Bác Hồ kể chuyện Tây du ký

 – Năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn đánh lớn, đánh tập trung. Thấy cán bộ chưa nhận thức đầy đủ tình hình, nhiệm vụ. Bộ Chính trị quyết định triệu tập cán bộ, mở lớp học ngắn ngày. Nội dung lớp học là “Quán triệt tình hình, nhiệm vụ, chống tham ô lãng phí, quan liêu, quân phiệt”.

Học viên là cán bộ cao cấp các ngành quân, dân, chính, đảng trên mọi chiến trường trong cả nước. Lớp học được tổ chức giữa khu rừng đại ngàn khá đẹp, cạnh cơ quan Trung ương, gần nơi Bác ở và làm việc.

Ông Lê Văn Lương, Chánh văn phòng Trung ương Đảng được Bác chỉ định phụ trách lớp. Bác trực tiếp biên soạn giáo án, làm giáo viên hướng dẫn học tập, kiểm điểm. Công việc dạy và học được tiến hành rất thuận lợi, kết quả khả quan, Bác rất vui. Hôm làm kiểm thảo Bác nói:

– Các chú học đã thông lý thuyết, tranh luận cũng đã nhiều. Vận dụng lý luận đã học vào kiểm thảo là rất cần thiết. Bác bận không có thời gian xem hết lý luận của các chú. Tình hình, nhiệm vụ, các chú đã quán triệt, không cần thiết phải trình bày. Các chú đi vào kiểm điểm cá nhân, viết cụ thể xem mình tham ô, lãng phí bao nhiêu? Tất cả quy thành tiền. Quan liêu, quân phiệt bao nhiêu lần? Hành động thô bạo với nhân dân, với chiến sĩ bao nhiêu lần? Bao nhiêu người? Vậy thôi, không cần dài dòng.

Hôm trả bài, mọi người vừa có mặt đông đủ ở hội trường thì Bác bước vào. Nét mặt của Bác hôm đó không được vui. Cán bộ trực ban hô “Nghiêm!” rồi báo cáo Bác. Bác vừa ra hiệu cho mọi người ngồi xuống thì một đồng chí đứng lên hô to:

– Đả đảo tham ô, lãng phí, quan liêu, quân phiệt!

Bác giơ cao tập kiểm thảo của học viên lên nói:

– Lý thuyết! Lý thuyết! Thực tế đây này. Nhiều đồng chí sợ địch, ngại gian khổ, ngại hy sinh, ngại kháng chiến lâu dài. Nhiều đồng chí thiếu trách nhiệm để kẻ địch đốt hàng trăm tấn gạo, đổ xuống sông hàng trăm tấn muối, phá hủy hàng chục tấn súng đạn. Có đồng chí tham ô hàng vạn, hàng triệu đồng…, đánh đập, chửi mắng chiến sĩ, nhân dân.

Bác phân tích tác hại của hành động, làm ảnh hưởng xấu tới chính sách đại đoàn kết dân tộc, tới chính sách mặt trận, tới tài sản của nhân dân, ảnh hưởng tới thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Cả hội trường im phăng phắc nghe Bác nói.

Trưa hôm đó, một trưa hè oi nồng, vì không ngủ được nên một số anh em rủ nhau ra suối tắm. Giữa rừng sâu nên anh em tha hồ vừa thoải mái ngâm mình dưới dòng nước, vừa trao đổi về bài tổng kết của Bác. Ngay lúc đó, Bác từ trên nhà sàn bước xuống. Ai cũng đoán Bác đi sang khu Trung ương.

Người thoăn thoắt đi về phía anh em đang tắm. Mọi người hoảng, chưa biết xử trí ra sao, thì một cán bộ nhanh nhẹn mặc quần áo lên hướng dẫn Bác đi lối khác. Bác gạt đi:

– Bác cùng tắm với các chú cho vui!

Thế là Bác cháu cùng ngâm mình xuống dòng nước trong mát. Đàn cá con luồn lách trong khe đá, lượn lờ chung quanh mọi người. Cán bộ Lương Tuấn Khang cọ lưng cho Bác, xúc động thưa với Bác:

– Thưa Bác, Bác gầy quá!

Bác im lặng một chút, rồi hỏi đồng chí Khang:

– Kiểm thảo vừa rồi, chú có khuyết điểm gì không?

– Thưa Bác có chứ ạ! Cháu tham ô một vạn tư.

– Chú một vạn tư, chú kia một vạn tư, chú này một vạn tư thì Bác làm sao béo được!

Anh em tắm quanh đó lặng người, chú ý theo dõi câu chuyện của hai Bác cháu.

Cán bộ Khang lại hỏi Bác:

– Thưa Bác, không phải cháu tham ô, mà vì cháu đã có áo mưa, quân nhu không biết lại phát cho cháu một chiếc nữa. Cháu lãnh, rồi đem cho đồng chí khác chưa có (chiếc áo mưa hồi đó trị giá một vạn tư). Thưa Bác, như vậy có phải khuyết điểm không ạ?

Bác quay lại:

– Thôi chú cọ lưng cho Bác sạch rồi. Ta đổi công cho nhau.

Bác cọ lưng cho  Khang, rồi nói:

– Phải xem xét động cơ. Chú cho anh em không có sự đòi hỏi gì, cho với tinh thần vô tư thì việc cho của chú là tốt. Còn, chú cho bạn với động cơ có đi, có lại hoặc có điều kiện nào đó, thì việc cho áo mưa của chú cần phải xem xét.

Thời hạn lớp học sắp kết thúc. Hôm đó, Bác giải đáp để hôm sau các học viên trở về đơn vị. Bác yêu cầu anh em kể Tây du ký cho mọi người nghe… Câu chuyện cần phù hợp với nội dung bài học.

eBác Hồ với các chiến sĩ tại khu di tích Đền Hùng năm 1954. Ảnh TL.

Ông Tôn Quang Phiệt được Bác chỉ định kể đầu tiên. Suy nghĩ một hồi, ông Phiệt kể cho anh em nghe đoạn Tôn Hành Giả ba lần đánh Bạch Cốt Tinh. Một lần Tôn đánh chết ông cụ, một lần đánh chết bà cụ, một lần đánh chết cô gái, nên bị Tam Tạng đuổi về Hoa Quả Sơn.

Ông Tôn Quang Phiệt tóm tắt:

– Tôn Hành Giả biết phân biệt kẻ thù. Đã phân biệt chính xác kẻ thù thì tấn công quyết liệt, gặp bất cứ trở ngại gì cũng vượt qua.

Bác chỉ định một người khác kể. Cán bộ đó kể đoạn Bát Giới xin ở lại làm con rể phú ông. Cán bộ đó kết luận:

– Làm cách mạng là phải triệt để đừng như Bát Giới ham phú quý, giàu sang giữa đường định bỏ dở sự nghiệp.

Một cán bộ nữa xin Bác cho phép kể đoạn Đại Thánh đại náo thiên cung. Cán bộ kết luận:

– Đã là người anh hùng nắm chắc chân lý, thì ông trời cũng không sợ.

Bác cười khen:

– Các chú nhớ cả đấy. Chuyện nào cũng vậy, đều có thiện, có ác, có chính, có tà. Chuyện nào cũng dạy người ta ăn ở nhân nghĩa, bỏ điều ác, làm điều thiện. Có gian khổ mới có vinh quang thắng lợi. Thầy trò Đường Tam Tạng từ Đại Đường sang tận Tây Trúc lấy kinh, trải qua không biết bao nhiêu gian khổ, thử thách, gặp bao nhiêu yêu quái mới thỉnh được kinh đem về cho vua Đường. Thầy trò Đường Tăng đã vượt qua ba điều cấm: Một là không ham tiền tài, hai là không ham địa vị, ba là không ham gái đẹp.

Khi gặp Phật tổ Như Lai, lấy được kinh, Đại Thánh thưa với sư phụ: “Thưa thầy, chúng ta đã thành chính quả”. Tam Tạng nói với Đại Thánh: “Chưa đâu, đây mới là thành công bước đầu của thầy trò ta, đạt đến chính quả còn gian khổ lắm”.

Cuộc kháng chiến của chúng ta mới chỉ là những bước giống như những bước đi đầu tiên trên chặng đường thầy trò Tam Tạng sang Tây Trúc thỉnh kinh mà thôi. Kháng chiến thành công, nước nhà độc lập cũng mới chỉ là bước đầu. Bác cháu ta còn phải kiến quốc làm cho dân giàu, nước mạnh, nhân dân hạnh phúc, ấm no. Điều đó mới thực vất vả, khó khăn.

Bác cháu ta hiện nay mới chỉ bước những bước đầu tiên trên con đường kháng chiến, mà đã có nhiều đồng chí ham tiền tài, địa vị, gái đẹp thì kháng chiến ta làm sao thành công được. Xưa cũng như nay, muốn thành chính quả thì phải tránh ba điều răn. Muốn kháng chiến thắng lợi phải tránh ba điều cấm. Vì cuộc kháng chiến của Bác cháu ta còn phải trải qua muôn vàn gian khổ, có nỗ lực vượt qua được thì mới thành công, thắng lợi. Kết luận của Bác có thế thôi.

Sau đó, Bác cho phép mọi người nêu thắc mắc để Bác giải đáp. Đồng chí Nam Long đứng lên xin phép Bác được nêu thắc mắc:

– Thưa Bác, Bác nói trong con người ta có ông Thiện, ông Ác. Ông Thiện bảo ta làm những điều tốt lành. Ông Ác xúi ta làm những việc độc ác. Thưa Bác, trong Bác có ông Thiện, ông Ác không ạ?

Bác cười tủm tỉm:

– Có chứ! Bác cũng như mọi người đều có ông Thiện ông Ác. Từ nơi Bác ở tới lớp học phải qua một cái đèo cao. Leo tới đỉnh đèo thì Bác đã mệt. Phong cảnh tuyệt đẹp, trời trong xanh, mây bay vượn hót, chim kêu, nước chảy.

Ông Ác nói với Bác: “Dừng chân nghỉ một chút cho đỡ mệt, ngắm mây trôi, nước chảy, nghe vượn hót chim kêu, hút một điếu thuốc cho sảng khoái rồi lại lên đường. Kháng chiến còn lâu dài gian khổ, nghỉ một chút có sao đâu”.

Ông Thiện lại nói với Bác: “Không được! Hàng trăm người đang chờ đợi Bác. Chỉ cần chậm một phút là lãng phí hàng trăm phút. Mình là giảng viên, lại càng cần phải gương mẫu”.

