Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Bác Hồ trong ký ức cô học sinh piano đất Hà thành

 – 43 năm trôi qua nhưng “cô bé” học sinh khoa piano Trường Âm nhạc Việt Nam thuở nào vẫn nhớ rõ buổi biểu diễn cho Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch tháng 5/1969, chỉ mấy tháng trước khi Bác ra đi mãi mãi. Tấm hình ghi lại buổi diễn, gặp Bác năm đó đi vào lịch sử bởi khoảnh khắc chớp thần thái đôi mắt nơi cô bé dành cho Bác, chứa đựng sự kính trọng, yêu mến hết mực hồn nhiên, trong sáng.

“Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh” – câu hát đó dường như gắn với chính hình ảnh “cô bé” Thủy tay ôm bó hoa cùng các bạn đứng bên Bác Hồ.

Tạ Phương Thủy (cô bé ôm bó hoa nhìn Bác) tại Phủ Chủ tịch tháng 5/1969

“Cô bé” trong tấm hình đó là chị Tạ Phương Thủy, Việt kiều hiện đang sinh sống tại Ba Lan.

Chị Tạ Phương Thủy là con gái thứ của ông Lê Trang, tên thật là Tạ Quang Thuật, nguyên Vụ trưởng Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao, Tham tán công sứ tại Liên Xô trước đây, nguyên Đại sứ tại Ba Lan… Từ nhỏ, 3 chị em gái lớn trong gia đình đều được bố mẹ cho theo học Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc quốc gia). Học hết trung cấp khoa piano, chị theo học ĐH Kinh tế quốc dân. Chị kết hôn với ông Hoàng Vĩnh Lợi, con trai cố Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hoàng Minh Giám.

Giấc mơ gặp Bác

Từ Ba Lan, chị Thủy kể lại những kỷ niệm với VietNamNet:

“Thế hệ tôi được sinh ra khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc, hòa bình lập lại ở miền Bắc. Cha tôi trong cương vị người phát ngôn Bộ Ngoại giao thi thoảng gặp Bác. Có lần được cha cho đi theo, tôi trông thấy Bác Hồ từ xa trong sân Phủ Chủ tịch. Đầu những năm 60, Hà Nội thật thanh bình. Sân Phủ Chủ tịch hàng năm thường đón những đoàn thiếu nhi từ khắp mọi miền đất nước đến thăm Bác.

Lần đầu tiên tôi được tham gia một đoàn thiếu nhi có thành tích học tập tốt vào thăm Bác vào mùa hè năm 1964, khi tôi lên 8 tuổi. Đoàn khá đông, tập kết ở bậc thềm Phủ Chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện trong bộ quần áo đại cán. Sau này trong một thước phim tài liệu tôi thấy mình bận bộ quần yếm đỏ, áo hoa nhảy lên vỗ tay giữa bao bạn thiếu nhi. Phút giây gặp gỡ trôi đi thật là nhanh! Bác Hồ chia kẹo cho chúng tôi, những chiếc kẹo bọc giấy đỏ. Tôi tự nhủ thầm: gắng học giỏi để năm sau lại được vào thăm Bác.

Năm sau, một lần nữa tôi được tham gia 1 đoàn thiếu nhi đến thăm Bác. Mùa hè năm 1965 đối với bọn trẻ chúng tôi giống như bao mùa hè trước. Nhưng dường như Hà Nội đã có những đợt sóng ngầm báo hiệu chiến tranh. Chờ hồi lâu không thấy Bác Hồ, người xuất hiện là Phó Chủ tịch Tôn Đức Thắng, thay Bác Hồ chia kẹo cho chúng tôi. Cuối năm 1965, chúng tôi rời Hà Nội theo Trường Âm Nhạc Việt Nam đi sơ tán. Vài năm sau đó chiến tranh tạm ngừng, trở về Hà Nội, tôi may mắn có dịp được vào thăm Bác.

Một ngày cuối tháng 5/1969, học sinh sơ cấp trường Âm Nhạc Việt Nam được vào Phủ Chủ tịch biểu diễn nhân dịp ngày Quốc tế Thiếu nhi. Chúng tôi đồng thanh hát: “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”. Không ngờ đó là lần cuối Bác Hồ gặp các cháu thiếu nhi – Người từ trần sau đó 3 tháng.

Chị Tạ Phương Thủy cùng chồng, ông Hoàng Vĩnh Lợi, ở Ba Lan

Đó là một ngày nắng xanh trời, bậc thềm Phủ Chủ tịch cũng phấp phới màu xanh trời điểm trắng của váy áo đồng phục thiếu nhi vào thăm Bác. Tôi ôm bó hoa vinh dự thay mặt thiếu nhi tặng Bác Hồ. Đôi mắt chúng tôi long lanh niềm vui sướng. Hồ Chủ tịch xuất hiện trong bộ quần áo nâu giản dị. Rất gần Bác, tôi ngắm chòm râu bạc, nước da mồi, nụ cười tươi của Người.

Khi chương trình biểu diễn của các học sinh bắt đầu, hai em gái nhỏ tuổi nhất được ngồi cạnh Bác. Kế bên là Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các vị lãnh đạo khác. Bác chăm chú nghe các tiết mục biểu diễn của thiếu nhi, gương mặt ngời sáng. Bác hôn các cháu, đặc biệt sau những tiết mục đàn dân tộc. Khi tôi giới thiệu các tiết mục tam thập lục và thập lục, Người nhẹ nhàng nói:  Ngôn ngữ Việt Nam là đàn 36 dây và 16 dây, bác cháu ta nói bằng ngôn ngữ của ta”.

Những lần vinh dự thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối với tôi thật sự là giấc mơ. Trải qua 43 năm kể từ khi Bác Hồ đi xa, có nhiều đổi thay trong xã hội, nhưng còn nguyên trong tôi – cô học trò năm xưa đã từng được tặng hoa Bác, một lòng yêu kính Người. Chính tình cảm thiêng liêng của cả một thế hệ chúng tôi dành cho vị lãnh tụ là một trong những chất liệu làm nên tính cách con người. Dù ở đâu, đi đâu chúng tôi vẫn giản dị là người Việt Nam”.

Linh Thư
vietnamnet.vn

Học tập cách viết của Bác Hồ

(GD&TĐ) – Hồ Chí Minh là nhà báo lớn của dân tộc. Người đã hoạt động báo chí liên tục suốt cuộc đời cách mạng của mình. Người để lại một di sản báo chí quý báu với khoảng 2000 bài báo đủ các thể loại. Tìm hiểu di sản báo chí đồ sộ của Bác Hồ, mỗi người làm báo có thể tiếp cận học tập được nhiều điều bổ ích cho công việc của mình. Bài viết này sẽ trình bày một số điểm thiết thực có thể học tập từ cách viết của Bác Hồ.

Bác làm việc trong vườn Phủ Chủ tịch, 1957
Bác làm việc trong vườn Phủ Chủ tịch, 1957

Viết phải có mục đích

Hồ Chí Minh tâm niệm: “Viết và nói phải có mục đích, phải có nội dung”. Trả lời câu hỏi “Viết để làm gì?” Người khẳng định: “Viết để tuyên truyền, để giác ngộ, để đoàn kết, để thức tỉnh quần chúng”. Người cũng chỉ rõ thêm: “Báo chí của ta phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ Chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới” và “Báo chí của ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ cho nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ”. Với mục đích như vậy, rõ ràng hoạt động báo chí nói chung và việc viết báo nói riêng không thể tách rời với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị. Điều này đòi hỏi người viết phải có lập trường chính trị đúng đắn, vững vàng, phải có nhãn quan chính trị sắc bén và phải có độ nhạy cảm chính trị – xã hội cao. Trong đó, ngòi bút của nhà báo phải hướng tới phục vụ lợi ích của Đảng, của dân, của đất nước và dân tộc.

Viết phải có nội dung

Về nội dung, Hồ Chí Minh xác định: “Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta. Đồng thời để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội”. Còn đối với địch “thì nêu những cái xấu của nó để cho bộ đội ta, đồng bào ta biết…để gây lòng căm thù đối với quân địch”. Như thế, nội dung viết phải nhằm tới việc thực hiện mục đích viết, giúp cho việc đạt được mục đích viết. Nội dung viết phải chứa đựng những thông tin, những vấn đề của thực tiễn thực sự cần thiết cho bạn đọc, phục vụ lợi ích của bạn đọc, lợi ích của dân của nước. Muốn được như vậy, người viết phải năng động, xông xáo, bám sát thực tiễn, tìm tòi, phát hiện.

