Thư viện

Thư Phan Bội Châu gửi Nguyễn Ái Quốc

 Ngày 22/2/1925, cụ Phan Bội Châu viết thư nhờ Hồ Tùng Mậu chuyển cho Lý Thuỵ (bí danh của Nguyễn Ái Quốc) lúc này đang hoạt động ở Trung Quốc.

Phan Bội Châu, bút hiệu Sào Nam là người đồng hương (Nam Đàn, Nghệ An) và là bạn đồng niên với Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Bác.

Vào đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đã trở thành 2 ngọn cờ tiêu biểu cho phong trào yêu nước ở nước ta. Sau nhiều hoạt động yêu nước không thành Phan Bội Châu cũng sang Quảng Đông để tìm gặp những người Việt Nam đang hoạt động tại đây.

Tháng 2/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của ĐảngTháng 2/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng

Bức thư đề ngày “21 tháng 1âm lịch” (tức 22/2/1925) viết bằng chữ Hán, hiện được lưu trữ ở Aix-en-Provence (Pháp) và được nhà nghiên cứu Vĩnh Sính phát hiện và dịch cho thấy những tình cảm và đánh giá của Phan Bội Châu đối với người con trai của bạn mình nay đã trở thành một nhà cách mạng đã nổi tiếng lúc này vừa hoạt động trong phái đoàn cố vấn của Chính phủ Xô viết bên cạnh Chính phủ Quảng Châu của Tôn Trung Sơn lại đang xúc tiến việc thành lập tổ chức cách mạng Việt Nam, tiền thân của Đảng Cộng sản sau này là Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí.

Bức thư cho biết, trước đó cụ Phan đã nhận đuợc thư của Nguyễn Ái Quốc gửi cho cụ, vì thế trong thư lá thư này, nhà ái quốc lão thành đã thành tâm đưa ra những lời đánh giá khích lệ: “Người cháu rất kính yêu của bác…(đọc thư của cháu) mới biết là học vấn, trí thức của cháu nay đã tăng trưởng quá nhiều, không phải như hai mươi năm trước.

Nhớ lại hai mươi năm trước đây, khi đến nhà cháu uống rượu, gõ án ngâm thơ, anh em cháu tất thảy đều chưa thành niên, lúc đó Phan Bội Châu này đâu có ngờ rằng sau này cháu sẽ trở thành một tiểu anh hùng như thế này…

Nhận được liên tiếp hai bức thư của cháu bác vừa buồn lại vừa mừng. Buồn là buồn cho thân bác, mà mừng là mừng cho đất nước ta. Việc thừa kế nay đã có người, người đi sau giỏi hơn kẻ đi trước, trên tiền đồ đen tối sẽ xuất hiện ánh ban mai…

Một đời tân khổ, gánh vác công chuyện một mình, được sức lớn của cháu giúp vào thì ắt sẽ có nhiều người hưởng ứng theo. Việc gây dựng lại giang sơn, ngoài cháu có ai dễ nhờ uỷ thác gánh vác trách nhiệm thay mình. Có được niềm an ủi lớn lao như thế, làm sao bác không cảm thấy vui mừng được. Cháu học vấn rộng rãi đã từng đi nhiều nơi hơn bác cả chục cả trăm lần. Tri thức và kế hoạch của cháu tất vượt sức đo lường của bác…”

Cuối thư Phan Bội Châu cũng thẳng thắn và chân thành mong Nguyễn Ái Quốc có kế hoạch mở rộng phong trào trong nước “vì nếu không có kế hoạch thì bất quá chỉ làm khách tha hương than thở không đâu cho hồn cố quốc, chả giống ông Hy Mã (tức Phan Chu Trinh) thì cũng chỉ giống Phan Bội Châu mà thôi!”.

Còn trong bức thư gửi Hồ Tùng Mậu cùng vào thời gian này, cụ Phan lại bày tỏ sự “cực lực tán thành” việc thành lập tổ chức Hội Thanh niên mà Nguyễn Ái Quốc lúc này đang tích cực vận động. Mặc dầu kể từ đó cho đến lúc bị thực dân Pháp bắt ở Trung Quốc, đưa ra toà xử án, rồi bị an trí tại Huế cho đến lúc qua đời, Phan Bội Châu chưa có dịp gặp lại Nguyễn Ái Quốc nhưng những di ngôn của cụ cho các đồng chí của mình vẫn hoàn toàn tin rằng : Nguyễn Ái Quốc sẽ là người “gây dựng lại giang sơn”.

Còn sau đó không lâu, trong một bài viết về Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc đã dành những lời tôn vinh: “Phan Bội Châu, bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng”.

X&N
bee.net.vn

Bộ Chính trị bàn việc củng cố quốc phòng

– “Ngày 21/2/1958, Bác chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị thông qua kế hoạch xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng… Bác nhắc lập kế hoạch phòng không nhân dân, một vấn đề rất mới và phải nói là sớm, đó là nghiên cứu kế hoạch phòng không nhân dân”.

Đó là đoạn trích trong hồi ký của Thượng tướng Văn Tiến Dũng. Nhắc đến sự kiện này vị Tổng tham mưu trưởng muốn nói đến tầm nhìn xa và khả năng dự đoán thiên tài của Bác, vì 6 năm sau (1964), đế quốc Mỹ đã phát động cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc.

Ngày 21/2/1958, Bác Hồ xem các mặt hàng thủy tinh tại Hội chợ triển lãm tiểu thủ công, Hà Nội.Ngày 21/2/1958, Bác Hồ xem các mặt hàng thủy tinh tại Hội chợ triển lãm tiểu thủ công, Hà Nội.

Có thể nói, tri thức, kinh nghiệm cùng bản lĩnh được tôi luyện qua thực tế hoạt động cách mạng rất phong phú và quyết liệt đã tạo cho Bác một năng lực dự đoán đáng được nghiên cứu như môt năng lực xuất chúng. Chính nhờ năng lực này mà cách mạng Việt Nam đã chủ động vượt qua nhiều thử thách tưởng chừng khó vượt qua.

Ngay trong thời kỳ hoạt động nhằm xây dựng lực lượng chuẩn bị cơ hội khởi nghĩa giành chính quyền, Bác đã đưa ra những dự đoán rất đúng về tình thế bùng nổ cuộc chiến tranh Thái Bình Dương trước cả sự kiện Trân Châu Cảng.

Năm 1942, khi viết “Diễn ca Lịch sử nước ta” nhằm tuyên truyền tinh thần yêu nước trong dân chúng thì ở cuối tác phẩm này, trong phần ghi chú “Những năm quan trọng”, Bác kết thức bằng dòng “1945: Việt Nam độc lập”.

Năm 1949, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra rất gian khổ và ác liệt, với bút danh Trần Lực, Bác đã viết một truyện ký giả tưởng có nhan đề “Giấc ngủ 10 năm” và được Tổng bộ Việt Minh xuất bản trong năm 1949. Thông qua giấc mơ của một chiến sĩ bị thương, diễn biến cuộc kháng chiến của quân ta kết thúc bằng một “trận đánh rất lớn” buộc đối phương phải bước vào bàn hội nghị đưa đến thắng lợi của cuộc kháng chiến gần như đã diễn ra thành hiện thực trong những năm sau đó.

