Trưng binh gia quyến – Gia quyến người bị bắt lính

TRUNG BINH GIA QUYẾN

Lang quân nhất khứ bất hồi đầu,

Sử thiếp khuê trung độc bão sầu;

Đương cục khả liên dư tịch mịch,

Thỉnh dư lai tạm trú lao tù.

GIA QUYẾN NGƯỜI BỊ BẮT LÍNH

Chàng ra đi không trở về,

Để thiếp chốn buồng the một mình ôm sầu;

Nhà đương cục ý hẳn thương thiếp cô quạnh,

Nên mời thiếp đến ở tạm nhà tù.

————————

Biền biệt anh đi không trở lại,

Buồng the trơ trọi, thiếp ôm sầu;

Quan trên xót nỗi em cô quạnh,

Nên lại mời em tạm ở tù!

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Giải trào – Pha trò

GIẢI TRÀO

Ngật công gia phạn, trú công phòng,

Quân cảnh luân ban khứ hộ tòng;

Ngoạn thuỷ du sơn tuỳ sở thích,

Nam nhi đáo thử diệc hào hùng!)

PHA TRÒ

Ǎn cơm nhà nước, ở nhà công,

Lính quân cảnh thay phiên nhau đi hộ vệ;

Dạo núi chơi sông tuỳ ý thích,

Làm trai đến thế cũng hào hùng!

—————————–

Ǎn cơm nhà nước, ở nhà công,

Lính tráng thay phiên đến hộ tòng;

Non nước dạo chơi tùy sở thích,

Làm trai như thế cũng hào hùng!

VǍN TRỰC – VĂN PHỤNG dịch
cpv.org.vn

Vãng Nam Ninh – Đi Nam Ninh

VÃNG NAM NINH

Thiết thằng ngạnh thế ma thằng nhuyễn,

Bộ bộ đinh đang hoãn bội thanh;

Tuy thị hiềm nghi gián điệp phạm,

Nghi dung khước tượng cựu công khanh.

ĐI NAM NINH

Xích sắt cứng đã thay thừng gai mềm,

Bước mỗi bước leng keng như tiếng ngọc;

Tuy là người tù bị tình nghi gián điệp,

Nhưng bộ dạng lại giống vị công khanh ngày trước.

———————————

Hôm nay xiềng sắt thay dây trói,

Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung;

Tuy bị tình nghi là gián điệp,

Mà như khanh tướng vẻ ung dung.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Cảnh binh đảm trư đồng hành – Cảnh binh khiêng lợn cùng đi

CẢNH BINH ĐẢM TRƯ ĐỒNG HÀNH

I

Cảnh sĩ đảm trư đồng lộ tẩu,

Trư do nhân đảm, ngã nhân khiên;

Nhân nhi phản tiện ư trư tử,

Nhân vị nhân vô tự chủ quyền!

II

Thế thượng thiên tân hoà vạn khổ,

Mạc như thất khước tự do quyền!

Nhất ngôn nhất động bất tự chủ,

Như ngưu, như mã, nhậm nhân khiên.

CẢNH BINH KHIÊNG LỢN CÙNG ĐI

I

Cảnh binh khiêng lợn đi cùng đường,

Lợn thì người khiêng, ta người dắt;

Người lại bị coi rẻ hơn lợn,

Chỉ vì người không có quyền tự chủ.

II

Trên đời nghìn vạn điều cay đắng,

Không gì cay đắng bằng mất quyền tự do;

Mỗi lời nói, mỗi hành động đều không được tự chủ,

Mặc cho người dắt như trâu, như ngựa.

I

Khiêng lợn, lính cùng đi một lối,

Ta thì người dắt, lợn người khiêng;

Con người coi rẻ hơn con lợn,

Chỉ tại người không có chủ quyền!

II

Trên đời nghìn vạn điều cay đắng,

Cay đắng chi bằng mất tự do ?

Mỗi việc mỗi lời không tự chủ,

Để cho người dắt tựa trâu bò!

