Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Ngày 8 tháng 3: “Phụ nữ VN xứng đáng là con cháu Hai Bà”

Chủ nhật, 08/03/2009, 01:52 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 83 năm, ngày 8-3-1926, từ Quảng Châu, với bí danh “Nilovski”, Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản đặt vấn đề muốn biết vì sao không nhận được những tài liệu tuyên truyền mà mình đã gửi thư yêu cầu, báo cáo những việc đã hoàn thành và tiếp tục chuyển cho Quốc tế Cộng sản những tài liệu liên quan đến phong trào nông dân ở Trung Quốc.

Ngày 8-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp Chính phủ thông báo tình hình xung đột Pháp – Hoa tại Hải Phòng và một số việc cần triển khai chuẩn bị cho khả năng đàm phán tại Paris. Buổi chiều, Bác triệu tập 50 cán bộ chỉ huy tự vệ thành Hà Nội, nhắc nhở nhiệm vụ tuyên truyền cho dân chúng và cảnh giác với những âm mưu của quân Pháp, phải nhã nhặn nhưng không nhu nhược, phải chuẩn bị chủ động và liên tục…

Trong ngày, Bác ký nhiều văn bản, gửi công hàm cho nhà cầm quyền Pháp ở Nam bộ, gửi thư cho Đô đốc D’Argenlieu về việc cử phái đoàn vào Nam giám sát và bày tỏ hy vọng bản hiệp định sẽ được các bên thực hiện nghiêm chỉnh. Cũng ngày hôm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Nghiêm lệnh” với nội dung “Chính phủ hạ lệnh cho toàn thể nhân dân và bộ đội phải giúp đỡ cho quân đội Trung Hoa, trong lúc quân đội Trung Hoa thoái triệt…”.

Ngày 8-3-1952, lần đầu tiên kỷ niệm Ngày Phụ nữ Quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng và Ngày Phụ nữ Quốc tế”. Thư viết: “Hai Bà Trưng để lại cho phụ nữ Việt Nam một truyền thống vẻ vang, là dũng cảm kháng chiến… Phụ nữ Việt Nam đã xứng đáng là con cháu Hai Bà và là lực lượng trong Quốc tế phụ nữ. Nhân dịp 8-3, tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc… Tôi kính chào các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ cùng vợ con các liệt sĩ… Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Cùng ngày, bác viết bài “Nam nữ bình quyền” với những lập luận sâu sắc: “Nhiều người lầm tưởng đó là một việc dễ, chỉ: hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát thế là bình đẳng bình quyền. Lầm to! Đó là một cuộc cách mạng khá to và khó. Vì trọng nam khinh nữ là một thói quen mấy nghìn năm để lại. Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội… Vì thế mà không thể dùng vũ lực mà tranh đấu… Vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật. Phải cách mạng từng người, từng gia đình đến toàn dân. Dù to và khó nhưng nhất định thành công”.

Ngày 8-3-1965, Bác Hồ đến thăm Nhà máy Dệt 8-3 vào thời điểm chuẩn bị làm lễ khánh thành. Đây là công trình xây dựng từ nguồn vốn có phần đóng góp của phụ nữ cả nước với quy mô và trang bị hiện đại nhất miền Bắc lúc đó. Cùng ngày, trong bài viết “Sách trắng của Mỹ” của Bác đăng trên báo Nhân Dân, tác giả vạch rõ bản chất xâm lược của Mỹ và kết cục tất yếu của cuộc chiến tranh Việt Nam: “Đế quốc Mỹ chỉ có thể chọn một trong hai con đường: hoặc là chuẩn bị tinh thần chờ đón một trận Điện Biên Phủ, hoặc là thi hành đúng Hiệp định Giơnevơ năm 1954, tức là chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược… Nếu đế quốc Mỹ khôn hồn theo con đường thứ hai, nhân dân Việt Nam sẽ sẵn sàng hoan tống họ một cách lịch sự”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 7 tháng 3: Dù gay go mấy, chúng ta cũng không hoang mang

Thứ bảy, 07/03/2009, 02:47 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí MinhCách đây 63 năm, ngày 7-3-1946, tại Bắc Bộ phủ, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại diện của Pháp để bàn việc triển khai bản Hiệp định sơ bộ vừa ký ngày hôm trước, đặt vấn đề cuộc hội đàm chính thức nên được tổ chức tại Paris.

Đến đầu giờ chiều cùng ngày, Hồ Chủ tịch đã đạt được thỏa thuận với J.Sainteny là cùng ký dưới một thông báo chung để bố cáo rộng rãi nội dung bản hiệp định và nêu rõ: “Việc đầu tiên thực hiện Hiệp định sơ bộ là chấm dứt mọi cuộc xung đột trên lãnh thổ Đông Dương, 24 giờ sau khi bản thông báo này được phát đi trên các làn sóng đài phát thanh Hà Nội và đài phát thanh Sài Gòn”.

16 giờ cùng ngày hôm đó, Bác dự cuộc mít tinh lớn của đông đảo nhân dân Hà Nội để giải thích về bản hiệp định vừa ký kết. Sau phát biểu của đồng chí Võ Nguyên Giáp, khẳng định “Tư tưởng chỉ đạo, mục đích của Chính phủ là hòa bình vì tiến bộ”, Vũ Hồng Khanh, người tham gia ký kết, cũng xác nhận: “Mục đích đó, chúng ta không chỉ một bước mà đạt được”.

Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên tiếng: “Nước ta độc lập thực sự từ tháng 8-1945. Nhưng tới nay chưa một cường quốc nào công nhận nền độc lập của ta. Cuộc điều đình với nước Pháp sẽ mở ra con đường làm cho quốc tế thừa nhận ta. Nó dẫn ta đến vị trí ngày càng chắc chắn trên trường quốc tế. Đó là một thắng lợi về mặt chính trị… Đồng bào nên bình tĩnh, đoàn kết, trọng kỷ luật”. Cuối cùng, vị Chủ tịch của nước Việt Nam mới tuyên bố: “Tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bán nước!”. Cùng ngày, Bác ký giấy ủy nhiệm cho các phái viên đặc biệt của Chính phủ vào Nam bộ để giải thích và thi hành Hiệp định Sơ bộ 6-3.

Ngày 7-3-1947, trong thư gửi lãnh đạo “Phòng Nam bộ”, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Bác viết: “Dù gay go mấy, chúng ta cũng không sợ, không hoang mang, vì chúng ta biết trước những sự gay go đó. Vì chúng ta tự tin đủ sức khắc phục nó. Và vì chúng ta chắc thắng lợi cuối cùng sẽ về tay ta”.

Ngày 7-3-1951, tại phiên bế mạc Đại hội thống nhất Việt Minh và Liên Việt, Bác được bầu làm Chủ tịch danh dự Mặt trận Liên hiệp Quốc dân Việt Nam.

Ngày 7-3-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện tới Tổng thống Cộng hòa Pháp yêu cầu hủy bản án tử hình đối với nữ thanh niên yêu nước Angiêri – Giamila Buhiret. Điện viết: “Thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi đề nghị Ngài có biện pháp phù hợp với truyền thống yêu chuộng công lý và nhân đạo của nhân dân Pháp để cứu sống chị Giamila…”.

Cách đây nửa thế kỷ, ngày 7-3-1959, tại thủ đô Jakarta, Bác đón nhận từ Tổng thống Indonesia tấm “Huân chương Du kích” với lời đáp từ: “Hai dân tộc chúng ta đã làm cho thế giới thấy rằng, với lực lượng đoàn kết của toàn dân thì dù với vũ khí thô sơ, chúng ta cũng đánh thắng thực dân đế quốc”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Ngày 6 tháng 3: “Tự hào vì miền Nam Thành đồng Tổ quốc”

Thứ sáu, 06/03/2009, 03:53 (GMT+7)

Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách đây 63 năm, ngày 6-3-1946 là một thời điểm nghiêm trọng. Buổi sáng, đụng độ đã nổ ra giữa quân Pháp và quân Tưởng Giới Thạch tại cảng biển Hải Phòng. Ngoại giao con thoi giữa tất cả các bên đều diễn ra khẩn trương để tháo ngòi nổ.Tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội đồng Chính phủ họp để hoàn chỉnh dự thảo một văn bản để ký kết với Pháp. Toàn thể hội đồng đã nhất trí và ký vào biên bản tán thành.

Vào 16 giờ 30 ngày 6-3-1946, Hiệp định Sơ bộ đã được ký kết tại số nhà 38 Lý Thái Tổ, Hà Nội, với những điều khoản khẳng định nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội và tài chính của mình; việc hợp nhất 3 kỳ do nhân dân Việt Nam tự giải quyết và Việt Nam nằm trong Liên bang Đông Dương cũng như trong Khối Liên hiệp Pháp. Phát biểu sau lễ ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chúng tôi không thỏa mãn vì chưa giành được hoàn toàn độc lập, nhưng chúng tôi sẽ giành được độc lập hoàn toàn”.

Một năm sau, ngày 6-3-1947, khi cuộc kháng chiến toàn quốc đã bước qua tháng thứ 3, gặp gỡ những người làm việc gần mình, Bác giải thích: “Sức ta bây giờ như chàng trai mười sáu mà sức giặc bây giờ như một lão già quỷ quyệt, độc ác. Nếu ta cậy sức đánh bừa thì sao chắc thắng được. Phải vừa đánh vừa nuôi sức mình cho khỏe lên… Khi sức ta đã khỏe, giặc suy yếu dần, ta mới lừa thế quật ngã nó, như vậy mới chắc thắng. Cho nên kháng chiến trường kỳ mới nhất định thắng lợi”. Và những người giúp việc gần Bác nhất từ đó mang các tên: Kháng, Chiến, Trường, Kỳ, Nhất, Định, Thắng, Lợi.

Ngày 6-3-1948, Bác gửi thư tới Hội nghị Chính trị viên toàn quốc lần thứ 2, nêu tầm quan trọng của công tác chính trị và phẩm chất của chính trị viên: “Đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn… Chính trị viên phải làm người kiểu mẫu trong mọi việc”.

