Sự can thiệp thô bạo khoác áo nhân quyền

Nhân quyền (quyền con người) là giá trị của nền văn minh nhân loại, là thành quả của quá trình đấu tranh gian khổ và lâu dài vì tự do, công bằng, hoà bình và phát triển. 

Tuy nhiên, lĩnh vực quyền con người hiện đang bị một số lực lượng chính trị bá quyền lợi dụng như là một ngọn cờ tập hợp lực lượng hòng can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia độc lập, có chủ quyền. Bởi vậy, quyền con người đang trở thành vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp trong đời sống chính trị quốc tế hiện nay.

Mỹ và một số nước phương Tây lớn tiếng rêu rao ”nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia”, ”nhân quyền không biên giới”.

Vậy thực chất cái gọi là ”nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia”, ”nhân quyền không biên giới”… ở đây là gì ?

Đó chính là chiêu bài mà Mỹ và một số nước phương Tây đừng làm cái cớ để ”can thiệp nhân đạo” vào công việc nội bộ các nước có chủ quyền. Dưới ngọn cờ ”nhân quyền”, Mỹ và các nước phương Tây muốn áp đặt ”nhân quyền” mang màu sắc siêu cường của họ lên các nước khác. Nếu không chấp nhận quan niệm giá trị đó họ sẽ tìm mọi cách gây sức ép bằng kinh tế, chính trị, công nghệ… uy hiếp vũ trang, thậm chí, lật đổ hoặc áp đặt bằng vũ lực. Có thể nói, thực chất đó là những hành động của chủ nghĩa thực dân mới ngày nay, núp dưới danh nghĩa bảo vệ ”nhân quyền” của Mỹ và phương Tây.

Trên thực tế, từ năm 1990 đến nay, núp dưới ngọn cờ ”nhân quyền”, Mỹ đã hơn 40 lần sử dụng vũ lực đối với một nước. Đặc biệt, cuối tháng 3 năm 1999, NATO do Mỹ cầm đầu đã phớt lờ luật pháp quốc tế, ngang nhiên bỏ qua Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc, oanh tạc Nam Tư – một quốc gia có chủ quyền suốt 78 ngày. Bốn năm sau, (3/2003) một lần nữa, Mỹ- Anh lại bất chấp Liên hợp quốc, tiến công Irắc với cái cớ ”I-rắc có vũ khí huỷ diệt hàng loạt”.

Nếu quả thật nhân quyền cao hơn chủ quyền quốc gia, thì phải chăng vì nhân quyền có thể không cần đến chủ quyền ? Và không có chủ quyền quốc gia thì căn cứ vào đâu họ nhân danh quốc gia có ”nhân quyền” can thiệp vào quốc gia ”vi phạm nhân quyền”, căn cứ vào đâu để xác định sự tồn tại của một quốc gia độc lập? Và khi chủ quyền của một quốc gia – dân tộc bị xâm phạm và chà đạp thì nhân quyền của quốc gia dân tộc đó có còn được bảo đảm hay không ? Và thử hỏi, liệu có thể có những vụ ném bom mang tính nhân đạo hay không, nhất là khi nhiều vụ ném bom ”nhầm” vào khu dân cư, phá huỷ bệnh viện, trường học, những công trình dân sinh… giết chết hàng trăm người dân vô tội, khiến bao gia đình tan nát hoặc lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Thử hỏi, những giá trị nhân quyền của Mỹ và các nước phương Tây ở đây là gì ?

Là một dân tộc từng bị chủ nghĩa thực dân cũ và mới xâm lược, áp bức, hơn ai hết chúng ta hiểu sâu sắc rằng khi 1à ”vong quốc nô” thì không thể có nhân quyền, và chỉ khi nào giành được độc lập dân tộc thì mới có được những quyền cơ bản của con người. Một quốc gia không có hoặc chưa có chủ quyền thì không thể nói đến nhân quyền, đến ”quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc”. Ngược lại, nước độc lập mà nhân dân không đủ cơm ăn, áo mặc, không được học hành thì độc lập, tự do cũng chẳng nghĩa lý gì, nền độc lập đó không thể bền vững.

Như vậy, chủ quyền quốc gia và nhân quyền có mối quan hệ biện chứng, làm tiền đề tồn tại và phát triển cho nhau. Chủ quyền quốc gia 1à điều kiện tiên quyết, cơ bản để thực hiện đầy đủ nhân quyền và một khi nhân quyền được thừa nhận và phát triển thì đó là nền tảng của tự do, công bằng và hoà bình. Vì lẽ đó, không thể có cái gọi là ”nhân quyền cao hơn chủ quyền”.

Đã từ lâu, Mỹ đã theo đuổi và sử dụng ngoại giao nhân quyền như là một chính sách cơ bản trong chiến lược ”diễn biến hoà bình” nhằm chống phá các nước XHCN, trong đó có Việt Nam. Sau thất bại ở Việt Nam, Mỹ càng đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện chính sách ngoại giao nhân quyền để chống phá nước ta. Ngày 19/10/1982, Bộ Ngoại giao Mỹ tổ chức Hội nghị ”Lên án sự vi phạm nhân quyền của cộng sản Việt Nam”. Tháng 12/1983, Bộ Ngoại giao Mỹ trình Quốc hội Mỹ rằng, Việt Nam là một nước không có nhân quyền. Ngày 8/12/1991, Quốc hội Mỹ lên tiếng phản đối Việt Nam vi phạm nhân quyền. Ngày 6/9/2001, Hạ viện Mỹ thông qua Dự luật nhân quyền Việt Nam (VHRA), nhưng không được Thượng viện Mỹ thông qua. Đặc biệt, ngày 15/7/2003,Hạ viện Mỹ đã thông qua điều khoản bổ sung cho Dự luật chi tiêu đối ngoại của Bộ ngoại giao Mỹ trong năm tài chính 2004-2005 (HR. 1950), gắn các điều kiện về nhân quyền với viện trợ không liên quan đến mục đích nhân đạo cho Việt Nam.

Sau gần một tuần thảo luận từ 14/7 đến 19/7/2004, Hạ Nghị viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu với 232 phiếu thuận, 45 phiếu chống, 65 không bỏ phiếu, thông qua cái gọi là luật Nhân quyền Việt Nam năm 2004 mang số hiệu H.R.1587.
Cái gọi là ”Luật Nhân quyền Việt Nam” năm 2004 hay còn gọi là hồ sơ H.R.1587 gồm 3 chương, trong đó liệt kê 10 điều xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, áp đạt điều kiện vô lý cho việc cải thiện quan hệ hữu nghị và hợp tác đang trên đà phát triển theo chiều hướng thuận giữaViệt Nam và Hoa Kỳ. Tệ hại hơn, dự luật này còn đề nghị dành một quỹ đặc biệt để khuyến khích việc gây ra tình hình bất ổn về chính trị ở Việt Nam.

Mỹ tự cho mình cái quyền phán xét tình hình nhân quyền của các nước khác, trong khi chính Mỹ đang bị dư luận chỉ trích vì vi phạm nhân quyền và bị các nước đồng loạt gạt khỏi Ủy ban nhân quyền của Liên hiệp quốc trong cuộc bỏ phiếu tại Hội đồng kinh tế-xã hội (ECOSOC) (3/5/2001). Điều mỉa mai là nước luôn đòi ”can thiệp nhân đạo” vào công việc nội bộ của các nước khác để giải quyết vấn đề nhân quyền, thì chính họ lại vi phạm nhân quyền nhiều nhất. Ngày 1/3/2004, Văn phòng Quốc Vụ viện Trung Quốc đã công bố báo cáo “Về quyền con người ở Mỹ năm 2003”, trong đó đặc biệt nhấn mạnh, sau sự kiện ngày 11/9, dưới chiêu bài chống khủng bố, chính phủ Mỹ đã ra hàng loạt đạo luật vi phạm quyền và sự tự do của công dân.

Ở Mỹ hiện có không ít người không đủ điều kiện thực hiện quyền cơ bản của con người và quyền sống của con người bị đe dọa bởi chính sách bóc lột, đàn áp, bởi tệ phân biệt chủng tộc, bởi bạo lực tràn lan và các tệ nạn xã hội. Các số liệu thống kê cho thấy, năm 2002 số người không có chỗ ở của Mỹ đã vượt quá con số 3 triệu, những người giàu chỉ chiếm 1% dân số lại nắm trong tay tổng số tài sản vượt quá tổng tài sản của 40% dân số, có đến 21.500 nhóm mafia với 731.000 thành viên, có khoảng 200 triệu cây súng đang lưu hành trong dân, 11,9 triệu vụ án giết người, hiếp dâm, cướp bóc. Gần đây, nhiều vụ việc cảnh sát hành hung người da đen ngay trên đường phố mà không bị xét xử nghiêm minh, cho thấy sự phân biệt chủng tộc vẫn còn nặng nề. Trong tháng 4,5 vừa qua, trên phương tiện thông tin đại chúng đang rộ lên hình ảnh lính Mỹ ngược đãi tù binh I-rắc đang làm hoen ố hình ảnh nước Mỹ và đương kim Tổng thống Buts. Về điều này, ông uỷ viên Hội đồng thành phố New York – Wenden Photxto, đã phải thừa nhận rằng, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc là đặc trưng của nền pháp lý Mỹ. Nó là bệnh ung thư đang tàn phá chúng ta. Hãy dẹp bỏ câu chuyện hoang đường rằng nước Mỹ là xứ sở của nhân quyền và tự do.

Ở Việt Nam, đảm bảo và phát triển quyền con người đã là một mục tiêu chính trị chủ đạo và nhất quán trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước ta. Đường lối nhất quán và xuyên suốt từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến sự nghiệp đổi mới đất nước và tất cả vì sự nghiệp giải phóng con người, vì quyền con người đích thực. Đường lối này là kết tinh những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc và quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về quyền con người. Không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận như là một tuyên ngôn chính trị, quyền con người đã và đang được thể chế hoá và hiện thực hóa trong đời sống thực tiễn ở Việt Nam, nhất là trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước.

Cho đến nay, chúng ta đã có được một hệ thống văn bản pháp luật tương đối toàn diện về bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Cùng với việc khẳng định: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Điều 2, Hiếnpháp năm 1992 đã được sửa đổi năm 2001), Hiến pháp còn xác định cách thức thực hiện quyền làm chủ trên thực tế. ”Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với các cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân” (Điều 53). Hiến pháp còn quy định những quyền công dân hết sức cụ thể: quyền bầu cử và ứng cử, quyền miễn nhiệm đối với đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, quyền khiếu nại, tố cáo, các quyền tự do về báo chí, ngôn luận, hội họp, lập hội…

Bên cạnh đó, công tác thông tin cho cử tri về hoạt động của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là truyền hình trực tiếp (hoặc truyền thanh) về các phiên họp của cơ quan dân cử; công tác tiếp xúc cử tri; việc tổ chức các đợt góp ý kiến của nhân dân về các dự án luật; việc ban hành và đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở… là những tiền đề hết sức quan trọng trong việc đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, trong việc xây dựng nền dân chủ XHCN.

Đảm bảo và phát huy quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân sẽ làm tăng khả năng hiện thực của việc bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, trình độ phát triển kinh tế, những điều kiện sinh hoạt vật chất luôn là nền tảng và mang tính quyết định đối với việc hiện thực hoá và mở rộng các quyền con người, quyền công dân. Thực tế hơn 17 năm đổi mới vừa qua cho thấy, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đến phát triển kinh tế và xem đây là nhiệm vụ trung tâm. Việc thừa nhận và thể chế hoá trong Hiến pháp 6 thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay chính là sự tôn trọng và khuyến khích những người có năng lực và điều kiện tham gia phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng.