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Điệt lạc – Hụt chân ngã

ĐIỆT LẠC

Dạ nhưng hắc ám dĩ đǎng trình,

Lộ hựu kỳ khu thậm bất bình;

Điệt nhập thâm khanh nguy hiểm thậm,

Hạnh nǎng dược xuất liễu thâm khanh .

HỤT CHÂN NGÃ

Đêm còn tối mịt đã phải lên đường,

Đường lại gồ ghề, không chút bằng phẳng;

Hụt chân thụt xuống hố sâu, nguy hiểm quá,

May sao đã nhảy được ra khỏi hố.

————————

Còn tối như bưng đã phải đi,

Đường đi khúc khuỷu lại gồ ghề;

Trượt chân nhỡ bước sa vào hố,

May nhảy ra ngoài suýt nữa nguy!

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Quyết định lịch sử của Hồ Chí Minh trong thời khắc Cách mạng Tháng Tám

Phủ Khâm Sai (Bắc Bộ Phủ) 19-8-1945

Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, với tầm nhìn của một lãnh tụ thiên tài, Hồ Chí Minh nhận định: Chiến tranh không chỉ là nguy cơ cướp đi hàng triệu sinh mạng con người ở các nước tham chiến, đồng thời là cơ hội để nhân dân các nước nhược tiểu đứng lên giành độc lập. Trước sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình thế giới, với tư duy chiến lược sắc sảo, nhạy bén, bằng nhạy cảm chính trị thiên tài, Người đã giải quyết thành công vấn đề giải phóng dân tộc. Người đề nghị Quốc tế Cộng sản để Người trở về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam và được chấp nhận. Rời Liên Xô về nước, Người tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho cách mạng Việt Nam. Tháng 6-1940, tại Trung Quốc, Người bắt đầu liên lạc được với Đảng ta. Tại buổi gặp các đồng chí lãnh đạo Đảng ở “Ban hải ngoại”, Người nêu một nhận định chính xác: Chủ nghĩa phát xít nhất định bị tiêu diệt, đây là thời thuận lợi cho các dân tộc dứng lên tự giải phóng. Được tin Pháp đầu hàng Đức, Người phân tích: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”(1).

Với kinh nghiệm hoạt động quốc tế phong phú, trên cơ sở phân tích, đánh giá chính xác tình hình thế giới, mưu đồ của chủ nghĩa phát xít, Người quyết định thành lập “Việt Nam đồng minh hội” ngay trên đất Trung Quốc. Trước mắt, để hợp pháp hóa về mặt tổ chức, có điều kiện về nước một cách công khai; còn lâu dài, để có tổ chức liên lạc với quốc tế. Những quyết định trên thể hiện tầm nhìn xa trông rộng, sự mẫn cảm chính trị đầy trách nhiệm của Bác Hồ trước vận mệnh của dân tộc, định hướng cho thành công của Cách mạng Tháng Tám. Người tích cực triển khai các hoạt động quốc tế dồn dập: trực tiếp gặp đại diện Đảng Cộng sản Trung Quốc, gửi thư cho Quốc tế Cộng sản yêu cầu giúp đỡ… Người quyết định mở lớp huấn luyện chính trị và quân sự cấp tốc đưa về nước tuyên truyền, tổ chức các đoàn thể cứu quốc, chọn Cao Bằng làm căn cứ địa cách mạng… Những quyết định sáng suốt và kịp thời của Bác Hồ trong việc tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, chuẩn bị thực lực bên trong là bước chuẩn bị cần thiết cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

Giữa lúc bão táp cách mạng đang nổ ra dồn dập, mùa xuân năm 1941, Bác Hồ về nước. Đây là cuộc gặp gỡ lịch sử giữa vị lãnh tụ tối cao với cả một dân tộc đang sục sôi đấu tranh và mong chờ sự dẫn đường, chỉ lối. Nhận thức rõ yêu cầu lịch sử đó, ngay từ lúc còn ở đất Trung Quốc, Người đã chỉ thị: “Trung ương Đảng phải chuyển về nước để trực tiếp lãnh đạo phong trào”(2). Tháng 2-1941, sau 30 năm bôn ba, Bác Hồ về đến Cao Bằng, trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam.