Năm 1950, trên đuờng đi Chiến dịch Biên giớí, Bác viết một bút ký “Vừa đi đường vừa kể chuyện” (ký tên là T.Lan) trong đó tiên đoán :”Cuộc kháng chiến của chúng ta tuy gian khổ, nó có thể kéo dài bốn, năm năm nữa, nhưng cuối cùng chúng ta nhất định thắng lợi”. Sự thực cho thấy cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc vào năm 1954 -1955.

Sau những dự kiến về cuộc chiến tranh bằng không quân Mỹ đánh ra miền Bắc nước ta để làm tốt công tác phòng không nhân dân, ngay từ cuối năm 1962, Bác đã yêu cầu Tư lệnh Phòng Không – Không quân Phùng Thế Tài phải nghiên cứu về loại máy bay chiến lược B52 mới mẻ lúc này còn đang là con bài chiến lược chưa từng tham gia tác chiến ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Bác cũng tiên đoán rằng một trận quyết chiến chiến lược sẽ diễn tra trên bàu tời Thủ đô trước khi xcuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta thắng lợi hoàn toàn.

Vậy mà chỉ 3 năm sau (1965) Mỹ đã sử dụng loại vũ khí tối tân nhất này trên chiến trường miền Nam rồi từng bước đánh ra miền Bắc và sử dụng tổng lực trong cuộc tập kích chiến lược cuối năm 1972. Lịch sử Binh củng Phòng không-Không quân cho biết chính từ yêu cầu này của Bác, công tác tình báo và xây dựng phương án tác chiến để đối phó với B52 đã được chủ động chuẩn bị rất sớm và rất kỹ. Vì thế, khi phải giáp mặt với B52 chúng ta đã hạn chế được sức mạnh của nó đồng thời từng bước bắn bị thương và bắn rơi loại khí tài cho đến nay chưa bao giờ bị bắn hạ ở bất kỳ nơi nào trên thế giới trừ Viêt Nam.

X&N
bee.net.vn

Ngày 19/2: Vị luật sư “cứu sống” Bác Hồ

– Ngày 19/2/1960, ông bà luật sư Loseby, ân nhân đã cứu Bác Hồ khỏi nhà tù của thực dân Anh trong vụ án “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” (1931-1933) sau chuyến thăm Việt Nam theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi trở về đã viết thư cảm ơn Bác.

Trong lá thư có đoạn: “Ngài nói rằng tôi đã “cứu sống Ngài”, điều đó có thể đúng, nếu vậy thì đó chính là việc làm tốt nhất mà tôi đã từng làm, và mãi mãi là một việc làm sáng suốt…”.

Ông Francis Henry Loseby (1883-1967) sinh trưởng ở nước Anh, làm luật sư trong quân đội hoàng gia trong Thế chiến I, năm 1926 sang Hồng Kông, lúc đó là thuộc địa của Anh trên lãnh thổ Trung Quốc và mở văn phòng luật sư.

bác cùng vị luật sư Loseby gặp công nhân Nhà máy Trung Quy mô 2-1960Bác cùng luật sư Loseby gặp công nhân Nhà máy Trung Quy mô tháng 2/1960

Trước vụ án “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”, ông đã từng cãi giúp một người Việt Nam thoát khỏi bản án trao cho thực dân Pháp. Thời kỳ phát xít Nhật xâm lược Trung Quốc, ông đã từng tham gia đội quân tình nguyện bảo vệ Hồng Kông vì thế bị Nhật bắt giam từ 1/1942 đến 8/1945. Ông sống ở Hồng Kông cho đến lúc qua đời năm 1967. Được tin ông qua đời, Bác Hồ đã gửi vòng hoa đến viếng.

Năm 1960, sau khi đã cho người tìm được gia đình luật sư Loseby ở Hồng Kông, Bác viết thư mời sang thăm Việt Nam vào dịp Tết Nguyên đán. Ngày 26/1/1960, ông bà Loseby cùng con gái đến Hà Nội, Bác Hồ ra tận sân bay đón và đưa về nhà khách. Những ngày tiếp theo Bác dẫn gia đình ân nhân của mình đi thăm nhiều nơi và ngày 3/2 tiễn trở về Hồng Kông.

Bác Hồ chụp ảnh với đoàn đại biểu dự hội nghị cán bộ phụ trách thiếu niên toàn quốc do Trung ương Đoàn thanh niên lao động Việt Nam tổ chức ngày 19/2/1959Bác Hồ chụp ảnh với đoàn đại biểu dự hội nghị cán bộ phụ trách thiếu niên toàn quốc do Trung ương Đoàn thanh niên lao động Việt Nam tổ chức ngày 19/2/1959

Về chuyến đi này, ông Loseby kể: “Năm 1956 một nhà báo Anh (đảng viên cộng sản Anh) sang thăm Việt Nam về Hương Cảng đến tìm và trao cho tôi một bức thư và 2 bức ảnh Hồ Chủ tịch, một bức gửi cho vợ chồng tôi, một bức gửi cho con gái tôi… Chúng tôi gửi thư cám ơn và gửi ảnh cho Hồ Chủ tịch.

Sau đó đại diện Sở vận tải Trung Hoa ở Hương Cảng điện thoại cho chúng tôi 2 lần và đến gặp chúng tôi, gửi cho chúng tôi một gói quà của Hồ Chủ tịch, trong đó có một bức thêu Chùa Một Cột và một cái khay sơn mài và một bức thư của Hồ Chủ tịch mời sang thăm Việt Nam…”.

Trong buổi đến thăm và gặp gỡ cán bộ công nhân Nhân Nhà máy Cơ khí Trung quy mô ở Hà Nội, ngày 2/2/1960, Bác Hồ mào đầu: “Bác xin giới thiệu với các cô chú, đây là luật sư Loseby, ân nhân của Bác. Nếu không có luật sư thì chưa biết Bác sống chết ra sao?…”.

Còn vị luật sư người Anh thì bày tỏ: “Các bạn rất may mắn có một vị lãnh tụ rất vĩ đại và tốt là Hồ Chủ tịch… Khi gặp Hồ Chủ tịch chúng tôi rất cảm động nhưng chúng tôi không lạ vì chúng tôi thường được xem ảnh luôn và chúng tôi xem Bác như người nhà của chúng tôi. Hồ Chủ tịch là một người bất cứ ở đâu và trong hoàn cảnh nào cũng làm cho mọi người mến phục. Không phải bây giờ, ở đây như vậy mà trước kia khi ở Hương Cảng, trong hoàn cảnh khó khăn cũng vậy.

