Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Chào xuân

Nǎm cũ lịch cũ vừa qua,
Nǎm mới lịch mới lại tới!

Sau mùa đông lạnh lẽo, muôn vật tiêu điều. Và tạo hoá lại cho mùa Xuân mang đến cho thế gian những vẻ tốt tươi ấm áp, muôn hoa tươi thắm, ngàn lá đua xanh. Loài động vật cũng nhờ Xuân mà khôi phục lại sinh khí. Vậy nên gọi là Xuân sinh.

Loài người lợi dụng cái luật tự nhiên của tạo hoá, chẳng những hưởng thụ cái hạnh phúc khoái lạc của mùa Xuân, và lại nhận cái không khí phồn vinh của ngày Xuân để sắp đặt cái kế hoạch hoạt động và sống còn cho cả nǎm, nên tục ngữ có câu “Nhất niên chi kế thuỷ ư Xuân”.

Cũng vì thế cho nên nǎm mới thì người ta có những cuộc vui vẻ, sung sướng cho xứng đáng với Xuân và để mừng Xuân. Chẳng những là kẻ giàu sang tiếp Xuân với sự hồ hởi, mà người nghèo khó thấy Xuân cũng vui mừng.

“Mồng một đốt toang ba chiếc pháo
Ba mươi kéo tuốt một con nêu”

Chỉ có ba chiếc pháo mà vẫn inh ỏi cười Xuân như ai! Xuân chẳng những là ôn hoà tươi đẹp, mà lại chí công vô tư. Đã không riêng cho một hạng người nào, cũng không riêng cho một nơi nào. Cho nên có câu ca dao:

“Xuân ơi, Xuân hỡi, hỡi Xuân,
Từ xa tới gần, Xuân khắp mọi nơi”.

*

*      *

Song luật xã hội không theo vòng tròn của luật tự nhiên. Từ xưa đến nay, nơi nào cũng có Xuân. Từ xưa đến nay cây nào cũng tươi tốt. Nhưng cách thức loài người đón rước Xuân này và đón rước mùa Xuân trước, khác nhau nhiều lắm.

Ngày nay, những tiếng pháo lốp đốp chào Xuân đã bị những tiếng đùng đùng của ngư lôi ngoài bể và đại bác trên bờ át mất. Cái sắc đỏ của hoa đào, màu điều của câu đối Xuân, tựa hồ đã nhuộm bằng giọt máu hồng của những chiến sĩ ở các sa trường khắp thế giới! Khi ai hưởng bánh chưng, rượu ngọt, củ kiệu, thịt đông, sao cho khỏi nhớ đến chiến sĩ ǎn tuyết, uống sương trên mặt trận!

Trong tự nhiên thì Xuân này không khác gì các Xuân trước. Nhưng trong xã hội thì Xuân này là một chiếc tranh Xuân, một Xuân trọng yếu, chẳng những nó giúp giùm sinh kế của loài người trong một nǎm mà nó sẽ quyết định mệnh vận của loài người trong bao nhiêu thời đại.

Vậy muốn biết Xuân này sẽ có ảnh hưởng thế nào, thì chúng ta phải kiểm thảo lại những cuộc chuyển biến trong thế giới từ Xuân trước.

*

*      *

Đến Xuân này:

Trung Nhật chiến tranh đã 6 nǎm rưỡi
Thế giới đại chiến 4 nǎm
Nga Đức chiến tranh đã 2 nǎm rưỡi
Thái Bình Dương chiến tranh 2 nǎm

Muốn biết từ Xuân này, chiến tranh sẽ thế nào thì chúng ta phải xét lại từ Xuân nǎm ngoái đến giờ, chiến tranh đã đến bước nào rồi.

Từ Xuân nǎm ngoái, quân các nước Đồng minh đã đứng vào chủ động. Quân các nước Trục – Tâm đứng về bị động. Minh quân bước qua thế công. Trục quân lui lại thế thủ. Chiến lược chớp nhoáng của Trục hoàn toàn thất bại. Chiến lược (trì cửu) của Đồng minh hoàn toàn thắng lợi.

Mặt trận Đức – Nga

Xuân trước, trong độ này, 38 vạn tinh binh của Đức đánh vào thành Xtalingrát. Nhưng kết quả bị một trận thất bại rất to. Trong lúc quân Nga giải vây thành Xtalingrát bắt được nǎm ngàn tướng lãnh và hơn 9 vạn lính Đức. Trận ấy là trận thắng lợi to nhất và đầu tiên của quân Đồng minh. Từ đó trở đi, quân Trục cứ thất bại mãi, mà quân Đồng minh, nhất là quân Nga thì lại thắng lợi luôn và lấy lại được nhiều thành trì trọng yếu như:

Tháng 2 lấy lại Gorsk, Rostof, Kharkof
Tháng 3 lấy lại Yoff, Virsma
Tháng 7 lấy lại Orel
Tháng 8 lấy lại Belarus
Tháng 9 lấy lại Staline, Chianof Smolensk
Tháng 10 lấy lại Maiopol và các thành khác
Tháng 11 lấy lại Kieb 1
Tháng 12 lấy lại biên thuỳ Balan – Nga

Trong lời diễn thuyết kỷ niệm Cách mệnh Nga, ngày 6-11 dương lịch, Đại nguyên soái Xtalin nói rằng: “Kết quả trong 7 tháng vừa qua, quân đội ta tiến được nơi thì 500 cây số, nơi thì 1500 cây số. Đã giải phóng hơn một triệu cây số vuông đất nước của ta, tức là hai phần ba đất đai tạm thời bị Đức chiếm cứ… Trong một nǎm nay, trên mặt trận Nga, quân phát xít Đức đã tổn thất hơn 4 triệu người, trong số đó, một triệu tư người chết tại mặt trận. Phát xít Đức mất trên 14.000 chiếc tàu bay, hơn 35.000 chiếc xe tǎng, hơn 40.000 khẩu đại pháo…”.

Trong lúc viết bài chào Xuân này, quân Nga đuổi quân Đức chẳng những ra khỏi đất Nga, mà lại vào sâu gần 60 cây số trong nước Ba Lan.

*

*      *

ở Địa Trung Hải, từ Xuân trước đến Xuân này, Minh quân cũng thắng lợi luôn, mà bên Trục cũng thất bại mãi.

Ngày 3-1-1943, đệ 8 quân (1) Anh khởi phản công từ Ai Cập, đệ 19 quân (2) Anh và viễn chinh quân Mỹ đổ bộ tại Marốc và Angiêri. Quân Trục phải bỏ Libi (thuộc địa của ý) mà rút cả ở Tuynidi. Đến trung tuần tháng 5 thì quân Đức và ý hoàn toàn bị đánh tan.

Trong trận đó, bao nhiêu thuộc địa của ý đều mất sạch. Quân Trục tổn thất hơn 95 vạn người. Trong số đó, 37 vạn lính ý, 15 vạn lính Đức, 17 đại tướng và 2 nguyên soái bị cầm tù.

Về khí giới thì quân Trục mất:

Tàu bay, hơn 8000 chiếc
Đại pháo 8100 khẩu
Xe tǎng 2250 cái
Tàu thuỷ 210 vạn tấn

Qua tháng 6, quân Anh, Mỹ đánh vào đảo Xixin của ý. Ngày 17-3 thì đảo ấy đầu hàng.

