Kiên trì lý tưởng, mục tiêu Cách mạng Tháng Mười

Từ khi còn là một thanh niên, Bác Hồ đã một mình bôn ba đến nhiều quốc gia trên thế giới, với một mong muốn cháy bỏng tâm can: Quyết tìm ra con đường giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ của thực dân, phong kiến. Khi được nhìn thấy thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, được đọc “Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lê-nin, Bác đã nhận ra ánh sáng chân lý của con đường giải phóng dân tộc mình và đặt trọn niềm tin vào đó. Sau này, Người nhớ lại: “Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta””.

Tiếp thu tư tưởng của Lê-nin và Cách mạng Tháng Mười, Bác Hồ đã kiên trì mục tiêu, lý tưởng giải phóng dân tộc Việt Nam và đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lập nên Nhà nước Dân chủ Cộng hòa đầu tiên ở Đông Nam Á đến chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu” và đỉnh cao là đại thắng Mùa Xuân năm 1975 thống nhất đất nước, đưa nước ta tiến lên Chủ nghĩa xã hội.

Với Lê-nin, Bác Hồ đã dành trọn niềm tin yêu, kính phục đối với vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân toàn thế giới. Khi Lê-nin mất, Bác viết “Khi còn sống, Người là người cha, thầy học đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cách mạng xã hội”. Bác cũng nói rõ: “Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á”…, “đối với các dân tộc châu Á, cũng như các dân tộc khác trên toàn thế giới đang đấu tranh cho hòa bình, độc lập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, học thuyết của Lê-nin khác nào mặt trời đưa lại nguồn sống tươi mở”.

Với Cách mạng Tháng Mười, Bác khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”. Thực tế vận động của lịch sử nhân loại cho đến nay đã chứng minh cho nhận định của Bác Hồ về Cách mạng Tháng Mười từ những năm 1920 – “Đó là thắng lợi vĩ đại của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức do giai cấp công nhân và đội tiên phong của họ là Đảng Bôn-sê-vích lãnh đạo” – là hoàn toàn đúng đắn.

Nhân kỷ niệm 90 năm Cách mạng Tháng Mười thắng lợi (1917 – 2007), chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn vì sao Bác Hồ của chúng ta lại tìm đến với Cách mạng Tháng Mười, đến với Chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Đó là con đường đúng đắn, khoa học và cách mạng để giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. Chúng ta tiếp tục vững bước theo lý tưởng, mục tiêu mà Bác Hồ kính yêu đã chọn lựa cho dân tộc.

Hướng Dương
baobinhdinh.com.vn

Sáu lỗi lầm phải tránh

Ngày 17.10.1945, chỉ một tháng rưỡi sau khi nhà nước công nông ra đời và tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có thư gửi “Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” tức là chính quyền các cấp của cả nước. Bức thư được đăng trên báo “Cứu Quốc” số 69. Trong thư, Bác nêu 6 lầm lỗi chính mà người cán bộ có thể mắc phải và tuyệt đối nên tránh.

“Những lỗi lầm chính là:

1- Trái phép- Vì tư thù, tư oán mà bắt bớ và tịch thu làm dân oán thán.

2- Cậy thế- Cậy thế mình trong ban này, ban nọ rồi ngang tàng, phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân chứ không phải để cậy thế với dân.

3- Hủ hóa – Ăn uống cho ngon, mặc muốn cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng lãng mạn, thử hỏi tiền bạc ấy ở đâu ra ? Thậm chí lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh liêm, đạo đức. Ông Ủy viên đi xe hơi, rồi bà Ủy viên, cho đến các cô, các cậu Ủy viên cũng dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai phải chịu ?

4- Tư túng – Kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này, chức nọ. Người có tài, có đức, không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc là việc công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai.

5- Chia rẽ bênh vực lớp này, chống lại lớp khác, không biết làm cho các tầng lớp nhân nhượng lẫn nhau, hòa thuận với nhau.

6- Kiêu ngạo – tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi. Coi khinh dân gian, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt  “quan cách mạng” lên. Không biết rằng thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến uy tín của Chính phủ”.

Sáu mươi năm đã qua kể từ khi Bác viết những dòng này, nhưng ngày nay đọc lại chúng ta đủ thời gian và thực tế để chiêm nghiệm và nhận ra rằng: những lời dạy của Bác thật chí lý và sáng suốt. Những lời dạy này vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay, cũng là lời cảnh tỉnh đối với mỗi cán bộ đang tham gia trong bộ máy chính quyền các cấp, từ Trung ương đến địa phương. Hãy nhớ lời Bác răn “Những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của Chính phủ và nhân dân, tội lỗi ấy cũng nặng như tội Việt gian, mật thám”.

Khải Minh
baobinhdinh.com.vn

Học cái hay, tránh cái dở

Bác Hồ quan niệm, “mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”. Đảng ta gồm những người có tài, có đức nhưng “không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay”. Do vậy, trong Đảng luôn luôn thực hiện tự phê bình và phê bình để cho dần dần hết khuyết điểm, đồng thời làm cho ưu điểm ngày càng nhiều thêm.