Bên cạnh chú trọng nâng cao đời sống vật chất, Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm chăm lo đời sống tinh thần của nhân dân, đặc biệt là trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Những năm qua, nhiều lễ hội và ngày lễ lớn của các tôn giáo, các kỳ đại hội và hoạt động lớn của các tôn giáo được tổ chức trọng thể ở mọi miền của Tổ quốc trong không khí trang nghiêm, an toàn, thu hút hàng vạn tín đồ tham gia.

Thống kê cho thấy: ở Việt Nam hiện có khoảng 10 trường đại học tôn với hàng ngàn tăng ni sinh, chủng sinh, sinh viên đang theo học.

Hầu hết các cơ sở thờ tự của tôn giáo đều được xây dựng, duy tu, bảo dưỡng…

Nhìn tổng quát, những nỗ lực và thành tựu cơ bản trên đây có tính chất nền tảng và bao trùm trên tất cả những lĩnh vực chủ yếu về quyền con người như: chính trị, dân sự, kinh tế-xã hội, văn hoá ở Việt Nam hiện nay.

Điều đó, một mặt, chứng minh sự quan tâm đặc biệt và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong việc đảm bảo các quyền con người, quyền công dân, nhưng mặt khác, khẳng định tính tôn trọng và tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế về quyền người mà Nhà nước Việt Nam đã tham gia ký kết, phê chuẩn. Đồng thời, chính thực tiễn đầy sức thuyết phục đó đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt vu cáo trong vấn đề nhân quyền của các thế lực thù địch.

(Theo Võ Công Khôi
Phân viện Đà Nẵng
Tạp chí Tư tưởng-Văn hóa, tháng 8/2004)

cpv.org.vn

This entry was posted on Tháng Mười Một 18, 2012, in Chính luận.

Thông qua Tuyên bố Nhân quyền ASEAN

Tuyên bố khẳng định các nước ASEAN cần tăng cường hợp tác và hữu nghị để thúc đẩy hòa bình, ổn định và hòa hợp ở khu vực.

Ngày 18/11, tại Thủ đô Phnom Penh, Campuchia, Lãnh đạo các nước ASEAN đã ký Tuyên bố Phnom Penh thông qua Tuyên bố Nhân quyền ASEAN (AHRD).

Tuyên bố Nhân quyền ASEAN là văn kiện chính trị đầu tiên của ASEAN nhằm tạo khuôn khổ chung cho tăng cường hợp tác ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền ở khu vực, với những ý nghĩa quan trọng.

Tuyên bố thể hiện nguyện vọng, quyết tâm và nỗ lực của người dân và Chính phủ các nước thành viên xây dựng một Cộng đồng ASEAN hướng tới người dân; khẳng định cam kết của ASEAN tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ  các quyền cơ bản của con người cũng như phấn  đấu nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân khu vực như đã nêu trong Hiến chương ASEAN.

Tuyên bố thể hiện cam kết của ASEAN trong thúc đẩy thực hiện Tuyên bố Nhân quyền ASEAN phù hợp với các nguyên tắc đề ra trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế, Tuyên bố và Chương trình Hành động Viên và các văn kiện quốc tế về nhân quyền khác mà các quốc gia thành viên ASEAN đã tham gia.

Tuyên bố khẳng định lại  các giá trị nhân quyền chung, đi đôi với coi trọng các giá trị và đặc thù của ASEAN và các quốc gia trong khu vực, quyền đi đôi với nghĩa vụ, trách nhiệm trước cộng đồng, qua đó đóng góp vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực quyền con người.

AHRD bao gồm các phần: i) Phần mở đầu, ii) Các nguyên tắc chung, iii) Các quyền dân sự và chính trị, iv) Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, v) Quyền phát triển, vi) Quyền hưởng hòa bình, và vii) Hợp tác thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền; với 40 Điều.

Phần mở đầu khẳng định lại các mục đích, nguyên tắc trong Hiến chương ASEAN; nhấn mạnh cam kết đối với Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền (UDHR), Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên bố và Chương trình hành động Viên…; khẳng định AHRD sẽ góp phần xây dựng khuôn khổ hợp tác nhân quyền ở khu vực và đóng góp vào tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN.

Phần các nguyên tắc chung nêu các nguyên tắc như bình đẳng, không phân biệt đối xử, quyền được công nhận, bảo vệ trước pháp luật, đối xử cân bằng giữa các quyền, cân bằng giữa quyền và trách nhiệm; tôn trọng đặc thù khu vực và sự đa dạng về thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa, lịch sử… của mỗi nước cũng như pháp luật và trật tự xã hội trong thực thi nhân quyền; bảo đảm các nguyên tắc không thiên vị, khách quan, không chính trị hóa vấn đề nhân quyền…

Các quyền dân sự và chính trị bao gồm các quyền được sống; quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân, quyền không bị nô dịch và buôn bán; quyền không bị tra tấn; quyền tự do đi lại, cư trú, tị nạn; quyền sở hữu tài sản; quyền có quốc tịch; quyền hôn nhân và gia đình, quyền được xét xử công bằng và bảo vệ trước pháp luật; quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu cá nhân; quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do hội họp; quyền ứng cử, bầu cử trên cơ sở nội luật của mỗi nước.

Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, bao gồm các quyền về việc làm, lập và tham gia công đoàn; hạn chế sử dụng lao động trẻ em; quyền đối với các dịch vụ xã hội cơ bản (lương thực, y tế, vệ sinh…); quyền nâng cao thể chất và chăm sóc sức khỏe; giúp đỡ và chống kỳ thị với người mắc bệnh truyền nhiễm; quyền hưởng an sinh xã hội và giáo dục; chăm sóc, bảo vệ bà mẹ và trẻ em; quyền văn hóa; nhấn mạnh việc thực hiện các quyền kinh tế-xã hội-văn hóa cần phù hợp với khả năng và điều kiện của các quốc gia thành viên.

Phần về quyền phát triển khẳng định quyền phát triển là  thành tố quan trọng của nhân quyền, trong đó mỗi người có quyền tham gia, đóng góp và thụ hưởng công bằng các thành quả và lợi ích của phát triển; nêu các biện pháp thu hẹp khoảng cách phát triển, thúc đẩy phát triển bền vững và đồng đều ở khu vực nhằm phục vụ và nâng cao cuộc sống của người dân khu vực.

Tuyên bố khẳng định mỗi cá nhân và các dân tộc ở khu vực đều có quyền hưởng hòa bình; các nước ASEAN cần tăng cường hợp tác và hữu nghị để thúc đẩy hòa bình, ổn định và hòa hợp ở khu vực.

Phần hợp tác thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền khẳng định mong muốn, cam kết của các nước thành viên trong tăng cường hợp tác về nhân quyền./.

Theo Chính phủ
vov.vn

Hình ảnh, tư liệu xúc động về Bác Hồ

Ngày 21 tháng 8, Bảo tàng Hồ Chí Minh tỉnh Thừa Thiên Huế đã tổ chức Triển lãm “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng và chỉnh đốn Đảng” với nhiều hình ảnh, tư liệu có giá trị và tác động sâu sắc đến người xem.

Đây là cuộc Triển lãm trong khuôn khổ tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” được thông qua tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI).

Với hơn 120 tư liệu, hình ảnh, hiện vật nhằm giới thiệu cho người xem biết được công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng lớn mạnh qua từng thời kỳ cách mạng; đồng thời giới thiệu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng chỉnh đốn Đảng.

D1

Qua đó, góp phần tuyên truyền Nghị quyết Trung ương IV, động viên toàn Đảng, toàn dân quyết tâm thực hiện thắng lợi cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch vững mạnh, lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi thử thách khó khăn; nâng tầm đất nước trên trường quốc tế.

Nội dung triển lãm gồm 3 phần: Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng xây dựng, rèn luyện và chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Việc tổ chức triển lãm” Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng và chỉnh đốn Đảng” có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa Nghị quyết của Đảng đến với toàn thể nhân dân, thực hiện một cách có ý nghĩa nhất lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

D2

D3

D4Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 1

D5Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh X.Y.Z, viết xong tháng 10 năm 1947. Đây là một tác phẩm quan trọng về xây dựng Đảng, một tài liệu học tập của cán bộ để tu dưỡng đạo đức và tác phong làm việc

D6Bút tích đề tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuốn sổ vàng của Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc 9 năm 1949

D7Bác đến thăm và trao tặng Trường Võ bị Trần Quốc Toản lá cờ thêu sáu chữ vàng
“Trung với nước, hiếu với dân”, Sơn Tây, 26/5/1946

D8

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện tại buổi khai mạc lớp Chỉnh huấn cán bộ dân, chính,Đảng các cơ quan Trung ương. Người nói: “Nếu Đảng đã thập toàn thập mỹ thì tại sao lại phải chỉnh? Là vì có số đông Đảng viên gương mẫu, tận tâm tận lực phục vụ cách mạng, nhân dân, giai cấp, nhưng còn một số, không phải là ít, không làm đúng chính sách của Đảng, của Chính phủ, không đi đúng đường lối của nhân dân, còn yếu… Những đảng viên ấy chưa thực sự đứng đắn cho nên phải chỉnh” – Việt Bắc, 1953

D8aThư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lớp Chỉnh Đảng Liên khu V về việc thực hiện
những yêu cầu trong việc chỉnh Đảng, 1952 (bút tích viết tay)

D9Chủ tịch Hồ Chí Minh  nói chuyện tại Hội nghị Tổng kết công tác kiểm tra của Đảng. Người yêu cầu: “Các ủy ban và các cán bộ kiểm tra phải học tập và thấm nhuần đường lối, phải trau dồi đạo đức cách mạng, quan điểm của Đảng”, Hà Nội, 29/7/1964

D10Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trang viết về Chỉnh đốn Đảng

D11

Chủ tịch Hồ Chí Minh  nói với đại biểu các đơn vị tham dự Hội nghị Tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong II. Tại Hội nghị, Người nói: “…Tự phê bình và phê bình phải thật thà vạch khuyết điểm. Có lỗi mà không vạch ra không khác gì người có bệnh mà không chịu khai với thầy thuốc… Muốn tự phê bình và phê bình có kết quả, cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cao cấp phải làm gương trước…” – Việt Bắc, 1950

D12

Chủ tịch Hồ Chí Minh  nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ về công tác mặt trận. Người căn dặn: “Phải thành thực lắng nghe ý kiến của người ngoài Đảng. Cán bộ và đảng viên không được tự cao tự đại, cho mình là tài giỏi hơn mọi người. Trái lại phải học hỏi điều hay điều tốt của mọi người…”, Hà Nội, tháng 8 năm 1962.

D13Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với cán bộ cao cấp toàn quân,
Người căn dặn: “Các chú phải cố gắng học tập và luôn luôn
gương mẫu về đạo đức cách mạng”, Hà Nội, tháng 5 năm 1969

D14Chủ tịch Hồ  Chí Minh  trên đường đi dự Đại hội Đảng
lần thứ hai ở chiến khu Việt Bắc, tháng 2 năm 1951

D15Một số hiện vật về cuộc sống giản dị của Người

D16Bữa cơm đơn sơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường đi công tác Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

D17Chủ tịch Hồ Chí Minh thân mật hỏi chuyện em Nguyễn Thị Thanh, Chiến sĩ thi đua ngành sản xuất Giấy, đại biểu ít tuổi nhất dự đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất, Tuyên Quang, tháng 5 năm 1952

D18Phiếu rút tiền tiết kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cho
bộ đội phòng không bảo vệ Thủ đô Hà Nội để mua nước uống, tháng 7 năm 1967

D19“Ngôi nhà sàn đơn sơ của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng, trong lúc tâm hồn của Bác lộng gió thời đại, thì cái nhà nhỏ đó luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn, một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao” (Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, năm 1970)

Theo Đại Dương/ dantri.com.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Thực hiện những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam – Người đã để lại những di sản tư tưởng vô giá trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, trong đó đặc biệt là những lời dạy có giá trị bền vững, mang ý nghĩa hiện thực to lớn đối với cuộc đấu tranh phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường hiện nay.

