Cách mạng Tháng Tám 1945 – Thắng lợi vĩ đại đầu tiên của cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập – Khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

(DVT.vn) – Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã tiến hành các cao trào cách mạng, vượt qua bao hy sinh, tổn thất để giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám, đem lại cuộc biến đổi xã hội chưa từng có và tạo ra bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc. Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi của trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần đấu tranh quật cường của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng; là sự lựa chọn của chính nhân dân Việt Nam, của lịch sử dân tộc Việt Nam qua nhiều thập kỷ khảo nghiệm, tìm tòi con đường cứu nước; là kết quả tổng hợp của các phong trào cách mạng liên tục diễn ra trong 15 năm sau khi Đảng ra đời.

Cũng đã có biết bao nhiêu công trình nghiên cứu về cách mạng Tháng Tám 1945 từ trước đến nay, và mỗi công trình lại có những điểm nhấn, tìm tòi, phát hiện thêm những giá trị sâu sắc của cuộc cách mạng vĩ đại này – cuộc cách mạng đã đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liến với chủ nghĩa xã hội, trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

Với sự kiện lịch sử này, cuốn sách Cách mạng Tháng Tám 1945 – Thắng lợi vĩ đại đầu tiên của cách mạng Việt Nam của GS, TS. Trình Nhu và TS. Trần Trọng Thơ xuất bản nhân dịp kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 sẽ góp phần giúp chúng ta nhận thức rõ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và sự lựa chọn của nhân dân ta trong quá trình đấu tranh cách mạng để có được những thành quả vinh quang. Là một thắng lợi vĩ đại đầu tiên của cách mạng Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đi vào lịch sử dân tộc ta và trải qua hơn sáu thập kỷ kiểm nghiệm bằng những thắng lợi vĩ đại của chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, bằng những thành tựu rất quan trọng của sự nghiệp xây dựng đất nước theo đường lối đổi mới mà nhân dân ta đã và đang tiến hành.

Cuốn sách gồm 6 chương, trong đó tập trung trình bày sự vận dụng truyền thống đại đoàn kết dân tộc “cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc” của dân tộc nhằm khơi dậy và quy tụ các nguồn lực dân tộc để cứu nước. Trong bối cảnh muôn vàn khó khăn, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nắm chắc, dự đoán và đánh giá đúng tình hình thế giới và trong nước, thay đổi chiến lược, xây dựng lực lượng cách mạng, kết hợp các hình thức đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, tận dụng thời cơ, phối hợp hành động, vận động đồng bào toàn quốc đứng dậy “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, làm chuyển hóa so sánh thế và lực giữa ta và địch, tạo nên sức mạnh tổng hợp áp đảo kẻ thù.

Bên cạnh việc nhấn mạnh những thành công vô cùng lớn lao của Cách mạng Tháng Tám, các tác giả cũng nêu lên và luận giải rõ những hạn chế về quan điểm tiến hành cách mạng, về công tác xây dựng Đảng ở một số cấp bộ Đảng, chỉ rõ những khuyết điểm trong đấu tranh chống khủng bố và lãnh đạo khởi nghĩa ở một số địa phương.

Hoàng Nguyễn
dvt.vn

Ký ức ngày tổng khởi nghĩa ở thủ đô

Lật giở từng trang ảnh kỷ niệm, ông Lê Đức Vân (tên thật là Nguyễn Hữu Phúc) nhớ lại mùa thu hào hùng năm 1945 và những người bạn trong Đội thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu.

Là cựu học sinh của trường Bưởi, ông Lê Đức Vân được người bạn học Vũ Oanh (tên thật là Vũ Duy Trương) giác ngộ cách mạng. Ông tham gia tổ chức “Tu Thân” (sau này đổi tên thành Đội Ngô Quyền) của ông Vũ Oanh để rèn luyện sức khỏe, học tập và tìm hiểu về con đường của những vị lãnh đạo yêu nước…

Vũ Oanh, Lê Đức Vân cùng gần 40 thành viên của đội sau đó được kết nạp vào Đoàn Thanh niên cứu quốc và ít lâu sau đứng vào hàng ngũ Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi trường Bưởi phải sơ tán đến khu an toàn, ông Vân cùng đồng đội bỏ học ở lại Hà Nội chiến đấu. Bí danh Lê Đức Vân (do ông Vũ Oanh đặt), Vân “Bụ” (vì ông khá bụ bẫm) cũng được ra đời từ đó.

Người thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu Lê Đức Vân năm xưa nay tóc đã bạc, lưng đã còng. Ảnh: Hoàng Thùy.

Nhiệm vụ của ông Vân là trị sự, in ấn, phát hành tờ báo Hồn Nước, rải truyền đơn và phụ trách một số tổ Thanh niên cứu quốc từ Cầu Giấy dọc theo đường Láng đến Ngã Tư Sở. Tháng 6/1945, ông Vũ Oanh được cử làm Trưởng đoàn đại biểu nhân dân Hà Nội đi Tân Trào dự Quốc dân đại hội, ông Vân được giao phụ trách toàn bộ thành đoàn Hà Nội cho đến ngày Cách mạng Tháng Tám diễn ra.

