Ngày 27 tháng 9, Cán bộ phải kết hợp được với quần chúng
Ngày 26 tháng 9: “Chúng ta là một dân tộc văn minh”
Những trận đánh quyết định tiến về Sài Gòn
Có thể nói, để tiến vào giải phóng Sài Gòn ngày 30.4.1975, đòn quyết định là chiến thắng ở 2 mặt trận Phan Rang và Xuân Lộc.
Kể từ sau chiến dịch Tây Nguyên tháng 3.1975, quân ta giải phóng Buôn Ma Thuột, đánh tan toàn bộ Quân đoàn 2 của ngụy. Trên đà thắng lợi, quân ta thần tốc mở cuộc tấn công Huế, Đà Nẵng. Ngày 29.3, chỉ sau 18 ngày địch bị thất thủ tại Buôn Ma Thuột, toàn bộ Huế, Đà Nẵng đã được giải phóng, 10 vạn sỹ quan và binh lính địch ra hàng. Đây là hai đòn giáng cực mạnh vào tinh thần binh lính Sài Gòn.
Hòng cứu vãn tình thế, quân ngụy lập 2 phòng tuyến: Phan Rang và Xuân Lộc. Phòng tuyến Phan Rang giao cho Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi chỉ huy. Phan Rang cách Sài Gòn 361km về phía đông bắc, có Quốc lộ 1 và đường sắt xuyên Việt đi qua. Đây là lá chắn phía đông, hỗ trợ phòng ngự cho cụm cứ điểm Xuân Lộc và che chở từ xa cho Sài Gòn. Bọn chúng tập trung ở đây một lực lượng khá đông, gồm Sư đoàn 2 bộ binh, Lữ đoàn 2 lính dù và 3 tiểu đoàn dù được điều từ Sài Gòn ra. Mấy ngày sau, chúng còn được tăng cường 1 tiểu đoàn dù nữa. Về hỏa lực, 2 tiểu đoàn pháo binh và một số pháo do Quân đoàn 3 ngụy điều động đến. Phòng tuyến Phan Rang còn rất mạnh với Sư đoàn 6 không quân gồm hơn 150 máy bay.

Bản đồ trận Xuân Lộc
Ngày 16.4.1975, quân ta tấn công vào căn cứ không quân Phan Rang và trung tâm thị xã. Pháo lớn của ta bắn cấp tập vào các vị trí phòng ngự vòng quanh căn cứ không quân, đồng thời bắn phá dồn dập vào khu vực máy bay của địch đậu và đường băng để không cho máy bay chiến đấu của ngụy cất cánh. Cùng lúc đó, quân ta tấn công mạnh vào thị xã Phan Rang bằng ba hướng. Lần lượt các tuyến phòng thủ của ngụy bị chiếm. Một trung đoàn quân ta được lệnh cắt đứt đường giao thông trên Quốc lộ 1 ở khu vực Cà Ná cách thị xã Phan Rang khoảng 48km về hướng tây nam nhằm chặn đường rút của tàn quân ngụy.
Ngay từ những loạt đạn đầu tiên của quân ta, bọn ngụy vô cùng hoảng hốt, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi vội vã họp với Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân và Chuẩn tướng Trần Văn Nhật, Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh để bàn kế hoạch rút quân. Hệ thống truyền tin của địch bị pháo ta bắn trúng nên quân ngụy không liên lạc được với Bộ Tư lệnh chính của Quân đoàn 3 đóng tại Biên Hòa, cũng như Bộ Tổng tham mưu ở Sài Gòn. Đến trưa ngày 16.4.1975, quân ta hoàn toàn làm chủ thị xã Phan Rang. Phòng tuyến Phan Rang mà bọn ngụy hy vọng sẽ chặn đứng bước tiến của quân ta đã bị đập tan chỉ trong một ngày. Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang không kịp lên máy bay trực thăng, bị quân ta bắt sống. Riêng Chuẩn tướng Trần Văn Nhật đượåc trực thăng chở đỗ xuống tàu Hải quân, ông dùng máy truyền tin của Hải quân báo cáo về Sài Gòn, khi ấy bọn ngụy quyền chóp bu ở Sài Gòn mới biết tin Phan Rang thất thủ.
Ở Xuân Lộc, thuộc tỉnh Đồng Nai ngày nay, cách Sài Gòn 60km về phía đông bắc, bọn ngụy tập trung Sư đoàn 18 bộ binh còn nguyên vẹn, Lữ đoàn 5 tăng thiết giáp, 4 tiểu đoàn bảo an, 2 tiểu đoàn pháo binh với 42 khẩu pháo các loại, trong đó có 2 khẩu M107 175mm, 2 liên đoàn dân vệ. Tổng số quân phòng thủ Xuân Lộc khoảng 25.000 người. Chính quyền Sài Gòn giao cho Chuẩn tướng Lê Minh Đảo chỉ huy. Quân ta tấn công Xuân Lộc ngày 9.4.1975, những ngày đầu gặp bất lợi do địa hình Xuân Lộc tiện cho việc phòng thủ, ngoài ra địch lại tập trung rất đông quân ở đây. Bọn ngụy còn dùng cả bom CBU-55, một trong những loại vũ khí có sức hủy diệt hàng loạt, ném xuống xã Xuân Vinh, sát thị xã Xuân Lộc, gây thương vong hơn 200 quân ta và dân thường. Sau 4 ngày chiến đấu, quân ta tạm ngừng tấn công Xuân Lộc để củng cố lực lượng, đánh giá tình hình và thay đổi chiến thuật. Bọn ngụy mừng rỡ, tưởng rằng đã bẻ gãy được cuộc tiến công của ta, chúng huênh hoang tuyên bố, “khả năng chiến đấu của quân lực Việt Nam cộng hòa đã phục hồi” và “đủ mạnh để giữ vững chế độ”.
Tuy nhiên, đến ngày 15.4.1975, quân ta pháo kích mạnh vào sân bay Biên Hòa khiến quân ngụy không tổ chức được cuộc không kích nào. Trong ngày, quân ta đánh tan Chiến đoàn 52 và Chi đoàn thiết giáp số 13 của ngụy, phá vỡ tuyến phòng thủ phía tây Xuân Lộc. Toàn bộ chiến đoàn chỉ còn hơn 200 người sống sót. Hai ngày tiếp theo, bọn ngụy điên cuồng phản kích, sử dụng Lữ đoàn thiết giáp số 3 và Chiến đoàn 8 (sư đoàn 5) với sự yểm hộ của gần 200 phi vụ ném bom và hơn 100 khẩu pháo tại các căn cứ Nước Trong, Bà Thức, Long Bình, Đại An nhằm giải tỏa ngã ba Dầu Giây nhưng đều bị quân ta đẩy lui, tiêu hao lớn. Đến ngày 18.4.1975, khi phòng tuyến Phan Rang đã bị phá, các cánh quân ta ồ ạt tiến về bổ sung cho mặt trận Xuân Lộc, các trục lộ giao thông quan trọng nối Xuân Lộc với địa bàn xung quanh đều bị cắt đứt. Trước nguy cơ bị bao vây và tiêu diệt hoàn toàn, ngày 20.4.1975, quân ngụy bí mật rút khỏi Xuân Lộc. Vậy là “Cánh cửa thép” Xuân Lộc bị đập vỡ hoàn toàn.
Không giữ được Xuân Lộc, Sài Gòn hốt hoảng, tướng Nguyễn Cao Kỳ viết trong hồi ký: “Sỹ quan thì miệng kêu gọi lính tử chiến, nhưng lại thúc giục gia đình di tản. Tiếp theo đó là một tuần lễ cuối cùng kinh hoàng và hỗn loạn. Đến ngày 26.4, quân đội Bắc Việt đã cắt đứt Sài Gòn với đồng bằng sông Cửu Long – nơi cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm chính và nằm trong kế hoạch quân đội Sài Gòn sẽ lui về giữ đồng bằng miền Tây một khi Sài Gòn thất thủ. Thế là Sài Gòn bị cô lập”.
Chính quyền Sài Gòn khủng hoảng trầm trọng, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức (ngày 21.4). Phó tổng thống Trần Văn Hương lên nắm quyền nhưng cũng nhanh chóng phải nhường vị trí cho Dương Văn Minh – người được Mỹ hy vọng có thể đàm phán với quân đội Bắc Việt. Đến chiều 28.4, quân ta đã dùng máy bay phản lực A37 của Mỹ dội bom vào căn cứ Tân Sơn Nhất, gây hoang mang tột độ cho quân địch. Sang ngày 29.4, quân ta lại nã pháo dữ dội vào đường băng chính của sân bay Tân Sơn Nhất, kho nhiên liệu bùng cháy, nhiều máy bay trên đường băng nổ tung. Cũng theo hồi ký của tướng Nguyễn Cao Kỳ, khi ông ta đến Bộ Tổng tham mưu thì viên tướng ba sao Đồng Văn Khuyên – Tổng tham mưu trưởng chính thức vừa được Dương Văn Minh bổ nhiệm đã bỏ nhiệm sở tháo chạy và rời Sài Gòn ít giờ trước đó. Cả ngày 29.4 và sáng sớm 30.4, bầu trời Sài Gòn, trực thăng Mỹ lao vào, lao ra như con thoi để chở quan chức Mỹ di tản.
Đến 9h sáng ngày 30.4.1975, Tổng thống Chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh đã ra lệnh cho quân đội ngừng bắn để chờ quân giải phóng vào tiếp quản. Quân ta tiến vào Sài Gòn chỉ gặp vài kháng cự nhỏ lẻ của những kẻ ngoan cố. Đến 11h30 ngày 30.4, Sài Gòn giải phóng, non sông thu về một mối, chấm dứt 30 năm chiến tranh dằng dặc.
Duy Anh
daibieunhandan.vn
Không thể xuyên tạc, bóp méo thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam
Làm thất bài chiến lược “Diễn biến hòa bình”
QĐND – Lịch sử không thể thay đổi. Người ta chỉ có thể thay đổi cách nhìn nhận về lịch sử tùy theo quan điểm và lợi ích chính trị của mình mà thôi. Vì những lý do khác nhau, trong thời gian qua, không ít kẻ đã cố tình xuyên tạc, bóp méo lịch sử dân tộc ta, trong đó có ngày Chiến thắng 30-4-1975.
Trong thế kỷ XX, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, dân tộc ta đã viết nên những trang sử hào hùng trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong những trang lịch sử rực rỡ đó có thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đúng như Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã viết: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc” [1].
Nhân dân Sài Gòn vui mừng trong ngày chiến thắng. Ảnh tư liệu/internet.