Trên thế giới, hiếm có vị lãnh tụ cách mạng nào lại bàn và chỉ đạo hoạt động nhiều về phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường như Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Tại Hội nghị Tổng kết công tác nông – lâm – ngư nghiệp năm 1956, Người nhấn mạnh: “Nghề nông luôn phải đấu tranh chống những tai nạn của thiên nhiên: Hạn hán, lũ lụt, sâu bọ, chuột, dịch… lại còn phải đấu tranh với tập quán bảo thủ lạc hậu”. Người đã chỉ rõ nội dung, biện pháp phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường là phải toàn diện và chú ý phòng chống cả 3 loại giặc nguy hiểm đó là: “Giặc hạn hán”, “giặc bão lụt” và “giặc sâu bệnh”.

thực hiện

Phòng chống “giặc hạn hán”

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định, hạn hán là một “loại giặc” nguy hiểm, phá hoại mùa màng, môi trường sinh thái. Theo Người, chống hạn là một chiến dịch, một công tác cách mạng, một cuộc thử thách đầy cam go. Người luôn tin tưởng vững chắc rằng, với ý chí, quyết tâm, sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nhất định nhiệm vụ chống hạn sẽ đạt được thắng lợi. Tại Hội nghị Chống hạn năm 1958, Người phân tích: “Chống hạn là một chiến dịch cần phải cố gắng, phải kiên quyết, phải tin tưởng chống hạn thắng lợi, giúp đỡ nhau, thi đua lập công giữa địa phương này với địa phương khác … có đoàn kết, quyết tâm, giúp đỡ lẫn nhau, lại có thi đua thì nhất định thắng lợi”. Người đã đưa ra các biện pháp chống hạn là: “Phải tùy từng địa phương mà làm các việc đào mương, đào giếng, tát nước, giữ nước. Mỗi xã phải có kế hoạch nhỏ của xã mình; huyện, tỉnh phải có kế hoạch chung để điều hòa, phối hợp”.

Người kêu gọi mọi lực lượng, mọi lứa tuổi đều phải tham gia chống hạn: “Mỗi người phải ra sức chống hạn. Ai ai cũng thi đua tham gia chống hạn. Các cụ già có kinh nghiệm, thanh niên có sức lực làm đầu tàu. Các cháu thiếu nhi ra đồng động viên, nấu nước cho đồng bào uống. Mỗi người một tay, già trẻ góp sức, nhất định chống hạn thắng lợi”.

Phòng chống “giặc bão, lụt”

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã xác định, bão, lụt là “loại giặc” nguy hiểm hơn cả “giặc hạn hán”, không chỉ tàn phá môi trường, mà còn đe dọa nghiêm trọng tới tính mạng, tài sản của nhân dân, gây nên những thảm họa khủng khiếp. Theo Người, vấn đề quan trọng trước hết của công tác phòng chống bão, lụt là làm tốt công tác phòng hộ đê, chủ động chăm lo xây dựng, bảo vệ hệ thống đê vững chắc. Người cho rằng, giữ đê, chống lụt là nhiệm vụ khó khăn, quyết liệt, cần phải có ý chí quyết tâm cao, tổ chức chặt chẽ, chuẩn bị chu đáo. Trong thư gửi đồng bào các tỉnh có đê, Người chỉ rõ: “Trong việc giữ đê, tổ chức phải chặt chẽ, chỉ huy phải vững vàng, dụng cụ phải đầy đủ. Các đoàn thể Nông hội và Thanh niên phải xung phong, các đơn vị bộ đội phải tranh thủ thời gian giúp sức đồng bào”.

Trong hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai thường đi liền với địch họa, sự “phá hoại kép” này luôn gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng. Năm 1968, Người đã chỉ thị: “Các ngành và các địa phương cần coi trọng hơn nữa việc phòng và chống lụt, bão, chống địch đánh phá đê, kè … phải vận động đồng bào làm nhiều thuyền, mảng, ụ đất, sàn gác, chằng chống nhà cửa cho vững, phòng khi lụt to,bão lớn. Phải giữ gìn và sửa sang hầm hố, phòng máy bay giặc Mỹ”. Thực hiện lời dạy của Người, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, lao động quên mình, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ đê, kè trong các mùa mưa bão.

Phòng chống “giặc sâu bệnh”

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng xác định, sâu bệnh là một “loại giặc” không thể xem thường. Chúng có thể nhanh chóng tàn phá cây cối, phá hoại mùa màng, hủy diệt từng đàn gia cầm, gia súc. Theo Hồ Chí Minh, trừ sâu, diệt chuột là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao năng suất cây trồng. Chính vì thế, nói chuyện với cán bộ, nhân dân các tỉnh Sơn Tây, Nam Định, Kiến An, Hải Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Đông, Cao Bằng … Người đã nhắc nhở, phải tích cực trừ sâu, diệt chuột để nâng cao năng suất mùa vụ.

Để nâng cao hiệu quả phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm chỉ đạo, giáo dục, động viên nhân dân ta tích cực trồng cây gây rừng và bảo vệ rừng. Trong 10 năm (1960-1969), Người đã có gần 20 bài nói, viết bàn về “Tết trồng cây”, bàn về trồng rừng và bảo vệ rừng. Từ rất sớm, Người đã có tầm nhìn chiến lược sâu sắc về mối quan hệ gắn bó giữa trồng rừng, bảo vệ rừng với bảo vệ môi trường sinh thái. Những lời dạy của Người về “Tết trồng cây”, về phong trào trồng rừng và bảo vệ rừng, có ý nghĩa hiện thực hết sức to lớn đối với sự nghiệp bảo vệ môi trường của Đảng và nhân dân ta trong thời kỳ mới.

Hiện nay, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với sự tàn phá thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường của con người, đã dẫn tới nguy cơ ngày càng lớn về biến đổi khí hậu và nước biển dâng, đồng thời làm gia tăng thiên tai về cả quy mô và mật độ. Để thực hiện thắng lợi những lời dạy của Người, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải tiến hành đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp, trong đó trước hết cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề chủ yếu sau:

Phát huy sức mạnh tổng hợp để phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường.

Sức mạnh tổng hợp để phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường là sức mạnh đoàn kết của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; Sức mạnh của nền kinh tế, khoa học – công nghệ; Sức mạnh trong nước và quốc tế… Trong mọi hoàn cảnh, để phòng chống thiên tai thắng lợi, cần phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, điều kiện, cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện có, ứng dụng vào phòng chống từng loại thiên tai cụ thể.

Trong điều kiện mới, để nâng cao hiệu quả phòng chống hạn, chúng ta phải kết hợp phát huy sức mạnh của Trung ương và địa phương; thực hiện chiến lược thủy lợi đồng bộ; xây dựng hệ thống những hồ chứa nước lớn theo nhu cầu canh tác của từng địa bàn. Đồng thời, kết hợp với các đập ngăn nước của các nhà máy thủy điện điều tiết nước canh tác theo thời vụ. Hiện đại hóa các trạm bơm ở từng vùng, từng địa phương, bê tông hóa hệ thống mương máng trên đồng ruộng, gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới.

Về phòng chống bão, lụt, cần thực hiện tốt Chiến lược hộ đê, củng cố, bảo vệ hệ thống đê điều vững chắc. Để kịp thời ứng phó với các tai họa do bão lụt gây ra, cần phát huy vai trò của các Ban Chỉ huy phòng lụt, bão và tìm kiếm – cứu nạn từ Trung ương tới từng địa phương và Cục cứu hộ, cứu nạn, Bộ Quốc phòng, nhất là vai trò ứng cứu của bộ đội biên phòng và lực lượng cảnh sát biển. Trong những năm tới, cần có những giải pháp đồng bộ, nhằm khắc phục tình trạng ngập úng tại các thành phố lớn, nhất là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Về phòng chống sâu bệnh, cần đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học để diệt sâu bệnh ở từng loại cây trồng thích hợp. Sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật phải đúng liều lượng, đúng quy trình hướng dẫn, hạn chế tối đa dư lượng thuốc hóa học trên đồng ruộng.

Tăng cường nghiên cứu, không ngừng nâng cao chất lượng công tác khí tượng, thủy văn và môi trường.

Nâng cao chất lượng công tác khí tượng, thủy văn và môi trường là điều kiện cơ bản để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống thiên tai. Trên thực tế, công tác phòng chống thiên tai luôn gắn liền với dự báo, cảnh báo thiên tai. Tuy nhiên, để có những dự báo kịp thời , chính xác, cần tăng cường nghiên cứu trên các lĩnh vục khoa học, cụ thể là: Nghiên cứu khí tượng nhiệt đới và bão, tương tác biển – khí quyển; khí hậu ứng dụng, dự báo khí hậu, biến đổi khí hậu, tài nguyên khí hậu, khí hậu địa phương; khí tượng nông nghiệp và dự báo; khí tượng thủy văn và tài nguyên nước, tính toán lũ lụt và tiêu thoát nước; môi trường không khí và chất lượng nước, đánh giá tác động môi trường; nghiên cứu động đất lãnh thổ và sóng thần, lãnh hải Việt Nam và các vùng kế cận; nghiên cứu vật lý khí quyển và ứng dụng trong công tác bảo vệ môi trường, phòng chống giảm nhẹ thiên tai; nghiên cứu đặc trưng ô nhiễm môi trường, an toàn đê đập; đánh giá độ nguy hiểm và độ rủi ro của động đất… Kết quả nghiên cứu về những lĩnh vục trên là cơ sở trọng yếu để dự báo, cảnh báo thiên tai kịp thời, chính xác, giúp cho nhân dân ta chủ động phòng chống, nhằm giảm thiểu tối đa những thiệt hại do thiên tai gây ra.

Đẩy mạnh trồng rừng, ngăn chặn, khắc phục nạn cháy rừng, phá rừng.

Hiện nay, cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, các loại rừng của nước ta ngày càng bị tàn phá nặng nề, nguy cơ thiên tai đe dọa ngày càng lớn. Để thực hiện lời dạy của Bác Hồ, Đảng ta đã đề ra Chiến lược trồng rừng với mục tiêu, đến năm 2015, tỷ lệ rừng che phủ đạt 43% và đến năm 2020 đạt 45%.

Để đạt mục tiêu, toàn Đảng, toàn dân ta phải đẩy mạnh công tác trồng rừng, phát triển rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Nhà nước phải có cơ chế, chính sách hỗ trợ để người dân có thể sống, làm giàu từ trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Đối với các tỉnh ven biển, cần động viên nhân dân trồng cây phi lao để chống bão cát và chống xói mòn. Đồng thời, tăng cường bảo vệ rừng, nỗ lực khắc phục nạn cháy rừng và phá rừng. Các địa phương cần phát huy vai trò của chính quyền, lực lượng kiểm lâm, lực lượng công an, bộ đội biên phòng… để đấu tranh ngăn chặn, kiên quyết loại bỏ nạn lâm tặc.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường, chúng ta cần phải tiến hành đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp, trong đó trước hết là phát huy sức mạnh tổng họp để phòng chống thiên tai; Tăng cường nghiên cứu, nâng cao chất lượng công tác khí tượng, thủy văn và môi trường; Đẩy mạnh trồng rừng, khắc phục nạn cháy rừng, phá rừng. Các vấn đề trọng yếu trên, được thục hiện tốt, nhất định cuộc đấu tranh phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường của nhân dân ta sẽ đạt được nhiều thành công.