Trong một thời gian không đầy hai tháng, mà quân Đức và quân ý mất hơn 17 vạn người chết, bị thương và bị cầm tù.

Chiếm được cǎn cứ địa ấy rồi, qua ngày 3-9, Minh quân đổ bộ tại phía nam ý. Cách 5 ngày sau thì nước ý xin hàng. Trừ một bộ phận nhỏ bị Đức ép bắt theo nó, bộ phận lớn quân đội ý với hết thảy hải quân của ý, hơn 100 chiếc tàu binh lớn, bé đều theo Minh quân cả.

Thế là về mặt trận này, Minh quân cũng đại thắng. Mútxôlini phải chạy trốn.

*

*      *

Tại Thái Bình Dương. Tuy Minh quân không có những cuộc đại thắng lợi như các mặt trận kia, nhưng cũng giành được địa vị chủ động, bước qua thế công và khá tiến bộ.

Tại Bắc Thái Bình Dương, từ hôm 12-2-1943, Mỹ bắt đầu phản công, đến cuối tháng 5-1943 lấy lại đảo Marian.

Tại Nam Thái Bình Dương, từ tháng 7 đến tháng 10, Minh quân lấy lại được 6 nơi cǎn cứ tại bán đảo và một nơi cǎn cứ địa tại quần đảo Sokman.

Trong 2 nǎm, tại mặt trận Nam, Nhật mất 1300 tàu bay và 1500 chiếc tàu thuỷ lớn và bé.

Tại Trung Quốc, mùa Xuân trước đến mùa Xuân này, không có đại chiến tranh. Trong tháng 11, 12, tại miền Bắc tỉnh Hồ Nam, nhất là tại Thường Đức đã làm cho giặc Nhật một mẻ mất hồn.

*

*      *

Đoán trước để xét sau, xem sự chuyển biến nói trên, thì chúng ta có thể nói rằng: Xuân này sẽ là một Xuân thắng lợi cho mặt trận phản xâm lược.

Xuân là Xuân chung, vậy chúng ta phải gắng sức công tác thế nào cho Đồng minh hội chúng ta cũng có phần thắng lợi chung của Đồng minh lớn kia.

Vậy xin kết luận vài lời nôm na rằng:

Rót cốc rượu Xuân, mừng cách mạng.
Viết bài chào Tết, chúc thành công!

Hồ Chí Minh

Báo Đồng Minh,
số Xuân Giáp Thân.
cpv.org.vn

———————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Trả lời cho bọn De Gaulle (1)

Gần đây, Pháp quốc giải phóng ủy hội ở Alger, tuyên bố rằng sau cuộc chiến tranh này, nước Pháp sẽ sẵn lòng ban cho dân Việt Nam vài sự cải thiện.

Thưa Ngài, Tổ quốc của Ngài là đại Pháp, đã đầu hàng Hitler một cách rất vẻ vang, hơn 500 tướng và hai triệu lính của quý quốc đương bị Đức cầm tù một cách rất oanh liệt, ba phần tư non sông quý quốc đương bị người chiếm lĩnh. Bốn mươi triệu đồng bào của Ngài đương trong kiếp ngựa, trâu, nhân dân quý quốc hiện nay bánh không có ǎn, áo không đủ mặc, phải quyên áo cũ của nhân dân Việt Nam, một triệu thanh niên nam nữ nước Ngài phải qua làm cu ly bên Đức. Xin Ngài lo cứu nước và dân tộc của Ngài đã, rồi sẽ nói đến việc khác; còn Việt Nam chúng tôi, 40 nǎm nay nhờ “công đức” quý quốc đã nhiều rồi. Lần này, chúng tôi quyết dùng súng, đạn, gươm, dao để đạp đổ ơn huệ ấy và giành lại độc lập tự do cho Việt Nam. Chúng tôi xin Ngài chớ lo! Và chúc Ngài hai chữ Thất Bại!.

Hồ Chí Minh

Báo Đồng Minh,
số Xuân Giáp Thân.
cpv.org.vn

—————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Báo cáo của Phân hội Việt Nam thuộc Hội quốc tế chống xâm lược 3-1944

Do Hồ Chí Minh đọc tại Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Liễu Châu (Quảng Tây – Trung Quốc) tháng 3-1944.

————————

I- NGUYÊN NHÂN TỔ CHỨC

Trong lịch sử 80 nǎm mất nước đau khổ và đen tối, chúng ta đã không ngừng làm rạng rỡ ngọn cờ nghĩa cứu nước vẻ vang.

Từ sau nǎm 1862, khi vua Tự Đức ký hiệp ước bán nước, cắt nhượng ba tỉnh Sài Gòn, Biên Hoà, Mỹ Tho cho giặc Pháp, các bậc nghĩa sĩ giàu lòng yêu nước thương dân đã từ bỏ cả cơ nghiệp của cải, dắt díu vợ con chạy ra Trung Kỳ, thà cam chịu sống cuộc đời gian truân, vất vả của kẻ hái củi, chài lưới, chứ thề không đội trời chung với giặc Pháp.

Trong bốn mươi nǎm, từ 1870 đến 1910, dưới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám và các bậc anh hùng hào kiệt khác, đồng bào chúng ta đã anh dũng trường kỳ chống lại quân giặc, làm cho kẻ thù ǎn không ngon ngủ không yên. Suốt bốn mươi nǎm đó, các cuộc nổi dậy đã liên tiếp nổ ra:

1905: Nông dân Trung Kỳ khởi nghĩa.

1910: Binh lính Việt Nam khởi nghĩa tại Hà Nội.

1915: Nhân dân Phú Thọ mưu khởi nghĩa.

1916: Tháng 6 vua Duy Tân mưu khởi nghĩa!

Tháng 8 cùng nǎm, đồng bào thiểu số Ba Xa bạo động.

1918: Bình Liêu mưu khởi nghĩa.

1919: Quảng Nam mưu khởi nghĩa.

1923: Liệt sĩ Phạm Hồng Thái ném bom mưu sát toàn
quyền Méclanh.

1930: Khởi nghĩa Yên Bái.

1930-1931: Nghệ An khởi nghĩa.

Cuối nǎm 1940: Bắc Kỳ và Nam Kỳ khởi nghĩa.

1941: Đô Lương (Trung Kỳ) khởi nghĩa.

Những sự tích vừa oanh liệt lại vừa bi tráng nêu trên, một mặt cho chúng ta thấy rằng: đất nước Việt Nam tuy bị giày xéo dưới gót sắt đẫm máu của dị tộc, nhưng tinh thần dân tộc của người Việt Nam vĩnh viễn không vì thế mà bị tiêu diệt, mặt khác cũng dạy chúng ta rằng: Không có một sức mạnh thống nhất của cả nước, không có sự giúp đỡ mạnh mẽ của bên ngoài, công cuộc vận động giải phóng khó mà thành công được, nhất là hiện nay, chúng ta đang đứng trước hai tên cướp xâm lược hung ác nhất của phương Đông và phương Tây, chúng ta lại càng cần toàn dân nhất trí, càng cần sự giúp đỡ của bên ngoài.