Lịch sử không thể thay đổi. Người ta chỉ có thể thay đổi cách nhìn nhận về lịch sử tùy theo quan điểm và lợi ích chính trị của mình mà thôi. Vì những lý do khác nhau, trong thời gian qua, không ít kẻ đã cố tình xuyên tạc, bóp méo lịch sử dân tộc ta, trong đó có ngày Chiến thắng 30-4-1975. Có kẻ nói rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ là “nồi da, nấu thịt”, là ‘Cuộc chiến tranh của Hà Nội”, “Ngày 30-4-1975 không phải là ngày giải phóng miền Nam vì quân đội Mỹ đã rút”… Thậm chí gần đây có kẻ còn nói: “Người Mỹ không thua vì tổng số thương vong, người Mỹ bị thiệt hại ít hơn hẳn đối phương”; hay: “Cuộc chiến tranh này với mục tiêu ngăn chặn làn sóng Cộng sản ở Đông Nam Á nên không thể nói là chính phủ Mỹ thất bại”(!).
Lịch sử dân tộc ta từng ghi nhận nhiều chiến công hiển hách, đã từng đánh bại nhiều đội quân xâm lược hùng mạnh bậc nhất thế giới, nhưng chưa bao giờ dân tộc ta lại phải đương đầu với một lực lượng xâm lược ở một trình độ phát triển cao hơn mình về nhiều phương diện đến thế. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ đương nhiên không phải là một thắng lợi dễ dàng mà đây còn là cuộc đối đầu về ý chí, bản lĩnh và trí tuệ của hai bộ máy lãnh đạo chiến tranh. Để đi đến thắng lợi 30-4-1975, quân dân ta đã đánh bại 3 chiến lược chiến tranh của Mỹ và với 5 đời tổng thống Mỹ.
Vì vậy, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đã được bè bạn quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Trong điện chúc mừng thắng lợi của nhân dân ta, ngày 30-4-1975, các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Trung Quốc viết: “Thắng lợi của nhân dân Việt Nam một lần nữa chứng minh hùng hồn rằng, nhân dân một nước, dù là nhân dân một nước nhỏ, miễn là dám vùng dậy đấu tranh, dám cầm vũ khí, lấy chiến tranh chính nghĩa chống lại chiến tranh phi nghĩa, thì nhất định có thể đánh bại bất cứ kẻ thù nào… nhằm bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc, giải phóng dân tộc” [2]. Trong điện mừng của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Cu-ba, có đoạn viết: “Trong hơn 20 năm qua, toàn thể nhân dân Việt Nam ở miền Bắc cũng như ở miền Nam, với chủ nghĩa anh hùng tuyệt vời đã chiến đấu chống lại những hình thức xâm lược đế quốc tàn bạo nhất… Thắng lợi của nhân dân Việt Nam đã mở ra một giai đoạn mới cho nhân dân Việt Nam” [3].
Còn từ phía bên kia, trong cuốn hồi ký với tiêu đề “Nhìn lại quá khứ- Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam”, Robert S.McNamara, từng là Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ thời kỳ chiến tranh Việt Nam, không chỉ thừa nhận thất bại của Mỹ, coi đó là “một thảm kịch”, mà còn thừa nhận đây là cuộc chiến tranh do Hoa Kỳ gây ra do những sai lầm về chính trị của nhiều đời tổng thống! Trong những sai lầm đó có những sai lầm về: “Đánh giá sai những chủ đích địa chính trị của các đối thủ, đã phóng đại những mối nguy hại của họ đối với nước Mỹ”; rồi: “Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh tinh thần dân tộc của họ”; và: “Cách nhìn nhận của chúng ta về bạn và thù phản ánh sự dốt nát sâu sắc của chúng ta về lịch sử, văn hóa và chính trị của nhân dân Việt Nam”.[4]
Ý nghĩa và tầm vóc vĩ đại của Chiến thắng 30-4-1975 đã được lịch sử kiểm chứng sáng tỏ, rõ ràng như vậy. Nhưng thời gian gần đây, vẫn có những kẻ hoặc là thiển cận về chính trị, hoặc vì “đầu óc nô lệ” đã không thể, không muốn thừa nhận thắng lợi vĩ đại đó của dân tộc ta. Thế nên, họ cố tình lập luận một cách phi lý rằng: Những cuộc xuống đường của nhân dân Mỹ và sự nhân nhượng của Chính phủ Mỹ đâu phải là “thắng lợi của Việt Nam”(!), hay như: Thất bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (sau khi Mỹ rút dần quân đội ở chiến trường) đâu phải là trách nhiệm của quân đội Hoa Kỳ(!).
Trên thực tế, những kẻ xuyên tạc cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta không biết một điều căn bản rằng, cách nhìn nhận một cuộc chiến tranh trước hết phải bắt đầu xem xét tính chất của cuộc chiến tranh đó, tức bên nào là chính nghĩa, bên nào là phi nghĩa. Trong cuộc chiến tranh này không chỉ là cuộc chiến tranh giữa hai quốc gia mà còn là cuộc đấu tranh giữa hai phía: Chính nghĩa và phi nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị, cuộc kháng chiến của dân tộc ta đã làm rõ ý nghĩa, giá trị của chính nghĩa trong việc huy động sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại như thế nào. Bởi vậy, không phải là không có lý khi nhiều nhà nghiên cứu chiến tranh Việt Nam đã thừa nhận rằng, lực lượng hiếu chiến, chống cộng Mỹ “đã thua Việt Nam ngay trên đất nước mình”. Còn ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Thủ tướng chính quyền Sài Gòn sau 30 năm chiến tranh kết thúc, năm 2004, lần đầu tiên trở về quê hương đã nhìn nhận về chính quyền cũ như sau: “Quân đội miền Nam không có ai đáng giá cả, kể từ ông Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống kiêm Tổng tư lệnh trở xuống. Trong số những vị cùng vai với tôi, cứ mười ông thì đến mười một ông tham sống sợ chết!”. [5]
Tôn trọng tính chân thực của lịch sử ngày nay không chỉ vì bảo vệ các giá trị của dân tộc mà còn để bảo đảm sự công bằng đối với các thế hệ đi trước. Đồng thời còn giúp cho các thế hệ sau nắm bắt được những bài học quý báu của thế hệ cha anh. Tôn trọng lịch sử không chỉ là vấn đề chính trị mà còn là vấn đề đạo đức. Vì vậy chúng ta không cho phép bất cứ ai xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược vì đó là sự xúc phạm đến danh dự, phẩm giá chính nghĩa của cả một dân tộc anh hùng, xúc phạm đến anh linh của hàng triệu đồng bào, chiến sĩ đã hy sinh anh dũng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
——
[1]- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.37, tr. 471.
[2] – Thế giới ca ngợi thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta. NXB ST, HN, 1977, Tr 31.
[3] – Thế giới ca ngợi…SĐD, Tr 72.
[4] – “Robert McNamara: 11 sai lầm của Mỹ trong chiến tranh Việt” … Dân trí, 22-04- 2005.
[5] – “Nguyễn Cao Kỳ và những phát ngôn ấn tượng”. Theo www.baodatviet.vn, 24-07-2011.
BẮC HÀ – LỆ CHI
qdnd.vn
Những người tác động tới nội các Dương Văn Minh
QĐND – Tôi có dịp gặp Thiếu tướng Nguyễn Văn Khiêm (tức Sáu Trí), người chỉ huy Khối điệp báo-Tình báo quân sự Quân giải phóng miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và được nghe ông kể lại những năm tháng hoạt động nội tuyến trong Tổng Nha Cảnh sát của chính quyền Sài Gòn, nhất là thời điểm ông và đồng đội từng tham gia tác động để nội các Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng ngày 30-4-1975…
Trưa 28-4-1975, sau bữa cơm trưa, tôi đang ngồi đọc báo trên gác nhà H3 (bí danh của Ba Lễ, một cán bộ điệp báo của ta) tại khu Nguyễn Tri Phương, Chợ Lớn thì một người con của H3 lên báo tin: Có hai người không phải bạn của H3 nhưng lại nói muốn gặp Sáu Trí. Đây là một tình huống bất ngờ, song tôi nghĩ mình cần phải tìm hiểu cụ thể hơn nên đã nhờ H3 xuống phòng khách xem hai người ấy là ai, tại sao lại biết tôi ở đây, gặp tôi để làm gì? Một lát sau, H3 lên cho biết: Đó là anh Tô Văn Cang, một nhân sĩ trí thức yêu nước, công tác trong lưới tình báo của anh Đinh Sơn Đường (tức Hai Thắng) Cụm A24 từ đầu năm 1973. Cùng đi với anh là kỹ sư Lê Văn Giàu, một cơ sở trí vận của ta. Tô Văn Cang đến đây là do nội các Dương Văn Minh muốn nhờ anh đi tìm đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng nhằm thương lượng một vấn đề quan trọng.
Thiếu tướng tình báo Nguyễn Văn Khiêm (tức Sáu Trí, bên phải) trong một lần gặp mặt đồng đội. Ảnh do nhân vật cung cấp.
Sở dĩ Tô Văn Cang biết tôi có mặt tại Sài Gòn là do Hai Thắng tiết lộ. Thấy việc đó không ảnh hưởng nhiều tới công việc của lưới tình báo nên tôi đã xuống gặp. Khi thấy tôi, Tô Văn Cang đứng dậy chào, tự giới thiệu là cán bộ của Cụm A24 và là cha ruột của một chiến sĩ tình báo công tác tại A24. Anh xin lỗi vì đã vi phạm nguyên tắc bí mật, đường đột đến tìm tôi và cho biết: “Tôi là bạn thân của Nguyễn Văn Diệp (Tổng trưởng Tiếp thương trong nội các Dương Văn Minh, trước đó Diệp là Giám đốc Việt Nam ngân hàng). Vì Dương Văn Minh muốn bố trí gặp người đại diện cấp cao của Mặt trận Dân tộc Giải phóng nên Diệp đã nhờ tôi đi tìm”. Tô Văn Cang cũng giải thích vì nội các Dương Văn Minh chia làm hai phe, một phe chịu thương lượng với Mặt trận Dân tộc Giải phóng để kết thúc chiến tranh với bất cứ giá nào, phe thứ hai với người đại diện là Nguyễn Bảo Kiếm quyết tử thủ Sài Gòn, cố gắng kéo dài chiến tranh thêm một thời gian hòng kiếm giải pháp có lợi cho chính quyền Sài Gòn. Phe chủ hòa do Diệp cầm đầu có nhiều ảnh hưởng đến Dương Văn Minh nên muốn tìm gặp đại diện của ta để xử trí trong bối cảnh căng thẳng. Tôi trả lời Tô Văn Cang là chỉ vào Sài Gòn có việc riêng nên không có tư cách đại diện của cách mạng để gặp gỡ bất cứ ai, còn chính quyền Dương Văn Minh muốn gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời thì cứ đến cơ quan bốn bên tại Tân Sơn Nhất, ở đó luôn có người thường trực. Tô Văn Cang truyền đạt câu hỏi thứ hai của Nguyễn Văn Diệp: Trong hoàn cảnh hiện nay, nội các Dương Văn Minh nên xử trí ra sao? Tôi trả lời rằng, Dương Văn Minh là một nhà quân sự nên ông ta có thừa khả năng để đánh giá tình thế khi Sài Gòn đang bị các quân đoàn của Quân Giải phóng bao vây. Quân đội Sài Gòn sẽ không còn đủ lực lượng để chống đỡ, Mỹ không thể đưa quân trở lại và cũng không còn thì giờ tiếp cứu. Chính quyền Sài Gòn đừng ảo tưởng vì sự cứu viện của Mỹ cũng như của bất cứ cường quốc nào. Sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn được tính từng ngày, nếu để kéo dài tình trạng ấy sẽ gây tác hại lớn, đồng bào thương vong nhiều, thành phố Sài Gòn sẽ đổ nát. Nếu chọn giải pháp tử thủ Sài Gòn thì nội các Dương Văn Minh sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước nhân dân. Vì thế, việc đầu hàng ngay và đầu hàng vô điều kiện là thái độ có trách nhiệm trước sinh mạng của nhân dân…
Sau đó, Tô Văn Cang đã thông qua Nguyễn Văn Diệp và Nguyễn Đình Đầu (một trí thức có nhiều ảnh hưởng đối với Dương Văn Minh) nhằm tác động đến viên tổng thống cuối cùng của chính quyền Sài Gòn. Thảo luận với Nguyễn Văn Diệp xong thì 16 giờ ngày 29-4, Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền lên đài phát thanh tuyên bố “sẵn sàng thương thuyết hòa bình với Mặt trận Giải phóng”.