Viết phải đúng sự thật

Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra”. Như vậy, Người yêu cầu bài viết phải bảo đảm tính chân thực. Không bảo đảm tính chân thực sẽ làm mất niềm tin của bạn đọc, sẽ không thuyết phục được họ. Muốn vậy, người viết phải bám sát thực tiễn, điều tra, nghiên cứu, xem xét, kiểm tra, chọn lọc thông tin, phải thực sự cẩn trọng khi viết bài, đưa tin. Với tinh thần như vậy, Hồ Chí Minh căn dặn: “Không nên nói ẩu”; “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói chớ viết”. Đáng tiếc là hiện nay nhiều người viết còn chưa thực sự cẩn trọng khi viết bài, đưa tin, vì nôn nóng muốn có tin bài ”nóng” mà không thẩm tra, cân nhắc kỹ lưỡng, đưa lên mặt báo những tin bài có nội dung sai lạc; điều này nhiều khi gây ra những hậu quả tiêu cực khôn lường.

Ngắn gọn

Ngắn gọn là điều Hồ Chí Minh rất chú trọng khi viết. Người chỉ rõ: “Trước hết là cần phải tránh cái lối viết “rau muống”, nghĩa là lằng nhằng “trường giang đại hải”, làm cho người xem như là “chắt chắt vào rừng xanh”. Mình viết ra cốt để giáo dục, cổ động, nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích…”. Người giải thích: “Ngắn gọn có nghĩa là gọn gàng, rõ ràng, có đầu, có đuôi, có nội dung thiết thực, thấm thía, chắc chắn”. Ngắn gọn với ý nghĩa như vậy đòi hỏi bài viết phải hàm súc, cô đọng, mỗi chữ, mỗi ý đều phải thực sự thiết thực, gắn với mục đích đặt ra, không có chữ thừa, ý thừa. Để đạt được điều này, điều tối quan trọng là người viết phải rèn luyện công phu. Hồ Chí Minh đã từng kể lại việc Người đã học viết báo công phu như thế nào, khởi đầu là viết ngắn, sau đó là viết dài, rồi từ viết dài phải tập viết ngắn lại, viết cho cô đọng ra sao. Viết dài, ba hoa, sáo rỗng rõ ràng là điều tối kỵ đối với người viết, nhưng không phải hiện nay người viết báo nào cũng tránh được điều này. Để bài viết được ngắn gọn, cũng cần chống tư tưởng viết dài chiếm nhiều “diện tích” trên mặt báo để được trả nhuận bút nhiều hơn.

Trong sáng, giản dị, dễ hiểu

Trong sáng, giản dị, dễ hiểu là điều có thể nhận thấy rất rõ ở tất cả các bài viết của Hồ Chí Minh, dù các bài viết này thuộc thể loại nào, phục vụ cho đối tượng người đọc nào, nói về những vấn đề cụ thể nào của cuộc sống chiến đấu, lao động hay những vấn đề lớn nào của đất nước, dân tộc, thời đại. Theo Hồ Chí Minh, muốn viết được trong sáng, giản dị, dễ hiểu phải học cách nói của quần chúng. Có học cách nói của quần chúng thì mới được người đọc là quần chúng chấp nhận. Người dạy “chớ ham dùng chữ”, “viết phải thiết thực”. Mặc dù là người uyên bác, am hiểu văn hóa phương Đông, phương Tây, biết nhiều ngoại ngữ nhưng Người thường sử dụng từ ngữ đơn giản, thông dụng mà lại phản ánh đúng bản chất sự vật, có sức thuyết phục cao. Chính bởi vậy nhiều câu, nhiều ý trong các bài viết của Người đã đi vào đời sống và trở thành khẩu hiệu, phương châm hành động như: “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền…” vv… Người cực lực phê phán những cách dùng chữ cầu kỳ, không phù hợp đối tượng, ví dụ như đem “tân dân chủ nghĩa” giáo dục cho các cháu nhi đồng chẳng hạn.

Cái tâm người cầm bút

Tôi muốn dùng mục nhỏ này để thay cho lời kết của bài viết. Cái tâm là điều chúng ta có thể cảm nhận được và học tập từ tất cả các bài viết của Bác Hồ. Cái tâm là điều không thể dùng kỹ thuật viết thay thế được. Cái tâm ở đây chính là tình cảm rộng lớn và sâu sắc của Người đối với đồng bào, đồng chí, đồng loại, với các cháu thiếu niên, nhi đồng, với đất nước, dân tộc. Chính tình cảm lớn này đã góp phần quan trọng nâng nhà báo lớn Hồ Chí Minh lên tầm một danh nhân văn hóa kiệt xuất.

TS. Nguyễn Danh Bình
gdtd.vn

Thấm nhuần tư tưởng của Người về GD-ĐT

(GD&TĐ) – Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức chăm lo cho sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Tư tưởng dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được Người thể hiện rõ  trong mọi chính sách, chủ trương về GD.

Ngay khi cách mạng Tháng 8 thắng lợi, Người đã khai sinh cho nền GD mới, tiến bộ; một nền GD dân tộc, nhân dân, khoa học, dân tộc và đại chúng. Và trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn “những ngày trứng nước” của chính quyền mới, bên cạnh hai nhiệm vụ diệt giặc đói và giặc ngoại xâm, Người còn đặt ra nhiệm vụ diệt giặc dốt là một trong ba nhiệm vụ cấp bách nhất của Chính phủ lâm thời bấy giờ với vận mệnh của dân tộc. Ngay tại phiên họp thứ nhất của Hội đồng Chính phủ, ngày 3/9/1945, Người đề nghị “mở chiến dịch để chống nạn mù chữ”, và ngày 4/10/1945, Người ra “Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học”. Bởi Người “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Phát động phong trào chống nạn mù chữ, Người mong muốn mỗi người dân đều “Biết học, biết viết chữ quốc ngữ” để “Nâng cao dân trí”, “Giữ vững nền độc lập” và “Làm cho dân mạnh nước giàu”. Nhờ vậy, từ chỗ 95% dân số mù chữ trước Cách mạng Tháng 8, dân tộc ta đã vươn lên trở thành một dân tộc có văn hoá, khoa học, đủ khả năng để bảo vệ và xây dựng đất nước.

Đại biểu học sinh Trường trung học Trưng Vương, Hà Nội, chúc mừng sinh nhật Bác Hồ tháng 5 năm 1956 (ảnh tư liệu)Đại biểu học sinh Trường trung học Trưng Vương, Hà Nội, chúc mừng sinh nhật Bác Hồ tháng 5 năm 1956 (ảnh tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt đặt niềm tin vững chắc vào thế hệ trẻ của dân tộc. Trong Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường (tháng 9/1945): Người dạy: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”. Đặc biệt trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân trước lúc đi xa, Người đã một lần nữa khẳng định: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ”. Đồng thời, Người căn dặn: “Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Những căn dặn đó của Người cũng là những nội dung hoạt động chủ yếu của nhà trường XHCN chúng ta trong quá trình GD-ĐT, dù ở thời kỳ nào, dưới hình thức nào. Thấm nhuần tư tưởng của Người và thực hiện những căn dặn mà Người để lại trong Di chúc, trong suốt 40 năm qua, ngành GD&ĐT nước nhà đã không ngừng phấn đấu vươn lên, đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, nâng cao chất lượng GD – ĐT, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ XHCN, bước đầu đưa Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế và tiến tới “sánh vai các cường quốc năm châu” như mong đợi của Người.

Có thể nói những căn dặn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân trong Di chúc là kết tinh của toàn bộ tư tưởng của Người. Đối với tư tưởng về GD, sinh thời Người đặc biệt chú trọng đến GD toàn diện với sự cân bằng cả về GD đức lẫn tài và mối quan hệ giữa hai mặt đó trong sự hoàn thiện nhân cách của con người mới – con người XHCN. Người từng dạy: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ XHCN, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”. Đồng thời Người còn chỉ rõ: “Việc giáo dục gồm có: đức, trí, thể, mỹ”. Nền GD toàn diện ngày nay chúng ta hướng tới không nằm ngoài lời dạy của Người, thể hiện qua sự vận dụng sáng tạo kết hợp với chắt lọc sự tiên tiến của các nền GD trong khu vực và trên thế giới. Tư tưởng GD toàn diện của Người đã chỉ ra cho chúng ta thấy được mô hình chung của con người phải đào tạo trên những định hướng chính về các mặt phẩm chất và tài năng cùng mối liên hệ giữa các mặt đó với nhau để cùng hoàn thiện nhân cách. Đó là cơ sở tư tưởng và lý luận để chúng ta vạch ra chiến lược con người cho thế kỷ 21, trước mắt là đến năm 2010, trong đó Đảng và Nhà nước ta đã xác định nòng cốt thực hiện là ngành GD&ĐT.

