Một việc làm đi ngược lại xu thế đối thoại về nhân quyền

QĐND – Ngày 18-4-2013, Nghị viện châu Âu, trong phiên họp hằng tháng tại Strasbourg, đã thông qua cái gọi là Nghị quyết về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Nghị quyết này, do ba nghị sĩ Helmut Scholz, Marie-Christine Vergiat và Jurgen Klute đệ trình, với những thông tin lệch lạc, đưa ra một cái nhìn bị bóp méo và những nhận định sai trái về thực tế tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Trong một bản nghị quyết có đầy rẫy những sai sót, người ta có quyền nghi ngờ về tính chính đáng của nghị quyết đó.

Ngay từ những dòng đầu tiên của nghị quyết này đã chứa đựng ít nhất là hai lỗi về kỹ thuật và thông tin.

Ở khoản A, nghị quyết đề cập đến “những phóng viên lỗi lạc: Nguyễn Văn Hải/Điều Cày, Tạ Phong Tần và Pan Thanh Hải”. Nhân vật Pan Thanh Hải nêu ở đây có lẽ là Phan Thanh Hải, người đã bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên sơ thẩm xét xử hình sự ngày 24-9-2012 về tội danh “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, kết án 4 năm tù, sau đó xử phúc thẩm ngày 28-12-2012, giảm án xuống còn 3 năm tù do thái độ ăn năn hối cải của bị can này.

Tên của nhân vật không nắm rõ và vấn đề mà họ đưa ra cũng không chính xác.

Chẳng biết vì lẽ gì mà tác giả của bản nghị quyết này lại dùng từ “nhà báo kiệt xuất” (hay nổi tiếng?) để gán cho ba nhân vật Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải.

Thực tế, cả ba vị này chỉ là những người viết blog trên mạng, Nguyễn Văn Hải thì có biệt danh (nickname) “Điếu cày”, Phan Thanh Hải có nickname “Anhbasaigon”, còn Tạ Phong Tần có nickname “Công tằng”. Đó là những nickname mà bất cứ người nào viết trên mạng cũng có. Nhưng viết trên mạng đâu có phải đã là “nhà báo”. Có phải cứ lập ra một blog, muốn viết gì thì viết trên đó, bất chấp đúng sai, xấu tốt, thì đương nhiên được tự phong làm “nhà báo” chăng?

Còn tính từ “kiệt xuất” hay “nổi tiếng” ở đây, làm sao các nghị sỹ của Nghị viện châu Âu lại dùng một cách dễ dãi thế. Kiệt xuất hay nổi tiếng ở đây là dựa trên căn cứ nào? Vì hành động chống lại đất nước mà họ đang sống chăng? Vì họ đi ngược lại lợi ích của dân tộc mình chăng?

Những điều khoản sau đó của nghị quyết cũng có nhiều nội dung lắp ghép khiên cưỡng, sai lệch và thậm chí, bị bóp méo với dụng ý thiếu thiện chí.

Chẳng hạn 14 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử tội danh Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân theo Điều 79, Bộ luật Hình sự thì được nghị quyết của Nghị viện châu Âu liệt vào diện “14 nhà hoạt động dân chủ” bị kết án tù do “thực hiện quyền tự do thể hiện quan điểm”!

Tự do thể hiện quan điểm kiểu gì khi mà có bằng chứng rõ ràng cho thấy các bị cáo đã tham gia các khóa huấn luyện đấu tranh lật đổ do Việt Tân tổ chức ở Thái Lan, Cam-pu-chia, Phi-lip-pin và Mỹ từ năm 2010?

Những người này cũng đã nhận tiền của Việt Tân để tiến hành các hoạt động lật đổ ở Việt Nam. Mà Việt Tân là một tổ chức như thế nào?

Thực chất, đây chính là một tổ chức có trụ sở tại Mỹ hoạt động theo đúng nghĩa “khủng bố”, một khái niệm mà có lẽ các nhà làm luật của châu Âu không xa lạ gì!

Những hoạt động đó là lén lút đưa súng đạn, chất nổ, mìn, lựu đạn, tiền giả, ma túy… từ nước ngoài về Việt Nam để tiến hành các hoạt động gây rối xã hội, đặt chất nổ, gây thương vong, khủng bố người dân, khủng bố chính quyền.

Đến khi Mỹ và Việt Nam bình thường hóa quan hệ, đánh hơi thấy việc chính quyền Mỹ có thể sẽ quay sang quyết liệt chống các hoạt động khủng bố, thì tổ chức này cũng vội vã đổi màu như tắc kè, tuyên bố không tiến hành các hoạt động bạo lực giết người nữa mà chuyển sang đấu tranh “bất bạo động”! Không lẽ chỉ bằng vài lời tuyên bố màu mè, người ta có thể tin vào việc một tổ chức như Việt Tân sẽ thay đổi bản chất của một tổ chức khủng bố?

