Đọc thơ Bác Hồ mừng Tết Quý Tỵ 60 năm trước

Bác Hồ chúc TếtQuân và dân ta vừa trải qua bảy năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, liên tiếp giành thắng lợi trên khắp các chiến trường, mà gần nhất là chiến thắng Tây Bắc Thu – Đông năm 1952 giải phóng hoàn toàn một vùng rộng lớn, nối liền nước ta với nước bạn Lào. Còn ở hậu phương, chính sách giảm tô, cải cách ruộng đất vừa được Chính phủ ban hành như luồng gió mới làm nức lòng hàng triệu nông dân. Trong bối cảnh ấy, thơ chúc Tết Quý Tỵ 1953 của Bác Hồ cũng hào sảng, phấn chấn và giục giã lòng người hơn năm trước.

Ngay từ câu mở đầu, Bác Hồ như không nén được niềm vui, muốn nói to lên, nhấn mạnh thêm cho mọi người cùng reo mừng một năm cũ vừa qua, năm mới đã tới, nông dân được phát động đứng lên giành ruộng đất về tay mình, biến ước mơ ngàn đời “người cày có ruộng” thành hiện thực, nên cả hậu phương đều tưng bừng phấn khởi; còn tiền tuyến thì toàn quân đang thi đua giết giặc lập công. Như một điệp khúc náo nức niềm vui, liên tiếp năm câu ở đoạn mở đầu bài thơ được bắt đầu bằng từ “mừng”. Quả là năm Nhâm Thìn 1952 qua, năm Quý Tỵ 1953 tới với nhiều niềm vui mừng khôn xiết.

Sau niềm vui lớn là những nhiệm vụ cụ thể của năm mới tới. Khác thơ chúc Tết mừng Xuân của Bác Hồ hai năm Tân Mão 1951, Nhâm Thìn 1952, thường được mở đầu bằng việc điểm lại năm cũ: “Xuân này kháng chiến đã năm Xuân” (1951), hoặc “Kháng chiến vừa sáu năm/ Trường kỳ và gian khổ” (1952), “Thơ mừng Tết Quý Tỵ 1953” của Bác Hồ đi thẳng vào nhiệm vụ lớn của đồng bào, chiến sỹ cả nước. Đó là, ở hậu phương cuộc phát động nông dân đứng lên làm giảm tô, cải cách ruộng đất thắng lợi, tạo ra động lực cách mạng và niềm phấn khởi của hàng triệu nông dân: “Mừng phát động nông dân/ Mừng hậu phương phấn khởi”. Chính cuộc phát động giảm tô, cải cách ruộng đất cũng tiếp thêm sức mạnh cho con em nông dân đang cầm súng chiến đấu ngoài tiền tuyến: “Mừng tiền tuyến toàn quân/ Thi đua chiến thắng mới”. Thơ mừng Tết của Bác Hồ đã nêu bật mối quan hệ máu thịt giữa tiền tuyến-hậu phương trong cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh của dân tộc ta.

Để mối quan hệ ấy thực sự tạo sức mạnh vĩ đại, đưa kháng chiến đến thành công, Bác Hồ một lần nữa nhấn mạnh đến sự đoàn kết: “Mừng toàn dân đoàn kết”. Đoàn kết là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng của Bác Hồ. Mỗi độ Xuân về Tết đến theo truyền thống mọi người có dịp sum họp, thì lại càng cần nhắc nhau giữ gìn sự đoàn kết, cội nguồn sức mạnh. Có lẽ vì thế, thơ chúc Tết mừng xuân của Bác Hồ từ bài đầu tiên (năm 1942) đến năm Quý Tỵ 1953, hầu như bài nào cũng nói tới đoàn kết. Chúng ta nhớ lại, năm 1942 cách mạng còn trong trứng nước, tập hợp quần chúng là nhiệm vụ hàng đầu của Mặt trận Việt Minh, thơ “Mừng xuân 1942” của Bác Hồ đã viết: “Chúc đồng bào ta đoàn kết mau”, đến thơ “Chúc năm mới Đinh Hợi 1947”, Tết đầu tiên của cuộc trường kỳ kháng chiến chín năm chống Pháp thì trong thơ, Bác Hồ lại khẳng định: “Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng”. Sang năm 1948, thơ chúc Tết Mậu Tý của Bác Hồ lại một lần nữa thể hiện sức mạnh đoàn kết không gì lay chuyển được: “Toàn dân đại đoàn kết/ Cả nước dốc một lòng”. Đoàn kết được Bác Hồ nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong thơ chúc Tết mừng Xuân như những điều tốt lành cầu chúc cho nhau mỗi dịp Xuân về Tết đến. Đọc thơ chúc Tết mừng Xuân của Bác Hồ chúng ta càng thấy tấm lòng trời biển của Người chăm lo cho sự đoàn kết toàn dân tộc.

Sau bảy năm trường kỳ kháng chiến, mùa Xuân Quý Tỵ 1953 đến với quân dân ta quả là một mùa Xuân vui. Niềm vui ấy như thấy hiện nên ngay từng câu thơ trong bài “Mừng Tết Quý Tỵ 1953” của Bác Hồ. Bài thơ có 12 câu được viết theo lối tự do, khoáng đạt mà có tới 10 câu được bắt đầu bằng chữ “mừng”. Đúng là niềm vui không thể kìm nén, nên giọng thơ hào sảng, dạt dào cảm xúc.

“Thơ mừng Tết Quý Tỵ 1953” Bác Hồ viết 60 năm về trước, nhưng mùa Xuân Qúy Tỵ này đọc lại vẫn mới, vẫn hợp vô cùng với những lời chúc đầu năm. Chẳng hạn hai câu: “Mừng năm mới, nhiệm vụ mới /Lực lượng mới, thành công mới” thì ngày nay mọi người vẫn chúc nhau như vậy để đón năm mới với bao vui mừng và niềm tin vào tương lại phía trước.

HỒ CHÍ MINH

Thơ mừng Tết Quý Tỵ

Mừng năm Thìn vừa qua,

Mừng Xuân Tỵ đã tới.

Mừng phát động nông dân,

Mừng hậu phương phấn khởi.

Mừng tiền tuyến toàn quân,

Thi đua chiến thắng mới.

Mừng toàn dân đoàn kết,

Mừng kháng chiến thắng lợi.

Mừng năm mới, nhiệm vụ mới,

Lực lượng mới, thành công mới.

Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào,

Mừng phe dân chủ, hòa bình thế giới.

                                              Xuân Quý Tỵ 1953
Theo Báo Hải Dương online

Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Mùa Xuân này Bác về với Tây Nguyên

Gia Lai, những ngày đầu Xuân, trời trong veo. Và nắng, vàng tươi, rực rỡ. Và gió, sao bỗng dịu dàng, thơm mùi cơm mới. Vào bất cứ thời điểm nào trong ngày, nếu có dịp ngang qua Quảng trường Đại Đoàn Kết (TP. Pleiku), lòng tôi cũng lại ngân lên những câu thơ đắm lòng trong trường ca “Theo chân Bác” của nhà thơ Tố Hữu: “Ta hiểu. Miền Nam thương nhớ Bác/ Nóng lòng mong đợi Bác vào thăm/ Ta hiểu. Đêm nằm nghe gió gác/ Bác thường trăn trở, nhớ miền Nam!”. Vậy là, kể từ mùa Xuân Quý Tỵ này, Bác đã về với Tây Nguyên.

Từ nay, công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên sẽ là nơi để đồng bào các dân tộc Tây Nguyên thể hiện lòng tôn kính đối với Bác Hồ; là nơi để chúng ta dâng hoa, báo công với Người và tự sửa mình khi làm những điều chưa tốt, có hại đối với đất nước, đối với nhân dân. Đặc biệt, đây còn là nơi có ý nghĩa giáo dục truyền thống cách mạng đối với các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ”- Bí thư Tỉnh ủy Hà Sơn Nhin khẳng định.

2
Lễ khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên. Ảnh: Đức Thụy

Thỏa niềm mong ước

Một lòng sắt son theo Đảng, theo Bác Hồ suốt từ những năm tháng đói cơm lạt muối trong 2 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm cho đến công cuộc dựng xây và phát triển đất nước, lòng người Tây Nguyên lúc nào cũng khôn nguôi nhớ Bác. Bởi, người Tây Nguyên hiểu rằng, chính Bác Hồ là người yêu quý đồng bào, người luôn khẳng định, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên là anh em ruột thịt, không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Từ ngày Bác đi xa, đã có biết bao người con của núi rừng Tây Nguyên hành hương về nơi Bác ở, mà thưa với Bác rằng: Chúng con khắc ghi và làm theo lời Bác dặn, đoàn kết cùng nhau bảo vệ và xây dựng quê hương; để lại bày tỏ nguyện vọng thiết tha mong được đón Bác về ở mãi với đồng bào Tây Nguyên. Nay thì nguyện vọng ấy đã trở thành hiện thực, khi ngày ngày, đã có biết bao người dân đến với Quảng trường Đại Đoàn Kết lộng gió – đến để ngước nhìn lên tượng Bác, để chiêm ngắm khuôn mặt sáng ngời của cụ già rất phương Đông, quần áo ka-ki, dép cao su, giản dị gần gũi mọi người và đặc biệt là để thấy Bác Hồ cười trong niềm vui mãi mãi. Giữa đất trời Tây Nguyên, Người đứng đó, cao sang mà gần gũi, vĩ đại mà giản dị, như chính cuộc đời của một vị lãnh tụ suốt đời vì nước vì dân.

Còn nhớ, tại lễ khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm xúc động biết bao trái tim – những người dự lễ và xem trực tiếp trên sóng của Đài Truyền hình Việt Nam. Sau khi ôn lại tình cảm đau đáu của Bác Hồ với Tây Nguyên, tình cảm thủy chung, son sắt của đồng bào Tây Nguyên với Bác, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Được biết, hiện nay ở Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum, vẫn đang lưu giữ một tượng Bác bằng đồng, cao 12,5 cm, do đồng bào Jrai đúc thủ công từ những năm đầu của thập niên 60 thế kỷ trước, trong những năm Mỹ – Diệm lê máy chém khắp miền Nam, hòng tiêu diệt những người cách mạng, những chiến sĩ cộng sản.

Bức tượng đã được truyền tay từ người ngã xuống cho thế hệ sau với lời dặn: “Đây là tượng Bác Hồ, các đồng chí hãy giữ lấy làm cách mạng, dù có phải hy sinh cũng quyết giữ gìn”. Cảm động biết bao tình dân với Bác, tình người Tây Nguyên một lòng son sắt với Bác. Và chính đó cũng là một nguồn sức mạnh để đồng bào Tây Nguyên cùng cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và ngày nay đang tiến hành công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần làm cho Tây Nguyên chúng ta ngày càng phát triển, trở nên trù phú, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện…”.

Lời của Tổng Bí thư khiến tôi nhớ đến câu chuyện của ông Siu Yú ở làng Jít Jẻ, xã Ia Lang, huyện Đức Cơ một trong những người cùng các đảng viên và nhân dân trong xã cất giữ tượng Bác Hồ ngày ấy. Trong suốt câu chuyện với chúng tôi, chốc chốc ông Yú lại nghẹn lời, vì xúc động. “Chúng tôi đúc tượng là để tỏ lòng kính yêu với Bác, để ngày ngày anh em đồng chí đồng đội được gần Bác, kể cho Bác nghe câu chuyện chiến đấu đánh Mỹ của đồng bào Tây Nguyên – ông Yú xúc động nói – Ngày ấy, chính sự “có mặt” hàng ngày này của Bác đã giúp quân và dân Tây Nguyên kiên cường đánh Mỹ, là sự động viên khích lệ tinh thần to lớn để chúng tôi vượt qua mọi khó khăn gian khổ, góp sức cho thắng lợi chung”. Và hôm nay, Tượng đài Bác Hồ hiển hiện tại Quảng trường Đại Đoàn Kết, với Siu Ýu là cả niềm vui và tự hào, ông mừng rỡ thốt lên: “Mừng lắm, mừng lắm”, bởi với ông người từ khi còn trai trẻ, đã từng ấp ủ cất giấu tượng Bác nơi trái tim mình.

Muôn triệu tấm lòng hướng về Bác kính yêu

“Công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên mang ý nghĩa sâu sắc về chính trị, tư tưởng, lịch sử và văn hóa, là món quà của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam dành cho Tây Nguyên, thể hiện tấm lòng của Đảng, Bác Hồ đối với Tây Nguyên và tấm lòng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đối với Đảng và Bác Hồ kính yêu (…). Vinh dự, tự hào với công trình văn hóa đầy ý nghĩa này, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Gia Lai trân trọng coi đây là báu vật của tỉnh và xin hứa với Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam sẽ nâng niu, gìn giữ, phát huy hết giá trị, ý nghĩa của công trình…” – Lời phát biểu của Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Thế Dũng tại lễ khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên, ngày 9-12-2012.

Sâu lắng và thiết tha, kể từ khi phát lệnh khởi công xây dựng, đến khi hoàn thành Tượng đài Bác Hồ, không chỉ có cán bộ, đảng viên, quân và dân các dân tộc tỉnh Gia Lai, các nhà khoa học, các nghệ sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc và cán bộ, công nhân viên của các đơn vị thi công… dành nhiều tâm huyết, tình cảm chân thành đón đợi, mà các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng luôn dành nhiều tâm huyết, đặc biệt quan tâm công trình “Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên”.

Thật cảm động và trân trọng biết bao, ngày khởi công công trình tượng Bác, có Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đến dự phát lệnh khởi công, ngày khánh thành được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về chung vui. Nhớ lại, trong suốt thời gian gần 2 năm thi công công trình, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đến thăm, cùng với Hội đồng Nghệ thuật kiểm tra công trình thi công mẫu “Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên” tại Hà Nội. Cũng trong thời gian ấy, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng còn có các chuyến đi về với đảng bộ, quân và dân các dân tộc Gia Lai. Lần nào cũng vậy, ngoài công việc chung, các đồng chí cũng dành thời gian đến kiểm tra tiến độ thi công, góp ý từng chi tiết tại công trình xây dựng Tượng đài Bác ở Quảng trường Đại Đoàn Kết, TP. Pleiku.