Khoảng hơn 8 giờ ngày 30-4, Nguyễn Đình Đầu điện thoại cho anh Cang báo tin là Dương Văn Minh đã chịu chấp thuận đầu hàng vô điều kiện. Nguyễn Văn Diệp cũng gọi điện thoại mời Tô Văn Cang vào Dinh Độc Lập để tổ chức đón tiếp Chính phủ Cách mạng lâm thời và dặn nên đi theo lối đường Nguyễn Du, tại đó Nguyễn Văn Diệp sẽ ra đón. Tô Văn Cang liền đi cùng xe do kỹ sư Lê Văn Giàu lái hướng về phía Dinh Độc Lập, nhưng đến cầu Bông thì xe bị cảnh sát Sài Gòn chặn lại, không cho vào nội thành. Xe phải chạy ra lối ngã tư Hàng Xanh, đến ngã tư xa lộ thì gặp đoàn xe thiết giáp của Quân Giải phóng từ hướng cầu Sài Gòn chạy đến và đang lúng túng chưa biết đi đường nào. Tô Văn Cang liền tiến đến chiếc đi đầu và ra hiệu cho đoàn xe thiết giáp chạy theo xe của mình…
Khoảng 9 giờ 30 phút sáng 30-4, tại nhà H3, tôi nghe trên Đài Phát thanh Sài Gòn lời phát biểu của Dương Văn Minh kêu gọi quân đội Sài Gòn buông súng, chấp nhận những điều kiện của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Vài giờ sau, Tô Văn Cang và người bạn của anh là kỹ sư Lê Văn Giàu lại mời tôi và H3 vào Dinh Độc Lập để chứng kiến sự đầu hàng của nội các Dương Văn Minh, tránh mọi hành động đáng tiếc xảy ra khi Quân Giải phóng vào tiếp quản Dinh Độc Lập. Tôi và H3 cùng theo xe của Tô Văn Cang vào Dinh Độc Lập, đến phòng của Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền thì có một bộ phận Quân Giải phóng đã có mặt trong dinh. Bộ đội ta đòi bắt toàn bộ các nhân vật này làm tù binh. Sợ anh em vi phạm chính sách của Mặt trận Giải phóng, tôi liền gặp và giải thích: Nội các Dương Văn Minh đã chấp thuận theo những điều kiện của ta nên vừa có thông báo đầu hàng trên Đài phát thanh. Lúc đầu, anh em không tin vì thấy tôi mặc thường phục. Tôi tự giới thiệu là Đại tá Sáu Trí, Sĩ quan Bộ Tham mưu B2 vào Sài Gòn làm công tác đặc biệt trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. May sao, đúng lúc đó xuất hiện một sĩ quan thuộc đơn vị thiết giáp, anh chính là người bạn học cùng khóa quân sự cấp cao với tôi ở Hà Nội. Anh tới bắt tay tôi và thân mật nói: “Đi đâu cũng gặp thằng tình báo này!”.
Sau đó, tôi gặp Thiếu tướng Nguyễn Hữu An-Tư lệnh Quân đoàn 2 -và cùng anh bàn việc tiếp quản Dinh Độc Lập. Chúng tôi nhất trí nên có lời công bố chính thức của Quân Giải phóng trên đài phát thanh. Thiếu tướng Nguyễn Hữu An phân công tôi soạn thảo gấp. Tôi cùng với Tô Văn Cang, Ba Lễ bàn nhau và thống nhất giao cho Tô Văn Cang chấp bút bản thông báo với tựa đề “Thông báo số 1”. Viết xong, tôi đến gặp Thiếu tướng Nguyễn Hữu An để thông qua. Ông tế nhị từ chối không đề tên đơn vị mình và đề xuất chỉ nên đề là “Bộ tư lệnh Quân Giải phóng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định”. Anh Cang được phân công cùng với anh Giàu lên xe com-măng-ca chạy ra Đài phát thanh. Phải khó nhọc lắm xe của anh mới vào được trong. Anh Cang lên lầu, đọc chậm và rõ bản “Thông báo số 1”. Anh Giàu đọc lại lần hai. Sau đó dặn cứ 5 phút thì lặp lại một lần.
Bản “Thông báo số 1” của Bộ tư lệnh Quân giải phóng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định là bản tin chính thức được ta phát trên Đài phát thanh, vài giờ sau lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh.
Trong lúc tôi và Thiếu tướng Nguyễn Hữu An đang bàn công tác bảo đảm an ninh thì anh em cho biết những thành viên nội các Dương Văn Minh đang tỏ ra hoảng loạn. Anh An bảo tôi nên đi gặp gỡ họ vì tôi là người miền Nam, lại làm tình báo nên biết tâm lý, tình cảm của họ. Tôi mời họ ra hành lang để nói chuyện. Tướng Minh đứng trước, các thành viên đứng kế tiếp. Tôi động viên họ về sự chiến thắng vĩ đại của quân, dân ta và về việc đầu hàng không điều kiện của nội các Dương Văn Minh đã giúp cho thành phố Sài Gòn vẫn giữ được nguyên vẹn. Tôi còn hứa sẽ bảo đảm việc an toàn tính mạng cho họ. Lúc ấy, Dương Văn Minh xin phép tạt qua phòng riêng để thăm người vợ đang lo lắng cho số phận của chồng, anh Cang cũng rảo bước theo sau…
PHẠM XUÂN TRƯỜNG
qdnd.vn
Tổng thống Giê-rôn Pho và tháng 4-1975 “nước sôi lửa bỏng”
QĐND – Đầu tháng 4-1975, nước Mỹ và nhiều nơi trên thế giới ngập vào một thời khắc nguy hiểm. Vua Ả-rập Xê-út, Phai-xan (Faisal) (bạn của nước Mỹ) bị ám sát, các sứ mạng “con thoi” ở Trung Cận Đông của Kít-xinh-giơ (Kissinger) nhằm hòa giải I-xra-en và Ai Cập đã đổ bể thảm hại, chính quyền thân Mỹ ở Phnôm Pênh đang hấp hối trong vòng vây của Khơ-me Đỏ, quân đội của Thiệu ở Nam Việt Nam “đột nhiên” tan chảy dưới sức nóng của đòn tiến công của đối phương…
“Nước sôi lửa bỏng”
Tới giữa tháng 4, lộ rõ là Mỹ đang mất Việt Nam Cộng hòa. Cố đô Huế lại về tay “Việt cộng”. Nước Mỹ kinh hoàng bởi sự kiện các lính thủy đánh bộ (LTĐB) Sài Gòn, “do Mỹ huấn luyện”, “đã cướp bóc, giết, hãm hiếp những người dân tản cư, trong một đám đông hỗn độn chen nhau leo lên tàu Mỹ để chạy thoát thân khỏi Đà Nẵng” (Tạp chí Time, số ra ngày 7-4-1975). Tờ Thời báo Niu Y-oóc (The New York Times) ngày 30-3-1975 tường thuật: Khoảng 300 quan lính Sài Gòn dùng súng “cướp” một chiếc Bô-ing chở thường dân di tản về Sài Gòn…
Tại Lầu Năm Góc, các tướng Mỹ đang so sánh cuộc tháo chạy tán loạn ở Nam Việt Nam với những thảm bại quân sự khác: Na-pô-lê-ông rút khỏi Mát-xcơ-va băng giá năm 1812, cuộc thất thủ nước Pháp năm 1940, sụp đổ của Tưởng Giới Thạch ở Hoa lục năm 1949. Quan trọng là dòng thác quân đội Sài Gòn bỏ chạy với nhiều đơn vị chưa hề chạm súng với đối phương, theo các nhà quan sát, là không có cách gì chặn lại.
Cùng kỳ, báo đăng ảnh Giê-rôn Pho (Gerald Ford), vị Tổng thống Mỹ mới nhậm chức nhưng không được dân bầu, đang dùng gậy cố đẩy trái gôn vào lỗ (?) trên sân Pam Sprinh (Palm Spring), Cali!
“Cú sốc Nam Việt Nam” đối với nước Mỹ đang bị chính quyền làm cho tồi tệ hơn, Time viết. Nhà Trắng đã phản ứng một cách kỳ cục xen giữa sự đổ lỗi và rụt rè.
Kẻ dẫn dắt lạc đường
Cáo buộc của công luận Mỹ quyết liệt nhằm vào Ngoại trưởng, rằng Kít-xinh-giơ từng cố tình dẫn dắt lạc đường trong thời kỳ “Hiệp định Pa-ri”, để đánh bóng cho học thuyết “khoảng cách vừa phải” của ông ta, thực chất là “câu giờ” để có thể rút được quân Mỹ về, để lại một Sài Gòn đủ “mạnh”, đứng được vài năm, để rồi khi sự sụp đổ hoàn toàn, thì cũng không bị nhìn nhận như một thảm bại của Oa-sinh-tơn.
Theo báo chí, các quan chức gần gũi với Kít-xinh-giơ bênh ông này. Họ cho rằng một khi uy tín của Bộ Ngoại giao Mỹ đang bị đặt cược, Pho cần biện hộ cho chính sách của Ních-xơn – Kít-xinh-giơ về Việt Nam, nhờ vào đó mà một ngoại trưởng Mỹ từng giành Giải thưởng Nobel hòa bình. Họ muốn lời buộc tội sẽ được gán cho Quốc hội Mỹ, rằng việc không thực hiện được hiệp định là do Quốc hội đã cắt giảm viện trợ cho Sài Gòn. Các quan chức khác cho rằng mọi sự không đơn giản như thế.