Giờ đây, người chiến sĩ có biệt danh Vân “Bụ” đã lên chức ông, đôi bàn tay đã nhăn nheo và lưng đã còng đôi chút, thế nhưng ông vẫn còn nhớ rõ thời khắc quan trọng những ngày tổng khởi nghĩa. Lúc ấy, quân đội Liên Xô đã đánh tan gần một triệu quân Nhật tại Mãn Châu (Trung Quốc), buộc Nhật đầu hàng đồng minh không điều kiện.

Trong hoàn cảnh đó, đồng minh lăm le quay trở lại Việt Nam dưới danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật. Lãnh đạo mặt trận Việt Minh xác định đây là thời cơ tổng khởi nghĩa bởi nếu để muộn hơn, khi quân đồng minh vào, cùng một lúc không thể đối phó với thù trong, giặc ngoài hùng mạnh.

Từ ngày 13 đến ngày 15/8/1945, tại Tân Trào diễn ra Hội nghị toàn quốc của Đảng. Hội nghị nhận định: “Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi… Quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần, hàng ngũ chỉ huy Nhật ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm, bọn Việt gian thân Nhật hoảng sợ. Toàn dân tộc đang sôi nổi đợi giờ khởi nghĩa giành chính quyền độc lập”.

Từ nhận định đó, hội nghị đi đến quyết định phát động toàn dân nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Anh, quân Tưởng Giới Thạch vào Đông Dương tước khí giới quân Nhật và thực dân Pháp chưa kịp tập hợp lực lượng, điều quân vào xâm lược Việt Nam lần nữa.

Buổi chiều 17/8/1945, tại Nhà hát lớn, Chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mít tinh với sự tham gia của hàng chục nghìn người. Khi chúng mới chỉ kịp tuyên bố khai mạc thì người của Việt Minh xông lên cướp micro.

Ông Vân nhớ, hai người phụ nữ là Kiều Trang (Từ Trang Anh, thành viên của đội cứu quốc thành Hoàng Diệu) và Nguyễn Khoa Diệu Hồng (thành viên của Đảng Dân chủ) lên sân khấu thông báo với mọi người rằng Nhật đã đầu hàng, rồi hô hào đồng bào ủng hộ Việt Minh cướp chính quyền, đòi độc lập. Từ trên tầng hai Nhà hát lớn, lá cờ đỏ sao vàng được buông xuống.

Ngay sau đó, một thành viên trong đội danh dự đã lấy từ trong người ra lá cờ đỏ sao vàng to, có cán, quay đầu hô “tiến lên”. Do anh đứng ở cuối đoàn nên khi quay đầu trở thành người dẫn đường. Những người tham dự mít tinh cũng xoay người đi theo anh. Cả đoàn nhằm hướng Tràng Tiền tiến lên. Đoàn đi đến đâu, người dân từ hai bên đường ra gia nhập đến đó. Vừa đi mọi người vừa hô “Ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Việt Minh, Việt Nam độc lập”.

Ông Vân cho biết, đoàn diễu hành sau khi đi hết Tràng Tiền lại qua Hàng Đào, Hàng Ngang, Phan Đình Phùng… Khi đi qua Chủ tịch phủ (nơi Tư lệnh quân Nhật đóng), quân địch ở đây không có phản ứng gì mà chỉ đứng nhìn. Đoàn diễu hành tiếp tục đi qua Trần Phú, Cửa Nam rồi dừng lại trong tiếng súng bắn chỉ thiên của lính bảo an. Từ đây, đoàn diễu hành chia thành các nhóm nhỏ đi về các phố biến thành hàng chục cuộc diễu hành nhỏ, vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu “Việt Nam độc lập” cho đến 19, 20h mới tan.

Ông Lê Đức Vân vinh dự được gặp đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 1993.
Ảnh: Hoàng Thùy.

“Số người tham gia diễu hành lúc đó phải lên tới 10.000 người. Cuộc mít tinh của địch đã nhanh chóng biến thành biểu tình, tuần hành của ta ngoài dự kiến. Chúng tôi thấy rằng đây là đỉnh điểm của sự quật khởi, lãnh đạo mặt trận Việt Minh phải nắm lấy thời cơ đề phòng tinh thần hừng hực của người dân lắng xuống”, ông Vân nói và cho hay, khi vừa tham gia đoàn diễu hành về đến nhà thì nhận được lệnh đi họp gấp.

Cuộc họp diễn ra lúc 21h, tại nhà một gia đình là căn cứ cách mạng ở thôn Dịnh Vọng. Đây là hội nghị của Thành ủy và Ủy ban Quân sự cách mạng mở rộng. Có 9 người tham gia trong đó có ông Nguyễn Quyết (bí thư thành ủy), ông Lê Trọng Nghĩa, Trần Quang Huy (cán bộ xứ ủy).

Cuộc họp nhanh chóng quyết định khởi nghĩa vào ngày 19/8. Các thành viên kiểm tra lại lực lượng xem có bao nhiêu hội viên, vũ khí có những gì và bàn phương thức khởi nghĩa. “Khởi nghĩa như thế nào khi Hà Nội có 20.000 lính Nhật, lực lượng hội viên mặt trận chưa đến 1.000 người, vũ khí chỉ có vài khẩu súng, mã tấu” là vấn đề được đưa ra.