Muốn đoàn kết toàn dân, cần phải có một đoàn thể rộng lớn, rất độ lượng thì mới có thể thu hút được mọi đoàn thể và cá nhân có lòng thiết tha yêu nước, không phân biệt tuổi tác, gái trai, tôn giáo, nghề nghiệp, giai cấp, đảng phái. Mục đích của đoàn thể ấy phải thiết thực tiêu biểu cho những yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân cả nước: Đoàn kết toàn dân, tranh thủ ngoại viện, đánh đuổi kẻ thù, khôi phục Tổ quốc. Thái độ của đoàn thể ấy phải cao cả, ngay thẳng, mới có thể không thiên lệch, không dựa trên định kiến của một đảng phái, mới có thể được sự tin tưởng và ủng hộ của các tổ chức, các đảng phái và của toàn dân.

Phân hội Việt Nam chính là một đoàn thể ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu đó của thời đại. Phương pháp tranh thủ ngoại viện của đoàn thể này là:

– Bước thứ nhất: liên lạc với các đoàn thể anh em các nước như Phân hội Trung Quốc, Phân hội Mỹ, v.v..

– Bước thứ hai: nhờ các đoàn thể anh em giới thiệu với Chính phủ các nước.

– Bước thứ ba: với thái độ chân thành và cởi mở, yêu cầu các Chính phủ, trước hết là Chính phủ Trung Quốc giúp đỡ.

Cho đến nay, về mặt đoàn kết trong nước đã có được những thành tích đáng kể, nhưng về mặt tranh thủ sự giúp đỡ của bên ngoài thì chưa có gì.

Về phần mình – Phân hội Việt Nam trong Hội quốc tế chống xâm lược – cũng không sao tránh khỏi những điều nọ tiếng kia của một số người, chúng tôi thấy chưa cần phải thanh minh. Giờ đây, hãy cứ mặc cho gió Xuân thổi đi, trong tương lai sẽ để sự thật chứng minh là đủ.

II- HỆ THỐNG TỔ CHỨC

Tổ chức của Phân hội Việt Nam có hai loại hội viên:

– Một là hội viên cá nhân: có rất nhiều người từ trước đến nay chưa tham gia một đoàn thể nào, nay muốn tham gia công việc cứu nước. Phân hội Việt Nam sẽ tuỳ theo hoàn cảnh của họ, tập hợp những người cùng một nghề nghiệp thành một tiểu tổ và sẽ cử người phụ trách đặc biệt liên hệ với họ.

– Hai là hội viên đoàn thể: đó là những đoàn thể mà các hội viên tán thành gia nhập Phân hội.

Việc hợp nhất nhiều đảng phái khác nhau và các tổ chức không đảng phái (như hợp tác xã, v.v.) xem chừng như rất phức tạp, rất mâu thuẫn, khó tránh khỏi va chạm và xung đột, nhưng trên thực tế thì rất đơn giản, vì rằng:

1- Mọi người đều cùng chung một mục đích là cứu nước.

2- Mọi người đều có những công tác thiết thực và phải làm tròn.

3- Mọi người đều hiểu rằng còn thì cùng còn, mất thì cùng mất.

4- Người phụ trách giải quyết công việc đúng đắn.

Phân hội Việt Nam chỉ yêu cầu các hội viên của mình tuân thủ mấy điều dưới đây:

1- Trong Hội không được bàn chuyện đảng phái; ngoài hội thì hoàn toàn tự do.

2- Có vấn đề gì, mọi người cần thẳng thắn, công khai thảo luận; có công việc gì, mọi người đều đồng tâm hiệp lực cùng làm.

3- Thường ngày, mọi người không được công kích lẫn nhau; gặp khi nguy hiểm, mọi người phải ra tay giúp đỡ.

Kết quả là: giữa các đảng phái không còn tình trạng tranh chấp hơn thua, sự chân thành đoàn kết không phải chỉ ở đầu lưỡi mà trở thành sự thật.

Hệ thống tổ chức: Toàn quốc chia thành kỳ, mỗi kỳ chia thành tỉnh, huyện, tổng, xã, thôn. Nơi nào đông hội viên thì lấy thôn làm đơn vị. Nơi nào ít hội viên thì lấy tổng hoặc xã làm đơn vị.

III- CÁCH LÃNH ĐẠO

Cho đến khi tôi rời nước, tình hình vẫn thế này: Cả nước chỉ có mấy người, đủ cả Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, họ là những sáng lập viên, đồng thời cũng là uỷ viên trong Ban Chấp hành toàn quốc. Về tư cách mà nói, mỗi người một tư cách khác nhau: Một số là những người tài giỏi; một số là những bậc lão thành, có danh vọng được nhân dân tín nhiệm. Tuy vậy, họ giống nhau ở chỗ đều là những nhân sĩ thiết tha yêu nước, liêm khiết, trung thực, công tâm. (Cho nên tôi rất tin tưởng rằng, nếu có tổng tuyển cử, dân chúng nhất định sẽ bầu họ). Họ phân công, hợp tác, mỗi người gánh vác một phần trách nhiệm, không có chủ tịch. Dĩ nhiên là họ không có lương, mà ngược lại khi có tiền, họ còn phải bỏ tiền túi của mình ra cho đoàn thể dùng. Vì hoàn cảnh khó khǎn, họ rất ít khi họp hội nghị toàn thể, trừ những trường hợp vạn bất đắc dĩ. Khi có việc, những người phụ trách kỳ bộ nào đó bàn bạc cách thức tiến hành, rồi đưa trưng cầu ý kiến những người phụ trách hai kỳ bộ kia, sau khi mọi người tán thành thì phân công nhau mà làm. Ví dụ, muốn ra một bản tuyên ngôn, các người phụ trách Bắc Kỳ dự thảo, rồi gửi dự thảo cho những người phụ trách ở Nam Kỳ, Trung Kỳ. Sau khi mọi người đồng ý, mỗi Kỳ chịu trách nhiệm in lấy Tuyên ngôn mà phân phát trong phạm vi Kỳ của mình. Lúc gặp việc khẩn cấp, chẳng hạn như địch tiến hành khủng bố ở Nam Kỳ thì Kỳ bộ Nam Kỳ một mặt phát động cuộc “vận động chống khủng bố”, mặt khác báo cho hai Kỳ để hưởng ứng ngay.

Mọi hành động, các địa phương phải tuân thủ những nguyên tắc và thời hạn do Trung ương quy định, còn cách thức thực hiện, họ có thể tuỳ cơ ứng biến. Mọi công tác phải có kế hoạch trước khi đưa ra làm, làm xong phải tổ chức kiểm điểm. Tất cả những kinh nghiệm thành công cũng như thất bại đều đǎng trên báo bí mật để mọi người nghiên cứu.

IV- CÁCH TUYÊN TRUYỀN

Có tuyên truyền bằng miệng, tuyên truyền bằng vǎn tự và tuyên truyền bằng hành động.

1- Tuyên truyền bằng miệng có hai loại: Nói chuyện với từng người và nói chuyện tập thể. Loại trước thì mỗi hội viên đều phải làm, như giải thích cho bạn bè thân thích hiểu tại sao phải đánh đuổi quân thù, phải cứu nước; có khôi phục được Tổ quốc thì mới không phải nộp thuế, khỏi bị bắt đi làm phu và mọi người mới có cơm ǎn, áo mặc, v.v.. Loại sau thì khi hội viên khai hội, cán bộ giải thích các vấn đề để nâng cao sự hiểu biết cho họ, nói cho họ biết cách tuyên truyền. Khi bà con cấy cày, gặt hái hoặc làm những công việc có đông người, cán bộ địa phương hoặc những hội viên có khả nǎng ǎn nói đến làm giúp họ, nhân dịp đó mà tuyên truyền thì sẽ có tác dụng nhanh chóng và to lớn.