Tổng thống Pho ù té khỏi các nhà báo phỏng vấn về Việt Nam. Tạp chí Time số ra ngày 14-4-1975.
Pho bực bội với quan điểm khá phổ biến, rằng Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ mới là người cầm trịch chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Mặt khác, cũng có ý kiến đánh giá Pho đã đủ tỉnh táo để điều chỉnh những khẳng định của Kít-xinh-giơ, kiểu như uy tín trên trường quốc tế của nước Mỹ đang bị thử thách một cách sinh tử tại Việt Nam. Các nhận định tỉnh táo hơn chỉ ra, chưa từng “thử lửa” ở nước ngoài, Pho dĩ nhiên phải dựa vào “phù thủy” Kít-xinh-giơ để tạo đà và lấy hướng. Thay ngoại trưởng “giữa dòng” hẳn là không thể, dù theo báo chí, giữa tháng 4, Pho vẫn còn chịu ảnh hưởng của lời khuyên là tìm kẻ chịu báng cho thảm họa ở Việt Nam.
Con dê tế thần?
Báo chí phản ánh Pho đã trốn tránh chất vấn về tình hình “nước sôi lửa bỏng” này. Trong một khung cảnh kỳ cục đầu tháng 4, Pho đã chọn cách “cười trừ” và ù té chạy khỏi các thợ săn làng báo cố vây ông để phỏng vấn về Việt Nam… Ông để lộ sự thiếu quyết đoán trong các tình thế phải đối đáp, không được các mưu sĩ chuẩn bị trước.
Ký giả nổi tiếng chuyên về các tổng thống Mỹ thời “Chiến tranh lạnh” Hiu Xi-đây (Hugh Sidey) ngậm ngùi: Trong suốt 40 năm trở lại đây (1975) chưa bao giờ chính phủ Mỹ lại “sa lầy trong những khốn khó và tự xem thường chính mình đến thế này”.
Nhưng các phe đối lập, theo Time, đã khá đồng thuận nhau ở hậu đài để tạo dựng một hình ảnh khả dĩ cho Tổng thống Hợp chủng quốc trong mắt dân chúng. Trong phát biểu tại Xan Đi-ê-gô (San Diego) ngày 3-4-1975, Pho nhận định tình hình ở Nam Việt Nam là “bi đát”, kêu gọi xây dựng “nhận thức mới về đoàn kết dân tộc tại những thời khắc buồn và hỗn loạn này”. Pho khuyên, “chớ lao vào những cáo buộc lẫn nhau, hoặc cố áp đặt những lời buộc tội”.
Trong cuộc họp báo trên truyền hình cùng kỳ, quả thực Pho đã cố tránh những lời buộc tội, trừ chủ đề như thi hành Hiệp định Pa-ri ở Việt Nam, hoặc trách cứ Thiệu về quyết định “đơn phương” mà không bàn bạc với Hoa Kỳ. Nhưng dù khẳng định ông không “chĩa ngón tay phê phán vào ai”, ông (vốn là thủ lĩnh phe thiểu số trong Hạ viện tới cuối 1973) vẫn cố cáo buộc Quốc hội kiểm soát bởi Đảng Dân chủ là lực lượng chính đứng đằng sau sự sụp đổ của Nam Việt Nam. Pho cho hay đã “nản chí vì hoạt động của Quốc hội”, cụ thể trong vấn đề thông qua khoản viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam. Bị hỏi thẳng là Tổng thống có nghĩ rằng, 56.000 người Mỹ thiệt mạng ở Nam Việt Nam là uổng, Pho đã diễn đạt vòng vèo, vừa phủ định cho rằng Hiệp định Pa-ri đã giúp Hoa Kỳ rút ra khỏi chiến sự, và đưa được các tù binh Mỹ về nhưng lại ngầm khẳng định (là sự uổng phí của những lính Mỹ chết trận đang xảy ra), do viện trợ quân sự đột xuất cho Thiệu không thành hiện thực. Ông ngụ ý đang có một cơ hội để cứu con tàu đang đắm ở Sài Gòn, miễn là trao cho Thiệu một cơ hội (ý nói số tiền viện trợ) để được “chiến đấu vì tự do”!
Nhưng Time, số ra ngày 14-4-1975 lại nghĩ khác: “Pho đang có một cơ hội lớn để giúp nước Mỹ giao hảo với Việt Nam”, bằng cách đưa nước Mỹ rút “chân” nhanh ra khỏi Việt Nam chính vào lúc này.
Vì nếu Pho có “đòi” được Quốc hội dành cho Thiệu khoản viện trợ khẩn cấp 722 triệu USD đi nữa, thì quân đội VNCH, đang “cuống cuồng” (in fenzy) bỏ chạy khỏi miền Trung, quẳng lại sau số phương tiện chiến tranh cũng có giá tới 700 triệu USD. Riêng máy bay, đã có tới hàng trăm chiếc còn nguyên vẹn bị bỏ lại tại các sân bay vùng chiến thuật I. Người ta đều biết quân Sài Gòn đang được trang bị các phương tiện chiến tranh hiện đại nhất thế giới …
Một quan chức Lầu Năm Góc chia sẻ với Time: “Hay là chúng ta gửi thẳng số viện trợ này sang Hà Nội? Ít nhất chúng sẽ không bị phá hủy bởi chiến sự”.
Đến giữa tháng 4, vẫn theo Time, tổng thống thấy rõ việc đổ lỗi cho Quốc hội Mỹ không có lợi gì về chính trị. Xét về lý trí, các nhà lập pháp đang làm đúng chức phận của họ, thay mặt cho lợi ích của người dân Mỹ để quyết định ngân sách. Nhất là sau khi Tướng Uây-en (Weyand), vừa đi Việt Nam về, không thể đưa ra bảo đảm gì là viện trợ quân sự sẽ cứu được chế độ Thiệu.
Thúc đẩy chấm dứt bi kịch
Trong chính giới Mỹ, có những ý kiến, nên chăng, nhờ Mát-xcơ-va và Bắc Kinh gây áp lực lên Hà Nội, để có được một hiệp định ngừng bắn. Nhưng các quan chức cao cấp nhất coi điều này là không thực tế, “nhờ vả họ liệu có xứng khoản nợ mà chúng ta phải gánh?… Nếu cần đàm phán với Hà Nội để đầu hàng, chúng ta chẳng cần họ (Liên Xô và Trung Quốc)”…
Cuối tháng 4, các lãnh tụ Thượng viện tới viếng thăm bất thường Nhà Trắng, phát biểu rõ với tổng thống, rằng Quốc hội sẽ sẵn sàng thông qua một khoản viện trợ nhân đạo nào đó, và làm những gì cần thiết để đưa Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh. Nhưng các Thượng nghị sĩ cũng cho hay: Không có hy vọng nào là Quốc hội Mỹ sẽ thông qua viện trợ quân sự bổ sung cho Thiệu mà Tổng thống Mỹ đang đề xuất.
Thực vậy, trong đề xuất của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện cuối tháng 4, chỉ có khoản 200 triệu USD viện trợ nhân đạo dành cho Đông Dương, và để di tản người Mỹ khỏi Nam Việt Nam. Sau những bàng hoàng kiểu viện trợ thế này thì “tệ hơn là không có” của trợ lý, Tổng thống Pho đã nghĩ lại và đầu hàng Thượng viện. Ông ra lệnh triển khai chiến dịch di tản người Mỹ khỏi Nam Việt Nam trước khi tháng 4 kết thúc.
Nhưng chính quyền Mỹ, theo báo giới, vẫn cố vớt vát: Một khi viện trợ quân sự chưa được đưa ra cho Quốc hội biểu quyết, thì “vẫn nuôi sống được ở Sài Gòn một tâm trạng chờ đợi (Mỹ sẽ can thiệp)”. Một cố vấn của Tổng thống khuyên: “Nên tránh làm cho người VNCH lo sợ”. Time kết luận: “Đau đớn là sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam chắc sắp kết thúc trong một màn diễn lừa dối, quả là trơ tráo, nhưng chắc là cần thiết”.
Nhưng mọi sự đã không bi kịch như thế. Vì, theo Pho, cuộc điện đàm của ông với Ních-xơn hôm 10-4-1975 cho thấy: Không có một “hiệp định bí mật” nào ký trước đó với Sài Gòn buộc Hoa Kỳ phải quay lại giải cứu chế độ Thiệu.
Nếu khẳng định này có tác động đến việc Thiệu từ chức, đẩy nhanh sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn, thì có thể xem là một trong những đóng góp của Pho, đáp ứng nguyện vọng của nhiều chính khách và dân thường trên báo chí tháng 4-1975, là nước Mỹ nên hành động để cuộc chiến tranh ở Việt Nam kết thúc càng sớm càng tốt.
LÊ THÀNH (tổng hợp)
qdnd.vn
Nét độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975
QĐND – Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Từ thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc, chúng ta có thể rút ra một số vấn đề cơ bản sau:
Nghệ thuật tổ chức lực lượng toàn dân đánh giặc
Nghệ thuật quân sự của ta là nghệ thuật tổ chức toàn dân đánh giặc. Nó khác hẳn với nghệ thuật quân sự của kẻ xâm lược-nghệ thuật tổ chức lực lượng quân sự nhà nghề với những cỗ máy chiến tranh khổng lồ, chuyên nghiệp.
Đối tượng của nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng của ta là toàn dân. Ta tổ chức lực lượng theo cấu trúc toàn dân đánh giặc; bao gồm lực lượng vũ trang ba thứ quân gắn liền với lực lượng kháng chiến của từng huyện, tỉnh, thành phố; kết hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực. Đó là nghệ thuật tổ chức có tính khoa học, tính thống nhất và chặt chẽ, làm cho toàn dân ta triệu người như một, tạo sức mạnh tổng hợp lớn nhất để đánh địch, thắng địch.