Các thành viên phân tích, thời điểm ấy, Nhật đã đầu hàng đồng minh nhưng lệnh chưa được chuyển đến Hà Nội. Nếu mình đánh, chúng phản ứng lại thì không đủ sức chiến đấu. Thế nên hội nghị chủ trường trung lập hóa quân Nhật. Khi lực lượng của ta diễu hành qua các tuyến phố chúng chỉ nhìn mà không phản ứng, như vậy, nếu mình không đánh, họ cũng sẽ không đụng mình.

Phương án mà các thành viên tham dự hội nghị đưa ra là sẽ cử người sang thương lượng với Nhật, rải truyền đơn thông báo rằng “Nhật đã đầu hàng đồng minh, việc giành chính quyền là việc của chúng tôi, đề nghị quân đội Nhật không can thiệp vào”.

Cuộc họp cũng phân công ông Vân đảm trách việc tổ chức khởi nghĩa ở ngoại thành Hà Nội, sau khi hoàn tất sẽ về dự mít tinh tổng khởi nghĩa trong nội thành. Việc này rất quan trọng bởi trước đây, hoạt động cách mạng có thể đứng được là nhờ khu vực ngoại thành. Ông Nguyễn Quyết sẽ cùng với đội tuyên truyền thành Hoàng Diệu chiếm trại Bảo an binh, ông Nguyễn Khang (chủ tịch mặt trận khởi nghĩa) chiếm phủ Khâm sai…

Cuộc họp kéo dài đến rạng sáng 18/8, các thành viên trở về địa bàn được phân công, bí mật phổ biến kế hoạch với lực lượng tự vệ xung phong và nhân dân, đồng thời chuẩn bị mọi điều kiện để đồng loạt khởi nghĩa vào hôm sau.

Sáng sớm 19/8, lực lượng cách mạng ngoại thành tổ chức mít tinh, nhân dân làng Cót tuyên bố lật đổ chính quyền. Sau đó, đoàn diễu hành kéo đến các làng như Quan Nhân, Chính Kinh, tuyên bố xóa chính quyền cũ, khẳng định Nhật ủng hộ đồng minh. Trước khí thế đó, bọn tay sai sợ hãi, vội vàng nộp con dấu, sổ sách cho chính quyền cách mạng.

Cũng trong buổi sáng, mũi hai tổ chức mít tinh ở làng Mọc, Quan Nhân sau đó sang làng Cự Lộc rồi về Chính Kinh tụ họp. Mỗi lần di chuyển, lực lượng tham gia lên tới hàng chục nghìn người vừa đi vừa hô hào. Cả đoàn đi ra đường Láng, Thái Hà rồi đổ ra Ngã Tư Sở.

Tại đây, phường hát cô đầu (hát ả đào), binh lính địch, lính bảo an cũng giao súng cho lực lượng ta và tham gia diễu hành. Lực lượng tự vệ xung phong ngoại thành đã làm chủ được tình thế nên tiến lên chiếm Đại lý Hoả Long, bắt được tuần phủ Đặng Vũ Niết. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở vùng ngoại thành hoàn toàn thắng lợi.

Ở trong nội thành sáng 19/8 cũng tổ chức mít tinh và chia thành hai mũi chiếm Trại Bảo an binh, phủ Khâm Sai. Tại Trại bảo an binh, do không mở được cửa vào, lực lượng ta bao vây quanh trại. Bên ngoài, 4 xe tăng Nhật chĩa súng vào ta. Trong tình thế nguy cấp đó, ông Lê Trọng Nghĩa được cử đi thương thuyết với Nhật.

Với tài đàm phán và thuyết phục khéo léo, ông đã khiến quân Nhật rút lui, lực lượng của ta chiếm Bảo an binh, chiếm vũ khí và phân phát cho tự vệ, đồng thời, bầu Chủ tịch Ủy ban cách mạng lâm thời ngoại thành để làm nhiệm vụ thu hồi sổ sách, giấy tờ của chính quyền cũ.

“Cuộc cách mạng đã thắng lợi, thủ đô được giải phóng nhưng chúng ta không hề phải đổ máu. Chiến thắng này không phải trong ngày một, ngày hai chúng ta làm được mà phải chuẩn bị từ vài năm trước”, ông Vân phân tích.

Ngày 2/9/1945, hàng chục nghìn người dân đã tập trung tại Quảng trường Ba Đình lịch sử để nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. “Tiếng hô xin thề, xin thề của nhân dân ta và câu hỏi chân tình “Tôi nói đồng bào có nghe rõ không” của Bác Hồ tôi không bao giờ quên được. Đó là những ngày tháng gian khổ, hào hùng nhưng cũng hạnh phúc nhất cuộc đời tôi”, ông Vân nói.

Hoàng Thùy
vnexpress.net

Cán bộ lãnh đạo phải làm gương

Đó là một trong những yêu cầu hàng đầu mà Bác Hồ đặt ra cho cán bộ của Đảng và Nhà nước ngay từ khi chính quyền nhân dân vừa mới ra đời. Tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa đầu tiên được tổ chức vào tháng 10.1946, Bác đã nói: “Chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm. Nhưng trong Chính phủ, từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở các Ủy ban làng đông lắm và phức tạp lắm. Dù sao, Chính phủ đã hết sức làm gương. Và nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng pháp luật mà trị”.