Tự phê bình và phê bình liên quan đến vấn đề đoàn kết trong Đảng. Do vậy, mục đích của tự phê bình và phê bình còn nhằm tăng cường sức mạnh đoàn kết, như Bác nói: “Muốn đoàn kết chặt chẽ là phải thật thà tự phê bình, thành khẩn phê bình đồng chí và những người xung quanh, phê bình, tự phê bình để cùng nhau tiến bộ, để đi đến càng đoàn kết. Đoàn kết, phê bình, tự phê bình thật thà để đi đến đoàn kết hơn nữa”.

Nhưng, muốn đạt được mục đích thì cần có phương pháp phù hợp. Theo Bác, phương pháp phù hợp nhất là phải thành khẩn, trung thực, kiên quyết và phải có văn hóa trong tự phê bình và phê bình. Bác cho rằng, tự phê bình và phê bình phải “ráo riết”, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Nếu không kiên quyết thực hiện tự phê bình và phê bình thì cũng giống như giấu giếm tật bệnh ở trong người, không dám uống thuốc và như vậy làm cho bệnh nặng thêm, nguy đến tính mạng.

Bác nhấn mạnh: Tự phê bình và phê bình phải có “tính chất xây dựng”, “không mỉa mai, nói xấu nhau”, “chớ phê bình lung tung không chịu trách nhiệm”, không được trù dập người phê bình mình. Bác còn nói: “Phê bình chứ không phải là chửi”, nghĩa là phê bình phải có văn hóa. Trong phê bình, phải đặc biệt thực hành dân chủ. Bác nói: “Có gì cứ bình tĩnh bảo nhau, bàn với nhau. Càng cáu càng khó nghe”. “Muốn dân chủ tốt, kỷ luật cao, cán bộ phải gương mẫu phê bình và tự phê bình”. “Mục đích phê bình và tự phê bình là để học cái hay, tránh cái dở, chứ không phải để nói xấu nhau”. “Phải phê bình những thói hư tật xấu, để tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời”…

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta cần nhớ lời căn dặn của Bác trong Di chúc: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”.

Yên Chi
baobinhdinh.com.vn

Đặt niềm tin vào thế hệ trẻ

Nhận rõ vai trò to lớn của thế hệ trẻ, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trong ngày khai trường đầu tiên, Bác đã gửi gắm niềm tin yêu của mình vào thế hệ trẻ: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Ngày 17.8.1947, trong “Thư gửi các bạn thanh niên”, Bác viết: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị tương lai đó”. Đến thăm đơn vị thanh niên xung phong làm đường trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác đã khuyên thanh niên: “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên”.

Để giáo dục thanh niên, Bác đã lấy những tấm gương tiêu biểu hy sinh vì nước, vì dân để thanh niên học tập. Bác viết: “Đồng chí Lý Tự Trọng đã nêu gương chân chính cách mạng cho chúng ta noi theo. Ngày nay được Đảng giáo dục, có Đoàn dìu dắt, thanh niên chúng ta phải xung phong gương mẫu trong đạo đức, trong sinh hoạt, trong học tập, trong chiến đấu phải thực hiện “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm”. Như thế, chúng ta mới xứng đáng là thế hệ thanh niên xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”.

Thanh niên là người chủ tương lai của đất nước, muốn xứng đáng vai trò làm chủ thì phải học tập. Vì vậy, Bác rất quan tâm đến việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ của thanh niên. Bác chỉ rõ: “Nhiệm vụ chính của thanh niên, học sinh là học. Học để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh tức là để làm trọn nhiệm vụ người làm chủ nước nhà”. Và, “Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà, phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là thanh niên”. Bác luôn chăm lo bồi dưỡng đội ngũ thanh niên trí thức. Bác căn dặn: “Đối với thanh niên trí thức cần phải đặt câu hỏi: Học để làm gì? Học để phụng sự ai?”.

Minh Anh
baobinhdinh.com.vn

Mùa thu trên quê hương cách mạng Hà Tĩnh

(VOV) – Những ngày tháng Tám lịch sử này, từ khu di tích Ngã ba Nghèn nhìn đâu cũng thấy những xóm làng trù mật, những con đường khang trang, thoáng rộng…

Cách đây 82 năm tại thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh diễn ra những cuộc biểu tình lớn từ tháng 5/1930 – 7/1931 trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Phong trào cách mạng này là kinh nghiệm quý giúp Đảng ta hoàn thiện đường lối và chiến lược cách mạng, lãnh đạo toàn dân vùng lên tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trong Cách mạng tháng 8 năm 1945.