Ông Ác nói cũng phải – mệt ngồi nghỉ một chút là lẽ thường tình, có chi phương hại. Ông Thiện nói cũng đúng – bắt hàng trăm con người chờ đợi, hao phí thời gian, đành tâm sao được.

Biết nghe ai bây giờ? Nghe ai và không nghe ai? Khó thật đấy! Song, cái quyết định cuối cùng vẫn là ở mình. Suy nghĩ một hồi, Bác quyết định nghe theo ông Thiện. Bác nhét điếu thuốc lá vào bao, cất bật lửa vào túi. Bác đi tới lớp học.

Đó, ai dạy mình điều phải. Ai xui mình làm điều sai. Cái quyết định cuối cùng vẫn là ở mình.

Mỗi khi gặp khó khăn, các học viên lớp học ngày ấy lại nhớ tới lời dạy của Bác qua các câu chuyện trong Tây du ký.

Trần Kỳ – Tap chí Hồn Việt
bee.net.vn

Lời tuyên cáo quốc dân của Chính phủ lâm thời

 – Ngay sau khi Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi trên cả nước, mọi công việc được gấp rút chuẩn bị để Chính phủ mới ra mắt nhân dân. Trước ngày 27/8/1945, Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam – đã được Quốc dân đại hội Tân Trào giao cho nhiệm vụ lãnh đạo toàn thể nhân dân như một Chính phủ lâm thời – đã ra tuyên cáo khẳng định đây là Chính phủ của toàn dân, kêu gọi nhân dân ủng hộ Chính phủ, xây dựng Tổ quốc.

Lời tuyên cáo quốc dân của Chính phủ lâm thời (1)

Hỡi quốc dân đồng bào !

Toàn quốc đại biểu đại hội họp ngày 16 – 17/8/1945 đã cử ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam tức là Chính phủ nhân dân lâm thời Việt Nam để lĩnh đạo nhân dân tranh đấu giành quyền độc lập.

Sau ngày lịch sử 19/8/1945, chính quyền toàn quốc đã vào trong tay Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam. Toàn dân tộc đúc thành một khối, ủng hộ chính quyền mới. Thể lòng dân, nhà vua cũng vui lòng thoái vị, nhường quyền cho Chính phủ nhân dân lâm thời.

Phong trào cứu quốc cao vọt. Các tầng lớp nhân dân sôi nổi một bầu nhiệt huyết. Ai nấy đều sẵn sàng đáp lại lời kêu gọi của Chính phủ nhân dân lâm thời, sẵn sàng đứng dậy chống ngoại xâm, phá âm mưu khôi phục nền thống trị của Pháp.

Chính phủ lâm thời VNDCCHChính phủ lâm thời nước VNDCCH

Nhiệm vụ của Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam hết sức nặng nề. Làm sao cho Chính phủ lâm thời tiêu biểu được Mặt trận dân tộc thống nhất một cách rộng rãi và đầy đủ. Bởi vậy, tuân theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Uỷ ban dân tộc giải phóng đã quyết định tự cải tổ, mời thêm một số nhân sĩ tham gia Chính phủ đặng cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề mà quốc dân giao phó cho.

Chính phủ lâm thời không phải là Chính phủ riêng của Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) như có người đã lầm tưởng. Cũng không phải là một chính phủ chỉ bao gồm đại biểu của các chính đảng. Nó thật là một chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể, đợi ngày triệu tập được Quốc hội để cử ra một Chính phủ dân chủ cộng hòa chính thức.

Hỡi quốc dân đồng bào !

Vận mệnh ngàn năm của dân tộc ta đang quyết định trong lúc này đây. Toàn thể quốc dân hãy khép chặt hàng ngũ, đứng dưới lá quốc kỳ, làm hậu thuẫn cho Chính phủ lâm thời, đặng nắm chắc tự do, độc lập, cải tạo Tổ quốc bấy nhiêu lâu đã bị bọn giặc nước tàn phá.

Cuộc tranh đấu cho “độc lập, tự do, hạnh phúc” của dân tộc đang tiếp tục, bước đường giải phóng dân tộc còn nhiều chông gai, hiểm trở. Quốc dân hãy sẵn sàng nghe hiệu lệnh của Chính phủ, hy sinh phấn đấu để bảo vệ nền độc lập hoàn toàn.

Khẩu hiệu của chúng ta lúc này là:

Toàn dân đoàn kết !
Tranh thủ hoàn toàn độc lập !

Một dân tộc có những trang lịch sử oanh liệt phải được quyền sống chính đáng. Một dân tộc đã góp một phần xương máu vào cuộc chiến tranh chống phát-xít xâm lược trong mấy năm nay, phải được độc lập tự do.

Đoàn kết phấn đấu, nhất định chúng ta sẽ thành công.

Ngày 27/8/1945
CHÍNH PHỦ LÂM THỜI
NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

1. Sau khi giành được chính quyền, Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt nam tự cải tổ, thâu nạp thêm một số nhân sĩ vô đảng phái vào và rút bớt người của Việt minh ra để thành lập Chính phủ lâm thời có tính chất toàn dân đoàn kết.

Bản tuyên cáo này phát ra khi Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam vừa cải tổ. Một tang chứng tỏ rõ Việt minh không giành chính quyền cho riêng mình. Việt minh lãnh đạo nhân dân giành chính quyền cho nhân dân. Sau khi chính quyền vào tay nhân dân rồi, Việt minh vui vẻ mời những bậc ái quốc, những người thật tâm yêu nước cùng mình gánh việc nước. Thái độ chân chính của Việt minh đã được đồng bào nhiệt liệt tán thưởng. Nó đã giúp một phần lớn cho mặt trận dân tộc thống nhất giành quyền độc lập ngày một rộng rãi và vững vàng thêm.

(Theo Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, 2006).
bee.net.vn

Nhìn lại Chính phủ Liên hiệp kháng chiến VNDCCH 2/3/1946

 – Nhiệm vụ của Chính phủ Liên hiệp kháng chiến vô cùng nặng nề: ứng phó với kẻ thù, thống nhất quốc dân, động viên nhân lực, tài sản quốc dân chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp.

Ngày 6/1/1946, lần đầu tiên cuộc tổng tuyển cử tự do được tổ chức trên toàn quốc trong không khí náo nức phấn khởi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam ra đời. Ngày 2/3/1946, Quốc hội khoá I đã tiến hành  kỳ họp thứ nhất tại Thủ đô Hà Nội, bầu ra Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chính phủ liên hiệp kháng chiến ra mắtChính phủ liên hiệp kháng chiến ra mắt 2/3/1946

Quốc hội trao cho Chính phủ Liên hiệp kháng chiến nhiệm vụ “thực hiện triệt để sự thống nhất các lực lượng của quốc dân về phương diện quân sự, tuyên truyền, hành chính, tư pháp”, tổng động viên nhân lực và tài  sản của quốc gia theo nhu cầu của tình thế để đưa kháng chiến đến thắng lợi và nước nhà đến độc lập hoàn toàn.

Trong thời gian hoạt động của mình, ở tình thế thù trong giặc ngoài, Chính phủ đã có những quyết sách và hành động đúng đắn, sáng tạo. Để đối phó với quân Tưởng, Chính phủ đã cử phái đoàn Việt Nam gồm 5 thành viên là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Tường Tam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh, Chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội Võ Nguyên Giáp và Phó chủ tịch Kháng chiến Ủy viên hội Vũ Hồng Khanh ký với Pháp Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 đồng ý cho 15.000 quân Pháp thay thế cho 20 vạn quân Tưởng ở miền Bắc.

Sau đó, Chính phủ thay mặt quốc dân đàm phán với Pháp tại Hội nghị Đà Lạt, Hội nghị Fontainebleau và ký với Pháp bản Tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946, tạo sự hòa hoãn tạm thời để kiện toàn lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ.

Ngày 9/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố bản Hiến pháp đầu tiên của nước VNDCCH.

Danh sách thành viên

Chủ tịch: Hồ Chí Minh
Phó Chủ tịch: Nguyễn Hải Thần
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Nguyễn Tường Tam
Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Huỳnh Thúc Kháng
Bộ trưởng Bộ Kinh tế: Chu Bá Phượng
Bộ trưởng Bộ Tài chính: Lê Văn Hiến
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Phan Anh
Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm Y tế, Cứu tế và Lao động: Trương Đình Tri
Bộ trưởng Bộ Giáo dục: Đặng Thai Mai
Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Vũ Đình Hoè
Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính: Trần Đăng Khoa
Bộ trưởng Bộ Canh nông: Bồ Xuân Luật (đến 4-1946)
Huỳnh Thiện Lộc  (từ 4-1946)
Đoàn Cố vấn tối cao:  Vĩnh Thụy
Chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội: Võ Nguyên Giáp

(Theo Chinhphu.vn)

1. Chủ tịch: Hồ Chí Minh (xem kỳ trước)

2. Phó Chủ tịch: Nguyễn Hải Thần (xem kỳ trước)

3. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Nguyễn Tường Tam

Nguyễn Trường Tam

Nguyễn Trường Tam (1905-1963)

Nguyễn Tường Tam (1905-1963), quê ở làng Cẩm Phổ, Hội An, Quảng Nam. Ông được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao từ 02/03/1946 đến 03/11/1946 trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến. Ông cũng tham gia Quốc hội khóa I đặc cách không qua bầu cử.

Ngoài ra, ông từng là chủ bút những tờ báo lớn như Phong Hóa, Ngày Nay… Ông là người thành lập nhóm văn chương Tự Lực Văn Đoàn và là cây bút chính của nhóm với bút danh Nhất Linh.

4. Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Huỳnh Thúc Kháng

Huỳnh Thúc Kháng

Huỳnh Thúc Kháng

Huỳnh Thúc Kháng (1876–1947) là người làng Thạnh Bình, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Năm 1926, ông đắc cử dân biểu rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kì. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ông ra tham gia nội các Chính phủ Liên hiệp kháng chiến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Năm 1946, Huỳnh Thúc Kháng được cử làm quyền Chủ tịch nước. Thời gian này ông còn là Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Liên Việt). Cuối năm 1946, ông là đặc phái viên của Chính phủ vào cơ quan Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ tại Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.

5. Bộ trưởng Bộ Kinh tế: Chu Bá Phượng

Chu Bá Phượng là đại biểu Việt Nam Quốc dân đảng, được cử làm Bộ trưởng Bộ Kinh tế trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, thay Nguyễn Tường Long trong Chính phủ Liên hiệp Lâm thời. Ngày 4/6/1946, ông được Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa cử làm phái viên trong phái đoàn Việt Nam sang Paris.