…Bây giờ, mỗi khi thấy các thanh, thiếu nhi ngày ngày quây quần bên tượng Bác, thấy khách xa gần về thăm và chụp ảnh lưu niệm bên tượng Bác Hồ, thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum; bên thạch thư của Bác gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam họp tại Pleiku, ngày 19-4-1946. Hay bên tháp đá bazan với 54 cột đá tự nhiên, được hun đúc của tạo hóa hàng triệu triệu năm trên mảnh đất Tây Nguyên này, tượng trưng cho tinh thần đại đoàn kết của 54 dân tộc anh em… chính tại Quảng trường Đại Đoàn Kết, mà lòng ta thấy xốn xang, tự hào. Mới đây, nhà báo Bùi Đức Thịnh-Phó Tổng Biên tập Báo Đak Nông đã dẫn đoàn cán bộ, phóng viên đến TP. Pleiku, việc đầu tiên của Đoàn là đến thăm tượng Bác, anh xúc động: “Đứng bên tượng Bác, ta thấy Bác thật gần gũi, thấy lòng mình ấm áp lạ thường”, rồi anh khoe rằng mình có cả bộ sưu tập ảnh của mình bên tượng Bác, xem đây là kỷ vật về Bác Hồ của cuộc đời mình.

Theo Quốc Ninh/ Báo Gia Lai
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Đòn “điểm huyệt” vào Phan Thiết

QĐND – Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968, thị xã Phan Thiết (Bình Thuận) là một mục tiêu tiến công của quân và dân ta. Phan Thiết là khu đông dân cư, có khu Lao Xá là nơi giam giữ cán bộ, chiến sĩ và đồng bào là cơ sở cách mạng của ta. Khu Lao Xá nằm phía đông nam thị xã, tả ngạn sông Cà Ty, được địch bố trí một trung đội bảo an trang bị súng máy để bảo vệ chặt chẽ. Bên cạnh đó, thị xã Phan Thiết còn có những đơn vị chủ lực mạnh của địch.

Nhiệm vụ đánh vào Phan Thiết, giải phóng khu Lao Xá được giao cho Tiểu đoàn 840 và Đại đội 3 thuộc Tiểu đoàn 841, chủ lực tỉnh Bình Thuận. Phương án tác chiến vạch ra là sử dụng Tiểu đoàn 840 tiến công trên hướng chủ yếu đánh thẳng vào khu Lao Xá và Tòa hành chính tỉnh, tiêu diệt cơ quan chính trị của địch. Các hướng thứ yếu đánh kéo giãn địch, hỗ trợ cho hướng chủ yếu hoàn thành nhiệm vụ.

Chiều 17-2-1968, Tiểu đoàn 841 cơ động lực lượng tiếp cận mục tiêu. Sau khi vào vị trí xuất phát tiến công, ổn định đội hình, đúng 1 giờ ngày 18-2, các mũi tiến công hướng chủ yếu và thứ yếu đồng loạt nổ súng tiêu diệt các mục tiêu đã định. Địch được yểm trợ của hỏa lực, chống trả quyết liệt. Song do các đơn vị hiệp đồng chặt chẽ, đánh địch trên nhiều hướng, nên đã làm cho địch bị thiệt hại nặng. Ta đã giải phóng được khu Lao Xá, phá hủy 6 lô cốt, 12 ổ đề kháng, tiêu diệt nhiều địch, thu hàng trăm khẩu súng các loại.

Trận đánh chiếm Lao Xá và một số mục tiêu quan trọng ở Phan Thiết là trận đánh xuất sắc. Mặc dù chỉ làm chủ thị xã trong thời gian ngắn, song cuộc tiến công vào Phan Thiết có ảnh hưởng chính trị to lớn, cổ vũ tinh thần dũng cảm chiến đấu của quân và dân địa phương.

DƯƠNG HÀ
qdnd.vn

Tấn công Huế trong Tết Mậu thân 1968 diễn ra như thế nào

Trong đêm đầu xuân mưa bay, giá lạnh và sương mù, một đòan người áo đen, quần cộc, dép cao su, từ trong rừng đi ra, vượt qua sông, qua làng, không một tiếng động, lặng lẽ tiến vào thành phố Huế bằng tất cả các ngõ đường, các cửa ô.

Ảnh tư liệu TTXVN

Đó là những hình ảnh đã làm nên sự kiện lịch sử chiến thắng Xuân Mậu Thân 1968. 40 năm trôi qua nhưng chiến công oanh liệt ấy vẫn mãi mãi âm vang như một dấu son của lịch sử quân sự Việt Nam.

Cho đến nay, công việc đánh giá tổng kết về sự kiện Mậu Thân ở Huế vẫn chưa kết thúc. Vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong các lĩnh vực chuyên môn; về khoa học quân sự, chính trị. Nhưng dù thế nào đi nữa thì lịch sử vẫn ghi đậm những hy sinh của cả lực lượng vũ trang và nhân dân thành phố Huế – những người con thành cổ đã cống hiến hết sức mình vì độc lập tự do cho Tổ quốc.

Được giao nhiệm vụ chuẩn bị cho Mậu Thân, chúng tôi đã đưa 200 khẩu súng ngắn và chất nổ C4 vào bên trong thành phố. Nhà của nhiều người dân được dùng để chứa vũ khí, tất nhiên nếu chúng biết được thì gia đình họ chắc chắn phải chịu cảnh “tan nhà, nát cửa”.

Vũ khí được đưa vào bằng xe lam, bằng các gánh hàng trái cây; còn AK thì dấu dưới những chiếc thuyền hai đáy. Tiến vào Mậu Thân, những con thuyền chở vũ khí vào Huế từ nguồn sông Bồ qua ngã Ba Sình, từ Dương Xuân Hạ xuống, từ Phú Vang lên, hoặc từ chợ Tài Ba vào để kịp thời trang bị cho bên trong.

Khâu cuối cùng trong nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường của chúng tôi là chuẩn bị đường hành quân. Người ta có thể hình dung tính chất quan trọng và phức tạp trong cái công việc tưởng chừng như nhẹ nhàng này: Làm sao để đưa được bốn – năm ngàn con người vận động trên một địa hình hẹp và trong đêm tối như mực, vượt qua làng mạc nằm trong vành đai phòng thủ của địch, để tới tận mục tiên chiến đấu.

Việc tổ chức đường hành quân và cả người dẫn đường từ trong rừng ra vùng ráp ranh, từ ráp ranh về đồng bằng, rồi băng qua đồng bằng để tới mục tiêu, tất cả đều phải chia ra nhiều đọan đường. Mỗi đoạn đều có một người dẫn đường riêng, không thể giao cho một người từ đầu đến cuối, vì lỡ trước đó họ bị bắt thì cũng chỉ biết rằng đã dẫn một đoàn cán bộ đi công tác từ làng này qua làng khác.

Mỗi hướng chính lại rẽ ra nhiều mũi, mỗi mũi phải chuẩn bị hai con đường để phòng khi địch chốt đường này thì còn có đường khác. Phải nghiên cứu trước từng đoạn đường hành quân bằng cách đi thử: Chó sủa, lội sông và cố tránh lội ruộng để khỏi hư lúa mới cấy.

Kinh nghiệm cho biết mỗi khi chó sủa rộ lên vùng nào thì địch đều bắn pháo sáng lên và cho máy bay quan sát tới đó. Do đó, việc chuẩn bị đối phó với chó phải hết sức đảm bảo: Suốt bảy đêm đó phải chọc cho chó sủa liên miên suốt từ 11 giờ đêm đến 4 gìơ sáng để địch quen lệ, nhưng đúng đến đêm hành quân thì lại phải thuốc chó để chúng ngủ im.

Tưởng như chỉ là người liên lạc thường thôi, những người dẫn đường trong Mậu Thân 1968 cực kỳ quan trọng. Do đó, chính các Bí thư huyện ủy phải đích thân dẫn đường, các mũi phụ thì do Bí thư bố trí và phải chịu trách nhiệm trước tổ chức.

Một yếu tố có tính chất sống còn để đảm bảo thắng lợi cho chiến dịch Mậu Thân, là một kế hoạch bảo mật hoàn chỉnh đến tuyệt đối, từ đầu cho đến tận giờ nổ súng. Kỷ luật bảo mật chặt chẽ ngay từ trong phòng họp: Cán bộ lãnh đạo ghi chép phát biểu ý kiến xong đều phải để lại sổ sách, không được mang theo một mảnh giấy, tất cả chỉ được ghi nhớ bằng bộ óc mà thôi.

Công việc cận chuyển lương thực cho chiến dịch từ đồng bằng lên rừng đã bắt đầu từ trước Tết hàng tháng, nhưng ta đã đánh lừa được địch bằng một mệnh lệnh nghi trang là “Tích cực chuẩn bị cho bộ đội ăn Tết mừng chiến thắng”.

Các đơn vị tập dượt đánh các mục tiêu ở Huế đều không chọn người địa phương ra, chỉ lấy người ở quê xa tới để họ không biết mục tiêu gì, ở đâu. Mọi người đều phải tập dượt rất công phu, học tập kỹ lưỡng, và tuyệt nhiên không ai có thể biết được rằng sắp “đánh Huế”.

Trong suốt thời gian ta chuẩn bị chiến dịch, chỉ có pháo và máy bay C130 của địch thả bom lải rải tại các bến đò. Rõ ràng là chúng không được thông báo gì. Sau đó, địch có đưa tin trên đài Huế rằng “một cuộc hành quân tảo thanh đã bóp chết âm mưa của V.C trong dịp Tết từ trong trứng nước, đồng bào yên tâm ăn Tết”. Còn mã thám ta theo dõi tất cả các nguồn thông tin khác của địch đều không thấy một dấu hiệu báo động nào cả.

Thế là, trong một thời gian dài, chiến dịch đã đưa về cả ngàn vạn con người, cách trung tâm chỉ huy cách Huế 5 km, mà địch không hề biết một chút tăm hơi gì cả. Kế hoạch bảo mật hoàn chỉnh đến độ không một mảnh giấy hay một con người để lọt vào tay địch và không một bộ phận nào bị rơi vào trạng thái kế hoạch có thể bị lộ. Đi lại nườm nượp ở trên rừng và trên đường hành quân, thế mà cho đến phút chót không một toán quân nào bị đánh vào giữa đội hình, không ai thương vong, không ai bị bắt.

Lịch chung cho toàn quân về Huế là ngày 30 ăn Tết (đúng kỷ niệm lần thứ 180 ngày Tết Quang Trung đi giải phóng Thăng Long, Mậu Thân 1876), đóng gói hành trang, sáng mùng 1 Tết thì ngủ. Nhưng tất cả đều đoán biết việc đêm đó nên người ta không ngủ mà lại hát.

Vào buổi chiều, được thông báo chính thức việc chiếm Huế, mọi người từ cán bộ đến bộ đội, du kích… đều vỗ tay reo hò, vui mừng chưa bao giờ thấy. Đêm đó im lặng hơn tất cả mọi đêm trong chiến tranh, im lặng đến mức không còn nghe thấy cái gì cả.

Lúc 1 giờ sáng thì trung đoàn 6 báo đầu tiên đã chiếm lĩnh trận địa; tiếp theo, cánh nam báo chiếm lĩnh hai mục tiêu ưu tiên; mỗi điện báo đều mật và chỉ 3 chữ. 6 giờ sáng, điện báo chiến thắng về từ khắp mọi nơi, coi như đã chiếm hết thành phố Huế, các huyện ngoại thành cũng chiếm được các xã địa bàn đã quy định. Như vậy, chỉ trong 3 tiếng đồng hồ, thành phố Huế đã bị ta đánh chiếm. Đến 11 giờ sáng mùng 2, lá cờ Mặt trận treo trên đỉnh Kỳ Đài Huế; tất cả bộ đội đều nhảy nhót, vỗ tay hoan hô…

Mậu Thân trong chiến đấu, bộ đội cả chủ lực và địa phương hy sinh lẫn bị thương khỏang 3.000 người. Trong Thành ủy có 2 đồng chí hy sinh. Nhưng ta đã diệt hơn một vạn tên địch trên mặt trận Huế. Toàn bộ căn cứ địch tại thành phố đều bị ta đánh nát; tất cả 36 cơ quan cấp tỉnh và trung phần của chúng đều bị ta chiếm hết, bọn đầu não đều ra hàng.

Thành quả vẻ vang này trước hết biểu hiện phẩm cách anh hùng của cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân. Suốt 26 ngày chiếm giữ thành phố, chiến sĩ ta đương đầu với khó khăn ác liệt chưa từng thấy; thế mà không một đơn vị nào từ Trung đội, Đại đội trở lên bị xóa mất phiên hiệu, không một người nào ra đầu hàng hoặc đào ngũ; sống chung với dân như thế, vẫn giữ vững kỷ luật tác phong, khi xa rồi dân vẫn còn thương nhớ, người nằm xuống đó dân vẫn tiếp tục hương khói phụng thờ.

Phải nói rằng sau khi ta rút lên rừng, nếu có cái gì còn sống lâu trong tâm trí nhân dân thành phố Huế, trước hết đó là hình ảnh tỏa sáng của “người lính cụ Hồ”.

Theo Lê Minh
TTXVN

tienphong.vn

“Giải mã“ chiến thắng Mậu Thân 1968 qua phim

Nhân kỷ niệm 45 năm Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Đài Truyền hình Việt Nam bắt đầu phát sóng bộ phim tài liệu dài 12 tập “Mậu Thân 1968” từ 20h5, ngày 25/1 trên kênh VTV1. Phim do Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Đài THVN) phối hợp với Hãng phim Truyền hình Bản sắc Việt sản xuất.

12 tập phim (thời lượng 30 phút/1 tập), thông qua những số liệu và dữ kiện lịch sử, cùng với lời kể của các nhân chứng và sự phân tích của các học giả, sẽ lần lượt tái hiện lại sự kiện này dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Bộ phim bắt đầu từ việc đi tìm câu trả lời tại sao Mỹ – một cường quốc với tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học kĩ thuật gấp 800 lần Việt Nam lại can dự vào công việc nội bộ của một quốc gia nhỏ bé và lạc hậu ở cách xa nửa vòng trái đất, để rồi tạo nên một trong những cuộc chiến tranh lớn nhất, khốc liệt nhất trong thế kỷ XX.