Tháng Tám mùa thu này, bầu trời Can Lộc trong xanh lạ kỳ. Dường như tâm điểm của những hoạt động kỷ niệm phong trào Xô Viết lừng danh năm nào ở tỉnh Hà Tĩnh đều hướng về thị trấn Nghèn. Lịch sử thật khéo léo khi chọn Ngã ba Nghèn là nơi khởi đầu của cao trào Xô Viết ở Hà Tĩnh thì ngày nay lại là trung tâm quần tụ các di tích trên một địa phương giàu truyền thống yêu nước. Điểm gặp nhau của Quốc lộ 1A và đường liên xã từ huyện Can Lộc qua Khánh Lộc về Đồng Lộc, Trung Lộc, Ngã ba Nghèn trước thuộc làng Trảo Nha, sau Cách mạng đổi tên là Đại Lộc, huyện Can Lộc, là nơi diễn ra những cuộc biểu tình lớn trong những năm 1930-1931.

Tượng đài Khu di tích ở ngã ba Nghèn, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh

Dù còn nhiều khó khăn, còn bao vất vả quanh năm chống chọi với bão lũ, thiên tai, nhưng Hà Tĩnh luôn biết cách trân trọng và phát huy truyền thống lịch sử để ngày nay tại ngã ba Nghèn đã có một khu di tích xứng tầm, với cụm tượng đài oai hùng khắc tạc vóc dáng của những chiến sỹ cách mạng ngày ấy.

Nhiều khách thập phương đến đây để cảm nhận được tinh thần cách mạng quật cường của nhân dân Hà Tĩnh thuở nào, nhưng với ông Ngô Đức Mách, cán bộ tiền khởi nghĩa ở thị trấn Nghèn, không khí sôi nổi về cao trào cách mạng vẫn nguyên vẹn trong ký ức.

Năm nay 97 tuổi, đã 81 năm trôi qua từ khi diễn ra phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh nhưng với ông Ngô Đức Mách-một trong số ít nhân chứng của cao trào Xô Viết còn sống- mỗi lúc nhắc đến những ký ức lịch sử bỗng minh mẫn lạ thường. Ông cho biết: ngày đó Can Lộc có nhiều cuộc biểu tình ở phạm vi tổng và huyện với hàng ngàn người tham gia. Tháng 8/1930 quần chúng kéo về huyện đường hô vang các khẩu hiệu:Đánh đổ chủ nghĩa đế quốc và Nam triều phong kiến…Trước khí thế mạnh mẽ của cuộc biểu tình, tri huyện Trần Mạnh Đàn phải ra tận cầu Nghèn ký vào bản yêu sách.

Ông Ngô Đức Mách nhớ lại: “…Khí thế của phong trào những năm 1930 đó, sôi động lắm. Hai lần biểu tình của nhân dân, tri huyện Trần Mạnh Đàn phải ra chấp nhận yêu sách của những người biểu tình. Phong trào sôi nổi, cờ đỏ của ta bay khắp nơi…”.

Cuộc biểu tình lớn thứ hai vào cuối năm 1930, nhân dân các vùng trong huyện có tới 5.000 người mang nhiều khẩu hiệu, cờ đỏ búa liềm rầm rập tiến đến huyện đường chống đàn áp khủng bố, đòi giảm sưu thuế. Bọn lính bắn vào đoàn biểu tình làm 42 người chết. Ngã ba Nghèn lại ghi nhận nhiều chiến tích và chứng kiến sự hy sinh anh dũng của nhiều chiến sỹ.

Từ cao trào Xô Viết 1930- 1931 đến Cách mạng tháng Tám, những cái tên như Nghèn, Đỉnh Lự, bến đò Thượng Trụ đã trở thành nơi ghi dấu rất nhiều sự kiện lịch sử trọng đại. Ngã ba Nghèn, trung tâm huyện lỵ Can Lộc nay đã trở thành một trong những địa chỉ đỏ nổi tiếng của Hà Tĩnh. Đó không chỉ là nơi ra đời của chi bộ Trảo Nha, 1 trong 4 chi bộ Đông Dương Cộng sản liên đoàn được thành lập đầu tiên trong tỉnh, không chỉ là nơi diễn ra những cuộc biểu tình lớn trong cao trào Xô viết mà còn là những cuộc mít tinh, biểu tình đầy khí phách của nhân dân trong Cách mạng tháng Tám. “…Phong trào 30-31 có tác động lớn đến việc cướp chính quyền sau này. Từ năm 30 có gián đoạn đi đến năm 1936. Năm 1936 củng cố được đảng bộ Quang Lộc, đến tháng 6/1945 thành lập đảng bộ huyện Can Lộc. Thị trấn Nghèn thành lâp đảng bộ đầu tiên của huyện Can Lộc…”-Ông Ngô Đức Mách nói.

Di tích lịch sử Bến đò Thượng Trụ (Can Lộc) – nơi diễn ra hội nghị thành lập tỉnh Đảng bộ Hà Tĩnh tháng 3/1930

Phát huy truyền thống vẻ vang của quê hương Xô-viết, Can Lộc là địa phương đầu tiên của tỉnh Hà Tĩnh và các tỉnh Bắc Trung Bộ giành chính quyền về tay nhân dân vào ngày 16/8/1945. Hà Tĩnh là một trong bốn tỉnh giành chính quyền sớm nhất trong Cách mạng Tháng Tám vào ngày 18/8/1945.