PGS.TS Hà Huy Thông –  TCMT 07/2012
Theo http://vea.gov.vn
Đỗ Long Văn
(st)

bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú của Bộ Giáo dục và Đào tạo vào Lăng viếng Bác

Ngày 14 tháng 11 năm 2012, Đoàn đại biểu Bộ Giáo dục và Đào tạo do đồng chí Trần Quang Quý – Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và các đại biểu là Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú đã hội tụ về Quảng trường Ba Đình kính cẩn đặt vòng hoa, dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 30 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 – 20/11/2012).

DSC 0377Thiếu tướng Đặng Nam Điền – Bí thư Đảng ủy, Chính ủy
Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tiếp Đoàn tại Nhà khách Số 8 Hùng Vương

Trước khi Đoàn vào Lăng viếng Bác, thay mặt Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Thiếu tướng Đặng Nam Điền – Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã thân mật tiếp Đoàn tại Nhà khách Số 8 Hùng Vương. Đồng chí đã báo cáo với Đoàn khái quát kết quả giữ gìn thi hài Bác, quá trình xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiệm vụ đón tiếp đồng bào trong nước, khách quốc tế đến thăm quan Lăng và viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí mong muốn, lãnh đạo Bộ Giáo dục – Đào tạo tiếp tục chỉ đạo ngành xây dựng kế hoạch cụ thể để tổ chức thêm nhiều đoàn cán bộ, giáo viên trong cả nước về thăm Thủ đô và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong triển khai thực hiện học tập và làm theo tấm gwong đạo đức Hồ Chí Minh. Sau buổi tiếp, đồng chí thay mặt Thủ trưởng Bộ Tư lệnh trao tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các đại biểu trong Đoàn.

DSC 0381Thiếu tướng Đặng Nam Điền trao tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các  đại biểu

Thay mặt lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng chí Thứ trưởng Trần Quang Quý xúc động phát biểu cảm ơn sự đón tiếp chu đáo và những tình cảm tốt đẹp của Thủ trưởng Bộ Tư lệnh đã dành cho Đoàn và khẳng định sẽ tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo Ngành Giáo dục và Đào tạo tiếp tục triển khai sâu rộng, có sức lan tỏa mạnh mẽ hơn nữa đến toàn Ngành trong việc tu dưỡng rèn luyện, học tập tấm gương của Bác, góp phần đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Trần Tiên Long
bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hội đồng Liên bang (Thượng viện) Quốc hội Liên bang Nga đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

CT hội đồngBà Valentina Ivanovna Matviyenko và Đoàn vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đoàn đại biểu cấp cao Hội đồng Liên bang (Thượng viện) Quốc hội Liên bang Nga do Bà Valentina Ivanovna Matviyenko, Chủ tịch Hội đồng Liên bang dẫn đầu sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 13 đến ngày 14/11/2012. Chuyến thăm được tiến hành theo lời mời của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Đây là dịp Quốc hội hai nước Việt Nam và Liên bang Nga sẽ tiếp tục đẩy mạnh quan hệ hợp tác, như trao đổi Đoàn ở các kênh, các cấp khác nhau, tiếp tục hợp tác trên trường quốc tế, phối hợp với nhau trong việc bảo đảm hiệu lực và tính thực thi cao của các điều ước quốc tế mà hai bên cùng tham gia. Việt Nam và Liên bang Nga đã thành lập các nhóm nghị sĩ hữu nghị Việt Nam – Liên bang Nga, coi đây là cầu nối quan hệ giữa Quốc hội hai nước.

Trong khuôn khổ chuyến thăm của Đoàn, sáng 14/11/2012, Bà Valentina Ivanovna Matviyenko và Đoàn đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và thăm Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Đoàn đại biểu Hội đồng Liên bang Quốc hội Liên bang Nga Kính viếng”./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước hiện nay đang đặt ra những yêu cầu mới cho nguồn lực con người. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng khẳng định: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và coi đây là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước”(1). Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người xã hội chủ nghĩa vào chiến lược nâng cao nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa là một nhiệm vụ quan trọng để thực hiện chiến lược đổi mới toàn diện đất nước tạo tiền đề đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa.

1. Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đường lối lãnh đạo, Đảng Cộng sản việt Nam xác định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”(2). Quan điểm này đã thể hiện nhận thức khoa học của Đảng ta về bản chất con người trong mối quan hệ biện chứng của sự phát triển. Đồng thời, khẳng định sự nhận thức rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất con người và con người xã hội chủ nghĩa sẽ là cơ sở lý luận về Đảng và Nhà nước ta coi trọng vai trò con người để từ đó hoạch định đúng Chiến lược con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

Con người là vốn quý của xã hội nên con người giữ vai trò vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của tiến trình cải biến tự nhiên và xã hội. Điều đó khẳng định, con người chính là mục tiêu phát triển cao nhất của mọi quá trình phát triển tự nhiên, xã hội, đồng thời cũng là động lực của quá trình phát triển đó.

Với ý nghĩa nêu trên, con người đã trở thành nhân tố then chốt và là nhân tố quyết định của sự phát triển lịch sử. Bởi vì, chỉ có con người mới có trí tuệ và năng lực sáng tạo theo chiều hướng tiến bộ. Nói một cách khác, nhân tố con người là một tiềm năng vô tận của sự phát triển. Điều đó đồng nghĩa với việc nhân tố con người là cơ sở để hình thành nên nguồn lực con người, nhất là nguồn lực con người có chất lượng cao.

“Nguồn lực con người (hay còn gọi là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên người) là nhân tố con người được xem xét, dự tính như một tiềm năng, một điều kiện cần và có thể phát huy thành động lực cho một quá trình phát triển xã hội, một chiến lược phát triển xã hội trong những thời gian, không gian xác định”(3). Nguồn lực con người được xem xét ở các tiêu chí: Số lượng và chất lượng con người (bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất); là tổng thể chất dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên và xã hội; là sự kết hợp sức lực và thể lực tạo nên năng lực sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng phát triển mới của con người; là kinh nghiệm sống, đặc biệt là kinh nghiệm được tích lũy qua sự nếm trải trực tiếp của con người tạo thành thói quen, kỹ năng tổng hợp của mỗi người, của cộng đồng. Điều kiện để nguồn lực con người đạt tới các tiêu chí đó khi: “người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại”(4).

2. Ngay từ những ngày hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã có nhận thức sâu sắc về con người và nhân tố con người. Ở Hồ Chí Minh, khái niệm con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng và cao cả của sự nghiệp cách mạng mà cả cuộc đời Người hằng theo đuổi. Tư tưởng về con người, về việc giải phóng và phát triển con người, coi con người là nhân tố quyết định thành công của cách mạng luôn quán xuyến trong tư duy, đường lối và phương pháp lãnh đạo cách mạng của Hồ chí Minh. Người đã bộc bạch ham muốn tột độ của Người là: Đất nước được hoàn toàn độc lập, tự do. Đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Vì sự ham muốn tột độ đó mà Hồ Chí Minh đã phải trải qua 30 năm bôn ba ở nước ngoài, phải sống xa gia đình, quê hương, đất nước, chịu đựng bao khó khăn, gian khổ, phải vượt qua vô vàn những gian truân, thử thách để tìm ra chân lý cách mạng, con đường cách mạng giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và hạnh phúc cho nhân dân.

Với tư duy biện chứng sâu sắc về phát triển cùng với tầm nhìn “vượt gộp”, trong tư tưởng, Hồ Chí Minh quan niệm: Đất nước được độc lập, tự do phải gắn liền với ấm no và hạnh phúc cho con người ở những hưởng thụ cụ thể: ăn, mặc, ở, học tập, việc làm… những điều kiện đó chỉ ở chế độ xã hội chủ nghĩa mới có. Người nói: “Chủ nghĩa xã hội là mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”(5), là “Được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ”(6). Mục đích của “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh”(7), là “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”(8).

Xác định được mục tiêu và bản chất của chủ nghĩa xã hội, trên cương vị lãnh đạo của mình, Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, giải phóng con người và chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển tất yếu của đất nước. Do đó, Người yêu cầu: “Muốn xã hội chủ nghĩa, phải có người xã hội chủ nghĩa. Muốn có người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa”(9). Những con người xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là những con người mới, những con người từ thân phận nô lệ vì mất nước vươn lên làm chủ xã hội, làm chủ sự phát triển của đất nước độc lập, tự do. Họ có vị trí và vai trò quan trọng trong quá trình phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để khẳng định được vị trí và vai trò then chốt này thì con người xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh phải là con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng được những yêu cầu và đòi hỏi của chủ nghĩa xã hội với đặc trưng cơ bản là phải vừa “hồng”, vừa “chuyên”.

“Hồng” và “chuyên” là quan điểm nổi bật và có tính bao quát trong tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất con người mới xã hội chủ nghĩa. Hồng là phẩm chất, là đạo đức của người cách mạng: yêu nước, trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; chống chủ nghĩa cá nhân và có tinh thần quốc tế trong sáng. Chuyênlà sự thể hiện trí tuệ, là tài năng, là năng lực của cá nhân con người gắn liền với sự khổ công học tập, rèn luyện để có tri thức, nâng cao tri thức và dùng chính những tri thức mình có được để phục vụ lợi ích cho sự phát triển của cộng đồng, của chủ nghĩa xã hội. Hồng và chuyên, hay cách gọi khác là đức và tài trong mỗi con người đều rất cần thiết. Đây là hai mặt cơ bản của con người mới nói riêng và được xem như nội hàm của khái niệm con người mới xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người nói: Đức là gốc nhưng tài là quan trọng và luôn dặn mọi người không được xem nhẹ mặt nào: có đức mà không có tài thì không khác ông Bụt trong chùa, không làm hại ai nhưng cũng không làm được gì có ích cho mọi người. Có tài mà không có đức thì sẽ trở thành kẻ phá hoại.

Lời nói của Người có ý nghĩa như một thông điệp để mong muốn mỗi con người hãy lấy cái thiện làm phương châm sống và rèn luyện cho chính mình để phấn đấu trở thành con người có ích cho cộng đồng, cho chủ nghĩa xã hội và cho nhân loại.

Như vậy, theo Hồ Chí Minh, hồng và chuyên của con người Việt Nam trong sự phát triển được hiểu là quá trình con người tự hoàn thiện bản thân theo yêu cầu của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và rèn luyện mình thành con người chủ nghĩa xã hội. Điều đó đòi hỏi trước hết sự phấn đấu vươn lên không ngừng của mỗi cá nhân con người theo hướng tự giác đấu tranh với những mặt lạc hậu, mặt xấu vốn tồn tại như bản năng tự nhiên của con người, đồng thời phải không ngừng học tập, tu dưỡng đạo đức cách mạng, lấy đạo đức cách mạng làm gốc “cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(10). Đồng thời, giữ gìn và phát huy những phẩm chất  đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa đạo đức của nhân loại. Sau đó, quan trọng  hơn là tham gia tích cực của con người vào sự cải tạo xã hội theo hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội mà cụ thể ở nước ta là thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc kết hợp với cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Sự kết hợp này, đòi hỏi con người Việt Nam phải có nhận thức mới về tư tưởng trong ý thức hệ. Từ ý thức cộng đồng, từ tinh thần yêu nước trong phạm vi dân tộc mang tính truyền thống phải được bổ sung và kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa vô sản. Để từ đó, động lực lớn nhất của đất nước là chủ nghĩa dân tộc đã mang nội hàm mới, kết hợp giữa truyền thống với hiện đại, dân tộc với quốc tế và từ đó con người xã hội chủ nghĩa vốn được hình thành trong cách mạng dân tộc dân chủ, cần phải vuơn lên tự rèn luyện phẩm chất đạo đức, có ý thức phấn đấu suốt đời vì mục tiêu cao cả của lý tưởng chủ nghĩa xã hội.