Bên cạnh việc căn dặn hết sức cặn kẽ cán bộ “đều là công bộc của dân” nên “việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh”, Bác cũng đòi hỏi cán bộ phải “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” và phải khắc sâu những chữ “công bằng, chính trực” vào lòng. Luôn biểu dương và khen thưởng kịp thời, xứng đáng những cán bộ tốt, đồng thời Bác hết sức nghiêm khắc với những tệ nạn như: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, tham ô, lãng phí… Người nhấn mạnh: “Ai đã phạm những lỗi lầm trên này phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”.

Bác đặc biệt coi trọng việc xây dựng và hình thành các tấm gương đạo đức trong quá trình xây dựng chính quyền của nhân dân. Từ nhận thức sâu sắc: tấm gương đạo đức của các vị lãnh đạo, của các nhà cầm quyền có ý nghĩa vô cùng to lớn, nhân dân sẽ noi theo gương đó mà hành động ứng xử. Bác thường xuyên nhắc nhở cán bộ phải chăm lo giữ gìn đạo đức trong cuộc sống và công tác. Người thường nói: đời sống của nhân dân ta còn khổ, người cách mạng không thể có cuộc sống khác. Và Bác đã nghiêm túc thực hiện tất cả những điều mà Người đã nói với cán bộ và mong muốn cán bộ thực hiện. Là Chủ tịch nước nhưng cuộc sống của Bác luôn đơn sơ, đạm bạc, giản dị “như người thường”, từ bữa ăn, chốn ở cho đến các tiện nghi sinh hoạt. Ở Bắc bộ phủ Bác thường ăn cơm chung với những người phục vụ. Gặp gỡ mọi người dù là cán bộ cấp cao hay dân thường, các cụ cao niên hay các cháu thiếu nhi… Bác đều gặp gỡ thân tình, trò chuyện cởi mở và cặn kẽ, ứng xử trọng thị… Dẫu bận trăm công nghìn việc của nguyên thủ quốc gia, Bác vẫn cố gắng thu xếp đi thăm nhân dân ở các địa phương, nhất là các vùng nông thôn, miền núi, ven biển…

Tấm gương đạo đức trong sáng cao đẹp của Bác đã được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân ta noi gương học tập và làm theo, tạo thành động lực to lớn để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta có thêm sức mạnh, đoàn kết một lòng làm nên những chiến thắng vẻ vang. Bài học người cán bộ lãnh đạo phải làm gương là điều mà mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta phải luôn ghi lòng tạc dạ và thực hiện triệt để trong cuộc sống và công tác của mỗi người.

Triêu Dương
baobinhdinh.com.vn

5 điều Bác dạy cán bộ

Lâu nay chúng ta hay nhắc đến “5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng” và hầu như đều thuộc từ lúc còn học ở bậc tiểu học. Phải nói rằng đó là những lời dạy thật chân tình, giản dị và vô cùng sâu sắc. Nó như một cẩm nang để các cháu thiếu niên nhi đồng làm theo và trở thành con ngoan, trò giỏi và công dân có ích cho đất nước.

Với đội ngũ cán bộ, Bác cũng có 5 điều căn dặn hết sức quý báu mà mỗi khi soi vào là một lần chúng ta có dịp nhìn nhận lại mình, tự răn mình để sống và làm việc tốt hơn. 5 điều này Bác Hồ nêu ra trong một cuộc nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa vào ngày 20.2.1947. Cụ thể như sau:

1. Mình đối với mình. Bác dặn “Đừng tự mãn, tự túc; nếu tự mãn, tự túc thì không tiến bộ. Đừng kiêu ngạo, học lấy điều hay của người ta. Phải siêng năng tiết kiệm”.

2. Đối với đồng chí mình. Bác nêu rõ: “Thân ái với nhau, nhưng không che đậy những điều dở. Học cái hay sửa chữa cái dở. Không nên tranh giành ảnh hưởng của nhau. Không nên ghen ghét đố kỵ và khinh rẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị…”.

3. Đối với công việc. Theo Bác: “Trước hết phải nghĩ cho kỹ, có việc làm trước mắt thành công nhưng thất bại về sau. Có việc địa phương này làm có lợi nhưng hại cho địa phương khác. Những cái như thế phải tránh…”. Bác đặc biệt lưu ý “Mỗi ngày lúc sáng dậy, tự hỏi mình ngày hôm nay làm gì? Tối đi ngủ phải tự hỏi mình ngày hôm nay đã làm gì?”…

4. Đối với nhân dân. Bác nhấn mạnh “Phải nhớ Đoàn thể làm việc cho dân, Đoàn thể mình mạnh hay yếu là ở dân”; do đó, người cán bộ phải hiểu dân cả về nguyện vọng, tâm lý, sự cực khổ… Đặc biệt là “Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân. Muốn cho dân phục phải được dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết”.

5. Đối với Đoàn thể. Bác hết sức lưu ý “Trước lúc mình vào Đoàn thể nào phải hiểu rõ Đoàn thể ấy là gì? Vào làm gì? Đoàn thể phải vì dân vì nước. Khi vào Đoàn thể, tự do cá nhân phải bỏ. Phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của Đoàn thể. Phải tuyệt đối trung thành”. Đặc biệt là phải “Hy sinh tính mạng, lợi quyền, giữ danh giá của Đoàn thể. Muốn giữ danh giá của Đoàn thể phải giữ danh giá mình. Không được báo cáo láo như làm thành một việc thì phóng đại, thất bại thì giấu đi…”.