6. Bộ trưởng Bộ Tài chính: Lê Văn Hiến (xem kỳ trước)

Ông Lê Văn Hiến trong hai Chính phủ Lâm thời 2/9/1945 và Chính phủ Liên hiệp Lâm thời 1/1/1946 giữ chức Bộ trưởng Bộ Lao động, nay chuyển sang làm Bộ trưởng Bộ Tài chính.

7. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Phan Anh

Phan Anh

Phan Anh (1912-1990)

Phan Anh (1912-1990) quê làng Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là luật sư nổi tiếng, được cử làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngoài ra, ông được Chính phủ giao chức Tổng thư ký phái đoàn Chính phủ Việt Nam (1946), Bộ trưởng Bộ Kinh tế (1948), Bộ trưởng Bộ Công thương (1954) và là phái viên phái đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Genève (1954).

Sau năm 1954, ông liên tục giữ các chức vụ Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Bộ trưởng Bộ Thương nghiệp, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương trong Chính phủ Việt Nam, Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam. Từ năm 1988, ông giữ cương vị phó Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

8. Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm Y tế, Cứu tế và Lao động: Trương Đình Tri

Bác sĩ Trương Đình Tri làm Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ Xã hội kiêm Y tế, Cứu tế và Lao động tròng Chính phủ Liên hiệp Lâm thời 1/1/1946 và Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến 2/3/1946.

9. Bộ trưởng Bộ Giáo dục: Đặng Thai Mai

Đặng Thai Mai

Đặng Thai Mai (1902-1984)

Đặng Thai Mai (1902-1984) quê ở làng Lương Điền (nay là Thanh Xuân), huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Năm 1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khoá I, Ủy viên Ban dự thảo Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời là Bộ trưởng Bộ giáo dục trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến.

Đặng Thai Mai cũng là nhà nghiên cứu phê bình văn học. Ông là Hội trưởng Hội văn hóa Việt Nam, Giám đốc Trường dự bị đại học và Sư phạm cao cấp Liên khu IV, Giám đốc trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện trưởng Viện Văn học, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

10. Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Vũ Đình Hoè (xem kỳ trước)

Ông làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục từ tháng 2/9/1945 đến tháng 1/1/1946, rồi làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp từ 2/3/1946 đến 15 năm sau.

11. Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính: Trần Đăng Khoa

Trần Đăng Khoa (1907-1989)  quê ở ngoại ô thành phố Huế. Sau Cách mạng tháng Tám, ông được giao nhiều chức vụ quan trọng: Giám đốc Công chính Trung bộ, Bộ trưởng Bộ Giao thông – Công chính (từ tháng 3/1946  đến tháng 9/1955), Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi và Kiến trúc, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi.

Ông là đại biểu Quốc hội liên tục từ khoá I đến khóa VII, Phó Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV, V, VI, là Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt – Xô trong nhiều năm.

12. Bộ trưởng Bộ Canh nông:

– Bồ Xuân Luật (2/3/1946 đến 4/1946)

Bồ Xuân Luật

Bồ Xuân Luật (1907-1994)

Bồ Xuân Luật (1907-1994) quê ở xã Ngô Quyền, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Sau khi Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến thành lập, Bồ Xuân Luật được Hồ Chủ Tịch giao cho giữ chức Bộ trưởng Bộ Canh nông, sau này là Bộ trưởng không Bộ, Ủy viên Thường vụ Quốc hội từ khóa I đến khóa IV, Ủy viên Ủy ban Trung ương và Ủy viên Ban thư ký Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (I, II, III).

– Huỳnh Thiện Lộc (từ 4/1946)

Huỳnh Thiện Lộc (1910-1952) sinh ra tại Rạch Giá, miền Tây Nam Bộ. Tháng 1/1946, là một trí thức, ông được Chính phủ Cách mạng chọn vào đoàn đại biểu Quốc hội. Tháng 4/1946, ông được Chính phủ bổ nhiệm chức vụ Bộ trưởng Canh nông trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến và được chọn vào phái đoàn đi dự Hội nghị Fontainebleau ở Pháp. Năm 1947, ông được bổ nhiệm chức vụ Ủy viên Ủy ban kháng chiến Hành chính Nam Bộ, kiêm Phó Chủ tịch Hội Liên Việt Nam Bộ. Năm 1952, ông ngã bệnh và một thời gian sau ông qua đời.

13. Cố vấn Vĩnh Thụy

Vĩnh Thụy

Vĩnh Thụy (1913-1997)

Vĩnh Thụy (1913-1997) là tên húy của vua Bảo Đại – vị Hoàng đế thứ mười ba và cuối cùng của triều Nguyễn. Tháng 9 năm 1945, ông được Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mời ra Hà Nội nhận chức “Cố vấn tối cao Chính phủ Lâm thời Việt Nam”, ông là một trong 7 thành viên của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Hồ Chí Minh đứng đầu.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đại diện đoàn cố vấn tối cao trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến.

15. Chủ tịch Kháng chiến ủy viên hội Võ Nguyên Giáp (xem kỳ trước)

LỜI TUYÊN THỆ NHẬM CHỨC
CỦA CHÍNH PHỦ DO HỒ CHỦ TỊCH ĐỌC NGÀY 2-3-1946
Chúng tôi, Chính phủ Kháng chiến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Tối cao cố vấn đoàn và Uỷ viên Kháng chiến hội, trước bàn thờ thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội, thề xin cương quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền dân chủ cộng hoà Việt Nam, mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Trong công việc giữ gìn nền độc lập, chúng tôi quyết vượt mọi nỗi khó khăn dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ.

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2002, t. 4, xuất bản lần thứ hai, tr. 195.

Ngọc Ánh (Tổng hợp từ chinhphu.vn/quochoi.vn/ các báo, tạp chí và website Việt Nam)
bee.net.vn

Chính phủ 1945 của Cụ Hồ bắt đầu từ đâu?

– Được thành lập trong “một cái nháy mắt của lịch sử”, chính quyền Việt Nam non trẻ đã đứng vững trong cuộc đối chọi được với quân Tàu Tưởng ở miền Bắc, quân Anh – Pháp ở miền Nam. Đó cũng là nhờ những tinh hoa nước Việt đã theo Cụ Hồ gánh vác những trọng trách trong thời điểm ngàn cân treo sợi tóc.

“Trí thức hoá” nội các

Điều hành guồng máy Đảng giành và giữ chính quyền trong thế “đơn thương độc mã” (essentially alone – chữ dùng của học giả David Marr – chưa nhận được ủng hộ từ khối Xô viết) là Ban thường vụ Trung ương bốn người, do Cụ Hồ đứng đầu. Ba uỷ viên Thường vụ còn lại là Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Võ Nguyên Giáp lại chính là nòng cốt của “nhóm Le Travail”, nổi tiếng thời kỳ Mặt trận bình dân 1936 – 1939 vì tờ báo cách mạng tiếng Pháp cùng tên.

Một số thành viên nữa của nhóm Le Travail, như Đặng Thai Mai, Khuất Duy Tiến, Phan Anh… dưới bàn tay dụng nhân của Hồ Chí Minh sẽ xuất hiện trong thành phần nội các ở những thời điểm khác trong năm đầu của nền dân chủ cộng hoà này.

Đêm đầu tiên của ông Ké Tân Trào – Hồ Chí Minh ở Hà Nội 25 tháng 8, một danh sách nội các đã đợi Người trên bàn. Danh sách này đã đăng trên tờ Cứu quốc, ra ngày hôm trước. Nhưng, Cụ Hồ đã không ngại ngần “rút” khỏi đó năm lãnh tụ cộng sản, thay vào đó là các nhân sĩ nổi tiếng.  Thế là trong số 15 bộ trưởng, chỉ còn 6 người là đảng viên CSĐD.

Trường Thăng Long… “đào tạo” Bộ trưởng?

Trong ảnh chụp chính phủ ra mắt đầu tiên, dân chúng thấy có ba thầy giáo trường Thăng Long: Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Hoè, Hoàng Minh Giám. Đây là những những đại diện nòng cốt của khối giáo viên và học sinh trường Thăng Long mà  tuyệt đại đa số đã đi theo cách mạng từ trước đó, thời tiền khởi nghĩa. Người dân sẽ nhận thấy thầy Nguyễn Dương làm Tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam (từ tháng 2/1946); thầy Trịnh Văn Bính Thứ trưởng Bộ Tài chính (từ 11/1946), thầy Vũ Bội Liên (con tuần phủ thời) cán bộ Bộ Tư pháp, hy sinh ngay từ đầu kháng chiến chống Pháp…

Chính phủ lâm thời nước VNDCCHChính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Mái trường Thăng Long từng âm thầm chứng kiến sự ra đời và lớn mạnh của nhóm Le Travail trẻ (JC: Jeunese communiste), Đoàn thanh niên dân chủ, Đoàn thanh niên phản đế, Đoàn thanh niên cứu quốc… trong từng bước đi tới cách mạng tháng Tám. Nay nhiều cựu học sinh Thăng Long sẽ giúp tạo trụ cột của chính quyền mới, vào các ngành Nội vụ, Tư pháp, Cảnh sát, Thuế quan, quân đội… Báo Cứu quốc (15/10/46) báo tin Lý Chính Thắng bị Pháp giết dã man. Một cựu học sinh Thăng Long khác, Lê Trung Toản, chỉ huy Trung đoàn Thủ đô phòng thủ Hà Nội cuối 1946…

Tài đức “dành trợ dân này”

Một nhà đại trí thức gần gũi với nhóm trí thức Thăng Long là Nguyễn Văn Tố, Hội trưởng Hội truyền bá Quốc Ngữ, cũng được mời vào nội các. Đó là vị bộ trưởng đầu tiên, Chủ tịch quốc hội đầu tiên của Việt Nam, hy sinh trong kháng chiến.

Từ đầu năm 1946, chính phủ Cụ Hồ được bổ sung thêm các trí thức Việt Minh Nam Bộ, để Chính phủ có thể điều hành cả một nửa kia của “sơn hà nguy biến”. Những tên tuổi Ca Văn Thỉnh, Phạm Ngọc Thạch, Phạm Văn Bạch, Trần Văn Giàu… đã lập tức hoà vào guồng máy việc công ở Hà Nội, chống thế “ngàn cân treo sợi tóc”.

…Một ngày giữa năm 1946, ông Võ Nguyên Giáp ghi vào kế hoạch công tác “(Nhớ) hỏi anh Bửu những người tài”.