Tiếp đến, là hành trình lật lại hồ sơ tư liệu về một kế hoạch tuyệt mật đã không được thực hiện từ thời chiến lược chiến tranh đặc biệt. Nó chính là nguồn gốc để hình thành và phát triển nên kế hoạch Tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Đồng thời, lý giải tại sao thời cơ chiến lược lại rơi đúng vào dịp tết Mậu Thân 1968. Và tại sao từ 3 khả năng mà Bộ Chính trị đã xác định lại chuyển dần thành mục tiêu duy nhất – thực hiện trận quyết chiến chiến lược, giành chính quyền về tay nhân dân.

Bên cạnh đó, những so sánh về tương quan lực lượng giữa các bên tham chiến, sự chuẩn bị khẩn trương của tất cả các lực lượng quân giải phóng trước cuộc động binh lịch sử, khí thế của cả một thế hệ ra trận trong lời thề quyết tử cho tổ quốc quyết sinh trước cơ hội ngàn năm có một cũng được tái hiện chân thực và sinh động.

Bộ phim cũng đi vào phân tích bối cảnh, tình hình và tại sao lại có đợt 2, đợt 3 của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy trong mùa hè và mùa thu năm 1968, tiếp nối tinh thần “tiến công và tiến công liên tục” theo chỉ đạo của Bộ Chính trị. Những khó khăn và nỗ lực phi thường của quân và dân ta trong các đợt tấn công sau tết, khi yếu tố bất ngờ không còn và phía Mỹ – Việt Nam cộng hòa đã có sự phòng bị chặt chẽ.

Tiếp đến là việc lý giải có hay không sự nổi dậy của quần chúng nhân dân trong sự kiện Mậu Thân 1968, và tại sao dân tộc Việt Nam lại chấp nhận hy sinh, đặc biệt là trong sự kiện Mậu Thân, để giành lấy độc lập tự do cho Tổ quốc. Đan xen là những câu chuyện kể, những huyền thoại về lòng yêu nước của người Việt Nam.

Cùng với đó, hình ảnh về một nước Mỹ hỗn loạn, bị chia rẽ và phân hóa sâu sắc từ sau sự kiện Mậu Thân 1968 cũng được tái hiện dưới góc nhìn của chính những người Mỹ đã từng sống trong bầu không khí lịch sử đó. Để công chúng Việt Nam cảm nhận rõ ràng hơn về quy mô và tầm vóc của sự kiện Mậu Thân 1968 cũng như ý nghĩa thật sự của nó trong việc thúc đẩy hòa bình, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam vào giai đoạn sau đó.

Sau khi nghiên cứu sự kiện và phác họa ý tưởng thực hiện, để hoàn thành bộ phim tài liệu lịch sử với chủ đề “Mậu Thân 1968”, đạo diễn Lê Phong Lan và êkip đã mất gần 10 năm để thu thập tư liệu, phỏng vấn các nhân chứng, những học giả uy tín trong và ngoài nước.

Đạo diễn và êkip thực hiện cũng rất kỳ công trong việc chuyển tải thông tin về sự kiện có ý nghĩa hết sức đặc biệt trong lịch sử dân tộc này. Tìm một cách kể dễ theo dõi và mạch lạc là điều êkip thực hiện bộ phim tài liệu này luôn trăn trở. Với việc phát sóng bộ phim này, Đài Truyền hình Việt Nam hy vọng mang đến cho khán giả một cái nhìn toàn diện nhất về sự kiện lịch sử vĩ đại và đáng tự hào của dân tộc Việt Nam.

Bảo Châu
anninhthudo.vn

Phim tài liệu “Mậu thân năm 1968”: Mười năm đi tìm sự thật

GiadinhNet – Dành giờ vàng cho bộ phim tài liệu “Mậu thân năm 1968”, VTV muốn khán giả được tiếp cận với cái nhìn lịch sử toàn diện nhất của cuộc chiến này.

Phim tài liệu “Mậu thân năm 1968”: Mười năm đi tìm sự thật 1Đạo diễn Phong Lan phỏng vấn nhà báo, nhà nghiên cứu lịch sử Staley Kanow tại nhà riêng ở  Washington DC (Mỹ) tháng 6/2009. Ảnh: TL.

Định mệnh với phim lịch sử

Trong giới làm phim tài liệu về chiến tranh, nữ đạo diễn Lê Phong Lan từ lâu đã quá quen thuộc với số lượng và hành trình làm phim đáng nể. Từ vị tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn, Đặng Trần Đức, Hiệp định Paris 1973 và bây giờ là 12 tập phim “Mậu Thân năm 1968”, gần như đạo diễn Lê Phong Lan đã dành trọn thời gian để theo đuổi đề tài lịch sử. Bởi bà quan niệm “lịch sử chính là tương lai của con người”.

Từ mối nhân duyên trong cuộc gặp gỡ với nhà tình báo kỳ cựu Phạm Xuân Ẩn 10 năm trước, sự gợi ý của ông “cháu hãy làm về Mậu Thân 1968, không hiểu sao nó lại gây tranh cãi” đã thôi thúc chị khát vọng đi tìm và giải mã những điều mà lịch sử còn chưa đề cập đến.

Chưa biết bộ phim sẽ được giới chuyên môn và khán giả đánh giá ra sao, nhưng nhìn vào hành trình thực hiện, những con số cũng nói lên nhiều điều về sự tâm huyết và lao động hết mình của nữ đạo diễn. “Tôi đã mất gần 10 năm cho quá trình thu thập chứng cứ, gặp gỡ các nhân chứng của Việt Nam và các cựu binh Mỹ, phỏng vấn các sử gia, học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Để có cái nhìn toàn diện và sòng phẳng, tôi đã 4 lần trở lại Mỹ để đối chứng lại thông tin”, đạo diễn Lê Phong Lan tâm sự.

Đánh giá về bộ phim, ông Nguyễn Hà Nam, Trưởng ban Thư ký biên tập, Đài Truyền hình Việt Nam khẳng định: “Đây là bộ phim tài liệu thực sự lôi cuốn và hấp dẫn không thua kém gì các phim tài liệu của nước ngoài. Bên cạnh sự dày công tìm hiểu, phim còn được đầu tư kinh phí lớn nhất so với các bộ phim tài liệu từ trước đến nay”.

Những bí ẩn lần đầu được tiết lộ

Bộ phim là câu chuyện xuyên suốt từ khi hình thành kế hoạch tổng tiến công Mậu Thân 1968 cho đến khi kết thúc chiến dịch. Với độ lùi 45 năm, nhiều tình tiết và câu chuyện liên quan đến sự kiện này đã dần được giải mã. Nói về sự kiện còn gây nhiều tranh cãi này, đạo diễn Lê Phong Lan khẳng định: Xung quanh sự kiện này có những thông tin sai lệch từ các bài viết, nhận định về vụ thảm sát ở Huế. Trong quá trình gặp gỡ nhân chứng từ hai phía, chúng tôi nhận thấy, đó thực chất là vụ dàn dựng tâm lý chiến của Việt Nam Cộng hòa. Thế nhưng trong 45 năm qua, chúng ta không nói lại, không giải thích. Điều đó không công bằng. Các đài nước ngoài đã và đang làm phim về Mậu Thân 1968, còn Việt Nam thì chưa làm”.

Đạo diễn Lê Phong Lan cũng khẳng định rằng, bà không để bất cứ một tư tưởng nào chi phối cái nhìn của mình. Tất cả đều được nhìn nhận một cách sòng phẳng với mục đích duy nhất là sự thật. Chính vì vậy mà bà mới có thể đặt vấn đề phỏng vấn các cựu binh ở chiến tuyến bên kia.

Mười hai tập phim, mỗi tập sẽ là một câu chuyện. Có thể mọi người đã biết và cũng có những thông tin hoàn toàn mới. Mỗi tập chuyển tải ý kiến của các sử gia, nhà nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau về được-mất trong “Mậu Thân năm 1968” và những lý giải tại sao sự kiện này lại gây nhiều tranh cãi trong suốt thời gian dài như thế. Với nhiều lớp lang trong câu chuyện, bộ phim còn mất nhiều công sức trong việc lựa chọn một cách kể dễ theo dõi và mạch lạc, để không chỉ những người đi qua cuộc chiến, hiểu về cuộc chiến mà còn cho thế hệ trẻ bị cuốn hút và yêu thích.

“Mậu Thân năm 1968” sẽ chính thức lên sóng VTV vào lúc 20h từ ngày 25/1/2013.

Thanh Hà
giadinh.net.vn

Tái hiện Mậu Thân 1968

 – Sang Mỹ 4 lần, mất gần 8 năm chỉ để phỏng vấn, tập hợp, đối chiếu tư liệu, phỏng vấn 200 nhân chứng, tất cả để phục vụ cho 12 tập phim tài liệu “Mậu Thân 1968”.

Đạo diễn Phong Lan chia sẻ rằng chính tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn đã cho chị một tiềm ẩn về Tết Mậu thân 1968 khi chị thực hiện một bộ phim về ông. “Ông Ẩn bảo tôi cháu phải làm phim về Mậu Thân 1968 vì đó là sự hy sinh vô cùng lớn lao để giành thắng lợi năm 1975, không hiểu tại sao có người nói đó là vấn đề nhạy cảm của lịch sử nhưng thực ra không có một chút gì nhạy cảm hết” – đạo diễn Phong Lan nói.

Nữ đạo diễn tâm sự qua tìm hiểu thấy trên mạng có quá nhiều thông tin sai lệch về sự kiện lịch sử này dẫn tới việc có nhiều bạn trẻ hiểu sai vì vậy đó là động lực để chị quyết tâm để làm phim. Trong suốt 10 năm, chị sang Mỹ 4 lần gặp và phỏng vấn khoảng 200 nhân chứng cả phía ta, phía Mỹ sau đó gạn lọc, gạn lọc dần để đi tìm sự thật. Để hoàn thành bộ phim, chị mất gần 8 năm chỉ để phỏng vấn, tập hợp, đối chiếu tư liệu.

Đạo diễn Phong Lan đang phỏng vấn 1 nhân chứng.

Trả lời câu hỏi: “Liệu bộ phim có đưa ra sự lý giải các sự kiện một cách sòng phẳng, công bằng, bởi dù sao VN cũng là người trong cuộc?” – đạo diễn thẳng thắn: “Khi làm phim này, Tôi đặt tinh thần độc lập thống nhất và hòa hợp dân tộc của tôi lên hàng đầu. Và lẽ đương nhiên tôi buộc phải công bằng vì đó là nghề nghiệp, là thanh danh của tôi”.

Người phụ nữ yêu lịch sử cho biết những khó khăn trong việc khai thác tư liệu hình ảnh và tốn kém để làm nên “Mậu Thân 1968” khó ai có thể bù đắp nổi cho chị. Ví dụ như trận Lam Sơn không có một phóng viên nào phía ta vào quay phim hay chụp ảnh vì vậy khi làm bộ phim này chị đã phải huy động hết mọi nguồn để tránh cảnh phải làm phim từ hai bàn tay trắng.

Một cảnh trong bộ phim tài liệu “Mậu Thân 1968”, bắt đầu lên sóng VTV1 vào 20h ngày 25/1.

“Tôi không dám chắc rằng phim Mậu Thân 1968 có thể nói hết được những gì đã diễn ra trong quá khứ nhưng có một điều tôi muốn chia sẻ rằng các tập phim nói được một số vấn đề cơ bản. Thực tế nếu có ai đó trả cho tôi 1 hoặc 2 tỷ/tập phim, tôi sẽ phải làm tới 50 tập để nói ra hết những gì mình đã có trong tay, muốn nói” – nữ đạo diễn thẳng thắn.

Sơn Hà
vietnamnet.vn

Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân và vấn đề đặt ra đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

Vào cuối năm 1967, trên cơ sở đánh giá tương quan lực lượng địch – ta và nhận thấy thế “tiến thoái lưỡng nan” về chiến lược của Mỹ khi năm vận động tranh cử Tổng thống Mỹ đang đến gần, Bộ Chính trị quyết định phải tạo một bước nhảy vọt thông qua chọn hướng chiến lược hiểm, dùng cách đánh mới, giáng một đòn bất ngờ, thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh. Thực hiện chủ trương của Đảng, đúng đêm giao thừa Tết Mậu Thân (đêm 30 rạng ngày 31-01-1968), quân và dân ta đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt vào 4/6 thành phố, 37/44 thị xã, hàng trăm thị trấn và các căn cứ quân sự, hậu cần, sở chỉ huy lớn của địch trên toàn miền Nam. Đây là cuộc ra quân với quy mô lớn, đồng loạt, toàn diện và có khí thế cách mạng cao nhất kể từ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến lúc bấy giờ và cũng là lần đầu tiên ta tiến công táo bạo, bất ngờ vào sào huyệt của kẻ thù. Tuy còn một số mặt phải nghiên cứu, nhưng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đánh dấu bước phát triển mới trong học thuyết và nghệ thuật quân sự (NTQS) Việt Nam. Bằng cuộc Tổng tiến công chiến lược này, ta đã giáng một đòn quyết định làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, lung lay ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, buộc chúng phải “phi Mỹ hóa” chiến tranh, chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, chấp nhận đàm phán trực tiếp với ta tại Hội nghị Pa-ri, tạo bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Bác Hồ và Bộ Chính trị họp bàn chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu

45 năm đã trôi qua, nhưng không khí hào hùng của cuộc Tổng tiến công chiến lược Tết Mậu Thân còn vang vọng mãi, với niềm tự hào sâu sắc trong tâm khảm của mỗi chúng ta. Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đang đẩy mạnh thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Bên cạnh thời cơ, thuận lợi là cơ bản, chúng ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” với những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc. Vì thế, hơn bao giờ hết, chúng ta phải đề cao cảnh giác, kết hợp chặt chẽ xây dựng với bảo vệ, bảo vệ với xây dựng, thực hiện BVTQ bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân nói riêng, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung suy nghĩ về một số vấn đề đặt ra đối với sự nghiệp BVTQ hiện nay.

Một là, đánh giá đúng tình hình, quán triệt, nắm vững và thực hiện nghiêm túc quan điểm, đường lối của Đảng để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, một trong những nhân tố dẫn đến thắng lợi là, Đảng ta đã chủ động nghiên cứu, đánh giá đúng tình hình, nhất là đánh giá đúng chỗ mạnh, chỗ yếu của địch và khả năng thực tế của ta… trên cơ sở đó, hoạch định chủ trương, phương pháp và tổ chức chỉ đạo chiến lược, chiến dịch một cách đúng đắn, sáng tạo. Trong đó, nét nổi bật là, quán triệt tư tưởng tiến công, lựa chọn hướng tiến công (địa bàn đô thị – sào huyệt và cũng là chỗ mạnh nhưng sơ hở của địch), mục tiêu và thời điểm tiến công hết sức táo bạo, bất ngờ làm cho chúng bị động, lúng túng trong đối phó. Đặc biệt, cùng lúc ta đồng loạt tiến công trên phạm vi rộng, trọng tâm là các trung tâm đầu não của địch cũng làm chúng hoảng loạn cả về tinh thần và không kịp trở tay (nhất là trong giai đoạn đầu) để phản ứng lại cuộc Tổng tiến công và nổi dậy bằng sức mạnh tổng hợp của quân và dân ta.