Đã hơn 60 năm qua kể từ ngày Bác Hồ dạy cán bộ 5 điều kể trên. Tuy lời nói giản dị, mộc mạc nhưng ý nghĩa thì thật vô cùng sâu sắc. Nó vẫn còn nguyên giá trị đối với việc rèn luyện phẩm chất đạo đức và tác phong làm việc của người cán bộ, đảng viên trong hoàn cảnh hiện nay. Học tập và nghiền ngẫm những điều Bác dạy, mỗi cán bộ chúng ta càng hiểu mình phải làm gì để tốt hơn.

Hà Nhiên
baobinhdinh.com.vn

Có lỗi thì phải sửa

Sinh thời, Bác Hồ luôn giáo dục, nhắc nhở mọi cán bộ, đảng viên phải luôn ghi nhớ thật sâu sắc nhiệm vụ của mình. Đó là “vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, phục vụ cách mạng”. Người chỉ rõ: “Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng là để làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải làm “quan” nhân dân”. Và để làm tốt nhiệm vụ của mình thì mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu đi đầu trong mọi công việc, “nói” phải đi đôi với “làm”. Đặc biệt cần tránh các sai lầm, khuyết điểm.

Tuy nhiên, Người cũng nói rõ “Người đời ai cũng có khuyết điểm có làm việc thì có sai lầm”, do đó không loại trừ cán bộ, đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm. “Đảng ta không phải từ trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu tự tư, tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa… Những thói xấu đó họ mang từ xã hội vào Đảng. Cũng như những người hàng ngày lội bùn, mà trên mình họ có hơi bùn, có vết bùn. Như thế thì có gì là kỳ quái?”. Theo Bác, điều quan trọng là ở chỗ “chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa”. Bởi vì, “trừ những người cố ý phá hoại, ngoài ra không ai cố ý sai lầm, sai lầm là vì không hiểu, không biết. Vì vậy, đối với cán bộ sai lầm ta quyết không nên nhận rằng họ muốn như thế. Sự sửa đổi khuyết điểm một phần cố nhiên là trách nhiệm của cán bộ đó”. Theo Bác, để sửa chữa khuyết điểm thì người có khuyết điểm phải thành tâm, thành ý, thật sự cầu thị để tiến bộ. Việc xử lý Bác cũng lưu ý rất cặn kẽ “lỗi lầm có việc to, việc nhỏ”, do đó việc xử phạt phải “có tình, có lý” vì “nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại”. Song phải lấy giáo dục, thuyết phục, cảm hóa làm căn bản, gốc rễ. Đặc biệt, phải phân biệt nguyên cớ của sai lầm, khuyết điểm, “phải xét kỹ lưỡng việc nặng hay nhẹ, phải dùng xử phạt cho đúng”. Bác nhắc nhở, trong việc xử lý “không vì công mà quên lỗi, không vì lỗi mà quên công”. Bác cũng đặc biệt lưu ý “người lãnh đạo phải biết tìm cách đúng để giúp đỡ cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm”.

Bằng An
baobinhdinh.com.vn

Vì thế hệ tương lai

Sinh thời, Bác Hồ luôn dành những tình cảm đặc biệt, yêu thương cho các cháu thiếu nhi. Đặc biệt, Người luôn quan tâm chăm lo cho việc giáo dục các cháu trở thành con ngoan, trò giỏi.

Mỗi dịp khai trường hay Tết Trung thu, Tết Thiếu nhi Bác thường có thư gửi các cháu rất ân cần, trìu mến. Người luôn nhắc các cháu thiếu nhi phải đoàn kết, thi đua học tập, lao động, rèn luyện đạo đức, rèn luyện sức khỏe. Người cũng căn dặn người lớn phải quan tâm chăm sóc, giáo dục các em. Người nhắc nhở người lớn (trước hết là bố mẹ, cô giáo, thầy giáo…) phải luôn nhớ nhiệm vụ của mình đối với việc chăm sóc thiếu nhi, phải là tấm gương cho trẻ em noi theo, phải “khéo giáo dục để mai sau nhi đồng trở thành người công dân có tài, có đức”. Người yêu cầu “đừng dạy các em thành những ông cụ non… Phải làm sao cho trẻ có kỷ luật nhưng vẫn vui vẻ hoạt bát chứ không phải khúm núm đặt đâu ngồi đấy”. Người dạy “Vì lợi ích mười năm trồng cây, Vì lợi ích trăm năm trồng người”…

Bác coi thiếu nhi là người chủ tương lai của nước nhà, cho nên cần phải sớm rèn luyện đạo đức cách mạng. Nhiều lời dạy của Bác đối với thiếu nhi đã được các thế hệ thiếu niên, nhi đồng Việt Nam khắc cốt ghi tâm. Nổi bật là 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào /Học tập tốt, lao động tốt /Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt /Giữ gìn vệ sinh thật tốt /Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”.