Đi đôi với nghệ thuật tổ chức lực lượng, ta xác định hai hình thức đấu tranh chủ yếu: Đấu tranh quân sự kết hợp đấu tranh chính trị; hai phương thức tác chiến cơ bản: Tác chiến tập trung và tác chiến du kích. Với nghệ thuật tổ chức và vận dụng các hình thức, phương thức tác chiến như thế, ta đã xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân “thiên la địa võng”, rộng khắp, vững chắc, nhưng mạnh ở trọng điểm. Điều đó lý giải vì sao ta có thể “Mở mặt trận ở bất cứ nơi nào có bóng địch, đánh ngay ở cả sau lưng địch, trong trung tâm phòng ngự của địch” và “Kéo địch ra khỏi hang ổ mà đánh, căng địch ra mà đánh, luồn sâu vào hậu phương địch mà đánh…”. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, ta luôn đánh địch ở thế chủ động, càng đánh càng mạnh. Ngược lại, địch luôn ở thế bị động, càng đánh càng bộc lộ sơ hở, càng đánh càng bị dồn vào nguy cơ thất bại. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhờ nghệ thuật tổ chức toàn dân đánh giặc mà ta vừa có điều kiện tập trung đánh lớn ở các thành phố lớn, tiêu diệt và bắt sống hàng nghìn tên địch; đồng thời, vừa có điều kiện đánh địch rộng khắp, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm nghìn tên địch ở các chiến trường khác.
Xe tăng Quân Giải phóng chiếm Dinh Độc Lập vào 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975. Ảnh tư liệu.
Nét độc đáo của nghệ thuật tác chiến chiến lược
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, ta tiến hành 3 chiến dịch lớn với 3 đòn chiến lược: Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch chiến lược Huế-Đà Nẵng và chiến dịch quyết chiến chiến lược Hồ Chí Minh. Ba đòn chiến lược đó thể hiện được phương thức nghệ thuật tác chiến chiến lược hay của ta. Xuất hiện từ đường lối chiến tranh nhân dân toàn diện, với hai lực lượng, ba thứ quân, tác chiến cài xen kẽ với địch không phân tuyến của ta, làm cho địch bị phân tán, chia cắt, bị động; còn ta thì chủ động tập trung, cơ động linh hoạt.
Trên cơ sở của đường lối chiến tranh đó, nghệ thuật tác chiến chiến lược của ta là nghệ thuật của chiến tranh nhân dân, là kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, giữa quân sự với chính trị; tiến hành tác chiến trên toàn bộ chiến trường; đánh địch trên toàn bộ chiến tuyến, đánh cả ở phía trước mặt địch và đằng sau lưng địch, trên cả 3 vùng chiến lược.
Tiến công chiến lược là phải phá vỡ chiến lược, tiêu diệt lực lượng tiến công chiến lược của địch, giải phóng những vùng đất đai quan trọng, đánh bại biện pháp chiến lược của địch, làm suy sụp ý chí chiến đấu của chúng, làm lung lay quyết tâm chiến lược của địch. Tổng tiến công chiến lược là phá vỡ nhiều mảng chiến lược của địch, đi đến phá vỡ toàn bộ chiến lược của địch, tiêu diệt các lực lượng chiến lược chủ yếu của chúng, giải phóng phần lớn lãnh thổ, đánh chiếm thủ phủ, sào huyệt cuối cùng của địch, đánh bại mọi biện pháp thủ đoạn chiến lược của địch, làm mất ý chí đề kháng của địch, đi đến kết thúc chiến tranh.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, ta đã bố trí được 2 tập đoàn chiến lược ở 2 đầu chiến tuyến, và 1 tập đoàn chiến dịch ở giữa chiến tuyến. Tập đoàn chiến lược thứ nhất gồm Quân đoàn 2 cùng các sư đoàn, trung đoàn và LLVT địa phương của 2 quân khu Trị-Thiên và quân khu vùng Huế-Đà Nẵng. Tập đoàn chiến lược thứ 3 vũ trang địa phương của Quân khu 7 đứng chân ở chung quanh Sài Gòn. Tập đoàn chiến dịch thứ 3, gồm 2 sư đoàn, các trung đoàn của Mặt trận Tây Nguyên cùng Sư đoàn 3 Sao Vàng của Quân khu 5 và lực lượng vũ trang địa phương của các tỉnh Tây Nguyên và Bình Định, Phú Yên, Nha Trang đứng chân ở địa bàn Tây Nguyên.
Tuy vậy, ta cũng chưa có đủ khả năng sử dụng phương pháp tiến công chiến lược đồng thời trên toàn bộ chiến tuyến của địch, mà mới nhằm vào điểm yếu sơ hở, bất ngờ, tiến công phá vỡ chiến lược ở Tây Nguyên, còn các chiến trường khác chỉ đánh nhỏ để phối hợp, bảo đảm cho Chiến dịch Tây Nguyên giành thắng lợi.
Tạo lập thế trận tác chiến để giành thắng lợi quyết định
Trong giai đoạn tổng tiến công chiến lược, ta tổ chức từ 2 tập đoàn quân chiến lược trở lên là rất cần thiết để tạo lập và chuyển hóa thế trận tác chiến chiến lược đẩy mạnh nhịp độ tiến công với tốc độ cao và làm cho kẻ địch khó có bề chống cự rồi bị đánh bại nhanh chóng. Tạo lập thế trận tác chiến chiến lược phải theo quyết tâm đánh vào đâu trước, hướng tiến công chủ yếu và mục tiêu chủ yếu đánh vào đâu? Các hướng tiến công khác ở đâu để phối hợp? Và các bước tiếp theo đánh vào vị trí chiến lược nào để phát triển nghệ thuật quân sự trong tác chiến chiến dịch, rồi từ mưu kế mà chuyển hóa thế trận. Tạo lập thế trận linh hoạt, hợp lý có lợi để thực hiện thắng lợi mưu kế và quyết tâm.
Nét độc đáo trong tạo lập thế trận của ta là thế trận của chiến tranh nhân dân đã được xây dựng từ đầu cuộc chiến tranh. Ta tiến công địch bằng 2 lực lượng, 3 thứ quân, trên cả 3 vùng chiến lược và tác chiến cài xen kẽ với địch trên toàn bộ chiến tuyến. Do chiến tranh nhân dân phát triển cao, nên các binh đoàn chủ lực của ta đã đứng chân ở phía nam Vĩ tuyến 17, lập thế tiến công ở phía tây chiến tuyến của địch từ Vĩ tuyến 17 đến Sài Gòn, đến Đồng bằng sông Cửu Long. Các binh đoàn chủ lực của ta không tiến công địch từ phía bắc Vĩ tuyến 17. Không đánh vào chiều dọc chiến tuyến của địch có chiều sâu lớn mà từ các bàn đạp chiến tuyến của địch, chỉ cách Huế-Đà Nẵng có ba bốn chục ki-lô-mét ở phía tây. Thậm chí các binh đoàn chủ lực của ta cũng có mặt sát gần ngay Sài Gòn, chỉ cách phía tây Sài Gòn khoảng 50 đến 60km. Nếu các binh đoàn chủ lực của ta phát động cuộc tiến công từ phía bắc Vĩ tuyến 17, đánh theo dọc chiến tuyến có độ dày lớn của địch từ Quảng Trị đến Huế, Đà Nẵng, Nha Trang thì đến bao giờ ta mới đánh tới Sài Gòn – tuy là có mũi vu hồi chiến dịch và chiến lược.
Thế trận chiến lược trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 là một thế trận triển khai từ Quảng Trị qua Tây Nguyên đến Sài Gòn và Đồng bằng Nam Bộ. Một thế trận không đánh từ phía Bắc, từ Quảng Trị qua Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Tây Nguyên, mà đánh thẳng vào trận tuyến của địch trên đường số 1 rồi cùng với Tập đoàn chiến lược phía nam đã đứng chân sẵn ở phía bắc Sài Gòn, tập trung một lực lượng lớn giáng một đòn sấm sét vào Sài Gòn, giải phóng nhanh gọn Sài Gòn.
Nghệ thuật tạo lập thế trận tác chiến chiến lược mùa Xuân 1975 là một nghệ thuật độc đáo, tài tình và cũng đầy sáng tạo của chiến tranh nhân dân Việt Nam, ít thấy trong chiến tranh. Do đó, chỉ trong 56 ngày đêm ta đã giải phóng được miền Nam một cách ít tổn thất, thương vong. Đây là nét độc đáo, sáng tạo nhất của nghệ thuật quân sự Việt Nam được phát triển cao trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ KHQS NGUYỄN HUY HIỆU -Nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
qdnd.vn
Đi lên từ đòi hỏi của chính thực tiễn cuộc sống, của chính nhân dân
Chiến thắng 30/4/1975 là một chiến thắng vẻ vang và to lớn nhất trong lịch sử dựng nước và xây dựng đất nước của Việt Nam suốt hàng nghìn năm lịch sử. Nhân kỷ niệm 38 năm Ngày giải phóng hoàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Nguyên Ủy viên TƯ Đảng, nguyên Ủy viên UBTVQH, nguyên Chủ nhiệm VPQH, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Vũ Mão chia sẻ những cảm nhận của mình về ngày chiến thắng cũng như những trăn trở về sự phát triển của đất nước trong tương lai. Với nguyên Chủ nhiệm Vũ Mão, chúng ta vui mừng nhưng chúng ta không thỏa mãn với cái gì đã có. Thực tiễn đòi hỏi, nhân dân đòi hỏi, chính lãnh đạo cũng phải tự thấy mình phải vươn lên đưa đất nước của chúng ta tiến lên.
– Sinh ra và trưởng thành trong chiến tranh, trải qua nhiều cương vị lãnh đạo cấp cao của Nhà nước, Ông có thể chia sẻ những cảm xúc của mình khi đón nhận tin chiến thắng ngày 30/4/1975 của dân tộc ?
Nguyên Chủ nhiệm Vũ Mão: Ngày 30/4 là ngày chiến thắng vẻ vang của dân tộc Việt Nam, khi đó tôi đang công tác ở tỉnh Quảng Ninh, đón nhận tin vui đó rất hào hứng và rất xúc động. Chiến thắng đó làm cho tôi nhớ lại và suy nghĩ về những gì dân tộc chúng ta đã hy sinh, đã phấn đấu vượt qua bao gian khổ, khó khăn, bao nhiêu bão tố để dành được thắng lợi. Để có được thắng lợi đó, tất cả người dân Việt Nam, từng nhà một đều có hy sinh, mất mát, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang đó. Đó là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và chúng ta đã huy động được sức mạnh tổng hợp của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta. Trước hết, người lãnh đạo sáng suốt nhất, người chỉ đường, dẫn lối cho dân tộc chúng ta là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Có thể nói, chiến thắng 30/4/1975 mang ý nghĩa lịch sử vĩ đại, là ánh hào quang rực rỡ của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX và là một chiến thắng vẻ vang và to lớn nhất trong lịch sử dựng nước và xây dựng đất nước của Việt Nam suốt hàng nghìn năm lịch sử.
– 38 năm đã trôi qua, nhưng ý nghĩa và bài học lịch sử của chiến thắng 30/4/1975 vẫn còn vẹn nguyên cho sự phát triển của đất nước hôm nay, thưa Ông?