Chuyện xưa, chuyện nay, câu chuyện của người cán bộ tiền khởi nghĩa Ngô Đức Mách thêm sống động hơn khi nhắc đến sự thay đổi của thị trấn Nghèn, của huyện Can Lộc những năm gần đây. Từng là một thị trấn trọng điểm của bom đạn trong kháng chiến chống Mỹ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá tan hoang ngày nào, nay thị trấn Nghèn, cũng nhưng huyện Can Lộc đã thay da đổi thịt. Là huyện đi đầu trong thực hiện một số chương trình phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng nông thôn mới của tỉnh và của cả nước. Can Lộc đã cơ bản xóa xong 3.000 nhà tranh tre, dột nát và ngói hóa nhà ở cho nhân dân ngay trong năm 2005.

Trong thời gian qua, Can Lộc đã huy động 1.160 tỷ đồng để chỉnh trang bộ mặt thị trấn và vùng nông thôn, đầu tư hàng trăm công trình hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Nhàn, ở thị trấn Nghèn vui mừng: Đời sống nhân dân có rất nhiều thay đổi. Hiện nay đường sá khang trang hơn, các công trình công cộng được đầu tư rất nhiều”.

Không chỉ ở thị trấn Nghèn mà các vùng nông thôn Can Lộc cũng có nhiều khởi sắc. Với tinh thần Xô Viết, nhân dân Can Lộc đã đồng lòng hy sinh quyền lợi cá nhân, xóa bỏ những thửa ruộng manh mún, dồn điền, đổi thửa lần thứ hai thành công, từ 320.000 thửa xuống còn 62.000, tạo tiền đề cho chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới theo hướng bền vững. Nhờ đó người nông dân Can Lộc có điều kiện xây dựng nhiều vùng sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa như ở Thiên Lộc, Khánh Lộc… cho thu nhập cao. Kinh tế nông thôn có chuyển biến tốt, đời sống nông dân ấm no, không còn hộ đói, hộ nghèo giảm nhanh, số hộ làm ăn khá giả tăng rõ rệt. Hầu hết các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp 2005-2010 hoàn thành trước thời gian đã phần nào nói lên tinh thần Xô-viết trên mặt trận mới của người dân Can Lộc.

Anh Trần Đức Lai, ở xã Khánh Lộc cho biết: “Các phong trào và đời sống của người dân được nâng lên rõ rệt, đặc biệt là phong trào xây dựng nông thôn mới, cuộc sống của người dân càng ngày càng đi lên, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp…”.

Những ngày tháng Tám lịch sử này, từ khu di tích Ngã ba Nghèn nhìn đâu cũng thấy những xóm làng trù mật, những cánh đồng thẳng cánh cò bay và những con đường khang trang, thoáng rộng. Mỗi địa danh, mỗi mảnh đất nơi đây đều thấm đẫm sự cống hiến, hy sinh và cả máu xương của bao thế hệ người Hà Tĩnh.

Mùa thu này, trời xanh cao vời vợi. Khu di tích thêm hấp dẫn lạ kỳ, ai đến đây cũng cảm nhận được và tin rằng dẫu còn nhiều khó khăn nhưng tương lai không xa Hà Tĩnh sẽ trở thành tỉnh phát triển. Bởi trên con đường đó truyền thống luôn là hành trang và động lực để vững bước./.

Đình Hiếu-Văn Hiếu
vov.vn

Bang – Giây trói

BANG

Hỉnh tý trường long hoàn nhiễu trước,
Uyển như ngoại quốc vũ huân quan;
Huân quan đích thị kim ti tuyến,
Ngã đích ma thằng nhất đại đoan.

DÂY TRÓI

Rồng dài quấn quanh cẳng chân và cánh tay,
Giống hệt dây tua quan võ nước ngoài;
Dây tua quan võ là tơ kim tuyến,
Còn của ta là một sợi thừng gai lớn.

———————————-

Rồng quấn vòng quanh chân với tay,
Trông như quan võ đủ tua, đai;
Tua đai quan võ bằng kim tuyến,
Tua của ta là một cuộn gai.

NAM TRÂN – BǍNG THANH dịch

Bản dịch khác:

Rồng dài vòng quấn khắp chân tay,
Quan võ nước ngoài thắng bộ đây;
Quan võ đeo tua kim tuyến thật,
Còn ta, quấn một cuộn thừng đay!

HUỆ CHI dịch
cpv.org.vn

Lạc liễu nhất chích nha – Rụng mất một chiếc rǎng

LẠC LIẾU NHẤT CHÍCH NHA

Nhĩ đích tâm tình ngạnh thả cương,
Bất như lão thiệt nhuyễn nhi trường;
Tòng lai dữ nhĩ đồng cam khổ,
Hiện tại đông tây các nhất phương.