Song hành cùng với nhận thức về tư tưởng, Hồ Chí Minh luôn coi trọng và rèn luyện ý thức phục vụ con người, phụng sự Tổ quốc và coi đây là một trong những nhân tố then chốt trong bản chất con người xã hội chủ nghĩa. Để làm được điều đó, Người đòi hỏi mỗi cá nhân con người xã hội chủ nghĩa phải là người gương mẫu, có tinh thần vì nước, vì dân, có tình yêu thương con người và phải biết hi sinh cái tôi của cá nhân mình để cống hiến và coi việc phục vụ nhân dân là niềm hạnh phúc, là nghĩa vụ thiêng liêng của đời người.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Ở một khía cạnh khác, nói đến con người xã hội chủ nghĩa là nói đến những người có tinh thần sáng tạo, làm chủ được khoa học công nghệ, ham học hỏi, biết vươn lên trong cuộc sống, trong công việc, luôn bổ sung kiến thức, trí tuệ và năng lực bằng con đường học tập đáp ứng nhu cầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa: “Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học, chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận(11)”. Do đó, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, đề cao và nêu bật vai trò của giáo dục đào tạo trong tiến trình xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa và coi đó là một chiến lược lâu dài. “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”,Người luôn đặt niềm tin vào khả năng của giáo dục với mong muốn: có gì vẻ vang hơn là nghề giáo dục, đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản. Người gửi gắm ở thế hệ trẻ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không , dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(12).

3. Với bất cứ một quốc gia nào thì vấn đề con người và nguồn lực con người luôn giữ vị trí quan trọng. Đây là nhân tố có tính chất quyết định đến sự thành công hay thất bại trong sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Trong đường lối lãnh đạo, Đảng xác định: “Chúng ta cần hiểu sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh quốc gia… Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là nguồn động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”(13).

Ở giai đoạn văn minh hiện nay, loài người đã đạt tới một trình độ nhận thức mới về tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và phát triển con người. Trong đó, phát triển con người được xem là thước đo sự phát triển của mỗi quốc gia. Do đó, “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển  ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”(14).

Trong tiến trình hội nhập theo xu thế phát triển chung toàn cầu, công cuộc đổi mới gắn liền với đường lối đẩy mạnh nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đất nước Việt Nam muốn phát triển nhanh, mạnh và bền vững thì đòi hỏi nguồn lực con người phải bảo đảm được cả yêu cầu về chất lượng cũng như số lượng. Trên cơ sở nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng của Người về bản chất con người xã hội chủ nghĩa nói riêng, ngoài công tác đẩy mạnh việc giáo dục đạo đức cho nhân tố con người Việt Nam, coi trọng, bồi dưỡng và tôn vinh nhân tài vì “hiền tài là nguyên khí quốc gia” thì cần coi trọng việc nâng cao chất lượng nguồn lực con ngươi gắn liền với Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo. Bởi vì, chỉ có phát triển giáo dục, đào tạo mới nâng cao chất lượng dân trí, đào tạo được nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, trang bị chuyên môn, nghiệp vụ, văn hóa, đạo đức, ý thức kỷ luật lao động cho con người…

Bản chất, hay nói cách khác chất lượng của nguồn lực con người, là sức mạnh trí tuệ và tay nghề. Muốn nâng cao chất lượng nguồn lực con người, đặc biệt là nhân lực có chất lượng cao thì phải coi trọng công tác giáo dục, đào tạo và khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu như sinh thời Hồ Chí Minh vẫn thường nhấn mạnh. Do đó, để đáp ứng được yêu cầu về nguồn lực con người với các tiêu chí đặt ra thì phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ thuật thực hành. Đẩy mạnh đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và tạo điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời. Đồng thời, đẩy mạnh công tác xã hội hóa, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục, mở rộng các hình thức đào tạo và thực hiện tốt yêu cầu bình đẳng về cơ hội học tập và các chính sách xã hội trong giáo dục; Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo nhằm phát huy tính tích cực và chủ động của con người v.v… Các trường chuyên nghiệp và đại học tập trung đào tạo nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến như trong Cương lĩnh phát triển kinh tế – xã hội đã được Đảng ta xác định phát triển khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững. Do đó, giáo dục và đào tạo phải bảo đảm tập trung đào tạo đội ngũ nhân lực cho công nghiệp hóa – hiện đại hóa đáp ứng được cả 2 tiêu chí đại trà và chuyên sâu, cả số lượng và chất lượng.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quá trình tất yếu mang tính quy luật phổ biến để xây dựng đất nước giàu mạnh. Quá trình này đòi hỏi bước chuyển về chất của xã hội nhất là ở nước ta chuyển từ nền văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp đòi hỏi phải có sự nỗ lực về trí tuệ, kỹ năng, bản lĩnh của cả dân tộc. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người xã hội chủ nghĩa vào chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện đảm bảo để đất nước Việt Nam phát triển bền vững, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chú thích:
bqllang.gov.vn

———————————-

  1. 1.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXBCTQG, Hà Nội – 2011, Tr.41
  2. 2.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, SĐD , Tr.76-77
  3. 3.Học viện CT-HC Quốc gia Việt Nam, Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, NXBCT-HC, Hà Nội-2010. Tr.235,236
  4. 4.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương hóa VIII, NXBCTQG, Hà Nội -1997, Tr.9
  5. 5.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T10, Tr.97
  6. 6.
  7. 7.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T8, Tr.226
  8. 8.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T10, Tr.271
  9. 9.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T9, Tr.296
  10. 10.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T9, Tr.253
  11. 11.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T9, Tr.131
  12. 12.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T4, Tr.33
  13. 13.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện HN tái bản lần thứ tư BCHTW khóa VII, NXBCTQG, HN – 1993, Tr.5
  14. 14.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, SĐD , Tr.130

Th.s Cao Hải Yến
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Kim Yến (st)

Đoàn đại biểu Tài năng trẻ khoa học, công nghệ Việt Nam năm 2012 báo công dâng Bác

Hôm nay ngày 08 tháng 11 năm 2012 giữa Quảng trường Ba Đình lịch sử, 141 đại biểu Tài năng trẻ khoa học công nghệ, các đại biểu đạt giải thưởng Khoa học kỹ thuật thanh niên Quả Cầu Vàng và 52 đại biểu là cán bộ phụ trách công tác tài năng trẻ của các tỉnh, thành Đoàn, Đoàn trực thuộc và Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam đã hội tụ về báo công dâng Bác.

BC  KHC3 Đồng chí Phạm Tấn Công thay mặt Đoàn báo công dâng Bác

Thấm nhuần lời dạy của Bác: “Ngày nay ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà. Muốn xứng đáng vai trò là người chủ thì phải học tập”, các thế hệ thanh niên luôn ghi nhớ, tích cực học tập, lao động, lĩnh hội tri thức của nhân loại, đóng góp công sức của mình vào công cuộc xây dựng đất nước và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và là động lực phát triển kinh tế – xã hội. Trong số các đại biểu Tài năng trẻ khoa học, công nghệ tiêu biểu về dự Gặp gỡ toàn quốc Tài năng trẻ khoa học, công nghệ Việt Nam năm 2012 lần này, có nhiều đại biểu là các nhà khoa học trẻ đang làm việc tại các viện nghiên cứu, các trường đại học lớn, các đại biểu là học sinh, sinh viên, là những nhà công nghệ trẻ, có nhiều sáng kiến, sáng tạo trong ứng dụng, đổi mới công nghệ, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có giá trị cao như người máy, thiết bị hỗ trợ thận nhân tạo, các giống lúa kháng bệnh v.v … Có các tài năng trẻ xuất sắc được giải thưởng khoa học kỹ thuật thanh niên Quả Cầu Vàng cùng các thành tích, giải thưởng quốc gia và quốc tế khác.

“Gặp gỡ toàn quốc Tài năng trẻ khoa học, công nghệ Việt Nam 2012″  là cuộc họp mặt quy mô toàn quốc lớn nhất của các nhà khoa học trẻ, tài năng công nghệ trẻ. Mỗi đại biểu tài năng trẻ tham dự gặp gỡ là một tấm gương tiêu biểu của tuổi trẻ Việt Nam dấn thân, sáng tạo, đam mê trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ. Mỗi đại biểu là một tài năng, đầy tâm huyết và quyết tâm chung sức, đồng lòng cùng hàng triệu thanh thiếu niên góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam yêu dấu, đưa nước ta sớm sánh vai các cường quốc năm châu như Bác kính yêu hằng mong đợi.

Trong giờ phút thiêng liêng tại buổi lễ, bằng tất cả tình cảm biết ơn sâu sắc, thay mặt những đại biểu Tài năng trẻ Đồng chí Phạm Tấn Công, Giám đốc Trung tâm Phát triển khoa học công nghệ và tài năng trẻ Trung ương Đoàn, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức “Gặp gỡ toàn quốc Tài năng trẻ khoa học, công nghệ Việt Nam năm 2012” kính dâng lên Người những thành tích học tập, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ mà tuổi trẻ đã nỗ lực phấn đấu trong thời gian qua.

Khắc sâu lời dạy của Bác và lý tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thế hệ trẻ hôm nay xin hứa với Bác sẽ phát huy những thành quả đã đạt được và quyết tâm học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, không ngừng phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện, góp sức trẻ thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

BC  KHC2Đoàn đại biểu Tài năng trẻ khoa học công nghệ toàn quốc năm 2012 vào Lăng viếng Bác

Kết thúc buổi lễ, Đồng chí Phan Văn Mãi, Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn làm Trưởng đoàn, đã dẫn đầu Đoàn đại biểu Tài năng trẻ khoa học công nghệ toàn quốc năm 2012, kính cẩn đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Trần Tiên Long
bqllang.gov.vn

Tổng thống nước Cộng hòa Hồi giáo Iran đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Ngài Mahmoud Ahmadinejad, Tổng thống nước Cộng hoà Hồi giáo Iran sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 9/11 đến 10/11/2012. Đây là chuyến thăm cấp cao nhất của lãnh đạo Iran tới Việt Nam kể từ năm 1995 nhằm tăng cường quan hệ hợp tác với Việt Nam, hướng tới kỷ niệm 40 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Ngoài ra, chuyến thăm của Tổng thống Ahmadinejad cũng nhằm thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực thương mại, nông nghiệp, thủy sản, văn hóa, thể thao và du lịch.

IranTổng thống Iran và các đại biểu trong Đoàn vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Việt Nam và Iran có quan hệ tốt đẹp. Hai bên đã thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 4/8/1973. Iran mở Đại sứ quán tại Hà Nội vào ngày 22/1/1991. Việt Nam mở Đại sứ quán tại Tehran tháng 12/1997. Tháng 9/2009, hai nước thành lập Hội hữu nghị Việt Nam – Iran. Hai bên cũng đã có các cuộc tiếp xúc và trao đổi nhiều đoàn cấp cao sang thăm lẫn nhau. Tháng 1/2012, hai nước đã tiến hành kỳ họp lần thứ VII Ủy ban Liên Chính phủ Việt Nam-Iran.