Ngày nay, trong sự nghiệp BVTQ, những kinh nghiệm đó vẫn còn nguyên giá trị. Theo đó, chúng ta cần nghiên cứu kỹ, khách quan, toàn diện tình hình thực tế để vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp và có tính khả thi cao. Thực hiện nhiệm vụ BVTQ trong bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều biến động phức tạp, khó lường và trong quan hệ quốc tế có những đặc điểm mới, đan xen giữa hợp tác và đấu tranh, đối tượng với đối tác… nên có cả thuận lợi và khó khăn, với yêu cầu ngày càng cao. Cũng vì thế, việc nghiên cứu, đánh giá đúng tình hình quốc tế và trong nước, nhất là những vấn đề liên quan đến quốc phòng – an ninh (QP-AN); dự báo được xu hướng phát triển và tác động (cả tích cực và tiêu cực) của nó đối với sự nghiệp BVTQ có ý nghĩa hết sức quan trọng. Để thực hiện tốt vấn đề này, cần có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, nhất là Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao… Trên cơ sở đó, tham mưu cho Đảng, Nhà nước về đường lối, chiến lược BVTQ và đối sách xử lý có hiệu quả các tình huống về quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đồng thời, các ngành, các lực lượng phải nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng về BVTQ để cụ thể hóa thành các chiến lược chuyên ngành và các kế hoạch mang tính chiến lược, làm cơ sở để triển khai thực hiện. Trong đó, Kế hoạch phân vùng chiến lược về quốc phòng gắn với phân vùng chiến lược về kinh tế – xã hội; Kế hoạch xây dựng thế trận quân sự khu vực phòng thủ của các địa phương trong thời bình gắn với bổ sung, điều chỉnh phương án phòng thủ chiến lược; Kế hoạch xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân… cần sớm được hoàn thiện và triển khai trong thực tiễn nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, các lực lượng và toàn dân đối với nhiệm vụ BVTQ. Trong quá trình thực hiện, phải giữ vững nguyên tắc: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với LLVT và sự nghiệp quốc phòng.

Hai là, tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân (QPTD), thế trận QPTD gắn với thế trận an ninh nhân dân, đáp ứng yêu cầu BVTQ. Nét nổi bật nhất của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, cũng là bất ngờ lớn nhất đối với kẻ thù, là lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân ta đã bất ngờ tiến công đồng loạt trên cả ba vùng chiến lược, lấy các đô thị làm chiến trường chính, đánh vào sào huyệt, “tim óc” của kẻ thù bằng lực lượng tổng hợp. Trong đó, việc kết hợp chặt chẽ giữa tiến công của bộ đội chủ lực với nổi dậy của quần chúng mà nòng cốt là LLVT địa phương (bộ đội địa phương và dân quân, du kích) trong thế trận được chuẩn bị sẵn đã phát huy cao độ được sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân trong cuộc Tổng tiến công chiến lược. Nhờ đó, quân và dân ta đã thực hiện đánh địch vừa rộng khắp, vừa tập trung, hãm chúng vào thế bị động, lúng túng chống đỡ. Chính nhờ dựa vào nhân dân, vào thế trận chiến tranh nhân dân, nhất là các tổ chức đảng và cơ sở cách mạng địa phương, nhiều đơn vị chủ lực ta đã bí mật đứng vững ngay tại cửa ngõ các đô thị lớn, đánh những trận gây choáng váng giới cầm quyền Mỹ, tạo tiếng vang trên thế giới, như: trận đánh vào tòa Đại sứ Mỹ, dinh Tổng thống và Bộ Tổng Tham mưu ngụy ở Sài Gòn… Thực tiễn đó, một lần nữa khẳng định, sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân là một trong những nét đặc sắc trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân cũng là vấn đề có tính xuyên suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta. Vì vậy, vấn đề quan trọng nhất hiện nay là chúng ta phải chú trọng xây dựng nền QPTD vững mạnh, xây dựng thế trận QPTD gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc trên từng khu vực và địa bàn cả nước, nhất là trên các địa bàn chiến lược.

Xây dựng nền QPTD là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành, các lực lượng và toàn dân; trong đó LLVT nhân dân là nòng cốt, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước. Để đạt được mục tiêu xây dựng nền QPTD vững mạnh, thời gian tới, cần tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 12-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa X) và Nghị định số 116/2007/NĐ-CP của Chính phủ về giáo dục QP-AN. Trong đó, chú trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp với các đối tượng, sát đặc điểm tình hình địa bàn, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục QP-AN lên một bước mới. Trong quá trình xây dựng, cần thấu suốt quan điểm của Đảng về hai nhiệm vụ chiến lược, đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường QP-AN; thực hiện tốt việc bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo; phòng, chống tham nhũng…, nhằm tăng cường “thế trận lòng dân”, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Bên cạnh đó, phải đẩy mạnh xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) về chiều sâu, vững chắc theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW (khóa X) của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 07-CT/TW (khóa XI) của Ban Bí thư và Nghị định 152/NĐ-CP của Chính phủ. Trong quá trình thực hiện, phải phát huy có hiệu quả vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền; năng lực làm tham mưu và tổ chức thực hiện của các ban, ngành, đoàn thể, mà trước hết là của cơ quan quân sự địa phương để tăng cường tiềm lực về mọi mặt cho khu vực phòng thủ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả vận hành cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, phối hợp của các cấp, các ngành, các lực lượng; đồng thời, phát huy vai trò, trách nhiệm của các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương.

Thế trận QP-AN được xây dựng vững chắc sẽ tạo điều kiện cho các lực lượng phối hợp hoạt động xử lý tốt các tình huống, bảo vệ vững chắc địa bàn, làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Yêu cầu đặt ra là, thế trận đó phải đáp ứng tốt nhiệm vụ QP-AN trong thời bình; đồng thời, sẵn sàng chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân khi đất nước bị xâm lược.

Ba là, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của LLVT nhân dân, nhất là Quân đội nhân dân. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân là kết quả của việc xây dựng LLVT nhân dân vững mạnh; thực hiện phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân đúng đắn, sáng tạo. Đó là: kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh chính quy của các đơn vị chủ lực với chiến tranh nhân dân địa phương của LLVT địa phương và nó được biểu hiện cụ thể ở sự kết hợp giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công trong suốt cuộc Tổng tiến công chiến lược, đặc biệt là ở giai đoạn đầu.

Vì thế, trong sự nghiệp BVTQ hiện nay, chúng ta phải tăng cường xây dựng LLVT ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ) vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; có chất lượng tổng hợp ngày càng cao, đủ sức làm nòng cốt cho toàn dân trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ.

Để đạt được mục tiêu trên, cần tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân theo hướng: “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Trước hết, coi trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu. Muốn vậy, các đơn vị phải tiếp tục đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng làm cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, nhiệm vụ của Quân đội; có bản lĩnh chính trị vững vàng để phòng, chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa và “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch; đồng thời, có ý chí, quyết tâm cao để vượt qua khó khăn, thử thách, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; gắn xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp. Trong tình hình hiện nay, để đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội từng bước hiện đại, trong đó có một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, toàn quân phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả các mặt công tác, nhất là công tác giáo dục – đào tạo, huấn luyện, tác chiến điện tử, công nghệ thông tin, hậu cần – kỹ thuật…, bảo đảm cho Quân đội kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và trình độ chiến thuật, kỹ thuật, khả năng tác chiến ngày càng cao, trên cơ sở tinh thông nghiệp vụ, khai thác và làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có và mới được trang bị. Cùng với đó, chú trọng xây dựng, phát triển nền khoa học, NTQS Việt Nam trong điều kiện mới, bảo đảm vừa kế thừa, phát huy truyền thống quân sự của dân tộc, vừa tiếp cận, tiếp thu nền khoa học, NTQS tiên tiến, hiện đại trên thế giới; trong đó, coi trọng nghiên cứu khoa học, NTQS chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao của địch.

Cùng với đó, phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng lực lượng dân quân, tự vệ theo phương châm: “vững mạnh, rộng khắp”, được tổ chức chặt chẽ, có cơ cấu, thành phần hợp lý, chất lượng ngày càng cao, nhất là chất lượng và độ tin cậy về chính trị, bảo đảm phát huy vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và tham gia giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, cơ sở, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ BVTQ trong tình hình mới.

Thượng tướng NGUYỄN THÀNH CUNG
Ủy viên BCHTƯ Đảng, Ủy viên Thường vụ QUTƯ,
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

tapchiqptd.vn

Sự kiện Tết Mậu Thân 1968 theo đánh giá của người Mỹ và người nước ngoài

Cách đây vừa tròn 45 năm, vào Tết Mậu Thân năm 1968, quân và dân ta đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt vào 4/6 thành phố, 37/46 thị xã và hàng trăm thị trấn trên toàn miền Nam. Trong lịch sử chiến tranh thế giới cũng như lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, chưa bao giờ có cuộc tiến công đồng loạt, đều khắp và rộng lớn như Mậu Thân 1968.

Sài Gòn hỗn loạn trong dịp Tết Mậu Thân 1968.Sài Gòn hỗn loạn trong dịp Tết Mậu Thân 1968.

Mậu Thân 1968 với hiệu lực chiến đấu “cộng hưởng” lớn lao chưa từng có đã làm rung chuyển cả Nhà Trắng và Lầu Năm góc. Cũng chính vì vậy, nó gây chấn động dữ dội trong dư luận không chỉ ở nước Mỹ mà trên toàn thế giới. Sự chấn động ấy được thể hiện qua một số sách báo xuất bản lúc đó và cả sau này.

Nhà sử học Mỹ Gabriel Kolko trong tác phẩm Giải phẫu một cuộc chiến tranh xuất bản tại New York năm 1985, đánh giá: “Cuộc tiến công Tết là sự kiện quan trọng nhất và phức tạp nhất của chiến tranh Việt Nam”. Theo ông, với Mậu Thân 1968, “Việt Nam đã trở thành cuộc chiến tranh nước ngoài đầu tiên của Mỹ kể từ năm 1882 đã gây ra cuộc khủng hoảng xã hội, nội bộ sâu sắc và một sự phân hóa về chính trị”.

Còn tướng Maxwell D. Taylor – cựu đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, sau khi từ chức (tháng 6-1965) về làm cố vấn đặc biệt của Tổng thống Johnson, trong hồi ký Thanh gươm và lưỡi cày  xuất bản tại New York năm 1972 đã thừa nhận: “Ngày 31-1-1968, quân địch (tức quân giải phóng) tiến công và chỉ trong vòng 2 ngày họ đã tiến vào 5 đô thị lớn, 39 tỉnh lỵ và nhiều thành phố. Những trận tiến công của họ đã được báo chí Mỹ tường thuật dưới dạng những hàng tít lớn được chiếu trên các màn ảnh vô tuyến truyền hình và đã làm cho phần lớn dân chúng Mỹ và một số quan chức kinh hoàng. Phải rất lâu họ mới hoàn hồn và trong một số trường hợp, sự hoàn hồn đó mãi mãi không bao giờ được khôi phục lại hoàn toàn”.

Taylor còn nói: “Những điều bất ngờ thực sự mà cuộc tiến công Tết 1968 đã gây cho tôi không phải là việc đối phương đã mở được một cuộc tiến công lớn mà chính là việc họ đã mở cùng một lúc nhiều trận tiến công mãnh liệt đến như thế”.

Westmoreland – nguyên Tư lệnh Bộ chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam viết trong Một quân nhân tường trình xuất bản ở New York năm 1976: “Việt Cộng đã đưa chiến tranh đến các thành phố, các đô thị, đã gây thương vong thiệt hại và nền kinh tế bị phá hoại… các trung tâm huấn luyện bị đóng cửa… Nói theo quan điểm thực tế thì chúng ta (Mỹ) phải công nhận, đối phương đã giáng cho chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nặng nề”. Westmoreland còn nhận xét một cách bi quan rằng: “Chiến tranh đã trở thành một vấn đề chính trị với triển vọng địch (QGP) có thể thắng ở Washington như họ đã thắng ở Genève 1954. Ý chí của các chính khách Mỹ đang suy giảm”.

Cựu tổng thống Mỹ Eisenhower, ngày 27-3-1968 nghĩa là chưa đầy 2 tháng sau khi ta mở cuộc tiến công đã phải than thở: “…Chưa bao giờ gặp phải tình trạng đáng buồn như tình cảnh hiện nay của nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc về chiến tranh”.

Ngay đương kim Tổng thống Johnson lúc bấy giờ cũng tỏ ra chán nản, dao động sâu sắc. Trong hai ngày 25 và 26-3-1968, ông ta đã triệu tập một cuộc họp “những nhân vật am hiểu tình hình nhất”. Phiên họp kéo dài với những thành viên hội nghị gồm những người nắm những địa vị then chốt nhất trong chính phủ Mỹ, Johnson đã hỏi quan điểm từng người một. Và, “Tổng thống đã nhận được những câu trả lời vô cùng bi quan của những người từ trước đến nay được xem là loại cứng rắn… Cuối cùng, Tổng thống quyết định rời khỏi sân khấu chính trị với hy vọng thống nhất lại một quốc gia đang bị chia rẽ ngay trong những người thân cận nhất của Tổng thống”. Sau đó, Nixon gặp Nguyễn Văn Thiệu tại đảo Midway để bàn về việc Mỹ sẽ rút quân khỏi Việt Nam. Henry Kissinger, ngoại trưởng Mỹ nhận xét: “Việc Tổng thống chúng ta chỉ có thể gặp người lãnh đạo một nước mà hơn 30.000 người Mỹ đã chết vì nó trên một hòn đảo hiu quạnh trong một khung cảnh đẹp trời của Thái Bình Dương chứng minh tình hình rối như tơ vò mà chiến tranh Việt Nam đã dìm xã hội chúng ta vào”.