RỤNG MẤT MỘT CHIẾC RĂNG

Tính tình anh rắn rỏi và kiên cường,
Chẳng mềm và dài như lão lưỡi;
Trước nay vẫn cùng anh chung ngọt bùi, cay đắng,
Bây giờ phải xa nhau, người một phương.

——————————–

Cứng rắn như anh chẳng kém ai,
Chẳng như lão lưỡi dẻo và dài;
Ngọt bùi cay đắng từng chia sẻ,
Nay kẻ chân mây, kẻ cuối trời.

TÂN ĐẮC THỌ dịch
cpv.org.vn

Long An – Đồng Chính – Long An – Đồng Chính

LONG AN – ĐỒNG CHÍNH)

Thử gian thổ địa quảng nhi bần,

Sở dĩ nhân dân kiệm thả cần;

Thính thuyết kim xuân phùng đại hạn,

Thập phân thu hoạch lưỡng tam phân.

LONG AN – ĐỒNG CHÍNH

Vùng này ruộng đất rộng nhưng cằn cỗi,

Vì thế nhân dân tiết kiệm và siêng nǎng;

Nghe nói mùa xuân nǎm nay gặp đại hạn,

Mười phần chỉ thu hoạch được vài ba phần.

——————————

Vùng đây tuy rộng, đất khô cằn,

Vì thế nhân dân kiệm lại cần;

Nghe nói xuân nay trời đại hạn,

Mười phần thu hoạch chỉ đôi phần.

NAM TRÂN – BǍNG THANH dịch
cpv.org.vn

Nhai thượng – Trên đường phố

NHAI THƯỢNG

Nhai thượng nhân tranh khán Hán gian,

Hán gian dữ ngã bản vô can;

Vô can nhưng thị hiềm nghi phạm,

Sử ngã tâm trung giác điểm hàn.

TRÊN ĐƯỜNG PHỐ

Trên đường phố mọi người tranh nhau xem
Hán gian,

Hán gian vốn chẳng liên can gì với ta;

Nhưng không liên can mà vẫn là người tù
bị tình nghi,

Khiến lòng ta cảm thấy có chút ghê lạnh.

——————————-

Ngoài phố tranh nhau xem Hán gian,

Hán gian, ta vốn thực vô can;

Vô can vẫn bị nghi là có,

Thực khiến lòng ta lạnh tới gan.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Lộ thượng – Trên đường

LỘ THƯỢNG

Hĩnh tý tuy nhiên bị khẩn bang,

Mãn sơn điểu ngữ dữ hoa hương;

Tự do lãm thưởng vô nhân cấm,

Lại thử chinh đồ giảm tịch lương.

TRÊN ĐƯỜNG

Mặc dù chân tay bị trói chặt,

Nhưng đầy núi chim hót và hoa thơm;

Tự do thưởng ngoạn, không ai cấm được,

Nhờ thế, đường xa cũng bớt quạnh hiu.

——————————

Mặc dù bị trói chân tay,

Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng;

Vui say, ai cấm ta dừng,

Đường xa, âu cũng bớt chừng quạnh hiu.

NAM TRÂN dịch

Bản dịch khác:

Dẫu trói chân tay đến ngặt nghèo,

Khắp rừng hương ngát với chim kêu;

Tự do thưởng ngoạn, ai ngǎn được,

Cô quạnh đường xa, vợi ít nhiều.

HUỆ CHI dịch
cpv.org.vn

Thời cơ trong Cách mạng tháng Tám và bài học kinh nghiệm cho đất nước hôm nay

(ĐCSVN) – Cách mạng tháng Tám năm 1945 là biểu hiện mẫu mực của khoa học và nghệ thuật chính trị dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, trong đó nổi bật là khoa học, nghệ thuật chủ động chuẩn bị lực lượng, nắm bắt mau lẹ và chớp thời cơ một cách quyết đoán, hiệu quả.

Ngay từ tháng 5 năm 1941, khi Liên Xô chưa tham chiến, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 được tổ chức tai Pắc Bó (Cao Bằng) đã ra Nghị quyết dự báo một cách chính xác hệ quả trực tiếp của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó cách mạng nhiều nước thành công…”. Thực tiễn lịch sử chứng minh tính đúng đắn của dự báo do Đảng ta đưa ra. Với chiến thắng của Liên Xô và các lực lượng Đồng minh trước chủ nghĩa phát xít, thời cơ cách mạng đã đến với nhiều nước trên thế giới khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Hàng loạt cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã nổ ra thắng lợi, chủ nghĩa xã hội từ một nước trở thành một hệ thống thế giới. Cách mạng giải phóng dân tộc ở Á, Phi, Mỹ La tinh đứng trước vận hội lớn của lịch sử.