Nguyên Chủ nhiệm Vũ Mão: Có thể nói, chiến thắng 30/4/1975 cho chúng ta rất nhiều những bài học kinh nghiệm: về xây dựng Đảng, về công tác giáo dục, tuyên truyền, về những sách lược, mưu lược trong các trận đánh cũng như đánh giá đúng địch và ta, ta và địch; đánh giá đúng, nhìn nhận đúng. Điều đó giúp chúng ta có những chủ trương rất cụ thể trong từng thời kỳ và trong từng trận đánh. Bài học về công tác đối ngoại và ngoại giao quốc tế, sức mạnh tổng hợp của dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại. Có thể nói, nhân dân thế giới rất ủng hộ; đến bây giờ ta vẫn phải nhớ lại những bài học kinh nghiệm đó trong nước và quốc tế để cùng tìm ra những giải pháp, công việc, chủ trương để chúng ta tiếp tục xây dựng và bảo vệ tổ quốc thân yêu.
– Trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay còn rất nhiều thời cơ và thách thức. Theo Ông, chúng ta cần phát huy truyền thống quý báu trong lịch sử như thế nào vào tình hình thực tiễn của Việt Nam?
Nguyên Chủ nhiệm Vũ Mão: Tôi thấy bài học đầu tiên là bài học đoàn kết, đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết trong Đảng và đoàn kết với bạn bè quốc tế; đoàn kết để giúp chúng ta chung sức, chung lòng để dành những chiến thắng. Thứ hai là bài học về sự sáng suốt của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo đã trải qua nhiều thử thách, những người có bản lĩnh chính trị vững vàng và sự nhạy cảm với thời cuộc rất lớn lao. Chính những điều đó đã dẫn dắt nhân dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Bài học ngày hôm qua rất bổ ích cho bài học ngày hôm nay, nó vẫn còn mang tính thời sự.
Chúng ta nhớ lại Đại hội VI là Đại hội đổi mới, sau khi chúng ta giành được chiến thắng 30/4/1975 cho đến năm 1985 đầu 1986, trong thời kỳ 10 năm, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn. Rõ ràng, Đảng ta nghiêm túc, chúng ta nhìn thẳng vào sự thật thấy rõ sự tồn tại, yếu kém và đưa ra đường lối đổi mới để làm cách mạng trong tư duy, cách mạng trong cuộc sống, đưa đất nước có bước tiến mới. Đây là một thành công, chiến thắng 30/4/1975 là bài học rất lớn, nhưng bài học của sự nghiệp đổi mới mở ra từ Đại hội VI là bài học thiết thực, cụ thể và gần gũi.
Tình hình hiện nay, không phủ nhận những thành tích chúng ta đã đạt được, bên cạnh thành tựu đạt được có nhiều vấn đề tồn tại. Cụ thể như nền kinh tế yếu kém; cuộc chiến với tệ nạn xã hội, tham nhũng vẫn còn nhiều cam go… Nghị quyết Trung ương 4 đã chỉ ra, phải kiểm điểm, nghiêm túc, xem xét; một nguy cơ to lớn cho đến nay rất nhiều vấn đề đặt ra cho nên chúng ta không thể chủ quan, không thể thỏa mãn, kiêu ngạo. Và hơn bao giờ hết, bài học đoàn kết là to lớn, muốn đoàn kết được thì từng người một phải thấy rõ mình.
Nhân kỷ niệm 38 năm giành chiến thắng 30/4, thống nhất được tổ quốc, chúng ta vui mừng nhưng chúng ta không thỏa mãn với cái gì đã có. Thực tiễn đòi hỏi, nhân dân đòi hỏi, chính lãnh đạo cũng phải tự thấy mình phải vươn lên đưa đất nước của chúng ta tiến lên. Đó là nguyện vọng của toàn dân, chúng tôi là những người đã đi qua những thời kỳ công tác, đóng góp, chúng tôi khao khát như vậy để con đường đi lên cách mạng của Bác Hồ sẽ mãi mãi vinh quang, mãi mãi tỏa sáng.
– Kỷ niệm 38 năm Ngày giải phóng hoàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc (30/4/1975 – 30/4/2013) cũng là dịp toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang tiến hành góp ý kiến vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Đó cũng đánh dấu một bước chuyển mới trong sự phát triển của đất nước, thưa Ông?
Nguyên Chủ nhiệm Vũ Mão: Hiện nay, chúng ta đang tiến hành nghiên cứu sửa đổi và bổ sung Hiến pháp. Hiến pháp năm 1992 là bản Hiến pháp đã có quá trình tổng kết và thực thi trong hơn 20 năm qua. Rõ ràng, cũng có một số tồn tại, chưa thích hợp với cuộc sống ngày hôm nay, chúng ta cần phải sửa. Tôi tin rằng, với những gì chúng ta đang tiến hành sẽ nhìn nhận một cách thực tiễn hơn với hoàn cảnh đất nước. Những người lãnh đạo của chúng ta hiện nay sẽ lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân, sẽ có bước tiến hành cụ thể. Và điều quan trọng phải thận trọng, chín chắn và phải có bản Hiến pháp mới có chất lượng và được nhân dân phúc quyết, trước khi Quốc hội thông qua lần cuối.
– Xin cám ơn Ông về những trao đổi tâm huyết này !
Diệp Anh (thực hiện)
daibieunhandan.vn
Gặp người tham gia tiếp quản Sài Gòn
Vì lý do sức khỏe và hoàn cảnh gia đình (bố mẹ già yếu, mấy anh, em đã đi B), vài lần bác sỹ Nguyễn Thế Khởi nộp đơn tình nguyện đi B nhưng đều bị từ chối. Thế nên, ông không nghĩ mình lại được có mặt trong đoàn người tham gia tiếp quản Sài Gòn sau ngày 30.4.1975 lịch sử…
Sau khi ký Hiệp định Paris, ai cũng hiểu cuộc chiến đang vào giai đoạn cuối, nhưng vẫn không kém phần ác liệt. Miền Nam đã có một số vùng được giải phóng, rất cần bác sỹ bảo vệ sức khỏe cho quân và dân tiếp tục chiến đấu và sản xuất. Vì thế, cuối tháng 3.1972, bác sỹ Nguyễn Thế Khởi, khi đó 24 tuổi, là y sỹ khoa hồi sức cấp cứu tại Bệnh viện Thanh Hà, Hải Dương, cùng một số y, bác sỹ miền Bắc được triệu tập về Trường Bồi dưỡng cán bộ 105 ở Hòa Bình, thuộc Ban Thống nhất Trung ương, chuẩn bị đi B. Hồi đó, bộ đội chủ yếu đóng quân ở vùng rừng núi, bệnh sốt rét nhiều, nên trước khi vào Nam, ông và đồng nghiệp được tập huấn về căn bệnh này. Sau một thời gian rèn thể lực và tập huấn nghiệp vụ, các y, bác sỹ cùng hàng chục giáo viên, kỹ sư… lên đường, với niềm tin miền Nam sẽ sớm được giải phóng, non sông sớm thu về một mối. Mặc dù khi đó đã có đường Tây Trường Sơn, nhiều chặng đi ôtô, nhưng cũng nhiều đoạn mọi người phải đi bộ, ròng rã gần 6 tháng trời, đoàn mới đến Ban Dân y (BS67)å của Trung ương Cục miền Nam (N3072), thuộc Tây Ninh hiện nay. Sau 5 – 6 tháng đóng tại đây (Cứ C30), ông Nguyễn Thế Khởi được điều lên căn cứ Bù Đốp, Lộc Ninh – hai huyện đã giải phóng, vừa phòng chống sốt rét cho nhân dân, vừa nghiên cứu mùa truyền bệnh của muỗi, sử dụng thuốc diệt muỗi… Ở đó chừng 2 năm, ông trở lại căn cứ ở Tây Ninh.
Trước ngày 30.4.1975, ông Nguyễn Thế Khởi và một số đồng nghiệp được tập trung học chính trị, không ai nói nhưng ai cũng biết là để chuẩn bị tiếp quản Sài Gòn sau giải phóng. Các ông học chính sách của Chính quyền Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam về sử dụng người của chế độ cũ. Theo đó, với những người hưởng nhiều đặc ân của chế độ cũ, phải có thái độ kiên quyết, dứt khoát, còn với những người chỉ làm công ăn lương thì có thái độ thân thiện, tận dụng kiến thức, kinh nghiệm của họ. Thời gian tập huấn cũng cung cấp kiến thức về phong tục, tập quán của người dân để việc tiếp cận, làm việc sau này dễ dàng và hiệu quả hơn.
Sài Gòn ngày 30.4.1975 Ký họa của họa sỹ Trung Sơn
Ngày 28.4.1975, các đoàn cán bộ từ Tây Ninh đồng loạt tiến về Sài Gòn, tập trung ở vùng ven thành phố như Trảng Bàng, Củ Chi. Nghe ngóng tình hình chiến sự qua radio, ai cũng đoán già đoán non giờ G sắp đến, nhưng không nghĩ nó lại đến sớm thế. Trưa 30.4.1975, tin quân ta đánh chiếm dinh Độc lập được thông báo qua radio và qua những người làm công tác quân quản. Mọi người đều mừng vui khôn tả. Sau mấy chục năm chiến tranh, Sài Gòn đã được giải phóng, Bắc – Nam sum họp một nhà.
Chiều cùng ngày, từng đoàn người tiến vào tiếp quản thành phố. Đến sáng 1.5.1975, các cán bộ y tế được đưa đến tiếp quản Nha y tế công cộng – bộ phận y tế dự phòng của chính quyền Sài Gòn. Bác sỹ Nguyễn Thế Khởi nhớ lại: những người có trách nhiệm của Nha y tế công cộng vẫn ở đó đón chúng tôi và bàn giao, nhưng nhiều nhân viên đã sợ hãi, bỏ đi. Sau đó, chúng tôi phải mời họ đến, phỏng vấn, kê khai và phân chia các nhóm đối tượng cụ thể. Nhiều người được sử dụng lại, họ đã làm tốt công việc của mình, gắn bó và cống hiến cho đến khi nghỉ hưu. C30 chỉ có khoảng 30 người, nhưng phải tiếp quản 21 tỉnh, thành, nếu không dựa vào lực lượng này, chương trình phòng chống sốt rét nói riêng, việc bảo vệ sức khỏe cho quân và dân nói chung những năm mới giải phóng khó đạt kết quả.
Phải hơn một tháng sau ngày 30.4.1975, ở quê nhà mới nhận được thư ông Khởi – một niềm vui xen lẫn tự hào và cả mong ngóng ngày ông trở về. Nhưng sau giải phóng, số bộ đội từ trong rừng ra mang theo ký trùng sốt rét, nhân sự bị xáo trộn, TP Hồ Chí Minh, các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang… bùng nổ dịch sốt rét. Lực lượng y tế của các tỉnh còn mỏng, nên những cán bộ y tế từ miền Bắc vẫn phải tiếp tục công tác điều trị, chữa bệnh cho bộ đội và nhân dân, đồng thời tham gia chống dịch. Phấn khởi vì đất nước thống nhất, cộng với sức trẻ và nhiệt huyết, ai cũng hăng hái làm việc, nguyện vọng về Bắc tạm gác sang một bên. Thời gian cứ thế trôi đi, ông Khởi không nghĩ mình lại gắn bó với thành phố đến tận bây giờ, được chứng kiến những đổi thay, phát triển của mảnh đất này. Gia đình ông từ ngoài Bắc cũng đã chuyển vào TP Hồ Chí Minh. Ông tiếp tục sự nghiệp phòng chống sốt rét cho đến ngày nghỉ hưu.