Tạ Quang Bửu từng tu nghiệp ở các Đại học Sorbonne, Paris, Bordeaux, Oxford.

“Thanh niên tiền tuyến” thành tướng lĩnh cách mạng

Đồng Tổng Hướng đạo sinh Đông Dương Tạ Quang Bửu và Bộ trưởng Thanh niên của chính phủ Trần Trọng Kim, ông Phan Anh lập ra trường Thanh niên tiền tuyến vào tháng 5/1945. Không hẹn mà nên, cùng lúc với Trường quân chính kháng Nhật huấn luyện cán bộ quân sự cách mạng.

Trưa 21 tháng 8/1945 hai học viên Trường Thanh niên tiền tuyến, trước mắt hàng ngàn dân Kinh đô Huế, đã hạ cờ quẻ ly của triều Nguyễn, treo cờ đỏ sao vàng lên Kỳ đài tại Ngọ Môn, như hồi chuông đầu “nguyện hồn” nền quân chủ một ngàn năm. Đó là các ông Đặng Văn Việt, ba năm sau sẽ khét tiếng là “Hùm xám trên đường số 4”, Cao Pha – một cán bộ quân báo đầu tiên, một anh hùng Điện Biên Phủ.

Những người lãnh đạo Thanh niên Tiền tuyến từ đầu đã để cho Việt Minh thâm nhập vào tổ chức của họ. Kết quả Cụ Hồ có thêm những chỉ huy quân sự đầu tiên xuất thân từ tầng lớp trên. Người dân đau đớn nghe tin con trai học giả Lê Thước, Lê Thiệu Huy – tham mưu trưởng liên quân Việt Lào đã hy sinh 26/3/46, khi tháp tùng Hoàng thân Souphanouvong. Nếu lực lượng học viên Iunker lập ra Bạch vệ, quyết liệt chống chính quyền xô viết, thì nhiều học sinh sĩ quan Trường “Thanh niên tiền tuyến” lại trở thành những tướng lĩnh cách mạng thông thái mà dày dạn trận mạc, như Cao Văn Khánh, Mai Xuân Tần, Đoàn Huyên, Phan Hạo, Tôn Thất Hoàng…

Một đồng Tổng Hướng đạo sinh nữa là nhà văn hoá Hoàng Đạo Thuý. Ngay sau Lễ tuyên ngôn Độc lập, ông được Hồ Chí Minh triệu tập để thành lập ra binh chủng đầu tiên của Quân đội Việt Nam – Thông tin Liên lạc. Một sĩ quan tham mưu đầu tiên, ông Trần Trọng Trung, nhớ mãi hình ảnh các đội mô tô đeo thẻ bài “Hoả tốc”, phóng xuống các vùng nông thôn xa chuyển phát các công văn mật, khẩn cấp của việc quân. Họ do một trí thức ngoài Đảng, ông Phạm Thành Vinh, lúc đó là Chánh văn phòng Bộ Quốc phòng, chỉ huy.

Tướng tình báo do phương Tây đào tạo

Năm 1950, giới thiệu Hoàng Đạo Thuý, tư lệnh thông tin, với tướng Trần Canh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho vị cố vấn Trung quốc này “choáng”. “Đồng tử quân (Hướng đạo sinh) phục vụ thông tin cho chiến dịch ư?” Trần Canh hỏi lại, vì Đồng tử quân ở Trung Quốc là lực lượng phản cách mạng. “Nhà chú” (Trung Quốc) không hiểu nổi đâu. Đây là Đồng tử quân Việt Nam mà”, Cụ Hồ đáp.

Lãnh đạo chủ chốt của công an, tình báo, an ninh đầu tiên của Việt Nam là do… tình báo phương Tây đào tạo. Khoảng năm 1944 Lực lượng nhiệm SOE của Anh, có “sáng kiến” đào tạo các tù cộng sản Việt Nam, bị Pháp giam ở hải ngoại, để tung vào hậu phương phát xít Nhật. Một số đảng viên đã tương kế tựu kế, dùng vỏ bọc này để mang vũ khí, khí tài, và nhất là kiến thức tình báo về phục vụ cách mạng.

Đó là các ông Lê Giản, phó giám đốc Sở Liêm phóng (Công an) Bắc Bộ đầu tiên; Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi), trong ảnh Chính phủ liên hiệp kháng chiến 1946 là thứ trưởng Nội vụ; Nguyễn Văn Ngọc, Giám đốc Sở Trinh sát Trung Bộ đầu tiên; Trần Hiệu, phó Giám đốc Sở CA Bắc Bộ, Hoàng Đình Rong (Vũ Đức), chỉ huy quân sự hy sinh ở Nam Bộ đầu kháng chiến. Đây là hiện tượng vô song trong lịch sử, vì các tình báo viên do phía đối phương đào tạo thường không thể trở thành lãnh đạo chủ chốt về an ninh, tình báo…

Cách dùng người như thế chỉ thấy ở Hồ Chí Minh.

Bộ trưởng không lương, nhận phụ cấp “cơm chan nước mắm”

Tri thức, tình yêu nước và biết “ăn cơm nhà vác ngà voi” có lẽ là những điều kiện cần để trí thức trở thành thành viên của chính quyền đầu tiên của nước Việt Nam DCCH. Hồi ký của các bậc lão thành cho biết “bữa ăn cơ quan” năm 1946 chỉ có cơm chan nước mắm, mà cũng không đủ.

Ông Nguyễn Mạnh Hà, Bộ trưởng Kinh tế đầu tiên, người Công giáo, nhớ lại trong những ngày nước sôi lửa bỏng 1946, Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh và Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp từng có những lần chạy ào qua nhà ông, xem “còn cơm nguội không”… Nhưng trong kế hoạch làm việc năm 1946 của lãnh đạo ngành Nội vụ và LLVT Võ Nguyên Giáp, đã đôi ba lần xuất hiện câu: “(Lo) phụ cấp cho nhân viên cơ quan”.

Lê Đỗ Huy
bee.net.vn

Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam DCCH qua ảnh

 – Ngày Độc lập huy hoàng 2/9/1945, Chính phủ Cách mạng Lâm thời nước Việt Nam DCCH ra mắt nhân dân Việt Nam trong sự chào đón nô nức. Nhưng sau độc lập là bộn bề công việc, và Chính phủ non trẻ ngay lập tức bắt tay vào xây dựng chính quyền, ổn định cuộc sống người dân, với các hoạt động sáng tạo và thiết thực như “Tuần lễ Vàng”, tổ chức đào tạo cán bộ Bình dân học vụ, phát động phong trào tiễu trừ giặc đói…

Bee.net.vn tổng hợp một số hình ảnh về Ngày Độc lập 2/9/1945, và các hoạt động khẩn trương của Chính phủ đầu tiên.

1. Ảnh Xe loa phát lệnh Tổng khởi nghĩa tại Hà Nội, tháng 8/1945. Lệnh phát ra đúng thời cơ, đúng với lòng người dân đang náo nức vùng lên. Ngày 19/8/1945, Hà Nội giành chính quyền đầu tiên trong cả nước, khuấy động làn sóng nổi dậy khắp toàn quốc.

2. 2/9/1945 – “Người đứng trên đài, lặng phút giây/ Trông đàn con đó, vẫy hai tay/ Cao cao vầng trán… Ngời đôi mắt/ Độc lập bây giờ mới thấy đây!” – Tố Hữu.

3. Những hình ảnh sáng ngày 2/9/1945 sẽ mãi đi vào lịch sử như một dấu son chói lọi cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc của dân tộc, là một phần quan trọng trong lịch sử của Việt Nam. Ảnh quang cảnh Lễ duyệt binh tại quảng trường Ba Đình, 2/9/1945.

4. Bản “Tuyên ngôn độc lập” được Hồ Chí Minh đọc trong ngày Quốc khánh của dân tộc. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

5. Chính phủ họp phiên đầu tiên, ngày 3/9/1945, bàn 6 vấn đề cấp bách: chống đói; xóa mù chữ; Tổng tuyển cử và Hiến pháp; giáo dục cần – kiệm – liêm – chính; bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò; tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo.

6. Chính phủ Việt Nam lâm thời sau phiên họp Chính phủ đầu tiên, ngày 3/9/1945.

7. Đề ra chương trình Tuần lễ Vàng 17-24/9/1945, Chính phủ đã huy động được sự ủng hộ lớn của nhân dân, nhân dân đã góp tổng cộng quyên góp được 20 triệu đồng và 370 kg vàng. Trước đó, sau khi giành chính quyền, quốc khố chỉ có 1,2 triệu đồng. Trong ảnh là những người giàu có xếp hàng trên phố Tràng Tiền đến nơi quyên góp, 16/9/1945

8. Ngày 27/9/1945 diễn ra Đại hội Thanh niên Cứu quốc. Các nhiệm vụ được đặt ra cho thanh niên là: Chuẩn bị luôn luôn: một mặt ủng hộ cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, một mặt chuẩn bị chiến đấu ở Trung và Bắc Bộ; Cứu đói: mang gạo từ chỗ có đến chỗ không có; Quyên gạo, khuyến nông, không để thừa một tấc đất hoang nào; Chuẩn bị Tổng tuyển cử: tuyên truyền cho nhân dân hiểu rõ bổn phận của mình trong cuộc Tổng tuyển cử.

9. Hồ Chủ tịch đang trao đổi với những người tham dự khai mạc “Triển lãm Văn hóa”  tổ chức tại trụ sở cũ của hội Khai trí Tiến Đức (16 Lê Thái Tổ, Hà Nội) ngày 7/10/1945. Bộ Thông tin Tuyên truyền của Nhà nước Việt Nam trẻ tuổi đứng ra tổ chức, Hội Văn hóa Cứu quốc với những văn nghệ sĩ tên tuổi chủ trì. Triển lãm đã giới thiệu những hình ảnh, hiện vật về cuộc cách mạng nước ta, các bản nhạc, sách báo cách mạng; tranh, tượng mỹ thuật của các họa sĩ nổi tiếng của Việt Nam thời kỳ đó.

10. Lễ khai giảng lớp đầu tiên đào tạo cán bộ phụ trách Bình dân học vụ các tỉnh Bắc Bộ tổ chức tại Hà Nội, ngày 8/10/1945. Tại buổi lễ, Hồ Chí Minh nói: “Chống nạn thất học cũng quan trọng như chống ngoại xâm”.

11. Ngày tiễu trừ giặc đói xuất phát từ Nhà hát lớn Hà Nội,11/10/1945. “Tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo” – Hồ Chí Minh.