Trong tư tưởng về phương pháp GD, Người đặc biệt chú ý đến vấn đề tự học và học tập suốt đời. Người quan niệm: “Về cách học, phải lấy tự học làm cốt”. Điều này tương đồng với quan điểm của Lênin: “Học, học nữa, học mãi”. Tư tưởng tự học của Người có thể quy thành 5 vấn đề:

1 – Trong việc tự học, điều quan trọng hàng đầu là xác định rõ mục đích học tập và xây dựng động cơ học tập đúng đắn.

2 – Phải tự mình lao động để tạo điều kiện cho việc tự học suốt đời.

3 – Muốn tự học thành công, phải có kế hoạch sắp xếp thời gian học tập, phải bền bỉ, kiên trì thực hiện kế hoạch đến cùng, không lùi bước trước mọi trở ngại.

4- Phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức để tự học.

5- Học đến đâu, ra sức luyện tập thực hành đến đó.

Đây là cống hiến to lớn và quý báu của Người vào lý luận dạy – học của nước ta mà trong suốt bao năm qua ngành GD&ĐT đã triển khai thực hiện một cách hiệu quả. Ngày nay, xã hội chúng ta là một xã hội học tập, học tập không ngừng. Đảng và Nhà nước đã xác định GD là quốc sách hàng đầu và đầu tư cho GD là đầu tư cho tương lai của nước nhà; chỉ có đẩy mạnh GD&ĐT mới có thể đưa đất nước sớm “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong đợi. Riêng đối với ngành GD, không những ngày càng đẩy mạnh đổi mới GD, đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng lấy người học làm trung tâm mà việc học đi đôi với hành đã thực sự được chú trọng, qua đó góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng GD-ĐT nước nhà thời gian qua.

Bên cạnh đề cao việc “tự học”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn luôn nhắc nhở những người làm công tác GD phải nhận thức đúng đắn “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”. Tư tưởng lớn này tạo ra sức mạnh để huy động tất cả mọi lực lượng chính quyền, đoàn thể, gia đình và xã hội tham gia xây dựng sự nghiệp GD, không chỉ bằng mặt vật chất, mà chủ yếu là để xây dựng mặt con người mới cho thế hệ trẻ – những người kế thừa xây dựng XHCN vừa “hồng” vừa “chuyên”. Còn nhớ sinh thời mặc dù bận trăm công ngàn việc, Người vẫn quan tâm theo dõi chỉ đạo cụ thể, sát sao các phong trào thi đua, như phong trào “dạy tốt, học tốt”, “người tốt, việc tốt”. Tư tưởng “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng” của Người đã được Đảng, nhân dân ta và ngành GD&ĐT vận dụng một cách sáng tạo thành phong trào xã hội hoá GD đang phát triển sôi nổi và rộng khắp trên phạm vi cả nước hiện nay trên cơ sở xây dựng mối quan hệ giữa ba lực lượng GD: Nhà trường – Gia đình – Xã hội.

Trên cả nước, mạng lưới cơ sở GD không ngừng được mở rộng; các loại hình GD ra đời đáp ứng như cầu xã hội; các trung tâm học tập cộng đồng, các cơ sở GD thường xuyên ngày càng được mở rộng với sự tham gia của toàn xã hội. Công tác xã hội hoá chưa bao giờ được coi trọng và đẩy mạnh như ngày nay. Để làm được điều đó, chính là nhờ chúng ta đã nhận thức đúng đắn được quan điểm của Người: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945. Ngày 2/9/1969, Người đi vào thế giới Người Hiền với lời nhắn gửi đến toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong bản Di chúc lịch sử. Bản Di chúc thực sự là kết tinh toàn bộ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà ngày nay chúng ta không ngừng học tập, noi theo; trong đó có những quan điểm, những lời căn dặn quý báu của Người về sự nghiệp GD-ĐT nước nhà mà ngành GD-ĐT ngày nay đã và đang thực hiện theo để sớm đưa nền GD nước ta đạt tới sự tiên tiến, toàn diện, có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu” như lời Người đã dặn.

Mai Thành Chung
gdtd.vn

“Cụ Hồ ở giữa lòng dân”

(GD&TĐ) – Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969) là vị lãnh tụ, là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, nhà nước và nhân dân Việt Nam chúng ta. Người được tổ chức Văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên Hợp Quốc (Unesco) tôn vinh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới. Hình tượng Bác Hồ đã đi vào thơ ca, nhạc, họa, và được thể hiện đặc biệt sinh động trong ca dao, dần tạo nên một kho tàng “Ca dao Việt Nam về Bác Hồ”.

Với mỗi người dân Việt Nam, Bác Hồ thân yêu và gần gũi như ruột thịt. Nhà thơ Tố Hữu đã viết:

“Người là Cha, là Bác, là Anh
Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”

Để nói lên tâm tư, tình cảm của mình, nhân dân ta thường sáng tác ca dao. Trong kho tàng ca dao Việt Nam, có nhiều câu ca dao ca ngợi Bác Hồ. Những câu ca dao này nói lên tình cảm kính yêu Bác của mọi lứa tuổi, mọi tầng lớn nhân dân trên các vùng miền đất nước.

Đối với nhân dân ta, Bác Hồ là tên gọi đẹp nhất, sáng chói nhất, lung linh nhất:

“Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”

Công ơn trời biển của Bác Hồ đối với đất nước, đối với dân tộc và toàn thể nhân dân ta là không gì có thể so sánh được:

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Bác Hồ hơn mẹ hơn cha
Ơn cao, nghĩa nặng bao la biển trời
Vì dân chiến đấu suốt đời

và:

Trên trời có ông sao Rua
Việt Nam ta có cụ Hồ, em ơi!
ánh sao Rua sáng ngời một góc
Gương cụ Hồ tỏ khắp năm châu.

Nhân dân ta đã dùng những hình anh so sánh cổ truyền để nói lên công ơn vĩ đại của Bác:

Đố ai đếm được trời sao
Đố ai đếm được công lao Bác Hồ
Đố ai lên được trời cao
Đố ai đáp được công lao Bác Hồ

Nhân dân ta cũng dùng những hình ảnh cụ thể, những sự vật cụ thể để ghi ơn công đức Bác, của Đảng.

Ngày xưa bưng lấy bát cơm
Nhớ thầy, nhớ mẹ phong sương cấy cày
Ngày nay bưng bát cơm đầy
Ơn Bác, ơn Đảng ngày ngày không quên.

Bác Hồ để lại muôn vàn tình thương yêu cho nhân dân, cho đất nước. Đất nước ta, nhân dân ta cũng kính yêu người với tình cảm sâu sắc, bao la:

Lòng Bác rộng khắp bao la
Lòng dân, lòng Bác chan hoà nước non

Các cháu thiếu nhi thì luôn luôn ghi nhớ
“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”

và luôn luôn các cháu mong đợi”

Bao giờ được Bác về chơi
Để cho các cháu khắp nơi đón mừng.

Trải qua những ngày kháng chiến đầy khó khăn, gian khổ. Trải qua những ngày hậu phương tiền tuyến cùng góp sức, góp công, góp của chiến thắng khẻ thù xâm lược quỷ quyệt, tàn ác, nhân dân ta càng thấm thía công ơn của Bác:

Trèo đèo mới biết đèo cao
Có đi tiếp vận mới biết công lao Cụ Hồ.

Càng nhớ ơn Bác Hồ, mọi người, mọi tầng lớp nhân dân càng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ được cách mạng phân công, giao phó:

Cụ Hồ với dân
Như chân với tay
Như chày với cối
Như cội với cành
Toàn dân dốc một lòng thành
Làm tròn nhiệm vụ, đáp tâm tình Cụ thương dân.

Nhân dân vùng mỏ Quảng Ninh đã bao đời cực khổ vì bọn thống trị thực dân, bọn chủ mỏ bóc lột, áp bức:

Ăn cơm với cá mòi he
Lấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời

Họ mong ngày kháng chiến thắng lợi, ngày ánh sáng của Đảng, của Bác Hồ về với vùng mỏ:

Bao giờ mà Cụ về đây
Bao nhiêu đau khổ một ngày sạch không
Ăn cơm với cá mòi bông
Lấy chồng Cẩm Phả sướng hơn ông chủ nhì

Nhân dân Nam Bộ với gậy tầm vông, với mã tấu, với lựu đạn đã đứng lên anh dũng chiến đấu chống đội quân xâm lược nhà nghề có vũ khí hiện đại cũng mong đợi:

Bài thơ Nam Bộ của Người, Người ơi
Có vần, có điệu đủ rồi
Còn đợi bóng Người in giữa bài thơ
Bao giờ độc lập Người vô
Bấy giờ là lúc bài thơ hoàn thành

Nhân dân Liên khu 5 trong những tháng ngày kháng chiến gian lao và trường kỳ luôn luôn nhận được tình thương bao la của Bác Hồ, trong lòng luôn luôn tâm niệm và mong ước:

Ai ngoài muôn dặm trùng dương
Cũng thường nhận được tình thương Bác Hồ
Mong ngày độc lập Cụ vô
Thoả lòng mong đợi, ước mơ đêm ngày.

“Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” (ảnh TL)

Nhân dân cả nước ta thấm thía công ơn của Đảng, của Bác Hồ. Có Bác Hồ, có Đảng, nhân dân cả nước mới có độc lập, tự do, có điều kiện để xây nền hạnh phúc cho bản thân mình và cho muôn đời con cháu mai sau. Người nông dân càng thấm thía công ơn của Bác mang lại ruộng đất, được làm chủ ruộng đồng, làm chủ quê hương. Công ơn Bác, hình ảnh Bác đi liền với hạnh phúc, ấm no:

Ơn Người lúa lại vàng tươi
Sắn khoai lại biếc mây trời lại xanh.

Đồng bào miền Nam khi tiễn con em ra miền Bắc tập kết theo Hiệp định Giơ – ne – vơ năm 1954 đã nhắn nhủ:

Con ra thưa với Bác Hồ
Đất này chỉ một ngọn cờ vàng sao

Bác Hồ ở giữa lòng dân, Bác Hồ sống mãi trong lòng nhân dân cả nước. Hình ảnh Bác Hồ thật cao quý, thiêng liêng nhưng lại rất thân thiết, gẫn gũi:

Cụ Hồ ở giữa lòng dân
Tuy xa xa lắm mà gần, gần ghê
Mỗi khi thư Cụ gửi về
Rộn ràng khắp chợ cùng quê đón mừng.

Bác Hồ là lãnh tụ cách mạng, là hình ảnh của toàn dân tộc. Bác Hồ đem lại sự đổi đời cho đất nước, cho toàn dân, nhưng Bác Hồ cũng là người ông, người cha, người anh thân thiết của mỗi gia đình người Việt Nam chúng ta. Bác Hồ là người dẫn đường, là tấm gương sáng, là ngọn đuốc lung linh soi sáng cho nhân dân cả nước đi lên trên con đường tới độc lập, tự do và hạnh phúc. Bác Hồ là cả một chân trời:

Cụ Hồ là vị cha chung
Là sao Bắc Đẩu, là vừng thái dương
Chúng con đi giữa đêm trường
Nhờ cha dìu dắt, dẫn đường chúng con
Ơn cha như nước, như non
Như gương Hồ Thuỷ, như hòn Thái Sơn

“Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây” đó là truyền thống đạo đức của nhân dân ta. Được sống trong đất nước hoà bình, độc lập, tự do, nhân dân ta càng thấm thía, càng ghi sâu công ơn và tấm gương đạo đức trong sáng, cao quý của Bác Hồ:

Uống nước là nhớ đến nguồn
Cơm no áo ấm nhớ ơn Bác Hồ
Ơn Bác Hồ sâu hơn Nam Hải
Công Bác Hồ bằng dải Trường Sơn
Nam Hải sâu ta đo cũng được
Trường Sơn dài ta vượt cũng qua
Công ơn của Bác bao la
Nhân dân kể đến bao giờ cho xong

Làm sao kể hết công lao của Bác Hồ và làm sao kể hết những câu ca dao của nhân dân ta viết về Bác Hồ vì nhân dân vẫn không ngừng sáng tác những câu ca dao, những bài cao dao ca ngợi công ơn của Bác. Các nhà văn, nhà thơ, các nhà nghiên cứu và cả nhân dân vẫn tiếp tục sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu… về Người. Và công việc ấy sẽ còn tiến hành mãi mãi…Đó là mạch nguồn cảm hứng vô tận, như nghĩa tình tha thiết dân Việt hướng về vị Cha già dân tộc kính yêu.

Đặng Trần Tụy
(Hội Văn Nghệ Dân gian Hà Nội)
gdtd.vn

Học tập “phong cách học tập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(GD&TĐ) – Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh không những là tấm gương sáng ngời về tư tưởng, đạo đức, trí tuệ, tài năng, nhân cách và lối sống mà còn là một mẫu mực về phương pháp và phong cách. Phong cách Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ di sản vô giá mà người đã để lại cho dân tộc và nhân loại.

Trong đó, phong cách học tập là một trong những nội dung cơ bản trong phong cách Hồ Chí Minh. Nghiên cứu ngày càng sâu về phong cách học tập Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấy rõ hơn tầm vĩ đại của Người với tư cách là nhà tư tưởng lớn, nhà chiến lược thiên tài, nhà hoạt động thực tiễn lỗi lạc và là tấm gương sáng ngời đã để lại những bài học quý giá trở thành chuẩn mực cho việc xây dựng và rèn luyện phong cách học tập của người cán bộ cách mạng, bồi dưỡng nhân cách cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau. Phong cách học tập của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện ở động cơ học tập trong sáng, thái độ học tập đúng mực và phương pháp học tập khoa học, sáng tạo với phương châm lấy tự học làm trung tâm. Phương pháp đó là sự thống nhất biện chứng giữa động cơ, thái độ, nội dung và phương pháp học tập.

Bác Hồ thăm đại biểu giáo viên toàn miền Bắc (1958) và dạy: Bác Hồ thăm đại biểu giáo viên toàn miền Bắc (1958) và dạy: “Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, người chủ tương lai của nước nhà… Nhà trường phải gắn liền với thực tế của nước nhà, với đời sống nhân dân”.

Phong cách học tập Hồ Chí Minh là một cống hiến quan trọng, là đóng góp to lớn vào kho tàng lý luận dạy – học của nước ta; trở thành một triết lý học tập; một giá trị nhân sinh cao đẹp, tiêu biểu cho trí tuệ, tâm hồn và phong cách Việt Nam – phong cách đó rất gần gũi, dung dị mà sâu sắc; uyên bác mà dễ hiểu, dễ tiếp thu và chuyển hóa, có thể học tập và làm theo. Phong cách học tập Hồ Chí Minh thấm nhuần triết lý hành động của phương Đông, đồng thời được soi sáng bởi thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin nên rất đa dạng, phong phú, sinh động nhưng sâu sắc. Phong cách học tập đó không những tạo cơ sở khoa học mà còn là tấm gương mẫu mực và thiết thực cho mọi người học tập và tự học tập suốt đời để vươn lên không ngừng. Phong cách đó không chỉ là lý luận mà còn là cách thức và phương pháp soi đường và chỉ dẫn cho chúng ta học tập và noi theo.

Nét đặc trưng trong phong cách học tập Hồ Chí Minh mang tính độc đáo, đó là phong cách học tập hàm chứa những yếu tố rất giản dị, đại chúng với động cơ, mục đích cao cả, trong sáng mà thiết thực; với thái độ cầu thị, khiêm tốn nhưng lại đòi hỏi rất cao và hết sức nghiêm túc; với phương pháp học tập khoa học mà dễ nhớ, dễ hiểu, phù hợp với mọi đối tượng, lứa tuổi… Cụ thể là:

Một là, động cơ học tập trong sáng vì mục tiêu, lý tưởng cao cả của cách mạng, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì sự tiến bộ của nhân loại. Quan tâm, chăm lo tới sự nghiệp giáo dục của nước nhà, Hồ Chí Minh luôn kêu gọi mọi người thi đua học tập, coi học tập là nhiệm vụ thường xuyên, suốt đời, “còn sống thì còn phải học”. Và trong việc học tập Người đặc biệt chú trọng đến động cơ, thái độ học tập: “Muốn học tập có kết quả thì phải có thái độ đúng và phương pháp đúng” [1]. Tức là, trước hết phải có động cơ học tập đúng để xác định rõ và đúng xu hướng nghề nghiệp chân chính của mình là vì mục tiêu, lý tưởng cao cả của cách mạng, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì con người và vì sự tiến bộ của chính bản thân mình. Theo Hồ Chí Minh, mục đích của việc học tập là: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ, học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại ”[2 ].

Động cơ chính là động lực bên trong của mỗi con người, sự thể hiện nó được biểu hiện qua hành vi, thái độ và việc làm của con người đó. Do vậy, chỉ khi nào xác định được động cơ học tập đúng đắn thì mỗi chúng ta mới có thái độ và phương pháp học tập đúng đắn và khoa học. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào người học cũng phải nỗ lực, cố gắng và phải xây dựng cho mình một động cơ học tập đúng đắn; đồng thời không cho phép tồn tại những tư tưởng cơ hội, vụ lợi, thực dụng, ích kỷ cá nhân, hay những biểu hiện lười học tập, ngại rèn luyện, hoặc là dùng mọi thủ đoạn nhằm đạt kết quả cao trong học tập. Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Học để sửa chữa tư tưởng, học để tu dưỡng đạo đức cách mạng, học để tin vào đoàn thể, vào nhân dân, vào tương lai của dân tộc và tương lai của cách mạng, học để hành”; “học để làm việc”; chứ không phải học để “làm ông nọ bà kia”, hay là để “làm quan cách mạng”… cho nên, “tất cả những động cơ học tập không đúng đắn đều phải tẩy trừ cho sạch”[ 3].