2- Tuyên truyền bằng vǎn tự có ba loại: Truyền đơn, báo chí bí mật và biểu ngữ. Làm báo bí mật là công việc rất khó khǎn vì không dễ gì kiếm được nguyên liệu. Chẳng hạn, nếu ta mua giấy nhiều quá dễ bị nghi ngờ và có thể gặp nguy hiểm. Song, nếu biết dựa vào sự sốt sắng của các hội viên, dẫu có khó khǎn gì cuối cùng vẫn tìm được cách giải quyết. ở một số nơi thường hay bị địch lùng sục, chúng tôi cứ cách mấy chục dặm lại đặt một “nhà in”: một phiến đá, một ít giấy mực, giấu ở những nơi thật kín đáo không ai biết. Địch đến thôn Đông, chúng tôi in báo ở thôn Đoài, chúng tới thôn Nam, chúng tôi in báo ở thôn Bắc. Chúng không thể tìm ra chúng tôi, còn chúng tôi cứ tiếp tục ra báo đúng kỳ hạn. Báo là thứ vũ khí của ta mà địch cǎm ghét nhất.

Viết biểu ngữ cũng là một cách tuyên truyền rất lý thú. Bờ tường, mặt đường, gốc cây, lá cây, đều là những chỗ giúp ta tuyên truyền cách mạng. Cột điện, dây điện cũng là những nơi rất tốt để cǎng biểu ngữ. Những nơi có sông ngòi, chúng tôi lấy tre, gỗ, nứa, chuối đóng thành bè, cǎng biểu ngữ lên trên rồi thả xuôi theo dòng nước.

3- Tuyên truyền bằng hành động, tức là mỗi hội viên đều phải gương mẫu trong mọi việc để tỏ cho mọi người thấy rằng có tổ chức, có đoàn thể có tốt hơn.

Cương lĩnh tuyên truyền phải hết sức giản đơn, ai ai cũng hiểu được, nhớ được. Đoàn kết, đánh địch, cứu nước, chỉ sáu chữ ấy thôi là đủ rồi.

Cách tuyên truyền như diễn kịch, ca hát, v.v., chúng tôi không dùng được.

V- CÁCH HUẤN LUYỆN

Trước tiên, cơ quan lãnh đạo định ra một chương trình học tập, cử một vài người hoặc vài nhóm, vừa đi thí nghiệm, vừa tranh thủ ý kiến của người học. Sau đó, việc biên soạn các bài giảng phải hoàn toàn cǎn cứ vào yêu cầu của học viên những đợt huấn luyện trước kết hợp với kinh nghiệm của các giảng viên.

Tư cách học viên: Tất cả cán bộ địa phương nhất thiết phải được huấn luyện. Kế đó là những hội viên ưu tú, cuối cùng là tất cả các hội viên không phân biệt già trẻ, gái trai, miễn là muốn học đều có thể tham gia.

Thời gian huấn luyện: Một hoặc hai tuần lễ.

Địa điểm huấn luyện: Hang động, núi rừng, ruộng mía, nương ngô, v.v., nơi nào bảo đảm được bí mật đều có thể là những giảng đường thiên nhiên của họ. Nhưng cũng có khi một lớp học cách một hai ngày lại phải dời đi chỗ khác.

Các bài giảng đại khái gồm:

– Vì sao phải làm cách mạng?

– Vì sao phải đoàn kết?

– Khai hội tiểu tổ như thế nào?

– Phát biểu ý kiến như thế nào?

– Tự phê bình và phê bình đồng chí như thế nào?

– Bước đầu tuyên truyền cho bè bạn như thế nào?

– Giữ bí mật như thế nào?

– Những hành động hung ác của kẻ thù.

– Tình hình thế giới (kinh nghiệm kháng chiến của Trung Quốc).

– Tình hình trong nước.

Cần khuyến khích học viên dạy cho nhau học chữ quốc ngữ.

Những vấn đề trên đều do chính các hội viên tự đưa ra yêu cầu được học tập. Cơ quan lãnh đạo chỉ cần chọn một số người có thể làm giảng viên, đưa giáo trình cho họ nghiên cứu, khi họ đã nghiên cứu thông suốt, nắm được các vấn đề rồi thì cán bộ địa phương đón họ về tổ chức các lớp.

Vấn đề ǎn, ở của giảng viên đều do học viên cùng nhau giải quyết, vì thế nên không tốn kém đồng nào mà lớp huấn luyện mọc lên như nấm, cơ quan lãnh đạo có cảm giác là số giảng viên “cung không kịp với cầu”.

Kết quả rõ rệt nhất của các lớp huấn luyện là tất cả hội viên không kể già trẻ đều biết giữ bí mật.

VI- TÀI CHÍNH CỦA HỘI

Phân hội Việt Nam không quy định hội viên phải đóng hội phí mà áp dụng nguyên tắc “có tiền góp tiền”, “có sức góp sức”. Hội viên tuỳ theo hằng tâm hằng sản của mình mà giúp đỡ kinh phí cho Hội. Lúc đầu, Hội chi phí mất khá nhiều tiền (số tiền này do các hội viên có nhiệt tâm tự nguyện đóng góp). Vì muốn đặt cơ quan ở các khu “quý tộc” của các thành phố lớn để che mắt địch, Hội đã thuê nhà tây, mua sắm đồ đạc sang trọng, trang trí rất hào nhoáng, đường hoàng. Được ít lâu, có báo động, tất cả đồ đạc phải bỏ hết! Qua vài lần kinh nghiệm quá đắt như vậy, đành phải bỏ ý định lập cơ quan cố định.

Hiện nay, trừ chi phí cho báo chí và việc đi lại ra, không còn khoản gì khác phải tiêu nhiều tiền nữa, lúc cần thiết, các hội viên đều hǎng hái quyên góp, vì mọi người đều tin tưởng rằng mỗi một đồng xu họ bỏ ra đều được dùng vào công việc chung cho nước nhà, cho dân tộc, chứ không phải rơi vào túi riêng của một ai. Đủ thấy câu tục ngữ xưa “Có người ắt có của” là đúng lắm vậy.

VII – CÔNG TÁC CỦA HỘI

Đằng trước thì quân thù đàn áp, đằng sau thì dân chúng thôi thúc, theo dõi, công tác của Hội hiện nay chỉ có gian khổ, chỉ có hiểm nguy, hoàn toàn không thể cầu danh lợi, địa vị cho cá nhân, cho nên người nào muốn làm việc cho Hội thì chỉ có vùi đầu vào công việc, ra sức mà làm. Ai không thật lòng muốn làm việc cho Hội thì không thể chỉ đeo nhãn hiệu suông được. Với lại, công việc thì nhiều, phạm vi hoạt động lại rộng, người nào có công việc của người ấy, nên không có sự tranh chấp. Hơn nữa, do cùng đồng cam cộng khổ, hoạn nạn có nhau, nên rất có tinh thần đoàn kết. Và vì đoàn kết chặt chẽ nên công việc dễ phát triển. Kết quả công tác, thành công tuy nhiều, song thất bại cũng không phải ít.