Mà tổ chức khủng bố thì dù ở bất cứ đâu trên thế giới này cũng phải bị lên án, các hoạt động khủng bố phải bị trừng phạt theo luật định. Có lẽ các nhà làm luật ở Nghị viện châu Âu quá hiểu nguy cơ của các hành động khủng bố, mới nhất là vụ đánh bom kép ở thành phố Bô-xtơn nước Mỹ khiến 3 người thiệt mạng, hàng trăm người khác bị thương. Vậy sao lại có thể đánh tráo khái niệm, biến những người có liên quan đến tổ chức khủng bố thành “nhà hoạt động dân chủ” được?

Trong nghị quyết của Nghị viện châu Âu cũng đề cập đến “một nhóm 22 nhà hoạt động môi trường hòa bình” bị kết án tù. Có lẽ những người soạn thảo nghị quyết muốn nói đến các thành viên của cái chi phái tôn giáo tự đặt tên là Hội đồng Công luật Công án Bia Sơn, bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên kết án về tội lật đổ chính quyền nhân dân.

“Nhà hoạt động môi trường hòa bình” kiểu gì mà đặt ra hẳn cương lĩnh lật đổ chính quyền sở tại để lập ra một nhà nước mới là Đại Nam Kinh Châu, có hẳn bộ khung của chính quyền trung ương, có quốc ca, quốc kỳ, thủ đô, thậm chí sắc phong cho 72 tướng lĩnh!

Chỉ mới xét qua vài nội dung trong bản nghị quyết của Nghị viện châu Âu như trên cũng đủ thấy hàng loạt thông tin, khái niệm đã bị bóp méo, làm cho sai lệch. Thử hỏi một bản nghị quyết như thế có giá trị hay không?

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người, được dư luận thế giới, các tổ chức quốc tế công nhận. Giữa Việt Nam và EU cũng đã đạt được thỏa thuận về việc tổ chức đối thoại về quyền con người hai lần trong một năm, tạo cơ sở để hai bên đi tới đồng thuận về các giá trị nhân quyền.

Trong bối cảnh đó, nghị quyết mới của Nghị viện châu Âu về nhân quyền ở Việt Nam đã đi ngược lại xu thế đối thoại thẳng thắn, cởi mở giữa Việt Nam và các cơ chế của EU trong lĩnh vực quyền con người.

PHAN BÁ THỌ
qdnd.vn

Bài học về xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho quân đội

Ký ức và hiện tại

Xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho quân đội là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần to lớn nâng cao sức mạnh tổng hợp của quân đội, đảm bảo cho quân đội chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn cán bộ, chiến sĩ ta: “Phải nêu cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, có quyết tâm thì làm việc gì cũng được” và “Có quyết tâm, có sáng kiến thì khó khăn mấy cũng giải quyết được; và nhiều khi chuyển thế bại thành thế thắng”. Thực hiện lời dạy của Người, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã nêu cao ý chí quyết tâm chiến đấu trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy hy sinh gian khổ làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975.

Thực tế lịch sử đương thời chỉ rõ đế quốc Mỹ là kẻ thù rất nguy hiểm, có sức mạnh gấp nhiều lần những kẻ thù mà nhân dân ta đã gặp. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nước Mỹ nổi lên thành cường quốc số một, làm “chúa tể” thế giới tư bản. Trên thế giới lúc bấy giờ tư tưởng phục Mỹ, sợ Mỹ lan tràn ở nhiều nơi. Khi ta bắt đầu tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, có nhiều người đồng tình ủng hộ, song cũng không ít kẻ cho ta là phiêu lưu mạo hiểm, “lấy trứng chọi đá”. Đặc biệt, khi Mỹ đưa quân viễn chinh ào ạt vào xâm lược miền Nam và dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc, rất nhiều người có thiện chí đã tỏ ra lo ngại rằng đất nước ta sẽ bị sức mạnh của Mỹ đè bẹp. Trước một kẻ thù có ưu thế vượt trội so với ta cả về kinh tế, khoa học và công nghệ, vũ khí và trang bị kỹ thuật quân sự, vấn đề lớn bức bách nhất đặt ra trước dân tộc ta là: “Ta có dám đánh Mỹ và thắng Mỹ để giải phóng nửa nước còn lại, thống nhất Tổ quốc không?”. Ngay từ đầu Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyết tâm đánh Mỹ, không mơ hồ, ảo tưởng về bản chất và âm mưu xâm lược của Mỹ. Nhờ có quyết tâm đó, ta đã vượt qua những khó khăn, trở ngại ở trong nước và quốc tế lúc bấy giờ để tìm ra biện pháp thích hợp khởi đầu cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam kịp với đòi hỏi của tình hình thực tiễn.