Hồ Chủ tịch có cái biệt tài là làm cho mọi người đều cười được từ các em thiếu nhi hôm chúc Tết ở Chủ tịch phủ, đến các em nhi đồng ở Trại nhi đồng miền Nam và đến cả các anh em công nhân Nhà máy Trung quy mô cũng vậy. Hồ Chủ tịch có thể làm cho mọi thứ đều cười…

Đến Việt Nam, tôi thấy một điều làm cho tôi thấy đặc biệt là mọi người đều vui vẻ, ai cũng có nụ cười trên môi… Nhiều điều tôi mới được thấy lần đầu và vượt quá ý nghĩ của chúng tôi… Tôi có thể kết luận rằng đó là kết quả của cả cuộc đời hy sinh của Hồ Chủ tịch cho nhân dân Việt Nam”.

Trong buổi tiễn đưa gia đình luật sư Loseby tại sân bay Gia Lâm, Bác không quên dặn cô con gái của ông bà: “Bao giờ có đám cưới, cháu Pat nhớ cho Bác hay nhé”.

X&N

bee.net.vn

Vị luật sư “cứu sống” Bác Hồ

– Ngày 19/2/1960, ông bà luật sư Loseby, ân nhân đã cứu Bác Hồ khỏi nhà tù của thực dân Anh trong vụ án “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” (1931-1933) sau chuyến thăm Việt Nam theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi trở về đã viết thư cảm ơn Bác.

Trong lá thư có đoạn: “Ngài nói rằng tôi đã “cứu sống Ngài”, điều đó có thể đúng, nếu vậy thì đó chính là việc làm tốt nhất mà tôi đã từng làm, và mãi mãi là một việc làm sáng suốt…”.

Ông Francis Henry Loseby (1883-1967) sinh trưởng ở nước Anh, làm luật sư trong quân đội hoàng gia trong Thế chiến I, năm 1926 sang Hồng Kông, lúc đó là thuộc địa của Anh trên lãnh thổ Trung Quốc và mở văn phòng luật sư.

bác cùng vị luật sư Loseby gặp công nhân Nhà máy Trung Quy mô 2-1960Bác cùng luật sư Loseby gặp công nhân Nhà máy Trung Quy mô tháng 2/1960

Trước vụ án “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”, ông đã từng cãi giúp một người Việt Nam thoát khỏi bản án trao cho thực dân Pháp. Thời kỳ phát xít Nhật xâm lược Trung Quốc, ông đã từng tham gia đội quân tình nguyện bảo vệ Hồng Kông vì thế bị Nhật bắt giam từ 1/1942 đến 8/1945. Ông sống ở Hồng Kông cho đến lúc qua đời năm 1967. Được tin ông qua đời, Bác Hồ đã gửi vòng hoa đến viếng.

Năm 1960, sau khi đã cho người tìm được gia đình luật sư Loseby ở Hồng Kông, Bác viết thư mời sang thăm Việt Nam vào dịp Tết Nguyên đán. Ngày 26/1/1960, ông bà Loseby cùng con gái đến Hà Nội, Bác Hồ ra tận sân bay đón và đưa về nhà khách. Những ngày tiếp theo Bác dẫn gia đình ân nhân của mình đi thăm nhiều nơi và ngày 3/2 tiễn trở về Hồng Kông.

Bác Hồ chụp ảnh với đoàn đại biểu dự hội nghị cán bộ phụ trách thiếu niên toàn quốc do Trung ương Đoàn thanh niên lao động Việt Nam tổ chức ngày 19/2/1959Bác Hồ chụp ảnh với đoàn đại biểu dự hội nghị cán bộ phụ trách thiếu niên toàn quốc do Trung ương Đoàn thanh niên lao động Việt Nam tổ chức ngày 19/2/1959

Về chuyến đi này, ông Loseby kể: “Năm 1956 một nhà báo Anh (đảng viên cộng sản Anh) sang thăm Việt Nam về Hương Cảng đến tìm và trao cho tôi một bức thư và 2 bức ảnh Hồ Chủ tịch, một bức gửi cho vợ chồng tôi, một bức gửi cho con gái tôi… Chúng tôi gửi thư cám ơn và gửi ảnh cho Hồ Chủ tịch.

Sau đó đại diện Sở vận tải Trung Hoa ở Hương Cảng điện thoại cho chúng tôi 2 lần và đến gặp chúng tôi, gửi cho chúng tôi một gói quà của Hồ Chủ tịch, trong đó có một bức thêu Chùa Một Cột và một cái khay sơn mài và một bức thư của Hồ Chủ tịch mời sang thăm Việt Nam…”.

Trong buổi đến thăm và gặp gỡ cán bộ công nhân Nhân Nhà máy Cơ khí Trung quy mô ở Hà Nội, ngày 2/2/1960, Bác Hồ mào đầu: “Bác xin giới thiệu với các cô chú, đây là luật sư Loseby, ân nhân của Bác. Nếu không có luật sư thì chưa biết Bác sống chết ra sao?…”.

Còn vị luật sư người Anh thì bày tỏ: “Các bạn rất may mắn có một vị lãnh tụ rất vĩ đại và tốt là Hồ Chủ tịch… Khi gặp Hồ Chủ tịch chúng tôi rất cảm động nhưng chúng tôi không lạ vì chúng tôi thường được xem ảnh luôn và chúng tôi xem Bác như người nhà của chúng tôi. Hồ Chủ tịch là một người bất cứ ở đâu và trong hoàn cảnh nào cũng làm cho mọi người mến phục. Không phải bây giờ, ở đây như vậy mà trước kia khi ở Hương Cảng, trong hoàn cảnh khó khăn cũng vậy.

Hồ Chủ tịch có cái biệt tài là làm cho mọi người đều cười được từ các em thiếu nhi hôm chúc Tết ở Chủ tịch phủ, đến các em nhi đồng ở Trại nhi đồng miền Nam và đến cả các anh em công nhân Nhà máy Trung quy mô cũng vậy. Hồ Chủ tịch có thể làm cho mọi thứ đều cười…

Đến Việt Nam, tôi thấy một điều làm cho tôi thấy đặc biệt là mọi người đều vui vẻ, ai cũng có nụ cười trên môi… Nhiều điều tôi mới được thấy lần đầu và vượt quá ý nghĩ của chúng tôi… Tôi có thể kết luận rằng đó là kết quả của cả cuộc đời hy sinh của Hồ Chủ tịch cho nhân dân Việt Nam”.

Trong buổi tiễn đưa gia đình luật sư Loseby tại sân bay Gia Lâm, Bác không quên dặn cô con gái của ông bà: “Bao giờ có đám cưới, cháu Pat nhớ cho Bác hay nhé”.

X&N
bee.net.vn

Nhóm Ngũ Long và “Những yêu sách của người Việt Nam”

 Ngày 18/2/1922, đang sống tại Marseille, Phan Chu Trinh viết thư gửi Nguyễn Ái Quốc lúc này đang hoạt động tại Paris.

Cụ Phan quê ở Quảng Nam, là một nhà ái quốc lớn, bạn đồng khoá, đỗ phó bảng cùng năm với thân sinh ra Bác. Là một người sớm tiếp nhận những tư tưởng dân chủ thông qua “tân thư”, “tân sách” của các nhà dân chủ Trung Hoa và Nhật Bản, Phan Chu Trinh trở thành ngọn cờ của phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX, chĩa mũi nhọn công kích chế độ quân chủ và đòi hỏi chính quyền thực dân ban hành các chính sách dân chủ.