Nhân dân Hà Nội chiếm Bắc Bộ phủ ngày 19/8/1945 (Ảnh tư liệu)

Cũng từ rất sớm, Đảng ta đã phân tích chính xác mâu thuẫn giữa các thế lực đế quốc, nhận định phát xít Nhật sẽ đảo chính hất cẳng thực dân Pháp ở Đông Dương và vạch ra kế hoạch hành động khi xuất hiện tình hình mới. Ngày 15-2-1944, trong bài “Bóc trần mưu gian của đế quốc Nhật! Thống nhất hành động đánh đổ thù chung!” đăng trên Báo Cờ Giải phóng, Tổng Bí thư Trường Chinh xác định sớm hay muộn cuộc đấu súng Nhật – Pháp nhất định sẽ xảy ra. Từ đó đến những tháng đầu năm 1945, vấn đề “cuộc đảo chính của phát xít Nhật” luôn luôn được nhắc tới trong những văn kiện, tài liệu tuyên truyền của Đảng, định hướng công tác chuẩn bị của phong trào cách mạng cho thời điểm “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Vì thế, ngay trong đêm Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), Hội nghị Thường vụ mở rộng, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trường Chinh, đã khai mạc tại chùa Đồng Kỵ, sau đó họp tiếp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh), ra ngay Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vào ngày 12-3-1945.

Bản Chỉ thị nhận định, cuộc đảo chính của Nhật ở Đông Dương tuy gây ra khủng hoảng chính trị, nhưng điều kiện khởi nghĩa chưa thực sự chín muồi. Trung ương xác định kẻ thù mới là phát xít Nhật, đề ra khẩu hiệu đấu tranh mới và dự báo hai khả năng làm xuất hiện thời cơ cho nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền trên cả nước. Một là, quân Đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật; hai là, Nhật đầu hàng Đồng minh.

Dưới ánh sáng của bản Chỉ thị lịch sử đó, các cấp bộ đảng từ trung ương đến địa phương đã theo dõi sát sao diễn biến mặt trận Thái Bình Dương. Đúng giữa trưa ngày 15-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng các lực lượng Đồng minh. Như vậy, thời cơ xuất hiện như khả năng thứ hai mà Đảng ta đã dự báo. Tại lán Nà Lừa, Tân Trào (Tuyên Quang), lãnh tụ Hồ Chí Minh thể hiện quyết tâm “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do, độc lập!”. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ủy ban ra Quân lệnh số 1: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đến! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam cùng giành lấy quyền độc lập của nước nhà. Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng! Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”. Tiếp đó, Hội nghị Đảng toàn quốc và Quốc dân Đại hội nhóm họp tại Tân Trào quyết định phát động cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước.

Như vậy, trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, thời cơ tồn tại một cách khách quan trong vòng 20 hôm, bắt đầu từ khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng (ngày 15-8) và kết thúc khi quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta theo Hiệp định Pốt-xđam (ngày 5-9). Nếu phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc trước ngày 15-8 quân Nhật còn mạnh và sau ngày 5-9 trên đất nước có nhiều kẻ thù, cách mạng đều không có khả năng thành công. Đảng và nhân dân ta đã chớp thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa, giành chính quyền thắng lợi trong ngưỡng thời gian khắc nghiệt đó. Như cơn sóng trào dâng, Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đạp đổ chính quyền phát xít Nhật và tay sai. Ngày 30- 8- 1945, vua Bảo Đại đọc chiếu thoái vị. Ngày 2-9-1945, lãnh tụ Hồ Chi Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội). Ba ngày sau, ngày 5-9-1945, với tư cách là chủ nhà, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đón tiếp quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta.

Nhờ chủ động, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho phong trào cách mạng ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng; hiểu biết sâu sắc về thời cơ cách mạng; dự báo chính xác, nắm bắt kịp thời và chớp thời cơ mau lẹ, tuy mới 15 tuổi và chỉ với hơn 5 nghìn đảng viên, trong vẻn vẹn chưa đầy 20 ngày của Mùa thu lịch sử năm 1945, Đảng ta đã lãnh đạo quần chúng nhân dân làm cuộc tổng khởi nghĩa thắng lợi, giành chính quyền, tuyên bố thành lập nước, thành lập Chính phủ lâm thời… mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc cho quốc gia dân tộc. Bài học và tấm gương mẫu mực về tận dụng thời cơ trong cách mạng tháng Tám năm 1945 không ngừng được phát huy, phát triển trong các thời kỳ chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của toàn quân, toàn dân ta, lập nên Điện Biên Phủ chấn động địa cầu năm 1954 và chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 mang tầm cao thời đại…

Công cuộc đổi mới ở nước ta từ năm 1986 đến nay được triển khai trong bối cảnh chứa đựng cả thời cơ, thuận lợi và nguy cơ, thách thức đan xen. Những thời cơ, thuận lợi lớn đã được Đảng và nhân dân nhận thức đầy đủ, kịp thời. Đó là: hoà bình, hợp tác và phát triển là xu thế chủ yếu của thế giới ngày nay; cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, nền kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hoá đang tạo điều kiện chưa từng có cho các quốc gia xích lại gần nhau, tăng cường hội nhập, phát huy lợi thế; xu hướng dân chủ hoá đời sống xã hội, đời sống quốc tế đang tạo hành lang rộng mở cho các chủ thể, các quốc gia khẳng định vai trò, vị trí của mình. Bên cạnh đó, nhiều khó khăn, thách thức, nguy cơ đang cản trở con đường phát triển của các quốc gia dân tộc: an ninh thế giới bị đe doạ nghiêm trọng bởi các nhân tố truyền thống và phi truyền thống (bạo loạn, xung đột, khủng bố, chiến tranh, tội phạm tài chính – tiền tệ, tội phạm công nghệ cao, thảm hoạ môi trường…); các thế lực phản động tăng cường chiến lược diễn biến hoà bình chống phá chủ nghĩa xã hội và nhiều chính sách khác cản trở độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia của các nước trên thế giới…