Thành công ở chỗ, mặc dù hai tên đế quốc hung ác nhất thi hành chính sách khủng bố dã man và giữa vòng vây của bọn mật thám Pháp, Nhật, bọn Việt gian, Hán gian, mà trong một nǎm rưỡi ngắn ngủi, Hội đã đoàn kết được hơn hai mươi vạn người, bao gồm các đoàn thể, các đảng phái, các cá nhân, các dân tộc mà trước đây vẫn có nhiều thành kiến với nhau. Một nước với hai mươi lǎm triệu dân mà mới có hai mươi vạn người có tổ chức, nghĩa là cứ 125 người mới có một người có tổ chức, con số đó thật quá ít ỏi. Nhưng chúng tôi có thể nói là phạm vi đoàn kết này đang mở rộng, đang phát triển.

Chúng ta biết rằng, thành công đó một nửa là nhờ sự đoàn kết thành thật và sự cố gắng hoạt động của cán bộ, một nửa là nhờ ảnh hưởng của cuộc kháng chiến anh dũng của Trung Quốc. Xin cử một ví dụ thực tế: ở một địa phương nọ, khi đưa cuốn sách “Những hành động tàn bạo của Nhật Bản” (do Hội đồng quân sự Trung Quốc xuất bản) cho mọi người bí mật chuyền nhau xem, rất nhiều người, nhất là chị em phụ nữ, khi xem xong cảm động đến rơi nước mắt. Mọi người đều nói: “Bọn quỷ Nhật thật hung ác, không đập chết chúng nó thì chúng ta không sống được”. Sau đó, nhiều người cả nam lẫn nữ đều gia nhập tổ chức.

Thất bại ở chỗ:

1- Rất nhiều cán bộ tốt, vì làm việc quá nhiều, bồi dưỡng không đủ nên sinh đau ốm, có khi ốm đến chết (đó là sự đau lòng khó tránh khỏi trong hoàn cảnh hoạt động bí mật).

2- Có nơi vì thiếu kinh nghiệm, lộ bí mật để cơ quan bị vỡ và nhiều đồng chí bị bắt, bị giết.

3- Vì giao thông liên lạc không thuận tiện, cơ quan cấp trên không kịp thời giải quyết những vấn đề khó khǎn, do đó đưa đến thất bại.

4- Thiếu sự tuyên truyền đối ngoại: Một là vì mới thành lập, phải hoàn toàn giữ bí mật; hai là thiếu nhân tài ngoại giao; ba là lần đầu tiên đi làm ngoại giao, cử ba người thì hai người giữa đường hy sinh, còn lại một người nhờ được Trung Quốc chǎm nom hết sức chu đáo, nhưng đã một nǎm rưỡi vẫn chưa thấy trở về.

Về điểm này, Trung Quốc cũng cho chúng ta một bài học quý báu, rằng nếu tự mình không có thực lực làm cơ sở thì không thể nói gì đến ngoại giao, giả dụ như Trung Quốc nếu không có mấy nǎm kháng chiến kiên quyết và gian khổ, thì chớ mong gì có thể xoá bỏ được các điều ước bất bình đẳng, và các nước đồng minh cũng chẳng giúp đỡ gì Trung Quốc.

Tuy vậy, về phần chúng tôi, lúc nào cũng tin tưởng vững chắc ở đạo đức truyền thống của Trung Quốc là “bênh vực kẻ yếu, giúp đỡ người nguy, cứu kẻ sắp chết” và tin tưởng vào quốc sách của Trung Quốc là “Liên hiệp các dân tộc nhược tiểu trên thế giới để cùng nhau phấn đấu”. Vì thế, chúng tôi cho rằng: lần này “thất bại là mẹ thành công”, chúng tôi quyết không ngã lòng.

VIII. MẤY VẤN ĐỀ KHÓ KHĂN

Dân chúng thường cho rằng: Đoàn thể là thần thông quảng đại, là tài giỏi việc gì cũng làm được, do đó từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, họ đều nhờ đến đoàn thể. Anh A và anh B cãi lộn nhau, họ cũng tìm đến đoàn thể nhờ phân xử phải trái. Anh X và anh Y tranh giành nhau gia tài cũng đến nhờ đoàn thể giải quyết, v.v.. Nhưng câu hỏi khó trả lời nhất là:

“Đoàn thể tổ chức chúng tôi lại cốt để đánh giặc Nhật, giặc Pháp. Hiện nay tổ chức xong rồi, thế bao giờ thì đánh?”.

“Đoàn thể nói với chúng tôi rằng: Trung Quốc nhất định sẽ giúp chúng ta đánh đuổi quân thù, vậy đến bao giờ họ mới giúp?”.

IX. HY VỌNG CỦA CHÚNG TÔI

Đồng bào chúng ta đã đau khổ đến tột bực rồi. Dân chúng trong nước chỉ có một yêu cầu là đánh đuổi quân thù, khôi phục Tổ quốc.

Hoàn cảnh của chúng ta bây giờ, đúng như Tưởng Trung Chính (1) tiên sinh đã nói: “Không phát động được quốc dân đứng lên phấn đấu thì không thể rửa nhục, tự cường được”.

Tình hình thế giới đang rất có lợi cho chúng ta, cho nên tôi hy vọng rằng: Đồng minh hội, sau Hội nghị này có thể thực sự chấn chỉnh lại nội bộ, thực sự đoàn kết được các lực lượng cách mạng Việt Nam ở nước ngoài, thực sự kết hợp thành một khối với các lực lượng cách mạng ở trong nước, nhằm thực hiện cho được như lời của Tưởng tiên sinh: “Hoạt động thực tế trong nước lấy hội, đảng làm đầu, viện trợ của bên ngoài lấy kiều bào làm chính”.

Tôi hy vọng rằng phạm vi giúp đỡ của Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam ngày càng thiết thực, ngày càng mở rộng hơn. Được như thế, sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam nhất định sẽ sớm thành công.

Tài liệu chữ Hán,bản chụp lưu tại
Bảo tàng cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

————————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Báo cáo về tình hình các đảng phái trong nước 3-1944

Do Hồ Chí Minh đọc tại Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài họp tại Liễu Châu (Quảng Tây Trung Quốc) tháng 3-1944.

————————

Vì chúng ta muốn các đảng phái, các đoàn thể trong nước tham gia Đồng minh hội, nên tôi xin báo cáo về tình hình các đảng phái trong nước như sau:

1- Có người nói: ở Việt Nam có quá nhiều đảng phái. Lại có người nói: ở Việt Nam chẳng có đảng phái nào. Dù điều họ nói đúng hay không đúng, đều làm cho những người hoạt động ở trong nước phấn khởi, vì điều đó chứng tỏ rằng ở trong nước chúng tôi đã giữ được bí mật, cần biết rằng: Quân thù không sợ cái gì, chỉ sợ nhân dân Việt Nam đoàn kết. Điều luật đầu tiên của chúng là ngǎn cấm không cho dân chúng lập ra đảng phái, vì đó là vũ khí tổ chức duy nhất.