Về nước được hơn 3 tháng, với danh nghĩa là đại biểu Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ tám từ ngày 10 đến 19-5-1941, Hội nghị quyết định dương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc, xác định rõ: “cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”(3). Đó chính là sự phát triển hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng do Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (tháng 11-1939) và lần thứ 7 (tháng 11-1940) của Đảng đề ra. Chủ trương đó đã thể hiện tư duy chiến lược, nhãn quan chính trị nhạy bén của Bác Hồ, đồng thời phản ánh đúng tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân là thoát khỏi ách áp bức “một cổ hai tròng” của đế quốc và phong kiến tay sai. Bác Hồ đã chủ động xây dựng lực lượng cách mạng hùng hậu đủ sức tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Người vạch ra đường lối cách mạng trước thời cơ mới: “Sẽ thành lập một Chính phủ nhân dân của Việt Nam dân chủ cộng hòa, lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ Tổ quốc” (Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VIII, Đảng Cộng sản Đông Dương, 5-1941). Hội nghị đã mở ra một trang sử mới trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đóng góp to lớn vào kho tàng lý luận về cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam.

Sau Hội nghị, Người chỉ đạo soạn thảo các Văn kiện của Mặt trận Việt Minh như Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ. Những văn kiện này thể hiện đầy đủ sự thống nhất quan điểm giữa Bác Hồ và Trung ương Đảng ta về những vấn đề thuộc chiến lược của cách mạng Việt Nam. Thành lập Mặt trận Việt Minh là quyết định sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đáp ứng đúng yêu cầu của lịch sử, dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Có thể nói không có Việt Minh thì không có Cách mạng Tháng Tám. Song song với việc xây dựng lực lượng chính trị, Đảng và Bác Hồ chú trọng từng bước xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng. Sau khởi nghĩa Bắc Sơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng quyết định duy trì, phát triển Đội du kích Bắc Sơn làm vốn quân sự lâu dài cho cách mạng. Đây là một quyết định sáng suốt và táo bạo. Chính nhờ có chủ trương đúng đắn đó, Đảng đã xây dựng được các trung đội cứu quốc, lực lượng quân sự chính quy đầu tiên của các mạng nước ta. Tháng 9-1944, xét thấy khởi nghĩa vũ trang chưa chín muồi, Bác Hồ ra chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa Cao – Bắc – Lạng, lựa chọn trong hàng ngũ du kích Cao – Bắc – Lạng số cán bộ và đội viên xuất sắc nhất làm nòng cốt cho đội quân chủ lực. Đồng thời, Người ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và chỉ rõ: “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh… Tuy lúc đầu quy mô nó còn nhỏ nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”(4). Lực lượng cách mạng chính trị và lực lượng vũ trang không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, đã tạo điều kiện vô cùng quan trọng cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi nhanh chóng. Mùa thu năm 1945, Người chỉ thị thành lập Khu giải phóng và cử ra Ủy ban cách mạng để lãnh đạo các mặt trận chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Khu giải phóng đã trở thành căn cứ địa cách mạng, hậu phương vững chắc để tiến tới tổng khởi nghĩa trong cả nước.