12. Lễ xuất phát Đội tuyên truyền xung phong tại Nhà hát Lớn Hà Nội ngày 20-10-1945. Đội tuyên truyền được Hồ Chủ tịch căn dặn là cần hiểu mục đích công việc và lên kế hoạch trước, nhẫn nại, không quan cách, nói năng giản dị.

13. Chính phủ gấp rút tổ chức chuẩn bị Tổng tuyển cử trong cả nước, ngày 6/1/1946, lần đầu tiên người dân Việt Nam được cầm lá phiếu để bầu ra những vị lãnh đạo của đất nước. Ảnh nhân dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử Đại biểu Quốc hội tại Hà Nội.

Duyên Anh – Diệu Thủy (Tổng hợp)
bee.net.vn

Vị Bộ trưởng từng thay mặt Cụ Hồ điều hành việc nước

– “Con người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao”- đó là lời đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cụ Huỳnh Thúc Kháng cố Bộ trưởng Nội vụ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Công hoà và Chủ tịch Hôị Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, được viết trong thư đề ngày 29/4/1947 “Gửi toàn thể đồng bào sau ngày cụ Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng tạ thế”.

Cũng trong lá thư này, Bác Hồ còn giành những lời lẽ hết sức trân trọng để đưa ra trước toàn thể đồng bào một tấm gương sáng : “vì lòng yêu nước mà trước đây cụ bị bọn thực dân làm tội, đầy ra Côn Đảo. Mười nấy năm trường gian nan cực khổ. Nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của cụ Huỳnh chẳng những không sờn lại thêm kiên quyết”.

Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập.

Đến ngày nước Việt Nam Dân chủ Công hoà thành lập, Chính phủ ta mời cụ ra. Tuy đã hơn 71 tuổi nhưng cụ vẫn hăng hái nhận lời. Cụ nói: “Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, gái, trai, ai cũng phải ra phụng sự Tổ quốc”.

Kết thúc bức thư này, Chủ tịch Hồ Chi Minh còn kêu gọi đồng bào “đồng thanh thề trước tiên linh của cụ  Huỳnh rằng: Đồng bào Việt Nam cương quyết theo gương kiên quyết của cụ, tinh thần kháng chiến của cụ Huỳnh sống mãi…”

Làm Bộ trưởng tuổi “cổ lai hy”

Vậy mà, cụ Huỳnh mới thực sự cộng tác với cách mạng mới hơn một năm. Mùa Xuân 1946, đất nước đã độc lập, chính phủ cách mạng đã thành lập, nạn đói đã tạm được khắc phục nhưng cách mạng đang đứng trước vô vàn thử thách. Thực dân Pháp đã  nổ súng xâm lược và đang mở rộng chiến tranh ở Nam Bộ, thực dân Pháp đang gây sức ép tạo cớ để gây hấn ở Bắc và Trung bộ. Quân đội Tưởng Giới Thạch kéo theo những tổ chức tay sai đang tạo ảnh hưởng để giành đoạt quyền lực, thủ tiêu những thành quả cách mạng…

Hơn lúc nào hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương phải củng cố sức mạnh của cách mạng và chính quyền cách mạng bằng việc mở rộng hơn nữa khối đoàn kết của toàn dân. Vì lợi ích của Tổ quốc và sự tồn vong của chế độ, vị Chủ tịch nước đồng thời cũng là người lãnh đạo cao nhất của Đảng cộng sản và Mặt trận Việt Minh đã đưa ra những quyết sách sáng suốt và dũng cảm.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng (chống gậy). Ảnh Pháp luật TP.HCMCụ Huỳnh Thúc Kháng (chống gậy). Ảnh Pháp luật TP.HCM

Tháng 11/1945, Đảng Công sản Đông Dương tuyên bố “tự giải tán” mà thực chất là rút vào hoạt động không công khai; cuộc Tổng tuyển cử đã bầu ra Quốc hội  khoá đầu tiên nhưng giành riêng 72 ghế để những đảng phái “đối lập” đuợc tham gia không cần qua bầu cử;  bằng các giải pháp ngoại giao táo bạo để phân hoá các thế lực nước ngoài đang có mặt ở nước ta, chủ yếu là thực dân Pháp và quân phiệt Trung Hoa; tiến tới cải tổ và mở rộng Mặt trận Việt Minh thành Mặt trân Liên Hiệp Quốc dân…

Chính vào bối cảnh ấy, cụ Huiỳnh Thúc Kháng xuất hiện trên chính trường khi đã bước vào tuổi “cổ lai hy”. Quả thật, vào thời điểm ấy ít ai nghĩ rằng nhà chí sĩ đất Quảng, họ Huỳnh lừng danh một thời có thể tham chính và cộng tác với một chính quyền cách mạng mà ai cũng biết rằng hạt nhân lãnh đạo lại là những người cộng sản. Bởi lẽ, mọi nguời đều biết tới cụ Huỳnh thời trai trẻ đã là một trong những vị khoa bảng (đỗ phó bảng cùng khoa với cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh) sớm có tư tưởng canh tân và yêu nước.

Năm 1904, vừa đỗ phó bảng, Huỳnh Thúc Kháng đã từ bỏ quan trường theo 2 người đồng chí hướng nổi tiếng của mình là Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp vào tận Cam Ranh để quan sát đoàn tàu chiến của hạm đội Nga ghé qua trên đường sang tham chiến cuộc chiên tranh với nước Nhật. Chính vào thời điểm này, ba nhà nho xứ Quảng đã tuyên ngôn chí hướng :”Hỡi người trí thức kia ơi – Quăng mũ đi, vứt bút đứng lên- Đừng cam chịu tiếng ươn hèn- HơI tàn còn thở chớ quên phục thù” (Lương ngọc danh sơn phú).

Kể từ đó, cả ba bước vào con đường hoạt động chính trị mưu cầu sự giải phóng cho dân tộc. Sau cao trào Duy Tân và kháng thuế ở mền Trung, cả ba đều bị thực dân và Nam triều đàn áp. Trần Quý Cáp lên đoạn đầu đài, Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng đều bị đầy ra Côn Đảo. Kể từ đó hai người đồng chí chọn cho mình những con đường khác nhau nhưng cùng một đích là cứu nước. Và trên con đường của mình cả hai đều gặp một người. Người đó là Nguyễn Ái Quốc lại cũng chính là con của người môn sinh cùng đỗ phó bảng là Nguyễn sinh Sắc.

Năm 1911, Phan Châu Trinh qua Pháp rồi sau đó có một thời gian gần gũi với Nguyễn Ái Quốc để cuối đời gửi gấm tiền đồ đất nước vào người bạn trẻ vong niên :”Anh như cây đương lộc, tôi tin rằng cái chủ nghĩa anh tôn thờ sau này sẽ thâm căn cố đế trong đám dân tính chí sĩ nước ta”  (Thư gửi Nguyễn Ái Quốc 1922).

Còn với Huỳnh Thúc Kháng, sau 13 năm lưu đầy, từ Côn Đảo trở về đất liền (1921), cụ chọn cho mình hoạt động chính trường công khai. Cụ tham gia Viện Dân biểu Trung kỳ, ra tờ báo “Tiếng Dân” với hy vọng có thể đòi hỏi cho người dân những quyền tự do trong khuôn khổ của chế độ thuộc địa. Những cố gắng của cụ có thể mang lại một vài cải cách nhỏ giọt của giới cầm quyền thực dân  nhưng tình cảnh “vạn dân nô lệ cường quyền hạ” vẫn còn nguyên.

Lại phải nói thêm rằng, cao trào cách mạng do Đảng cộng sản mới ra đời phát động vào năm 1930-1931, sôi nổi nhất cũng trên mảnh đất miền Trung vẫn không kéo nổi cụ Huỳnh ra khỏi con đường  vận động cải cách,  và tránh bạo lực của cụ Huỳnh. Cũng chính trong thời gian này, do hạn chế về nhận thức, cụ Huỳnh còn viết nhiều bài báo phản bác phương pháp đấu tranh của những người cộng sản. Trong một số văn kiện của  Đảng Cộng sản đương thời đã từng phê phán đuờng lối của Huỳnh Thúc Kháng là có hại cho cách mạng…

Vậy mà, khi cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh với niềm tin vào tinh thần yêu nước là động lực mạnh mẽ nhất của dân tộc luôn mở rộng khối đoàn kêt để thu hút mọi lực lượng vào hàng ngũ cách mạng. Vì vậy, vị Chủ tịch nước Việt Nam độc lập không quên cử người vào tận miền Trung vời cụ Huỳnh ra làm việc nước. Cụ Huỳnh ý thức được niềm hạnh phúc hơn những người đồng chí đã khuất như Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh  hay Phan Bội Châu vì đã được chứng kiến ngày đất nước độc lập. Cụ Huỳnh đã cảm khái viết: “Sướng ơi là sướng, thoát thân nô mà làm chủ nhân ông – Vui thật là vui, đổi quyền vua mà làm dân quốc mới” . Nhưng cụ vẫn tự cho mình là  lớp người đã lỗi thời  mà xa lánh chính trường.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Bộ trưỏng Nội vụ đầu tiên của Nhà nuớc Cách mạng đã thuật lại trong hồi ký của mình cái bước ngoặt đẹp đẽ trong cuộc đời của một con người gắn với một thời thời kỳ thử thách của cách mạng :

“Tôi được biết cụ Huỳnh từ hồi còn làm báo “Tiếng Dân” ở Huế. Cụ là một nhà nho có tinh thần yêu nước cao, có khí tiết nhưng chưa hoàn toàn tin tưởng ở đuờng lối cách mạng của Đảng ta. Khi chúng ta cử người tới mời, lúc đầu cụ tỏ ra ngần ngại. Một phần, vì cụ thấy tuổi đã quá cao. Một phần vì cụ chưa hiểu những người lãnh đạo mới “thuộc lớp trẻ” ra sao. Đến lúc nghe nói rõ Hồ Chủ tịch chính là đồng chí Nguyến Ái Quốc, cụ mới quyết định ra Hà Nội… Giây phút gặp gỡ đầu tiên giữa Bác và cụ Huỳnh thật cảm động. Hai người đều bước vội tới, ôm lấy nhau; cả Bác và cụ Huỳnh đã nhắc tới cụ phó bảng ngày xưa… Sau buổi gặp Bác, cụ Huỳnh đã nói với một người bạn :”Dân ta có được cụ Hồ quả là hồng phúc”…”(2)

Và trong ngày ra mắt Chính phủ Liên hiệp 2/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng giới thiệu cụ Huỳnh Thúc Kháng “một người đạo đức danh vọng mà quốc dân ai cũng biết” làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, một vị trí rất quan trọng trong Chính phủ  Liên hiệp Kháng chiến.