Cũng trong tháng 3-1948, Bác viết thư (không đề ngày) gửi Giám đốc Sở Công an khu 12 và ngày nay nội dung lá thư đã trở thành “6 điều Bác Hồ dạy” Lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam: “Tư cách người công an cách mệnh là: Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính; Đối với đồng sự phải thân ái, giúp đỡ; Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành; Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép; Đối với công việc, phải tận tụy; Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”.

Cách đây nửa thế kỷ, ngày 6-3-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Tổng thống Indonesia Sukarno đến thăm làng Ubut, một căn cứ kháng chiến chống Nhật của Indonesia và thăm thủ phủ Bali.

Ngày 6-3-1967, Bác Hồ gửi thư khen quân dân Thanh Hóa bắn rơi chiếc máy bay thứ 1.700 và 1.701 của Hoa Kỳ. Cùng ngày, Bác viết thư gửi Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ hoan nghênh Cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và nhấn mạnh: “Tổ quốc và nhân dân Việt Nam rất tự hào vì miền Nam Thành đồng Tổ quốc”.

D.T.Q và nhóm cộng sự
sggp.org.vn

Từ những “ao cá Bác Hồ” năm xưa…

Người là niềm tin tất thắng(ĐCSVN) – Ngót nghét gần 30 năm trôi qua kể từ khi cả nước thực hiện phát động của Ban Bí thư xây dựng phong trào “ao cá Bác Hồ”. Giờ đây, nhìn lại phong trào ấy, mới thấy, chính từ sự quan tâm của Bác đến người nông dân, nông nghiệp – nông thôn, nghề nuôi cá nước ngọt đã phát triển mạnh như ngày nay. Không dừng lại ở đó, ao cá Bác Hồ còn là một không gian văn hoá, một nơi hội tụ những tình cảm cộng đồng, không chỉ của hôm qua mà cả hôm nay…

Ao cá Bác Hồ khơi dậy nghề cá

Chúng tôi về Quỳnh Phụ, một huyện chiêm trũng thuộc diện “chiêm khê mùa thối” của Thái Bình năm xưa, nay đã thành vùng có năng suất thâm canh lúa cao nhất tỉnh, có nghề nuôi cá rất phát triển vì nơi đây cũng là nơi có nhiều ao hồ nhất tỉnh. Có một điều khiến chúng tôi chú ý là ven nhiều ao hồ lớn, vẫn còn nguyên tấm biển “ao cá Bác Hồ”. Ông Phạm Văn Tổng, chủ tịch xã An Ấp, xã “rốn trũng” nhất huyện, gần như 100% hộ gia đình có ao cá xúc động hồi tưởng lại: Mô hình VAC và “cánh đồng 50 triệu/ha” đang giúp xã ngày càng giàu mạnh có một cái “nền” gốc từ nghề nuôi cá, từ những “ao cá Bác Hồ”. Những năm 80, gần như 100% các hợp tác xã ở Thái Bình đều có ao cá Bác Hồ. Ở An Ấp, ao cá Bác Hồ của toàn xã là một hồ rộng tới hơn 2 ha. Ao là nơi ươm cá giống, cung cấp cho ao của các hộ gia đình…

Nói về sự ra đời của những ao cá Bác Hồ, ông Nguyễn Văn Công, cán bộ Khu di tích Phủ Chủ tịch cho biết: Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm đến nghề nuôi cá, Người từng căn dặn: “Dân ta có nghề nuôi cá cổ truyền, điều quan trọng là phải có quyết tâm, có kế hoạch tốt thì sẽ có cá ăn, nuôi cá sẽ có kết quả. Chính Người đã giành thời gian, công sức phát triển hồ nước trong Phủ Chủ tịch thành ao cá lớn. Trước tháng 10 – 1954, trong vườn sau Phủ toàn quyền Đông Dương (sau là Phủ Chủ tịch) có một hồ nước chứa cho hươu nai xuống uống. Khi về tiếp quản, Bác Hồ đã chỉ đạo cho anh em bảo vệ sửa lại ao, vớt bùn để nuôi cá. Hàng ngày sau giờ làm việc, Người vẫn giành thời gian cho cá ăn. Nhờ sự chăm sóc chu đáo của Bác, cá lớn rất nhanh, có con lên tới 24kg. Theo số liệu của Ban Quản lý khu di tích Phủ Chủ tịch, ao cá Bác Hồ có diện tích hơn 3.000 m2 có tới 5 tấn cá các loại, thuộc 14 loài. Nhiều loài cá được Bác trực tiếp nuôi dưỡng vẫn còn phát triển đến ngày nay. Năm 1959, hợp tác xã Tiền Phong (Yên Sở – Thanh Trì – Hà Nội) là đơn vị đầu tiên được Bác gửi tặng cá rô phi giống và họ đã nhân rộng hàng trăm ao cá Bác Hồ kiểu mẫu. Năm 1979, nhân kỷ niệm 10 năm thực hiện Di chúc của Người, theo sáng kiến của Bộ Thuỷ sản, Ban Bí thư TƯ Đảng nhất trí phát động phong trào “Ao cá Bác Hồ” trong cả nước. Các làng, xã, cơ quan, xí nghiệp, đơn vị bộ đội…đều có ao cá Bác Hồ. Nghề nuôi cá nước ngọt phát triển mạnh cho đến ngày nay nhờ đó.

Không gian văn hoá

Không chỉ là những cái ao nuôi cá, ao cá Bác Hồ còn là “không gian văn hoá” của nhiều sinh hoạt cộng đồng. Vui nhất là vào các dịp lễ Quốc khánh 2/9, rằm trung thu…Đoàn thanh niên tổ chức cắm trại, thi văn nghệ ven ao cá Bác Hồ, có nhiều trò chơi như: thi bơi lội, đi cầu Kiều, lặn bắt vịt…-ông Phạm Văn Tổng kể tiếp về ao cá Bác Hồ ở quê mình. Còn ông Nguyễn Xuân Văn, cũng ở xã An Ấp, nguyên bộ đội đoàn B20 thì ví ao cá Bác Hồ trong các đơn vị quân đội ngày ấy cũng có ý nghĩa thiêng liêng, sâu sắc như những phòng Hồ Chí Minh bây giờ…

Riêng ao cá Bác Hồ ở Phủ Chủ tịch hiện nay vẫn là một trong những nơi hấp dẫn nhiều du khách đến tham quan, tìm hiểu. Các bạn trẻ đến đây không chỉ được ngắm nghía, vui đùa cùng đàn cá mà còn được nghe những câu chuyện sâu sắc về Bác ven ao cá này.

Ao cá Bác Hồ đã giúp nhân rộng và phát triển nghề nuôi cá nước ngọt. Nhưng sự chuyển đổi mô hình khoán nông nghiệp đã thu hẹp dần các ao tập thể, phát triển kinh tế hộ gia đình gắn với mô hình VAC. Nhiều nơi đã cho tư nhân đấu thầu, thuê ao cá Bác Hồ để nuôi cá. Có nơi các ao cá Bác Hồ cũ bị thu hép để lấy đất phục vụ nhu cầu đô thị hoá. Tuy nhiên, khi đời sống vật chất ngày càng nâng cao thì ngay cả ở những làng quê, một môi trường sống trong lành, có những ao hồ rộng phục vụ sinh hoạt, điều tiết môi trường ngày càng trở thành nhu cầu không thể thiếu. Dấu ấn đẹp về các ao cá Bác Hồ vẫn không hề nhạt phai trong nhiều thế hệ. Nhiều người dân vẫn mong muốn, các làng xã, các đơn vị quân đội khôi phục lại việc xây dựng ao cá Bác Hồ sao cho phù hợp với điều kiện mới…

Nguyễn Văn Minh
dangcongsan.vn

Học tập và làm theo tác phong của Bác Hồ

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânTư tưởng, đạo đức, tác phong của Bác Hồ mãi là di sản vô giá đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Bác Hồ luôn thực hiện phương châm “Nói phải đi đôi với làm”. Người đã làm nhiều hơn những điều đã nói và viết. Niềm tin tuyệt đối, sự kính trọng đến mức thiêng liêng của mọi người đối với Bác Hồ cũng bắt nguồn từ đó.

Điểm nổi bật nhất trong tác phong của Bác Hồ là tính quần chúng sâu sắc, sự tin yêu là tôn trọng quần chúng, học hỏi quần chúng, luôn luôn quan tâm đến đời sống quần chúng. Bác Hồ thường dạy cán bộ, đảng viên phải “Từ nơi quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”. Bác Hồ đã nhiều lần phê phán tệ xa rời quần chúng, lên mặt “quan cách mạng”, “quan nhân dân” không chú ý lắng nghe ý kiến phê bình, những kiến nghị của quần chúng và nhắc nhở “Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. Thực tế, quần chúng chỉ tin yêu, kính phục cán bộ, đảng viên có tấm lòng trọn vẹn với dân, với nước. Tấm lòng của Bác đối với nước, với dân mênh mông như biển cả, khi đã trở thành Chủ tịch nước, dù bận trăm công nghìn việc, nhưng đã hàng trăm lần Bác đi thăm các đơn vị, địa phương. Đối với mọi người Bác Hồ đều ân cần, trân trọng. Ngay đối với các cháu thiếu niên, nhi đồng, Bác Hồ đã từng nói với các đồng chí phục vụ “ở nhà cháu là con là cháu của các chú, nhưng vào đây các cháu là khách của Bác”. Nhận được hàng nghìn lá thư của nhiều người khác nhau Bác Hồ đều đọc và trả lời một cách chu đáo, luôn có ý kiến cụ thể để các cơ quan có trách nhiệm giải quyết.