Với tầm nhìn xa trông rộng, Hồ Chí Minh đã thấy rõ vai trò của việc học tập đối với người cán bộ cách mạng. Trong nhiều lần nói chuyện với giới trí thức, Bác thường nhấn mạnh tầm quan trọng của công việc học tập: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời”. Trên cơ sở nắm bắt được xu thế của thời đại và khả năng dự báo được tương lai, Người đã chỉ rõ: “Tình hình thế giới và trong nước luôn luôn biến đổi, công việc của chúng ta nhiều và mới, kỹ thuật của thế giới ngày càng tiến bộ, nhưng sự hiểu biết của chúng ta có hạn. Muốn tiến bộ kịp sự biến đổi vô cùng tận, thì chúng ta phải nghiên cứu, học tập”[ 4] và “nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được … không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”. Người thường dẫn câu nói của Lênin “Học, học nữa, học mãi” để nhắc nhở bản thân, để giáo dục cán bộ, đảng viên và mọi người.

Bản thân Hồ Chí Minh đã nêu gương mẫu mực về động cơ học tập trong sáng. Người học tập với một động cơ hết mực trong sáng và với một ý nguyện thật cao cả; việc học tập đó không chỉ dừng lại ở sự mở rộng vốn hiểu biết, nâng cao trình độ tri thức và tiến bộ của bản thân, đó cũng hoàn toàn không phải vì bằng cấp nọ, học vấn kia… mà quan trọng hơn là để tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, làm cho đất nước độc lập, nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc. Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”[ 5]. Động cơ và mục đích này luôn luôn trở thành động lực thường xuyên và trực tiếp thôi thúc Bác một cách mạnh mẽ trong việc học tập, tiếp thu tri thức nhân loại.

Hai là, thái độ học tập đúng đắn, khiêm tốn, say mê, cầu thị, chân thành, không kiêu ngạo, không dấu dốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần học tập suốt đời, về thái độ khiêm tốn, say mê và cầu thị, không dấu dốt trong học tập.. Cho đến những năm cuối đời mình, Người vẫn chú trọng, không sao nhãng việc học tập. Tháng 5-1966, trong một buổi nói chuyện với các đồng chí đảng viên mới ở Hà Nội, Người đã nói: “Bác thường nghe nói có đồng chí mới 40 tuổi mà đã cho mình là già nên ít chịu học tập. Nghĩ như vậy là không đúng, 40 tuổi chưa phải là già. Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng”[ 6]. Người cho rằng: “Không ai có thể tự cho mình là đã biết đủ rồi, biết hết rồi” và “người nào tự cho là đã biết đủ rồi, thì người đó dốt nhất”, mỗi người phải biết khiêm tốn, chớ “kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập”. Đức tính khiêm tốn yêu cầu, đòi hỏi con người ta không được thỏa mãn với vốn kiến thức của mình và cũng không được phép bằng lòng với những thành tích đã đạt được.

Ba là, phương pháp học tập khoa học, sáng tạo và hiệu quả theo phương châm “lấy tự học làm cốt”. Việc xác định đúng động cơ và thái độ trong học tập là nội dung hết sức quan trọng và cần thiết, nhưng để hiện thực hóa động cơ, thái độ đó; đòi hỏi tất yếu khách quan là phải xây dựng được phương pháp học tập khoa học. Vì vậy, trong suốt quá trình hoạt động cách mạng và thông qua quá trình đó, Người đã hình thành cho mình một phương pháp học tập khoa học, đó là con đường tự học, với phương châm “lấy tự học làm cốt” và phải biết “tự động học tập”. Hồ Chí Minh chỉ rõ: tự học, tự rèn, tự tu dưỡng cũng giống như “mài ngọc luyện vàng”, “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Bởi vì, theo Người: “Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập mà có”[ 7].

Trong tự học phải xác định đúng nội dung tự học, “học cái gì”? Theo Hồ Chí Minh, nội dung tự học rất rộng lớn, bao gồm: học tập lý luận, chuyên môn nghiệp vụ, văn hoá, đạo đức… trong đó, Người luôn coi trọng việc học tập lý luận; bởi lẽ “không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”. Người luôn đặt ra yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế. Phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông”[8 ]. Mỗi người phải thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất nhân cách và đạo đức cách mạng.

Muốn tự học thành công phải có kế hoạch cụ thể, khoa học. Kế hoạch học tập đó không phải là một sự tự do, tùy ý mà được xây dựng một cách chủ động, trên cơ sở căn cứ vào tình hình công việc, khả năng, thời gian và điều kiện phù hợp. Trong điều kiện thời gian không cho phép thì phải nắm cho được những vấn đề cơ bản,“phải thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều”, “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Đặc biệt, theo Người, phải tự nguyện, tự giác; tích cực, chủ động và kiên trì, bền bỉ, quyết tâm thực hiện kế hoạch đến cùng, phải xem công việc học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập; nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập.

Phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức để học. Người vạch ra: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân. Không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”[ 9]; “Học tập trong việc làm hằng ngày, trong việc lớn cũng như việc nhỏ”. Học tập trong kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại. Học đến đâu phải ra sức luyện tập thực hành đến đó, “học mà không hành thì vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”. Học đi đôi với hành cùng một lúc sẽ hình thành ở người học cả tri thức lẫn kỹ năng; do đó, “hành” trở thành một hình thức chính của “học”, quá trình “học” xảy ra trong chính quá trình “hành”. Trong buổi nói chuyện với cán bộ giảng dạy và sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Ngày 20/10/1964), Người đã khuyên: Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau.

Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ lúc thanh niên cho đến khi trở thành lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, thành người chiến sĩ xuất sắc của phong trào cộng sản quốc tế là một tấm gương sáng ngời về tinh thần tự học, lấy tự học làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ về mọi mặt của bản thân. Sự thành công của Người trong việc tiếp thu chân lý vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lênin và trong việc sáng tạo sách lược đấu tranh cách mạng ở một nước thuộc địa nửa phong kiến cũng chính là kết quả của một quá trình tự học kiên trì, gian khổ trong cuộc đấu tranh cách mạng liên tục, kiên cường. Người đã tổng kết những kinh nghiệm quý báu về quá trình học tập – tự học suốt cả đời mình và đã để lại cho chúng ta những bài học vô giá. Tuy nhiên, tự học ở Hồ Chí Minh không phải là một sự ngẫu hứng, tuỳ ý, vô nguyên tắc… Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần tự học, lấy tự học làm cốt, làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ mọi mặt của bản thân. Song tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là một sự ngẫu hứng, tùy ý vô nguyên tắc… mà tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, một triết lý nhân văn sâu sắc với một kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, khoa học; với một ý chí và quyết tâm bền bỉ, dẻo dai, tinh thần sáng tạo, tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để học.

Thực tiễn sống động trên là minh chứng hùng hồn, rõ ràng nhất về ý thức, thái độ và cách thức học tập đúng đắn của Người; thể hiện sâu sắc và rõ nét một phong cách học tập khoa học, mẫu mực. Thế hệ hôm nay có thể tìm thấy trong phong cách học tập đó tinh thần học tập không mệt mỏi; không tư lợi, học để phụng sự cách mạng, phụng sự nhân dân; học tập một cách thông minh, sáng tạo; học ở sách vở, học tập thực tiễn, ở quần chúng… Ngoài ra, phong cách học tập Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tế. Phương pháp học tập của Người là tùy theo điều kiện, thời gian mà thực hiện từng bước và có hiệu quả; đặc biệt, phải lấy tự học làm chính. Phải hết sức khiêm tốn, không dấu dốt.

Phong cách học tập của Người là một cống hiến quan trọng, đóng góp to lớn vào kho tàng lí luận dạy học của nước ta; trở thành một triết lí học tập, một giá trị nhân sinh cao đẹp tiêu biểu cho trí tuệ tâm hồn và phong cách Việt Nam – rất gần gũi, dung dị mà sâu sắc; uyên bác mà dễ hiểu, dễ tiếp thu và chuyển hoá. Phong cách học tập của Hồ Chí Minh thấm nhuần triết lý hành động của phương Đông, đồng thời soi sáng bởi thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin nên rất đa dạng, phong phú, sinh động nhưng sâu sắc. Phong cách đó đã tạo cơ sở khoa học để mọi người giáo dục và tự giáo dục suốt đời để vươn lên không ngừng.

Nguyễn Văn Thanh
(Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng)
gdtd.vn

Bác Hồ với giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên

(GD&TĐ) – Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân ta luôn đánh giá đúng vị trí, vai trò của đoàn viên, thanh niên, Người luôn dành tình cảm, sự quan tâm chăm lo, bồi dưỡng, động viên đến các thế hệ thanh niên của nước nhà.