Sau phong trào kháng thuế 1908, Phan Chu Trinh bị thực dân kết án đầy ra Côn Đảo. Được Phong trào Nhân quyền ở Pháp can thiệp, chính quyền thuộc địa phải thả, Phan Chu Trinh quyết định sang Pháp để tiếp tục tìm kiếm con đường cứu nước.

Việc Nguyễn Tất Thành qua Pháp cùng trong năm 1911 với sự giúp đỡ của Công ty Nước mắm Liên Thành, một cơ sở kinh tài của Phong trào Duy Tân, ít nhiều có tác động của Cụ Phan.

Trong thời gian hoạt động ở Pháp, Phan Chu Trinh cũng trở thành hạt nhân của “Nhóm những người Viêt Nam yêu nước ở Pháp được mệnh danh là “Ngũ Long” (gồm Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành).

Chính nhóm này đã viết văn kiện “Những yêu sách của người Việt Nam” (Revendications du Peuple annamite) gửi Hoà hội Versaille và chính khách nhiều nước tham dự để đòi hỏi các quyền tự do, dân chủ tại nước ta.

Văn kiện này ký tên “Nguyễn Ái Quốc” mà sau này đã trở thành cái tên nổi tiếng của Bác trên một chặng đường dài hoạt động giải phóng dân tộc.

Mặc dù quan hệ giữa Phan Chu Trinh cũng như các đồng bào trong nhóm rất mật thiết, những quan điểm về con đường cứu nước và sự lựa chọn tư tưởng chính trị của mỗi thành viên đếu khác biệt.

Bức thư của Phan Chu Trinh viết ngày 18/2/1922 gửi Nguyễn Ái Quốc vào thời điểm này đã có 2 năm hoạt động trong Đảng cộng sản Pháp, tuy vẫn thể hiện sự khác biệt nhưng mặc dàu thuộc thế hệ tiền bối và đã thành danh trong đời sống chính trị dân tộc, nhưng Cụ Phan đã nhận ra con đường mình đang đi đã không theo kịp thời đại và đặt hy vọng thành công vào sự lựa chọn của Nguyễn Ái Quốc.

Trong thư Phan Chu Trinh đã thẳng thắn nói những khác biệt về quan điểm, đường lối giữa 2 người, phê phán việc Nguyễn Ái Quốc chưa về nước hoạt động… nhưng  cụ cũng rất chân thành nhận rằng: “Bây giờ tôi tợ chim lồng cá chậu. Vả lại cây già thì gió dễ lay, người già thì trí dễ lẫn, cảnh tôi như hoa sắp tàn hiềm vì quốc phá gia vong mà phải gào cho hả dạ, may ra có tỉnh giấc hồn mê…”.

Cụ Phan Chu Trinh cũng thừa nhận rằng: “Còn Anh như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hỏi, lý thuyết tinh thông… Tôi tin rằng không bao lâu nữa cái chủ nghĩa anh tôn thờ sẽ thâm căn cố đế trong đám dân tình chí sĩ nước ta”.

8 năm sau, ngày 18/2/1930, Nguyễn Ái Quốc viết báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản và viết “Lời jêu gọi…” báo tin Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập tại Hồng Kông vào ngày 3/2/1930.

Và 24 năm sau, ngày 18/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ bàn về công việc chuẩn bị cho Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá I vừa được bầu, tổ chức kỳ họp đầu tiên.

X&N
bee.net.vn

Được trao tặng Hồ Chủ tịch văn bằng cao nhất của trường

 – Ngày 17/2/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc chuyến thăm hữu nghị Liên bang Miến Điện bằng việc ký kết Tuyên bố chung Việt – Miến và dự lễ nhận bằng Bác sĩ Luật học Danh dự của Trường Đại học Rangoon.

a

Tháng 2/1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Mianma

Miến Điện (nay gọi là Myanma) là một quốc gia Đông Nam Á có những quan hệ tốt đẹp với Việt Nam.

Ngay sau khi Việt Nam độc lập, trong khi chưa xác lập được quan hệ ngoại giao chính thức với một quốc gia nào, thì Miến Điện lại là quốc gia sớm tạo điều kiện cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thiết lập một cơ quan thông tin tại thủ đô của mình.

Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, ngày 29/11/1954, Thủ tướng Miến Điện U Nu đã là nguyên thủ quốc gia thứ hai đến thăm Hà Nội (sau Thủ tướng Ấn Độ J.Nerhu). Trong lời chào mừng vị khách Miến Điện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định : “Trong những ngày kháng chiến gian khổ để giành lại độc lập, tự do, nhân dân Việt Nam được nhân dân Miến Điện thật thà đồng tình và ủng hộ”.

Năm 1958, đáp lại thịnh tình của 2 quốc gia châu Á bè bạn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thăm Ấn Độ (từ 5/2 đến 13/2). Và ngày 13/2/1958 Bác đến thủ đô Rangoon.

Trong lễ đón tiếp, Tổng thống Miến Điện Uvin Môn đã nói: “Do phẩm cách đáng kính, tấm lòng cương trực và thái độ khiêm tốn của Chủ tịch, Ngài sẽ chinh phục lòng yêu của mọi người nhân dân Miến Điện. Cuộc viếng thăm của Ngài sẽ củng cố thêm nữa tình hữu nghị sẵn có giữa hai nước chúng ta”.

Ngày 17/2/1958, trước khi rời thủ đô Miến Điện, sau lễ ký kết Tuyên bố chung, Trường Đại học Rangoon đã tổ chức lễ phong tặng học vị Bác sĩ Luật học danh dự của nhà trường.

Tại buổi lễ, hiệu trưởng của trường bày tỏ: “…Tất cả học sinh, nhân viên và giáo sư ở đây đều biết Hồ Chủ tịch là một nhà triết học, một chiến sĩ hoà bình, một lãnh tụ cách mạng. Người đã đấu tranh suốt đời cho tự do của các dân tộc bị áp bức… Đây là vị khách quý mà ngày hôm nay Trường Đại học Rangoon được hân hạnh đón tiếp. Nhưng trường đại học của chúng ta còn có vinh dự hơn nữa là được trao tặng Hồ Chủ tịch một văn bằng cao nhất của trường này là văn bằng Bác sĩ Luật học Danh dự”.

Trong đáp từ, Bác bày tỏ niềm vinh dự được tôn vinh tại: “ một trung tâm văn hoá có truyền thống vẻ vang, yêu nước và anh dũng chống thực dân. Trường này đã đào tạo ra vị anh hùng Ung San và các nhà lãnh đạo Miến Điện… các bạn phải là những cán bộ tốt đem hết đức và tài của mình để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”.