Chiến tranh thế giới chuyển biến nhanh chóng, Bác Hồ phát hiện ra mâu thuẫn giữa Mỹ – Anh – Pháp về thuộc địa nói chung, về Đông Dương nói riêng. Bác Hồ gặp đại diện Mỹ ở Côn Minh bàn phương thức hợp tác Việt Minh – Mỹ. Thực hiện kế hoạch hợp tác đó, Mỹ đã giúp Việt Minh một số súng đạn, thuốc men, nhân viên điện đài và một số quân tình nguyện Mỹ huấn luyện cho lực lượng vũ trang Việt Minh, cách sử dụng các loại vũ khí, điện đài và kỹ thuật, chiến thuật trận địa. Ngược lại, Việt Minh đã cung cấp cho Mỹ những thông tin quan trọng về hoạt động của Nhật, đã cứu và giúp đỡ nhiều phi công Mỹ rơi trên đất nước ta. Bác Hồ quan hệ với Quốc dân đảng Trung Hoa và Mỹ là những quyết định sáng suốt, nhằm vừa tranh thủ họ, vừa hạn chế họ, thêm bạn, bớt thù cho cách mạng Việt Nam; đồng thời cho họ thấy rõ cuộc đấu tranh của dân tộc ta là cuộc đấu tranh của lực lượng dân chủ trong mặt trận đồng minh chống phát-xít mà họ cần quan hệ. Đây là minh chứng điển hình cho quan điểm của Bác Hồ về đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết, tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ, thực hiện cho được mục tiêu độc lập, tự do. Với tầm nhìn chiến lược, trong Thư gửi đồng bào toàn quốc, Người chỉ rõ: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các đồng minh quốc xã tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc một năm rưỡi nữa, thời gian rất gấp, ta phải làm nhanh”(5). Ngày 12-8-1945, qua chiếc đài thu thanh nhỏ, Bác Hồ biết Nhật đàm phán với Đồng Minh, trước nguy cơ bị thất bại hoàn toàn, phát xít Đức đầu hàng đồng minh, ở Đông Dương quân Nhật hoảng loạn, phong trào cách mạng cả nước sôi sục, những điều kiện cho tổng khởi nghĩa đã chín muồi. Chớp thời cơ, Bác Hồ cùng Trung ưởng Đảng ta đã chuẩn bị gấp “Hội nghị toàn quốc của Đảng” và “Đại hội đại biểu quốc dân” ở Tân Trào. Người nhấn mạnh: Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập. Và “Cần tranh thủ từng giây, từng phút, tình hình sẽ biến chuyển nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội”(6). Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ngày 14 và 15-8-1945, quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc trước khi Đồng minh vào, đề ra đường lối đối nội và đối ngoại sau khi Tổng khởi nghĩa. Ngày 16-8-1945, Đại hội quốc dân họp quyết định thành lập Ủy ban ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ. Ngay sau Đại hội, Người gửi Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa tới đồng bào cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy dùng sức ta mà giải phóng cho ta… Chúng ta không thể chậm trễ”(7).

Hội nghị toàn quốc, Đại hội quốc dân và Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trương, kế hoạch Tổng khởi nghĩa kịp thời, đúng thời cơ, động viên được sự đoàn kết nhất trí của toàn dân trong giờ phút quyết định của lịch sử dân tộc dể giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Hưởng ứng Lệnh Tổng khởi nghĩa của Đảng, đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới ngọn cờ Việt Minh, nhân dân ta triệu người như một nhất tề đứng lên khởi nghĩa, giành thắng lợi từng phần tiến tới giành thắng lợi trên toàn quốc, làm nên Cách mạng Tháng Tám 1945 lịch sử, Người quyết định soạn thảo Tuyên ngôn độc lập, ấn định ngày ra mắt quốc dân và tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trước khi quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật. Đây là quyết định nhạy bén, sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình quốc tế sau chiến tranh; đồng thời khẳng định ý chí sắt đá của dân tộc ta quyết tâm bảo vệ nền độc lập mới giành được.

Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình, trước cuộc mít-tinh của hàng vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”(8). Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam mới là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam, cũng là thắng lợi đầu tiên của Chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người con của lịch sử, quyết định sáng suốt những bước đi của cách mạng, tiên đoán chính xác, lãnh đạo Đảng và nhân dân ta chớp thời cơ, giành thắng lợi. Ở thời điểm lịch sử 1945, Người trở thành huyền thoại đẹp nhất. Cống hiến của Người đã giúp cho dân tộc ta hồi sinh, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác Hồ đã đóng góp quan trọng vào tiến trình cách mạng thế giới, phá vỡ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, xóa đi một vết nhơ trong lịch sử nhân loại là chế độ thực dân, thực hiện vai trò tiên phong trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và tiến bộ xã hội. Thắng lợi đó gắn liền với những quyết định sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chứng minh tính đúng đắn và khoa học của những tư tưởng cách mạng của Người trong thời đại mới…