Trong thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết Nguyên Đán năm 1946, Người viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Bởi theo Người, đoàn viên, thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà, nước nhà thịnh hay yếu, suy hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giáo dục đạo đức cho đoàn viên, thanh niên. Nhìn nhận đoàn viên, thanh niên một cách toàn diện, thấy rõ vị trí, vai trò “Là người tiếp sức cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai.” Do vậy, Người đặc biệt quan tâm tổ chức, bồi dưỡng đoàn viên thanh niên thành đội xung kích cách mạng, lực lượng hậu bị của Đảng nhằm kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp của giai cấp và dân tộc.

Người yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên phải tự giác rèn luyện, không ngừng học tập, gương mẫu xung phong trong mọi công việc. Đi đôi với việc giáo dục trí lực, nâng cao trình độ chuyên môn, nắm vững khoa học kỹ thuật, mỗi đoàn viên, thanh niên phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng bởi theo Người: “Thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì lợi ích cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không có lợi gì cho loài người”. Đạo đức cách mạng ấy là sự triệt để trung thành với cách mạng, một lòng, một dạ phục vụ nhân dân, sẵn sàng xả thân cho đất nước, điều đó được thể hiện ở ngay trong suy nghĩ và hành động hàng ngày của mỗi đoàn viên, thanh niên.

Bác Hồ với đoàn viên, thanh niênBác Hồ với đoàn viên, thanh niên

Để tuổi trẻ trở thành người cách mạng chân chính, những con người mới XHCN, Người nhấn mạnh việc cần thiết phải giáo dục đoàn viên, thanh niên tính trung thực, ngay thẳng, tác phong khiêm tốn, giản dị, tinh thần lao động tích cực, siêng năng, táo bạo và sáng tạo. Đoàn viên, thanh niên phải luôn có tinh thần cố gắng vươn lên, sống cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết, phải thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

Không những thế, Người còn yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên cần phải chống tâm lý tự ti, tự lợi, chỉ lo vun vén cho lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình, chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc, chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay…đó là những thói xấu kìm hãm chí tiến thủ của đoàn viên, thanh niên.

Thương yêu hết lòng và đặt niềm tin trọn vẹn vào đoàn viên, thanh niên, Người nhấn mạnh: “Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà. Phải học tập mãi, tiến bộ mãi mới thật là thanh niên “. Trước lúc đi xa, Người đã để lại cho đoàn viên, thanh niên “Muôn vàn tình thương yêu”,

Người đánh giá: “Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ”; và căn dặn “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng”vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”. Từ bức thư tâm huyết gửi thanh niên Việt Nam hồi đầu thế kỷ đến lời “Di chúc” cuối cùng, Bác Hồ luôn dành cho đoàn viên, thanh niên tình cảm thương yêu, trìu mến, sự chăm sóc ân cần.

Không chỉ chăm lo và giáo dục, cổ vũ đoàn viên, thanh niên học tập và phấn đấu, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một mẫu mực của tấm gương đạo đức cách mạng, cần kiêm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng và nhân dân. Suốt đời phấn đấu vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Thấm nhuần và quán triệt tư tưởng của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vai trò của đoàn viên, thanh niên. Coi đây là lực lượng xung kích, là đội dự bị tin cậy của Đảng và coi công tác thanh niên là vấn đề được đặc biệt quan tâm chỉ đạo. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn phụ thuộc vào lực lượng đoàn viên, thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên. Do vậy, phải chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng – sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích…của đoàn viên, thanh niên  trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương Bác Hồ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”, tuổi trẻ cả nước đã phát huy truyền thống của thế hệ trước, hăng hái, sôi nổi hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào: “Xung kích phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, “Đồng hành cùng thanh niên lập thân lập nghiệp”, tích cực tham gia các diễn đàn: “Tuổi trẻ Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”, “Tiếp lửa truyền thống – Mãi mãi tuổi hai mươi”, “Thanh niên sống đẹp sống có ích”…

Những tình cảm, sự quan tâm, chăm lo, dìu dắt của Bác Hồ dành cho đoàn viên, thanh niên luôn là nguồn động lực cổ vũ, khích lệ tuổi trẻ cả nước nói chung, tuổi trẻ Yên Bái nói riêng hăng hái, xung kích cùng toàn dân xây dựng và phát triển đất nước vì mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” như Bác kính yêu hằng mong muốn.

Phạm Thị Duyên
gdtd.vn

1-6 (1-6-1955)

Các em nhi đồng vui vẻ đón mừng Ngày quốc tế của các em, cũng như nhân dân lao động vui vẻ chúc mừng Ngày quốc tế Lao động 1-5.

Đồng thời, ngày 1-6 nhắc nhủ người lớn (trước hết là bố mẹ, cô giáo, thầy giáo, Đoàn thanh niên) nhiệm vụ của mình đối với nhi đồng.

Yêu quý các em, chúng ta phải lấy tinh thần dân chủ mới mà giáo dục các em “5 điều yêu”: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu quý của công.

Chúng ta phải khéo nuôi dạy, giúp cho nhi đồng phát triển sức khoẻ và trí óc, thành những trẻ em có “4 tính tốt”: hoạt bát, mạnh dạn, chất phác, thật thà.

Phải vun trồng cho nhi đồng cái thói quen đoàn kết và tập thể, mở mang tính hǎng hái và tính sáng tạo của nhi đồng. Làm cho nhi đồng dần dần có cái tư cách của con người mới: không sợ khó, không sợ khổ, bạo dạn, bền gan.

Ngoài việc học cần hướng dẫn các em chơi vui một cách tập thể và có vǎn hoá như hát, múa, làm kịch, cắm trại… Và khuyến khích các em tham gia việc tǎng gia sản xuất, thǎm viếng thương binh, giúp đỡ gia đình liệt sĩ…

Trong mọi việc, nên hướng dẫn các em tự động. Người lớn không nên cái gì cũng can thiệp, việc gì cũng bao biện; không nên gò ép, bó buộc; không nên làm cho các em câu nệ, khúm núm, thành những nhi đồng “già”.

8,9 nǎm qua, chúng ta kiên quyết kháng chiến; hiện nay chúng ta kiên quyết đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước – cũng nhằm mục đích xây dựng cho con cháu chúng ta một đời sống sung sướng, vui tươi, thái bình, hạnh phúc. Đồng thời chúng ta phải khéo giáo dục để mai sau nhi đồng ta thành những công dân có tài, có đức, xứng đáng là người chủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

C.B.

——————————–

Báo Nhân dân, số 455, ngày 1-6-1955.
cpv.org.vn

Bài nói chuyện với các đại biểu nhân dân thành phố Hải Phòng (2-6-1955)

Nǎm 1946, tôi về thǎm đồng bào. Cách ít tháng sau thì bắt đầu kháng chiến.

Từ lần gặp trước đến lần này, thấm thoát đã 10 nǎm. Trong 10 nǎm ấy, biết bao nhiêu tình! Tuy xa cách nhau nhưng Đảng, Chính phủ và tôi luôn luôn nhớ đến đồng bào. Đồng bào cũng luôn luôn nhớ đến tôi. Tôi thường nhận được thư của các cụ phụ lão, các cháu thanh niên, nhi đồng và của anh chị em công nhân Hải Phòng bí mật gửi lên Việt Bắc.

Trong 10 nǎm qua, nước ta có nhiều chuyển biến lớn, mà chuyển biến lớn nhất là nay miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Hải Phòng hoàn toàn giải phóng. Vừa rồi, công việc tiếp quản được tốt là do bộ đội và cán bộ làm đúng chính sách, giữ vững kỷ luật; do nhân dân ta, đặc biệt là công nhân, hǎng hái đấu tranh, và bà con Hoa kiều cũng ra sức giúp đỡ.

Miền Bắc hoàn toàn giải phóng là một thắng lợi to lớn. Sau hơn 80 nǎm nô lệ, ngày nay, cả miền Bắc là của nhân dân ta, dưới chế độ dân chủ cộng hoà do nhân dân ta làm chủ. Thắng lợi to lớn ấy là do từ Nam đến Bắc, đồng bào ta đoàn kết, bộ đội ta anh dũng, Đảng và Chính phủ ta lãnh đạo đúng đắn. Ta lại có nhân dân các nước bạn, nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hoà bình toàn thế giới ủng hộ.