2- Có người cho rằng đảng phái ở Việt Nam quá nhiều, đó là một ấn tượng không tốt. Kỳ thực không phải như thế. Tại sao vậy? Chúng ta mất nước đã hơn tám mươi nǎm, kẻ thù của chúng ta là hai tên cướp hung ác ở phương Đông và phương Tây, chúng dùng nọc độc thuốc phiện, giáo dục nô lệ, chính sách trường kỳ khủng bố và nhiều chính sách thâm độc khác, hòng làm tê liệt sự hiểu biết của chúng ta, hòng tiêu diệt tinh thần dân tộc và đè bẹp nghị lực đề kháng của chúng ta. Các đảng phái ở Việt Nam, trừ các đảng phái thân Nhật, thân Pháp mới được đẻ ra gần đây, đều ra đời và trưởng thành trong hoàn cảnh muôn vàn gian khổ. Điều đó chứng tỏ sự hiểu biết của nhân dân Việt Nam đã không bị kẻ thù làm tê liệt mà vẫn tiến theo kịp trào lưu của thế giới. Tinh thần dân tộc và nghị lực đề kháng của nhân dân Việt Nam không hề bị tiêu diệt.

3- ở trong nước, không chỉ các chính đảng, mà cả các đoàn thể không đảng phái, thậm chí các hình thức tổ chức như các tổ tương trợ, v.v. cũng phải hết sức giữ bí mật mới không bị phá hoại và mới có thể tồn tại được. Do đó, không những người ở nước ngoài mà ngay người ở trong nước cũng ít biết được về tình hình các đảng phái.

Theo tôi được biết, những chính đảng cũ và ít nhiều có thế lực, cả thảy có sáu đảng: Đảng Xã hội (thành lập tám nǎm nay); Việt Nam Quốc dân đảng (thành lập mười tám nǎm nay); Việt Nam Tân Quốc dân đảng (thành lập mười ba nǎm nay); Đảng Cộng sản Việt Nam (thành lập mười bốn nǎm nay); Đảng Lập hiến (thành lập hai mươi nǎm nay); Đảng Bảo hoàng (thành lập khoảng mười nǎm nay).

Những đoàn thể không đảng phái, có: Đoàn thanh niên phản đế; Hội phụ nữ giải phóng; Hội công nhân; Hội nông dân (Hiện nay các đoàn thể trên có thêm hai chữ “Cứu quốc”, và Việt Nam độc lập đồng minh.

Hiện nay, họ đều liên hiệp thành một mặt trận cứu quốc, tức Phân hội Việt Nam của Hội quốc tế chống xâm lược.

4- Trong những chính đảng kể trên, nổi bật nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyên nhân rất đơn giản. Quân thù mong muốn nước ngoài đồng tình với chính sách khủng bố của chúng, nên chúng quy tất cả các phong trào chống đối ở trong nước, thậm chí cả những hành vi bỉ ổi như phá nhà, cướp của đều đổ tội cho Đảng Cộng sản.

Có một nhà vǎn Pháp viết một vở kịch, nhan đề là “Hạnh phúc gia đình”. Vai chính trong vở kịch là một cặp vợ chồng mới cưới, cô dâu bị bệnh đau đầu, cô ả khǎng khǎng cho rằng mình bị cộng sản bỏ thuốc độc; và những chuyện như mèo nhảy làm vỡ đĩa bát trong bếp đến chuyện nướng bánh không chín, nấu súp không ngon, cô ả cũng đổ tội cho cộng sản cả. Qua đó đủ thấy tâm địa của kẻ thù và phản ứng ở nước ngoài là thế nào rồi! Có kẻ cho rằng ở Việt Nam, đâu đâu cũng là cộng sản, tất cả các đoàn thể, các tổ chức đều là cộng sản trá hình, tất cả mọi hành động đều do cộng sản ba đầu sáu tay chỉ huy!

5- Người Việt Nam có sợ cộng sản không ? Không. Cả nước Việt Nam chúng ta, không có một nhà bǎng nào là của người Việt Nam, không có một người Việt Nam nào là nhà tư bản lớn. Tài sản của chúng ta, một lần đã bị “cộng” cho giặc Pháp, một lần bị “cộng” cho giặc Nhật, còn có cái gì để mà “cộng” nữa?

Người có học thức lại càng không sợ. Nǎm 1789, do cuộc Đại cách mạng Pháp mà tư tưởng dân chủ truyền bá khắp Âu châu. Nǎm 1917, do cuộc cách mạng Nga mà tư tưởng cộng sản truyền bá khắp thế giới. Đó là trào lưu tư tưởng của thời đại, sợ nó thì thật không đúng. Huống hồ, “làm theo nǎng lực, hưởng theo nhu cầu”, “mọi người đều bình đẳng về kinh tế”, “cần phải làm cho đời sống và sự sinh tồn của mỗi người dân được bảo đảm”, đó là những tư tưởng từ thiện, tương thân tương ái, nhân dân ấm no, thế giới đại đồng.

6- Trước đây, các đảng phái thường công kích lẫn nhau trên báo chí. A nói A phải, B nói B tốt, cốt để tranh giành quần chúng. Bây giờ họ rất đoàn kết với nhau, vì:

a- Mọi người đều hiểu, đã là dân mất nước thì đảng phái gì, chủ nghĩa gì cũng vô dụng; đồng thời mọi người đều có chung một mục đích là: Cứu nước, cứu dân tộc.

b- Kẻ địch đều coi chúng ta là kẻ thù. Chẳng may bị chúng nó bắt được thì dù thuộc đảng phái nào, không bị cầm tù cũng bị chặt đầu. Ví dụ, hồi Nam Kỳ khởi nghĩa, người Đảng Lập hiến, người Đảng Cộng sản hay người Việt Nam Quốc dân đảng cũng đều cùng nhau tranh đấu và cùng nhau hy sinh.

c- Ngoài công việc cứu nước ra thì lý luận gì, công tác gì, cũng không được nhân dân ủng hộ.

d- Mọi người đều phải theo trào lưu cách mạng thế giới: Nước Trung Quốc tam dân chủ nghĩa, nước Anh đế quốc chủ nghĩa, nước Nga Xôviết cộng sản chủ nghĩa, nước Mỹ tư bản chủ nghĩa đều có thể hợp tác với nhau để chiến thắng quân thù. Các đảng phái ở Trung Quốc đều tập hợp chung quanh Quốc dân đảng Trung Quốc để chống Nhật cứu nước. Nước Pháp tự do có Đảng Cộng sản Pháp tham gia; nước Đức tự do có Đảng Cộng sản Đức tham gia, cùng nhau ra sức cứu Tổ quốc, cứu đồng bào. Việt Nam là một bộ phận của thế giới, cũng không thể đi ngược dòng lịch sử được.