Trương Thị Hoài
Trường Sĩ quan Lục quân 2,
HT: 3cb, 38, Biên Hòa, Đồng Nai

———————————

(1). Đầu nguồn, Nxb Văn học, H,1975, tr.234. (2). Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử Nxb CTQG, H, 1993, tr.54. (3). Văn kiện Đảng toàn tập, t7, tr.119. (4). Hồ Chí Minh, Toàn tập, t3, Nxb CTQG, H, 2000, tr.507-508. (5). Hồ Chí Minh, Toàn tập, t3, Nxb CTQG, H, 2000, tr.505-506.(6). Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Nxb QĐND, H, 1969, tr.212. (7). Hồ Chí Minh Toàn tập, t3, Nxb CTQG, H, 2000, tr.554. (8). Hồ Chí Minh Toàn tập,t3, Nxb CTQG, H, 2000, tr557.

Trương Thị Hoài, Trường Sĩ quan Lục quân 2
HT: 3cb, 38, Biên Hòa, Đồng Nai
xaydungdang.org.vn

Bán lộ tháp thuyền phó Ung – Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh

BÁN LỘ THÁP THUYỀN PHÓ UNG

Thừa chu thuận thuỷ vãng Ung Ninh,

Hĩnh điếu thuyền lan tự giảo hình;

Lưỡng ngạn hương thôn trù mật thậm,

Giang tâm ngư phủ điếu thuyền khinh.

GIỮA ĐƯỜNG ĐÁP THUYỀN ĐI UNG NINH1)

Đáp thuyền xuôi dòng đi Ung Ninh,

Chân bị treo lên giàn thuyền như tội hình treo cổ;

Làng xóm hai bên sông thật là đông đúc,

Giữa lòng sông, thuyền câu của ông chài lướt nhẹ.

————————

Đáp thuyền thẳng xuống huyện Ung Ninh,

Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình;

Làng xóm ven sông đông đúc thế,

Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Nam Ninh ngục – Nhà ngục Nam Ninh

NAM NINH NGỤC

Giam phòng kiến trúc đính “ma đǎng”,

Triệt dạ huy hoàng chiếu điện đǎng;

Nhân vị mỗi xan duy hữu chúc,

Sử nhân đỗ tử chiến cǎng cǎng.

NHÀ NGỤC NAM NINH

Nhà lao xây dựng rất “môđéc” ,

Suốt đêm đèn điện sáng rực;

Nhưng vì bữa ǎn nào cũng chỉ có cháo,

Khiến cho bụng người ta cứ run bần bật.

————————–

Nhà lao xây dựng kiểu tân thời,

Đèn điện thâu đêm sáng rực trời;

Nhưng mỗi bữa ǎn lưng bát cháo,

Cho nên cái bụng cứ rung hoài.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Nạp muộn – Buồn bực

NẠP MUỘN

Hoàn cầu chiến hoả thước thương thiên,

Tráng sĩ tương tranh phó trận tiền;

Ngục lý nhàn nhân nhàn yếu mệnh,

Hùng tâm bất trị nhất vǎn tiền.

BUỒN BỰC

Lửa chiến tranh trên hoàn cầu nóng chảy
cả trời xanh,

Tráng sĩ đua nhau ra mặt trận;

Trong tù, người nhàn lại nhàn quá đỗi,

Chí lớn mà không đáng giá một đồng tiền.

——————————

Tráng sĩ đua nhau ra mặt trận,

Hoàn cầu lửa bốc rực trời xanh;

Trong ngục người nhàn nhàn quá đỗi,

Chí cao mà chẳng đáng đồng trinh.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Thính kê minh – Nghe gà gáy

THÍNH KÊ MINH

Nhĩ chỉ bình thường nhất chích kê,

Triêu triêu báo hiểu đại thanh đề;

Nhất thanh hoán tỉnh quần lê mộng,

Nhĩ đích công lao dã bất đê.