Tại sân bay, trước khi rời đất nước Miến Điện, Bác chân thành nói với các vị lãnh đạo nước chủ nhà: “Ngày mai là Tết âm lịch của nhân dân Việt Nam. Chúng tôi sung sướng được mang về cho đồng bào chúng tôi món quà Tết rất quý báu là lời chúc hữu nghị thắm thiết của nhân dân Liên bang Miến Điện. Chắc chắn rằng đồng bào chúng tôi sẽ rất vui mừng phấn khởi”.

X&N
bee.net.vn

Bác Hồ và nhóm “Con Nai”

– Ngày 15/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời bức điện của Đại uý Charles Fenn, một sĩ quan tình báo trong đơn vị OSS đã từng tiếp xúc với Bác Hồ trong thời gian ở Côn Minh.

15-2-1965 HCM đọc văn bia tại chùa Côn Sơn,Hải Dương.jpg

Ngày 15/2/1965, Bác Hồ đọc văn bia tại chùa Côn Sơn, Hải Dương.

Bức thư trả lời bằng tiếng Anh bày tỏ: “Chúng tôi cảm kích vì thiện chí của Ngài muốn giúp Việt Nam. Nếu như Ngài tới đây với tư cách là một nhà báo Mỹ của một tờ báo lớn thì Ngài có thể làm được rất nhiều việc”.

Charles Fenn, trong Đại chiến Thế giới lần thứ II là một trung uý hải quân Hoa Kỳ được phái đến công tác tại AGAS (cơ quan hỗ trợ cho không quân tại mặt đất) lúc này đóng tại Côn Minh (Trung Quốc). Đó cũng là thời điểm Hồ Chí Minh đưa viên trung uý phi công Shaw được Việt Minh cứu sống khi máy bay bị quân Nhật bắn rơi trên chiến trường Bắc Đông Dương, sang Côn Minh để tìm cách trao trả cho Đồng Minh nhằm xác lâp mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít.

Thực thi chức trách của mình, Ch. Fenn đã bố trí cuộc tiếp xúc đầu tiên vào ngày 17/3/1945. Sau này , trong hồi ức của mình Ch.Fenn đã thuật lại: Hồ Chí Minh cùng đi với một người trẻ tuổi tên là  Phạm. Trước đó ông Hồ đã tìm gặp một số người Mỹ nhằm vận động sự công nhận đối với tổ chức Việt Minh như một thành viên trong lực lượng chống phát xít.

Ba ngày sau, hai người gặp lại nhau để nhất trí việc đưa một số thiết bị thông tin và đào tạo các báo vụ viên cho Việt Minh. Tiếp đó, Hồ Chí Minh yêu cầu Ch. Fenn giúp đỡ để trực tiếp gặp Tướng Claire Chennault, tư lệnh một Tập đoàn không quân của Mỹ mang biệt hiệu “Hổ bay” đang đóng bản doanh tại vùng Hoa Nam Trung Quốc, cũng là người dại diện cao nhất của Đồng Minh tại khu vực.

Cuộc gặp đã diễn ra ngày 29/3/1945 và sau cuộc gặp này mối quan hệ giữa Việt Minh và Đồng Minh được xác lập. Phía Mỹ đã cung cấp thiết bị liên lạc, một số vũ khí nhẹ và ngày 17/7 năm đó, một đơn vị đặc biệt mang biệt danh “Con Nai – The Deer” của OSS (Cơ quan tình báo chiến lược) của Mỹ đã nhảy dù xuống Tân Trào, tham gia huấn luyện, xây dựng sân bay dã chiến và thành lập Đại đội Việt – Mỹ… Phía Việt Minh sẽ cung cấp những thông tin tình báo và khí tượng cho không quân Mỹ hoạt động trên chiến trường đánh Nhật ở miền Bắc Đông Dương…

Đơn vị này đã tham gia bao vây quân Nhật ở Thái Nguyên và về Hà Nội sau khi Việt Minh giành được chính quyền. Nhưng ngay sau đó, chính phủ Mỹ yêu cầu các quân nhân Mỹ phải rời khởi Việt Nam…

Sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ những liên hệ với Ch. Fenn với nhiều tình cảm tốt đẹp. Trong thư đề tháng 8/1945 gửi Ch. Fenn, Bác viết: “Chiến tranh đã kết thúc. Đây là điều tốt cho mọi người. Tôi cảm thấy áy náy khi những người bạn Mỹ rời chúng tôi quá nhanh…

Tôi tin rằng ông và nhân dân Mỹ vĩ đại sẽ luôn luôn ủng hộ chúng tôi…Tôi cũng tin rằng sớm hay muộn chúng tôi sẽ đat đựơc mục đích của mình, bởi vì mục đích đó là chính nghĩa. Và đất nước chúng tôi sẽ độc lập. Tôi trông chờ ngày hạnh phúc được gặp ông và những người bạn Mỹ của chúng tôi ở Đông Dương hay trên đất Mỹ”.

Bức thư đề ngày 15/2/1947 giữa lúc nhân dân Việt Nam đang kháng chiến chống thực dân Pháp và vào lúc chính sách của Mỹ ngày càng đồng loã với cuộc chiến tranh xâm lược trở lại Đông Dương, cho thấy quan điểm của Bác luôn tin tưởng vào một bộ phận tiến bộ trong nhân dân Mỹ sẽ đứng về nhân dân Việt Nam.

Sau khi Bác Hồ qua đời, Ch.Fenn đã là người viết cuốn tiểu sử chính trị đầu tiên về Hồ Chí Minh bằng Anh ngữ xuất bản ở phương Tây (1973: “Hồ Chí Minh một tiểu sư chính trị”) và vì thế mà bị chính quyền Mỹ trục xuất khỏi đất nước của mình.

Tháng 8/1995, ngày sau khi quan hệ Việt – Mỹ được bình thường hoá, Ch.Fenn cùng các cựu chiến binh của đơn vị “Con Nai” đã trở lại thăm Việt Nam. Khi đã ngoài 100 tuổi (năm 2004) Charles Fenn còn viết: “Cuộc sống cá nhân mẫu mực, tính kiên định vì nền độc lập và tự do của Việt Nam, những thành quả phi thường của ông bất chấp những khó khăn chồng chất đã có thể đưa Hồ Chí Minh, trong sự phán xét cuối cùng của nhân loại lên hàng đầu danh sách những lãnh tụ của thế kỷ XX”.

X&N
bee.net.vn

“Người là bậc thánh nhân”

– Đêm 14/2/1961 là giao thừa Tết Tân Sửu, đã thành nếp, Bác đi thăm và chúc Tết một gia đình công nhân Nhà máy gỗ Cầu Đuống, gia đình một Việt kiều mới về nước, một xã viên hợp tác xã người Hoa và gia đình các bác sĩ Hồ Đắc Di và Tôn Thất Tùng.

Thăm hỏi nhau nhân ngày Tết vốn là tập quán dân ta từ xưa. Nhưng người đứng đầu quốc gia đêm giao thừa thăm dân gian là điều không phải đời nào cũng có. Đêm 30 tháng Chạp Năm Ất Dậu (1945) để đón Tết Độc lập đầu tiên (Bính Tuất, 1946), Bác và cùng một nhà báo Mỹ hoà lẫn vào dòng người vào Đền Ngọc Sơn thắp hương trước phút giao thừa.