Ba tháng trước lúc đi xa, nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi 1.6.1969, Bác viết bài trên báo Nhân Dân khẳng định “chăm sóc và giáo dục các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ”, và kêu gọi “Vì tương lai con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc, giáo dục các cháu bé cho tốt”.

Đặc biệt, trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người nhấn mạnh: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Những lời dạy của Người đối với công tác chăm sóc, giáo dục thiếu niên nhi đồng là cẩm nang quý báu vô giá mà mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta phải luôn ghi nhớ và thực hiện cho thật tốt. Đó chính là cách vun đắp cho tương lai của đất nước, của dân tộc phát triển bền vững đến muôn đời.

Lê Lan
baobinhdinh.com.vn

Muốn có phong trào phải lo cán bộ

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Việc cần làm trước tiên là chuẩn bị cán bộ cho phong trào. Xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt, nhiệt tình, vừa giỏi về chuyên môn, vừa có đạo đức trong sáng, có tác phong sâu sát, gần gũi quần chúng, với thực tiễn là đòi hỏi khách quan. Coi trọng phong trào Thi đua yêu nước và cán bộ của phong trào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sâu sát, lựa chọn và bố trí cán bộ làm công tác thi đua theo tiêu chuẩn: nhiệt tình, xốc vác và có kinh nghiệm thực tiễn.

Người yêu cầu những cán bộ làm công tác thi đua khi được giao trách nhiệm phụ trách địa bàn: Trước khi phát động, phải họp với cán bộ địa phương, đặt kế hoạch, lập tổ xung phong. Người đặc biệt nhấn mạnh: Từ cá nhân đến đoàn thể, “tổ chức công tác là cần thiết” và đó là nguyên nhân quyết định sự thành bại của phong trào. Cuối cùng, nếu coi thi đua là “gieo hạt”, khen thưởng là “thu hoạch”, những cán bộ làm công tác thi đua, nếu “bản thân tiến bộ”, hoặc có thành tích “giúp đỡ” người khác cùng tiến bộ, thì đều được khen thưởng. Khen thưởng sẽ tạo động lực trong thi đua.

Tháng 11.1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Cụ Tôn Đức Thắng, Trưởng ban vận động Thi đua ái quốc. Trong thư, Người viết: “Tôi rất đồng ý với Cụ là cần phải có cán bộ được huấn luyện hẳn hoi”. Đây là mối lưu tâm, là sự trăn trở của Người đối với sự phát triển của phong trào Thi đua yêu nước, bởi theo “thiển ý” của Người “Chúng ta rất cần huấn luyện cán bộ, mà huấn luyện cán bộ xã trước hết”, rồi từ đó “lựa chọn những cán bộ xã có năng lực nhất, đưa dần lên làm cán bộ huyện, tỉnh, khu”.

Người dặn dò, việc lựa chọn cán bộ cho phong trào phải được chuẩn bị chu đáo, có lộ trình, và việc bổ nhiệm cán bộ từ xã, lên huyện, đến tỉnh và khu, phụ thuộc vào năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức. Đó không chỉ là những người có lòng nhiệt tình, tính xốc vác, đó còn phải là những người “có năng lực nhất”, “được huấn luyện hẳn hoi”, và đặc biệt là phải trưởng thành từ cơ sở. Cách thức chọn người tiêu biểu nhất, được huấn luyện và đưa những cán bộ ở cấp cơ sở có năng lực lên phụ trách ở cấp cao hơn, là một cách lựa chọn, đào tạo và sử dụng cán bộ rất độc đáo.

Sức mạnh diệu kỳ của phong trào Thi đua yêu nước do Người phát động, bền bỉ, thực chất, thiết thực được thực hiện rộng khắp, mỗi ngày đã đem lại hiệu quả to lớn, đúng như Người từng nói: “Thi đua ái quốc, hiện tại và tương lai vẻ vang của nước ta”.

Lê Hà
baobinhdinh.com.vn

Quan tâm đến “tam nông”

Tháng 2.1951, trong Thư gửi nông dân thi đua canh tác, Bác viết “Thực túc thì binh cường, chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công thì đồng bào ở hậu phương phải thi đua tăng gia sản xuất; ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương”. Bức thư thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với giai cấp nông dân và sản xuất nông nghiệp.

Sau này, Bác cũng luôn quan tâm đến đời sống nông dân và công tác thủy nông. Dù bận rất nhiều việc của Chủ tịch nước, Người vẫn dành thời gian tham gia chống hạn, chống úng với nhân dân. Tham gia đạp guồng nước chống úng năm 1960 tại xã Hiệp Lực, tỉnh Hà Đông, Bác nhắc mọi người sau này nên lắp thêm vòng bi vào trục để người đạp đỡ vất vả mà năng suất lại cao hơn. Người còn lẩy Kiều: “Trăm năm trong cõi người ta, chống úng thắng lợi mới là người ngoan”.

Bác luôn dành cho giai cấp nông dân những tình cảm đặc biệt. Trong Di chúc, Bác đề nghị Chính phủ khi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ toàn thắng “miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”. Đến nay, lời căn dặn của Người đã thành hiện thực trên đất nước ta. Đặc biệt, những việc làm của Bác đối với nông nghiệp, cách thức tiếp cận chia sẻ vất vả với nông dân của Người… đến nay còn nguyên giá trị cả về tình cảm đạo đức và trí tuệ.