Bác Hồ luôn luôn có tác phong tập thể dân chủ. Bác thường xuyên yêu cầu cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo phải xây dựng một tác phong tập thể dân chủ trong công tác, trong lãnh đạo. Phải gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể, sẽ tránh được nhiều khuyết điểm, sai lầm. Bác Hồ thường nói: Không có một người nào có thể hiểu biết được tất cả mọi thứ, làm nổi được tất cả mọi việc. Ngay đến anh hùng, lãnh tụ cũng vậy “Đem so với công việc của loài người trong thế giới, thì những người đại anh hùng xưa nay cũng chẳng qua làm tròn một bổn phận mà thôi”. Cái thông minh của người phụ trách, người lãnh đạo không chỉ là những điều tự mình nghĩ ra mà quan trọng hơn chính là ở chỗ biết phát huy và tổng hợp được những cái thông minh của nhiều người khác, của tập thể. Tác phong tập thể dân chủ đòi hỏi phải mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng dân chủ với quần chúng, phát huy tinh thần làm chủ, sáng tạo của mọi người. Đối với người phụ trách, người lãnh đạo, tác phong tập thể dân chủ đòi hỏi phải hết sức lắng nghe cấp dưới, hơn thế nữa còn biết khơi gợi cho cấp dưới nói lên ý kiến của mình. Bác Hồ đã có tác phong tập thể dân chủ rất cao. Dù ở cương vị đứng đầu Đảng hay Nhà nước Bác Hồ vẫn giữ lối làm việc tập thể dân chủ.

Trong công tác lãnh đạo, Bác Hồ yêu cầu cán bộ, đảng viên phải xây dựng tác phong khoa học, cách làm việc có khoa học. Tác phong khoa học đòi hỏi trong khi làm việc, trong khi lãnh đạo. Theo Bác Hồ là phải có kế hoạch rõ ràng, từ kế hoạch lớn đến kế hoạch nhỏ, từ kế hoạch dài đến kế hoạch ngắn, làm việc có chương trình, giờ nào việc ấy, làm việc có điều tra nghiên cứu, nắm chắc tình hình, nắm chắc vấn đề mới đi đến quyết định. Đối với người phụ trách, người lãnh đạo, phải có cách sử dụng bộ máy, sử dụng những cộng sự để họ giúp mình nắm được những thông tin cần thiết và chính xác, đặc biệt là sàng lọc những thông tin sai lệch, những báo cáo sai sự thật.

Tác phong khoa học đòi hỏi chúng ta làm việc phải cụ thể, chính xác, thiết thực, có hiệu quả, đã làm thì phải làm một cách quyết liệt, khẩn trương, làm đến nơi đến chốn, không bày biện ra nhiều thứ, làm ít nhưng làm hẳn hoi. Bác Hồ phê phán cái bệnh “hữu danh vô thực”, “Làm việc không thiết thực, không từ cái gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên, làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một báo cáo cho oai nhưng xét lại thì rỗng tuếch… Thế là dối trá với Đảng, có tội với Đảng. Làm việc không tiết kiệm, báo cáo không thật thà, cũng là một bệnh rất nguy hiểm”. Bác Hồ thường căn dặn cán bộ phải chân đi, mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm, óc nghĩ, không được lãnh đạo chung chung.

Sự sâu sát sẽ giúp cho người phụ trách, người lãnh đạo nhìn thấy đúng tình hình để đi đến những quyết định chính xác.

Bác Hồ luôn yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện để có được một tác phong giản dị, lành mạnh, trong sạch. Bác Hồ dạy cán bộ, đảng viên phải hướng những ham muốn vào việc phấn đấu thực hiện những mục tiêu, lý tưởng của người cách mạng, của người cộng sản, như Bác Hồ đã từng nói về mình “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Những ham muốn của con người nếu chỉ hướng vào những cái tầm thường và coi đây là trên hết, trước hết, thì như vậy là biến phương tiện thành mục đích thấp hèn. Theo Bác, mỗi người phải biết kiềm chế, không để cho những ham muốn thấp hèn trở thành thói quen trong cuộc sống, trong sinh hoạt hàng ngày. Khi đã thành thói quen rồi thì rất khó sửa, có khi nó còn làm cho con người đi tới thoái hóa, biến chất hư hỏng. Sự kiềm chế ấy trước hết thể hiện ở chỗ “Không ham địa vị, không ham người tâng bốc mình. Vì vậy là quang minh chính đại, không bao giờ hư hóa”.

Tác phong của Bác Hồ là tác phong quần chúng; tác phong tập thể dân chủ; tác phong khoa học; tác phong sinh hoạt giản dị, lành mạnh trong sạch. Đó là tác phong mang tính triệt để và khoa học sâu sắc. Tác phong ấy đã chắt lọc và chứa đựng tất cả những gì tốt đẹp nhất của truyền thống Việt Nam, của con người và dân tộc Việt Nam. Tác phong ấy lại rất hiện đại, luôn hướng con người về tương lai và là một bộ phận không thể thiếu của nhân cách những con người mới trong xã hội XHCN.

Nếu chúng ta xây dựng được một tác phong theo gương Bác Hồ trong đông đảo cán bộ, đảng viên, thì chắc chắn sẽ góp phần làm chuyển biến mạnh mẽ tình hình mọi lĩnh vực của đất nước, của quê hương, thiết thực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp.

Theo Đức Tâm
Báo Bắc Ninh (11/9/2006)

Vkyno (st)

Ký ức về Bác Hồ trỗi dậy trong tôi

Lời của Bác - Lời của non sông(ĐCSVN) – Cựu Trung tá Lương Văn Tùng (80 tuổi), nguyên Chính ủy Trung đoàn 320, Sư đoàn 8 (Quân khu 9, Bộ Quốc phòng) nay đã nghỉ hưu, hiện là Cựu Chiến binh của xã Trung An, TP. Mỹ Tho (Tiền Giang). Khi hỏi chuyện về những lần ông được vinh dự gặp Bác Hồ, tuy đã cao tuổi, nhưng ông bỗng sôi nổi hẳn lên khi ký ức về Bác trỗi dậy.

Ông Tùng sinh ra ở xã Phú Mỹ, huyện Tân Phước (Tiền Giang), khi 22 tuổi (năm 1950) tham gia bộ đội địa phương ở huyện Châu Thành, sau đó tập kết ra miền Bắc (năm 1954), đóng quân ở thị xã Sầm Sơn (Thanh Hóa) và ông vinh dự được cùng đồng dội đón Bác Hồ đến thăm đơn vị. Bác hỏi thăm đồng bào miền Nam và căn dặn: “Các cháu phải đoàn kết, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau. Đảng và Chính phủ sẽ ưu tiên, tạo mọi điều kiện cho các cháu tập tốt”. Ông Tùng lặng yên nghe như nuốt từng lời. Sau những tiếng reo mừng, giờ đây ông bỗng thấy không khí trở nên trang nghiêm lạ thường. Lần gặp Bác đã để lại trong ông rất nhiều ấn tượng khó phai. Trong thời gian ở trên đất Bắc, ông còn được gặp Bác nhiều lần nữa và lần gặp nào cũng để lại trong ông nhiều ấn tượng sâu đậm về Bác Hồ kính yêu.

Ông nhớ, có lần Bác cải trang bí mật đến kiểm tra đơn vị của ông. Lúc đó, ông Tùng là học viên của Trường Sĩ quan Lục quân đóng ở Bạch Mai. Buổi trưa hè nóng bức, nhà ăn ngột ngạt và chật kín người, bỗng thấy một lương y mặc áo màu trắng và bịt khẩu trang bước vào nhà bếp rồi lên nhà ăn. Ông cứ ngỡ quân y tới kiểm tra vệ sinh ăn uống nên không ai để ý. Đến khi vị “lương y” ấy bước ra, một học viên nhìn theo rồi bất chợt hét lên: “Bác Hồ! Bác Hồ!”. Ông nhìn theo tay anh chỉ, thấy vị “lương y” đang vẫy tay chào. Đúng là Bác Hồ, cả nhóm học viên tiếc ngẩn ngơ và giận mình sao không nhận ra Bác sớm hơn. Ông Tùng kể tiếp: Một lần khác, khi anh em ra thao trường, ông trực nhật nên phải ở doanh trại. Đang lúc quét dọn, bỗng thấy một người giống bác sĩ trong bệnh viện bước vào. Ông nhác thấy đôi dép cao su của Bác, đúng là Bác Hồ rồi. Ông reo lên: “Bác Hồ!”. Bác ra hiệu cho ông im lặng, rồi khoát tay chào. Bác Hồ tiếp tục đi thăm các tiểu đoàn khác. Sau đó, ông còn được gặp Bác Hồ tới 3 lần nữa. Lần sau cùng thật ấn tượng, vì ông được ngồi cạnh Bác Hồ, nhìn Bác thỏa thích, không bị chen lấn. Đó là năm 1961, khi ông ra trường, về nhận công tác ở Sư đoàn 316.