Trong khuôn khổ chuyến thăm của Đoàn, sáng 10/11/2012, Ngài Tổng thống và các đại biểu trong Đoàn đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam, đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Mahmoud Ahmadinejad, Tổng thống nước Cộng hoà Hồi giáo Iran kính viếng”./.

Lan Hương
cpv.org.vn

Phía sau sự bịa đặt Nhân quyền ở Việt Nam – 1

… Những năm gần đây, một bộ phận trong chính giới Mỹ đang tận dụng tối đa sự “lấn lướt” để áp đặt những “giá trị Mỹ” trên phạm vi toàn cầu, trong đó, Việt Nam là một trọng điểm. Cái lý của họ là nước Mỹ có nền kinh tế phát triển, khoa học công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới, lại là nơi có “Nữ thần tự do” nên họ cho rằng, cần thiết hơn bao giờ hết, chứng tỏ cho thế giới biết phải tuân thủ những giá trị Mỹ mà người Mỹ đã tạo dựng.

Đối với Việt Nam, họ tự cho mình cái quyền ban hành một số bộ luật, dự luật trừng phạt đối với các hành vi gọi là “vi phạm dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo” ở Việt Nam. Những năm qua, chính quyền Mỹ ban bố nhiều bộ luật với chế tài mang tính áp đặt vô lý, tự cho mình quyền “trừng phạt đối với các nước vi phạm” như Dự luật chống đàn áp tôn giáo (1995), Luật HR.2431- Quyền tự do tôn giáo quốc tế (1998), Luật HR.3194 – Ngân sách tổng hợp (1999), Dự luật HR.2833 – Nhân quyền Việt Nam 2001, Dự luật HR.1587 – Nhân quyền Việt Nam 2003, Dự luật HR.1950 – Chi tiêu đối ngoại (2003), Dự luật HR.1019 – Tự do thông tin tại Việt Nam 2003, Dự luật HR.1587 – Nhân quyền Việt Nam (7/2004). Điều đáng chú ý là trong các luật hoặc dự luật này đều chứa đựng điều khoản liên quan đến vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo tại Việt Nam.

Thực chất việc cho ra đời các “bộ luật” trên là nhằm tính toán, lợi dụng vấn đề của nhân quyền như: dân chủ, tôn giáo, dân tộc, tự do thông tin… để gây áp lực chính trị đối với các nước nói chung và Việt Nam nói riêng bằng thủ đoạn “luật hoá nhân quyền”, chứ không phải là đấu tranh cho nhân quyền đích thực như họ quảng bá.

Năm 2000, Uỷ ban Tự do Tôn giáo quốc gia Hoa Kỳ đưa ra một báo cáo đề nghị Bộ Ngoại giao quản lý “các nước đặc biệt lo ngại” theo Luật Tự do tôn giáo quốc tế và cho rằng: “Việt Nam là một trong số các nước cần phải giám sát chặt chẽ vì chính quyền có nhiều vi phạm về tự do tôn giáo…”. Hạ viện Mỹ thông qua Hiệp định thương mại kèm theo Đạo luật Nhân quyền Việt Nam (2001); Chính phủ Mỹ vẫn đều đặn đưa ra các báo cáo thường niên gọi là Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế. Bộ Ngoại giao Mỹ công bố bản Báo cáo về tình hình nhân quyền năm 2002 của gần 200 quốc gia, tuy Việt Nam không nằm trong số các nước cần đặc biệt quan tâm, nhưng vẫn bị chỉ trích rằng: “Thành tích về nhân quyền của Chính phủ Việt Nam năm 2002 vẫn ít ỏi và tiếp tục có những vi phạm nghiêm trọng”.

Từ đầu năm 2001 đến nay, Uỷ ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ đã ba lần tổ chức điều trần ở cơ quan lập pháp về vấn đề “tự do tôn giáo”. Họ mời một số phần tử phản động, cực đoan người Việt Nam tham dự. Từ diễn đàn này, những thông tin xuyên tạc vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam và một số nước được đưa ra bàn thảo. Những cuộc điều trần trở thành nơi vu cáo nhân quyền và đi đến kết luận của kịch bản là: yêu cầu Chính phủ thông qua Dự luật Nhân quyền Việt Nam, kêu gọi các nước chống Việt Nam. Uỷ ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ nhiều lần tổ chức họp báo để vu cáo Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, vi phạm “nhân quyền”; đề nghị Mỹ đưa Việt Nam vào “danh sách các nước đặc biệt quan tâm”…

Cùng với việc ban bố các luật, thông qua nhiều nghị quyết, báo cáo, tuyên bố, tổ chức điều trần, họp báo… các thế lực thù địch còn lập ra những tổ chức để theo dõi tình trạng dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo ở các nước, trong đó có Việt Nam. Họ khuyến khích vật chất cho những ai cung cấp tài liệu về “đàn áp tôn giáo”, đồng thời, tìm cách hỗ trợ các nhóm phản động, cực đoan phát triển lực lượng để thực hiện ý đồ chống phá lâu dài. Khi xảy ra các “điểm nóng”, họ thường tìm mọi cách để có thể đến hiện trường, nắm tình hình và thu thập thông tin chuẩn bị cho đợt vu cáo mới về cái gọi là “Việt Nam vi phạm nhân quyền”.

Các thế lực thù địch tiếp tay cho các phần tử chống đối người Việt ở nước ngoài tổ chức nhiều cuộc biểu tình, hội họp để đòi cái mà cho là “nhân quyền” ở Việt Nam.

Thời gian gần đây bọn phản động và cơ hội chính trị trong nước tích cực viết và tán phát tài liệu xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, vu cáo ta vi phạm nhân quyền; tìm cách tụ tập lực lượng người dân tộc thiểu số, kích động chia rẽ đoàn kết dân tộc, kích động ly khai, di cư tự do của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, gây khó khăn phức tạp và tạo cớ để các thế lực thù địch bên ngoài can thiệp. Điều 2.385, cuốn Mỹ quốc pháp điển ghi rõ: “Bất kỳ ai hô hào kích động, khuyến khích lật đổ hay phá rối Chính phủ Mỹ hay các tổ chức chính quyền cấp dưới đều bị tuyên phạt cao nhất tới 20.000 USD hoặc phải ngồi tù 20 năm. Sau khi mãn hạn 5 năm tù cũng không được Chính phủ và các tổ chức khác tin dùng”. Ở Việt Nam, Bộ luật Hình sự quy định khung hình phạt rõ ràng cho tội danh chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều dễ hiểu và bình thường nhất của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng làm như vậy.

Sự thật về chiêu bài “nhân quyền vùng Tây Nguyên Việt Nam” mà các thế lực phản động tung ra là sau khi hỗ trợ nhóm Ksor Kơk kích động đồng bào dân tộc thiểu số gây ra vụ bạo loạn tháng, họ tìm cách tạo ra dòng người vượt biên trái phép sang Campuchia nhằm kéo dài sự bất ổn ở Tây Nguyên. Họ còn sử dụng các tổ chức như Quan sát Nhân quyền thế giới (HRW) vu cáo Việt Nam “đàn áp người thiểu số Tây Nguyên”.

Sự thật về cái gọi là “tự do tôn giáo ở Việt Nam” là một số tín đồ cực đoan tìm cách khôi phục giáo phái “Phật giáo Việt Nam thống nhất” đã bị đào thải trong lịch sử Phật giáo, vu cáo Nhà nước Việt Nam “độc quyền, âm mưu triệt tiêu tôn giáo”, đòi được phục hồi hoạt động của các tổ chức phản động trá hình tôn giáo ở Việt Nam. Hệ quả là: những mâu thuẫn mới nảy sinh trong tôn giáo ở Việt Nam, hòng gây bất ổn chính trị xã hội.

Như vậy thực chất của vấn đề nhân quyền mà các thế lực thù địch đang khuyếch trương, là sự phủ nhận học thuyết Mác Lênin về giai cấp và đấu tranh giai cấp, sự vi phạm luật pháp và những điều ước quốc tế về tôn trọng độc lập chủ quyền của các dân tộc. Người ta tìm cách áp đặt giá trị Mỹ vào Việt Nam dưới tấm biển quảng cáo “nhân quyền” chỉ vì lợi ích của họ, chứ hoàn toàn không phải là vì nhân quyền đích thực.

Thực hư của vấn đề nhân quyền ở Việt Nam đã rõ, cuộc đấu tranh chống lại âm mưu cáo buộc “Việt Nam vi phạm nhân quyền” vẫn chưa dừng lại, bởi các thế lực thù địch chưa từ bỏ mà còn gia tăng sức nặng cho lá bài “nhân quyền” trên bàn cờ chính trị quốc tế, nhằm thao túng nhân loại theo hướng có lợi cho họ.

Các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội tiếp tục sử dụng chiêu bài “tự do tôn giáo”, kết hợp lợi dụng vấn đề tôn giáo và vấn đề dân tộc trên các địa bàn nhạy cảm để vừa kích động, vừa hỗ trợ và chỉ đạo lực lượng này tổ chức đấu tranh lâu dài với mưu toan tổ chức đấu tranh chính trị kết hợp với hoạt động vũ trang để vô hiệu hoá chính quyền địa phương, chia sẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Lập trường của Nhà nước và nhân dân Việt Nam là kiên quyết chống lại mọi sự vu khống, đồng thời làm mọi việc để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế vì một thế giới hoà bình, ổn định và phát triển./.

(Trích từ sách Lẽ phải của chúng ta)
cpv.org.vn

“Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”

Sinh thời, trái tim người con vĩ đại của dân tộc – Chủ tịch Hồ Chí Minh không đứng cao vời vợi tách khỏi cuộc sống bình thường của mọi tầng lớp nhân dân mà ngược lại luôn tỏa sáng ấm áp, bình dị mà vô cùng cao quý. Con người ấy, tình yêu ấy được hun đúc từ chính bản sắc, tình yêu quê hương đất nước và sự gắn bó với cuộc sống của chính nhân dân mình, luôn gắn quyện với nhịp đập của cuộc sống đất nước, nơi mà người ấy gửi gắm một “ham muốn, ham muốn đến tộc bậc” là làm sao đem lại cuộc sống ấm no cho con người, đem lại tự do và hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân. Tình yêu ấy còn là niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh lớn lao, sức sáng tạo vô cùng của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Hơn ai hết, Người khẳng định mọi nguồn lực cách mạng là ở nơi quần chúng, sức mạnh kiến thiết cũng là nơi quần chúng, trong đó có thế hệ trẻ. Người luôn dành muôn vàn tình thương yêu và gửi gắm niềm tin khi đặt trọn tương lai của cách mạng, của dân tộc vào họ.

tuoitre1Bác Hồ với thiếu nhi Liên Xô khi Bác thăm đất nước Lênin – 1957.

Bác của chúng ta là con người sống có lí tưởng cao cả, giàu tình nhân ái, ân nghĩa, sống khiêm tốn, giản dị và quên mình. Tình yêu bao la đó trong trái tim một con người vĩ đại không chỉ dành riêng cho các tầng lớp nhân dân Việt Nam, thế hệ trẻ Việt Nam mà còn là tình hữu nghị quốc tế trong sáng dành cho bạn bè bốn biển năm châu bởi “Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Và như một lẽ tất nhiên, trong đó tình cảm dành cho thế hệ trẻ các nước luôn trong nhịp đập trái tim bao la tình thương yêu của Hồ Chí Minh và để lại cho thanh niên Việt Nam, thanh niên thế giới những tình cảm quí báu và những lời dạy thiết thực.