Thay mặt Hồ Chủ tịch giải quyết việc nước

Ở vào cương vị ấy, Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng đã làm hết mình phụng sự cho đất nước. Đầu tháng 6/1946, khi lên đường sang Pháp trong một sư mệnh ngoại giao đầy gian khổ và bất trắc, Chủ tịch Hồ Chi Minh đã gửi gấm việc nước cho cuả Huỳnh mà sau 4 tháng trở về đã đánh giá :”Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ  Huỳnh, quyền Chủ tịch, sự săn sóc của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hiệp lực của quốc dân mà giải quyết được nhiều việc khó khăn, công việc kiến thiết cũng tiến bộ”.

Một trong những “việc khó khăn” đã được giải quyết trong thời điểm này chính là việc thẳng tay trừng trị các phần tử phản động trong các tổ chức đối lập quanh vụ án “Ôn Như Hầu”.

Về vụ việc này, hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuật lại rằng sau khi các lực lượng an ninh cách mạng phát hiện và trừng trị những kẻ bắt cóc, tống tiền… các tổ chức đối lập lên khiếu nại chính phủ. Bộ trưởng Nội vụ đang đảm nhận quyền Chủ tịch nước đã hoàn toàn ủng hộ các hành động cứng rắn của chính phủ và tuyên bố trong cuộc họp báo ngày 16/7/1946 :”Đoàn kết là cần để xây dựng nền dân chủ cộng hoà, nhưng không thể vin vào “đoàn kêt” mà làm những điều phi pháp. Tôi khuyên mọi đảng phái, mọi phần tử quốc dân đoàn kết. Nhưng cũng vì quyền lợi quốc gia, tôi phải đem ra trừng trị trước pháp luật những kẻ làm điều phi pháp…”.

Tháng 11/1946, Chính phủ lại cải tổ để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến đã đến gần trước âm mưu khởi hấn của thực dân. Một lần nữa vị  Bác Hồ lại nêu tấm gương sáng :”Kết quả có những vị có tài năng nhận lời mời tham gia chính phủ như cụ Huỳnh Thúc Kháng vì tuổi cao sưc yếu mà cố từ, nhưng vì tôi lấy đại nghĩa mà lưu cụ, cụ cũng gắng ở lại… ai nấy đều hứa cố gắng làm việc một lòng vì nước vì dân”

Và Cụ Huỳnh Thúc Kháng đã cống hiến cho Tổ quốc đến hơi thở cuối cùng.

Tháng 4 tin buồn đến

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19/12/1946), với cương vị Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân cụ viết thư kêu gọi  toàn dân :”Hãy tin tưởng vào cụ Hồ Chí Minh, bậc yêu nước đại chí sĩ, kết chặt chẽ một khối quyêt sống mái với kẻ thù”…

Trên đường thay mặt Chính phủ đi kiểm tra tình hình kháng chiến ở miền Trung, đến Quảng Ngãi, cụ lâm bệnh, biết mệnh của mình khó qua khỏi, Huỳnh Thúc Kháng viết lời “vĩnh qụyết” :”kêu gọi anh em các đảng phái, tôn giáo hãy đặt hết lòng tin tưởng vào Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng xuất chúng, vị anh hùng của dân tộc”như trong lá thư gửi Chủ tịchHồ Chí Minh cụ đã bộc bạch:

“Bốn mươi năm ôm ấp Độc lập và Dân chủ, nay nước đã được độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả”.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng từ trần ngày 21/4/1947 tại Quảng Ngãi. Nỗi thương cảm của nhân dân được Bác Hồ bày tỏ trong bài thơ điếu thống thiết, có đoạn:

“… Tháng Tư tin buồn đến – Huỳnh Bộ truởng đi đâu – Trông vào Bộ Nội vụ – Tài đức tiếc thương nhau – Đồng bào ba chục triệu – Đau đớn lệ rơi châu”.

Dương Trung Quốc
bee.net.vn

Đế quốc Mỹ tội ác tầy trời (10-5-1962)

Sự thật là thế, không phải nói thừa:

Trong lúc đại biểu 17 nước đang họp ở Giơnevơ để bàn cách giải trừ quân bị và cấm bom hạt nhân, thì Mỹ (và Anh) bắt đầu (25-4-1962) thử lại bom hạt nhân, do máy bay từ mấy chục cây số trên trời thả xuống.

Trước đây, Mỹ đã từng thử bom ở xứ Nêvađa, trong nước Mỹ. Lần này, chúng thử ở Thái Bình Dương, cách xa Mỹ hàng ngàn cây số. Vì lần này tia phóng xạ nguy hiểm hơn nhiều.

Các nhà khoa học cho biết: sau cuộc thử bom này, mưa phóng xạ sẽ tràn về phương Nam đến Inđônêxia, ấn Độ, Nam Việt Nam, châu Phi, châu Nam Mỹ… Rồi nó sẽ quay lại các vùng phía Bắc địa cầu.

Giáo sư Pôlinh nói: Ngay sau đợt phóng xạ này, ít nhất sẽ có 286.000 trẻ con mắc bệnh nguy hiểm, và độ 3 triệu trẻ con trong thai mẹ và mới đẻ – sẽ chết ! Đó là chưa kể những tai hại lớn xảy ra sau này.

Thật là tội ác tầy trời!

Có người hỏi: Tháng 9 năm ngoái, Liên Xô cũng thử bom hạt nhân thì sao?

Trả lời: Là một nước xã hội chủ nghĩa, Liên Xô không có một căn cứ quân sự nào ở nước ngoài. Liên Xô không hề đe doạ ai. Liên Xô thử bom chỉ nhằm cảnh cáo bọn đế quốc khiêu khích.

Mỹ là một nước đế quốc chủ nghĩa, có hàng trăm căn cứ quân sự khắp năm châu, đe doạ Liên Xô, đe doạ các nước xã hội chủ nghĩa khác và các dân tộc đang đấu tranh để giành lại độc lập, tự do.

Tháng 11-1961, Liên hợp quốc đưa ra đề nghị cấm vũ khí nguyên tử và hạt nhân. Trong 55 nước tán thành,có Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. 20 nước phản đối, gồm Mỹ, Anh, Pháp và 17 nước thân Mỹ.

Cho đến nay, Liên Xô chỉ thử bom 105 lần.

Mỹ, Anh, Pháp đã thử bom đến 205 lần.

Bom của Liên Xô chỉ cốt để bảo vệ mình và bảo vệ các nước anh em. Cũng như người lương thiện sắm khẩu súng để giữ nhà, giữ làng. Bom của Mỹ (và Anh, Pháp) là để gây chiến. Cũng như những kẻ gian sắm súng để cướp của, giết người.

Giáo sư Bláckét nói:Số bom Mỹ nhiều gấp 30 lần số bom cần thiết để chống lại xâm lăng – Đó là vì chính sách Mỹ là chính sách gây chiến. Bom Liên Xô chất mạnh hơn, do đó Liên Xô không cần chế tạo nhiều. – Vì chính sách Liên Xô là chính sách tự vệ.

Mặc dù nhân dân khắp thế giới (cả nhân dân Mỹ, Anh, Pháp) phản đối kịch liệt, đế quốc Mỹ vẫn định tiếp tục thử 50 quả bom hạt nhân. Trước sự khiêu khích hung bạo của Mỹ đối với cả loài người, Liên Xô không lẽ đứng nhìn…

Liên Xô (và cả phe xã hội chủ nghĩa) luôn luôn chủ trương: Chung sống hoà bình, cấm bom nguyên tử và bom hạt nhân. Giải trừ quân bị toàn diện và triệt để.

Tóm lại, bọn đế quốc do Mỹ cầm đầu không ngừng đe doạ loài người với một cuộc chiến tranh khủng khiếp. Càng đến gần mạt kiếp, chúng lại càng hung hăng. Chúng càng hung hăng thì nhân dân thế giới yêu chuộng hoà bình càng đoàn kết chống lại chúng. Nếu chúng điên cuồng mà gây ra chiến tranh thế giới lần nữa, thì chắc đế quốc chủ nghĩa sẽ bị bom hạt nhân tiêu diệt, rồi nhân dân thế giới sẽ vĩnh viễn tiêu diệt bom hạt nhân.

T.L.

————————

Báo Nhân dân, số 2.968, ngày 10-5-1962.
cpv.org.vn

Cảm ơn những lời chúc mừng nhân dịp ngày sinh (23-5-1962)

Nhân dịp ngày 19 tháng 5, tôi đã nhận được thư, điện chúc mừng của:

Quốc hội,

Chính phủ,

Mặt trận,

Các đảng bạn,

Các đoàn thể,

Các cơ quan,

Các xí nghiệp,

Các công trường,

Các hợp tác xã nông nghiệp,

Các nông trường,

Các đơn vị bộ đội,

Các trường học,

Đồng bào miền núi và đồng bào miền xuôi,

Kiều bào mới về nước và kiều bào đang ở nước ngoài,

Bà con ngoại kiều,

Các đồng chí chuyên gia bạn,

Các anh hùng, chiến sĩ thi đua,

Các cụ phụ lão,

Các cháu thanh niên và nhi đồng,

Các đảng anh em,

Các chính phủ và nhân dân các nước anh em và các nước bạn,

Các vị trong Đoàn ngoại giao.

Những món quà rất quý báu làm tôi rất vui lòng là trong thư và điện chúc thọ, nhiều đơn vị và cá nhân đã báo cáo những thành tích tốt đẹp trong đợt thi đua vừa qua và đã hứa hẹn đẩy mạnh thi đua hơn nữa để hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch nǎm nay và chuẩn bị tốt cho kế hoạch nǎm sau.

Tôi thân ái gửi lời cảm ơn chung và chúc đồng bào thi đua thắng lợi.

Tôi xin cảm ơn các đảng, chính phủ và nhân dân các nước anh em và các nước bạn.

Xin cảm ơn Đoàn ngoại giao.

Xin chúc tình hữu nghị giữa các dân tộc ngày càng củng cố và phát triển. Chúc hoà bình thế giới vững bền.