14-2-1961, CTHCM chúc tết gia đình đc Nguyễn Phú Lộc, cán bộ công đoàn Nhà máy cơ khí Hà Nội.jpgNgày 14/2/1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc Tết gia đình đc Nguyễn Phú Lộc, cán bộ công đoàn Nhà máy cơ khí Hà Nội.

Sau đó, lặng lẽ (chứ không trống dong cờ mở) rủ ông thị trưởng Trần Duy Hưng đến chúc Tết gia đình ông Từ Lâm, bán sách cũ ở Cửa Nam, một gia đình nghèo ở phố Hàng Đũa (nay là ngõ Lương Sử), một gia đình buôn bán ở Phố Phúc Kiến (nay là phố Lãn ông), một gia đình công chức ở phố Hàng Lọng (nay là đường Lê Duẩn). Chiều hôm đó, nhận được bức trướng thêu bài thơ “Kính tặng các bậc anh hùng dân tộc” của thi sĩ Ngân Giang, Bác làm thơ đáp lại: “Gửi lời cảm tạ Ngân Giang/ Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”.

Từ Tết năm 1955, trở về Thủ đô hoà bình, giao thừa hàng năm Bác lại tiếp tục thăm dân. Chuẩn bị đón Tết Kỷ Dậu (1969) cũng là cái tết cuối cùng của Bác, thư ký Vũ Kỳ kể rằng, giáp ngày giao thừa Bác lại nhắc chuẩn bị chương trình thăm hỏi nhân dân.

Nhiều người có trách nhiệm muốn Bác hạn chế đi lại vì lo lắng cho sức khoẻ của Bác lúc này đã rất kém. Đêm giao thừa năm đó Bác ở nhà nhưng không quên gửi lẵng hoa chúc Tết cho một số cơ quan, trong đó có khối 30 khu phố Đống Đa, phân đội  Đoàn Công an vũ trang bảo vệ Thủ đô.

Tuy nhiên, sáng 1 Tết Bác vẫn lên đường đến thăm và chúc Tết Quân chủng Phòng không – Không quân tại sân bay Bạch Mai (Hà Nội), thăm hỏi nhân dân và trồng cây ở Vật Lại (Hat Tây) nhân 10 năm phát động “Tết trồng cây” .

Còn trong đêm giao thừa Tết Tân Sửu 1961, việc Bác đến thăm gia đình 2 trí thức lớn, lại đều xuất thần từ những tầng lớp trên trong xã hội cũ đã một lòng đi theo cách mạng và có nhiều đóng góp lớn lao đã mang lại những cảm xúc lớn  không chỉ cho những gia đình Bác đến thăm mà còn là những động viên to lớn cho khối đại đoàn kết toàn dân,

Bà nội của Bác sĩ Hồ Đắc Di là cháu nội của Tùng Thiện Vương. Bác sĩ được đào tạo tại Pháp và trở thành bác sĩ phẫu thuật và người Việt Nam đầu tiên đứng trên bục giảng Đại học ở Pháp. Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã quyết định một lựa chọn quan trọng trong cuộc đời của nhà trí thức lớn này, điều mà Cụ Hồ Đắc Di đã tâm sự trong hồi ký của mình: “Đối với tôi, một trí thức thuộc tầng lớp trên, thì Hồ Chủ tịch… đã quyết định sự lựa chọn con đường đi của tôi suốt mấy chục năm nay…

Càng sống lâu, càng suy ngẫm, càng hiểu biết, càng nhìn thấu kim cổ Đông Tây, ta càng thấy Bác Hồ của chúng ta quả là bậc vĩ nhân… Người là bậc thánh nhân xuât chúng nhưng lại không xa rời nhân dân đại chúng, là nhân vật thần thoại truyền kỳ nhưng lại gần gũi biết bao đối với những con người bình thường, nhỏ bé và bất hạnh. Người có ảnh hưởng sâu xa đến tâm tư, tình cảm của mỗi chúng ta, trẻ cũng như già”.

X&N
bee.net.vn

Một vị ẩn sĩ chân chính

 – Ngày 13/2/1958, Bác Hồ kết thúc cuộc viếng thăm lịch sử nước Cộng hoà Ấn Độ. Trước khi rời thành phố Calcuta để lên đường thăm Miến Điện, Bác đến thăm Hội Mahabodi, một tổ chức Phật giáo có tiếng ở Ấn Độ. Sau khi lễ Phật Bác dự buổi mít tinh do các Phật tử tổ chức.

Lời chào mừng của người đứng đầu tổ chức này đã đánh giá: “Như một vị ẩn sĩ chân chính, Chủ tịch đã hy sinh suốt đời cho nhân dân và Tổ quốc Ngài; Chủ tịch đã từ bỏ những hào nhoáng lộng lẫy của địa vị Chủ tịch một nước. Cũng như Hoàng đế Asoka, một vị Phật tử đầy lòng hy sinh, Chủ tịch đã nêu cao trước thế giới một lý tưởng mà chỉ có thể thực hiện bởi một người có đầy lòng tin tưởng…”.

Còn trong diễn văn của ông Thị trưởng thành phố Calcuta nơi đón tiếp và tiễn đưa Bác sau 10 ngày thăm Ấn Độ, đã ca ngợi: “Cũng như người Cha vĩ đại của dân tộc chúng tôi là Thánh Gandhi, Ngài là biểu hiện của một đời sống giản đơn, thanh cao và khắc khổ. Chúng tôi hết lòng cầu với Thượng đế rằng cuộc viếng thăm lịch sử của Ngài đến đất nước này sẽ đúc nên những sợi dây chuyền vàng bằng hữu nghị để thắt chặt hai dân tộc chúng ta trong tình nghĩa anh em sáng chói”.

Hồ Chí Minh với các cháu thiếu nhi dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc (13/2/1969)Hồ Chí Minh với các cháu thiếu nhi dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc (13/2/1969)

Còn Thủ tướng Ấn Độ J.Nerhu thì khẳng định: “Hồ Chủ tịch là một nhà đại cách mạng phi thường trong thời đại này. Người luôn luôn giải quyết những vấn đề khó khăn với nụ cười trên môi”…

Ngày 13/2/1964 là ngày mồng 1 Tết Giáp Thìn, Bác vẫn có lời thơ chúc mừng năm mới: “Bắc Nam như cội với cành/ Anh em ruột thịt, đấu tranh một lòng/ Rồi đây thống nhất thành công/ Bắc Nam ta lại vui chung một nhà/ Mấy lời thân ái nôm na/ Vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân”.

Năm ấy Bác xuất hành tới vùng đất Cổ Loa, thăm trạm biến thế điện và hợp tác xã nông nghiệp Lỗ Khê và khen câu khẩu hiệu bằng thơ kể trên đình làng: “Đón Xuân mở hội làm giàu/ Mừng Xuân cần kiệm lúa màu tốt tươi”. Buổi chiều Bác thăm và chúc Tết Trung đoàn phòng không 260 bảo vệ Thủ đô và các chiến sĩ công an Hà Nội. Cùng ngày Bác dự  đón Đoàn của Bí thư thứ Nhất Lê Duẩn vừa sang thăm Liên Xô trở về nước.