Giờ đây, cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, bác sỹ Nguyễn Thế Khởi và đồng nghiệp công tác tại Ban Dân y miền Nam năm xưa lại tập trung, ôn lại một thời khó khăn, gian khổ nhưng đầy hào hùng. Nhà truyền thống Ban Dân y Nam bộ được xây dựng ở căn cứ Chàng Riệc, trên chính quả đồi ngày xưa, để lưu giữ những kỷ vật, ký ức giai đoạn đó; đồng thời góp phần giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống của cha ông.
Ng.Anh ghi
daibieunhandan.vn
Người chiến sĩ phất cờ chiến thắng tại Dinh Độc Lập
Ông Đô và đồng đội thường ôn lại kỷ niệm chiến đấu và chiến thắng bằng những hiện vật sờn cũ. (Ảnh: Trung Hiền/Vietnam+)
Người đàn ông nhỏ nhắn, lưng gù, dáng vẻ hiền hậu lật giở từng xếp tài liệu cũ mèm, miệng vanh vách kể cho người khách trẻ những trận chiến ác liệt để giải phóng miền Nam.
Ít ai biết rằng, ngày còn trai tráng, ông cao tới 1,73m, là một trong những chiến sĩ đặc công xuất sắc của Binh chủng Đặc công. Và, ông cũng chính là người đã phất lá cờ giải phóng trên dinh Độc Lập…
Theo nghiệp binh đao
Ngôi nhà nhỏ, giản dị của người lính đặc công năm xưa, ông Phạm Duy Đô nằm sâu trong một con ngõ… cực nhỏ ở Thành phố Thái Bình (tỉnh Thái Bình). Tiếp khách nhẹ nhàng, nhưng đến khi kể về những trận đánh năm xưa, ông Đô cất giọng sang sảng, rất đỗi tự hào.
Tháng 5/1969, khi mới 17 tuổi, Phạm Duy Đô nhập ngũ và trở thành chiến sĩ của Binh chủng Đặc công. Sau thời gian huấn luyện 9 tháng, anh được lựa chọn là một trong 6 chiến sĩ đặc công đi biểu diễn cho lãnh tụ Fidel khi ấy sang thăm Việt Nam.
Vào chiến trường miền Nam, Phạm Duy Đô luôn đi đầu, là một người lính quả cảm, luôn xông pha vào nơi mũi tên, hòn đạn.
Chỉ tay vào hai vết sẹo trên đùi, ông kể rằng trong trận đánh Chiến đoàn 43 đóng tại Biên Hòa của địch vào năm 1972, ông đã bị đạn găm vào hai bên đùi, cây đè lên cột sống bất tỉnh. Đồng đội tưởng ông đã hy sinh, bèn khênh Phạm Duy Đô ra bờ suối để đợi đến sáng đem chôn thì nửa đêm ông tỉnh lại. Sau khi điều trị tại chỗ một thời gian, ông lại tiếp tục vác súng chiến đấu với kẻ thù, giành giật từng thước đất cho quê hương.
Trong ký ức của những năm tháng trai trẻ ùa về, ông Đô nhớ như in lần bắt sống một viên đại tá Ngụy quyền tên là Kiệt khiến đám lính Ngụy khiếp sợ.
Nói về hành động táo bạo này, ông Đô kể rằng năm 1974, ông nhận lệnh của Quân ủy Miền phải bắt bằng được đại tá Kiệt (thuộc Chiến đoàn 43) – kẻ nắm hồ sơ về việc điều hành Mỹ-Ngụy bắn phá miền Bắc cũng như nắm rõ về lịch điều quân Ngụy ra Quảng Trị, Buôn Mê Thuột và các quân khu.
Để thực hiện nhiệm vụ, Phạm Duy Đô đã mất cả tháng trời cải trang thành lính Ngụy để theo dõi lịch trình sinh hoạt của tên Kiệt. Sau khi biết tên Kiệt có một rẫy cà phê ở khu vực Biên Hòa, ông đã lên kế hoạch chi tiết để bắt tên đầu sỏ này khi hắn đến thăm rẫy và cuộc vây bắt thành công.
Trận đánh cuối cùng
Trải qua hàng trăm trận đánh oai hùng, chiến sĩ đặc công Phạm Duy Đô thấy mình vô cùng may mắn khi chứng kiến thời khắc cuối cùng của chế độ Ngụy quyền, và tự tay vẫy lá cờ giải phóng trên dinh độc lập.
Theo lời kể của ông Đô, vào những ngày cuối cùng của tháng Tư năm 1975 (khi ấy ông Đô là Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 116 của Binh chủng Đặc công), Đại đội của ông được lệnh tấn công kho xăng An Bình, chiếm và giữ cầu xa lộ Biên Hòa.
Nhận lệnh, ngày 26/4, Đại đội của Thượng sĩ Phạm Duy Đô gồm 24 chiến sĩ đặc công đã bất ngờ tập kích kho xăng An Bình, đánh tan một trung đoàn của địch. Sau đó, ông Đô lại chỉ huy lực lượng đánh tan 1 trung đoàn thủy quân lục chiến của Ngụy ở trên thuyền (dưới cầu xa lộ Biên Hòa), giải phóng 2 ấp cạnh đó để làm nơi tập kết vũ khí, đạn dược… Những trận đánh ác liệt này đã cướp đi sinh mạng của 6 chiến sĩ đặc công, song đã giúp ta giành thắng lợi lớn, giữ thành công cây cầu để đường cho Đại quân thẳng tiến vào giải phóng Sài Gòn.
(Ảnh chụp lại tại Bảo tàng Binh chủng Đặc công).
Hoàn thành nhiệm vụ, Đại đội của ông Đô lại chia làm 2 mũi, cùng với xe tăng của Đại quân tiến vào Sài Gòn, thẳng tới dinh Độc Lập làm nhiệm vụ chiến đấu và chỉ đường. Chiếc xe tăng ông Đô ngồi đi thứ hai.
Sau khi chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cổng dinh độc lập, chiếc xe tăng chở Thượng sĩ Đô cùng Trung úy xe tăng Bùi Quang Thận (người cắm cờ trên dinh Độc lập)… vòng theo phía tay trái tiến lên.
Ngay lập tức, Thượng sĩ Phạm Duy Đô đã chạy lên ban công của dinh Độc lập, vẫy cờ giải phóng để ra hiệu cho xe tăng tiến vào. “Khi ấy, toàn bộ Trung đoàn Đặc công đã bao vây dinh Độc lập. Và địch đã chịu bỏ giáp đầu hàng,” ông Đô nhớ lại.
Sau khi ra hiệu cho xe tăng tiến vào, ông Đô cùng đồng đội đã phát hiện toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn trong phòng họp. Lực lượng đột kích thọc sâu của Quân đoàn 2 đã kịp thời bắt sống nội các chính quyền Sài Gòn. Và, tướng Dương Văn Minh-Tổng thống Ngụy quyền đã phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Ước vọng giản đơn
Sau giải phóng, Phạm Duy Đô được cử về tiếp quản quận Thủ Đức, làm công tác huấn luyện chiến sĩ mới. Sau đó, ông đã xin giải ngũ vào năm 1983.
Trải qua nhiều trận đánh ác liệt, lập nhiều chiến công và được tặng rất nhiều phần thưởng cao quý như 2 Huân chương Chiến công hạng Hai; Huân chương Chiến công hạng Nhất; Dũng sĩ diệt Mỹ; Dũng sĩ diệt cơ giới; Huân chương chiến sĩ Giải phóng hạng 2, 3…, Thượng úy Phạm Duy Đô [ông Đô được phong Thượng úy năm 1976] đã góp phần không nhỏ trong những trang sử vẻ vang của Binh chủng Đặc công nói riêng, Quân đội Nhân dân Việt Nam nói chung.
Về quê, ông cùng vợ – cũng là một bộ đội giải ngũ trở lại cuộc sống nông nghiệp và sinh con, có cháu. Thế nhưng, chiến thắng nào cũng phải trả giá, vóc dáng cao to lực lưỡng của người chiến sĩ năm nào nay như đã co lại. Ông trở thành một người gù nhỏ bé, không có nhiều sức khỏe bởi những cơn đau hành hạ khi trái nắng, trở trời.
Không những thế, con và cháu nội của ông Đô đã nhiễm di chứng chất độc hóa học do cuộc chiến tàn khốc để lại. Cuộc sống vất vả với trợ cấp thương binh hạng 2/4 và tiền trợ cấp chất độc hóa học (được lĩnh từ năm 2012) ít ỏi, nhưng vợ chồng ông Đô không lấy thế làm phiền lòng. Họ vẫn kể cho con cháu, hàng xóm nghe những chiến công năm xưa, về vinh dự khi được làm người lính bộ đội cụ Hồ, về ý chí quật khởi của những năm tháng hào hùng toàn dân tộc…
Khi nhắc đến sự đãi ngộ, ông Đô chỉ cười hiền, bởi khi khoác áo lính, mong ước duy nhất của ông chính là ngày quê hương giải phóng, đất nước thanh bình.
Trong tâm thức của người cựu chiến binh đặc công anh dũng năm xưa ấy, giờ chỉ có một mong muốn tột đỉnh: “Tôi chỉ ước đồng đội còn nằm lại đâu đó nơi chiến trường năm xưa sẽ được đoàn tụ với người thân trong một ngày gần đây,” ông Đô nghẹn giọng.
Nói như người chú ruột của ông Đô, một thương binh hạng 1/4, thì gia đình của ông có 8 người đi bộ đội, 1 là liệt sĩ và 2 là thương binh nặng. Và, đại gia đình của họ đã “mãn nguyện vì đã làm tròn nghĩa vụ với Đảng, với nhân dân”./.