Quyết đánh, quyết thắng đế quốc Mỹ là quyết tâm của Đảng, cũng là quyết tâm của toàn quân và toàn dân, của cả dân tộc Việt Nam, với ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi là “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá nhưng nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ được bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường bất khuất, ý thức làm chủ vận mệnh đất nước của người Việt Nam, được hun đúc tự ngàn xưa. Mỗi khi Tổ quốc lâm nguy, dân tộc ta triệu người như một, sẵn sàng đứng lên chống giặc, cứu nước. Quyết tâm ấy được thể hiện rõ nét trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng tình hình lực lượng so sánh giữa ta và địch. Đảng ta xem xét so sánh lực lượng theo quan điểm tổng hợp, phân tích tình hình của ta và địch một cách toàn diện trong quá trình vận động phát triển. Chúng ta xem xét cả chính trị và quân sự, kinh tế và văn hoá xã hội, vật chất và tinh thần, số lượng và chất lượng, thế, lực và thời cơ, điều kiện khách quan và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, nghệ thuật tác chiến, tình hình trong nước ở cả hai miền Nam, Bắc; tình hình khu vực và thế giới… Chính nhờ quyết tâm đánh thắng Mỹ, ngụy được xây dựng trên cơ sở khoa học mà nó đã trở thành phương châm chỉ đạo đúng đắn, bảo đảm cho quân đội ta càng đánh, càng mạnh và giành thắng lợi to lớn.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang sản xuất, sử dụng các loại vũ khí công nghệ cao với tính chất ác liệt và hủy diệt ngày càng lớn trong các cuộc chiến tranh, gây ra tư tưởng, tâm lý lo lắng trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ quân đội. Phát huy tinh thần của Đại thắng mùa Xuân 1975 trong việc xây dựng ý chí quyết tâm của quân đội và nhân dân đảm bảo đánh thắng chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trước hết, lãnh đạo, chỉ huy và cơ quan chức năng các cấp trong quân đội cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị làm cho cán bộ, chiến sĩ có giác ngộ sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mình trong thực hiện nhiệm vụ.

Công tác giáo dục chính trị, cần chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của dân tộc, truyền thống quyết chiến, quyết thắng của quân đội ta; xây dựng lòng tự hào, ý thức tự tôn dân tộc. Đồng thời, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta. Trong tình hình hiện nay, công tác giáo dục chính trị cần đi sâu nghiên cứu và làm cho bộ đội nhận thức sâu sắc bản chất, đặc điểm tính chất của cuộc chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao và ảnh hưởng của nó tới ý chí quyết tâm chiến đấu của quân đội ta. Giáo dục cho bộ đội có quan điểm biện chứng trong xem xét, đánh giá tình hình, thấy được những điểm mạnh, những hạn chế của vũ khí công nghệ cao và cách đánh của ta, trên cơ sở đó củng cố quyết tâm, xây dựng niềm tin chiến thắng, làm cho bộ đội tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp đổi mới đất nước; tin vào sức mạnh của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, tin vào lực lượng, vũ khí trang bị và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Cùng với đổi mới công tác giáo dục chính trị, phải nâng cao chất lượng công tác huấn luyện quân sự, diễn tập tổng hợp làm cho bộ đội có trình độ tác chiến giỏi và khả năng sử dụng thành thạo các loại vũ khí trang bị, phương tiện kỹ thuật quân sự. Xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu bao giờ cũng đặt trong mối quan hệ biện chứng với các yếu tố khác. Nếu cán bộ, chiến sĩ không có kỹ năng chiến đấu, không có trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự hiện đại, không có sức khỏe tốt… thì ý chí quyết tâm của họ không thể duy trì thường xuyên, liên tục và đạt hiệu quả cao. Hồ Chí Minh khẳng định: “Phải có quyết tâm đánh, mà đã đánh phải có quyết tâm đánh thắng” và Người chỉ rõ: “Vấn đề là ở chỗ tinh thần của con người phải truyền qua súng, tức là làm sao phải có kỹ thuật giỏi” Hiện nay cần không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, thực hiện đúng phương châm, phương hướng huấn luyện. Đặc biệt, trong huấn luyện phải tập trung làm cho bộ đội nắm vững tính năng, tác dụng, sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị hiện có, nhất là những vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại. Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật tìm ra nhiều cách đánh hay, phù hợp, có hiệu quả. Tích cực đưa bộ đội vào hoạt động thực tiễn, huấn luyện, diễn tập sát thực tế chiến đấu. Trong thời bình cần phải tăng cường tạo ra nhiều tình huống khó khăn, gian khổ để bộ đội có điều kiện thử thách lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm của mình. Kiên quyết đấu tranh chống bệnh “thành tích”, bệnh “hình thức”, chất lượng huấn luyện không thực chất, không sát tình huống chiến đấu.