HỒ CHÍ MINH

——————

Báo Nhân dân, số 2.981, ngày 23-5-1962
cpv.org.vn

Điện mừng ngày độc lập của nước Cộng hoà Angêri (5-7-1962)

Kính gửi ông Ben Yuxép Ben Khêđa,

Thủ tướng Chính phủ lâm thời nước Cộng hoà Angiêri,

Tuyni

Thay mặt nhân dân Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, tôi vui mừng gửi Ngài, Chính phủ lâm thời và nhân dân Angiêri anh hùng, lời chúc mừng nhiệt liệt nhất nhân dịp nước Angiêri chính thức trở thành một nước độc lập, tự do, có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, sau cuộc trưng cầu dân ý ngày 1-7-1962 vừa qua. Nhân dân Việt Nam cũng như toàn thể các dân tộc yêu chuộng tự do, hoà bình trên thế giới, đều hết sức vui mừng trước thắng lợi vẻ vang đó của nhân dân Angiêri đã góp phần cống hiến xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh để vĩnh viễn xoá bỏ chủ nghĩa thực dân trong thời đại chúng ta.

Chúng tôi thành tâm chúc Chính phủ và nhân dân Angiêri anh em ngày càng thu được nhiều thành tích to lớn trong công cuộc xây dựng đất nước vinh quang của mình, mau chóng hàn gắn những vết thương chiến tranh, cải thiện đời sống cho nhân dân, giữ gìn và củng cố nền độc lập dân tộc đã giành được.

Chúng tôi tin tưởng rằng mối quan hệ hữu nghị sẵn có và tinh

thần hợp tác anh em giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nước Cộng hoà Angiêri sẽ ngày càng được củng cố và phát triển trên mọi lĩnh vực, vì lợi ích của nhân dân hai nước và lợi ích của nền hoà bình ở châu Phi và trên toàn thế giới.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

—————–

Báo Nhân dân, số 3.024, ngày 5-7-1962.
cpv.org.vn

Điện gửi đại hội thế giới đòi giải trừ quân bị và bảo vệ hoà bình (17-7-1962)

Kính gửi giáo sư Giôn Bécnan,

(Nhờ chuyển Đại hội thế giới đòi giải trừ quân bị và bảo vệ hoà bình Mátxcơva)

Thay mặt nhân dân Việt Nam và nhân danh cá nhân, tôi kính gửi Đại hội và giáo sư lời chào mừng nhiệt liệt nhất.

Trong lúc bọn đế quốc thực dân đang ra sức chạy đua vũ trang, chuẩn bị một cuộc chiến tranh thế giới mới, một cuộc chiến tranh hạt nhân, Đại hội họp để đòi giải trừ quân bị và bảo vệ hoà bình là một trong những sự kiện quan trọng nhất của thời đại chúng ta.

Chỉ có sự đoàn kết chặt chẽ của các lực lượng hoà bình trên toàn thế giới với những hành động cương quyết đòi giải trừ quân bị và bảo vệ hoà bình mới có thể đập tan âm mưu thâm độc và đầy tội ác của những kẻ gây chiến.

Thắng lợi của sự đoàn kết chống nguy cơ chiến tranh và bảo vệ hoà bình thế giới là do sự đồng tâm nhất trí của Đại hội.

Hiện nay, ở miền Nam nước Việt Nam chúng tôi, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng đang tiến hành một cuộc chiến tranh đẫm máu, hòng biến miền Nam nước chúng tôi thành thuộc địa kiểu mới và cǎn cứ quân sự của đế quốc Mỹ nhằm gây chiến tranh ở Đông Dương và Đông – Nam á.

Việc giải trừ quân bị và bảo vệ hoà bình sẽ giúp rất nhiều cho

phong trào giải phóng dân tộc thắng lợi.

Nhân dân Việt Nam chúng tôi hứa sẽ ra sức ủng hộ và thi hành những nghị quyết mà Đại hội sẽ thông qua.

Kính chúc Đại hội thành công tốt đẹp.

Hoà bình thế giới muôn nǎm !

HỒ CHÍ MINH

————————-

Báo Nhân dân, số 3.036, ngày 17-7-1962.
cpv.org.vn

Trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Tin tức và Sự thật thanh niên Liên Xô (7-1962)

Hỏi: Lập trường của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về giải trừ quân bị như thế nào và đồng chí đánh giá việc giải quyết vấn đề đó như thế nào trong hoàn cảnh đối với các vấn đề hiện nay đứng trước các nước châu Á.

Trả lời: Về vấn đề giải trừ quân bị, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hoàn toàn tán thành chính sách Liên Xô đã đề ra. Đối với các nước châu Á, chúng tôi tán thành đề nghị của Trung Quốc: Châu Á phải trở nên một vùng không có vũ khí nguyên tử. Chắc chắn rằng các dân tộc đang bị chủ nghĩa đế quốc áp bức, đều nhiệt liệt tán thành ý kiến của đồng chí Khơrútsốp: “Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và cuộc đấu tranh cho giải trừ quân bị và cho hoà bình có liên hệ rất chặt chẽ với nhau… Những thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc cũng có tác dụng củng cố sự nghiệp hoà bình và góp phần đẩy mạnh việc đấu tranh giải trừ quân bị”.

Hỏi: Sắp tới là ngày kỷ niệm 8 nǎm ký kết Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam. Trong điều kiện hiện nay thì đường lối và biện pháp để giành được thống nhất của nhân dân Việt Nam như thế nào?

Trả lời: Chúng tôi luôn luôn chủ trương thống nhất Tổ quốc bằng đường lối hoà bình, luôn luôn đòi phải thực hiện đúng đắn Hiệp định Giơnevơ, đòi đế quốc Mỹ phải chấm dứt can thiệp vào công việc nội bộ của nhân dân Việt Nam.

Hỏi: Theo ý kiến đồng chí việc giải quyết vấn đề Lào trong tình hình Đông – Nam Á có ý nghĩa gì?

Trả lời: Do sự đấu tranh anh dũng của nhân dân Lào và do sự giúp đỡ của các nước có thiện chí, vấn đề Lào đã được giải quyết một cách tốt đẹp, tức là Chính phủ liên hợp dân tộc đã được thành lập trên nền tảng hoà bình trung lập, độc lập dân tộc. Vấn đề Lào được giải quyết thích đáng có ý nghĩa là ở Đông – Nam Á cũng như ở nơi khác các bên đều có thiện chí thì mọi vấn đề đều có thể giải quyết tốt bằng cách thương lượng hoà bình.

———————-

Trả lời tháng 7-1962. Báo Nhân dân, số 3.041, ngày 22-7-1962
cpv.org.vn

Bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước (24-7-1962)

Các đồng chí,

Nhân dân ta vốn có truyền thống giàu lòng yêu nước, cần cù, tiết kiệm và luôn luôn sẵn sàng hy sinh tất cả để phục vụ Tổ quốc. Cho nên, mỗi khi cách mạng cần đến sức người, sức của thì nhân dân đều nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng ta. Nhờ vậy mà cách mạng đã thành công, kháng chiến đã thắng lợi.

Đồng thời, Đảng ta luôn luôn kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên và nhân dân ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm và chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Tuy vậy, trong các ngành, các đơn vị, các địa phương, việc sử dụng sức của, sức người của nhân dân còn nhiều chỗ không hợp lý. Cho nên từ nay, chúng ta bắt đầu mở một cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, chống tham ô, lãng phí, quan liêu.

Cần phải dứt khoát rằng số đông cán bộ và công nhân ta đều tận tụy và trong sạch. Cho nên chúng ta đã thu được những thành tích to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Nhưng vẫn còn một số người không tốt, còn phạm sai lầm tham ô, lãng phí và còn mang nặng bệnh quan liêu, ảnh hưởng rất xấu đến công cuộc xây dựng kinh tế của nhân dân ta. Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết chống lại những tệ hại ấy.

Cuộc vận động này sẽ tổ chức thế nào, chỉ đạo thế nào, tiến

hành thế nào cho tốt? Những điều đó sẽ có chỉ thị đầy đủ của Bộ Chính trị và của Ban chỉ đạo Trung ương. ở đây tôi chỉ tóm tắt nêu ra mấy điểm.

Chống tham ô – Tham ô là hành động xấu xa nhất của con người. Nhân dân lao động ta làm lụng đổ mồ hôi sôi nước mắt để góp phần xây dựng của công – của Nhà nước và của tập thể. Của công ấy là nền tảng vật chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là nguồn gốc chủ yếu để nâng cao đời sống của nhân dân ta.

Tham ô là lấy trộm của công, chiếm của công làm của tư. Nó có hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà, có hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân, có hại đến đạo đức cách mạng.

Nếu nhà ai bị mất cắp, mất trộm, thì hô hoán lên và cả xóm, cả làng đuổi bắt kẻ trộm. Khi của công bị mất cắp, mất trộm thì mọi người đều có trách nhiệm vạch mặt kẻ gian và đưa nó ra trước pháp luật vì mọi người đều có nghĩa vụ giữ gìn của công.

Của công của Nhà nước và của tập thể là “bất khả xâm phạm”, tham ô của công tức là xâm phạm đến lợi ích chung của nhân dân, tức là kẻ địch của nhân dân. Vì vậy, kiên quyết chống tham ô là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân ta.

Chống lãng phí – Lãng phí và tham ô tuy khác nhau ở chỗ lãng phí thì không trực tiếp ăn cắp, ăn trộm của công, nhưng kết quả tai hại đến tài sản của Nhà nước, của tập thể thì lãng phí cũng có tội. Ví dụ: tên A tham ô 1.000 đồng, tên B lãng phí 1.000 đồng. Kết quả tai hại đến của công thì B cũng chẳng khác gì A.

Lãng phí có nhiều hình thức: hoặc vì lập kế hoạch không chu đáo, ví dụ làm một ngôi nhà không hợp thức, làm xong rồi phải phá đi làm lại. Hoặc vì tính toán không cẩn thận, điều động hàng trăm hàng nghìn người đến công trường, nhưng chưa có việc làm hay là người nhiều việc ít, phải để họ trở về. Hoặc vì xa xỉ, phô trương hình thức, nào liên hoan, nào “báo chí”, nào kỷ niệm, sắm sửa lu bù, xài tiền như nước, v.v ..

Nói tóm lại, lãng phí là vì thiếu tinh thần trách nhiệm, không có ý thức quý trọng sức của, sức người của Nhà nước, của nhân dân.