Ông Tùng còn nhớ như in trong đầu, khi đó, ông được thông báo đến nhà khách Bộ Quốc phòng để nghe lãnh đạo nói chuyện. Trước khi đi, các anh trong Ban chỉ huy Sư đoàn dặn “khi vào phòng, nhớ đừng ngồi sát nhau; phải bỏ ghế trống để các vị lãnh đạo ngồi chung với anh em”. Ban Tổ chức buổi lễ thông báo Bác Hồ và Bác Tôn đến thăm anh em. Tin ấy làm xôn xao cả phòng, khiến ông đứng ngồi không yên. Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía cửa. Đúng như kế hoạch, Bác Hồ và Bác Tôn dẫn đầu đoàn cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước lên cầu thang. Tất cả vỗ tay reo mừng: “Bác Hồ! Bác Hồ muôn năm !”. Bác khoát tay ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống. Bác Hồ và Bác Tôn cùng các vị ở Bộ Chính trị và Bộ Quốc phòng cùng bước vào, ngồi xen kẽ với tất cả anh em chúng tôi. May mắn thay, Bác Hồ đã ngồi cạnh cái ghế trống sát bên cạnh ông. Vừa yên vị, Bác nói, đại ý: “Các chú học chính trị, đường lối và chủ trương đã vững rồi. Bác không nói nữa. Những nhiệm vụ cụ thể thì Bộ Quốc phòng sẽ giao. Bác chỉ dặn các chú mấy điều, trước hết phải đảm bảo sức khỏe. Chặng đường sắp đến sẽ rất nhiều gian khổ. Không có sức khỏe tốt thì không vượt qua được. Khi về đến miền Nam phải đoàn kết với cán bộ địa phương, cán bộ phong trào để xây dựng lực lượng, tạo thời cơ giành chiến thắng. Các chú cố gắng đi thật nhanh để nhanh chóng giải phóng miền Nam, để Bác Hồ có điều kiện vào thăm đồng bào mình trong ấy”. Bác dừng lại để nén xúc động, rồi Người trầm giọng nói: “Các chú cho Bác gửi lời thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thiếu nhi và tất cả đồng bào miền Nam”. Bác nhìn chúng tôi với ánh mắt tràn ngập yêu thương. Chúng tôi nhìn Bác với tất cả sự ngưỡng mộ, lòng yêu thương và tôn kính.
Những kỷ niệm về Bác được ông Tùng gìn giữ, đã tiếp sức cho ông trong những ngày vượt Trường Sơn đầy gian lao, thử thách khắc nghiệt, thậm chí, phải trải qua những trận đánh ác liệt, nhưng ông Tùng vẫn không bao giờ chùn bước. Trong hành trang của ông có cả ước mơ của Bác Hồ. Ông không ngờ đó là lần cuối cùng được gặp Bác.

Đến nay, mỗi khi nhớ lại những lần được vinh dự gặp Bác, lòng ông vẫn bồi hồi. Trong tâm hồn ông còn đọng mãi hình ảnh Bác giản dị trong đôi dép cao su huyền thoại và thân thương, bình dị với bộ kaki bạc màu…./.

Nguồn: TTXVN
Vkyno (st)

Bác Hồ như một người cha

Bác Hồ

Chân dung Hồ Chủ tịch

Lần đầu tiên cũng là duy nhất ông Tạ Hùng Uy, một cựu chiến binh Trung Quốc được gặp Bác Hồ đã diễn ra cách đây hơn 40 năm. Song đến nay ông vẫn không quên từng lời nói, cử chỉ ân cần và đặc biệt là những lời căn dặn của Người. Ông đã không kìm được những giọt nước mắt xúc động khi kể lại với phóng viên báo chí về câu chuyện gặp Bác Hồ lần ấy.

Là một cựu chiến binh của Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa, tháng 5-1965 ông Tạ Hùng Uy được cử tham gia đơn vị bộ đội công trình, sát cánh cùng quân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ông nhớ mãi thời khắc được gặp Bác Hồ vào ngày 9-2-1967 khi đại đội của ông đang đóng tại Tiên Sơn (Bắc Ninh).

“Lúc 10 giờ 45 phút, Bác Hồ với mái tóc bạc phơ, dáng người dong dỏng mỉm cười tiến lại dang tay chúc mừng chúng tôi nhân dịp Xuân mới. Chúng tôi xếp thành hàng, đứng nghiêm rồi hô lớn: “Bác Hồ muôn năm! Chúc Bác Hồ mạnh khỏe!”. Bác Hồ cũng hô to: “Mao Chủ tịch muôn năm! Chúc Mao Chủ tịch mạnh khỏe!” – ông Uy xúc động kể lại.

Ông cho biết, mặc dù không có phiên dịch đi theo, nhưng Bác Hồ vẫn trò chuyện với đại đội của ông bằng tiếng Trung Quốc rất lưu loát. Người hỏi Chính ủy Quách Đình Linh: “Đồng chí đến Việt Nam được bao lâu rồi?”. Chính ủy Quách thưa: “Một năm bảy tháng ạ!”. Bác lại hỏi: “Đồng chí nói được ít tiếng Việt chứ?”. Chính ủy Quách lúng túng thưa: “Xin Chủ tịch thứ lỗi, tôi vẫn chưa nói được tiếng Việt ạ!”. Nghe vậy Bác Hồ thân mật nói: “Vậy thì tôi phải phê bình đồng chí đấy! Tôi ở Trung Quốc chỉ ba tháng mà đã có thể nói được ít nhiều tiếng Trung Quốc, đồng chí có cả một năm bảy tháng cơ mà!”. Chính ủy Quách vội vàng thưa: “Lần sau nếu được gặp Chủ tịch, tôi nhất định sẽ nói được tiếng Việt”. Bác Hồ cười: “Vậy thì tốt!”.

Ông Uy cho biết: “Sau khi thăm nơi trực chỉ huy và chỗ nghỉ, Bác Hồ hỏi thăm tình hình mọi mặt của chúng tôi. Nhìn thấy tấm nệm trên giường của chúng tôi có vẻ hơi mỏng, Bác Hồ nói với đồng chí Tố Hữu, Bí thư BCH TƯ Đảng Cộng sản Việt Nam khi đó, và đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Hà Bắc đi cùng là cần cung cấp thêm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ một tấm nệm cỏ. Chỉ năm ngày sau chúng tôi đã nhận được quà tặng của Bác Hồ, nằm trên tấm nệm mới mà cảm thấy thật ấm áp, hạnh phúc”.

Sau đó Bác Hồ xuống nhà ăn, nhìn thấy xung quanh vệ sinh sạch sẽ, trên mâm đang bày nhiều thức ăn ngon ngày Tết, Người hỏi: “Cơm nước tự các đồng chí lo à?”. Chính trị viên Đại đội 5 thưa với Người: “Cơm nước đều do anh nuôi đơn vị nấu ạ”. Bác lại hóm hỉnh hỏi: “Mọi ngày doanh trại của các đồng chí vẫn sạch đẹp như vậy chứ?”. Chúng tôi đáp: “Đúng vậy ạ!”. Bác cười: Như vậy rất tốt. Nhân đó, thủ trưởng đơn vị liền mời Bác Hồ dự bữa cơm Tết với anh em bộ đội, Bác bảo: “Cám ơn các đồng chí, tôi ăn cơm rồi”. Sau đó người bảo vệ của Chủ tịch cho chúng tôi hay là 11 giờ 30 phút Người còn đến thăm một đơn vị quân đội nhân dân Việt Nam ở phía sau núi.

Cuộc gặp với Bác Hồ diễn ra thật nhanh. Trước lúc lên đường, Bác Hồ đứng lên một mô đất cao nói với hàng trăm bà con Việt Nam nghe tin Người đến thăm địa phương đã đến chào mừng: “Các đồng chí Trung Quốc đã rời xa gia đình, quê hương, Tổ quốc đến đây sát cánh cùng chúng ta đánh giặc Mỹ xâm lược, đồng bào cần quan tâm, giúp đỡ các đồng chí…”. Bác Hồ thật ân cần, chu đáo như người cha thương yêu chúng tôi – ông Uy nhấn mạnh.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trở về Trung Quốc, đến tháng 8-2004 ông Uy cùng các cựu chiến binh Trung Quốc mới có dịp trở lại Việt Nam. Từ đó đến nay, mỗi lần sang thăm Việt Nam, ông không quên vào Lăng viếng Bác. Ông tâm sự: “Mỗi lần vào Lăng viếng Người, tôi lại không cầm nổi nước mắt và nhớ lại lần duy nhất được gặp Bác Hồ”. Để tỏ lòng kính yêu Người, ông đã dày công sưu tập các bức ảnh trong những lần Bác Hồ gặp bộ đội quân tình nguyện Trung Quốc cũng như nhiều bức ảnh khác về Bác Hồ. Mỗi lần sang thăm Việt Nam, ông Uy đều mang theo quyển album ảnh này giới thiệu với các bạn Việt Nam như để tưởng nhớ đến Bác Hồ kính yêu.

(Theo HNM)
Vkyno (st)

Tâm huyết tuyên truyền về cuộc đời, sự nghiệp và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Lời của Bác - Lời của non sông(ĐCSVN) – Bác Nguyễn Ngọc Truyện năm nay 83 tuổi, đã có 60 năm tuổi Đảng, ngụ khóm Đông An I, phường Mỹ Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tâm huyết trong công tác sưu tầm tư liệu, hình ảnh, biên soạn thành sách để tuyên truyền phổ biến có hiệu quả lớn về cuộc đời, sự nghiệp và tấm gương đạo đức Bác Hồ. 

Bác Truyện, nguyên là sinh viên trường Mỹ thuật Gia Đinh, khi ra trường bác tạm xếp bút nghiên theo tiếng gọi non sông hoạt động trong tổ chức thanh niên Cứu quốc từ năm 1947, rồi gia nhập bộ đội chính quy. Những tháng năm làm việc ở Thủ đô Hà Nội, nhiều lần bác Truyện được gặp Bác Hồ. Tài năng và đức độ Bác Hồ đã thôi thúc khát vọng mãnh liệt cho bác Truyện phải viết về Bác Hồ. Năm 1982, bác Truyện nghỉ hưu, sau khi nghỉ hưu, bác Truyện tham gia công tác địa phương, phụ trách công tác tuyên giáo tại phường Mỹ Xuyên. Từ đó, bác Truyện thực hiện sưu tầm tư liệu, hình ảnh Bác Hồ để viết thành sách xoay quanh cuộc đời và đạo đức cao cả của vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, để cho thế hệ trẻ hiểu hơn về cuộc đời, sự nghiệp của Bác Hồ.