Tháng 3 năm 1961, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam – nay là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Bác đã đến thăm và nói chuyện. Bác nói:

“ Nhà thơ Pháp, Vay-ăng Cu-tu-ri-ê viết: “ Chủ nghĩa cộng sản là mùa xuân của loài người”

Nhà thơ Xô-viết, Mai-a-cốp-xki viết: “Chủ nghĩa cộng sản là tuổi trẻ của thế giới do những người trẻ tuổi xây dựng nên”.

Bác thì nói một cách mộc mạc: Thanh niên Việt Nam, thanh niên thế giới! Hãy hăng hái tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng chủ nghĩa cộng sản!”

tuoi tre 2Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Tát-gi-ki-xtan, ngày 27/7/1959

Lới nói “mộc mạc” ấy chính là lới kêu gọi nóng bỏng từ tấm lòng của một nhà hoạt động quốc tế sôi nổi, suốt đời phấn đấu không chỉ vì nền độc lập, tự do của đất nước, vì hạnh phúc của dân tộc mình mà còn vì tương lai tươi sáng của toàn nhân loại. Bởi vậy, trải qua bao gian khổ, mất mắt và hy sinh, khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, Bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời đã đánh dấu chặng đường mới của đất nước, dân tộc ta. Cũng ngay sau đó là 30 năm gian khổ “Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mỹ/Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Tuy nhiên, trong bối cảnh kháng chiến chống Pháp, Mỹ và các thế lực tay sai, Người lại có những cuộc hành trình đầy tình hữu nghị tại nhiều nước anh em, bầu bạn, từng gắn bó với bao nhiêu con người thuộc mọi chủng tộc, màu da, tôn giáo, lứa tuổi với tư tưởng nhân văn“Giang sơn muôn dặm một nhà/Bốn phương vô sản đều là anh em”. Các bạn quốc tế cũng thân mật gọi Người là Cha, là Bác, là Anh. Năm 1946, khi sang thăm Pháp trên cương vị thượng khách của Chính phủ nước này, Bác có nhiều dịp tiếp xúc với đủ các giới chính khách, báo chí, văn nghệ, đảng phái, đoàn thể, quần chúng. Trên đất Pháp, Người đã trải qua cả một thời tuổi trẻ và kết bạn với nhiều chiến sĩ cách mạng cùng lứa tuổi. Sau này, chính Người tự nhận: “Tôi đã nhiều năm từng là dân Pa-ri”.

Bac ho voi thieu nhi bulgaryjpgChủ tịch Hồ Chí Minh với các cháu thiếu nhi Bungari trong dịp
Người 
 sang thăm Bungari năm 1957.

Có lẽ, mỗi chúng ta đa từng được nghe câu nói nổi tiếng của Người “Tất cả trẻ em trên thế giới là con tôi!”. Đó là câu nói của Người khi tiếp bố mẹ của cô bé Irina Đimitơriépna Đênia,là con của nhà báo X. Côlôxốp (X. Côlôxốp từng là phóng viên của Thông tấn xã Liên Xô APN) và vợ là bác sĩ Anna Xtaxia Vaxilépna, ở thành phố Giucốpxki, ngoại ô Mátxcơva được Bác Hồ nhận làm con đỡ đầu. Cuộc gặp gỡ ấy diễn ra vào tháng 11 năm 1960, Irasơca và bố mẹ đã được gặp Bác Hồ tại một ngôi nhà trên phố Alếchxây Tônxtôi, nhân dịp Người cùng Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam sang Mátxcơva dự lễ kỷ niệm lần thứ 43 Cách mạng Tháng Mười vĩ đại. Cuộc gặp gỡ đã diễn ra rất tình cảm và thân mật. Bác mời gia đình Irasơca cùng ăn trưa với Người. Trước đó, em bé có tên là Êlidabét, con gái ông Raymông Ôbrắc – cựu Ủy viên Cộng hoà ở Mácxây, nghị sĩ Quốc hội Pháp, được Bác Hồ đã đến bệnh viện thăm, tặng quà và nhận làm con đỡ đầu. Vào những dịp sinh nhật Êlidabét, Người thường gửi thư và quà tới và con gái đỡ đầu của mình. Quà của Bác là quả cầu nhỏ hay một con trâu bằng ngà, có khi là một bức ảnh chân dung của Người, hoặc một đồng tiền vàng có mang hình Bác và đặc biệt là tấm lụa vàng để may áo cưới. Hay em bé Knuth Wolfgang Walther Hartmann ở miền Nam nước Đức thì lại có vinh dự được làm con đỡ đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi có ngày sinh trùng với ngày sinh của Người: 19 tháng 5 năm 1951. Chính vì sự trùng hợp ngẫu nhiên này mà ông bà Walter R. Harlmann, cha mẹ của Knuth, đã gửi thư tới Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ cảm tình ủng hộ cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam và xin Người nhận Knuth Wolfgang Walther Hartmann làm con đỡ đầu. Việc Bác Hồ nhận những cháu bé người Pháp, Đức và Liên Xô làm con đỡ đầu đã thể hiện tấm lòng nhân ái và sự quan tâm của Bác dành cho thiếu nhi quốc tế, và cũng qua đó càng làm tăng thêm tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Pháp, nhân dân Cộng hoà dân chủ Đức và nhân dân Liên Xô anh em.

Bac ho voi thieu nhi rumaniCác cháu thiếu nhi Ru-ma-ni vui mừng chào đón Bác Hồ sang thăm hữu nghị, 
ngày 17/8/1957

Còn ở Trung Quốc, khi nói chuyện với nhân dân Trung Quốc qua Đài Phát thanh Bắc Kinh, Người bộc lộ: “Tính tôi rất yêu trẻ con cho nên vừa đến Bắc Kinh, tôi vội đi thăm nhà giữ trẻ và Trường Tiểu học, thấy cháu nào cũng ngoan, cũng xinh đẹp, vui vẻ, mạnh khỏe, tôi rất sung sướng và thầm nghĩ rằng các cháu ấy sẽ là những công dân của xã hội cộng sản mà chúng ta đang phấn đấu để xây dựng cho tương lai”.

Bac ho voi thieu nhi trung quocBác Hồ với các cháu thiếu nhi tỉnh Giang Tô, CHND Trung Hoa, ngày 19/5/1961

Đi thăm các nước ở Châu Âu cũng vậy. Đến trại hè “Hen-nút Giút”, tới thành phố Ai-den-huýt-then-xlát, thăm thành phố cảng Rô-xtốc, vào vườn thú Béc-lin,..Bác đã vui cười nắm tay và dạo chơi cùng các cháu thanh niên, nhi đồng. Ở Nam Tư (cũ), Bác đã mời nhiều cháu nhỏ vào thăm nơi Bác ở, cho ăn bánh và uống sữa. Một cháu bé lên 3 được Bác xúc bánh cho. Các phóng viên ảnh đi theo, chụp hình ảnh ấy gửi đăng báo đã gây xúc động trong lòng nhân dân Nam Tư và các nước Châu Âu. Năm 1959, trong một chuyến đi nghỉ ở Liên Xô (cũ), Người đã vượt ngót trăm cây số xe hơi đến dự cuộc liên hoan của trại hè thiếu nhi Lếch-cút. Có nhà báo cùng đi trong đêm ấy đã tả lại: “Giữa trời đêm, vầng trăng tha thẩn soi bong trên mặt hồ Bai-can cách không xa ngọn lửa trại rực hồng. Chung quanh đó, các em thiếu nhi đàn, hát, múa và biểu diễn vở ba-lê “Hồ Thiên Nga”. Các em ríu rít, quấn quít bên Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người cha hiền từ giản dị như môt ông tiên đem lại cho các em muôn vàn tình thân yêu…”

Có lẽ không có nhà hoạt động chính trị nào trên thế giới này đã đi hầu khắp thế giới như Bác kính yêu của chúng ta. Và ở đâu Người cùng chiến đấu cho nhân dân lao động, cũng yêu quý thế hệ trẻ như chính nhân dân và thanh, thiếu niên nước mình. Và, Người tiếp xúc, chuyện trò với mọi tầng lớp nhân dân ở những nơi Người có mặt, nhất là với thanh niên và thiếu niên, nhi đồng – những người đặc biệt kính yêu Bác và được Bác dành cho sự trìu mến vô bờ bến. Người vui mừng trước các thành tựu của tuổi trẻ các nước, luôn nêu những tấm gương sáng trong chiến đấu và xây dựng đất nước của họ để tuổi trẻ Việt Nam noi theo, từ chị thợ dệt Nga Gaganôva, người thiếu niên dũng cảm Trung Quốc Lưu Hồ Lan đến những thanh niên Pháp anh hùng, như Hăngri Máctanh, Rây mông Điêng, những anh hùng vũ trụ trẻ tuổi Liên Xô như Gagarin, Titốp… Người xúc động trước những đau thương, mất mát do chiến tranh, thiên tai, áp bức gây ra cho các dân tộc và thanh niên ở một nơi nào đó trên trái đất.

Và như thế, Bác của chúng ta đã suốt đời mưu cầu hạnh phúc cho tất cả các dân tộc trên trái đất, và vì thế Người càng yêu quí thế hệ trẻ của mọi đất nước, lớp người giàu sức sống, giàu niền tin trong sự nghiệp xây dựng tương lai của đất nước họ, cùng vun đắp cho tình hữu nghị trên toàn thế giới cho đến khi Người đi về cõi vĩnh hằng./.

Tâm Trang
chinhphu.vn

Chuyện từ cây hoa Bác Hồ ở Lũng Trò

Đúng dịp tỉnh Tuyên Quang long trọng tổ chức lễ đón nhận Bằng Di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào và kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9, tôi tình cờ được nghe kể về một loài cây có tên “cây hoa Bác Hồ” ở Lũng Trò, xã Trung Trực (Yên Sơn) – nơi Bác Hồ đã ở và làm việc từ 19-12-1948 đến 10-1-1949. Vậy là thực hiện ngay chuyến đi đến nơi có câu chuyện kể và được biết thêm nhiều điều thú vị mà thiêng liêng.

Cây hoa Bác Hồ

Từ trung tâm xã Trung Trực, chúng tôi đi chừng hơn cây số đến Thôn 5, Đồng Hon. Leo hết con dốc phía bên phải tỉnh lộ 185 rồi xuống đến Lũng Trò. Đây là thung lũng nhỏ, xanh mát cây rừng, lọt giữa núi Lũng Trò, đồi Mỏ Noọng, đồi Trai Ảnh. Một dòng suối nhỏ, nước róc rách, len lỏi lộ cả những viên cuội dưới đáy như lời reo chào khách lạ. Ngôi nhà sàn ngay bên suối của vợ chồng chị Triệu Thị Hòa và anh Nguyễn Văn Hùng nằm đúng trên mảnh đất năm xưa dựng lán Bác Hồ. Chị Hòa bảo, cả thung lũng hiện có 2 hộ đồng bào Tày sinh sống, chứ ngày đó (ngày Bác Hồ và bộ đội về làm lán ở để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp) tuyệt nhiên không có người ở, cây cối rậm rạp, rất nhiều cây Trò. Bà con gọi Lũng Trò là vì vậy.

