Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Điện mừng Quốc vương Cao Miên (3-3-1956)

Kính gửi Quốc vương Cao Miên Suramarit,

Nhân dịp lễ đǎng quang của Quốc vương, tôi xin thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và cá nhân tôi, kính gửi lời chúc mừng nhiệt liệt.

Ngày 3 tháng 3 nǎm 1956
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

—————————–

Báo Nhân dân, số 741, ngày 14-3-1956.
cpv.org.vn

Chúc mừng ngày Phụ nữ Quốc tế “8-3” (8-3-1956)

Ngày Phụ nữ quốc tế năm nay có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt: Trên thế giới thì lực lượng hoà bình phát triển ngày càng mạnh. Trong nước thì phong trào thi đua xây dựng ngày càng lên cao.

Dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, phụ nữ ta đã được bình quyền về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá. Cho nên trong cuộc kháng chiến vĩ đại vừa qua, cũng như trong công việc xây dựng từ ngày hoà bình trở lại, phụ nữ ta đã góp phần xứng đáng.

Phụ nữ ta có nhiều thành tích to, nhưng phụ vận ta còn có thiếu sót: ít chú ý vận động gia đình các cán bộ và các nhà thủ công nghiệp, gia đình các nhà công thương và các chị em nội trợ. Kinh nghiệm của phụ vận Trung Quốc chứng tỏ rằng: khéo vận động, tổ chức và hướng dẫn, thì những chị em phụ nữ ấy có tác dụng lớn đối với xã hội. Cách làm của phụ vận Trung Quốc giản đơn, thiết thực và kết quả to, gọi là “5 tốt”:

– Gia đình và xóm giềng đoàn kết và giúp đỡ nhau tốt,

– Sinh hoạt và công việc trong nhà sắp đặt tốt,

– Giáo dục con em tốt,

– Khuyến khích chồng con, anh em sản xuất, công tác và học tập tốt,

– Tự mình học tập tốt.

Phụ vận ta nên cố gắng thực hiện kinh nghiệm ấy.

Để kỷ niệm ngày 8-3 một cách thiết thực và xứng đáng, chúng ta cần động viên:

Chị em phụ nữ nông thôn THI ĐUA góp sức hoàn thành tốt cải cách ruộng đất và lập những tổ đổi công tốt.

Chị em công nhân và công chứcTHI ĐUA làm trọn nhiệm vụ của mình.

Chị em trí thức THI ĐUA góp phần vào việc phát triển văn hoá.

Nữ thanh niên tuỳ theo cương vị của mình, THI ĐUA học và hành, xung phong trong mọi công việc.

Mọi chị em, mọi giới phụ nữ đều thi đua góp sức hoàn thành kế hoạch Nhà nước năm 1956, đều hăng hái tham gia công cuộc củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam, để xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Đồng thời, phụ nữ ta cần đoàn kết với chị em các nước bạn và phụ nữ dân chủ các nước khác để giữ gìn hoà bình thế giới và xây dựng hạnh phúc cho cả loài người. Đó là trách nhiệm rất vẻ vang của phụ nữ Việt Nam ta!

C.B.

——————————

Báo Nhân dân, số 735, ngày 8-3-1956.
cpv.org.vn

Đáp từ trong buổi lễ trình quốc thư của Đại sứ Liên Xô (12-3-1956)

Thưa đồng chí Đại sứ,

Tôi rất vui lòng nhận bản quốc thư mà Chủ tịch đoàn Xôviết tối cao Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết bổ nhiệm đồng chí làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Nhân dân Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà rất biết ơn về tình hữu nghị anh em và sự giúp đỡ vô tư của nhân dân và Chính phủ Liên Xô trong việc đấu tranh tại Hội nghị Giơnevơ để giành lại hoà bình và trong công cuộc khôi phục kinh tế và phát triển vǎn hoá hiện nay.

Nhân dân Việt Nam rất vui mừng trước sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản thắng lợi của nhân dân Liên Xô vĩ đại. Vì thắng lợi ấy càng khuyến khích nhân dân Việt Nam thêm hǎng hái đấu tranh về mọi mặt, đặc biệt là đấu tranh chính trị để thi hành triệt để Hiệp định Giơnevơ và thực hiện thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình, bằng tổng tuyển cử tự do trong cả nước.

Trước đây, đồng chí cựu Đại sứ Lavrisép đã ra sức củng cố mối quan hệ hữu nghị giữa Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ nay, chúng tôi chắc rằng đồng chí Đại sứ sẽ tiếp tục tǎng cường mối tình anh em không gì lay chuyển được giữa hai nước chúng ta.

Chúng tôi sẽ luôn luôn giúp đỡ đồng chí hoàn thành thắng lợi

nhiệm vụ vẻ vang mà Chính phủ Liên Xô đã uỷ thác cho đồng chí.

Tôi nhờ đồng chí Đại sứ chuyển lên Chủ tịch đoàn Xôviết tối cao, Chính phủ và nhân dân Liên Xô lời chào thân ái của chúng tôi.

——————————–

Đọc ngày 12-3-1956.
Báo Nhân dân, số 740, ngày 13-3-1956.
cpv.org.vn

Bác Hồ với chống bệnh quan liêu

Bệnh quan liêu, dân chủ hình thức, thái độ quan cách, hách dịch, xa rời quần chúng… gây phiền hà cho nhân dân, cản trở sản xuất và công tác là hiện tượng đang có tính phổ biến, kể cả ở cơ sở.

Tệ quan liêu còn biểu hiện ở bệnh phô trương, hình thức, coi nhẹ tính hiệu quả, nặng về giấy tờ, thói thụ động…

Đã là cán bộ thì ít nhiều đều có quyền hành. Quyền hành là môi trường khách quan làm cho người cán bộ nếu không tỉnh táo dễ quên vai trò của quần chúng. Những cán bộ kém năng lực thường dùng quyền lực thay cho năng lực. Cán bộ quan liêu thường chỉ ngồi bàn giấy, ra chỉ thị cho cấp dưới và thường có “sáng kiến” đề ra nhiều cuộc vận động với tên gọi rất kêu, nhưng chỉ dừng ở khẩu hiệu suông.

Thói thụ động là một dạng cụ thể của bệnh quan liêu. Người cán bộ cấp dưới chỉ biết ngồi chờ mệnh lệnh cấp trên là hiện tượng không hiếm của công chức. Thói thụ động bỏ lỡ những cơ hội có thể đem lại lợi ích lớn cho Nhà nước, cho tập thể và né tránh những vấn đề cấp bách đòi hỏi phải có nhiều cố gắng để thực hiện.