Từ cuối những năm 1990, bác Truyện bắt tay vào việc sưu tầm và biên soạn lại cho súc tích và logic những mẩu chuyện về Bác Hồ để sinh hoạt trong các cuộc họp và in trên tờ tin hàng tháng của phường. Trong sưu tầm tư liệu và hình ảnh về Bác Hồ, bác Truyện rất chịu khó, dày công chắt lọc rồi sắp xếp thể hiện lại sinh động về Bác Hồ trong từng trang giấy, không bỏ sót thông tin tư liệu nào về Bác Hồ mà bác có được. Bác Truyện tiêu dùng thật tiết kiệm dành một khoản lương hưu ít ỏi đặt mua bảy đầu báo và tạp chí để có thêm tư liệu và hình ảnh Bác Hồ. Khi có được tư liệu, bác Truyện dành nhiều thời gian nghiên cứu biên soạn lại cho súc tích để tuyên truyền cho người nghe dễ hiểu, cảm động và nhớ lâu, và để sau này in thành sách. Suốt 30 năm dày công sưu tầm tư liệu, rồi viết lại thành những mẩu chuyện về Bác Hồ bằng vốn hiểu biết và trí sáng tạo của mình. Đến nay, bác Truyện đã thực hiện trên 5.000 bài viết, mẩu chuyện, hình ảnh về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Từ kho tàng này, bác chọn 100 mẩu chuyện và hình ảnh khái quát về Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi chào đời đến lúc đi xa. Những bài học quí giá về đường lối cách mạng, quan điểm, đạo đức, tác phong của Bác Hồ được bác Truyện trình bày thành một cuốn sách có logic theo thứ tự thời gian, trang trí hình thức phù hợp với tựa đề “Ra đi Bác dặn còn non nước”. Bác Truyện gửi nhà xuất bản Thanh Niên và được in ấn, phát hành rộng khắp vào dịp kỷ niệm 115 sinh nhật Bác Hồ (năm 2000), cuốn sách này đã phục vụ rất thiết thực cho Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” phát động vào đầu năm 2007.

Sau khi cuốn sách thứ nhất được xuất bản và phát hành, bác Truyện tiếp tục nỗ lực sưu tầm, biên soạn chuẩn bị cho cuốn sách thứ hai về Bác Hồ và đã được nhà xuất bản Thanh Niên phát hành nhân kỷ niệm 118 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 2008), với tựa đề “Hồ Chí Minh-cứu tinh dân tộc Việt”. Cuốn sách này hoành tráng hơn cuốn thứ nhất cả về nội dung và hình thức. Cuốn sách dày gần 600 trang đánh vi tính giấy khổ A4 với 240 mẩu chuyện về Bác Hồ. Mỗi bài viết đều có hình ảnh minh họa kèm theo và gồm 5 phần: Từ làng Sen ra đi tìm đường cứu nước, lãnh đạo Cách mạng thắng lợi, ra đi Bác dặn còn non nước và phần cuối là tiểu sử gia đình Bác Hồ. Cuốn sách này được đưa vào tủ sách danh nhân Hồ Chí Minh ( có logo tủ sách danh nhân Hồ Chí Minh).

Ngoài hai cuốn sách trên, bác Truyện đã sưu tầm và biên soạn, trình bày thêm hai cuốn sách về Bác Hồ với tầm cao hơn, sâu sắc hơn: Cánh sen vàng với 120 mẩu chuyện và Sức mạnh từ tấm lòng kính yêu Bác với 79 mẩu chuyện nói về lòng dân đối với Bác Hồ, với mong muốn hai tác phẩm này được xuất bản để thế hệ trẻ hiểu thêm về Chủ tịch Hồ Chí Minh và không quên cội nguồn dân tộc.

Bộ sách về Bác của tác giả Nguyễn Ngọc Truyện là công trình có giá trị cả về học thuật lẫn sáng tạo, mà ở đó, khi đọc xong nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, họa sĩ đều có thể tìm thấy chất liệu cho sáng tác của mình, bởi ở đó, chất liệu tinh lọc, dòng chảy thời gian và giá trị tư tưởng… đã hòa quyện trong lớp vỏ phương ngôn Nam Bộ mà ông đã cố ý se duyên”./.

Theo TTXVN
Vkyno (st)

Một lần được gặp và nghe Anh hùng lực lượng vũ trang Hồ Vai kể chuyện về bốn lần gặp Bác Hồ

(ĐCSVN) – Anh hùng Lực lượng vũ trang Hồ Vai, người con ưu tú của núi rừng A Lưới (tỉnh Thừa Thiên – Huế)  vinh dự được bốn lần gặp Bác Hồ. Trong mỗi lần gặp gỡ đó, Ông được Bác Hồ hỏi chuyện và căn dặn nhiều điều.

Mặc dù đã hơn 40 năm trôi qua, lời Bác dặn và những kỷ niệm về Bác vẫn luôn cháy bỏng trong Ông, tạo động lực thôi thúc để Ông chiến đấu, giành lại độc lập và đóng góp công sức vào xây dựng quê hương A Lưới ngày thêm văn minh, giàu đẹp.

Tôi chỉ biết Anh hùng lực lượng vũ trang Hồ Vai qua sách báo và tấm hình chụp Ông cùng Đoàn Anh hùng chiến sỹ thi đua toàn miền Nam ra thăm miền Bắc chụp chung với Bác Hồ năm 1956. Vì thế, khi được Ban Tổ chức cuộc giao lưu các điển hình làm theo Bác các tỉnh, thành khu vực miền Trung và Tây Nguyên (diễn ra tại Tp Đà Nẵng vào tối 22/9 vừa qua) phân công đón tiếp đại biểu về dự, tôi biết trong số 17 cá nhân điển hình về giao lưu lần này có Anh hùng lực lượng vũ trang Hồ Vai nên rất phấn khởi.

Tuy nhiên, dù đã mườn tượng rất nhiều về hình ảnh của vị Anh hùng lực lượng vũ trang đến từ vùng rừng núi A Lưới- người con ưu tú của đồng bào dân tộc PaCô nhưng tôi vẫn bất ngờ, bất ngờ đến ngạc nhiên khi biết Ông (Hồ Vai), người đang đứng trước mặt tôi lại là một cụ già đã 70 tuổi, nước gia nâu đen săn chắt, khuôn mặt hiền từ đầy phúc hậu. Cụ vừa bước vào đại sảnh của Nhà khách Trung ương Đảng tại Đà Nẵng (số 8 đường Bạch Đằng), tôi liền bước ra chào cụ và cầm đỡ chiếc va-ly. Tôi hỏi:

– Bác có mệt lắm không ?

Ông cụ cười hiền và đáp với giọng Huế nhỏ nhẹ: “Có chi mô mà mệt. Từ sáng sớm các anh trên Huyện đã đánh ô tô đến tận nhà rước mình xuống thành phố Huế, rồi các anh lại đưa mình về đây- chỉ hơn hai tiếng đồng hồ ngồi xe thôi”.

– Thưa Bác ! Bác tên là gì để cháu lấy danh sách và bố trí phòng nghỉ à ?

Cụ bảo: “Mình là A Vai, đến từ A Lưới”.

Tôi giật mình vì không tin đây là Anh hùng lực lượng vũ trang người dân tộc PaCô bốn lần được gặp Bác Hồ khi Người còn sống.

Buổi chiều trước đêm giao lưu, bác Hồ Vai đã kể cho tôi nghe kỷ niệm của mình về những lần được gặp Bác Hồ. Bác Hồ Vai nói: “Dù đã hơn 40 năm nhưng mình vẫn không thể nào quên hình ảnh thân mật, giản dị của Bác Hồ. Bác Hồ như người ông, người cha khi nói chuyện, hỏi thăm về đồng bào miền Nam, về đồng bào PaCô quê mình và dặn dò mình ra Bắc phải cố gắng học tập để khi về miền Nam giúp đồng bào đánh giặ, làm kinh tế để phát triển”. Theo lời bác Hồ Vai, trong ba năm (từ 1965 đến 1967), Ông đã được gặp Bác Hồ 4 lần. Lần thứ nhất là vào tháng 10 năm 1965, khi Ông cùng Đoàn anh hùng chiến sỹ thi đua toàn miền Nam ra thăm miền Bắc và đã được gặp Bác, nghe Bác nói chuyện tại ao cá trong vườn nhà Bác. Hồi đó, ấn tượng của Ông đôi với Bác là sự bất ngờ khi lần đầu tiên được gặp Bác; Bác ăn mặt giản dị với bộ đồ kaki bạt màu, chân đi dép cao su, tay chống gậy. “Thấy Bác đi tới, cả Đoàn chạy đến ôm chầm lấy Bác (chị Tạ Thị Kiều nhanh nhất và kế đến là tôi), mọi người vừa cười, vừa khóc vì hạnh phúc. Bác bảo: Các cháu được gặp Bác, Bác cũng đã được gặp các cháu rồi, Bác cháu ta phải vui lên chứ. Rồi Bác hỏi thăm từng người trong Đoàn. Đầu tiên Bác hỏi chị Tạ Thị Kiều; Bác hỏi nhiều về đồng bào Bến Tre, đồng bào miền Nam. Đến lược tôi Bác Hồ hỏi: Quê cháu có cái ăn, cái mặt chưa ? các cháu học sinh có đi học nhiều không ? thanh niên khoẻ mạnh, đi thoát ly, tham gia bộ đội là bao nhiêu ?….. Bác hỏi rất nhiều về đồng bào miền Nam, về quê hương và đồng bào A Lưới vì Bác nhớ miền Nam, nhớ đồng bào A Lưới. Bác hỏi gì, tôi trả lời câu đó. Câu cuối cùng Bác dặn tôi: Cháu ra ngoài này là quý lắm, nên cố gắng học tập; học văn hoá, học chính trị, học làm kinh tế để sau này về miền Nam giúp đồng bào đánh Mỹ, làm kinh tế, xây dựng Xã hội chủ nghĩa”- Bác Hồ Vai kể.

Lần thứ hai là vào ngày 22 tháng 12 năm 1966, nhân dịp Bộ Quốc phòng tổ chức kỷ miệm ngày thành lập Quân đội nhân dân, đã mở tiệc chiêu đãi các vị thượng khách quốc tế, các đại sứ quán nước ngoài đến dự lễ. Bác đến dự và Bác cũng mời Hồ Vai cùng dự. Sau khi chào hỏi các vị thượng khách, Bác nói là mệt nên xin cáo về. Thực ra Bác không về mà ra phòng bên ngoài uống nước. Khi Hồ Vai dự tiệc xong ra phòng ngoài uống nước thì được gặp lại Bác. Bác hỏi “Cháu Vai học tập đến đâu rồi ?”. Hồ Vai trả lời là “Cháu học lung tung. Thấy gì cũng thích học, cũng muốn học cả !”.