*

*     *

Nhiệm vụ của tất cả mọi người chúng ta hiện nay là đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập và dân chủ trong cả nước. Đó là một cuộc đấu tranh phức tạp, gian khổ và lâu dài, bởi vì đế quốc Mỹ và phe lũ của chúng đang âm mưu phá hoại hoà bình, phá hoại thống nhất. Nước ta tạm thời chia làm hai vùng. ở miền Nam, đế quốc Mỹ và Ngô Đình Diệm khủng bố nhân dân, gây ra đánh nhau, làm cho đồng bào ta khổ sở. ở miền Bắc thì Đảng, Chính phủ ta và nhân dân đoàn kết nhất trí, cùng nhau ra sức xây dựng đời sống hoà bình. Do hoàn cảnh đặc biệt của nước ta tạm thời chia làm hai vùng, công tác của toàn thể nhân dân ta là phải củng cố miền Bắc về mọi mặt chính trị, quốc phòng, kinh tế và vǎn hoá để giúp đỡ đồng bào miền Nam đấu tranh. Đấu tranh cho hoà bình, thống nhất là nhiệm vụ chung của tất cả mọi người. Từng ngành, từng giới lại có nhiệm vụ riêng của mình:

– Bộ đội và công an phải hết sức cảnh giác, không được chủ quan, khinh địch, phải dựa vào lực lượng của nhân dân, phải làm cho mỗi người dân hiểu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, thì sẽ có hàng triệu người làm tai mắt giúp công an, giúp bộ đội. Bọn phá hoại không sao lọt được cái lưới tai mắt của nhân dân.

– Đồng bào phải đoàn kết chặt chẽ, thi đua tǎng gia sản xuất để khôi phục kinh tế trở lại mức bình thường.

– Là giai cấp lãnh đạo cách mạng, là chủ lực sản xuất kinh tế, công nhân phải ra sức thi đua tǎng nǎng suất, giữ gìn máy móc, bảo vệ xí nghiệp, thi hành đúng kỷ luật lao động. Đó là con đường đi đến cải thiện đời sống cho nhân dân và cho giai cấp mình.

– Nông dân thì thi đua tǎng gia sản xuất nhiều lúa, nhiều khoai, để tiếp tế cho thành phố, cho xí nghiệp và bộ đội. Thế là đã lợi nước lại lợi nhà.

– Anh em trí thức thì thi đua xây dựng lại vǎn hoá dân tộc của ta, tẩy trừ vǎn hoá truỵ lạc của đế quốc, giáo dục con em thành những công dân tốt. Các thầy thuốc thì giúp đỡ nhân dân giữ gìn sức khoẻ, chữa những bệnh tật mà thực dân để lại.

– Các nhà công thương thì thi đua kinh doanh, thi hành đúng chính sách kinh tế, tài chính của Chính phủ, góp phần vào việc khôi phục kinh tế nước nhà.

– Các cháu thanh niên thì phải xung phong trong mọi việc, sao cho xứng đáng là người chủ tương lai của nước nhà. Các cháu nhi đồng thì nên ngoan ngoãn, chǎm học, siêng làm, giúp đỡ cha mẹ, thương yêu bạn bè.

Tôi mong các cụ phụ lão dạy bảo, khuyến khích con cháu thi đua làm trọn nhiệm vụ.

Sau mấy mươi nǎm nô lệ, nếu tính cả thời kỳ Đại chiến thế giới lần thứ hai thì chúng ta đã trải qua 15 nǎm binh lửa. Khi đối phương rút đi thì họ vơ vét hết của cải, họ để lại cho ta những khó khǎn như thất nghiệp, nghèo túng, bệnh tật. Đế quốc Mỹ và bè lũ lại âm mưu phá hoại. Đó là những khó khǎn trước mắt, chúng ta phải nhận rõ. Song khó khǎn ấy là khó khǎn tạm thời, chúng ta nhất định cố gắng vượt qua cho kỳ được.

Bên những khó khǎn đó, chúng ta có những thuận lợi cǎn bản và to lớn: miền Bắc nước ta đã hoàn toàn giải phóng. Rừng vàng, biển bạc là của ta, do nhân dân ta làm chủ. Đồng bào ta đoàn kết, siêng nǎng. Đảng ta kiên quyết, Chính phủ ta trong sạch, Đảng và Chính phủ một lòng vì nước, vì dân.

Các nước bạn ta sẵn sàng giúp đỡ.

Lúc bắt đầu kháng chiến, chúng ta đã gặp nhiều khó khǎn hơn, mà lúc đó chúng ta lại hầu như chỉ có hai bàn tay trắng. Vậy mà kết quả chúng ta đã thắng lợi. Bây giờ trong hoà bình, chúng ta đoàn kết, cố gắng, chúng ta có sức, có vốn, và có quyết tâm, chúng ta lại có bạn giúp, cho nên chúng ta nhất định vượt được khó khǎn, đi đến thắng lợi.

Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ muôn nǎm!

————————-

Nói ngày 2-6-1955.
Báo Nhân dân, số 458,
ngày 4-6-1955.
cpv.org.vn

Đạo đức Cách mạng (6-6-1955)

Quyết tâm giúp đỡ loài người ngày càng tiến bộ và thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, luôn luôn giữ vững tinh thần chí công vô tư – đó là đạo đức cách mạng.

Tuy nǎng lực và công việc của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ; nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng.

Đại đa số chiến sĩ cách mạng là người có đạo đức: Cả đời hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, sinh hoạt ngày thường thì làm gương mẫu: gian khổ, chất phác, kính trọng của công… Đạo đức ấy có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp đổi xã hội cũ thành xã hội mới và xây dựng mỹ tục thuần phong.

Không phải chúng ta ham chuộng khổ hạnh và bần cùng. Trái lại, chúng ta phấn đấu hy sinh, vì chúng ta muốn xây dựng một xã hội ai cũng ấm no, sung sướng. Nhưng chúng ta biết rằng: Muốn cải thiện đời sống, thì trước phải ra sức thi đua phát triển sản xuất; và trước phải nâng cao mức sống của nhân dân, rồi mới nâng cao mức sống của cá nhân mình. Tức là: “Lo, thì trước thiên hạ; hưởng, thì sau thiên hạ”.

Nhưng chúng ta cũng phải nhận rằng: ảnh hưởng xấu của xã hội cũ làm cho một số đảng viên và cán bộ (trong Đảng và ngoài Đảng) hủ hoá. Họ tưởng rằng cách mạng là cốt để làm cho họ có địa vị, được hưởng thụ. Do đó mà họ mắc những sai lầm: Kiêu ngạo, chưng diện, hưởng lạc, lãng phí của công, tự tư tự lợi, không tiết kiệm đồng tiền bát gạo là mồ hôi nước mắt của nhân dân.

Họ quên mất tác phong gian khổ phấn đấu, lạt lẽo với công việc cách mạng, xa rời Đảng, xa rời quần chúng. Dần dần họ mất cả tư cách và đạo đức người cách mạng, sa vào tham ô, hủ bại và biến thành người có tội với Đảng, với Chính phủ, với nhân dân.

Để ngǎn ngừa cái xấu ấy, Đảng ta từ trên đến dưới phải chú trọng việc giáo dục đạo đức cách mạng, tǎng cường tinh thần cảnh giác, mở rộng tự phê bình và phê bình.

C.B.

———————————

Báo Nhân dân, số 460, ngày 6-6-1955.
cpv.org.vn

Phát triển Đảng ở nông thôn trong phát động quần chúng (7-6-1955)

Trước đây, những đảng viên tốt ở nông thôn đã góp phần đưa kháng chiến đến thắng lợi. Hiện nay, những đảng viên tốt ở nông thôn đang góp sức thực hiện cải cách ruộng đất và những công việc khác. Đồng thời, chúng ta cần phải gắn liền việc cải cách ruộng đất, tǎng gia sản xuất, v.v. với việc củng cố và phát triển Đảng ở nông thôn.

Chi bộ mạnh hay là yếu, công tác của chi bộ tốt hay là xấu, ảnh hưởng rất lớn đến việc cải tạo nông thôn.

Vì vậy, chỉnh đốn chi bộ là một việc quan trọng bậc nhất trong phong trào cải cách ruộng đất: loại những phần tử xấu ra, đưa những phần tử tốt vào để thêm lực lượng mới cho Đảng.

Khi kết nạp đảng viên mới, cần phải giữ đúng những điều kiện Trung ương đã quy định và kết hợp với những công tác trung tâm. Quyết không nên tuỳ tiện, cẩu thả, tách rời công việc thực tế.

Trước khi kết nạp một đảng viên mới, phải dựa vào quần chúng mà xem xét cẩn thận:

– Thành phần giai cấp,

– Lịch sử đấu tranh,

– Trình độ giác ngộ,

– Quan hệ với quần chúng,

– Thái độ trong công tác.

Những điều ấy chưa đủ, còn phải giáo dục thêm về kỷ luật sắt và tự giác của Đảng và nhiệm vụ của người đảng viên: trọn đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.