Đó là lời của các nhân vật chóp bu trong giới cầm quyền Mỹ. Còn báo chí Mỹ thì sao?

Tờ tin tức Hoa Thịnh Đốn ngày 31-1-1968 đã viết: “Các cuộc tiến công ồ ạt, táo bạo của Cộng sản ngày 31-1 vào Sài Gòn, 8 tỉnh lỵ và 30 thị trấn nhỏ hơn là một điều đáng kinh ngạc. Cảnh sát quân sự Mỹ đã phải đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống nóc nhà sứ quán Mỹ ở Sài Gòn trong khói đạn để giành lại ngôi nhà được coi là “chống du kích” nhưng lại bị cộng sản chiếm trong 6 giờ liền. Chỉ riêng cảnh tượng đó cũng đủ để buộc chính phủ Johnson dẹp đi, coi là không có giá trị những nhận định lạc quan của mình”.

Thời báo New York, tờ báo lớn nhất của Mỹ số ra ngày 1-2-1968 bình luận: “Cuộc tiến công của đối phương đột nhập cả đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn cho thấy thêm những bằng chứng đau xót về sức mạnh có hạn của Mỹ ở châu Á. Bằng chứng cuộc tiến công táo bạo vào những thành phố chính ở miền Nam Việt Nam và bằng sự tập trung quân ở Khe Sanh, cộng sản đã làm tiêu tan niềm lạc quan bao trùm lên Hoa Thịnh Đốn và Sài Gòn trong mấy tháng qua. Đây rõ ràng không phải là hành động của một đối thủ đang yếu dần như các nhà quân sự Mỹ đã khẳng định hồi tháng 11-1967”.

Một chiến sĩ Giải phóng quân đang cài mìn đánh địch trong dịp Tết Mậu Thân 1968.Một chiến sĩ Giải phóng quân đang cài mìn đánh địch trong dịp Tết Mậu Thân 1968.

Cũng tờ báo này, trong số ra ngày hôm sau 2-1-1968 có đoạn: “Chiến thắng của Việt Cộng chứng minh sự suy yếu của cơ cấu chính trị mà Mỹ dùng làm chỗ dựa trong cố gắng chiến tranh và đe dọa thủ tiêu hoàn toàn các cơ cấu chính trị đang suy  yếu”. Tác giả bài báo tỏ ý lo ngại rằng: “Hậu quả chính trị do thắng lợi đáng kinh ngạc của Việt Cộng gây ra lần này mới là nguy hại nhất”.

Không chỉ báo chí Mỹ, các báo phương Tây và các nước trên thế giới ở góc độ này hay khác đều đưa tin và bình luận về sự kiện lịch sử này.

Hãng thông tấn Reuters của Anh ngày 3-2-1968 nói: “Quy mô và tính chất ác liệt của các trận tấn công phối hợp ở Sài Gòn và ở các trung tâm chủ chốt khác tại Nam Việt Nam làm cho Mỹ và các nước đồng minh rất đỗi ngạc nhiên”. Kế đó, ngày 5-2-1968 hãng này thống kê: “Mỹ có đến nửa triệu quân ở Nam Việt Nam, đã mất 13 năm và đã tiêu mỗi ngày 60 triệu đô la mà vẫn không bảo vệ được một tấc vuông đất nào ở miền Nam Việt Nam cả”. Trong khi đó, báo Người quan sát (Anh) tỏ ra ngạc nhiên khi than rằng: “Người ta không thể tin là một tình hình như thế lại có thể xảy ra”.

Báo Pháp “Thế giới” (Le Monde) ngày 1-2-1968 mỉa mai: “Người Mỹ đã từng khẳng định dân chúng Nam Việt Nam chịu đựng hơn là ủng hộ Mặt trận Dân tộc giải phóng, giờ đây liệu họ còn có thể nêu lên những lý lẽ như thế nữa không sau khi đã xảy ra một cuộc biểu dương đáng khâm phục về sức mạnh và lòng dũng cảm của Việt Cộng như vậy”. Báo Chiến đấu ngày 1-2-1968 khẳng định: “Điều hiển nhiên là người Mỹ đã thua đứt về mặt chính trị trong cuộc chiến tranh này rồi. Những gì xảy ra ở Sài Gòn cũng đủ cho thấy Mặt trận Dân tộc giải phóng đã nắm được các tầng lớp dân chúng ở miền Nam Việt Nam trong mức độ lớn biết nhường nào”.

Tờ Le Figaro (Pháp) ngày 2-2-1968 ca ngợi: “Cuộc tiến công lừng danh của Việt Cộng cho ta thấy trước hết cái tài tình của những người chỉ huy trong việc hướng dẫn cuộc chiến tranh vừa quân sự, vừa chính trị này. Về mặt đối nội, họ vừa thu được một thắng lợi lớn; họ chứng tỏ cho nhân dân Việt Nam thấy rằng, họ có thể đánh nơi nào và lúc nào cũng được hết. Họ làm cho chính phủ Sài Gòn và quân đội của chính phủ này trở thành một trò cười. Họ tăng cường sự kiểm soát của họ, và do đó, làm giảm bớt sự kiểm soát của chế độ Sài Gòn đối với dân thường, những người dân thường này thì đầy lòng kính nể và khâm phục đối với Mặt trận Dân tộc giải phóng.

Nhiều báo của các tổ chức Đảng Cộng sản và công nhân ở các nước tư bản đều tỏ thái độ khâm phục với cuộc chiến đấu chống Mỹ của nhân dân ta qua sự kiện Tết. Báo Nhân dân – cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp ngày 1-2-1968 đã ca ngợi: “Đây là cuộc tiến công lớn nhất của các lực lượng vũ trang giải phóng. Những người yêu nước miền Nam Việt Nam đã chứng tỏ rằng ở khắp nơi, quyền chủ động đang thuộc về họ, họ có thể quyết định địa điểm, thời gian của các cuộc tiến công làm cho Bộ chỉ huy Mỹ luôn luôn bở hơi tai”.

Người dân Mỹ biểu tình chống chiến tranh tại California, Mỹ (năm 1968).Người dân Mỹ biểu tình chống chiến tranh tại California, Mỹ (năm 1968).

Các nước trong phe XHCN lúc đó thì vui mừng. Hầu như báo của nước nào trong ngày 31-1 và 1-2 cũng đăng bài biểu lộ niềm hân hoan trước thắng lợi của nhân dân ta. Tiêu biểu là tờ Diễn đàn nhân dân Ba Lan, có đoạn: “Các trận đánh táo bạo được chuẩn bị tốt của những người yêu nước miền Nam Việt Nam là sự phát triển của các cuộc tiến công trên một quy mô rộng lớn mà Quân giải phóng đã mở đầu trong tháng Giêng năm nay vào những lúc, ở những nơi và với hình thức mà họ lựa chọn. Quân giải phóng trên thực tế đã trói chân, khóa tay tất cả các lực lượng chiến đấu của quân thù trong khắp các tỉnh”.

Qua một số sách, báo Mỹ và nước ngoài nói về sự kiện Tết Mậu Thân 1968 có thể nhận thấy: dù ở góc độ nào, dưới con mắt của các nhà khoa học quân sự, nhà chính trị, nhà sử học hay nhà báo, từ người dân bình thường đến các tướng lĩnh cao cấp, thậm chí cả Tổng thống đương nhiệm của nước Mỹ lúc bấy giờ đều phải thừa nhận tác động to lớn của sự kiện Tết Mậu Thân 1968 đối với toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Điều này chứng tỏ tầm vóc và ý nghĩa sâu sắc của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 của quân và dân ta ở miền Nam. Nó đập tan những luận điểm sai trái và xua đi những nghi ngờ về thắng lợi của ta trong lịch sử Tết Mậu Thân 1968.

Đại tá, PGS. TS Trần Nam Chuân
baodongnai.com.vn

26 ngày đêm Tết Mậu Thân 1968

(TTH) – 2 giờ 33 phút ngày 31/1/1968, tức mồng Một Tết Âm lịch, giờ phút mở đầu Tết Mậu Thân, giờ phút thiêng liêng đáng ghi nhớ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở quê hương Thừa Thiên Huế chúng ta, ở chiến trường Trị Thiên.Như bao lần Tết, cứ đến giao thừa việc đầu tiên của mọi người là mở Đài Tiếng nói Việt Nam để đón nghe Thơ mừng Xuân, chúc Tết của Bác Hồ.

Đúng lúc, những phát pháo lệnh của chỉ huy vạch những đường đỏ hồng thẳng lên vòm trời cao. Một mũi tiến quân của đơn vị tinh nhuệ cũng vừa cắt xong dây thép gai ở cống Thủy Quan – cống ngầm dưới thành thông ra sông Kẻ Vạn với sông Ngự Hà, chạy dài cắt đôi khu Thành NộiMen theo sông Ngự Hà, các chiến sĩ tiến vào góc Tây Nam sân bay Tây Lộc, đánh chiếm khu nhà lính bảo vệ sân bay. Một mũi quân khác từ cửa Chánh Tây theo đường Thái Phiên vào chiếm khu thông tin và kho đạn phía Tây sân bay, phá hủy một số máy bay lên thẳng, máy bay trinh sát và vận tải.

Liệt sĩ Phạm Thị Liên, Tiểu đội trưởng 11 cô gái Sông Hương trong Chiến dịch Huế-Xuân 1968 (đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân). Ảnh:TL

Địch bị đánh bất ngờ, không chống cự nổi. Một số thoát chết chạy về khu quân cụ ở Nam sân bay, hợp lại với bọn nhân viên kỹ thuật bắn trả lại. Quân ta quyết đánh, dựa vào hào giao thông và các vật chướng ngại tại chỗ, bám chặt sân bay, giữ vững vị trí đã chiếm được.Ban chỉ huy Trung đoàn cho một tiểu đoàn mở đợt tấn công tiếp vào sân bayTrận đánh diễn ra từ nửa đêm đến sáng mới kết thúc. Ta chiếm được sân bay, phá hủy 40 máy bay các loại, 100 chiếc xe, 1 kho đạn, 1 kho xăng, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự. Sau đó quân địch phản kích chiếm sân bayTa lại tổ chức tập kích vào sân bay một lần nữa… Trận đánh giành giật sân bay Tây Lộc diễn ra ác liệt và liên tục trong suốt thời gian ta chiếm giữ thành phố Huế.

Lễ xuất quân trong Chiến dịch Huế Xuân 1968. Ảnh: TL

Nhìn toàn cục chiến dịch khi ấy đến 2 giờ 40 phút ngày 31/1/1968, khi chiếm xong cửa Hữu, ta từ đó mở 3 mũi tiến công.

Mũi thứ nhất đánh vào cửa Ngọ Môn và Cột Cờ. Địch ở đây có 1 trung độinhưng lúc đó chỉ có 6 tên.Một tiểu đội của ta bí mật tiến vào và diệt gọn địch ngay từ những phút đầu.Ta chiếm xong cửa thành và Cột cờ Ngọ Môn vào lúc 6 giờ sáng, chiếm toàn bộ kho tàng, vũ khí, trong đó có 2 khẩu trọng liên 12 ly 7.

Mũi thứ hai theo đường Yết Kiêu, đường Lê Xuân đánh chiếm khu Đại NộiTrên đường tiến, ta bắt được một tên cảnh sát ngụy, thuyết phục nó đi theo ta. Tên này đã dẫn bộ đội đi thẳng vào cổng chính, diệt 1 đại đội thám báo, 1 đại đội cảnh sát, bắt 26 tù binh, chiếm hoàn toàn khu Đại Nội.

Mũi thứ ba gồm 2 trung đội bộ binh được 1 tổ du kích dẫn đường, tiến theo đường Yết Kiêu, Mai Thúc Loan ra chiếm cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba, rồi từ đó phát triển chiếm cầu Thanh Long mạn Đông Bắc thành phố và cầu Trường Tiền, chiếm các sở, ty, kho tàng trong thành phố.

Lá cờ của địch bị hạ xuống, cờ Mặt trận xanh đỏ với ngôi sao vàng tung bay trên đỉnh cột cờ Ngọ Môn vào lúc 8 giờ sáng ngày 31/1/1968. Chính Nguyễn Văn Truyền, người chiến sĩ dũng cảm của đại đội 3, tiểu đoàn 2, Trung đoàn 6 đã cùng đồng đội treo lá cờ cách mạng lên cột cờ cao nhất thành phố. Từ hôm đó, lá cờ vẻ vang của nhân dân miền Nam anh hùng phất phới bay cao trên thành phố cổ kính của niềm tin, soi bóng hồng xuống dòng sông Hương xinh đẹp.

Cùng lúc đó, mũi bộ đội tinh nhuệ và bộ binh từ cửa An Hòa tiến nhanh về mạn Tây Mang Cá, mở đường tiến công đưa được 12 chiến sĩ vào đồnHai mũi hợp lực chiến đấu dũng mãnh kiên cường cho đến sáng thì chiếm được khu Cải huấn, phòng Chiến tranh Tâm lý, đại đội Quân y, làm chủ 1/3 đồn Mang Cá. Đến 6 giờ sáng, Ban chỉ huy Trung đoàn phái đồng chí Tham mưu phó chỉ huy 1 đại đội bộ binh với 4 khẩu DKZ 75 đến tăng cường cho lực lượng tiến công. Nhưng vì địch đã dàn quân đối phó, xe thiết giáp của chúng đã bịt cửa thành nên cuộc chiến đấu hết sức gay go. Đến 11 giờ ngày 3-1 quân ta bị đánh bật khỏi Mang Cá.

Các trận tiến công giải phóng vùng ngoài thành phố ở phía Bắc diễn biến thuận lợi. Chỉ trong vòng 30 phút, Tiểu đoàn 6 đã đánh chiếm xong các làng An Hòa, Đốc Sơ, chiếm cầu và đồn An Hòa, bắt sống gần hết bọn dân vệ, thu nhiều vũ khí. Đến 8 giờ ngày 3-1, Tiểu đoàn Dù số 7 của địch cùng chi đoàn thiết giáp từ An Lỗ theo đường số 1 kéo vào cứu nguy cho Huế, đến An Hòa thì bị Tiểu đoàn 6 của ta bao vây đánh. Sau khi đánh bại nhiều đợt xung phong của địch, ta diệt hàng trăm tên, phá hủy 5 xe M113, bắt sống 3 xe, dùng súng trung liên trên xe địch đánh lại địch. Tiểu đoàn Dù số 7 nguy bỏ chạy theo đường cửa Hậu rút vào Mang Cá.