Lần thứ ba là vào khoảng giữa năm 1967. Đó là vào dịp đoàn Văn công Tổng cục chính trị sau khi đi biểu diễn tại các nước xã hội chủ nghĩa về và Bác yêu cầu diễn lại cho cán bộ ta xem. Dịp này Bác đã mời Hồ Vai đến xem.

Lần thứ tư là vào cuối năm 1967, khi ấy lớp đào tạo chính trị viên tiểu đoàn của Hồ Vai tại Trường Sơn Tây vừa kết thúc. Bác Hồ mời Hồ Vai đến căn dặn trước khi Hồ Vai trở về miền Nam. Trong lần gặp gỡ này, Bác Hồ căn dặn Hồ Vai hai điều mà ông nhớ mãi. Hồ Vai nhớ lại: Điều thứ nhất mà Bác Hồ căn dặn tôi là “Cháu vào miền Nam phải lưu ý vì chiến trường đang ác liệt, đồng bào và chiến sỹ ta còn phải hy sinh, gian khổ. Vì thế, cháu đã trở thành người cán bộ rồi, phải biết làm gương cho mọi người, phải biết yêu thương, giúp đỡ mọi người để mọi người học tập theo”. Điều thứ hai Bác dặn là “Cháu làm việc khi tiếp xúc, gần gũi với nhân dân, điều gì dù nhỏ nhất mà trái với dân, làm ảnh hưởng đến nhân dân thì phải tránh; còn điều gì dù khó khăn nhất mà phải với nhân dân, đem lại lợi ích cho dân thì cháu phải làm cho bằng được”.

Nghe lời Bác Hồ dạy, năm 1968 Hồ Vai trở lại quê hương sau hơn ba năm ra Bắc học tập. Đây cũng là thời điểm mà chiến trường miền Nam đang rất ác liệt như dự đoán của Bác Hồ. Bác Hồ Vai kể: khi đó bộ đội chính quy của ta phải rút sang Lào, ở lại bám làng chỉ còn bộ đội địa phương. Nhiều người đã động viên để ông tạm sang Lào nhưng ông không đi. Hồ Vai ở lại cùng đồng đội tiếp tục bám đất, bám làng đánh Mỹ và đã lập nên nhiều chiến công lớn, góp phần cùng nhân dân miền Nam đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào mùa xuân năm 1975.

Bác Hồ Vai kể: Chiến tranh đi qua, tôi vẫn không quên lời dạy của Bác là phải giúp đồng bào làm kinh tế để phát triển. Mình là cán bộ Cụ Hồ thì phải biết làm gương để bà con làm theo. Thế là mình động viên vợ con nuôi gà, vịt, trồng cây để phát triển kinh tế. Bây giời sức khoẻ yếu, trong nhà chỉ nuôi hơn 50 con gà đẻ để lấy trứng, hơn 20 con vị. Ngoài ra hai vợ chồng tích luỹ từ lương hưu và tiền hỗ trợ thương binh để mở một cửa hàng tạp hoá. Từ các nguồn thu này vừa để đảm bảo cuộc sống, vừa đóng góp vào Quỹ hỗ trợ người già tàn tật và trẻ em nghèo của huyện A Lưới (Hiện nay Hồ Vai là Chủ tịch Hội người tàn tật và trẻ em nghèo của Huyện).

Không chỉ làm gương cho mọi người noi theo, trong câu chuyện kể của mình, Hồ Vai còn băn khoăn trước sự khó khăn còn nhiều trên quê hương mình. Bác Hồ Vai nói, mình đã hứa với Bác Hồ là sẽ giúp đồng bào phát triển kinh tế, làm cho quê hương giàu đẹp, nhưng đến nay A Lưới vẫn còn nghèo, đồng bào còn khó. Vì thế mình phải tiếp tục động viên, giúp con cháu học tập, học làm kinh tế, phát triển đời sống văn hoá….Mình bảo bà con dân tộc và cán bộ ở địa phương phải học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ, sống xứng đáng với truyền thống của mảnh đất mà các tộc họ được mang tên Bác Hồ, một lòng nghe theo Đảng.

Câu chuyện của bác Hồ Vai kể cho tôi nghe phải dừng lại do thời gian của cuộc giao lưu, toạ đàm sắp đến. Bác Hồ Vai còn phải lên sân khấu giao lưu, nói về những việc Bác và đồng bào các dân tộc A Lưới đã làm được khi thực hiện theo lời Bác Hồ dạy. Thấy tôi còn luyến tiếc muốn hỏi thêm nhiều điều, Hồ Vai hẹn tôi có dịp lên A Lưới, sẽ kể nhiều hơn. Tôi rất vui vì qua câu chuyện kể hôm nay, tôi lại thêm một lần nữa hiểu hơn về tình cảm của Hồ Vai nói riêng và đồng bào các dân tộc A Lưới nói chung vẫn đậm đà, dành cho Bác Hồ, cho Đảng sự son sắc, thuỷ chung. Cũng qua câu chuyển kể của bác Hồ Vai, tôi càng hiểu rõ hơn tình cảm của Bác Hồ đối với miền Nam ruột thịt và càng thấm sâu hơn những lời dạy của Người về tư cách, đạo đức và trách nhiệm của một người cán bộ mà  Bác đã dặn Hồ Vai cũng như đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng./.

Đình Tăng- PV Thường trú tại Đà Nẵng
dangcongsan.vn

Những khách đặc biệt của Bác Hồ

Chuyện kể về NgườiVào một buổi sáng mùa thu tháng tám năm 1990, trong đoàn người kéo dài vô tận vào thăm nhà sàn, nơi Bác Hồ kính yêu đã từng sống và làm việc, có hai cha con người Pháp. Người phụ nữ ngoài 50 tuổi, gương mặt sáng, nụ cười tươi tắn, dáng người mảnh mai, đi bên người cha có gương mặt đôn hậu, chất phác. Đó là hai cha con ông Ôbrắc, một gia đình người Pháp có nhiều kỷ niệm sâu sắc với Bác Hồ. Người phụ nữ mảnh mai kia là Êlidabét, người con gái đỡ đầu của Bác Hồ. Đi cùng với dòng người ngắm nhìn vườn cây ao cá, dừng chân hồi lâu bên nhà sàn, ông Ôbrắc bảo với con gái của mình:

– Đây là toàn bộ gia tài của người cha đỡ đầu của con đó, con có hiểu không con?

Những giọt lệ lăn trên má chị. Chẳng lẽ Bác Hồ – người cha đỡ đầu của chị không có một cái gì khác ngoài căn nhà sàn đã đi vào huyền thoại về lối sống trong sáng, giản dị, vườn cây, ao cá và thiên nhiên xanh ngắt quanh mình! Điều khó tin nhưng có thật. Mới đó mà đã 54 năm. Biết bao kỷ niệm về Bác Hồ kính yêu không bao giờ phai mờ, nhạt nhoà trong ký ức của mỗi thành viên trong gia đình chị. Nhìn những em bé như bầy chim non vào Lăng viếng Người, chị càng hiểu sâu sắc câu nói không chỉ ở Việt Nam, mà ở khắp mọi nơi trên trái đất, nơi Bác Hồ đã từng đến, ai ai cũng thuộc:

“Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh”.

… Ngày ấy, khi chị mới ra đời trong một nhà hộ sinh ở một làng thuộc ngoại ô Pari. Lúc bấy giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đang có mặt trên đất Pháp với tư cách là một thượng khách của Chính phủ Pháp. Báo chí xuất bản ở Thủ đô Pari hoa 1ệ đều trang trọng in trên đầu trang nhất bức chân dung của Bác Hồ với những hàng tít lớn trang trọng.

Hội nghị Phôngtennơblô đang họp, Bác Hồ là thượng khách, tâm trí Người luôn hướng tới việc giành lại nền hoà bình, độc lập cho dân tộc, vấn đề Nam Bộ “là máu thịt của Việt Nam”. Ở trong toà lâu đài sang trọng, Bác Hồ cảm thấy không thoải mái vì không có vườn cây, thiếu hoa lá, thiên nhiên. Khi ông Ôbrắc đề nghị Bác đến ở tại ngôi nhà cổ kính của ông ở ngoại vi Pari, Bác Hồ đã nhận lời dọn đến ở 6 tuần lễ.

Nơi đây, cứ chiều chiều sau giờ hội đàm, gặp gỡ với các chính khách, Bác Hồ thường dắt cháu Giăng Pie, 7 tuổi, con trai đầu lòng của ông bà Ôbrắc chủ nhà, đi dạo chơi khắp làng, thăm hỏi đời sống của bà con lao động, nói chuyện với ông lão trồng hoa, vui đùa với các em bé vùng ngoại ô. Có buổi trưa, ông Ôbrắc còn thấy Bác Hồ đang cùng con trai ông, Giăng Pie nghỉ trưa thanh thản trên bãi cỏ trong vườn.

Chính trong dịp này, vào ngày 15-8-1946, gia đình ông Ôbrắc đón một tin vui mới: cô con gái út vừa chào đời. Được tin này, Bác Hồ ngồi trên xe có hộ tống đến tận nhà hộ sinh chúc mừng bà Ôbrắc và cháu bé mới sinh. Bác Hồ đặt tên cho cháu bé là Babét và nhận cháu làm con gái đỡ đầu của Người.