Chủ nghĩa quan liêu, về mặt tổ chức, tạo dựng ra một hệ thống tổ chức quản lý dựa trên quyền lực. Điều đặc biệt nguy hại là chủ nghĩa quan liêu khéo núp dưới cái vỏ dân chủ – dân chủ hình thức – để lẩn tránh mọi sự lên án và trừng phạt.

V.I.Lênin đã phân biệt hai kiểu quan liêu: Kiểu thứ nhất thể hiện trong tác phong hoạt động của cán bộ và các cơ quan quản lý. Kiểu thứ hai là ở trong sự quản lý tồi.

Chủ nghĩa quan liêu có nguồn gốc sâu xa từ lịch sử, từ tư tưởng, nhận thức, tổ chức và tác phong. Chủ nghĩa quan liêu tồn tại là vì còn cơ chế quan liêu và nhất là còn đội ngũ đông đảo cán bộ quan liêu. Cơ chế quan liêu là cái nôi làm nảy nở đội ngũ cán bộ quan liêu. Cán bộ quan liêu ra sức củng cố, bảo vệ cơ chế quan liêu để duy trì địa vị và quyền lợi của mình. Chủ nghĩa quan liêu là mảnh đất tốt sản sinh và dung dưỡng bệnh chủ quan, nóng vội, giản đơn, duy ý chí, giáo điều.

Thật không sai nếu nói rằng: Tệ quan liêu đem lại lợi ích cho những kẻ mắc bệnh đó. Chính lợi ích vị kỷ này là lý do làm cho một số dạng của tệ quan liêu sống dai dẳng và trở thành căn bệnh mãn tính rất khó chữa.

Phong cách làm việc quan liêu làm cho cán bộ bảo thủ, trì trệ, thiếu năng động và sáng tạo, thậm chí còn cản trở và chống lại sự năng động, sáng tạo.
Tệ quan liêu gây ra hệ quả tiêu cực là có một số nghị quyết, kế hoạch, chính sách, dự án được xây dựng thiếu căn cứ khoa học, tách rời khả năng và hiện thực.

Quan liêu và dân chủ đối lập với nhau như lửa với nước. Có cái này sẽ không có cái kia. Cho nên, không thể tiến hành cuộc đấu tranh chống bệnh quan liêu mà không dựa vào quần chúng trên cơ sở mở rộng dân chủ và công khai hóa, huy động quần chúng tham gia mọi hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, công khai thông tin, tạo mọi thuận lợi để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.

Chủ nghĩa quan liêu không tự thủ tiêu. Nó chỉ biến dạng, thậm chí, dù có đặt ra thể lệ, quy chế, nó cũng tìm cách làm cho mất hiệu lực, nếu không có phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng.

Nguyên nhân của bệnh quan liêu đã được Bác Hồ chỉ rõ: “Xa nhân dân: Do đó, không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân.

Khinh nhân dân: Cho là “dân ngu khu đen”, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình.

Sợ nhân dân: khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.

Không tin cậy nhân dân: Họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy, làm cũng được.

Không hiểu biết nhân dân: Họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực (lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc). Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông.

Không yêu thương nhân dân: Do đó, họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân…”(1).

Theo Bác Hồ, chứng bệnh quan liêu tỏ ra bằng nhiều vẻ:

“Đối với người:

Cấp trên đối với cấp dưới, cán bộ đối với nhân dân, quân quan đối với binh sĩ, bộ đội đối với dân chúng – chỉ biết dùng mệnh lệnh. Không biết giải thích, tuyên truyền. Không biết làm dân chúng tự giác và tự động.

Đối với việc:

Chỉ biết khai hội nghị, viết nghị quyết, ra chỉ thị. Chứ không biết điều tra, nghiên cứu, đôn đốc, giúp đỡ, khuyến khích, kiểm tra.

Đối với mình:

Việc gì cũng kềnh càng, chậm rãi, làm cho qua chuyện. Nói một đường làm một nẻo.

Chỉ biết lo cho mình, không quan tâm đến nhân dân, đến đồng chí.

Một vẻ quan liêu nữa là: Chỉ biết ăn sang, diện cho kẻng; chẳng những không lo phụng sự nhân dân, mà còn muốn nhân dân phụng sự mình.

Tham ô, hủ hóa. Trước mặt dân chúng thì lên mặt “quan cách mạng”(2).

Người khẳng định: “Nếu không lo chữa, thì bệnh quan liêu sẽ đưa bệnh nhân đến chỗ hoàn toàn bị đào thải.

Thang thuốc chữa bệnh quan liêu:

– Phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước hết.

– Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân.

– Phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình.

– Phải làm kiểu mẫu: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Mong rằng toàn thể cán bộ ta, ai không mắc bệnh quan liêu thì phải giữ gìn, tránh nó. Ai đã mắc bệnh ấy, thì phải cố gắng mà chữa cho khỏi đi, cho xứng đáng là người cán bộ cách mạng, chớ để bị đào thải”(3).

—————————–

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 6, tr.292-293.
(2,3) Sđd, tập 6, tr.89-90.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Rèn luyện phương pháp, tác phong công tác theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp, tác phong công tác của cán bộ, đảng viên không chỉ là tổng hợp những lề lối, cách thức, biện pháp xử lý công việc, ứng xử xã hội và sử dụng để thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình mà còn là sự thể hiện quan điểm, lập trường chính trị, tư cách đạo đức, lối sống, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ trong thực tiễn. Phương pháp, tác phong công tác giữ vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Người cán bộ, đảng viên tuy có tri thức, năng lực, nhiệt tình nhưng nếu thiếu phương pháp, tác phong làm việc tốt cũng khó có thể hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng cao. Thậm chí, do phương pháp, tác phong công tác thiếu khoa học, thiếu dân chủ, xa rời thực tế, quan liêu… mà cán bộ có thể gây ra tổn thất cho Đảng và Nhà nước. Vì vậy, bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên vừa là vấn đề cấp thiết trong tình hình hiện nay.

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về bồi dưỡng phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên được thể hiện qua rất nhiều bài nói, bài viết nhưng đều tập trung thể hiện trên những nội dung cụ thể sau:

Một là, nêu cao tính đảng, tính nguyên tắc

Theo Hồ Chí Minh, phẩm chất hàng đầu của người cán bộ, đảng viên đó là lòng trung thành với Tổ quốc, với lý tưởng cách mạng của Đảng, trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Làm bất cứ công việc gì, trong bất kỳ điều kiện hoàn cảnh nào, người cán bộ, đảng viên cũng phải luôn xuất phát từ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của quần chúng. “Phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết”(1); “việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và và phải làm đến nơi đến chốn”(2); “lý luận và thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”(3). Kiên quyết bảo vệ, ủng hộ cái mới, cái đúng, đấu tranh phê phán cái sai, cái lạc hậu, tiêu cực trong đơn vị. Phương pháp, tác phong công tác này hoàn toàn đối lập với lối làm việc chỉ nhằm phục vụ lợi ích cá nhân hay lợi ích nhóm, quan liêu, xa rời thực tiễn.

Hai là, thực hiện tự phê bình và phê bình:

Đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh đề cao vấn đề phê bình, tự phê bình. Theo Người, phê bình chính là cách “để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ”, là để “sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn”, đạt tới sự “đoàn kết và thống nhất nội bộ”.

Tư tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh trong phê bình là “phê bình việc chứ không phải phê bình người”. Đồng thời, phê bình bao giờ cũng gắn với tự phê bình, Người đã chỉ rõ “Để chữa những bệnh tật kia, ta phải tự phê bình ráo riết và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau”. Người đòi hỏi “mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt”, tức là đưa việc tự phê bình, tự kiểm điểm thành nhu cầu cần thiết thường xuyên, như hành vi tự chăm sóc bản thân của mỗi người.

Ba là, gần gũi, tin tưởng quần chúng:

Hồ Chí Minh từng đặt yêu cầu rất cao về tác phong quần chúng, từ việc phải học hỏi quần chúng, lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người không quan trọng… Người căn dặn: “Ta phải liên lạc mật thiết với dân chúng. Không được xa rời dân chúng”(4). Nếu không cụ thể, sâu sát quần chúng thì đảng viên không thể thấy được, hiểu được nguyện vọng, tâm tư, tình cảm của quần chúng, không thể thuyết phục, thu phục được quần chúng. Do đó, đối với người lãnh đạo phải biết học hỏi quần chúng, biết tập trung tài năng, trí tuệ của quần chúng thành sức mạnh chung, tìm ra được lực lượng, biện pháp để thực hiện nhiệm vụ; phải biết khơi dậy, phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của quần chúng trong mọi nhiệm vụ được giao.

Bốn là, sâu sát, nắm tình hình thực tiễn:

Hồ Chí Minh chỉ rõ, người cán bộ, đảng viên phải luôn đi sâu, đi sát thực tiễn, nắm tình hình một cách toàn diện; phải nắm người, nắm việc, nắm các vấn đề có liên quan đến đời sống của nhân dân, liên quan đến nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương… một cách cụ thể, chính xác.

Theo Người, chỉ có tăng cường quan điểm thực tiễn, khéo đi sâu điều tra nghiên cứu, phân tích và giải quyết đúng mâu thuẫn trong đời sống thực tiễn thì sự lãnh đạo, công tác mới có nội dung, đạt chất lượng, hiệu quả cao. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên, “trong lúc học lý luận phải nghiên cứu công việc thực tế, kinh nghiệm thực tế”(5), có như vậy, lý luận mới có sức mạnh, mới thiết thực.

Năm là, thực hành dân chủ thực sự và rộng rãi:

Với việc đưa ra phương pháp, tác phong công tác dân chủ, Hồ Chí Minh đã thực hiện một sự phủ định tác phong quan liêu, độc đoán, gia trưởng. Dân chủ là thước đo phong cách làm việc của cán bộ. Theo Hồ Chí Minh, có dân chủ thì mới “khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến” (6). Hồ Chí Minh đã chỉ ra tình trạng mất dân chủ nghiêm trọng trong các cơ quan nhà nước. Người viết, có những cán bộ cấp dưới, những nhân viên, “dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình”(7). Nguyên nhân của tình trạng mất dân chủ đó là do “cách lãnh đạo của ta không được dân chủ” (8). Vì vậy, Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ lãnh đạo các cấp phải thường xuyên “trưng cầu ý kiến phê bình của cấp dưới” (9) và “không nên tự tôn, tự đại”, “phải nghe, phải hỏi ý kiến của cấp dưới” (10), tức là phải thực hành dân chủ với tính cách là một chế độ làm việc, một phương pháp, tác phong công tác của người cán bộ, đảng viên.

Sáu là, nói đi đôi với làm:

Vận động, giáo dục, thuyết phục là phương pháp cơ bản, chủ yếu trong công tác vận động quần chúng của Đảng, của người cán bộ. Để thực hiện tốt việc vận động, giáo dục, thuyết phục quần chúng, người cán bộ phải biết dùng chân lý, lẽ phải, bằng hành động gương mẫu của mình để giáo dục, thuyết phục quần chúng. Hồ Chí Minh từng nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm, chứ không phải nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”(11). Để thực hiện “nói đi đôi với làm”, cán bộ, đảng viên phải có tính quyết đoán trong công tác, cẩn trọng trong xử lý các tình huống, sáng suốt, công tâm, biết kết hợp ý kiến chỉ đạo của cấp trên với ý kiến tham mưu đề xuất của các bộ phận cùng cấp và cấp dưới, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân. Phương pháp, tác phong công tác của cán bộ, đảng viên phải mẫu mực, chính kiến rõ ràng, cụ thể, thái độ chân thành cởi mở, hành động gương mẫu, cương quyết, dứt khoát; kiên quyết chống mọi biểu hiện chủ quan nóng vội, định kiến cá nhân, thể hiện mình là bề trên, là “ông quan cách mạng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Cán bộ, đảng viên là người lãnh đạo, là người đày tớ trung thành của nhân dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp, tác phong công tác khoa học có ý nghĩa thực tiễn to lớn. Các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, nhận thức đúng vị trí, vai trò, nội dung của phương pháp, tác phong công tác khoa học theo Tư tưởng Hồ Chí Minh; có thái độ trách nhiệm trong củng cố, nâng cao phương pháp, tác phong công tác và chất lượng, hiệu quả trên các mặt công tác đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh về chính trị.

Hai là, trên cơ sở phương pháp, tác phong làm việc khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với thực tiễn công tác, các cấp uỷ đảng thường xuyên có kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo và tiến hành bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên một cách sâu sát, khoa học, luôn bám sát các hoạt động nghiệp vụ, chuyên môn của họ. Đồng thời, lấy đó làm cơ sở trong xem xét, đánh giá năng lực công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Ba là, đa dạng hoá các hình thức, biện pháp bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Trong quá trình bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt những hình thức, biện pháp cơ bản như: Thông qua hoạt động thực tiễn, các lớp tập huấn, hội thao, hội thi công tác nghiệp vụ, hoạt động của các tổ chức; cấp trên bồi dưỡng cấp dưới; học tập đồng chí, đồng đội; thông qua công tác nhận xét, đánh giá cán bộ; bản thân nghiêm túc, tự giác tu dưỡng, rèn luyện; phải tiến hành thường xuyên, liên tục, ở mọi lúc, mọi nơi… Đây là những hình thức, biện pháp quan trọng thiết thực trực tiếp góp phần nâng cao phương pháp, tác phong công tác khoa học cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.

TS. Trần Thu Truyền
Chính ủy Đoàn PB S75

——————————

(1, 2, 3) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXBCTQG, H. 2002, tr.26, 267.
(4,5,6,7,8,9,10,11) Sđd, tập 5, tr.238, 272, 280, 243, 244, 281, 699.
xaydungdang.org.vn

Tác phong lãnh đạo

Chủ tịch Hồ Chí Minh tát nước chống hạn với bà con nông dân ở cánh đồng Quai Chảo, xã Đại Thanh, huyện Thường Tín, Hà Đông (12-1-1958) – Ảnh tư liệu

Trong đổi mới tư duy và hoạt động của lãnh đạo, có đổi mới phương pháp công tác và tác phong lãnh đạo. Bác Hồ của chúng ta là một điển hình về tác phong lãnh đạo gần gũi với đời sống của người dân, thân tình với mọi tầng lớp xã hội: Bác lội xuống ruộng cùng nông dân xem từng gié lúa, Bác tát nước chống hạn, Bác ngồi bên bờ ruộng cùng nông dân, ngồi bên cỗ máy với công nhân, trên bãi biển cùng các lão ông ngư dân…

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo giáo dục lý tưởng cách mạng, bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc vai trò to lớn của đạo đức trong đời sống xã hội, nhất là trong nhân cách, tác phong, lối sống của cán bộ, đảng viên. Bằng chính tấm gương của mình và bằng rất nhiều bài nói và viết, Người đã đặt nền móng xây dựng nền đạo đức cách mạng. Tại buổi bế mạc Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ sáu (Khoá I, ngày 18/1/1949), Người căn dặn cán bộ, đảng viên: Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết của mình trước tiên. Tính nết mà Bác nói, có tác phong, lối sống. Bằng cả cuộc đời, Người nêu gương mẫu mực về đạo đức cách mạng vì nước, vì dân. Người chỉ rõ: Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Người căn dặn cán bộ: Tu dưỡng, rèn luyện, sửa đổi tính nết của mình phải thông qua hoạt động thực tiễn, bền bỉ mọi lúc, mọi nơi, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Tác phong lãnh đạo luôn gắn với uy tín, tình cảm của lãnh đạo đối với đồng cấp, thuộc quyền, với quần chúng và cả khi hoạt động, giao lưu đối ngoại. Tác phong được thể hiện từ quan điểm sống, từ lối sống giản dị, lành mạnh, biết tôn trọng con người, không phân biệt thấp, cao, sang, hèn. Trong các hội nghị, tiếp xúc cử tri, gặp gỡ, đối thoại với nhân dân tác phong quan cách, quan trọng hóa chức vụ, vị thế đã vô hình trung tạo ra khoảng cách giữa cấp trên với cấp dưới, giữa lãnh đạo với người dân. Đã có khoảng cách thì trong lượng lời nói và sức thuyết phục chắc chắn bị giảm trước cử tọa, trước dân chúng. Có thể nêu một số tác phong lãnh đạo sau:

Lãnh đạo theo lối “mệnh lệnh”: Là đòi hỏi cấp dưới tuân thủ chấp hành (có khi là ngay tức khắc) mệnh lệnh một cách cứng nhắc, là “mệnh lệnh hóa”, không cho người được giao nhiệm vụ có ý kiến đề xuất, kiến nghị, lệnh là phải làm ngay (điều này ngoại trừ những mệnh lệnh cần thiết của người chỉ huy trong lực lượng vũ trang). Tác phong này có khi được việc nhanh, hiệu quả tức thì, nhưng nhiều khi tai hại vì thiếu dân chủ, nảy sinh lối độc đoán, chuyên quyền. Có khi kết quả thực thi nhiệm vụ không được như mong muốn hoặc ngược lại với ý định lãnh đạo.

Lãnh đạo theo lối “quyết đoán”: Thể hiện tác phong nhanh, dứt điểm. Đa số những người lãnh đạo có tác phong này đều thể hiện năng lực một cách tự chủ, coi trọng nội lực, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Biết tự tin, hiểu cấp dưới, tác nhân trực tiếp của thay đổi lớn. Họ có khả năng nhìn nhận và sử dụng thuộc cấp, huy động được cấp dưới xoay quanh một định hướng chiến lược, có tác dụng làm gương và thu hút sự chú tâm làm nhiệm vụ của cấp dưới. Khi quyết đoán càng hiệu quả thì uy tín của người quyết đoán càng lớn. Tác phong lãnh đạo này thường rất hữu hiệu cho đổi mới, cần một mục tiêu lớn và rõ ràng.

Lãnh đạo theo lối “tình cảm hài hòa”: Tạo ra sự hài hòa cho cấp dưới. Tác phong này thường theo phương pháp nhuần nhị, khéo léo, tỏ ra biết tôn trọng mọi người, “lạt mềm buộc chặt”, lo cho nhân viên trước. Vì thế, họ tạo được trong cơ quan, đơn vị sự thông cảm lớn, không khí cởi mở. Chính vì thế, đoàn kết nội bộ chặt chẽ, rất hữu hiệu trong việc xây dựng một tinh thần gắn bó, động viên trong những lúc khó khăn.

Lãnh đạo theo lối “dân chủ – đồng lòng”: Tác phong này thường là rất được lòng tập thể, cộng đồng, tạo dựng được sự đồng lòng thông qua sự tham gia tích cực của cấp dưới. Người lãnh đạo phát huy dân chủ, luôn luôn thực hành dân chủ rộng rãi. Có việc gì hệ trọng thường hỏi ý kiến: “Mọi người nghĩ thế nào?” trước khi quyết định. Tác phong này thường hội tụ được sức mạnh tổng hợp, tận dụng được thế mạnh hợp lực, hợp tác với cấp dưới, dựa vào sự trao đổi. Vì thế, rất hữu hiệu để cấp dưới mạnh dạn hợp tác tích cực.

Lãnh đạo theo lối “kích động”: Đây là tác phong thể hiện sự gương mẫu và coi trọng xây dựng nhân vật điển hình, tập thể, bộ phận điển hình, làm mẫu để áp dụng cho toàn diện. Người lãnh đạo với tác phong này cũng quyết đoán, ấn định những tiêu chí thành công cao bằng sự tự tin. Tác phong này luôn luôn mang tính chỉ dẫn, khuyến khích: “Hãy làm như tôi, hãy làm như họ”. Người lãnh đạo này thường có ý thức, ham muốn thực hiện, nảy sinh và phát huy được những sáng kiến.

Lãnh đạo theo lối “huấn luyện viên”: Đây là tác phong xây dựng một đội ngũ thuộc quyền có năng lực và tinh thần trách nhiệm “đều tay”. Nó góp phần không nhỏ xây dựng đội ngũ kế cận có năng lực và phát triển nhân tài cho tương lai. Tác phong lãnh đạo theo những phương pháp này rất thuận lợi cho sự phát triển năng lực cấp dưới, cảm thông và ý thức rõ về vai trò lãnh đạo của mình. Rất hữu hiệu để hướng tới tương lai, đội ngũ lãnh đạo kế thừa có chất lượng.

Lãnh đạo theo lối “quan liêu, quan cách, thiếu trách nhiệm”: Đây là tác phong lãnh đạo kém hiệu quả nhất. Nhiều khi do nặng giải quyết “khâu oai”, cá nhân chủ nghĩa, mất dân chủ, không tập hợp được ý kiến, sức mạnh tập thể, dễ mắc khuyết điểm, sai lầm. Tác phong này cũng dễ bị cấp dưới lợi dụng, xu nịnh, làm xao nhãng chức trách. Người lãnh đạo có tác phong này thường cho mình là năng lực giỏi nhất, luôn áp đặt, hoặc khoán trắng cho cấp dưới, chung chung. Lo thu vén cá nhân, ít quan tâm đến người khác. Công việc ở những cơ quan, đơn vị như vậy thường bị trì trệ, hiệu quả thấp, bằng mặt mà không bằng lòng, mất đoàn kết nội bộ.

Tác phong, phương pháp, phong cách hay thuật lãnh đạo đều có nét chung là sự thể hiện rõ nét trình độ, năng lực, kinh nghiệm, đạo đức, nhân cách, cá tình của người lãnh đạo. Tác phong càng giản dị, tự nhiên, biết tôn trọng và gần gũi mọi người, có đầu óc cầu tiến, coi trọng chí tiến thủ thì người lãnh đạo càng được quần chúng tin yêu, cảm phục, uy tín càng sâu rộng. Tác phong lãnh đạo có tác dụng rất lớn đến sự phát triển của “văn hoá lãnh đạo”, đem lại những hiệu quả tùy mức độ khác nhau trong công tác đổi mới tư duy, hành động, đổi mới phương pháp công tác của cán bộ lãnh đạo các cấp.

Theo Bùi Văn Bồng / Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Điện chia buồn với giáo sư Quyri (19-3-1956)

Kính gửi giáo sư Giôliô Quyri,

Chúng tôi xin cùng bạn chia mối đau thương vô cùng trước sự tổn thất lớn của tất cả chúng ta.

Hình ảnh vẻ vang của bà Iren Quyri sống mãi trong lòng nhân dân Pháp và trong lòng nhân dân Việt Nam. Hình ảnh ấy sẽ sống mãi trong lòng tất cả những người thiết tha với lý tưởng mà bà Iren Quyri đã sống và đấu tranh.

Tôi kính nghiêng mình trước anh hồn xán lạn của bà Quyri.

Ngày 19 tháng 3 nǎm 1956
HỒ CHÍ MINH

—————————-

Báo Nhân dân, số 749, ngày 22-3-1956.
cpv.org.vn

Nói chuyện tại Đại hội giáo dục phổ thông toàn quốc (23-3-1956)

Trước hết tôi thay mặt Đảng và Chính phủ đến thǎm đại hội và chúc Đại hội thành công. ở trong Đại hội này, nam có, nữ có, kinh có, thiểu số có. Có cả bạn Hoa kiều nữa. Như thế là có tình quốc tế. Nhưng giáo viên phụ nữ còn quá ít. Chúng ta phải cố gắng hơn nữa. Sau này công tác giáo dục phần nhiều phải do phụ nữ đảm nhiệm. Muốn phụ nữ đảm nhiệm, thì phải bồi dưỡng cho phụ nữ.

Trong nǎm vừa qua, anh chị em có nhiều cố gắng, có thành tích khá. Nhưng chúng ta cần phải cố gắng nữa, cố gắng mãi. Công tác giáo dục đã có một số vốn, nhưng chưa đủ. Vốn ấy là vốn cũ, nó chưa như ý muốn của chúng ta, của dân tộc chúng ta. Vì vậy cho nên chúng ta gặp khó khǎn. Chúng ta cần phải khắc phục mọi khó khǎn. Việc khó khǎn nhất của dân tộc ta là đánh đổ đế quốc và phong kiến. Khó khǎn ấy ta đã khắc phục được, thì khó khǎn trong giáo dục nhất định khắc phục được. Thấy rõ khó khǎn, không phải để sợ, mà để khắc phục.

Công việc giáo dục cũng là công việc đấu tranh. Có khó khǎn phải đấu tranh. Đấu tranh phải cố gắng, phải quyết tâm. Cố gắng và quyết tâm thì thắng được mọi khó khǎn. Việc gì đối với ta cũng mới cả, kinh tế cũng như vǎn hoá. Ví dụ: Trước kia mỗi công tác đều làm theo cách du kích. Bây giờ phải chuyển vào kế hoạch, chuyển vào chính quy. Kinh tế có kế hoạch, giáo dục cũng phải có kế hoạch. Kế hoạch giáo dục phải gắn liền với kế hoạch kinh tế. Giáo dục phải cung cấp cán bộ cho kinh tế. Kinh tế tiến bộ thì giáo dục mới tiến bộ được. Nếu kinh tế không phát triển thì giáo dục cũng không phát triển được. Giáo dục không phát triển thì không đủ cán bộ giúp cho kinh tế phát triển. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau. Giáo dục có khó khǎn, giáo dục phải khắc phục. Kinh tế có khó khǎn thì kinh tế phải khắc phục. Chúng ta đồng tâm hiệp lực khắc phục khó khǎn, thì kinh tế cũng thành công, giáo dục cũng thành công.

Nghe nói có một vài vị lo ngại rằng chủ nghĩa Mác-Lênin bó buộc tư tưởng, bó buộc giáo dục. Lo ngại như vậy không đúng. Chủ nghĩa Mác-Lênin soi phương hướng, đường lối cho chúng ta đi. Có phương hướng đúng thì làm việc mới đúng. Hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc; bất kỳ việc to việc nhỏ cũng nhằm mục đích ấy; đó là chủ nghĩa Mác-Lênin. Nếu không hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự đại, tự tư tự lợi, như thế là trái với chủ nghĩa Mác-Lênin. Ai đi nhầm đường thì chúng ta giúp họ đi vào con đường chính; như thế không phải là bó buộc. Thấy người khác đi xiên, đi sai, ta ra sức giúp họ đi theo đường thẳng, đường đúng. Thế mới là thật thà đoàn kết. Đại ý chủ nghĩa Mác-Lênin là phải đi đúng đường, phải phụng sự lợi ích chung, chứ không có gì cao xa.

Chắc rằng các Bộ trưởng, Thứ trưởng đã báo cáo cho các bạn rõ về kế hoạch Nhà nước nǎm nay. Mọi công việc của chúng ta từ nǎm nay đều đi vào kế hoạch. Trong kế hoạch, các việc phải ǎn khớp với nhau. Kế hoạch nǎm nay đặt nền tảng cho chúng ta tiến lên nữa, tiến lên mãi. Các nước bạn giúp ta phát triển nông nghiệp, khôi phục công nghiệp và một phần nào phát triển công nghiệp. Ta cần nhiều cán bộ các cấp. Các thầy giáo, cô giáo phải tìm cách dạy. Dạy cái gì, dạy thế nào để học trò hiểu chóng, nhớ lâu, tiến bộ nhanh. Dạy và học cần phải theo nhu cầu của dân tộc, của Nhà nước. Thầy dạy tốt, trò học tốt, cung cấp đủ cán bộ cho nông nghiệp, công nghiệp, cho các ngành kinh tế và vǎn hoá. Đó là nhiệm vụ vẻ vang của các thầy giáo, cô giáo.

——————————

Nói ngày 23-3-1956.
Báo Nhân dân, số 753, ngày 26-3-1956.
cpv.org.vn

Hoa sen (30-3-1956)

Cải cách ruộng đất là một cuộc cách mạng nông thôn, long trời chuyển đất. Không những nó quan hệ trực tiếp với giai cấp nông dân và giai cấp địa chủ, mà còn ảnh hưởng lớn đến nhiều tầng lớp khác. Do đó mà có vấn đề thành phần giai cấp và quan hệ gia đình. Những đảng viên và cán bộ (trong Đảng và ngoài Đảng), hoặc bản thân là địa chủ, hoặc là con em địa chủ, đều suy nghĩ và lo lắng về vấn đề ấy.

Đối với giai cấp địa chủ, nông dân cũng không “vơ đũa cả nắm”, mà có phân biệt: đối với những địa chủ thật thà tuân theo pháp luật, thì giúp đỡ cải tạo. Đối với những địa chủ cường hào gian ác, đã có nhiều nợ máu, lại ngoan cố phá hoại thì mới trừng trị. Giáo dục cải tạo là chính.

Còn vấn đề thành phần và quan hệ – Trước khi ra đời, người ta không thể lựa chọn sinh ra ở giai cấp nào, ở gia đình nào. Thành phần giai cấp nhất định có ảnh hưởng đến tư tưởng của con người. Nhưng nó không phải là một ảnh hưởng quyết định, không khắc phục được. Khi đã đứng vào hàng ngũ cách mạng, đã được Đảng và nhân dân rèn luyện, người ta có thể đấu tranh và thoát ly ảnh hưởng của giai cấp xấu, thoát ly những quan hệ xấu.

Thành phần giai cấp và quan hệ gia đình (địa chủ) có ảnh hưởng thế nào, điều quyết định vẫn là do bản thân mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ. Nếu người đảng viên và người cán bộ có chí khí kiên cường, tư tưởng vững chắc, lập trường dứt khoát, quyết tâm phụng sự cách mạng, phục vụ nhân dân, thật thà thi hành những chính sách của Đảng và Chính phủ, thì nhất định đánh tan được ảnh hưởng ấy, và vẫn được Đảng, Chính phủ và nhân dân tin cậy.

Trước kia, Các Mác là con một nhà quý phái, Ăngghen là con một nhà tư bản. Nhưng hai ông đã hoàn toàn dâng mình cho cách mạng và thành những người sáng lập chủ nghĩa cộng sản. Gần ta đây, ở tỉnh Quảng Đông, người đầu tiên tổ chức và lãnh đạo nông dân kịch liệt chống lại giai cấp địa chủ là đồng chí Bành Bái, con một nhà đại địa chủ, đại phong kiến. ở nước ta cũng từng có những địa chủ và con cháu địa chủ, sau khi tham gia cách mạng, đã thật thà cải tạo, dứt khoát với giai cấp cũ và quan hệ cũ, đã trở nên những đảng viên tốt, những cán bộ tốt.

Một thí dụ: Gốc rễ cây sen ở dưới đất bùn hôi hám. Nhưng vươn mình lên mặt nước trong trẻo, hấp thụ ánh sáng mặt trời, thì HOA SEN trở nên tươi đẹp, thơm tho.

Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh, hoa đỏ lại xen nhị vàng,
Nhị vàng, hoa đỏ, lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Người ta cũng vậy. Thành phần giai cấp và quan hệ gia đình không thể ảnh hưởng xấu đối với những người thật thà cách mạng.

C.B.

————————————

Báo Nhân dân, số 757, ngày 30-3-1956.
cpv.org.vn

Nói chuyện với lớp bình dân học vụ khu lao động Lương Yên (30-3-1956)

Chúng ta cố gắng thi đua sản xuất thời đời sống sẽ dần dần khá lên. Do cái óc, cái tay của mình mà cải thiện đời sống của mình. Đảng và Chính phủ rất mong muốn đời sống của công nhân, công chức và bộ đội càng khá hơn. Do công nhân và nông dân cố gắng tǎng gia sản xuất, đời sống sẽ khá hơn mãi. Đời sống ví như chiếc thuyền. Sản xuất ví như nước. Mực nước lên cao, thì con thuyền càng nổi lên cao. Mình cố gắng còn là mưu đời sống sung sướng cho con, cho cháu mình nữa.

———————–

Nói ngày 30-3-1956.
Sách Bác Hồ với nhân dân Hà Nội, Nxb. Hà Nội, 1980, tr.57.
cpv.org.vn

Lời phát biểu trong cuộc mít tinh chào mừng Đoàn đại biểu Chính phủ Liên Xô sang thǎm nước ta (3-4-1956)

Thưa đồng chí Đoàn trưởng Đoàn đại biểu Chính phủ Liên Xô,

Thưa các đồng chí trong Đoàn,

Thưa đồng bào,

Hôm nay, nhân dân Thủ đô và nhân dân cả nước ta vui mừng đón tiếp Đoàn đại biểu Chính phủ Liên Xô do đồng chí Micaian lãnh đạo.

Chúng ta phấn khởi hoan nghênh Đoàn đại biểu và nhiệt liệt chào mừng đồng chí Đoàn trưởng và các đồng chí trong Đoàn. Đoàn đại biểu Liên Xô đưa đến cho nhân dân nước ta và nhân dân Thủ đô ta tình hữu nghị nồng nàn của nhân dân Liên Xô. Đoàn đại biểu Liên Xô đến thăm nước ta nhất định sẽ góp phần quan trọng làm tăng thêm tình hữu nghị chân thành giữa nhân dân hai nước chúng ta.

Nhân dân Việt Nam ta và nhân dân Liên Xô là anh em trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhân dân. Từ bao nhiêu năm, hai dân tộc ta đã cùng nhau đoàn kết, phấn đấu dưới ngọn cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác – Lênin, vì sự nghiệp dân tộc, tự do dân chủ, vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ hoà bình thế giới.

Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, mở đường giải phóng cho nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, trong đó có nước Việt Nam ta.

Đảng Cộng sản Liên Xô do Lênin sáng lập, đã đưa nhân dân Liên Xô đến chủ nghĩa xã hội và đang đưa nhân dân Liên Xô đến chủ nghĩa cộng sản, đồng thời chỉ rõ đường lối cho nhân dân các nước trên thế giới đoàn kết đấu tranh để tự giải phóng cho mình.

Trải qua gần 40 năm, Liên Xô ngày nay đã xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công, đang tiến mạnh lên chủ nghĩa cộng sản. Liên Xô trở nên một nước hùng mạnh bậc nhất, trở nên thành trì vững chắc cho hoà bình thế giới.

Nhân dân Việt Nam ta không bao giờ quên công ơn của Liên Xô đã đánh bại phát xít ở châu Âu và châu á, đã góp phần quyết định vào công cuộc giải phóng loài người khỏi ách nô lệ, đã giúp cho Cách mạng Tháng Tám ta thành công.

Suốt trong thời kỳ kháng chiến lâu dài và gian khổ, nhân dân ta đã được sự đồng tình sâu sắc của nhân dân Liên Xô, nhân dân Trung Quốc và của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Chính phủ Liên Xô và Chính phủ Trung Quốc đã đầu tiên thừa nhận nước ta, việc đó càng khuyến khích nhân dân ta đấu tranh đến thắng lợi hoàn toàn.

Năm 1954, ở Hội nghị Giơnevơ, Đoàn đại biểu Liên Xô và Đoàn đại biểu Trung Quốc đã hết lòng ủng hộ cuộc đấu tranh ngoại giao của ta và giúp ta đi đến thắng lợi to lớn là lập lại hoà bình trên Tổ quốc yêu quý của chúng ta, trên nền tảng các nước tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của ta. Do thắng lợi của mấy năm kháng chiến và của Hội nghị Giơnevơ cho nên ngày nay miền Bắc Việt Nam ta đã hoàn toàn giải phóng.

Từ khi hoà bình lập lại, Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân lại ra sức giúp đỡ Chính phủ và nhân dân ta để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng lại nước nhà, giúp ta một cách không điều kiện, lại phái các đồng chí chuyên gia đến giúp ta về kỹ thuật.

Để tỏ lòng biết ơn Chính phủ và nhân dân Liên Xô, để tăng thêm tình đoàn kết anh em giữa hai nước chúng ta, năm ngoái, Đoàn đại biểu của Chính phủ ta và của Đảng đã đi thăm Liên Xô và đã được hoan nghênh và tiếp đón rất thân thiết và long trọng. Chúng ta thật thà cảm ơn nhân dân, Chính phủ và Đảng Cộng sản Liên Xô.

Liên Xô có công rất lớn với nước ta, Liên Xô có công rất lớn với sự nghiệp hoà bình toàn thế giới. Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô đã tổng kết những kinh nghiệm đấu tranh phong phú của nhân dân Liên Xô trong bao nhiêu năm, đã đề ra kế hoạch 5 năm lần thứ sáu để làm cho Liên Xô thêm giàu mạnh. Đại hội là một nguồn phấn khởi cho nhân dân toàn thế giới và soi sáng thêm con đường đi đến thắng lợi cho nhân dân Liên Xô, đồng thời giúp cho nhân dân ta và nhân dân thế giới định rõ đường lối đấu tranh cho độc lập, dân chủ và hoà bình.

Càng biết ơn Liên Xô, nhân dân ta càng vui mừng đón tiếp ở Thủ đô Hà Nội những đại biểu thân mến của Liên Xô vĩ đại.

Nhân dịp này, tôi nhắc lại cùng đồng bào Thủ đô và đồng bào cả nước những nhiệm vụ trước mắt của chúng ta.