Theo sách  “Di tích lịch sử – lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đất Tuyên Quang” (Sở VHTT&DL tỉnh phát hành năm 2010), lán Bác ở Lũng Trò được làm theo kiểu nhà sàn, tầng trên để ngủ ban đêm, tầng dưới làm việc ban ngày, vừa tránh được thú dữ, vừa tránh không khí ẩm thấp của núi rừng. Lán quay hướng Nam, nhìn xuống suối. Sáng sáng Bác thường xuống suối rửa mặt, tay cầm theo ống bương đựng nước để khi trở lên đến thềm nhà thì rửa chân. Trước cửa lán, Bác trồng khóm hoa vừa để ngụy trang, vừa có hoa đẹp để ngắm. Từ căn lán này, ngày 19-12-1948, Bác Hồ đã viết Lời kêu gọi nhân ngày kỷ niệm hai năm kháng chiến toàn quốc, Điện gửi nhân dân Pháp, gửi thư cho đồng bào Công giáo toàn quốc nhân ngày lễ Thiên Chúa giáng sinh… Cũng tại đây, Bác gửi thư chúc mừng năm mới đến toàn thể đồng bào chiến sỹ nhân Tết Dương lịch 1949, ký Sắc lệnh thành lập một Hội đồng giáo dục có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục ấn định chính sách và kế hoạch giáo dục, nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục nước nhà. Bác thường xuyên truyền tinh thần lạc quan cách mạng đến cán bộ và nhân dân, chú trọng công tác tư tưởng, nhắc nhở các đồng chí cảnh vệ, phục vụ, bộ đội phải làm tốt công tác dân vận, tổ chức dạy chữ quốc ngữ cho dân, hướng dẫn bà con ăn ở hợp vệ sinh, tham dự các buổi sinh hoạt với nhân dân.

cay hoa bh 1Anh Nguyễn Văn Hùng (ngoài cùng bên phải) đang
 giới thiệu về cây hoa Bác Hồ ở Lũng Trò.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, Lũng Trò không còn rậm rạp, hoang vu như ngày ấy. Theo chân anh chị chủ nhà và anh cán bộ văn hóa xã, chúng tôi đến khu vực năm xưa là lán Bác. Căn lán Bác ở và các lán của bộ đội, của cán bộ phục vụ từ lâu đã không còn dấu vết. Nhưng thật kỳ diệu, khóm hoa Bác trồng nơi cửa lán năm xưa giờ vẫn xanh tươi, dù khu vườn đã qua biết bao mùa phát cỏ, gieo trồng. Đây là loại cây dây leo, rễ cọc cắm rất sâu vào đất, lá to hơn lá hoa nhài, thường nở hoa màu đỏ vào những tháng cuối năm âm lịch. Hết mùa hoa cũng là mùa gieo trồng vụ mới, người dân phát dọn cả khu vườn, nhưng chồi cây lại nhú lên từ sâu trong lòng đất, lại nảy lộc, đơm hoa. Người già, người trẻ ở Trung Trực đều khẳng định vùng này không hề có loại cây nào như thế. Không một ai biết tên cây. Chỉ biết cây do Bác trồng, nên bà con đã đặt tên cây là cây hoa Bác Hồ. “Trông cây lại nhớ đến Người”, trước vạt cây lạ, đặc biệt xanh tốt giữa đám dong giềng đang nở hoa đỏ ối bên dòng suối Lũng Trò, tôi bỗng như thấy hình ảnh Bác tại Lũng Trò, lúc suy tư làm việc trong lán, lúc ân cần trìu mến chăm sóc khóm hoa. Xin phép đưa một nhánh hoa về trồng, tôi muốn được chăm sóc hoa như lưu giữ một kỷ vật thiêng liêng về Bác. Được biết, gần đây xã Trung Trực đã giao nhiệm vụ cho anh chị Hùng – Hòa trông coi, chăm sóc khóm hoa. Vợ chồng anh đã coi đó là vinh dự của gia đình. Khung ảnh trong nhà hiện treo những tấm hình chụp các đoàn khách đến Lũng Trò thăm cây hoa Bác Hồ nở đỏ rực rỡ.

Khắc ghi lời Bác

Ông Ma Phúc Quý, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Trung Trực năm nay đã gần bảy mươi tuổi. Ông là con trai của Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến xã Ma Phúc Nghiêm ngày ấy. Trong căn nhà đơn sơ ngay cửa ngõ vào Lũng Trò, ông kể cho chúng tôi nghe chuyện cây hoa Bác Hồ, chuyện những ngày cha mẹ ông vinh dự được phục vụ Bác Hồ, phục vụ bộ đội. Hồi ấy ông còn nhỏ, nên những chuyện về Lũng Trò chủ yếu được biết qua lời kể của cha mẹ. Nào chuyện mỗi tuần, bộ đội trong lũng lại ra thôn dạy dân tập võ, vui văn nghệ; chuyện bà con trong thôn đóng góp tre nứa, lá cọ làm lán, đóng góp gà, gạo và các loại thực phẩm khác nuôi bộ đội.

cay hoa BH 2Trường THCS Trung Trực (Yên Sơn) mới được đầu tư xây dựng
 thu hút con em học sinh trong xã đến trường.    

Có gia đình đóng góp nhiều bạc trắng, có nhà đem đến con lợn 65 kg. Mẹ ông, bà Đào Thị Hồng vốn không biết chữ, nhưng được tổ chức phân công tiếp nhận đồ bà con ủng hộ Việt Minh, có cân đong cẩn thận, báo cáo Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến xã viết giấy biên nhận, ký tên hẳn hoi. Những ngày Ban Việt Minh xã và bộ đội làm lán đón Bác Hồ, mẹ ông ngày ngày nấu cơm, cha ông đưa cơm vào trạm gác, đánh kẻng cho bộ đội ra lấy. Có một chuyện cha kể làm ông nhớ mãi. Ấy là một lần đưa cơm vào lán, được gặp cụ già dáng cao, râu dài ở một căn lán bên kia suối. Cụ già dặn dò: Chú là người đứng đầu phải gương mẫu vận động, giác ngộ cách mạng cho bà con để kháng chiến sớm thắng lợi. Lời dặn dò ôn tồn, giản dị mà sâu sắc. Sau này, khi mọi người trong các lán ở Lũng Trò đã rút đi nơi khác, ông mới biết cụ già hôm ấy chính là Bác Hồ. Luôn đinh ninh lời Bác, vị Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến xã đã lãnh đạo Trung Trực thành căn cứ cách mạng thủy chung, giữ bí mật, bảo vệ cán bộ. Cậu bé Ma Phúc Quý mới ra đời năm ấy được nuôi dưỡng và trưởng thành  trong truyền thống cách mạng của gia đình, thôn xóm, sau này thành bộ đội tận chiến trường nước bạn Lào, rồi đảm nhiệm cương vị Bí thư Đảng ủy xã (1996 – 2000), Chủ tịch Mặt trận tổ quốc xã (2000 – 2004).

Trong số những người cao tuổi nhất ở Trung Trực hiện nay có cụ Đàm Văn Xuyên, cũng nguyên là Bí thư Đảng ủy xã, Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng, ở thôn Đồng Quảng. Cụ Xuyên năm nay đã ngoài chín mươi tuổi, dáng vẻ chậm chạp, nhưng đôi mắt còn tinh anh và tai nghe vẫn rõ. Cụ rành rọt kể cho chúng tôi về những ngày Bác Hồ và bộ đội về Lũng Trò. Ngày ngày tập luyện, tối lại sinh hoạt nghe cán bộ nói chuyện, vui văn nghệ, học chữ quốc ngữ. Nhắc đến Di tích lán Bác ở Lũng Trò và cây hoa Bác Hồ, cụ Xuyên tỏ ý day dứt vì lúc còn công tác chưa đề nghị cho Lũng Trò được công nhận là Di tích lịch sử cách mạng. Nay cụ đã ở tuổi gần đất xa trời, chỉ mong các thế hệ sau giúp tháo bỏ niềm day dứt bấy lâu.

Trong câu chuyện với chúng tôi, Bí thư Đảng ủy Nguyễn Văn Sáu không giấu niềm tự hào vì Trung Trực vinh dự được Bác Hồ từng ở và làm việc, vì Trung Trực hiện vẫn lưu giữ được cây hoa Bác Hồ là kỷ vật thiêng liêng của Bác. Anh cho biết xã đã làm hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền công nhận Lũng Trò là Di tích lịch sử quốc gia. Cây hoa Bác Hồ ở Lũng Trò đã được nhân gốc đem trồng trước cột cờ trụ sở xã để mỗi cán bộ, đảng viên ngày ngày chăm sóc như một lời tự nhắc nhở học tập và làm theo Bác. Đảng bộ Trung Trực nhiều năm liền trong sạch vững mạnh, được Tỉnh ủy tặng Bằng khen Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu (2009 – 2011). Trong Cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Trung Trực được huyện Yên Sơn chọn là xã điểm và được khen thưởng. Nhưng quan trọng hơn, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã đều nhận rõ những ưu khuyết điểm của mình để đề ra phương hướng khắc phục và đăng ký những việc làm theo Bác cụ thể, sát thực trong từng thời kỳ.

Năm 2012 này, mỗi tập thể, cá nhân ở Trung Trực đều chọn được nội dung làm theo Bác Hồ gắn với nhiệm vụ được giao. Đảng ủy xã chọn việc nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, quan tâm phát triển đảng viên. Ủy ban nhân dân xã đề cao thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gần dân, lắng nghe dân. Chi bộ Trường Trung học cơ sở xã giúp học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giúp đồng nghiệp sử dụng phần mềm tin học trong soạn giảng. Cá nhân đồng Chí chủ tịch Ủy ban nhân dân xã chọn thực hiện nội dung “nâng cao trình độ năng lực, nghiên cứu kỹ văn bản trước khi triển khai thực hiện, kiểm tra chặt giấy tờ trước khi ký”…

Nhớ lời Bác trong thư chúc mừng năm mới viết năm 1949 tại Lũng Trò “đồng bào sẽ xung phong thi đua tăng gia sản xuất về mọi nghề, mọi ngành, diệt giặc đói, giặc dốt…”, Trung Trực đã tìm được hướng phát triển từ chính đồng đất của xã. Cùng với cây lúa, xã đang phát triển hơn 200 ha cây dong giềng và cây chuối làm hàng hóa. Đã có những hộ đầu tư máy móc, nhà xưởng để thu mua dong củ, chế biến bột tại chỗ, giải quyết đầu ra cho cây dong. Dẫu đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, nhưng bà con vẫn tích cực tham gia các hoạt động vì cộng đồng, đóng góp làm đường bê tông đến các thôn được 2 km năm 2011, đóng góp xây dựng Tượng đài Bác Hồ với nhân dân các dân tộc Tuyên Quang được 10 triệu đồng, giải phóng mặt bằng xây dựng Trường Trung học cơ sở xã theo hướng chuẩn quốc gia, xây dựng hồ Khuôn Lù và các tuyến mương phục vụ sản xuất. Xã đã chỉ đạo việc củng cố các lớp học thôn bản, tạo mọi điều kiện để hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho 38 trẻ trong độ tuổi. Mức lương thực bình quân đạt 720 kg/người/năm  và 1,1 triệu đồng/người/tháng là kết quả đáng trân trọng đối với một xã vùng sâu, vùng xa.

Tạm biệt Trung Trực, trong tôi vẫn in đậm hình ảnh cây hoa Bác Hồ và những tâm sự của các đồng chí lãnh đạo xã về thực hiện lời dạy của Bác để phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Và mãnh liệt một niềm tin không lâu nữa, hồ sơ đề nghị Lũng Trò là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia (đã được Bảo tàng tỉnh trình Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) sẽ được phê duyệt, để nơi này là điểm đến giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ mai sau. Rồi đây, cây hoa Bác Hồ ở Lũng Trò với sức sống diệu kỳ từ hơn nửa thế kỷ qua sẽ được nhiều người biết đến, được nhân giống và chăm sóc ở nhiều nơi như giữ gìn một kỷ vật quý giá về Bác, như một cách để mỗi người tự nhắc mình thường xuyên học tập và làm theo Bác Hồ.

Theo baotuyenquang.com.vn
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn