chiến sĩ. Những anh chị em ở hậu phương, đem tài năng giúp việc Chính phủ cũng là chiến sĩ. Những chiến sĩ ăn gió nằm sương, xung phong hãm trận, chết sống không biết cũng là hy sinh. Những chiến sĩ ở hậu phương lên dốc xuống đèo, ăn túng mặc thiếu, ốm khoẻ bao giờ không biết, cũng là hy sinh. Tuy cách hy sinh khác nhau, nhưng tiền phương và hậu phương đều vì Tổ quốc, vì đồng bào hy sinh…”.

  16-6-1960 HCM thăm trường Bổ túc văn hóa công nông TƯ đật tại trường ĐHBKhoa HN_1.jpgNgày 16/6/1960, Chủ tịch Hồ  Chí Minh thăm trường Bổ túc văn hóa công nông TƯ đặt tại trường ĐHBK Hà Nội

Còn đối với những nhân viên cơ quan của Chính phủ tuy ở hậu phương nhưng cũng gặp nhiều khó khăn“Nói tóm lại là bây giờ ai cũng khó nhọc và cực khổ…Vậy tôi xin lấy địa vị là như một người anh và đem kinh nghiệm của cá nhân khuyên gắng các bạn :

1. Người mà chịu được khổ, thì việc to lớn, khó khăn mấy cũng làm được.

2. Ta đã biết cần phải chịu khổ, thì ta chịu một cách vui vẻ, dần dần ta sẽ không lấy làm khổ.

3. Chúng ta đem tinh thần mà chiến thắng vật chất, chúng ta vì nước, vì dân mà chịu khổ, một cái khổ rất có giá trị, thì vật chất càng khổ tinh thần càng sướng.

4. Chiến sĩ ở tiền phương đã khổ mà lại luôn luôn ở dưới mưa bom sóng đạn. So với họ thì ta ở hậu phương chưa khổ mấy.

5. Khổ tận thì cam lai (hết đắng cay, ngọt bùi sẽ tới). Khổ này chỉ là khổ tạm thời, kháng chiến thành công thì sẽ hết khổ.

Trường kỳ kháng chiến là một viên đá thử vàng đối với mỗi một quốc dân, đồng thời là một trường học để rèn luyện cho cán bộ”.

Vị nguyên thủ kháng chiến còn chia sẻ kinh nghiệm: “Chớ không bao giờ ngồi không. Lúc rảnh việc thì nên nghiên cứu các vấn đề, hoặc theo sức mình tăng gia sản xuất. Như thế đã bổ ích cho thân thể lại vui cho tinh thần. Chớ tắm nước lã nhiều quá. Chớ uống nước lã, chớ ăn no quá, chớ ngủ trưa nhiều”. Và kết luận: “Đó là những lời thô thiển nhưng mà thiết thực”.

X&N
bee.net.vn

“Tôi thật thà tự phê bình khuyết điểm của tôi”

– Vào giữa tháng 6/1950, Bác viết thư “Gửi đồng bào Liên khu IV” nhân nảy sinh một số hiện tượng “cán bộ làm sai chỉ thị của Chính phủ và đường lối của đoàn thể” khiến nhân dân ở nhiều nơi bị phiền nhiễu, oan ức.

Bức thư phân tích và phê phán những loại cán bộ kém phẩm chất: “Họ xa rời nhân dân, không hiểu biết nhân dân. Làm việc thì dùng mệnh lệnh, chứ không biết tuyên truyền cổ động… thậm chí họ dùng những cách ép uổng, cưỡng bức, bắt bớ dân.

Nghe các ông thanh tra báo cáo lại những việc đó, tôi rất đau lòng! Dù Chính phủ đã ra lệnh trừng trị những cán bộ đó, tôi phải thật thà xin lỗi những đồng bào vì những cán bộ sai lầm mà bị oan ức. Tôi thật thà tự phê bình khuyết điểm của tôi – là giáo dục và lựa chọn cán bộ chưa được chu đáo”.

15-6-1957 HCM thăm trại Nhi đồng thành phố Vinh,Nghệ An nhân dịp Người về thăm quê_1.jpg (74KB)Ngày 15/6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm trại Nhi đồng thành phố Vinh, Nghệ An nhân dịp Người về thăm quê.

Bức thư bày tỏ: “Tôi lại xin nói với đồng bào: Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm… Khi ai đó có điều oan ức thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là tất cả quyền dân chủ của tất cả các công dân Việt Nam. Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng quyền ấy…

Tôi mong rằng từ nay, các cán bộ đều biết phê bình và tự phê bình, đều cố gắng sửa đổi lối làm việc, theo đúng đường lối của Chính phủ và Đoàn thể hợp với lòng dân. Cán bộ cấp trên phải luôn luôn đôn đốc và kiểm tra cấp dưới. Nhân dân thì giúp Chính phủ và Đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của các cán bộ…”

Bức thư này đã được in ra gửi tới tất cả các xã trong Liên khu và đến ngày 2/7/1950, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ra “Chỉ thị về việc kiểm thảo để sửa đổi nề nếp vận động nhân dân theo thư Hồ Chủ tịch”.

X&N
bee.net.vn

Lời kêu gọi thi đua ái quốc

– Ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” theo tinh  thần của Chỉ thị phát động phong trào thi đua của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (27/3/1948).

Lời kêu gọi nêu rõ: “Mục đích thi đua ái quốc là: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm.

Cách làm là: dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân, để: hạnh phúc cho dân…

Vì vậy bổn phận của người Việt Nam là, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì đều cần phải thi đua: Làm cho mau, làm cho tốt, làm cho nhiều.

Ngày 11/6/1946, lễ đón chính thức Chủ tịch Hồ Chí Minh  tại sân bay Le Bourget ở ParisNgày 11/6/1946, lễ đón chính thức Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay Le Bourget ở Paris


Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hoá. Thực hiện khẩu hiệu: Toàn dân kháng chiến, tòan diện kháng chiến

Trong cuộc Thi đua ái quốc, chúng ta : vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.

Kết quả đầu tiên của Thi đua Ái quốc sẽ là: Toàn dân đủ ăn đủ mặc. Toàn dân biết đọc, biết viết. Toàn bộ đội đầy đủ, lương thực khí giới để diệt ngoại xâm. Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn.

Thế là chúng ta thực hiện: Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc. Ba chủ nghĩa mà nhà đại cách mạng Tôn Văn đã nêu ra”.

Lời kêu gọi nhắc đến nhiệm vụ của mọi tầng lớp nhân dân và kết luận: “Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi! Hỡi toàn thể đồng bào, Hỡi toàn thể chiến sĩ, Tiến lên!”.

Tháng 6 năm 1949, trả lời một nhà báo câu hỏi về việc nhân dân kỷ niệm sinh nhật, thì món qùa quý nhất tặng Chủ tịch là gì?, Bác nói: “Món quà quý nhất đối với tôi là những báo cáo thành tích Thi đua ái quốc… Nhưng tôi chắc món quà ấy mới là một phần nhỏ, đồng bào và chiến sĩ ta còn tiếp tục cố gắng, tôi sẽ nhận được món quà to hơn nhiều nữa, món quà đó tên là: Tổng phản công thắng lợi hoàn toàn”.

Cũng trong tháng 6/1949, Bác gửi thư tới “Hội nghị Thi đua ái quốc” phân tích những hạn chế của phong trào và kết luận: “Vậy tôi rất mong Hội nghị tìm cách sửa chữa khuyết điểm ấy và mỗi cán bộ, mỗi đồng bào, mỗi ngành đều ra sức thiết thực thi đua với tinh thần chuẩn bị tổng phản công. Như vậy thì thi đua nhất định thành công”.

X&N
bee.net.vn

Sau 1000 ngày kháng chiến

– Ngày 10/6/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi trong dịp 1000 ngày kháng chiến”: “Hỡi đồng bào toàn quốc! Hỡi toàn thể tướng sĩ… tôi thay mặt Chính phủ kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các tử sĩ và đồng bào đã hy sinh vì nước và gửi lời thân ái hỏi thăm anh em thương binh và gia đình các liệt sĩ.

Tôi gửi lời khen ngợi các tướng sĩ đang oanh liệt giết giặc ngoài mặt trận; Đồng bào đang hăng hái thực hiện thi đua ái quốc ở hậu phương; Đồng bào tại vùng địch tạm chiếm, luôn luôn giữ vững tinh thần yêu nước của người dân Việt Nam; kiều bào hải ngoại luôn luôn giúp đỡ Tổ quốc.

Tôi lại khẩn khoản kêu gọi những người đang lầm đường theo địch, mau mau trở về Tổ quốc. Trong dịp này, lòng tôi và lòng Chính phủ đặc biệt đi đến chiến sĩ và đồng bào Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ, vì chiến sĩ và đồng bào ở đó đã tranh đấu trước nhất và hy sinh nhiều nhất”.

Chủ tịch Hồ Chí MinhChủ tịch Hồ Chí Minh

Sau khi điểm lại những thắng lợi mà 1000 ngày kháng chiến đã mang lại, Bác động viên: “Cuộc kháng chiến của ta đã tập trung tất cả cái tinh thần quật cường yêu nước của giống nòi Hồng Lạc lưu truyền từ mấy ngàn năm. Nó tập trung những kinh nghiệm chiến đấu của các vị dân tộc anh hùng Trần Hưng Đạo, Lê Thái Tổ, Nguyễn Quang Trung… Chúng ta đủ điều kiện để thắng lợi. Chúng ta chắc thắng lợi.

Song chúng ta phải biết rằng, càng gần thắng lợi thì càng gay go. Mà gay go nhiều thì thắng lợi càng to. Vì vậy mỗi quốc dân phải tẩy sạch cái thói: khi thì quá lạc quan, khi thì quá bi quan. Phải tẩy sạch cái chứng cầu yên, gặp sao hay vậy, muốn ăn quả mà biếng trồng cây… Mỗi người dân phải hiểu: có tự lập mới độc lập, có tự cường mới tự do. Đã đoàn kết, ta phải đoàn kết rộng rãi thêm. Đã cố gắng ta phải hăng hái mà cố gắng mãi…”.

Cũng vào dịp này, ngày 10/6/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cho một số người trong chính giới Pháp. Với tướng Salan, thư viết: “Vì chúng tôi đã buộc phải chiến đấu, thì các ngài hãy tỏ ra là những chiến binh hào hiệp, những đối thủ quân tử, trong khi chờ đợi chúng ta lại trở thành bạn hữu của nhau.

Chúng ta đã từng là bạn… Vì tình thương yêu con người, lòng nhân đạo và nhân danh tình bạn của chúng ta, tôi yêu cầu ngài nghiêm cấm binh lính Pháp sát hại dân lành, hãm hiếp phụ nữ, đốt phá làng mạc và phá huỷ nhà thờ, đền miếu như họ vẫn làm từ trước đến nay. Tôi bảo đảm với ngài rằng binh lính và thường dân Pháp ở chỗ chúng tôi được đối xử rất tử tế…”.

Còn trong thư gửi Chủ tịch Léon Blum, môt người quen cũ trong Đảng Xã hội Pháp, Bác đặt câu hỏi: “Vậy làm thế nào để chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn này, làm thế nào để lập lại hoà bình?

Tôi cho rằng, chỉ có một chính sách phù hợp là chính sách mà chính ngài đã đề ra trên báo “Dân Chúng” ngày 12/12/1946, một chính sách hữu nghị và tin tưởng lẫn nhau dựa trên sự thống nhất và độc lập của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp. Vì lợi ích và tương lai chung của hai dân tộc chúng ta, tôi hy vọng các ngài sẽ cố gắng làm cho chính sách khôn ngoan và lòng hào hiệp đó được thực hiện”.

X&N
bee.net.vn

Ấn tượng về đôi mắt của một con người phi thường

– Cách đây 64 năm, ngày 9/6/1945, từ chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí Minh gửi thư cho Trung uý Charles Fenn thuộc đơn vị Tình báo Chiến lược Mỹ OSS đóng ở Côn Minh (Trung Quốc) báo tin các báo vụ viên của Mỹ được cử làm việc trong bộ đội Việt Minh (Mc Shin và Frank Tan) vẫn “mạnh khoẻ và chúng tôi đã trở nên bạn bè thân thiết như anh em một nhà”.

Người lãnh đạo Mặt trận Việt Minh yêu cầu OSS chuyển thư tới một người Việt Nam để người đó gửi cho mình một “lá cờ của Đồng Minh”. Cũng trong đầu tháng 6/1945, Hồ Chí Minh điện báo cho người đứng đầu OSS ở Côn Minh là A.Patti biết rằng Việt Minh đã chuẩn bị sẵn sàng lực lượng một ngàn chiến sĩ du kích đang được huấn luyện tốt tại Chợ Chu, Định Hoá.