Ngày 13/2/1969, Bác đón các cháu trong đoàn thiếu niên dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc và tiếp bà Menba Hernadez, Chủ tịch Uỷ ban Cuba đoàn kết với Việt Nam và các bạn Cu ba trong Viện Hữu nghị các dân tộc đang thăm nước ta.

Sau này bà Menba Hernandez đã viết về ấn tượng của mình về Chủ tịch Hồ Chí Minh: “là hình ảnh tổng hợp của một nhà cách mạng đấu tranh không biết mệt mỏi vì tự do và hạnh phúc của nhân dân, một người khiêm tốn và giản dị, một nhà thơ nhạy cảm và sâu sắc, có khả năng nói lên những tình cảm trong sáng nhất của con người…”.

X&N

bee.net.vn

MIG17 của ta

– Ngày 12/2/1951, theo dõi sát tình hình chiến sự đang diễn ra khốc liệt ở Triều Tiên, nơi đụng đầu của “2 phe”, dưới bút danh “Đ.X” Bác viết bài “MIG” đăng trên báo “Cứu Quốc”.

Tác giả đặc biệt quan tâm đến loại phi cơ chiến đấu MIG của Liên Xô và đặt sự tin tưởng vào loại MIG19 “bay mau như tia chớp” sắp được đưa vào chiến trường sẽ góp phần “vạch trần tính khoác lác của Mỹ vẫn thường khoe máy bay Mỹ là vô địch”.

Ngày 12/2/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm công trường xây dựng cầu Việt Trì, Phú Thọ (mùng 1 Tết).Ngày 12/2/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm công trường xây dựng cầu Việt Trì, Phú Thọ (mùng 1 Tết).

 Tuy nhiên, theo Anh hùng Không quân Lưu Huy Chao trong cuốn sách “Chúng tôi và MIG17” (NXB Công an Nhân dân, 12/2009) cho biết, trên thực tế loại máy bay chiến đấu MIG17 được Liên Xô sản xuất hàng loại từ năm 1951 cũng như MIG19 đã chưa kịp tham chiến trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên.

Sau này, Trung Quốc cũng sản xuất được và sử dụng trong cuộc đụng đầu tại eo biển Đài Loan giữa không quân của Giải phóng quân Nhân dân Trung Hoa và không quân Trung Hoa Dân quốc vào năm 1958 giữa MIG17 và F86 do Mỹ sản xuất. Nhưng tại đây MIG17 vẫn bị yếu thế .

Khi cuộc Chiến tranh phá hoại của Mỹ được phát động ở miền Bắc nước ta thì MIG17 đã bị coi là lạc hậu, “quá đát” (out of date). Vậy mà chính những chiếc MIG17 này đã trực tiếp đương đầu và bắn hạ  được những máy bay tiêm kích hiện đại của Mỹ trên bầu trời miền Bắc Việt Nam.

10h35 ngày 6/8/1964 một ngày sau sự kiện 5/8/1964 Mỹ dùng không quân và hai quân đánh vào Nghệ An và Quang Ninh, 4 chiếc máy bay MIG17 cất cánh từ sân bay Mông Tự (Trung Quốc) đã hạ cánh xuống sân bay vừa được xây dựng ở Nội Bài phía Bắc Thủ đô Hà Nội.

Ngay ngày hôm sau, 7 – 8 máy bay do thám U2 của Mỹ đã bay ngang qua sân bay này và sau đó Đài BBC đã loan tin, nhưng viên tướng J.Paul, chỉ huy tàu sân bay “USS Constellation”của Mỹ tuyên bố: “Cuộc chiến đấu với phi công Việt Nam chỉ là trò chơi. Các máy bay trinh sát cho phép người Mỹ nắm rõ lực lượng không quân non trẻ, một dúm máy bay cổ lỗ trú trong những bức tường bằng đất đắp không mái che”.

Ngày 4/11 năm đó, khi toàn bộ Trung đoàn không quân tiêm kích MIG17 đầu tiên đã về nước và sẵn sàng chiến đấu, Bác Hồ đã thăm và động viên thế hệ các chiến sĩ đầu tiên của Không quân Việt Nam rằng ông cha ta đã đánh thắng giặc ngoài xâm trên mặt đất và trên mặt nước sông biển, nay chúng ta sẽ đánh thắng chúng trên bầu trời của Tổ quốc.

Và trong hai ngày 3 và 4/4/1965, những chiếc máy bay MIG17 mà được nhân dân đặt tên là “én bạc” đã xuất hiện trên bầu trời Tổ quốc cùng với toàn binh chủng phòng không và nhân dân hiệp đồng tác chiến tham gia bảo vệ Cầu Hàm Rồng (Thanh Hoá). 7h30 sáng 3/4/1965 phi đội do Phạm Ngọc Lan chỉ huy đuợc phân công đánh chặn và phi đội của Trần Hanh thực hiện nhiệm vụ nghi binh đã xuất kích.

Ngay trong trận đánh đầu tiên này, Phạm Ngọc Lan và Phan Văn Túc đã bắn rơi 2 chiếc F8E của Mỹ. Còn trong trận chiến ngày hôm sau 4/4, không lực Mỹ mất thêm 2 máy bay “Thần Sấm” F105D còn các phi công Phạm Giấy, Lê Minh Huân và Trần Nguyên Năm hy sinh và là những liệt sĩ đầu tiên của không quân nước ta…

Sau trận đánh này Bác đã gửi thư khen ngợi không quân ta đã thực hiện được truyền thống ra quân đánh thắng ngay trận đầu. Ngày 17/6 năm đó, lần đầu tiên MIG17 giáp mặt với loại máy bay tiêm kích hiện đại nhất của Mỹ khi đó là F4 “Con Ma” và chính loại máy bay MIG17 đã bị coi là “out of date” đó đã bắn hạ 2 chiếc F4. Trong trận đó, phi công Trọng Lê bị hy sinh và máy bay của Nguyễn Nhật bị bắn cháy, phi công phải nhảy dù….

Cho đến cuối năm 1965, máy bay tiêm kích MIG21 bắt đầu về nước và thay thế dần loại MIG17… Như thế, điều mà Bác Hồ đã viết trong bài báo của mình từ năm 1951 đã trở thành hiện thực ngay trên bầu trời nước ta và ưu thế của MIG không phải chỉ là kỹ thuật mà quan trọng hơn hết là lòng quả cảm và trí thông minh của con người Việt Nam mang tinh thần “không có gì quý hơn độc lập, tự do” mà Bác đã tổng kết.

X&N
bee.net.vn

Bác họp Bộ Chính trị trả lời thư Giáo hoàng

– Ngày 11/2/1967, Bác họp cùng Bộ Chính trị để bàn về việc trả lời 2 bức thư của Giáo hoàng Pôluýt VI và thư của Tổng thống Mỹ L.B.Johnson.