Miền Bắc đã giải phóng, nhưng nước ta hiện nay chưa thống nhất. Cho nên đồng bào ta phải ra sức củng cố hoà bình, củng cố miền Bắc, đồng thời ra sức đấu tranh để thực hiện thống nhất trên cơ sở độc lập và dân chủ, bằng phương pháp hoà bình.

Từ khi hoà bình trở lại đến nay, thời gian tuy ngắn, nhưng miền Bắc nước ta đã vững mạnh hơn nhiều. Đồng bào ta đã cố gắng, cần phải tiếp tục cố gắng hơn nữa.

Năm nay, chúng ta phải hoàn thành tốt cải cách ruộng đất, đem lại ruộng đất cho nông dân cả miền Bắc.

Chúng ta phải hoàn thành kế hoạch của Nhà nước, khôi phục kinh tế và bắt đầu phát triển văn hoá. Tôi khen ngợi đồng bào các xã, các thành phố, các công trường, các xưởng máy, các trường học, v.v. đã đạt thành tích khá trong việc thực hiện kế hoạch năm nay.

Đồng thời, chúng ta phải tiếp tục củng cố quốc phòng, trấn áp bọn phá hoại, giữ gìn an ninh, trật tự cho nhân dân.

Do những việc trên mà cải thiện dần dần đời sống của nhân dân thuộc mọi tầng lớp, làm cho nhân dân ta ăn no, mặc ấm, mạnh khoẻ và biết chữ.

Thuế nông nghiệp năm nay đã giảm nhẹ một phần. Tiền lương đã được tăng, nhưng chỉ mới bước đầu. Chúng ta phải cùng nhau cố gắng để làm cho đời sống của nhân dân ngày càng đầy đủ, sung sướng. Đó là chính sách do Đảng và Chính phủ ta đề ra.

Củng cố miền Bắc là để có cơ sở vững mạnh đấu tranh thống nhất nước nhà.

Một ngày nước ta chưa thống nhất thì toàn thể đồng bào ta phải kiên quyết đấu tranh để thực hiện Nam Bắc một nhà, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Chúng ta triệt để thi hành Hiệp định Giơnevơ và đòi đối phương cũng phải thi hành đúng Hiệp định. Chúng ta phải đấu tranh trên cơ sở Hiệp định Giơnevơ để thực hiện thống nhất nước ta bằng phương pháp hoà bình.

Chính phủ Pháp là người đã ký kết Hiệp định, không được trốn tránh trách nhiệm. Chúng ta đòi nước Pháp thi hành đúng đắn những điều đã ký kết.

Đứng về pháp lý, chính quyền miền Nam có trách nhiệm phải thi hành Hiệp định Giơnevơ. Việc thống nhất nước Việt Nam phải do miền Bắc và miền Nam bàn bạc với nhau để đi đến tổng tuyển cử tự do. Ai không muốn bàn bạc, không tôn trọng ý muốn của nhân dân, tức là người đó đi trái với nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân và sẽ bị nhân dân chống lại.

Việc thi hành Hiệp định Giơnevơ hiện nay đang gặp khó khăn. Nhưng nhân dân ta không vì thế mà sờn lòng. Chúng ta phải tin tưởng rằng sức mạnh của nhân dân đoàn kết đấu tranh là một sức mạnh tất thắng, một sức mạnh vô địch. Toàn dân ta phải ra sức đoàn kết đấu tranh rộng rãi và chặt chẽ từ Nam đến Bắc trên cơ sở bản Cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Cuộc đấu tranh của ta phải bền bỉ, dẻo dai, song nhất định thắng lợi.

Về mặt quốc tế, chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ với Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em khác.

Chúng ta chủ trương tăng cường quan hệ hoà bình và hữu nghị với tất cả các nước, theo năm nguyên tắc chung sống hoà bình. Chúng ta mong muốn có quan hệ tốt với hai nước láng giềng Miên và Lào. Chúng ta sẽ tăng thêm quan hệ hữu hảo với các nước Đông – Nam á, nhất là với ấn Độ, Miến Điện, Nam Dương.

Thưa đồng bào,

Để đi đến thắng lợi to lớn ngày nay, Liên Xô đã trải qua bao nhiêu khó khăn, gian khổ. Vì nhân dân Liên Xô kiên quyết đoàn kết đấu tranh, vì Đảng Cộng sản và Chính phủ Liên Xô đã có chính sách đúng đắn, cho nên nhân dân Liên Xô đã vượt qua mọi khó khăn và đã thu được thắng lợi vĩ đại.

Cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam ta ngày nay đã thu được thắng lợi lớn ở miền Bắc. Con đường đi đến thực hiện thống nhất nước nhà đang gặp khó khăn. Nhưng khó khăn của ta ngày nay không bằng khó khăn của Liên Xô ngày trước. Cho nên chúng ta ra sức đoàn kết đấu tranh thì thắng lợi nhất định về ta.

Một lần nữa, tôi xin thay mặt đồng bào Thủ đô và đồng bào cả nước nhiệt liệt hoan nghênh Đoàn đại biểu của Chính phủ Liên Xô do đồng chí Micaian lãnh đạo và trân trọng nhờ Đoàn đại biểu chuyển đến Chính phủ và nhân dân Liên Xô anh em lời chào thân ái và nhiệt liệt biết ơn của chúng tôi.

– Tình hữu nghị đời đời bền vững giữa Việt Nam và Liên Xô muôn năm!

– Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh muôn năm!

– Liên Xô vĩ đại muôn năm!

– Hoà bình thế giới muôn năm!

————————————-

Phát biểu ngày 3-4-1956.
Báo Nhân dân, số 762, ngày 4-4-1956.
cpv.org.vn

Điện mừng ngày Tuynidi tuyên bố độc lập (6-4-1956)

Kính gửi Quốc vương Sasiđi Môhamét Lamin nước Tuynidi,

Nhân dịp nước Tuynidi tuyên bố độc lập, tôi thay mặt Chính phủ và nhân dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, kính gửi Quốc vương, Chính phủ và nhân dân Tuynidi lời chào mừng nồng nhiệt.

Kính chúc Quốc vương, Chính phủ và nhân dân Tuynidi thu được nhiều kết quả tốt đẹp, trong công cuộc củng cố nền độc lập của mình và kiến thiết một quốc gia giàu mạnh.

Kính chúc Quốc vương luôn luôn mạnh khoẻ

Hà Nội, ngày 6 tháng 4 năm 1956
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

———————————

Báo Nhân dân, số 777, ngày 19-4-1956.
cpv.org.vn