Từ ngày xa Pari, xa vùng ngoại vi Pari trở về nước, dù bận trăm công ngàn việc, lãnh đạo nhân dân Việt Nam trong công cuộc trường kỳ kháng chiến và những năm hoà bình ở miền Bắc cũng như cuộc đấu tranh chống Mỹ giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Bác Hồ vẫn luôn dành tình cảm của mình cho con gái đỡ đầu Babét. Tháng 6-1967, ông Ôbrắc được Hội đồng các nhà bác học thế giới họp ở Pari nhờ chuyển đến Chủ tịch Hồ Chí Minh một bức thông điệp. Gặp lại ông Ôbrắc giữa những ngày Hà Nội đang chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, Bác Hồ rất vui và không quên hỏi thăm về người con gái đỡ đầu Babét của mình. Ông Ôbrắc chuyển cho Người món quà mà chị Babét nhờ gửi đến cha đỡ đầu: một chiếc hộp vuông bên trong đựng một quả trứng được làm từ thứ đá quý. Theo chị cho biết thì ”quả trứng đó là biểu hiện của sự sống, tương lai và hoàn hảo. Cha đỡ đầu của chị là hiện thân của những điều đó”. Khi chia tay, Bác Hồ gửi một tấm lụa nhờ ông Ôbrắc chuyển cho ”con gái đỡ đầu của tôi để cháu may áo cưới”.

Hàng năm chị Babét vẫn gửi thư đều cho Bác Hồ. Ngày Bác qua đời cũng như toàn thể nhân dân Việt Nam và nhân loại yêu chuộng hoà bình, cả gia đình ông Ôbrắc vô cùng thương tiếc Người. Bao nhiêu kỷ niệm, những món quà Bác gửi cho chị Babét vẫn còn đó: bức ảnh nhỏ của Người, các con vật dễ thương bằng ngà, bằng sứ, tấm lụa Bác gửi để chị may áo cưới… vẫn còn đây. Và lần này, chị được sang thăm đất nước, thăm nơi ở, nơi làm việc của người cha ”đỡ đầu về tinh thần” của mình…

Khi nghe chị thuyết minh nói rằng hai hàng ghế đá và bể cá vàng là nơi Bác Hồ thường dùng để tiếp các khách tí hon, ”khách đặc biệt” của mình, chị Babét nước mắt tuôn trào. Chị lặng lẽ ngồi xuống tấm ghế đá mát lạnh, mắt nhìn những con cá vàng tung tăng bơi lội trong bể, thả lòng mình trong những hoài niệm không bao giờ quên về Người. Tình thương bao la của Bác vẫn dành cho tất cả mọi người, đặc biệt nhất vẫn là các em nhỏ “như búp trên cành”. Chị Babét cũng là một trong những ”cháu bé” ngày nào đã được sưởi ấm bằng “muôn vàn tình thương yêu của Bác”.

BVK (117 Chuyện kể về Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – NXB CTQG)
Vkyno (st)

Hơn 40 năm sưu tầm tem về Bác Hồ

Bác HồThường xuyên vào Nam, ra Bắc và không ít lần đi nước ngoài chỉ để sưu tầm được một con tem về Bác Hồ, hơn 40 năm bôn ba khắp nơi, ông đã sưu tầm được hàng nghìn con tem về Bác Hồ qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Nếu xâu chuỗi những con tem về Bác Hồ của ông thì cũng đủ để kể hằng trăm câu chuyện về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn với những cột mốc lịch sử. Chủ nhân của bộ sưu tầm tem về Bác Hồ quý hiếm trên là ông Nguyễn Banh, 57 tuổi, trú tại số 173 Trần Huy Liệu, phường Phú Hòa, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Từ thuở thiếu niên, ông Nguyễn Banh đã theo học nghề kim hoàn, nhưng lại đam mê với việc sưu tầm tem. Ông Banh bắt đầu sưu tầm tem về Bác Hồ khi mới 17 tuổi. “Lần đầu tiên sưu tầm tem về Bác Hồ là nhờ một người bạn ở nước ngoài tìm cho được con tem mình thích để mua lại bằng bất cứ giá nào”- ông Banh nhớ lại. Những con tem đầu tiên sưu tầm được, ông Banh mang về dán vào sách, vở, đồ dùng học tập…

Bộ tem đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phát hành vào năm 1946 là những con tem ông Banh sưu tập được đầu tiên. Trên con tem đầu tiên này, hình Bác Hồ được in chính giữa, mép trên in tên nước, phía dưới in tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Con tem này còn độc đáo ở chỗ có thêm bốn chữ: “phụ – thu – cứu – quốc” và được in trên giấy dó rất bền, có năm màu: xanh lục, hồng, vàng, xanh dương, tím. Chỉ nhìn vào những con tem được phát hành đầu tiên, ông Banh cũng đã kể được cả một câu chuyện dài về hoạt động của Bác Hồ trong những ngày tháng đất nước mới giành được chính quyền. Đó là dưới sự lãnh đạo của Đảng mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể nhân dân ta đã vùng lên đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, ngày 2/9/1945. Sau khi giành được độc lập, đất nước lại đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách. Lời kêu gọi toàn thể nhân dân cùng “phụ – thu – cứu – quốc” ra đời từ trong hoàn cảnh đó.

Ở một góc khác trong bộ sưu tầm, lại có không ít con tem thể hiện tình cảm gần gũi, thân thương của Bác Hồ với toàn thể đồng bào ta trong thời kỳ kháng chiến. Cảm động nhất là ảnh “Bác Hồ tưới cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi tặng” trong bộ tem được phát hành ngay sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, năm 1975. Theo ông Banh, con tem đã nói lên rằng: “Đồng bào miền Nam luôn ở trong trái tim của Người. Miền Nam được giải phóng, non sông đất nước thống nhất đã thỏa lòng ước mong khi Người còn sống”. Cũng năm 1975, ông Banh còn sưu tầm được bộ tem về các anh hùng ở miền Nam ra thăm và quây quần bên Bác Hồ. Hay như bộ tem được phát hành năm 1963 khiến không ít người xem xúc động trước tình cảm của Bác Hồ dành cho đồng bào miền Nam. Trên con tem này in hình Bác Hồ ân cần thăm hỏi giáo sư Nguyễn Văn Hiếu – Trưởng đoàn đại biểu đầu tiên của Mặt trận Dân tộc giải phòng miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc…

Với em Nguyễn Hạnh Nhi và những người bạn học cùng lớp tại Trường Trung học cơ sở Thủy Biểu, thành phố Huế, lại xúc động nhất với bộ tem phát hành năm 1960 có tựa đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với thiếu nhi”. Trên tem in hình Bác Hồ mở rộng vòng tay, ôm chặt lấy ba em thiếu nhi đến tặng hoa nhân dịp 70 năm ngày sinh của Người. Em Nguyễn Hạnh Nhi, nói: “qua những bài hát, bộ phim, em thấy Bác Hồ vốn đã rất gần gũi và luôn quan tâm đến thiếu nhi. Nay, được xem ảnh, thiếu nhi quây quần trong vòng tay yêu thương của Bác Hồ, em thêm kính yêu Người hơn”. Cũng có một số học sinh thắc mắc: “Thế sao Bác Hồ lại mặc bộ quân phục của các chú lính hải quân”. Ông Banh điềm đạm, giải thích: “Con tem này được phát hành năm 1980 để kỷ niệm 25 năm Ngày thành lập Hải quân Việt Nam. Vào dịp kỷ niệm ngày lễ, nhà nước đều phát hành tem về Bác Hồ. Trên những con tem đó thể hiện Bác Hồ không chỉ luôn quan tâm đến thiếu nhi, mà còn quan tâm đến tất cả mọi người”.

Bộ sưu tầm tem về Bác Hồ với các vị nguyên thủ trên thế giới cũng được ông Banh cất giữ cẩn thận. Ấn tượng nhất là bộ tem được phát hành năm 1957 có ảnh “Bác Hồ với Chủ tịch Vôrôsilop” nhân dịp kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Hay những bộ tem có in ảnh Bác Hồ với nguyên thủ các nước Trung Quốc, Lào, Ấn Độ, Cu ba… Tất cả ảnh của Bác Hồ trên những con tem này đều toát lên sự giản dị, thân mật, gần gũi với bạn bè khắp năm châu. Năm 1990, nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các nước Cu ba, Angieria… đều phát hành tem về Bác Hồ. Bên cạnh đó, ông Banh còn sưu tầm được tem về Bác Hồ do các nước: Nga, Ấn Độ, Ba Lan, Lào… phát hành nhân dịp kỷ niệm nhiều sự kiện.

Với ông Banh, sưu tầm tem cốt là để cho con cháu biết được nhiều hơn về tấm gương, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo ông, sự cần mẫn, kiên trì, tìm tòi… trong công việc sưu tầm tem về Bác Hồ chưa đủ, vượt lên tất cả là cần phải có cái tâm trong sáng. Ông Banh đã nhiều lần hiến tặng những con tem quý về Bác Hồ cho các bảo tàng. Và bộ sưu tầm tem về Bác Hồ của ông cũng đạt được nhiều giải thưởng trong những lần triển lãm, trưng bày… nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước./.

(Theo TTXVN)
Vkyno (st)

Phát huy tinh thần bình đẳng giới của Chủ tịch Hồ Chí Minh

phát huyẢnh Tư liệu

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại luôn quan tâm và đánh giá cao vị trí, vai trò của phụ nữ trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam cũng như của thế giới. Bác từng nhấn mạnh: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”…

Trong hành trình tìm đường cứu nước, cũng như đấu tranh đòi quyền được sống, quyền được tự do, quyền được mưu cầu hạnh phúc cho tầng lớp nô lệ lầm than trên thế gian này, Người luôn đặc biệt quan tâm và dành nhiều tình cảm cho “nửa còn lại của thế giới”. Bởi theo Người, phụ nữ là lớp người khổ nhất trong những người cùng khổ và bất kỳ một dân tộc, một quốc gia nào muốn giải phóng mình, muốn thoát khỏi “xiềng xích nô lệ” thì phải giải phóng cho phụ nữ.Dẫn lời C.Mác: Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái, thì biết xã hội tiến bộ ra thế nào? và V.I.Lênin “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công”, Bác khẳng định:“Đàn bà con gái cũng nằm trong nhân dân. Nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do. Ngược lại nếu dân tộc còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sẽ sống trong cảnh nô lệ đó thôi”. Và, “những lời ấy không phải câu nói lông bông. Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia”.

Không chỉ là lời nói mà bằng những hành động, việc làm cụ thể đã cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc giải phóng phụ nữ và đề cao vai trò của người phụ nữ trong mọi mặt của đời sống xã hội.