Bài 4: Đặc công QĐND VN luôn sẵn sàng mọi tình huống
Trung Hiền (Vietnam+)
vietnamplus.vn
Chiến thắng 30-4-1975: Nguồn động lực tinh thần bất diệt
(GD&TĐ) – Ngày 30/ 4/ 1975 đã đi vào lịch sử dân tộc và trở thành biểu tượng của chiến thắng. Vào ngày này cách đây 38 năm miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước ta được thống nhất, non sông thu về một mối; rợp trời cờ và hoa, ngập tràn nụ cười và nước mắt vui. Và từ đó, cứ mỗi độ tháng tư về, một không khí rạo rực thiêng liêng đón chờ ngày chiến thắng cứ rạo rực dâng lên khắp phố phường, làng bản trên đất nước Việt Nam yêu dấu và trong lòng biết bao người Việt Nam đang ở xa Tổ quốc.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 bao gồm 3 chiến dịch chính – 3 đòn tiến công chiến lược là chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế – Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh. Đây không chỉ là chiến thắng vĩ đại kết thúc 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, kết thúc 30 năm chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc mà còn là chiến thắng lẫy lừng nhất trong lịch sử dân tộc. Chỉ trong vòng 55 ngày đêm, với nhịp độ thần tốc, quân và dân ta với sức mạnh tổng hợp quân sự và chính trị, đã đánh tan hơn 1 triệu quân ngụy, đập tan bộ máy ngụy quyền được Mỹ đỡ đầu suốt hơn hai chục năm trời. Ngày 10/ 3/ 1975 ta nổ súng tiến công Buôn Mê Thuột. Ngày 17/ 3/ 1975 địch rút chạy hoàn toàn khỏi Bắc Tây Nguyên. Ngày 26/ 3/ 1975 ta giải phóng Huế. Ngày 29/ 3/ 1975, Đà Nẵng được giải phóng. Ngày 24/ 4/ 1975 ta đập tan phòng tuyến Xuân Lộc của địch, mở toang cánh cửa hướng đông tiến vào Sài Gòn. 17 giờ ngày 26/ 4/ 1975 chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu và 11h ngày 30/4/1975 cờ giải phóng tung bay trên nóc dinh Độc lập – dinh Tổng thống ngụy quyền, kết thúc thắng lợi cuộc Tổng tấn công thần tốc.
Đại thắng mùa xuân 1975 đã chứng minh tài thao lược và trí tuệ của Đảng ta trong lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh cách mạng, đã thể hiện đậm nét nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân. Có được chiến thắng vẻ vang như vậy là do Đảng đã hội tụ được sức mạnh của quân và dân cả nước, sức mạnh của toàn dân tộc và sức mạnh thời đại. Chiến thắng 30/ 4/ 1975 là chiến thắng của khát vọng độc lập dân tộc “không có gì quý hơn độc lập tự do”, là chiến thắng của sự gắn kết mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đại thắng mùa xuân 1975 đã mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam: kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
35 năm đã trôi qua. Chiến tranh đã lùi xa nhưng ký ức chiến tranh còn đó. Thời gian có thể xóa đi những dấu vết chiến tranh nhưng hậu quả của nó còn hiển hiện ở nhiều nơi. Hàng triệu người đã bị thiệt mạng trong cuộc chiến tranh do đế quốc Mỹ tiến hành. Còn đó nghĩa trang Trường Sơn với hơn một vạn nấm mộ liệt sĩ. Còn có biết bao nghĩa trang liệt sĩ khác trên khắp đất nước này. Những dòng sông hoa đỏ tưởng nhớ người đã khuất không chỉ lặng chảy trên mặt đất của vùng chiến địa khốc liệt xưa mà còn âm thầm chảy trong tâm tưởng của biết bao người dân Việt hôm nay và cả mai sau. Những bà mẹ Việt Nam anh hùng dẫu được sống trong sự đùm bọc yêu thương của cộng đồng dân tộc, nhưng không tình cảm yêu thương nào có thể xóa đi nỗi đau quặn thắt tận sâu thẳm cõi lòng mẹ khi những đứa con yêu của mẹ ra đi mãi mãi không về. Rồi hơn 4 triệu nạn nhân chất độc màu da cam với những di chứng truyền lại cho thế hệ sau… Càng thấm thía nỗi đau bởi những hy sinh mất mát trong chiến tranh và thời hậu chiến, chúng ta càng hiểu và trân trọng giá trị của hòa bình, càng thêm biết ơn những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh cho cuộc sống hôm nay đơm hoa kết trái hạnh phúc.
Sau 35 năm, từ hoang tàn đổ nát của chiến tranh, từ một đất nước đói nghèo lạc hậu vì chiến tranh kéo dài và hàng trăm năm bị chủ nghĩa thực dân đô hộ, Việt Nam đã sớm hồi sinh, vươn mình trỗi dậy và tìm ra con đường đi lên đúng đắn, làm nên những bước phát triển diệu kỳ, nhất là trong 24 năm đổi mới và mở cửa. Nhiều năm liên tục, nền kinh tế Việt Nam có mức tăng trưởng dương trên 7%, trở thành nền kinh tế có tốc độ phát triển thuộc tốp đầu của thế giới. Nước ta đã vượt qua ngưỡng đói nghèo, có sự ổn định về chính trị, trật tự an ninh xã hội được đảm bảo, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện. Có thể nói chúng ta đã bước đầu thực hiện được di nguyện của Bác Hồ là sau ngày thắng lợi sẽ “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Riêng về lĩnh vực giáo dục, nước ta đã có hệ thống giáo dục quốc dân bề thế, thống nhất trong toàn quốc với đầy đủ các cấp học, các trình độ đào tạo từ mầm non đến sau đại học. Hệ thống giáo dục quốc dân đó đã góp phần quyết định vào việc giáo dục con người và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa qua các thời kỳ. Hiện nay nền giáo dục nước ta đang tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nhằm khắc phục những hạn chế, đưa sự nghiệp giáo dục phát triển lên một tầm cao mới để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Những thành công cơ bản của cuộc vận động “Hai không” và công cuộc đổi mới giáo dục đại học mới được phát động hiện nay đang thể hiện quyết tâm và sự nỗ lực phấn đấu của toàn ngành Giáo dục trên cơ sở được sự ủng hộ của toàn xã hội.
Tuy trước mắt còn nhiều khó khăn nhưng chúng ta có quyền tự hào về những thành tựu to lớn mà đất nước ta đã đạt được từ sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đến nay. Đạt được thành tựu to lớn như vậy, một phần quan trọng là nhờ toàn Đảng, toàn dân ta đã kế thừa và phát huy được tinh thần của
Đại thắng mùa xuân 1975 đã chứng minh tài thao lược và trí tuệ của Đảng ta trong lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh cách mạng, đã thể hiện đậm nét nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân. Có được chiến thắng vẻ vang như vậy là do Đảng đã hội tụ được sức mạnh của quân và dân cả nước, sức mạnh của toàn dân tộc và sức mạnh thời đại. Chiến thắng 30/ 4/ 1975 là chiến thắng của khát vọng độc lập dân tộc “không có gì quý hơn độc lập tự do”, là chiến thắng của sự gắn kết mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đại thắng mùa xuân 1975 đã mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam: kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
35 năm đã trôi qua. Chiến tranh đã lùi xa nhưng ký ức chiến tranh còn đó. Thời gian có thể xóa đi những dấu vết chiến tranh nhưng hậu quả của nó còn hiển hiện ở nhiều nơi. Hàng triệu người đã bị thiệt mạng trong cuộc chiến tranh do đế quốc Mỹ tiến hành. Còn đó nghĩa trang Trường Sơn với hơn một vạn nấm mộ liệt sĩ. Còn có biết bao nghĩa trang liệt sĩ khác trên khắp đất nước này. Những dòng sông hoa đỏ tưởng nhớ người đã khuất không chỉ lặng chảy trên mặt đất của vùng chiến địa khốc liệt xưa mà còn âm thầm chảy trong tâm tưởng của biết bao người dân Việt hôm nay và cả mai sau. Những bà mẹ Việt Nam anh hùng dẫu được sống trong sự đùm bọc yêu thương của cộng đồng dân tộc, nhưng không tình cảm yêu thương nào có thể xóa đi nỗi đau quặn thắt tận sâu thẳm cõi lòng mẹ khi những đứa con yêu của mẹ ra đi mãi mãi không về. Rồi hơn 4 triệu nạn nhân chất độc màu da cam với những di chứng truyền lại cho thế hệ sau… Càng thấm thía nỗi đau bởi những hy sinh mất mát trong chiến tranh và thời hậu chiến, chúng ta càng hiểu và trân trọng giá trị của hòa bình, càng thêm biết ơn những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh cho cuộc sống hôm nay đơm hoa kết trái hạnh phúc.
Sau 35 năm, từ hoang tàn đổ nát của chiến tranh, từ một đất nước đói nghèo lạc hậu vì chiến tranh kéo dài và hàng trăm năm bị chủ nghĩa thực dân đô hộ, Việt Nam đã sớm hồi sinh, vươn mình trỗi dậy và tìm ra con đường đi lên đúng đắn, làm nên những bước phát triển diệu kỳ, nhất là trong 24 năm đổi mới và mở cửa. Nhiều năm liên tục, nền kinh tế Việt Nam có mức tăng trưởng dương trên 7%, trở thành nền kinh tế có tốc độ phát triển thuộc tốp đầu của thế giới. Nước ta đã vượt qua ngưỡng đói nghèo, có sự ổn định về chính trị, trật tự an ninh xã hội được đảm bảo, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện. Có thể nói chúng ta đã bước đầu thực hiện được di nguyện của Bác Hồ là sau ngày thắng lợi sẽ “xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Riêng về lĩnh vực giáo dục, nước ta đã có hệ thống giáo dục quốc dân bề thế, thống nhất trong toàn quốc với đầy đủ các cấp học, các trình độ đào tạo từ mầm non đến sau đại học. Hệ thống giáo dục quốc dân đó đã góp phần quyết định vào việc giáo dục con người và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa qua các thời kỳ. Hiện nay nền giáo dục nước ta đang tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nhằm khắc phục những hạn chế, đưa sự nghiệp giáo dục phát triển lên một tầm cao mới để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Những thành công cơ bản của cuộc vận động “Hai không” và công cuộc đổi mới giáo dục đại học mới được phát động hiện nay đang thể hiện quyết tâm và sự nỗ lực phấn đấu của toàn ngành Giáo dục trên cơ sở được sự ủng hộ của toàn xã hội.
Tuy trước mắt còn nhiều khó khăn nhưng chúng ta có quyền tự hào về những thành tựu to lớn mà đất nước ta đã đạt được từ sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đến nay. Đạt được thành tựu to lớn như vậy, một phần quan trọng là nhờ toàn Đảng, toàn dân ta đã kế thừa và phát huy được tinh thần của Chiến thắng 30/ 4/ 1975 lịch sử. Chiến thắng 30/ 4/ 1975 mãi mãi là nguồn động lực tinh thần bất diệt góp phần quan trọng vào việc tạo ra sức mạnh cho đất nước ta, dân tộc ta vững bước trên con đường phát triển hướng tới một tương lai tươi sáng nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Giáo dục & Thời đại
gdtd.vn


Bạn phải đăng nhập để bình luận.