Tiến sĩ ĐẶNG SỸ LỘC
qdnd.vn

Trên những tuyến đường ra mặt trận

Ký ức và hiện tại:

Một ngày cuối tháng 3, giữa lúc quân và dân cả nước đang tưng bừng với hàng loạt các hoạt động hướng tới kỷ niệm 35 năm Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, trong ngôi nhà nhỏ ở phường Lê Mao, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, chúng tôi gặp nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Thị Hiền, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 202 – thuộc Tổng đội TNXP Nghệ An.

Nhắc lại những trang sử hào hùng của dân tộc, nữ Anh hùng Hồ Thị Hiền hồi tưởng: Vào đúng dịp sinh nhật lần thứ 79 của Bác Hồ (19-5-1969), đơn vị của chị được lệnh lên đường chi viện cho chiến trường Quảng Trị, Quảng Bình… Ở chiến trường, Đại đội 202 của chị được giao nhiệm vụ gùi hàng. Trên vai mỗi chiến sĩ TNXP ít nhất là 40kg hàng, một ngày hành quân không dưới 35km. Trên các cung đường lúc bấy giờ, máy bay Mỹ bắn phá ác liệt, nên đại đội phải tổ chức vận chuyển hàng hoá, vũ khí, đạn dược vào ban đêm. Đại đội trưởng Hồ Thị Hiền đã có sáng kiến dán giấy trắng vào lưng người đi trước để người đi sau nhìn rõ, bám theo nhau, giữ vững đội hình. Ngày 16-7-1969, trên đường từ Hướng Hoá đi Quảng Trị chuyển hàng, khi trở về, đại đội của chị bị máy bay địch bắn phá ác liệt, 4 chiến sĩ TNXP đã hy sinh… Nén đau thương, toàn đơn vị phát động thi đua, suốt 100 ngày trong chiến dịch, Đại đội 202 đã gùi được 879.600kg hàng vào mặt trận an toàn, góp phần bảo đảm một khối lượng vật chất, vũ khí trang bị khổng lồ dự trữ phục vụ hoạt động tác chiến của Quân Giải phóng sau này.

Ảnh minh họa/tư liệu internet.

Đầu năm 1971, Đại đội 202 của chị vinh dự được tham gia phục vụ Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào. Lần này ngoài nhiệm vụ làm đường, lấp hố bom, đại đội còn được giao nhiệm vụ vận chuyển thương binh. Đường vào trận địa hiểm trở, phải trèo đèo, lội suối, bom đạn địch đánh phá rất ác liệt, có khi lại phải vượt qua bãi mìn. Chị Hiền chỉ huy một tổ cảm tử gồm 8 đồng chí (Hiền, Thịnh, Mận, Tân, Mai, Quý, Hoàng, Khầm) với chiếc đèn pin và tấm bản đồ lần theo đường dây điện thoại để gỡ mìn, mở tuyến. Chỉ tiêu trên giao 6 người cáng một thương binh, riêng đại đội của chị chỉ 3 người đã cáng được 1 thương binh. Đối với những thương binh nhẹ, chị hướng dẫn anh em dùng bao tượng đựng gạo buộc qua nách vai thương binh dìu đi vừa vững vàng, đỡ nhân lực lại dễ đi khi lên dốc, khi qua suối. Có lần, Đại đội TNXP 202 bị địch bao vây từ 7 giờ đến 19 giờ trong thung lũng dưới đồi Tà Cơn, máy bay Mỹ đánh phá ác liệt, bom đạn giội xuống như mưa. Tất cả mọi người đều đói và khát, trong khi bị mất liên lạc với cấp trên. Chị Hiền vẫn bình tĩnh chỉ huy đơn vị và lao xuống từng hầm, từng tiểu đội động viên anh chị em: Dù đói, khát cũng không được đỏ lửa, phải dùng thức ăn khô và một ít nước dung dịch cho từng đồng chí lấy sức để đào hào nối liền các tiểu đội với chỉ huy đại đội. Đồng thời các chiến sĩ trong đơn vị dùng gậy chống, đòn khiêng thương binh vót nhọn và xẻng chuẩn bị sẵn sàng, nếu địch đổ bộ xuống thì phải chiến đấu đến cùng, bảo vệ thương binh…

Cuối năm 1972 đầu năm 1973, đơn vị được giao nhiệm vụ đảm bảo giao thông đoạn qua phà Quán Hàu. Mặc dù đơn vị có nhiều đồng chí bị thương vong trong các trận đánh, nhưng toàn đơn vị đã bảo đảm đường không bị tắc, những đoàn xe nối đuôi nhau chở hàng vào tiền tuyến. Đã 3 lần Đại đội 202 đã làm lễ truy điệu sống cho chị Hiền, trước khi chị trực tiếp phá bom nổ chậm, và cả ba lần chị đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, mạch máu giao thông được thông suốt. Sau những ngày lao động, chị tổ chức, động viên anh chị em học tập văn hoá, luyện tập quân sự. Kết quả, khi chiến tranh kết thúc 100% anh chị em mù chữ trong đại đội đều biết đọc, biết viết, trong đó có 93 đồng chí tốt nghiệp cấp 1 chuyển lên cấp 2.