Hiện nay ở trong nước không cần nêu khẩu hiệu “Đoàn kết các đảng phái”, vì điều này đã trở thành hiện thực, mà cần phải mở rộng khối đoàn kết đến toàn dân để đạt tới mục đích: Bên trong có lực lượng của mình, bên ngoài tranh thủ được sự giúp đỡ của các nước Đồng minh, trước hết là của Trung Quốc, đặng hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Tài liệu chữ Hán,
bản chụp lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

cpv.org.vn

Chiến thuật du kích 5-1944

Cách đánh du kích(1)

Việt Minh xuất bản tháng 5-1944.
In theo sách Việt Minh xuất bản.
cpv.org.vn

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Chương I- Du kích là gì

Du kích là đánh úp hay đánh lén, đánh lúc kẻ thù không ngờ, không phòng. Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc. Đế quốc có khí giới tốt, có quân đội đàng hoàng; quân du kích không có khí giới tốt, chưa thành quân đội đàng hoàng; nhưng quân du kích được dân chúng ủng hộ, thuộc địa hình, địa thế, khéo lợi dụng đêm tối, mưa nắng, khéo xếp đặt kế hoạch, nên quân du kích vẫn có thể đánh được đế quốc. Chuyến này chúng ta vũ trang khởi nghĩa đánh Tây – Nhật, chính dùng lối du kích mà đánh. Biết đánh du kích thế nào cũng thắng lợi. Muốn đánh du kích cho thắng lợi cần bốn điều:

1. Phải có con đường chính trị đúng.

Con đường chính trị chúng ta là đánh Tây – Nhật làm cho nước ta độc lập. Muốn thắng Tây – Nhật chúng ta phải dùng lối du kích và dùng lối du kích là cốt để đánh Tây – Nhật. Muốn đánh Tây – Nhật mà không dùng lối du kích thì không đánh được Tây – Nhật và mượn tiếng du kích không để đánh Tây – Nhật, mà lại để theo đuổi mục đích khác là không chính đáng.

2. Phải dựa trên cơ sở quần chúng.

Muốn đánh du kích cần phải có dân chúng tham gia và giúp sức. “Du kích như cá, dân chúng như nước. Cá không có nước thì cá chết, du kích không có dân chúng thì du kích chết”. Quân du kích và dân chúng phải mật thiết liên lạc với nhau là vì quân du kích đánh Tây – Nhật để bảo hộ dân chúng, vậy dân chúng phải hết sức ủng hộ quân du kích.

3. Phải có tổ chức vững chắc và nghiêm mật.

Quân du kích nếu không có tổ chức thì không phải một đội quân cách mạng, không thể đánh được Tây – Nhật. Quân du kích cần phải có tổ chức vững chắc và nghiêm mật, kỷ luật phải nghiêm như sắt, bao nhiêu hành động của quân du kích đều phải theo kỷ luật ấy, không ai được làm trái.

4. Phải có một lối đánh rất tài giỏi.

Quân du kích thắng được kẻ thù chính nhờ lối đánh tài giỏi này. Quân du kích là đội quân thiên biến vạn hoá, xuất quỷ nhập thần, khéo dùng lối này thì trǎm trận trǎm được.

cpv.org.vn

Chương II – Tổ chức đội du kích

1. Tiểu tổ du kích. Từ 2, 3 người cho tới 2, 3 chục người có thể tổ chức thành tiểu tổ du kích do tổ trưởng chỉ huy (nếu cần phải có phó tổ trưởng). Có nhiều tiểu tổ thì lập ban chỉ huy chung.

Tiểu tổ du kích không thoát ly sinh sản (nghĩa là không bỏ việc làm ǎn). Có việc thì họp nhau hành động; không có việc thì cứ làm ǎn như thường. Vũ trang của tiểu tổ du kích thì tuỳ hoàn cảnh, xoay được thứ gì dùng thứ ấy, súng, dao, gậy đều được.

2. Chi đội. Chi đội du kích là một đội du kích có vũ trang, hoàn toàn hay không hoàn toàn thoát ly sinh sản 1 . Số người của một chi đội không nhất định từ mấy chục người đến mấy trǎm, đến mấy nghìn người. Chi đội du kích có thể lấy tên gì cũng được: như đội quân cứu quốc Phan Bội Châu, đội quân du kích Phan Chu Trinh, hay đội quân du kích người Mán trắng, đội quân cứu quốc Bắc Sơn, v.v..

Cách biên chế (biên chế là hệ thống tổ chức từ dưới lên trên) của chi đội du kích do tiểu đội lên trung đội 2 , trung đội lên đại đội, đại đội lên chi đội, theo lối tam tam chế, tứ tứ chế hay ngũ ngũ chế (nghĩa là ba hay bốn, nǎm tiểu đội lên trung đội, rồi cứ thế lên mãi).

3. Tư cách đội viên du kích. Ai là dân Việt Nam khoẻ mạnh, muốn đánh Tây – Nhật, không sợ khó nhọc, nguy hiểm đều có thể thành một đội viên du kích. Nên chú ý những người nhanh nhẹn, dũng cảm có kinh nghiệm đánh giặc chút ít, nhất là những người đã đi lính.

4. Cơ quan chỉ huy. Tiểu tổ du kích có chánh phó tổ trưởng, tiểu đội có tiểu chánh phó đội trưởng, trung đội có trung chánh phó đội trưởng, đại đội có đại chánh phó đội trưởng, chi đội có chi chánh phó đội trưởng. Về mặt chính trị, cấp nào cũng có một người chính trị phái viên do đoàn thể cách mạng chọn trong bộ đội ấy hoặc phái người ngoài đến làm.

Chi đội có đông người thì có thể tổ chức những ban đặc biệt phụ trách việc trinh thám, việc quản lý, việc phá hoại, hay về mặt chính trị thì có ban dạy chữ, giảng báo, vận động dân chúng, vận động binh lính đế quốc, v.v..

cpv.org.vn

Chương III – Nguyên tắc của cách đánh du kích

Đánh du kích cần chú ý 4nguyên tắc chính này:

1. Giữ quyền chủ động. Giữ quyền chủ động là khôn khéo sử khiến quân thù (1) , muốn đánh nó ở chỗ nào thì đưa nó đến đó mà đánh, muốn đưa nó vào bẫy của mình có thể đưa được. Nếu nó mạnh quá đánh không có lợi thì mình lùi, mình tự ý lùi cũng là giữ quyền chủ động, giữ được chủ động thì thế nào cũng thắng, không thắng to thì thắng nhỏ. Trái lại, nếu mình không giữ được quyền chủ động mà lại ở vào địa vị bị động, để cho quân thù sử khiến mình dễ bị thất bại.

2. Hết sức nhanh chóng. Đánh du kích cần nhanh chóng. Chậm chạp thì không đánh được du kích. Bất kỳ lúc nào, lúc hành quân, lúc tiến công, hay lúc rút lui, một cử động nào của đội du kích cần nhanh chóng mới được. Đội du kích phải nhanh chóng như mưa sa gió táp, chớp nhoáng đã đánh xong một trận, quân thù chưa tỉnh thì đã biến mất rồi.

3. Bao giờ cũng giữ thế công. Giữ thế công là mình tiến đánh quân thù trước. Du kích phải giữ quyền chủ động chính để giữ thế công. Giữ thế công mới đánh được giặc, không đánh được trận to thì đánh trận nhỏ, làm tiêu hao giặc ít nào hay ít ấy. Du kích mà chỉ phòng thủ thì thế nào cũng thất bại.

4. Phải có kế hoạch thích hợp và chu đáo. Du kích đánh được

giặc cố nhiên nhờ 3 nguyên tắc trên, nhưng nếu làm đúng 3 điều trên mà không có kế hoạch thích hợp và chu đáo thì cũng không thành. Tài giỏi của du kích chính là xếp đặt kế hoạch ấy, thật là thiên biến vạn hoá, kẻ thù không biết đâu mà ngờ, mà phòng.

Đánh du kích cần chú ý 4mưu mẹo lớn này:

1. Tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu, náo phía đông đánh phía tây. Đánh du kích phải hiểu rõ tình hình quân thù, chỗ quân thù mạnh mình không dại gì tiến đánh, chỉ nhằm chỗ yếu của nó mà đánh, lúc nhằm đánh vào chỗ nào, mình phải lừa quân thù không chú ý phòng bị chỗ ấy mà lại phòng bị chỗ khác, nghĩa là náo phía đông đánh phía tây.