Khi kết nạp thì thủ tục phải nghiêm nhưng giản đơn: ý kiến của đảng uỷ phụ trách (trong phát động quần chúng tức là Đoàn uỷ), của người giới thiệu và nghị quyết của đại hội chi bộ đối với những đảng viên mới, phải ghi rõ và kèm theo giấy xin vào Đảng. Cẩn thận như vậy, vừa để ngǎn ngừa những phần tử xấu chui vào Đảng, vừa để tỏ rõ tính nghiêm chỉnh của Đảng ta và giáo dục ý thức tôn trọng Đảng cho người đảng viên mới.

Điều kiện đảng viên phải đúng, thủ tục vào Đảng phải nghiêm, đó là những điều rất cần thiết trong việc phát triển Đảng. Muốn có kết quả thắng lợi, ắt phải dựa vào quần chúng, tuyên truyền và giáo dục sâu cho quần chúng ý thức tham gia xây dựng Đảng.

C.B.

—————————–

Báo Nhân Dân, số 461, ngày 7-6-1955.
cpv.org.vn

Bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói (13-6-1955)

Tục ngữ có câu: “Dân dĩ thực vi thiên”, nghĩa là dân lấy ǎn làm trời, nếu không có ǎn là không có trời. Lại có câu: “Có thực mới vực được đạo”, nghĩa là không có ǎn thì chẳng làm được việc gì cả.

Vì vậy chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chǎm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi.

Vì vậy cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tǎng gia sản xuất và tiết kiệm. Dân đủ ǎn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được.

Phải biết giáo dục, lãnh đạo, giúp đỡ nhân dân tǎng gia sản xuất và tiết kiệm. Phải tiết kiệm là vì nếu được bữa nào xào bữa ấy, thì sẽ thiếu thốn. Nếu cán bộ khéo lãnh đạo và thiết thực giúp đỡ đồng bào và đồng bào cố gắng tǎng gia sản xuất và tiết kiệm thì dân sẽ no ấm, mọi việc trôi chảy, thuế khoá dễ thu, tài chính dồi dào, dân no thì nước giàu, vì nước ta là nước nông nghiệp, mọi việc đều dựa vào nông nghiệp. Nếu cán bộ không biết lãnh đạo và thiết thực giúp đỡ dân tǎng gia sản xuất và tiết kiệm, nếu đảng viên không xung phong gương mẫu, thì việc gì cũng sẽ khó làm. Cho nên chính sách tǎng gia sản xuất và tiết kiệm là một chính sách cǎn bản của chúng ta. Tǎng gia sản xuất và tiết kiệm để nâng cao đời sống của nhân dân, khôi phục kinh tế, mở mang vǎn hoá và đề phòng đói, chống đói. Trách nhiệm của các cấp uỷ và cán bộ là phải hết sức chú ý đến sản xuất và tiết kiệm. Các đảng viên phải gương mẫu trong việc đó.

Sự thực, chỗ nào mà nhân dân tổ chức giúp đỡ nhau thì kết quả hơn chỗ cấp phát; dân hǎng hái hơn, đoàn kết hơn, sản xuất cũng mạnh hơn.

Trung ương có chỉ thị trưng vay, vì chỗ nào đói không phải là ở đó thóc gạo đã hết, nhưng vì có bọn địa chủ giấu thóc gạo. Khéo trưng vay thì lấy được thóc gạo, nhưng cán bộ không làm, cứ cho cấp phát. Có chỗ quá tệ hơn nữa, đã không trưng vay, lại cấp phát tràn lan, phát cho cả địa chủ, phú nông. Đó là vì cán bộ không giữ vững lập trường giai cấp.

Cũng do lập trường giai cấp không vững mà sinh ra quan liêu, khi quá tả, khi quá hữu. Khi thiếu gạo, cán bộ không biết tổ chức sản xuất tự cứu, không biết tổ chức nhân dân giúp đỡ nhau, không biết tổ chức trưng vay. Khi nhận được gạo, lại còn cấp phát tràn lan, chậm chạp, gạo đến người đói chậm, người không đói cũng nhận được gạo. Quá tệ hơn nữa là gạo của Chính phủ giúp dân, chừng một nửa đến tay dân đói, còn một nửa bị tham ô, lãng phí.

Tham ô, lãng phí là có tội, mà tham ô lãng phí gạo cứu đói tội lại càng lớn hơn. Không khác gì gián điệp giết hại đồng bào đó. Thế là có tội đối với Đảng và Chính phủ, đối với nhân dân, đối với nước bạn. Đó là tội thật to. Các cấp uỷ cùng với cán bộ cần tìm cho ra gốc rễ tham ô, lãng phí và xử trí đúng mức.

Hiện nay, các nơi đã gặt nhiều. Có nhiều cán bộ đã vội cho là hết đói rồi. Thế là chủ quan.

Chúng ta không được chủ quan.

Các cô, các chú phải lãnh đạo tổ chức giúp đỡ nhân dân, một mặt thì tiết kiệm, chớ lãng phí lương thực hiện có, một mặt thì tǎng gia thêm đề phòng đói tháng 8 khỏi xảy ra.

Nói tóm lại, các cô, các chú phải nhớ 3 điểm:

1. Phải nắm vững đường lối chính sách của Trung ương, của Chính phủ.

2. Phải thật thà quan tâm đến đời sống của nhân dân, tin và dựa vào lực lượng, sáng kiến của nhân dân.

3. Phải có lòng tự tin mình, ra sức làm thì nhất định làm được.

Như vậy thì nhất định tǎng gia sản xuất và tiết kiệm được, nhất định chống đói và phòng đói được. Phòng đói là hơn cứu đói, cũng như phòng bệnh hơn là chữa bệnh.

Các cô, các chú đã đi làm, người có thành tích nhiều, người có thành tích ít, người có khuyết điểm nhiều, người có khuyết điểm ít. Bác tặng cho mấy giải thưởng, các cô các chú sẽ bình nghị người nào, nơi nào có nhiều thành tích nhất thì được.

———————————

Nói ngày 13-6-1955.
Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1956, t.III, tr.185-187.
cpv.org.vn

Tự phê bình và phê bình (14-6-1955)

Tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhất, nó giúp cho Đảng ta mạnh và ngày càng thêm mạnh. Nhờ nó mà chúng ta sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, tiến bộ không ngừng.

Cho nên đảng viên và cán bộ cần phải nâng cao giác ngộ tư tưởng ngǎn ngừa tự đại tự cao, mạnh dạn công khai tự phê bình, vui vẻ tiếp thụ lời phê bình của người khác.

Đối với tự phê bình và phê bình, có 3 thái độ khác nhau:

– Những đồng chí giác ngộ chính trị cao thì tự phê bình rất thật thà và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm. Khi phê bình người khác, các đồng chí ấy thành khẩn, nhẫn nại, giúp đỡ họ sửa chữa. Đối với những kẻ sai lầm rất nặng mà lại không chịu sửa đổi, thì các đồng chí ấy đấu tranh không nể nang.

Chúng ta phải học tập tinh thần và tác phong của các đồng chí ấy.

– Có một số ít người thì phê bình, giáo dục mấy cũng cứ ỳ ra, không chịu sửa đổi.

Đối với hạng người này, chúng ta cần phải nghiêm khắc, phải mời họ ra khỏi Đảng, để tránh “con sâu làm rầu nồi canh”.

– Thái độ của một số khá đông cán bộ là: Đối với người khác thì phê bình đúng đắn, nhưng tự phê bình thì quá “ôn hoà”. Các đồng chí ấy không mạnh dạn công khai tự phê bình, không vui lòng tiếp thụ phê bình – nhất là phê bình từ dưới lên, không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của mình, thường tìm những “khó khǎn khách quan” để tự biện hộ. Nói tóm lại: Đối với người khác thì các đồng chí ấy rất “mác xít”, nhưng đối với bản thân mình thì mắc vào chủ nghĩa tự do.

Nói chung, các đồng chí ấy rất trung thành với Đảng, với nhân dân; nhưng tư tưởng và tác phong chưa thuần, đang mang một ba lô chủ nghĩa cá nhân hoặc nặng hoặc nhẹ. Họ sợ mất “thể diện”, mất “uy tín”. Họ quên rằng không thực hiện tự phê bình và phê bình, thì nhiều khuyết điểm nhỏ sẽ cộng thành khuyết điểm to, nó sẽ rất tai hại cho công tác.

Chúng ta phải giúp đỡ các đồng chí này. Các tổ chức của Đảng thì cần mở rộng dân chủ nội bộ, thực hiện thường xuyên tự phê bình và phê bình – nhất là phê bình từ dưới lên. Toàn thể đảng viên – trước hết là các cán bộ phụ trách – phải làm gương mẫu tự phê bình và phê bình.

C.B.

—————————–

Báo Nhân dân, số 468, ngày 14-6-1955.
cpv.org.vn