Tháng 7 năm 1993 khi đã về nghỉ hưu, mặc dù sức khoẻ không được tốt nhưng chị vẫn tham gia hoạt động đoàn thể, hiện chị vẫn giữ cương vị là Trưởng ban liên lạc của Đội TNXP Trường Sơn, Chủ tịch Hội Cựu TNXP phường Lê Mao, Trưởng ban liên lạc truyền thống Đội 241 TNXP, tổ phó tổ dân cư trên địa bàn chị sinh sống. Người chồng thương yêu của chị đã ra đi về cõi vĩnh hằng, giờ chỉ có chị và 1 cô con gái chưa lập gia đình sống cùng, còn 2 người con trai đi lập nghiệp xa nhà. Chị dành tất cả tình yêu thương cho con cái và những người đồng đội cũ. Chị Hiền tâm sự với chúng tôi: “Điều mong mỏi nhất của tôi lúc này là Đại đội 202 – N241 – P31 Tổng đội TNXP Nghệ An được Đảng, Nhà nước xét tặng danh hiệu Đơn vị anh hùng LLVT nhân dân, bởi đó là một đơn vị có bề dày chiến công; là niềm tự hào của một thế hệ chiến sĩ TNXP Nghệ An trên những tuyến đường ra mặt trận, là nơi chúng tôi đã hiến dâng cả tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc”.

Từ nhiệm vụ vận chuyển bảo đảm cơ sở vật chất, vũ khí đạn dược trong khoáng chiến chống Mỹ nói chung, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nói riêng, nữ Anh hùng LLVT nhân dân Hồ Thị Hiền và các cựu TNXP Tổng đội TNXP tỉnh Nghệ An cũng trăn trở nhiều điều về công tác bảo đảm hậu cần trong chiến tranh hiện đại nếu xảy ra. Theo các anh, các chị, khi kẻ thù mạnh hơn ta cả về quân sự, kinh tế, ta muốn giành chiến thắng thì phải chủ động tiến hành công tác chuẩn bị thật chu đáo. Phải động viên, phải huy động được sức mạnh của toàn dân, sức mạnh của cả nước cho nhiệm vụ quan trọng này. Chiến tranh trong tương lai (nếu xảy ra) có thể là chiến tranh không phân tuyến, tiền tuyến – hậu phương không rõ ràng như trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Vì thế, việc xây dựng các căn cứ hậu cần tại chỗ cần được đặc biệt quan tâm. Còn về công tác vận tải, theo chị Hiền và các anh, các chị cựu thanh niên xung phong Đội N241, cùng với xây dựng các đơn vị vận tải hiện đại, vẫn không thể bỏ được lực lượng cơ động vận tải thô sơ. Với đặc điểm địa hình và cách đánh truyền thống của ta, dù phương thức tác chiến có thay đổi như thế nào chăng nữa thì lực lượng gùi thồ vẫn phát huy tốt tác dụng.

Ngô Thị Nga
qdnd.vn

Nội dung cần ngắn gọn, súc tích nhưng lời văn phải trong sáng dễ hiểu

Đó là ý kiến của GS.TS Nguyễn Văn Hiệp – Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo CAND xung quanh việc góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

PV: Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đang được tổ chức lấy ý kiến đóng góp rộng rãi các tầng lớp nhân dân, Giáo sư có thể cho biết Viện Ngôn ngữ học đã có sự tham gia đóng góp như thế nào vào Dự thảo?

GS.TS Nguyễn Văn Hiệp: Thực hiện sự chỉ đạo của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, ngày 4/3 vừa qua, Viện chúng tôi cũng đã triển khai Hội nghị lấy ý kiến góp ý cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đến tất cả các phòng, trung tâm trực thuộc Viện.

Cá nhân tôi và 100% cán bộ viên chức trong Viện đều nhất trí rằng Dự thảo cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn và định hướng phát triển của đất nước, giải quyết những vấn đề vướng mắc, bất cập còn tồn tại của thực tiễn trong quá trình thực thi Hiến pháp 1992.