Những thời cơ và nguy cơ nêu trên, tự nó, chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng. Chúng trở thành thuận lợi và khó khăn thực tế hay không, điều đó phụ thuộc vào nhân tố chủ quan, trong đó có sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, các chủ trương, chính sách, các hoạt động thực tiễn nói chung. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc, đầy đủ về thời cơ và nguy cơ trong thế giới đương đại, Đảng, Nhà nước đã chủ động xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời và tổ chức thực hiện có hiệu quả; đã tranh thủ tốt các thời cơ, thuận lợi và ứng phó phù hợp trước các nguy cơ, thách thức, đẩy lùi nhiều khó khăn. Nhờ vậy, từ năm 1986 đến nay, đất nước đã đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: bảo vệ, đổi mới và phát triển chủ nghĩa xã hội trước những thử thách nghiệt ngã của lịch sử; khắc phục khủng hoảng, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển; chính trị xã hội ổn định, đời sống nhân dân có nhiều bước cải thiện rõ rệt, đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; quốc phòng, an ninh vững chắc, đối ngoại rộng mở, đảm bảo môi trường hoà bình, thuận lợi cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế… Thế và lực của đất nước, sức mạnh tổng hợp quốc gia được nâng cao, tạo tiền đề quý báu cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Trong từng thành tựu của công cuộc đổi mới và trong mỗi bước phát triển của đất nước hôm nay đều khởi nguồn từ những bài học kinh nghiệm quý báu đúc kết từ các thời kỳ cách mạng trước đây. Trong đó, bài học kinh nghiệm nắm bắt và chớp thời cơ của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 luôn luôn có giá trị lâu bền và ý nghĩa thời đại./.

PGS.TS Nguyễn Viết Thảo
Tổng biên tập Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
cpv.org.vn

Cách mạng tháng Tám – thắng lợi của con đường cứu nước Hồ Chí Minh

Ảnh tư liệu (nguồn: tvad.com.vn)

(ĐCSVN)Cuối năm 1920, sau khi quyết định theo chủ nghĩa Mác – Lênin và trở thành người cộng sản, Hồ Chí Minh đã xác định con đường cứu nước đúng đắn duy nhất là đi theo con đường cách mạng vô sản. Công cuộc cứu nước đó sẽ được kết thúc bằng cuộc nổi dậy của đông đảo quần chúng bị áp bức lật đổ ách thống trị của đế quốc và tay sai, giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Vào thời điểm bấy giờ, ở Việt Nam có nhiều phong trào yêu nước, nhưng những đường lối cứu nước ấy còn có mặt những hạn chế về tư tưởng chính trị và phương pháp cách mạng nên đều đi đến thất bại. Tư tưởng cứu nước Hồ Chí Minh là hoàn toàn mới ở nước ta lúc đó.

Sau khi xác định được con đường cứu nước đúng đắn, Hồ Chí Minh với hoạt động cách mạng vô cùng phong phú, từng bước chuẩn bị những tiền đề và trực tiếp lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam. Đầu tiên là truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, đưa lý luận vào soi sáng, làm chuyển biến về chất phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Điều đặc biệt quan trọng là Hồ Chí Minh đã rút ra những vấn đề về lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác – Lênin, gắn với việc giải quyết những yêu cầu cơ bản của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam để truyền bá một cách dễ hiểu, tạo sự chuyển biến tư tưởng, hành động cách mạng của mọi tầng lớp nhân dân. Đó là lên án chủ nghĩa đế quốc thực dân, thức tỉnh tinh thần đấu tranh giành độc lập, kêu gọi “dân bản xứ” vùng lên, theo con đường cách mạng vô sản, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta, về tình đoàn kết liên minh cách mạng thuộc địa với cách mạng chính quốc…Trên cơ sở tiếp thu sâu sắc lý luận Mác – Lênin, nắm bắt những kinh nghiệm của cách mạng thế giới và nắm bắt đầy đủ lịch sử, hiện thực đất nước, con người Việt Nam, Hồ Chí Minh đã sớm vạch ra đường lối cách mạng giải phóng dân tộc.