Đó là trong Bản Tuyên ngôn độc lập, Bác đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới là: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Tiếp đó tại Sắc lệnh số 14 ngày 18 tháng 9 năm 1945, đã công nhận quyền bình đẳng của người phụ nữ là: “Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền tuyển cử và ứng cử…”

Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946“… tuyên bố với thế giới: Phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân”.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác không chỉ quan tâm đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ mà còn nhìn thấy sức mạnh to lớn của phụ nữ đối với cách mạng và Bác cũng là người tiếp thêm sức mạnh cho chị em vùng dậy đấu tranh, giành độc lập dân tộc. Bác nêu ra nhiều tấm gương chiến đấu hy sinh của phụ nữ vì Tổ quốc như Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng từ buổi bình minh của lịch sử và kêu gọi chị em: Như buổi ấy là buổi phong kiến mà đàn bà, con gái còn biết cách mệnh. Huống chi bây giờ hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế giới, chị em ta lại gặp cảnh nước suy vi, nỡ lòng nào ngồi yên được! Chị em ơi! Mau mau đoàn kết lại! Từ ngày dân Việt Nam tranh được chính quyền, phụ nữ đều ra sức gánh vác công việc. Nào giúp đỡ chiến sĩ, tăng gia sản xuất. Nào chống nạn mù chữ, tham gia tuyển cử, Tuần lễ vàng, Đời sống mới…, việc gì phụ nữ cũng hăng hái.

Người luôn đề cao vai trò của người phụ nữ, đề cao những vất vả, hy sinh mà phụ nữ Việt Nam nói riêng và phụ nữ thế giới nói chung đã hy sinh cho sự tiến bộ của xã hội.

Nhân dịp 8-3, tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, như cô Nguyễn Thị Cúc và nhiều người khác.

Tôi kính chào các bà mẹ có con trong bộ đội, và các bà mẹ cùng vợ con của các liệt sĩ.

Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc ta, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng.

Nhiều bà cụ ngoài bảy tám mươi tuổi, chẳng những đã xung phong đi dân công, mà còn thách thi đua với các cụ ông và con cháu.

Các bà mẹ chiến sĩ và các chị em giúp thương binh đã hoà lẫn lòng yêu nước, yêu con, yêu chiến sĩ thành một mối yêu thương không bờ bến, mà giúp đỡ chiến sĩ và sǎn sóc thương binh như con em ruột thịt của mình.

Nói chung là phụ nữ ở vùng tạm bị chiếm, nói riêng là các nữ du kích, không quản khó nhọc nguy hiểm, ra sức giúp đỡ chiến sĩ và cán bộ, hǎng hái đấu tranh chống quân thù.

Hàng vạn phụ nữ Kinh, Thổ, Nùng, Mán, Mèo xung phong tham gia dân công, không quản trèo đèo lội suối, ǎn gió nằm sương.Phụ nữ ở xí nghiệp, ở nông thôn, ở cơ quan hǎng hái tham gia thi đua ái quốc, thành tích không kém đàn ông.

Trong phong trào phát triển bình dân học vụ, phụ nữ chiếm một phần lớn trong số người dạy cũng như trong số người học.

Nhiều chị em tiểu tư sản, trước kia quen đời sống phong lưu, nay cũng chịu khó làm lụng, tǎng gia sản xuất. Đó là một sự cải tạo lớn, một tiến bộ lớn về tư tưởng và tinh thần.

Tôi rất vui lòng thấy rằng trong mọi ngành hoạt động, các cháu nữ thanh niên đều xung phong, đều có thành tích khá.

Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ.

Các cấp lãnh đạo đi sát hơn, thiết thực hơn, thì phong trào phụ nữ chắc rộng hơn, mạnh hơn nữa”

Trích thư gửi Phụ nữ nhân dịp kỷ niệm khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Quốc tế Phụ nữ ngày 8-3-1952

Người không chỉ nêu lên vai trò, vị trí của người phụ nữ đối với xã hội mà còn là người đi tiên phong trong phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng nam nữ. Người chỉ rõ: Công tác phụ nữ trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, một trong những nội dung quan trọng là phải đấu tranh giành quyền bình đẳng cho phụ nữ. Người nhắc nhở các cấp, các ngành… phải kính trọng phụ nữ, quan tâm đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của nữ giới.

Người cũng luôn động viên, khuyến khích chị em phụ nữ phải biết phấn đấu vươn lên tự khẳng định vị trí, vai trò của mình trong đời sống cũng như công tác xã hội. Bác khuyên phụ nữ phải biết mạnh dạn, tự tin, không nên rụt rè, nhút nhát tự ti như thời đại phong kiến mà cần phải có ý kiến của mình và mạnh dạn bảo vệ những ý kiến đó, có như vậy thì mới phát huy được hết khả năng, trí tuệ của mình. Chị em phụ nữ phải biết đấu tranh, tự mình bảo vệ mình chứ không nên chỉ ngồi chờ đợi chính sách từ Đảng và Nhà nước. 

Đã qua hơn nửa thế kỷ nhưng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ vẫn có giá trị thời sự, luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm bằng các việc làm, hành động cụ thể như thông qua các khung chính sách, pháp luật về bình đẳng giới đồng thời luật hóa các quy định liên quan trong các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (tiêu biểu là CEDAW-Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ) qua các văn bản pháp luật tiêu biểu như: Luật Cán bộ, công chức, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân…Luật Bình đẳng giới được Quốc hội thông qua năm 2006 đánh dấu bước ngoặt và có tính đột phá trong sự nghiệp bình đẳng giới ở Việt Nam. Đây là văn bản luật quy định tập trung nhất các nội dung về bình đẳng giới và bảo đảm quyền của phụ nữ. Điểm nổi bật của Luật này là: Lần đầu tiên hình thành nên cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới ở Việt Nam; quy định bắt buộc quy trình lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật và yêu cầu các cơ quan chức năng xây dựng các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới…

Chính phủ đã xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lược, kế hoạch đặc thù riêng cho phụ nữ như: Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001-2010; Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu tổng quát là: “Đến năm 2020, về cơ bản, bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước”; thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào chiến lược, kế hoạch, các chương trình chung của quốc gia như: Chiến lược toàn diện tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2006- 2010…

Bộ máy tổ chức thực thi bình đẳng giới ngày càng được hoàn thiện, phát triển. Nếu cách đây 10 năm, Việt Nam mới chỉ có một tổ chức phối hợp liên ngành vì sự tiến bộ của phụ nữ được thành lập từ Trung ương tới địa phương, thì đến nay, sau khi Luật Bình đẳng giới được ban hành và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2007, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới đã được hình thành và đi vào hoạt động. Hiện nay, bộ máy quốc gia về bình đẳng giới ở Việt Nam gồm có: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam. Ngoài ra, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Nhóm nữ nghị sĩ Việt Nam cũng tích cực tham gia thực hiện công tác này.

Luôn ghi nhớ công ơn, sự quan tâm của Bác cũng như của Đảng và Nhà nước dành cho phụ nữ, các thế hệ phụ nữ Việt Nam đã luôn cố gắng hết mình phấn đấu đóng góp công sức vào sự phát triển của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử. Trong giai đoan hiện nay, với sự phát triển chung của xã hội, phụ nữ ta lại càng phải phấn đấu hết mình để vượt qua khó khăn, thách thức, đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại. Hiện nay, phụ nữ tham gia hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhiều người được giao đảm nhiệm các vị trí quan trọng của Đảng, chính quyền, đoàn thể ở các cấp từ Trung ương đến địa phương. Trong hơn thập kỷ qua Phó Chủ tịch nước luôn là nữ. Nhiệm kỳ 2004-2009, lần đầu tiên Quốc hội có một Phó Chủ tịch Quốc hội là nữ.Trong Quốc hội, Việt Nam là một trong số ít nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đạt trên 25%. Số đại biểu nữ giữ các trọng trách quan trọng trong các cơ quan của Quốc hội đã tăng lên. Trong khối cơ quan Đảng, ở cấp Trung ương, nhiệm kỳ 2005-2011, tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng (kể cả ủy viên dự khuyết) là 10%, tăng so với nhiệm kỳ 2001-2005 (8,6%), tỷ lệ cán bộ nữ tham gia Ban Bí thư Trung ương Đảng là 20% (2/10 đồng chí). Ở địa phương, tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2004-2011 đạt 23,9%, cấp huyện là 23,01% và cấp xã là 19,5%. Tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ Đảng tăng nhẹ: Ở cấp tỉnh, tỷ lệ nữ ủy viên chiếm 11,75% so với tỷ lệ 11,3% của nhiệm kỳ trước, nữ Uỷ viên Ban thường vụ chiếm 7%, có 5 nữ bí thư Tỉnh uỷ. Ở cấp huyện và xã, tỷ lệ này lần lượt đạt 14,7% (so với 12,9%) và đạt 15,1% (so với 11,9%). Trong khối cơ quan hành chính nhà nước, đội ngũ cán bộ, công chức nữ tăng cả về số lượng và chất lượng. Trong nhiệm kỳ 2007-2011, tỷ lệ nữ Bộ trưởng và tương đương là 4,5%, Thứ trưởng và tương đương là 8,4%.

Ngày càng nhiều phụ nữ trở thành nhà chính trị, nhà khoa học, nhà quản lý, nhà văn, nghệ sỹ… Nhiều lĩnh vực không thể thiếu sự có mặt của người phụ nữ như giáo dục, dệt, may mặc, dịch vụ. Phụ nữ đã có những đóng góp quan trọng vào thành tựu của đất nước trên từng chặng đường phát triển. Với sự nỗ lực phấn đấu của mình, đồng thời được sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, nhất định phụ nữ nước ta sẽ phát huy được truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam và ngày càng đóng góp xứng đáng hơn vào sự nghiệp đổi mới phát triển đất nước, xứng đáng với công ơn trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Kim Yến
bqllang.gov.vn