Đất nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo đường lối đổi mới của Đảng. Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã xác định việc giải quyết vấn đề “tam nông”: nông dân – nông nghiệp – nông thôn là vấn đề lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình hội nhập và phát triển của đất nước. Do đó, việc học tập và làm theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với lĩnh vực này là hết sức cần thiết đối với mỗi đảng viên để đưa Nghị quyết của Đảng sớm đi vào cuộc sống.

Quang Tuyến
baobinhdinh.com.vn

Đoàn kết là sức mạnh

Nhân ngày Quốc tế lao động 1.5.1946, Bác Hồ viết lời kêu gọi nhân dân: “Đoàn kết để giữ vững tự do dân chủ. Đoàn kết để kiến thiết nước nhà. Đoàn kết để xây dựng một đời sống mới”. Đoàn kết cũng là nội dung được Người đặc biệt quan tâm trong suốt sự nghiệp hoạt động cách mạng.

Vấn đề cốt lõi của tinh thần đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng một khối đoàn kết mạnh mẽ nhưng có tổ chức, cương lĩnh, nguyên tắc; có phương châm hành động đúng đắn, cụ thể và phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Vấn đề đó đã được đặt ra ngay từ khi có Đảng, với những tổ chức đoàn kết các thành phần lao động như: Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Phụ nữ, Thanh niên… Và ngày 18.11.1930, theo Chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng, “Hội Phản đế đồng minh Đông Dương” đã được thành lập, giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc chống lại thực dân Pháp xâm lược và bọn phong kiến tay sai bán nước.

Có thể nói rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, coi sự đoàn kết là sức mạnh vô địch chiến thắng mọi kẻ thù cho dù chúng nham hiểm đến đâu. Giải nghĩa vấn đề “Vì sao phải lấy dân làm gốc”. Người nói thật đơn giản: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Hoặc hình ảnh của sức mạnh đoàn kết được Người thể hiện rất cụ thể, sinh động: Trong một bài thơ kêu gọi đoàn kết, Người ví công việc khó khăn như “hòn đá to, hòn đá nặng”, nếu chỉ một người thì “vác chẳng đặng” nhưng có nhiều người “sẽ vác đặng”. Trong tất cả các bài viết, bài nói của Bác hầu như không có bài nào, trang nào Người không nhắc tới từ “đoàn kết”. Và chính bản thân Người, qua cách sống, làm việc, ứng xử… là tấm gương sáng ngời của tinh thần đoàn kết, khoan dung, nhân hậu, vị tha. Tư tưởng đại đoàn kết của Bác đã được Đảng ta quán triệt sâu sắc trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đưa nhân dân ta, dân tộc ta đi đến thắng lợi…

Học tập những lời dạy về đại đoàn kết của Bác, chúng ta cùng nhau phấn đấu thực hiện lời Di huấn thiêng liêng của Người trước lúc đi xa: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Tùng Quân
baobinhdinh.com.vn

Quan liêu là “Giặc ở trong lòng”

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ, đảng viên: Bệnh quan liêu hết sức nguy hiểm, những người và những cơ quan lãnh đạo nào mắc phải bệnh này thì “có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững”.

Bệnh quan liêu không chỉ đơn thuần là sai lầm về tác phong, phương pháp làm việc mà chính là một căn bệnh nguy hiểm, có quan hệ trước hết và chủ yếu đến lập trường tư tưởng, đạo đức cách mạng, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng và Nhà nước. Quan liêu thường đi liền với mệnh lệnh cửa quyền, coi thường quần chúng, sách nhiễu người dân… Nó làm cho các tổ chức Đảng và cơ quan Nhà nước vốn là cơ quan lãnh đạo, đại diện quyền lực và đầy tớ của dân trở thành những tổ chức xa dân, đứng trên nhân dân, thoát ly thực tế, từ đó dẫn đến đề ra các chủ trương, chính sách không sát với yêu cầu của thực tiễn, thậm chí sai lầm, làm ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Quan liêu là mặt đối lập rất nghiêm trọng với dân chủ.

Từ những tác hại do bệnh quan liêu gây ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân và của Chính phủ, là “giặc ở trong lòng”, là “giặc nội xâm” và là tội ác. Người khẳng định, có nhiều nguyên nhân phát sinh căn bệnh nguy hiểm này, cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Về khách quan, bệnh quan liêu có từ xã hội cũ và chế độ xã hội cũ lây truyền sang chế độ xã hội mới. Còn nguyên nhân chủ quan chính là những vấn đề thuộc về bản thân đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức nào mà cái tâm không trong sáng, không xác định đúng động cơ vào Đảng, quan điểm quần chúng lệch lạc… thì rất dễ mắc bệnh quan liêu.

Đấu tranh chống bệnh quan liêu, từng bước khắc phục và loại bỏ nó ra khỏi bộ máy chính quyền là đòi hỏi tất yếu khách quan. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Muốn xây dựng một xã hội mới, xã hội tự do, bình đẳng, cần, kiệm, liêm, chính thì phải “tẩy” cho sạch hết các thói xấu của xã hội cũ. “Những người mắc phải bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, không làm được việc thì phải thay đi”, phải “tẩy sạch nó” và đây là “việc rất cần thiết và phải làm thường xuyên”.