Một đơn vị bộ binh khác của ta tiến công chiếm các ấp “Tân sinh” Quê Chữ, La Chữ, An Hòa, Bồn Trì, Bồn Phố, tiêu diệt 1 đại đội cộng hòa và 70 tên ác ôn dân vệ bắt sống và gọi hàng trăm tên, thu toàn bộ vũ khí, phát động quần chúng giành quyền làm chủSáng hôm sau, cả 1 trung đội dân vệ ở Triều Sơn Tây mang vũ khí ra hàng quân Giải phóng.

Một tiểu đoàn khác đột nhập đánh chiếm các ấp Kẻ Vạn, Kim LongQuân ngụy ở đây, ngoài các trung đội dân vệ và bọn ác ôn kìm kẹp quần chúng, còn có 1 tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 2 bị đánh bại ở Gio Linh về củng cốĐịch bị đánh bất ngờ bỏ chạyTa truy kích diệt một số. Tiểu đoàn này 2 hôm sau được đưa về Mang Cá.

Tối 31/1, ta tiến công bốt Bạch Hổ. Bốt này có 1 đại đội bảo an và 1 tiểu đoàn cảnh sát dã chiến. Vì địch có đông quân lại dựa vào lô cốt kiên cố nên ta đánh không được, phải chuyển qua bao vây khống chếNgày 1-2 ta mở đợt tấn công thứ 2. Sau khi dùng hỏa lực đánh vỡ lô cốt, địch bỏ chạy một số, còn bị bắt sống 60 tên.

Một đội biệt động gồm 14 chiến sỹ trong đêm 30/1 đã bí mật vào Bao Vinh, vượt qua sông Hương lên làng Tiên Nộn rồi vượt sông Hương một lần nữa tiến vào khu phố Gia Hội, được du kích bí mật tại chỗ giúp sức đã nhanh chóng chiếm bốt cảnh sát khu phố, chiếm quận lỵ. Hôm sau, khi trời vừa sáng, đội biệt động biến thành đội quân khởi nghĩa, chia làm nhiều mũi vũ trang tuyên truyền, treo cờ, kêu gọi quần chúng đứng lên giành chính quyền, làm chủ toàn khu phố 4.

Cùng lúc, một đội du kích bí mật với một đội biệt động khác đánh chiếm bốt cảnh sát Đông Ba, phát triển ra chiếm đường phố Trần Hưng Đạo. Đến 8 giờ ta làm chủ chợ Đông Ba, Gia Hội, ngoại ô và huyện Hương Trà từ Văn Xá, La Chữ, Kim Long, Xuân Hòa.

Thế là sau 2 ngày tiến công, cánh Bắc đã đánh chiếm xong Thành Nội, Đông Ba, Gia Hội và Hương Trà, trừ Mang Cá địch còn giữ được.

Về cánh Nam Huế, ta tiến hành bằng nhiều mũi và thực hiện bằng nhiều hình thức tác chiến khác nhau, quá trình tiến công và nổi dậy kéo dài mấy ngày liền.

Đơn vị bộ đội tinh nhuệ giấu quân ở Phú Vang, được ăn Tết với đồng bào, được đồng bào cho xuống nằm đò “chở” đi nhà thương Huế”. Chiều hôm đó, họ ăn Tết ở Vĩnh Lưu, Giang Đông, rồi hành quân trong đêm tối, vượt sông Lợi Nông, đến 2 giờ sáng ngày 31/1 thì tiến vào khu Đông Nam Huế. Ở đây, pháo lớn của ta bắn áp vào khu Tam giác. Quân ta chia làm nhiều mũi tiến công dồn dập vào hang ổ của địch. Một đội đánh diệt đồn Đội Cung và phát triển vào Khách sạn Hương Giang. Đội thứ hai đánh vào Khách sạn Thuận Hóa – nơi ở của bọn cố vấn Mỹ. Đến 4 giờ thì đánh chiếm xong các khu nhà trên mặt đất. Địch còn lại chui xuống hầm kháng cự. Một đội đánh vào Sở Mật thám Huế, chiếm nhà lao, giải phóng cho 107 đồng bào bị giam giữ. Một bộ phận nhỏ đánh chiếm khu Chợ Cống, Sân Vận độngMột đội biệt động gồm 14 đội viên đánh vào An Cựu, diệt 2 đoàn “bình định” rồi nhanh chóng phát triển lên cầu Kho Rèn, diệt 3 xe thiết giáp, bắt sống 1 xe ô tô và 9 tên cảnh sát.

Mũi tiến công thứ 2 từ Dương Hòa xuống. Sau đợt pháo kích của 1.000 quả DKB, quân địch hoảng loạn. Tiểu đoàn tinh nhuệ số 1 của ta đánh tiêu diệt Trung đoàn Thiết giáp số 7 ngụy ở Tam Thai. Mấy phút đầu, ta chiếm được 2 lô cốt lớn trên cao, rồi từ đó đánh xuống đồn chínhĐịch kháng cự yếu ớt. Đến gần sáng ta chiếm được đồn, phá hủy 30 xe thiết giáp và xe tăng. Địch còn 1 trung đội và 1 xe tăng bám vào một góc đồn cố thủ, chờ bọn Mỹ ở Phú Bài đến cứu, nhưng bị ta diệt. Trận đánh đã tiêu diệt Trung đoàn Thiết giáp, đập nát đội xung kích cơ động của địch, làm chúng mất hẳn lực lượng nòng cốt bảo vệ Huế.

Tiểu đoàn 4 tiến đánh bốt Ngã Năm (đường Duy Tân), đánh từ 8 giờ đến 11 giờ mới chiếm được đồn. Một đội khác đánh chiếm Ngã Sáu Chaffanjon, chiếm các sở Bưu Điện, Ngân khố, chiếm Đài Phát thanh Huế ở sát cầu Trường Tiền. Một đội đánh tiêu diệt đoàn vận tải ở Trại Lê Lợi (An Cựu), tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn vận tải, phá hủy 100 xe.

Ở mũi tiến công thứ 3, đến 6 giờ ta mới chiếm được cầu Bến Ngự và cầu Nam Giao. Từ đó, ta nhanh chóng tiến vào chiếm Trường Quốc Học, Trường Đồng Khánh và dinh tỉnh trưởng. Một lá cờ nữa của cách mạng lại tung bay trên dinh tỉnh trưởng, hòa nhịp với lá cờ xanh đỏ ngôi sao vàng trên cột cờ Ngọ Môn.

Cuộc tấn công vào nhà lao đợt 1 không thành công. Ta lui ra củng cố và trang bị lại cho đơn vị. Một cuộc họp chi bộ, phát động tư tưởng được triển khai để chuẩn bị tổ chức trận chiến đấu mới, chuẩn bị đến 23 giờ 30 xuất phát tiến công.

Đến 24 giờ, một đào binh là Trần Văn Phiêu mang súng ra hàng, nói bọn địch rất dao động và xin dẫn đường cho bộ độiTa bí mật tiến công vào đánh chiếm bốt gác, phối hợp với anh chị em trong nhà lao nổi dậy, đánh chiếm toàn bộ nhà lao, giải phóng 2.200 người bị giam giữHọ sung sướng ôm chầm lấy các anh Giải phóng quân. Biết bao cảnh cảm động, cha gặp con, vợ gặp chồng, anh gặp em. Rồi tất cả tập hợp về chùa Từ Đàm. Một số xin gia nhập Giải phóng quân, tham gia các đội công tác dẫn đường cho bộ đội tiếp tục tấn công. Quân ta tiếp tục phát triển qua nhà ga Huế, bao vây đồn Bồ Ghè trong có 1 tiểu đoàn công binh. Ngày 4-2, ta tiến công chiếm khu quân cụ Quang Trung và trại Lê Lợi, thu 2.000 súng các loại, có hàng trăm khẩu đại liên, 8 xe tăng và nhiều đồ dùng quân sự. Ở vòng ngoài ta diệt đồn địch ở Nam Giao, các đồn Phước Quả, Phú CamNgày 6/2, ta phục kích tiêu diệt 1 đoàn xe 12 chiếc của Mỹ ở núi Ngự Bình, trong đó có 2 chiếc xe tăng.

Nhờ nhân dân dẫn đường, ta bắt được nhiều sỹ quan cố vấn và tình báo CIA Mỹ, bắt được nhiều tên Việt gian đầu sỏ, trong đó có 4 tên Phó tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên. Còn tên Tỉnh trưởng Phan Văn Khoa cải trang trốn biệt tích từ mấy ngày trước.

Trận tập kích chiến lược vào Huế đã kết thúc thắng lợi sau 4 ngày đêm liên tục tiến công. Hầu hết các mục tiêu lớn ta đều đánh chiếm được, nhưng địch không bị tiêu diệt hoàn toàn. Ở cánh Bắc, chúng còn cố thủ ở Mang Cá. Ở cánh Nam, Mỹ chiếm lại được Khách sạn Thuận Hóa, cố thủ đồn Bồ Ghè

Ta tiếp tục giữ Huế 26 ngày đêm, tiếp tục phát động quần chúng, lập chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng, tiếp tục đánh phản kích.

*

45 năm trôi qua, nhớ lại ký ức ngày giải phóng, với lực lượng khi đó không đông, chỉ hơn vài nghìn quân, mà ta đã làm nên lịch sử, giải phóng Huế và làm chủ thành phố 26 ngày đêm, cùng với 65 thành phố, thị xã, thị trấn toàn miền Nam đồng loạt nổi dậy, tạo áp lực buộc quân Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán tại Paris. Chúng ta thực hiện được lời Bác Hồ: Đánh cho Mỹ cút và tiến tới: Đánh cho ngụy nhào, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Với chiến thắng của quân và dân Trị Thiên Huế trong cuộc tấn công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Trung ương đã khen tặng 8 chữ vàng Tấn công – Nổi dậy – Anh dũng – Kiên cường”.

Thiếu tướng Trần Minh Đức
baothuathienhue.vn

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Huế – 45 năm nhìn lại

(TTH) – Cách đây tròn 45 năm, quân dân ở mặt trận Huế đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của một trong những trọng điểm Tổng tiến công – nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 (Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng), góp phần thực hiện Nghị quyết 14 của Trung ương Đảng (tháng 01/1968) là “phải tạo ra một bước nhảy vọt bằng chọn chiến lược hiểm và dùng cách đánh mới, giáng một đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ”.

Để thực hiện được yêu cầu trên, trong quá trình lãnh đạo, cuộc chiến đấu ở chiến trường, Khu ủy Trị Thiên – Huế đã tổ chức tiến công và nổi dậy liên tục trên cả ba mũi giáp công, ba vùng chiến lược, ba thứ quân, liên tục giành thắng lợi vẻ vang trong chống “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, nhất là những năm 1966 – 1967 khi Trung ương mở Mặt trận Đường 9 và đã xây dựng được lực lượng vũ trang, chính trị ở nội thành Huế, đưa chiến tranh vào vùng ven đô. Dưới sự lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, căn cứ vào nhiệm vụ được giao trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Khu ủy Trị Thiên – Huế đã sớm tổ chức hội nghị chuẩn bị phương hướng tiến công địch ở TP Huế, chuẩn bị lực lượng, tổ chức chiến trường. Theo đó, ta hình thành lực lượng lớn ở hai cánh Nam – Bắc sông Hương, từ vùng núi vượt qua làng mạc, sông suối đồn bốt địch phục kích dọc đường, tiến công mục tiêu đúng giờ quy định, tạo yếu tố bất ngờ với địch. Đây là một thành công lớn của chiến dịch Huế Tết Mậu Thân 1968.

Đồng chí Thân Trọng Một (bìa phải), Thành ủy viên, Chỉ huy trưởng Đoàn 5 (Thành đội Huế), Chỉ huy trưởng cánh Nam cùng các đồng chí Nguyễn Chi (giữa), Võ Hạp (trái), trong chiến dịch Huế – Xuân 1968. Ảnh: TL

Ở hai cánh Bắc – Nam mặt trận Huế, ta đã tiến công, tiêu diệt nhiều sinh lực quan trọng của địch, đánh mạnh vào cơ quan đầu não Mỹ – ngụy, đập nát hệ thống chính quyền Sài Gòn từ thôn đến tỉnh, đánh nát các đường giao thông chiến lược của địch. Lực lượng cách mạng nhất là lực lượng vũ trang phát triển nhanh và được tôi luyện trong cuộc chiến đấu, trưởng thành dày dạn thêm nhiều. Đêm 15/2/1968, Quân ủy Trung ương điện cho mặt trận Huế: “Phải giữ thành để phục vụ nhiệm vụ chính trị chung cho cả nước”. Tình hình lúc này rất khó khăn, ác liệt. Địch phản kích chiếm lại thành phố. Ta thương vong nhiều. Một số đơn vị đã rút ra ngoại thành. Nhưng để phục vụ nhiệm vụ chính trị, mặt trận Huế kiên quyết bám trụ, tiến công địch, chiếm giữ thành phố 26 ngày đêm kiên cường, oanh liệt.

Thắng lợi ở mặt trận Huế bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương. Với chỉ đạo là trọng điểm cuộc tiến công – nổi dậy, Trung ương và Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo cụ thể và hết sức chi viện cho mặt trận Huế. Về mục tiêu, bất ngờ nhất với địch là ta tổ chức lực lượng đánh chiếm Huế nhanh gọn. Quân dân ta đã chuyển chiến tranh vào thành phố, dinh lũy cuối cùng của Mỹ – ngụy, biến hậu phương địch thành nơi tranh chấp và từng bước trở thành tiền phương của cách mạng.

Cùng với việc tổ chức lực lượng nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trong thành phố, Khu ủy Trị Thiên – Huế còn biết kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn. Thắng lợi to lớn của đòn tiến công quân sự đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh nổi dậy của quần chúng đứng lên phá tan ách kìm kẹp của bộ máy chính quyền địch, thiết lập chính quyền cách mạng, huy động sức mạnh quần chúng tham gia chiến đấu bảo vệ thành phố, chi viện tiếp tế kịp thời cho bộ đội. Do đó, ta đã giữ được thành phố gần một tháng.