Chống quan liêu – Quan liêu là cán bộ phụ trách xa rời thực tế, không điều tra, nghiên cứu đến nơi đến chốn những công việc cần phải làm, việc gì cũng nắm không vững, chỉ đạo một cách đại khái, chung chung. Quan liêu là xa rời quần chúng, không đi sâu đi sát, không hiểu rõ lai lịch, tư tưởng và công tác của cán bộ mình. Không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Sợ phê bình và tự phê bình. Tác phong của những “ông quan liêu” là thiếu dân chủ, không giữ đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách.

Vì vậy, bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô. Kinh nghiệm chứng tỏ rằng: ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó chắc có tham ô, lãng phí; nơi nào bệnh quan liêu càng nặng thì nơi đó càng nhiều lãng phí, tham ô. Cho nên, muốn triệt để chống tham ô, lãng phí thì phải kiên quyết chống nguồn gốc của nó là bệnh quan liêu.

Tai hại do các tệtham ô, lãng phí, quan liêu gây ra – Chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta là rất tốt đẹp, mạnh mẽ, vững như một người khổng lồ có sức khoẻ dồi dào. Tệ tham ô, lãng phí, quan liêu là cái xấu xa do xã hội cũ để lại, như cái ung nhọt còn sót lại trên thân thể của người khổng lồ. Công khai và mạnh dạn gạt bỏ cho thật sạch những ung nhọt ấy thì thân thể càng mạnh khoẻ thêm. Cho nên, vạch những tệ hại nói trên để sửa chữa, chúng ta không sợ kẻ địch lợi dụng để phản tuyên truyền.

Theo con số đã nắm được từ năm 1958 đến 1961 thì những vụ tham ô đã làm hao tổn của Nhà nước hàng triệu đồng. Hiện nay có nơi, những người tham ô đã tự giác thật thà nhận lỗi và hứa quyết tâm sửa chữa.

Sốlãng phí rất lớn. Gần đây, một số nhà máy và công trường đã bắt đầu cố gắng sửa chữa. Tuy vậy, trong mấy năm nay đã lãng phí hàng chục triệu đồng.Với số tiền bạc, của cải bị tham ô, lãng phí đó, người ta có thể làm được:

Hoặc 10 công trình thuỷ lợi như Bắc – Hưng – Hải,

Hoặc 5 Nhà máy cơ khí trung quy mô,

Hoặc mấy ngôi nhà 4 tầng cho một vạn người ở.

Tiền bạc, của cải đó là do nhân dân ta đóng góp, cũng có phần do nhân dân các nước anh em giúp đỡ. Để hao hụt vì tham ô, lãng phí là không biết thương tiếc mồ hôi nước mắt của nhân dân ta, không biết quý trọng sự giúp đỡ chí tình của nhân dân các nước anh em. Cho nên chúng ta, tất cả những cán bộ phụ trách của Đảng và Chính phủ, phải thật thà tự phê bình, nhận khuyết điểm và làm gương mẫu sửa chữa trong cuộc vận động này.

Việc chống tham ô,lãng phí, quan liêu là rất cần thiết và phải làm thường xuyên. Nó có hai ý nghĩa quan trọng:

– Nó làm cho mọi người nâng caotinh thần trách nhiệm, tinh thần làm chủ, ý thức bảo vệ của công, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, để nâng cao đời sống của nhân dân.

– Nó giúp cho cán bộ và đảng viên ta giữ gìn phẩm chất cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Do đó mà nhân dân ta đã đoàn kết, càng đoàn kết thêm, lực lượng ta đã hùng mạnh, càng hùng mạnh thêm.

Trong cuộc vận động này, chúng ta cần ôn lại những lời căn dặn của Lênin. Năm 1918, trong quyển Nhiệm vụ trước mắt của chính quyền xôviết, Lênin đã dạy:

“Phải rành mạch và thật thà kế toán tiền bạc, tiết kiệm kinh tế, không lười biếng, không ăn trộm của công làm của tư, phải giữ cực kỳ nghiêm ngặt kỷ luật lao động. Trước mắt, đó là khẩu hiệu chủ yếu rất bức thiết…, là những điều kiện cần kíp và đầy đủ để làm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi triệt để… Phải chỉnh đốn kỷ luật trong hàng ngũ ta, loại trừ hết những kẻ lười biếng, lũ ăn bám, bọn trộm cắp của công… Phải dùng những biện pháp tiết kiệm nhất, phải nhổ tận gốc tất cả những hiện tượng lãng phí… Cần có những pháp luật để trừng trị tệ tham ô, lãng phí, và phải chấp hành những pháp luật ấy một cách nghiêm chỉnh…”.

Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi thì nhân dân ta phải kiên quyết thực hiện lời dạy của Lênin.

Trong cuộc vận động này, giáo dục là chính, làm cho những người đã phạm lỗi có dịp để thật thà “cải quá tư tân”. Đồng thời phải có kỷ luật thích đáng đối với những kẻ ngoan cố, không chịu ăn năn sửa chữa; đồng thời khuyến khích những người tốt càng tận tuỵ và càng gương mẫu trong việc phục vụ nhân dân. Vì vậy, cần nắm vững phần xây dựng là nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, đồng thời kiên quyết chống tham ô, lãng phí, quan liêu.

Tuy cuộc vận động phải đúng mức, không tràn lan, nhưng chúng ta phải phát động tư tưởng của quần chúng làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp. Với sự chỉ đạo chặt chẽ của Trung ương, với quyết tâm của cán bộ và sự hăng hái tham gia của quần chúng, cuộc vận động này nhất định sẽ có kết quả tốt.

Đối với cuộc vận động này, nói chung cán bộ và công nhân đều nhất trí tán thành, ai cũng cho là cần, là tốt. Nhưng lúc thi hành thì chắc có một số người lo lắng, e sợ. E sợ vì trong ba chứng bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu, bản thân mình chắc có một bệnh, hoặc nặng hoặc nhẹ. Lo lắng vì không biết cấp trên sẽ xử trí thế nào? Anh em công nhân sẽ đối với mình thế nào? Lo lắng, e sợ vì mình sẽ ở vào cảnh “trên đe, dưới búa”.

Bi quan như vậy là không đúng.Mọi người phải dũng cảm tiến lên. Ai có sai lầm thì phải có nghị lực nói thật ra và có quyết tâm sửa chữa, để thành người tốt làm việc tốt. Vàng thật thì không sợ lửa, càng được đe và búa tôi luyện, thì vàng sẽ tốt thêm.

Tôi nhắc lại: Trong cuộc vận động này, Đảng lấy giáo dục, bồi dưỡng làm chính.

– Cũng có nơi lo lắng tập thể.Nhưng cơ quan hoặc nhà máy nào đó đã được thưởng Huân chương, nay xét kỹ thì không xứng đáng. Phải chăng Huân chương ấy sẽ bị thu lại?

Không đâu. Nhưng cán bộ và công nhân từ nay phải thi đua lập nhiều thành tích để xứng đáng với vinh dự của Huân chương ấy.

– Trong nhiều công việc lớn, trước khi làm rộng khắp, chúng ta phải làm thí điểm để rút kinh nghiệm. Song những nơi có vinh dự được chọn làm thí điểm thì lúc đầu cũng lo ngại: phải chăng chúng mình đã phạm sai lầm đặc biệt nhiều, cho nên phải đưa ra phê phán trước?

Nhưng mới thi hành bước đầu mà đã thu được nhiều kết quả khá, thì có thí điểm ấy đã “đổi sầu làm vui”.

Vài ví dụ: kết quả bước đầu ở Nhà máy xe lửa Gia Lâm.

– Do sửa đổi cách phát lương cho công nhân mà mỗi tháng tiết kiệm được 900 công.

– Do tổ chức giao ca giao kíp cẩn thận, mà đã nâng cao tinh thần trách nhiệm, bảo vệ máy móc.

– Do thanh niên mở cuộc vận động “8 giờ vàng ngọc” mà đã trừ được các thói xấu đi muộn, về sớm, v.v…

ở công trường dệt 8-3.

– Cán bộ kế hoạch đã thường xuyên đi kiểm tra để quy định sử dụng vật liệu, tránh được lãng phí.

– Sửa đổi cách phát lương cho công nhân, mỗi tháng tiết kiệm được 500 công.

– Sửa đổi lề lối làm việc, đã giảm được 118 người.

– Thanh niên tổ chức một tuần lễ tiết kiệm, đã thu nhặt được:

36m3 gỗ vụn,

1.572 kilô sắt,

1.850 kilô gang, v.v..

Ở cửa hàng Bách hoá tổng hợp:

– Thực hiện chế độ rõ ràng khi hàng hoá vào kho và ra kho.

– Kiểm lại toàn bộ hàng hoá để xây dựng sổ sách thật nền nếp.

– Giao ca giao kíp một cách cẩn thận, v.v..

Những thành tích bước đầu đó làm cho cán bộ và công nhân đều phấn khởi đấu tranh để thu nhiều thành tích to hơn nữa.

Đó cũng là một thắng lợi bước đầu cho cả cuộc vận động chung.

*

* *

Các đồng chí,

Cuộc vận động này là một cuộc cách mạng nội bộ, một cuộc đấu tranh gay go giữa cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và kẻ địch là tệ nạn tham ô, lãng phí, quan liêu.

Chúng ta đã thấy rõ kẻ thù, Đảng đã định ra chiến lược sách lược đúng đắn. Chúng ta phải đồng tâm nhất trí, mạnh bạo xung phong.

Để giành lấy thắng lợi, chúng ta phải nắm vững chính sách của Đảng, đi đúng đường lối quần chúng, phải dựa vào lực lượng của quần chúng, phải lắng nghe ý kiến của quần chúng, phải thật sự mở rộng dân chủ.

Nếu quần chúng nói mười điều mà chỉ có một vài điều xây dựng, như thế vẫn là quý báu và bổ ích. Uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm, để đưa công việc ngày càng tiến bộ chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng phê bình.

Các đồng chí đều là cán bộ cao cấp ở các ngành, các địa phương, đều có trách nhiệm lớn đối với nhân dân, với Đảng và Nhà nước. Đảng đã rèn luyện các đồng chí thành những cán bộ vững vàng và chúng ta đã làm cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi.

Cuộc vận động này kết quả tốt sẽ bảo đảm cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thành công và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà thắng lợi. Vì vậy, Đảng đòi hỏi đảng uỷ các cấp và thủ trưởng các cơ quan phải phụ trách hoàn toàn và lãnh đạo chặt chẽ; tất cả phải có quyết tâm làm cho cuộc vận động này thắng lợi.

—————-

Nói ngày 24-7-1962. Tạp chí Học tập, số tháng 9-1962.
cpv.org.vn