Đấu tranh chống bệnh quan liêu là một mặt trận hết sức khó khăn, phức tạp. Đó là một cuộc cách mạng nội bộ, một cuộc đấu tranh gay go giữa cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức và phản đạo đức. Muốn giành thắng lợi trong cuộc cách mạng ấy thì phải có quyết tâm cao và tư tưởng chỉ đạo đúng đắn, đồng thời có các biện pháp thích hợp, chặt chẽ và đồng bộ.

Hà Linh
baobinhdinh.com.vn

“Nói thì phải làm”

“Nói thì phải làm” hoặc “Nói đi đôi với làm” là một đức tính tốt đẹp và là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để trở thành con người trung thực, dũng cảm, đáng tin cậy. Kế thừa giá trị đạo đức truyền thống đó, Bác Hồ đã nâng lên thành quan điểm, tư cách đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Trong tác phẩm “Đường Cách Mệnh” được Bác viết năm 1927, trong 23 điều của “Tư cách người cách mạng”, ở điều thứ 10, Bác ghi rõ “Nói thì phải làm”.

“Nói thì phải làm” đối lập với nói mà không làm hoặc “nói một đằng làm một nẻo” của những kẻ hứa suông qua chuyện, những kẻ cơ hội, không đáng tin cậy. Đây là căn bệnh nguy hiểm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, là nguy cơ gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng mà Bác đã cảnh báo. Bác dạy: “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Người cán bộ, đảng viên chỉ khi nói được, làm được, mới được nhân dân tin yêu và đi theo. Do đó “nói thì phải làm” là một chuẩn mực đạo đức, là tư cách của mỗi người cán bộ, đảng viên.

Bác Hồ của chúng ta là một tấm gương tiêu biểu về đức tính “nói thì phải làm” và khi làm là làm đến nơi, đến chốn. Bác khuyên cán bộ, đảng viên phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, thì cuộc đời của Người là tấm gương sáng mẫu mực, tuyệt vời về đức tính đó. Người phát động nhân dân lập hũ gạo cứu đói, thì Người gương mẫu và nghiêm túc thực hiện mười ngày nhịn ăn một bữa để đem gạo đó biếu dân nghèo. Người phát động “Tết trồng cây” để lấy gỗ làm nhà và cải thiện môi trường, thì vào Tết Nguyên đán hàng năm Người đều tham gia trồng cây đều đặn. Người phát động nhân dân chống hạn, chống úng, thì chính Người trực tiếp tham gia cùng nhân dân tát nước chống hạn ở Hà Đông và chống lụt ở Hải Dương; Người khuyên cán bộ, đảng viên phải thường xuyên học tập, học ở mọi nơi, mọi lúc, học ở mọi người, học suốt đời “…để làm việc, làm người, làm cán bộ”, thì chính Người là một tấm gương tiêu biểu, trong những ngày cuối đời mặc dù nằm trên giường bệnh nhưng Bác vẫn còn học tiếng Tây Ban Nha…

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta không nên nghĩ học tập và làm theo Người những việc làm to lớn, cao xa của bậc vĩ nhân của nhân loại, mà chúng ta nên bắt đầu học tập và làm theo từ những việc làm nhỏ bé, bình thường, cụ thể trong đời sống sinh hoạt và làm việc thường nhật của chúng ta, mà “nói thì phải làm” là việc không khó đối với tất cả mọi người. Mỗi cán bộ, đảng viên hãy nghiêm túc tự kiểm điểm lại mình đã thực hiện tốt việc “nói thì phải làm” chưa?

Minh Quân
baobinhdinh.com.vn

Nhân tố con người

Để trả lời câu hỏi “chủ nghĩa xã hội là gì?”, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời thật gọn gàng, sáng tỏ: “Xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”. Tuy nhiên, xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ ra một cách rõ ràng: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất… Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc”.

Từ tư duy biện chứng như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những chỉ dẫn thiết thực và quý báu về những động lực chủ yếu để thúc đẩy công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo Người, động lực quan trọng và mang tính quyết định nhất của xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là nhân tố con người. Do đó, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, truyền thống yêu nước của dân tộc, sự cố kết cộng đồng, gắn lao động sáng tạo của nhân dân là sức mạnh tổng hợp tạo nên động lực vô cùng to lớn. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo xây đắp khối đại đoàn kết dân tộc. Người khẳng định: “Đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân là nguồn sức mạnh vô địch”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa là động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và có vai trò ngày càng lo lớn trong sự phát triển của nhân loại. Người cho rằng, văn hóa phải chỉ đường cho quốc dân đi. Do đó phải chăm lo cho văn hóa, đầu tư cho con người ngày càng có trình độ văn hóa cao. Đó chính là nguồn vốn, nguồn của cải quý báu nhất của quốc gia.

Đất nước ta đang bước vào công cuộc hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới và đang nỗ lực phấn đấu đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 với mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh. Đó cũng chính là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội như định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Việc tiếp thu và làm theo các tư tưởng vô cùng sâu sắc của Người sẽ cho chúng ta cách làm và bước đi đúng.

Khắc Quân
baobinhdinh.com.vn