Về nổi dậy của nhân dân, chúng tôi xin được trích dẫn ý kiến Thượng tướng Trần Văn Quang: “Chúng tôi ví quá trình tiến công và nổi dậy cũng như quả bom nguyên tử. Nếu là bom khinh khí thì tốt hơn. Trong quả bom nguyên tử có một quả bom làm mồi, quả bom mồi nổ gây đến nhiệt độ nhất định, quả bom nguyên tử nổ đạt đến hàng triệu độ làm cho bom khinh khí nổ. Chúng ta đánh cũng phải theo kiểu đó. Bộ đội ta là quả bom mồi, quần chúng là bom nguyên tử, khi bom nguyên tử nổ tức là quần chúng nổi dậy tạo thành sức mạnh tổng hợp. Nếu bộ đội chỉ làm quả bom thường, không phải bom mồi thì kết quả không lớn”.

Theo chúng tôi ở mặt trận Huế, quả bom mồi nhiệt độ cao tác động mạnh bom nguyên tử nổ tạo sức mạnh tổng hợp chiến đấu, phục vụ chiến đấu mà đỉnh cao của nó là đánh đổ chính quyền địch, thiết lập hệ thống chính quyền cách mạng ở xã, huyện, tỉnh Thừa Thiên Huế là địa phương lập chính quyền cách mạng đầu tiên trong chống Mỹ cứu nước, thành lập Liên minh các lực lượng Dân tộc và dân chủ TP Huế mở rộng Mặt trận đoàn kết dân tộc chống Mỹ, cứu nước.

Do phát huy được sức mạnh của quần chúng, tạo thành thế trận chiến tranh nhân dân nên khi địch tập trung lực lượng đánh phá, quân dân mặt trận Huế vẫn anh dũng kiên cường chiến đấu trở thành một điểm nóng với niềm tin yêu của nhân dân cả nước. Báo Nhân Dân số ra ngày 27/2/1968 viết: “Cả nước ta tự hào về Thừa Thiên Huế, mảnh đất yêu thương của Tổ quốc đã góp phần rất vẻ vang vào thắng lợi mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của miền Nam anh hùng”. Còn tờ Thế Giới ngày 13/02/1968 dưới đầu đề “Một thành phố bị hạ sát” đã viết: ”Nếu Việt Nam cần có một tượng trưng, nó đã có ngay đó là Huế, Huế sẽ ở lại như một Ghéc-ni-ca của Việt Nam”.

Với thắng lợi to lớn và toàn diện trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân – Xuân 1968, Đảng bộ TP Huế được Trung ương điện biểu dương: “Đảng bộ kiên cường về tư tưởng, vững mạnh về tổ chức, trong sạch nội bộ, đoàn kết nhất trí”. Giữa cuộc chiến đấu ngày 21/02/1968, Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam nhiệt liệt hoan nghênh và ghi nhớ công ơn của đồng bào và các lực lượng vũ trang nội ô và ngoại ô TP Huế đã hết lòng giúp đỡ bộ đội, phục vụ tiền tuyến, cùng chiến đấu với các lực lượng vũ trang giải phóng, góp phần quyết định vào những thắng lợi đã giành được. Ngày 01/3/1968, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã tuyên dương công trạng về cuộc tiến công toàn diện đầu Xuân 1968, trong đó có tuyên dương công trạng của quân và dân Trị Thiên – Huế, tặng danh hiệu “Tấn công – Nổi dậy – Anh dũng – Kiên cường” cho quân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tết Mậu Thân – Xuân 1968, một dấu son đỏ thắm trong lịch sử Thừa Thiên Huế, mãi mãi là niềm tự hào của nhân dân TP Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng và cả nước nói chung. Trang sử vẻ vang đó đang được viết tiếp trong thời kỳ xây dựng thành phố văn minh, hiện đại trên Cố đô có hai di sản văn hóa nhân loại, trên TP Huế anh hùng.

Ngô Kha
baothuathienhue.vn

Vai trò của quần chúng, nhân dân Trị Thiên – Huế trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968

TCCSĐT – Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Trị Thiên – Huế là chiến trường chiếm giữ thành phố lớn được dài ngày nhất – 25 ngày đêm, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cả về tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công trên một hướng chiến lược. Đánh giá về cuộc tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên – Huế, trong Xuân 1968, Hội nghị khoa học đợt 3 (tháng 8-1968) đã kết luận: “Xuân Mậu Thân, Huế đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đạt được mục tiêu cao và giành thắng lợi lớn. Đặc biệt, hoạt động nổi dậy của quần chúng có tổ chức và tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu của nhân dân trong thành phố thể hiện rõ hơn và đạt mức độ cao hơn”(1).

Cuộc tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên – Huế năm 1968 đã giành được nhiều kết quả to lớn. Ta đã tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận lớn quân địch (khoảng trên 20.000 tên), thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Ngụy quân, ngụy quyền các cấp ở Huế bị sụp đổ, tan rã: ngụy quyền các xã, ấp vùng ven và nông thôn bị tê liệt cao độ. Ta đã giải phóng 296 thôn và 227.000 dân, trong đó có 240 thôn đã thành lập được chính quyền cách mạng lâm thời, có gần 10.000 du kích, trong đó có hơn 2.500 người được bổ sung cho chủ lực. Với 25 ngày đêm chiếm giữ thành phố, thắng lợi của cuộc tiến công và nổi dậy ở Huế đã có sức cổ vũ to lớn đối với quân và dân ta trên các chiến trường và gây tác động mạnh đối với bọn đầu sỏ Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Trong thắng lợi chung của cuộc tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên – Huế Xuân 1968, ngoài vai trò có tính chất quyết định của bộ đội chủ lực, có sự đóng góp to lớn về sức người, sức của, chiến đấu và phục vụ chiến đấu của các tầng lớp nhân dân Trị Thiên – Huế.

Truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân Trị Thiên – Huế

Tiếp giáp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chiến trường Trị Thiên có một ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng đối với cả địch và ta trong chiến tranh. Vào cuối những năm 60 của thế kỷ trước, dân số Trị Thiên có khoảng 80 vạn người (Quảng Trị: 30 vạn và Thừa Thiên: 50 vạn).

Vốn có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, bất khuất, nhân dân Trị Thiên đã trải qua Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, 9 năm kháng chiến chống Pháp gian khổ rồi bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ. Đến năm 1965, phong trào chiến tranh du kích phát triển đều và có những vùng khá mạnh. Quần chúng nhân dân Trị Thiên có lòng yêu nước nồng nàn, được tôi luyện dạn dày trong chiến tranh cách mạng.

Trị Thiên từ lâu là một vùng chiến trường trọng điểm, là nơi giành giật quyết liệt giữa ta và địch, Mỹ – Ngụy dùng nhiều bom đạn chà đi xát lại nhiều lần. Mặt khác, do thiên tai khắc nghiệt, đây là vùng đất có nền kinh tế nghèo nàn, đa số nhân dân hai tỉnh – đặc biệt là vùng rừng núi và giáp ranh, đều có cuộc sống khó khăn, lao động cực nhọc, chạy ăn từng bữa. Tuy nghèo khó, nhưng nhân dân Trị Thiên đều một lòng tin tưởng hướng về cách mạng, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo cho bộ đội, sẵn sàng đứng lên đấu tranh quyết liệt với kẻ thù.

Là một trong 3 thành phố lớn ở miền Nam (sau Sài Gòn và Đà Nẵng), Huế có một vị trí chính trị, quân sự hết sức quan trọng. Vốn là một cố đô của triều Nguyễn cũ, trong kháng chiến chống Mỹ, Huế thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Mỹ – Ngụy, là trung tâm chỉ đạo chiến lược của địch trên khu vực tiếp giáp đối đầu với miền Bắc. Ở đây có trên 45 cơ quan hành chính ngụy quyền, đồng thời là nơi địch bố trí một bộ máy chiến tranh khá mạnh (có khoảng từ 2,5 đến 3 vạn quân) với nhiều vũ khí, trang thiết bị tương đối hiện đại của Mỹ. Thành phần xã hội của thành phố Huế đa dạng và khá phức tạp. Số dân theo đạo Thiên chúa và Phật giáo chiếm tỷ lệ khá lớn (riêng Thiên chúa giáo ở Huế có trên 1 vạn giáo dân). Số dân thuộc thành phần công chức và gia đình binh sĩ ngụy có khoảng 3 vạn; số học sinh, sinh viên có khoảng 2,5 vạn; nhân dân lao động có khoảng 6 – 7 vạn, phần đông là gia đình tiểu thương, thợ thủ công, dịch vụ. Nhân dân nông thôn và thành phố có quan hệ chặt chẽ với nhau, nên mỗi biến chuyển về chính trị và quân sự ở nông thôn đều mau chóng ảnh hưởng trực tiếp vào thành phố.

Giữa những năm 60 của thế kỷ XX, phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân Trị Thiên, đặc biệt là ở Huế, ngày càng phát triển mạnh. Liên tục có những cuộc đấu tranh chống Mỹ và tay sai như cuộc xuống đường chống Diệm – Nhu năm 1963, chống Khánh – Hương năm 1964, chống Mỹ – Thiệu – Kỳ hai năm 1965 – 1966; phong trào xuống đường đấu tranh của học sinh – sinh viên đòi hòa bình, dân sinh, dân chủ thì hầu như tháng nào cũng xảy ra. Những cuộc đấu tranh này của quần chúng nhân dân đã nhiều phen làm cho Mỹ – Ngụy hoảng sợ và tìm cách đối phó vất vả.

Ở nội thành Huế, lực lượng chính trị và phong trào cách mạng của quần chúng, dưới sự chỉ đạo của 8 chi bộ Đảng ta đã xây dựng được khoảng 100 cơ sở bí mật và nửa công khai. Số quần chúng hướng về cách mạng và sẵn sàng tham gia các cuộc đấu tranh, chiến đấu và phục vụ chiến đấu, ta có thể huy động từ 4.000 đến 5.000 người trong một ngày đêm. Ngoài ra, một số khá đông nhân dân lao động, viên chức, tiểu thương tuy không nằm trong các tổ chức cách mạng, nhưng có lòng yêu nước và cảm tình với cách mạng, ta có thể tranh thủ lôi kéo họ khi cách mạng nổ ra.

Trước khi nổ ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, 3 huyện giáp với thành phố Huế là Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy có nhiều thôn xã đã được ta giải phóng và làm chủ, tạo thành vùng “đệm” quan trọng để chủ lực ta đứng chân và làm bàn đạp tiến vào thành phố. Cụ thể, ta đã giải phóng được 86/270 thôn, với trên 70.000 dân. Ở 3 huyện này, ta đã xây dựng được nhiều đội quân du kích với quân số lên tới hơn 1.000 người. Các tổ chức quần chúng như: nông hội, thanh niên, phụ nữ thu hút gần 30.000 hội viên; Đoàn thanh niên lao động cũng có gần 1.000 đoàn viên. Đây thực sự là những con số đáng kể để ta phát động, nhân rộng phong trào nổi dậy của quần chúng khi tổng công kích, tổng nổi dậy nổ ra trên địa bàn Trị Thiên – Huế.

Hoàn thành tốt nhiệm vụ chuẩn bị chiến dịch

Theo kế hoạch đề ra trước khi bước vào đợt Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, Mặt trận Trị Thiên – Huế được xác định là một trong những hướng tiến công trọng điểm. Ta đã khẩn trương và ráo riết chuẩn bị mọi mặt như: làm đường tiến công, bắc cầu phà, vận chuyển lương thực, vũ khí đạn dược, thuốc men, đào hầm hào chiến đấu, chuyển quân,… đồng thời tiến hành các đợt hoạt động nghi binh, đánh lừa địch. Quần chúng nhân dân tại các vùng giải phóng cũng như vùng tạm chiếm đã có nhiều hoạt động tích cực giúp bộ đội hoàn thành tốt nhiệm vụ chuẩn bị chiến dịch. Trong các hoạt động chuẩn bị này, hàng chục ngàn nhân dân, học sinh, sinh viên, thanh niên, có cả cụ già, em nhỏ, đã tình nguyện có mặt tại các vị trí phục vụ bảo đảm chiến trường theo sự phân công của chỉ huy và các tổ chức đoàn thể. Cùng với bộ đội, nhân dân đã tu sửa và làm mới gần 100km đường tiến công, sửa chữa và bắc được hàng trăm cầu, cống, bến phà các loại, đào đắp vận chuyển trên 500.000m3 đất, đá và hàng ngàn hầm, hố phòng tránh trú ẩn.

Trước ngày tổng công kích và nổi dậy, chiến trường mới dự trữ được trên 1.500 tấn gạo, nhưng còn nằm rải rác ở vùng hậu cứ giáp ranh, dự kiến phải mất 4 đến 5 ngày vận chuyển mới đến tay bộ đội tại các hướng tiến công. Đặc biệt là mặt trận trọng điểm Huế lúc này chỉ mới có 130 tấn gạo, so với yêu cầu còn thiếu khoảng 700 tấn mới đủ dự trữ cho bộ đội chiến đấu dài ngày. Với tinh thần quyết tâm cao độ, nhân dân đã được chính quyền và chỉ huy các cấp huy động ra vận chuyển gấp số gạo trên từ các kho tập kết ở Đông Trường Sơn tới các đơn vị, vượt kế hoạch thời gian trước 2 ngày. Ngoài số gạo trên, mặt trận Trị Thiên – Huế cũng được duyệt cấp 350 tấn gạo, 400 tấn vũ khí, đạn dược, thuốc men, song số hàng trên còn nằm tại các binh trạm đường 559, cách Huế gần 100 km. Với các phương tiện vận chuyển như ghe xuồng, xe đạp thồ và bằng cả đôi vai, nhân dân tại các vùng giáp ranh đã giúp bộ đội chuyển hết số hàng trên về nơi tập kết một cách an toàn, bí mật.

Nhân dân tại các vùng địch kiểm soát và nội đô Huế đã được các tổ chức bí mật của ta tại các cơ sở huy động trong đêm tối tham gia đào được hàng trăm hầm hào chiến đấu, hầm trú ẩn, chuẩn bị các cơ sở nuôi giấu thương binh, đóng góp lương thực, thuốc men cho bộ đội. Đến ngày tổng công kích, khởi nghĩa, nhân dân tại các vùng địch kiểm soát (giáp ranh và thành phố Huế) tổng cộng đã quyên góp được 2.000 tấn gạo, 8 tấn thuốc men, dụng cụ y tế, trong đó có gần một nửa số hàng trên đã được vận chuyển tới vị trí tập kết (2).