Nội dung của Dự thảo cũng thể hiện sự phù hợp với luật pháp quốc tế, đáp ứng nhu cầu và xu thế hội nhập với thế giới hiện nay. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp bao gồm: Lời nói đầu, 11 Chương, 124 Điều. So với Hiến pháp năm 1992 giảm một Chương, 23 Điều.

Trong số 11 Chương của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp có một Chương hoàn toàn mới:  Chương X: Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử Quốc gia, Kiểm toán nhà nước. Trong số 124 Điều của dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 có tới 11 Điều được viết hoàn toàn mới, 102 Điều sửa đổi bổ sung. Điều này cho thấy việc Hiến pháp lần này được sửa đổi và bổ sung khá toàn diện.

PV: Qua nghiên cứu các bản Hiến pháp từ trước đến nay, Giáo sư có thể đưa ra một sự so sánh về văn phong, ngôn ngữ và cách hành văn của các bản Hiến pháp?

GS.TS Nguyễn Văn Hiệp: Trước năm1945, Việt Nam không có Hiến pháp. Từ sau khi thành lập nhà nước cộng hòa đầu tiên cho đến nay đã có 4 bản Hiến pháp được ra đời, đó là các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 (được sửa đổi vào năm 2001). Mỗi bản Hiến pháp đều ghi nhận những thành quả cách mạng to lớn mà nhân dân Việt Nam đã đạt được, tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển đất nước.

Hiến pháp năm 1946 bao gồm lời nói đầu và 7 chương, 70 điều được viết theo tư tưởng pháp quyền. So với 3 bản Hiến pháp còn lại thì đây là bản Hiến pháp chứa đựng các câu văn ngắn gọn, mạch lạc, từ ngữ giản dị, dễ hiểu. Các điều khoản rõ ràng, khúc chiết không mập mờ khó hiểu. Các điều khoản ngắn gọn nhưng chứa đựng nhiều ý.

Ngay từ Lời nói đầu đã thể hiện lời văn trong sáng, mạch lạc: “Cuộc Cách mạng Tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hòa. Sau tám mươi năm tranh đấu, dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi vòng áp bức của chính sách thực dân, đồng thời đã gạt bỏ chế độ vua quan. Nước nhà đã bước sang một quãng đường mới”.

“Với tinh thần đoàn kết, phấn đấu sẵn có của toàn dân, dưới một chính thể dân chủ rộng rãi, nước Việt Nam độc lập và thống nhất tiến bước trên đường vinh quang, hạnh phúc, cùng nhịp với trào lưu tiến bộ của thế giới và ý nguyện hòa bình của nhân loại”.

Có những điều chỉ có một câu ngắn gọn, từ ngữ bình dân ai đọc cũng có thể hiểu được. Đơn cử như Điều thứ 4: Mỗi công dân Việt Nam phải: Bảo vệ Tổ quốc; Tôn trọng Hiến pháp; Tuân theo pháp luật. Điều thứ 5: Công dân Việt Nam có nghĩa vụ phải đi lính. Điều thứ 9: Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện. Điều thứ 14: Những người công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ. Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng.

PV: Là một nhà nghiên cứu chuyên về ngôn ngữ học, Giáo sư đóng góp gì cho Dự thảo. Đặc biệt là về nội dung kỹ thuật lập hiến cũng như ngôn ngữ, lời văn trong Hiến pháp?

GS.TS Nguyễn Văn Hiệp: Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 cần ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu với đại đa số người dân nhưng vẫn phải khái quát được đầy đủ các nội dung cơ bản của Hiến pháp. Tôi xin góp ý một số ý kiến cụ thể như sau:

Về nội dung: Hiến pháp đã quy định tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia, nên thêm quy định cụ thể nhằm đảm bảo vai trò chữ quốc ngữ bên cạnh tiếng Việt. Đề nghị giữ nguyên, không nên bỏ điều 41 Hiến pháp năm 1992: “Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển thể dục thể thao; khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức thể dục, thể thao tự nguyện của nhân dân”.

Khoản 3 trong Dự thảo nên ghi rõ “vai trò lãnh đạo của Đảng được đảm bảo bằng pháp luật và do luật định”. Như vậy sự lãnh đạo của Đảng sẽ có giá trị về mặt pháp lý và thể hiện trước pháp luật về hành động của các tổ chức Đảng và đảng viên, đồng thời sẽ đảm bảo sự minh bạch về chính trị trong vai trò lãnh đạo của Đảng và hạn chế những tiêu cực trong Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 đã nêu.

Nên mở rộng quyền giám sát, phản biện cho tổ chức Mặt trận để góp phần xây dựng chính quyền vững mạnh. Cần bổ sung và làm rõ thẩm quyền của Chủ tịch nước trong giám sát hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng bởi đây là các chức danh do Chủ tịch nước giới thiệu để Quốc hội bầu.