Tháng 8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh kỷ niệm cùng đơn vị OSS tại Hà NộiTháng 8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh kỷ niệm cùng đơn vị OSS tại Hà Nội

Trước đó 1 tháng, (9/5/1945), Hồ Chí Minh cũng viết thư cho Charles Fenn và Bernard bày tỏ hy vọng các chiến sĩ Việt Minh sẽ học được cách sử dụng điện đài do nhân viên OSS đang huấn luyện và “Tôi hy vọng một ngày gần đây nhất sẽ hân hạnh được đón tiếp các ông tại căn cứ của chúng tôi. Nếu được thế thì thật tuyệt”. Ngày 21/7/1945, Bác lại viết thư cho Ch.Fenn nhấn mạnh “Chúng tôi luôn luôn sẵn sàng nồng nhiệt đón ông”.

Vài ngày sau, một đơn vị biệt kích của OSS với bí danh là “Con Nai” (The Deer) đã nhảy dù xuống Tân Trào hợp tác với Việt Minh đánh Nhật. Nhưng trong đơn vị này không có Ch.Fenn. Và sau đó viên sĩ quan tình báo này cũng không bao giờ gặp lại người mà lần đầu ông gặp vào tháng 3/1945 tại Côn Minh. Chính viên trung uý này cũng đã giới thiệu Bác với Tướng Chelnault người đứng đầu quân đội Mỹ và Đồng Minh ở vùng Hoa Nam để thiết lập sự hợp tác chống phát xít Nhật.

Nhưng Ch.Fenn luôn giữ những ấn tượng tốt về Bác. Năm 1973, ông đã viết cuốn tiểu sử Hồ Chí Minh bằng tiếng Ạnh được xuất bản ở Mỹ và cũng vì thế ông bị trục xuất khỏi đất nước mà ông phụng sự (tuy gốc là người Anh). Ông sang Hong Kong tiếp tục những sáng tác kịch giành cảm tình với Hồ Chí Minh. Tháng 9/1995, ông sang Việt Nam cùng với các cựu binh OSS.

Và trước khi qua đời vào độ tuổi ngoài 100 ông còn viết lời tựa cho một cuốn album tranh về Chủ tịch Hồ Chí Minh với những lời đánh giá tốt đẹp: “Lần đầu tôi gặp Hồ Chí Minh ở Trung Quốc vào tháng 3/1945… Tôi nói chuyện với Hồ Chí Minh một người dáng nhỏ, gầy, hơi già trong chiếc áo vải bông sờn cũ.

Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Pháp, bởi vì tôi chưa biết rằng ông còn thạo tiếng Anh, không kể tiếng Nga, Đức, Xiêm, hai phương ngữ Trung Hoa và tất nhiên, tiếng Việt và tiếng của một vài dân tộc thiểu số ở Việt Nam.  Thoạt đầu ông không gây cho tôi một ấn tượng gì đặc biệt. Nhưng đến khi tôi cảm nhận được ánh sáng đặc biệt của đôi mắt ông, tôi biết tôi đang đứng trước một con người phi thường…

Sau này khi hướng dẫn cho ông nghệ thuật tình báo quân sự phương Tây, tôi mới thấy đôi mắt sáng của ông đã ánh lên thần thái mạnh mẽ thế nào qua việc ông nắm vững rất nhanh môn học đầy phức tạp đó… Nếu chúng ta so sánh Hồ Chí Minh với các lãnh tụ khác của thế kỷ XX, chúng ta không thể không có ấn tượng khi biết rằng trong một thời gian dài Hồ Chí Minh đã đi tới nhiều nơi trên thế giới và đã bắt đầu in dấu ấn của mình lên các biến cố quốc tế trước khi cả Mao Trạch Đông, Gandhi, Nehru, Roosevelt, Churchill hay De Gaulle được biết trên thế giới.

Cuộc sống cá nhân mẫu mực, tính kiên định vì nền độc lập và tự do của Việt Nam, những thành quả phi thường của ông bất chấp những khó khăn chất chồng, đã có thể đưa Hồ Chí Minh, trong sự phán xét cuối cùng của nhân loại, lên hàng đầu danh sách những lãnh tụ của thế kỷ XX”.

X&N
bee.net.vn