Giữa lúc cuộc chiến tranh của Mỹ tiến hành ở Việt Nam đang đạt tới đỉnh cao của tính khốc liệt và cũng là lúc phong trào chống chiến tranh phát triển mạnh mẽ trên thế giới và ngay trong lòng nước Mỹ, ngày 8/2 vị giáo chủ của Toà thánh Vatican đã gửi thư (đây là bức thư thứ ba) đến Chủ tịch Hồ Chí Minh “tỏ ý muốn sớm có giải pháp hoà bình ở Việt Nam”.

11-2-1956, Bác Hồ đến thăm anh chị em thương binh hỏng mắt Hà Nội nhân dịp đêm giao thừa tết Nguyên Ngày 11/2/1956, Bác Hồ đến thăm anh chị em thương binh hỏng mắt Hà Nội nhân dịp đêm giao thừa Tết Nguyên Đán

Đồng thời, cũng trong ngày 8/2 Tổng thống Mỹ thông qua sứ quán Việt Nam tại Liên Xô chuyển tới Chủ tịch Hồ Chí Minh một bức thư nêu ra những khả năng và điều kiện để Mỹ bàn đến việc chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam .

Sau cuộc họp của Bộ Chính trị, bức điện của Bác trả lời Giáo hoàng được công bố trên báo “Nhân Dân” ngày 14/2/1967 trong đó đưa ra thông điệp: “Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hoà bình để xây dựng đất nước trong độc lập và tự do…” nhưng “Để bảo vệ độc lập và hoà bình, nhân dân Việt Nam kiên quyết chống xâm lược và tin chắc rằng chính nghĩa nhất định thắng”.

Bức thư cũng bày tỏ lòng trân trọng đối với thiện chí của Giáo hoàng: “Tôi mong Ngài vì nhân đạo và công bằng hãy dùng ảnh hưởng của mình, đòi nhà cầm quyền Mỹ tôn trọng những quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là hoà bình, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ như Hiệp đình Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam đã xác nhận”

Còn bức thư trả lời Tổng thống Mỹ được gửi đi ngày 15/2/1967 và được công bố trên báo “Nhân Dân” ngày 22/3/1967. Trong thư Bác đã xác nhận là ngày 10/2 đã nhận được thư của Tổng thống L.B.Johnson và tỏ rõ quan điểm kiên định: “Nước Việt Nam cách xa nước Mỹ hàng vạn dặm. Nhân dân Việt Nam không hề động chạm đến nước Mỹ. Nhưng… Chính phủ Mỹ đã không ngừng can thiệp vào Việt Nam gây ra và mở rộng chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam nhằm chia cắt lâu dài nước Việt Nam…

Từ hơn hai năm nay Chính phủ Mỹ còn dùng không quân và hải quân đánh phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, một nước độc lập, có chủ quyền. Chính phủ Mỹ đã phạm tội ác chiến tranh, phá hoại hoà bình và chống lại loài người…

Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất thiết tha với độc lập, tự do và hoà bình. Nhưng trước sự xâm lược của Mỹ, nhân dân Việt Nam đoàn kết một lòng, không sự hy sinh, gian khổ đã đứng lên kháng chiến và kiên quyết kháng chiến đến khi giành được độc lập thật sự và hoà bình chân chính…

Chính phủ Mỹ đã gây chiến tranh xâm lược thì con đường đưa đến hòa bình ở Việt Nam là Mỹ phải chấm dứt xâm lược… Nhân dân Việt Nam quyết không khuất phục trước vũ lực và quyết không nói chuyện trước sự đe doạ của bom đạn. Sự nghiệp của chúng tôi là chính nghĩa. Mong Chính phủ Mỹ hãy hành động theo lẽ phải”.

Tuy nhiên, điều đáng nói là ngày 14/2/1967, đích thân Johnson đã ra lệnh ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam một cách dữ dội cùng ngày với việc công bố nội dung điện trả lời Giáo hoàng và 1 ngày trước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời thư Tổng thống Mỹ (!?).

X&N
bee.net.vn

Là thanh niên phải…

 Ngày 10/2/1948 là ngày 1 Tết Mậu Tý, Bác Hồ động viên cả nước bước vào năm thứ 2 của cuộc kháng chiến bằng bài thơ: “Năm Hợi đã qua đi/ Năm Tý vừa bước tới/ Gửi lời chúc đồng bào/ Kháng chiến được thắng lợi/ Toàn dân đại đoàn kết/ Cả nước dốc một lòng/ Thống nhất chắc chắn được/ Độc lập quyết thành công”. 

Cũng trong ngày đầu năm âm lịch này, Bác khai bút bằng một bức thư gửi báo “Bạn Chiến đấu” tờ báo địch vận viết bằng tiếng Pháp do một số bạn nước ngoài là những hàng binh trong đạo quân Lê Dương người Pháp và người Áo thực hiện.

Với kinh nghiệm của một nguời viết báo kỳ cựu, Bác góp những ý kiến rất thiết thực: “Tờ báo này dành cho những người lính lê dương, những chàng trai vui tính, dễ cáu kỉnh, dễ cảm xúc chứ không phải là những người làm chính trị sâu sắc…

Nói tóm lại, cần làm cho họ cảm động, thoải mái, làm cho họ cười và khóc, để lôi cuốn họ về phía chúng ta. Không nên viết những bài dài. Không nên viết những vấn đề chính trị lớn đương thời”. Và bài báo của người có cuơng vị lãnh đạo cáo nhất của cuộc kháng chiến vẫn đặt một câu hỏi đậm tinh thần dân chủ: “Các bạn nghĩ thế nào?”.

Cùng ngày 1 Tết 1948, trên báo “Nhân Dân” số ra cùng ngày đăng bài “Thanh niên phải làm gì?” (ký bút danh A.G). Sau khi phân tích những hạn chế của tổ chức và phong trào thanh niên, Bác đưa ra những đòi hỏi:

“Thanh niên cần phải có chí tự động, tự cường, tự lập.

Phải có khí khái ham làm việc chứ không ham địa vị.

Phải có quyết tâm, đã làm việc gì thì làm cho đến nới đến chốn, làm cho kỳ được.

Phải có lòng ham tiến bộ, ham học hỏi, luôn học, học mãi. Học văn hoá, học chính trị, học nghề nghiệp.

Phải có lòng kiên quyết tham gia kháng chiến để tranh cho kỳ được thống nhất và độc lập, dân chủ và tự do.

Như thế, mới xứng đáng thanh niên là chủ nhân tương lai của nước nhà”.

Ngày 10/2/1967 lại là mùng 2 Tết Đinh Mùi, Bác thăm Hợp tác xã Tảo Dương (xã Hồng Dương, Thanh Oai, Hà Tây) và phát biểu về vai trò của Đảng. Bác nhấn mạnh “mình vào Đảng để làm đầy tớ cho dân… Làm đầy tớ nhân dân chứ không phải làm “quan” nhân dân”. Muốn có đảng viên tốt thì phải xây dựng được các chi bộ tốt thực sự, nếu không chỉ là tự lừa dối mình”.

X&N
bee.net.vn