Chủ tịch nước cũng phải có quyền triệu tập (chứ không phải yêu cầu như dự thảo ghi) Chính phủ và Thủ tướng họp bàn những vấn đề liên quan. Cần tiến hành một số cải cách như quy định người dân được bầu trực tiếp Chủ tịch nước, nhất thể hóa vai trò Tổng Bí thư và Chủ tịch nước…

Về hình thức: Lời nói đầu như trong bản Hiến pháp 1992 về cơ bản đầy đủ, sâu sắc, trong đó có quy định về chế độ chính trị. Tuy nhiên, nên viết cho mạch lạc hơn, nên bổ sung thêm sự khẳng định rõ độc lập, chủ quyền của dân tộc ta và mục tiêu xây dựng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

Một số điều nên bổ sung làm cho rõ, ví dụ: Điều 15 nên bổ sung làm rõ “quyền con người” và “quyền công dân” là gì. Điều 16: Khoản 1, nên bổ sung cụm từ “chính đáng và hợp pháp” sau từ “quyền”: “Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền chính đáng và hợp pháp của người khác”.

Điều 32: Khoản 2 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp quy định: “Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm”. Trước hết về mặt thuật ngữ, quy định “Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” rất dễ bị hiểu nhầm. Vì tội phạm là một khái niệm được quy định trong Bộ luật Hình sự, ví dụ: tội trộm cắp tài sản; tội vu khống; tội nhận hối lộ…

Do đó để cho người dân dễ hiểu hơn thì quy định này nên viết là: “Không ai bị kết án hai lần về một hành vi phạm tội”.

Điều 39: Nên bổ sung thêm quyền kết hôn đồng giới. Điều 66 về quyền của người khuyết tật là “được học văn hóa và học nghề” là chưa đầy đủ. Họ cũng có đầy đủ quyền công dân và được Đảng, Nhà nước đối xử công bằng. Vì vậy, nên sửa thành “được học theo nhu cầu” để không giới hạn nhu cầu học tập, nghiên cứu của người khuyết tật, giống như các công dân khác.

Ngoài ra, trong chương II, tại một số điều khoản, khi thì dùng từ “mọi người”, khi thì dùng “công dân”, vậy cũng cần làm rõ “mọi người” bao gồm những đối tượng nào. Điều 75: Khoản 1 có quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội trong đó có dùng từ “làm” chưa phù hợp với văn phong khoa học: Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật. Đề nghị sửa lại: “… Soạn thảo, ban hành và sửa đổi Hiến pháp; soạn thảo, ban hành và sửa đổi luật”.

Sử dụng các cụm từ, thuật ngữ nên thống nhất ví dụ như: theo luật định, do luật định, cách dùng từ công dân, mọi người, theo pháp luật/ theo quy định của luật /theo quy định của pháp luật/theo luật định (điều 11, 22, 24, 26, 31, 32, 54, 56, 57, 58, 59, 101, 105, 110, 113, 114); do Hiến pháp và luật quy định/do pháp luật quy định/do luật định (điều 20, 23, 37, 48, 56, 69, 81, 107, 110, 112, 113, 114, 120, 121, 122);  theo Hiến pháp và pháp luật/theo pháp luật (điều 8, 15, 51, 64); chấp hành Hiến pháp và pháp luật/chấp hành pháp luật/thực hiện Hiến pháp và pháp luật (điều 8, 10, 84); nơi ở/chỗ ở (điều 36, 37); văn bản quy phạm pháp luật/ văn bản/văn bản pháp luật (điều 75, 79, 103, 105, 116); ban bố tình trạng khẩn cấp/công bố tình trạng khẩn cấp (điều 79, 93); Viện kiểm sát/Viện kiểm sát nhân dân (điều 114); thống nhất hay hợp nhất; với tất cả các nước/với các quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế”? (điều 12, 55)… Bên cạnh đó cần sử dụng thống nhất các hình thức chính tả, và viết hoa như: Nhà nước/nhà nước, dấu chấm/chấm phẩy sau các điều khoản.

PV: Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư về những đóng góp rất cụ thể và tâm huyết!

Xuân Luận (thực hiện)
cand.com.vn

Người dân tin tưởng, phấn khởi tham gia xây dựng Hiến pháp

Một khí sắc mới, rất tâm huyết và trí tuệ, đang dâng lên từ cuộc sinh hoạt chính trị lớn – toàn dân tham gia góp ý sửa đổi Hiến pháp, đưa công cuộc đổi mới tới một bước phát triển mới về chất.

Từ từng hộ gia đình, người dân ở những làng quê đến từng cơ quan, tổ chức, người Việt Nam ta đã và đang tin tưởng, phấn khởi tham dự nhiều cuộc hội nghị, hội thảo, tọa đàm góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 – cuộc kiến tạo lớn để thiết kế một đạo luật gốc cho Nhà nước và xã hội Việt Nam.