Để chuẩn bị cho phong trào khởi nghĩa và nổi dậy của quần chúng ở các vùng địch kìm kẹp cũng như nội đô Huế, các cơ sở quần chúng bí mật của ta được trên chỉ đạo đã ráo riết in được hàng chục tấn tài liệu, sách báo học tập, tuyên truyền, truyền đơn, băng cờ, khẩu hiệu. Các tổ chức đoàn viên, học sinh, phụ nữ trong vùng nội đô đã mở được nhiều lớp tập huấn bí mật về quân sự, chính trị, công tác binh vận, địch vận, công tác cứu thương, chỉ đường hướng dẫn cho bộ đội cũng như công tác giữ gìn an ninh trật tự khi thành phố được giải phóng.

Nhiều đóng góp trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu

Trong quá trình diễn ra các đợt tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, các tầng lớp quần chúng nhân dân, học sinh, sinh viên cũng đã có nhiều đóng góp to lớn trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, phối hợp với bộ đội nổi dậy giành quyền làm chủ tại hầu hết các thôn, xã, huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn Trị Thiên – Huế, trong đó có một số hoạt động nổi bật của quần chúng nhân dân tại những hướng, vùng tiêu biểu sau:

– Trên cánh Bắc Huế, đêm 30-1-1968, một cánh quân của bộ đội ta đã đánh vào sân bay Tây Lộc. Được quần chúng cơ sở bên trong giúp đỡ và trực tiếp dẫn đường, bộ đội ta bí mật đột nhập qua cổng Thủy Quan, nhanh chóng theo sông Ngự Hà vào góc Tây sân bay, đánh chiếm khu nhà lính bảo vệ, bắn cháy 20 máy bay và nhiều xe pháo trong khu vực này. Trong lần đánh thứ hai, đêm 31-1-1968, cũng được cơ sở quần chúng dẫn đường tắt bí mật, ta diệt gọn và chiếm toàn bộ sân bay, phá 40 máy bay, 100 xe quân sự, đốt 1 kho đạn và 1 kho xăng. Nhờ có quần chúng dẫn đường, kết quả đánh sân bay đã giành thắng lợi lớn.

– Tại các mũi đánh vào nội đô Huế như Đại Nội, Cột Cờ, Ngọ Môn, cửa Đông Ba,… cũng nhờ có du kích và cơ sở ngầm dẫn đường, bộ đội chủ lực ta đã nhanh chóng đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng, diệt và làm tan rã nhiều địch. Trong thành nội, ta chiếm hết các ty, sở của ngụy quyền. Quần chúng, thanh niên, học sinh, tự vệ cùng bộ đội xông vào từng khu phố, góc nhà truy bắt bọn ác ôn, phản động, kêu gọi ngụy quân, ngụy quyền ra hàng chính quyền cách mạng. Mặc bom đạn cày tung mặt đường, hàng ngàn quần chúng vẫn đổ ra đường phố tiếp tế cơm ăn, thuốc men, đạn dược cho quân ta, làm công tác cứu thương, chuyển thương binh, tử sĩ về tuyến sau… Phối hợp các mũi chủ lực đánh vào nội đô Huế, các lực lượng biệt động, du kích tự vệ mật cùng quần chúng cách mạng đã tiến công nổi dậy làm chủ khu phố Gia Hội, lùng diệt bọn ác ôn, cảnh sát ngụy, đập tan bộ máy ngụy quyền tại các phường, quận, lập chính quyền cách mạng, tổ chức và phát triển tự vệ chiến đấu, trang bị bằng vũ khí lấy được của địch. Phong trào đấu tranh của quần chúng tại nội đô phát triển rất cao từ ngày đầu đến ngày cuối, khi rút khỏi thành phố, các tầng lớp nhân dân lại chuyển sang che chở, hỗ trợ cho bộ đội rút ra được an toàn.

– Tại các vùng ngoại vi Bắc Huế như La Chữ, Quế Chữ,… lực lượng vũ trang địa phương cùng quần chúng nhân dân đã đồng loạt nổi dậy đánh chiếm các căn cứ, công sở của địch, phá ấp chiến lược, thành lập chính quyền cách mạng, xây dựng làng xã chiến đấu, đưa con em bổ sung vào lực lượng vũ trang, đóng góp nhiều của cải, vật chất ủng hộ bộ đội, triển khai lực lượng chuẩn bị đánh địch phản kích tăng viện vào Huế. Tại huyện Hương Trà, đông đảo quần chúng cách mạng cùng lực lượng vũ trang huyện, xã,… nổi dậy làm chủ trên nhiều vùng, diệt trừ ác ôn, tích cực vây lùng, gọi hàng bọn tàn binh địch. Tại đây, nhiều thôn, xã chính quyền cách mạng đã được thành lập, nhân dân lấy súng địch tự trang bị cho mình. Đối với Hương Trà, một huyện yếu ở Thừa Thiên, trước đây có nhiều cơ sở trắng, nay trong khí thế tiến công và nổi dậy đã có một phong trào phát triển cao chưa từng có. Nhân dân đã gọi hàng được một đại đội bảo an ở An Thành và 1 trung đội dân vệ ở Triều Sơn Tây, thu nhiều súng đạn,…

– Tại huyện Hương Thủy (thuộc cánh Nam), phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ, quần chúng nhân dân đã nổi dậy đánh chiếm cầu An Cựu, phát triển bao vây và diệt nhiều vị trí địch ở Miếu Đại Càng, Cầu Lèn, Long Thọ,… Trước sự tan vỡ, hốt hoảng của địch, quần chúng đã nổi dậy khởi nghĩa rầm rộ, mạnh mẽ, nhất là ở các xã Mỹ Thủy, Thanh Thủy, Vân Dương, Hải Thủy, Xuân Hòa. Nhiều ổ ác ôn tập trung ở Thanh Thủy Thượng, Mỹ Thủy đã bị nhân dân trừng trị, hàng trăm tên có nợ máu đã phải đền tội. Trong khí thế cao độ, quần chúng đã kéo đến bao vây, uy hiếp các đồn bốt ở Thanh Thủy Chánh, Vân Dương, Xuân Hòa, bọn địch ở đây đã hốt hoảng rút chạy, bỏ lại nhiều súng đạn, thuốc men,… Quần chúng nhân dân với súng đạn vừa thu được của địch đã kéo ra phá các bốt dọc trên quốc lộ 1, bao vây và cắt đứt tuyến giao thông ở Phú Bài, An Cựu. Du kích, tự vệ từ các xã An Thủy, Thiên Thủy tiến vào khu phố 5, chợ Cống hỗ trợ quần chúng đô thị nổi dậy giành quyền làm chủ. Nhiều vùng trước đây còn yếu nay đã tự giải phóng, giành được quyền làm chủ với mức độ khác nhau.

– Tại huyện Phú Vang, dọc theo tỉnh lộ từ Thuận An đến Huế, quần chúng nhân dân cùng các đội du kích, các đội công tác đã tiến công, nổi dậy mạnh mẽ trên khu phố 5. Trước sức đấu tranh, nổi dậy của nhân dân, địch ở các vị trí như Phú Thiện, An Thuyền, Tài Mậu hốt hoảng tự tan vỡ,… chính quyền cách mạng đã được nhanh chóng thành lập tại các thôn, xã này.

– Đặc biệt nổi bật trên hướng Nam là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lực lượng vũ trang, biệt động với sự nổi dậy đấu tranh chính trị, binh vận của các lực lượng quần chúng nhân dân qua hai sự kiện đánh chiếm nhà lao Thừa Phủ, dinh Tỉnh trưởng (ngày 31-1) và nhà lao Thẩm Vấn (ngày 2-2). Lúc đầu, các mũi tiến công này do các đội đặc công tiến công, nhưng không thành công do lực lượng ít, không thông thạo địa hình bố trí của nhà lao, lại gặp địch phản công quyết liệt phải chuyển sang đánh kéo dài. Sau đó, nhờ quần chúng nhân dân nổi dậy kéo đến bao vây nhà lao, thuyết phục, gọi hàng lính cai ngục, đồng thời dẫn bộ đội bí mật tiến theo các đường hầm đánh từ trong ra, cuộc đánh chiếm 2 nhà lao mới thành công. Quần chúng nhân dân cùng đặc công đã diệt gọn 1 trung đội bảo an canh giữ nhà lao, gọi hàng nhiều tên khác, giải phóng an toàn 2.300 chiến sĩ cách mạng và quần chúng yêu nước bị địch cầm giữ lâu ngày. Trong số tù chính trị này, hơn 1.000 chiến sĩ cách mạng nòng cốt đã được bổ sung ngay tại chỗ cho các mũi, hướng chiến đấu của chủ lực và địa phương.

Tóm lại, trong những ngày tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên – Huế Xuân 1968, quần chúng nhân dân cùng lực lượng vũ trang 3 thứ quân đã phối hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công, đánh rất trúng vào đầu sỏ ngụy quyền, tay sai, vào những cơ quan đầu não của địch trong tỉnh cho đến các cơ quan ngụy quân, ngụy quyền ở các huyện, quận, thôn, xã, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề, chế độ tay sai bị tê liệt trong một thời gian dài. Khí thế cách mạng của quần chúng nhân dân trong những ngày tiến công và nổi dậy đã được phát động rầm rộ và rộng khắp chưa từng có.

Nhân dân Trị Thiên – Huế như được sống lại trong những ngày quật khởi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong cao trào cách mạng Xuân 1968, các tầng lớp quần chúng nhân dân, thanh niên, học sinh, sinh viên, trí thức đã có một cơ hội tốt đẹp để biểu hiện tinh thần yêu nước và ý thức cách mạng bấy lâu nay bị địch kìm kẹp, lung lạc. Đã có hàng ngàn, hàng vạn quần chúng được cống hiến sức mình trong các công việc khác nhau như chiến đấu, phục vụ bảo đảm chiến đấu, làm nội ứng và chỉ đường cho bộ đội, giữ gìn an ninh trật tự, vây bắt tề điệp, phản động, đi dân công, cất giấu chăm sóc thương binh, tử sĩ, úy lạo bộ đội, đào hầm hố, xây dựng làng chiến đấu, đóng góp lương thực, thuốc men cho bộ đội. Dù công việc nào, lớn hay nhỏ, họ đều làm với tinh thần tự nguyện quên mình. Ngoài ra, còn có hàng ngàn thanh niên, học sinh, con em nhân dân đã xung phong tòng quân và vào du kích tự vệ.

Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở Trị Thiên – Huế Xuân 1968 đã phát động được cao độ vai trò của quần chúng nhân dân tham chiến đấu và phục vụ chiến đấu hiệu quả là vì mấy nguyên nhân sau:

Một là, nhân dân Trị Thiên – Huế từ lâu vốn có truyền thống yêu nước và cách mạng. Tuy bị địch kìm kẹp, khủng bố và lung lạc dài ngày nhưng các cán bộ, đảng viên và cơ sở Đảng của ta đã kiên trì bám trụ sâu vào lòng dân tuyên truyền, giáo dục, lôi kéo nên đa số nhân dân vẫn một lòng tin tưởng ở Đảng, hướng về cách mạng, chỉ chờ cơ hội là vùng lên. Bài học về bám trụ, bắt rễ sâu vào lòng dân của cơ sở Đảng, trực tiếp là của cán bộ chiến sĩ ta luôn có giá trị cho đến ngày nay.

Hai là, khi đặt mục tiêu Tổng tiến công và nổi dậy, chúng ta đã biết lấy quyền lợi của nhân dân và Tổ quốc đặt lên trên hết, đó là nhằm tiêu diệt và đánh đổ ngụy quân, ngụy quyền phản động tay sai, giải phóng đất đai và con người khỏi áp bức, kìm kẹp, đem lại cuộc sống hòa bình, tự do, dân sinh, dân chủ cho đại đa số nhân dân. Mục tiêu đó là phù hợp với nguyện vọng tha thiết của nhân dân nên được mọi tầng lớp nhiệt tình ủng hộ.

Ba là, trong tổng tiến công và nổi dậy, đi đôi với việc phát động quần chúng đứng lên đấu tranh, bộ đội ta từ chỉ huy đến chiến sĩ đã chấp hành nghiêm kỷ luật quân dân, một lòng đoàn kết, yêu thương và bảo vệ nhân dân nên đã gây dựng được niềm tin sâu sắc, được nhân dân coi như con em của mình và hết lòng che chở, ủng hộ.

Sau 25 ngày đêm chiếm giữ thành phố Huế, trước tình hình mới, bộ đội ta đã lần lượt rút lui khỏi thành phố và các vùng giáp ranh. Trong cuộc rút lui này, nhân dân lại một lần nữa tìm cách giúp đỡ, che chở bộ đội, tìm cách kéo địch về phía mình để bộ đội rút ra an toàn, nhanh chóng. Có thể nói, sự hy sinh về sức người, sức của của nhân dân trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là rất lớn. Mặc dù khí thế cách mạng của quần chúng rất cao, nhưng do đòn chủ lực của ta chưa đủ sức đập tan bộ máy sinh lực địch nên tổng khởi nghĩa đã không nổ ra như dự định. Tuy vậy, tinh thần nổi dậy của nhân dân được thể hiện tuyệt vời trong Tết Mậu Thân là bằng chứng tin cậy để Đảng ta khẳng định rằng: nếu đòn chủ lực của ta đủ mạnh, nếu được chuẩn bị chu đáo về mọi mặt và thời cơ lịch sử chín muồi thì chắc chắn lần tổng tiến công và nổi dậy tiếp theo sẽ thành công trọn vẹn. Điều này được thực tế lịch sử chứng minh trong Xuân 1975: chỉ trong vòng không đầy 3 tháng quân và dân toàn miền Nam, trong đó có quân và dân Trị Thiên – Huế, đã thực hiện xuất sắc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, đập tan hoàn toàn bộ máy ngụy quân, ngụy quyền, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam, thu non sông về một mối./.

——————————————-

(1). Xem: Hướng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân ở Trị Thiên – Huế, Viện Lịch sử quân sự – Hà Nội 1988, tr. 91.
(2). Dẫn theo “Hậu cần Quân khu Trị Thiên – Huế trong tiến công và nổi dậy Xuân 1968”. Tập san Hậu cần số 11-1975.

Đại tá Nguyễn Văn Quang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
tapchicongsan.org.vn