Cuốn sách “Đường Cách mệnh” xuất bản năm 1927 đã chỉ ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, lực lượng và phương pháp cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam. Người chỉ rõ con đường cách mệnh Việt Nam là phải theo con đường cách mệnh Nga: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất”[1], nghĩa là phải kết thúc bằng một cuộc khởi nghĩa của đông đảo các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, dùng bạo lực cách mạng lật đổ chính quyền thống trị, giành quyền làm chủ đất nước về tay nhân dân.

Trả lời câu hỏi Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức quần chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”[2].

Quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin về nước, định ra đường lối cách mạng Việt Nam và thành lập các tổ chức cách mạng, đào tạo cán bộ để chỉ đạo phong trào cách mạng cũng là bước chuẩn bị tiên quyết về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đó là kết quả của sự phát triển phong trào cách mạng trong nước, có sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, nhưng người trực tiếp sáng lập Đảng là lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Chánh cương vắn tắt của Đảng do lãnh tụ Hồ Chí Minh soạn thảo và Hội nghị thành lập Đảng thông qua đã nêu rõ:

“Về phương diện chính trị:

a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến.
b) Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập.
c) Dựng ra chính phủ công nông binh.
d) Tổ chức ra quân đội công nông”[3].

Như vậy Hồ Chí Minh đã xác định đánh đổ đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân là nhiệm vụ trọng yếu trực tiếp của cách mạng Việt Nam.

Sau khi Đảng ra đời, Hồ Chí Minh đã kiên trì đấu tranh để toàn Đảng, toàn dân thống nhất về tư tưởng, hành động thực hiện đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Trải qua những cuộc đấu tranh tư tưởng và những cuộc đấu tranh cách mạng, đến cao trào giải phóng dân tộc 1939 – 1945, tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh mới được nhận thức đầy đủ và thống nhất tin theo. Đó là một động lực lớn thúc đẩy cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 9 – 3 – 1945, phát xít Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Nhiều cuộc khởi nghĩa từng phần diễn ra ở các địa phương cả ba miền Bắc, Trung, Nam.

Mùa Thu năm 1945, sau khi Hồng quân Liên Xô và các lực lượng Đồng minh tiêu diệt phát xít Đức, Ý, Liên Xô tuyên chiến và đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật, buộc phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng minh, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc.

Thời cơ cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam đã đến. Lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương. Bác Hồ đã nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”[4].

Từ ngày 13 đến ngày 15 – 8 – 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang). Hội nghị nhận định điều kiện khởi nghĩa đã chín muồi và phát động cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị cử ra Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc. Đêm 13 – 8, Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc ra lệnh Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc.

Ngày 15 – 8 – 1945, tại Tân Trào, Đại hội Quốc dân do Tổng bộ Việt Minh triệu tập khai mạc. Đại hội tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng và cử ra Uỷ ban Dân tộc giải phóng tức Chính phủ cách mạng lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngay sau Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”[5].

Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lệnh khởi nghĩa của Uỷ ban Khởi nghĩa, hơn 20 triệu đồng bào cả nước đã nhất tề vùng dậy. Suốt một dải non sông hừng hực khí thế chiến đấu. Lực lượng chính trị hùng hậu của quần chúng có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang cách mạng đã giành được thế áp đảo chính quyền thống trị. Từ ngày 14 đến ngày 25 – 8 – 1945, chỉ trong 12 ngày, 12 ngày sôi nổi tinh thần yêu nước và khí thế cách mạng tiến công, Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi huy hoàng trong cả nước. Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 – 9 – 1945, tại cuộc mít tinh mừng độc lập ở vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, mở ra thời đại mới của dân tộc Việt Nam.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là thắng lợi của đường lối chiến lược và phương pháp cách mạng của Đảng, là thắng lợi của lực lượng đoàn kết, chiến đấu hy sinh toàn dân tộc, là thắng lợi của sự kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại…Tất cả những yếu tố đó đều bắt nguồn từ con đường cứu nước Hồ Chí Minh. Vì thế, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám trước hết là thắng lợi của con đường cứu nước Hồ Chí Minh.

Sau thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đất nước ta đã hoàn toàn độc lập, thống nhất, cả nước bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Hơn 35 năm qua, nhất là qua 25 năm đổi mới, nhân dân ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Tuy nhiên, hiện nay tình hình thế giới còn đang có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định.

Tình hình trong nước, thành tựu của công cuộc đổi mới đã tạo ra thế và lực mới, sức mạnh tổng hợp để nhân dân ta xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời kỳ mới. Tuy nhiên, nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, trong đó có sự chống phá của các thế lực thù địch hòng làm thay đổi chế độ chính trị và xâm hại chủ quyền lãnh thổ của nước ta. Trước tình hình đó, không gì khác hơn, chúng ta phải tiếp tục kiên định con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và tiến hành từ hơn 80 năm qua là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Đại hội Đảng lần thứ XI: “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”[6].

[1] . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 1998, t. 1, tr. 39, 24.
[3] . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 1998, t. 2, tr. 4.
[4] . Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, H. 1977, tr. 203.
[5] . Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t. 3, tr. 554.
[6] . Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 65.

PGS. TS Vũ Như Khôi
cpv.org.vn