Sửa đổi Hiến pháp – một việc hệ trọng của đất nước, thu hút trí tuệ, lay động nhận thức, cổ vũ tinh thần, khích lệ hành động công nhân, nông dân, trí thức và chiến sĩ cả nước thắp lên niềm hy vọng lớn về tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam. Sức mạnh của trí tuệ Việt Nam không chỉ tham gia góp ý kiến đối với Hiến pháp và thi hành Hiến pháp mà còn chủ động phản bác những tiếng nói lạc lõng chống lại Hiến pháp.

Chúng ta biết rằng hoạt động lập hiến không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của một cá nhân, tổ chức nào mà xuất phát từ nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật của các quan hệ xã hội, tuyệt nhiên không được tùy tiện, hết sức tránh những tác động khiến người ta dè dặt, thậm chí muốn né tránh một số chủ đề “nhạy cảm”.

Quy luật cũng như thực tiễn cho thấy quá trình xây dựng Hiến pháp cũng là quá trình các thế lực thù địch, phản động tập trung tấn công vào cách mạng nước ta quyết liệt nhất. Nhìn lại lịch sử lập hiến của nước ta, bản Hiến pháp năm 1946 vẫn mãi là một bản Hiến pháp tiến bộ, nhưng lại phải ra đời trong điều kiện kẻ thù rắp tâm phá hoại, đất nước trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.

Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, đồng bào vui sướng được hưởng quyền lợi của người dân độc lập, tự do. Với ý chí sắt đá của một dân tộc quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do vừa mới giành được, trong niềm vui háo hức, toàn thể nhân dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, già trẻ đã dành trọn một ngày – ngày lịch sử vĩ đại 6-1-1946, toàn dân đi bỏ phiếu.

Tinh thần đó, đã mang lại kết quả 89% tổng số cử tri trên cả nước đi bỏ phiếu, nhiều địa phương có số cử tri đi bỏ phiếu đạt 95%. Hiến pháp năm 1946 là một bản Hiến pháp mẫu mực trên nhiều phương diện, không kém một bản Hiến pháp nào trên thế giới, là hiện thực sống động về thể chế nhà nước cộng hòa, dân chủ – một loại hình nhà nước pháp quyền cách mạng của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Ngày nay, ý chí và nguyện vọng của nhân dân đang được thể hiện sâu sắc trong quá trình góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 1992, đâu đó vẫn còn những kẻ xấu muốn đẩy sự bình yên của Tổ quốc ta vào rối loạn để rồi nhân dân phải chịu mọi hậu quả. Nhân dân là cái cớ để họ tranh giành ảnh hưởng trong cái gọi là “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”.

Qua các thời kỳ kiến quốc, nước ta đã có 4 bản Hiến pháp và hiện nay là dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Nguồn sức mạnh lớn nhất vận hành sự nghiệp vĩ đại ấy chính là ý chí và trí tuệ Việt Nam. Sự gắn kết của khối đại đoàn kết dân tộc xung quanh hạt nhân lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam đang thắp lên niềm tin lớn về một bản Hiến pháp sửa đổi hướng đến mục tiêu cao cả là tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Nhân dân là chủ thể sáng tạo ra Hiến pháp, vừa ủy quyền cho Quốc hội lập hiến, vừa tham gia góp ý kiến vào quá trình xây dựng Hiến pháp, đồng thời nhân dân là chủ thể lớn nhất thực hiện Hiến pháp, phát hiện những điểm chưa phù hợp của Hiến pháp khi đưa vào cuộc sống. Khi nhân dân nhận thức rõ âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng do Đảng ta lãnh đạo thì không một thế lực nào có thể làm quần chúng nhân dân quay lưng lại với Đảng, với chế độ XHCN, với Hiến pháp.

Và ngược lại thì dù Quân đội, Công an có hùng mạnh, tinh nhuệ đến đâu cũng không cứu vãn được tình hình và chệch hướng, sụp đổ là tất yếu. Chúng ta cần nghiêm túc suy nghĩ, đánh giá khách quan những biến động chính trị – xã hội ở Liên Xô, Đông Âu trong những năm 1989-1991.

Vào những ngày này, các thế lực thù địch cũng đang ra sức truyền bá quan điểm “trung lập hóa lực lượng vũ trang”, về thực chất là lôi kéo Quân đội, Công an xa rời lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và CNXH, vì hạnh phúc của nhân dân, tách Quân đội, Công an ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, hòng xóa bỏ những điều cơ bản trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Hãy cảnh giác và không bao giờ chấp nhận quan điểm đó, bởi đó là nguyên nhân đưa đất nước lâm vào khủng hoảng chính trị – xã hội

Hoàng Tương
cand.com.vn