NGHE GÀ GÁY

Ngươi chỉ là một chú gà bình thường,

Mỗi sớm, lớn tiếng gáy để báo sáng;

Một tiếng thôi mà gọi tỉnh giấc mộng của
dân chúng,

Công lao ngươi chẳng phải là xoàng.

———————–

Ngươi tuy chỉ một chú gà thường,

Báo sáng, ngày ngày tiếng gáy vang;

Một tiếng, toàn dân bừng tỉnh mộng,

Công ngươi đâu có phải là xoàng.

NAM TRÂN dịch
cpv.org.vn

Nhất cá đổ phạm “ngạnh” liễu – Một người tù cờ bạc “chết cứng”

NHẤT CÁ ĐỔ P HẠM “NGẠNH” LIỄU

Tha thân chỉ hữu cốt bao bì,

Thống khổ cơ hàn bất khả chi;

Tạc dạ tha nhưng thụy ngã trắc,

Kim triêu tha dĩ cửu tuyền quy.

MỘT NGƯỜI TÙ CỜ BẠC “CHẾT CỨNG”

Thân hình anh ấy chỉ còn da bọc xương,

Khổ đau, đói rét, không chống đỡ nổi;

Đêm qua anh còn nằm ngủ cạnh tôi,

Sáng nay đã về chín suối.

Thân anh da bọc lấy xương,

Khổ đau, đói rét hết phương sống rồi;

Đêm qua còn ngủ bên tôi,

Sáng nay anh đã về nơi suối vàng!

NAM TRÂN dịch

Bản dịch khác:

Anh chỉ làn da bọc dúm xương,

Khổ đau, đói rét sức khôn đương;

Đêm qua còn ngủ bên tôi đó,

Mà sáng hôm nay đã suối vàng.

NGUYỄN SĨ LÂM dịch
cpv.org.vn

Để cho “dân tiếc”, “dân mong”…

Tại lớp Huấn luyện chính trị cho những thanh niên Việt Nam yêu nước ở Quảng Châu, khi giảng về Tư cách người cách mệnh, Bác đã chỉ rõ: “Tự mình phải: Cần kiệm. Hòa mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại. Chịu khó. Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng ham muốn về vật chất. Bí mật”. Theo Người, “Tự mình phải; Đối người phải; Làm việc phải” trong tác phẩm “Đường Kách mệnh” là hệ tiêu chuẩn thuộc về tư cách đạo đức cách mạng mà người cán bộ, đảng viên nhất định phải có.

Khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Đảng Cộng sản từ hoạt động bí mật đã trở thành Đảng cầm quyền, để củng cố và bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các cán bộ, đảng viên, phải làm việc theo nguyên tắc “Hết sức nghe mệnh lệnh của Chính phủ”. Người chỉ rõ rằng “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác công việc chung cho dân” nên “việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh… Phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.

Phẩm chất đạo đức, tư cách của người cán bộ, đảng viên nhất quán và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là những con người dám xả thân cho cách mạng, đi tiên phong trong phong trào quần chúng, phải biết “làm việc”, biết “sửa đổi lối làm việc” và luôn luôn phải rèn luyện đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Như sông có nguồn thì mới có nước, như cây phải có gốc, vì nếu không có gốc thì cây chết, người cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng, vì nếu không có đạo đức cách mạng, thì “dù tài giỏi đến đâu cũng không thể lãnh đạo được nhân dân”.

Đạo đức cách mạng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là đạo đức hành động vì nhân dân, thể hiện bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng vững vàng, tự tin và dám chịu trách nhiệm trước bất kỳ khó khăn nào. Người cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, để lòng mình hướng đến “chí công, vô tư”, để “khi đi thì dân tiếc, sắp đến thì dân mong”.

Yên Chi
baobinhdinh.com.vn