2. Tránh trận gay go, không chết sống giữ đất. Đánh du kích cốt chọn miếng dễ miếng ngon mà ǎn, không phải hao tổn nhiều. Phải tránh những trận gay go, được thua không chắc mà có thể thiệt hại nhiều, lúc quân thù tiến công, nếu chống lại không lợi thì phải lùi, nếu cần rút ra khỏi phạm vi thế lực của mình để giữ gìn lực lượng thì cứ việc rút, không bao giờ nên chết sống giữ đất.

3. Hoá chỉnh vi linh (nghĩa là phân tán), hoá linh vi chỉnh (nghĩa là tập trung), lúc quân thù nhằm vào bộ đội mình mà tiến công, hoặc lúc vì một lẽ khác mà để nguyên cả bộ đội thì hành động không tiện, quân du kích phải hoá chỉnh vi linh, nghĩa là phân tán ra, phân tán ra rồi, nếu cần tập trung bộ đội lại, để hành động thì lại hoá linh vi chỉnh, (chỉnh là toàn bộ, linh là từng bộ phận hay từng người).

4. Mình yên đánh quân thù động, mình khoẻ đánh quân thù mệt. Đánh du kích phải giữ quyền chủ động, phải chọn lúc quân thù đương làm một việc gì, nhất là lúc đi đường, nhân lúc quân thù không chú ý, mình yên núp một chỗ thoạt ra đánh nó, thế là mình yên đánh quân thù động. Còn phải chọn lúc quân thù mệt và mình khoẻ để đánh nó. Lúc mình yên quân thù động, lúc mình khoẻ, quân thù mệt, mình lại đánh úp quân thù thì mình thế nào chẳng thắng?

Du kích đánh Tây – Nhật cần nhằm vào mấy động tác sau này:

1. Lừa gạt quân giặc. Làm cho chúng mắt mù, tai điếc, hoặc truyền đến cho chúng những tin tức sai lầm để lừa gạt chúng.

2. Trinh thám quân giặc 1 . Một nhà đại quân sự có nói: “Biết mình, biết giặc trǎm trận, trǎm thắng”. Đánh du kích cốt trinh thám cho rõ tình hình quân giặc.

3. Làm cho quân giặc khốn đốn.Du kích nếu chưa thắng ngay được quân giặc cũng hết sức làm cho chúng khổ sở, khốn đốn, ǎn ngủ không ngon, đi đứng không yên.

4. Làm cho quân giặc đói khổ. Làm vườn không nhà trống, đánh cướp đội vận tải lương thực của giặc, đánh phá kho lương thực của giặc là những cách làm cho quân giặc đói khổ.

5. Ngǎn cản quân giặc. Không cho chúng tự do đem quân đánh phá dân chúng hay đội du kích. Phá đường sá cầu cống xe cộ của giặc là cách hay nhất để ngǎn cản quân giặc tự do hành động.

6. Bắt cóc quân giặc. Như lính đi truyền lịnh, lính đem thư từ, lính đi thu lương thực của dân chúng. Bắt rồi lột khí giới và tra hỏi tình hình quân thù.

7. Làm cho quân giặc mù mịt, hoảng hốt. Ví như mình có ít người mà làm như đông người, mình có một đội mà làm như nhiều đội, mình có ít súng, mà làm như nhiều súng, làm cho quân giặc hoảng hốt rồi mình thừa cơ đánh úp nó.

8. Dụ quân giặc vào bẫy để đánh. ẩn nấp đâu đó rồi lập mưu dụ quân giặc ra để đánh úp, hoặc giả đánh thua phải chạy để cho quân giặc đuổi theo rồi ẩn núp một chỗ chờ quân giặc qua thoạt ra đánh.

9. Tập kích, phục kích và truy kích quân giặc. Tập kích là mình đến đánh quân giặc đương ở một chỗ. Phục kích là mình ẩn nấp một chỗ chực quân giặc đi qua thoạt ra đánh úp. Truy kích là đuổi theo sau quân giặc để đánh.

cpv.org.vn

————————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Chương IV – Cách tiến công, tập kích

Du kích bao giờ cũng tiến công. Có 2 cách tiến công, một là tập kích, hai là phục kích.

TẬP KÍCH

Muốn tập kích được thắng lợi phải chuẩn bị rất bí mật và chu đáo, lúc tiến đánh phải nhanh chóng và kiên quyết. Vậy cần làm đúng mấy điều sau này: trinh thám, xếp kế hoạch, bắt đầu ra đi, lúc đến chỗ tập kích, xung phong, sau khi tập kích.

1. Trinh thám

Muốn đánh du kích cần biết rõ: A) Tình hình quân giặc. B) Địa hình. C) Tình hình chính trị. Phải biết rõ các tình hình thì mới xếp đặt kế hoạch được. Đánh được hay thua phần lớn nhờ việc trinh thám này.

A- Trinh thám tình hình quân giặc

a) Số người bao nhiêu, thuộc về thứ lính gì, súng ống thế nào, hành động thế nào, sức chiến đấu mạnh hay yếu, phòng bị và canh gác thế nào, bọn quan thế nào.

b) Gần đó có bộ đội khác của quân giặc không, số người nhiều hay ít, có thể tǎng thêm không, quân giặc đôi bên liên lạc với nhau thế nào, đi lại với nhau bằng cách gì. Phải hiểu rõ tình hình này thì mới tránh khỏi các sự bất ngờ.

Ví dụ: Các khu du kích ở Hoa Bắc (Tàu) nhờ dân chúng giúp sức nên việc trinh thám tình hình quân giặc làm được chu đáo. Quân Nhật cử động thế nào đội du kích đều biết đích xác. Cho nên đội du kích bao giờ cũng đánh được quân giặc, không bao giờ phải thua vì nếu sợ thua là không đánh.

Tại huyện Bình Định có 200 quân Nhật đóng trong một làng. Vì đề phòng du kích đánh úp chúng xếp nhiều lính gác chung quanh chỗ chúng đóng. Nhờ dân chúng giúp sức, đội du kích trinh thám được đích xác chỗ các lính Nhật gác và nhất là giờ đổi gác, lợi dụng đêm tối và lúc lính gác mệt mỏi, phái người rất khôn khéo và nhanh nhẹn thoạt đến giải quyết bọn lính gác trong lúc đại đội du kích 1 tiến đánh quân Nhật đương say ngủ trong làng.

B- Trinh thám địa hình

a) Từ chỗ đội du kích đến chỗ quân giặc đóng có mấy con đường, lớn nhỏ thế nào, có chỗ ẩn nấp và có tiện đi lại hay không?

b) Dọc đường có chỗ ẩn nấp không, có địa hình, địa vật lợi cho ta không, nhất là gần giặc có chỗ tốt ẩn núp không, đường tiến thoái thế nào?

C- Trinh thám về chính trị

a) Quân giặc đối với dân chúng thế nào? Có cướp của, đốt nhà giết người không? Nhân dân đối với giặc thế nào? Đối với cách mạng thế nào?

b) Quân lính của giặc ǎn ở thế nào, tinh thần thế nào, đối với quan của chúng thế nào, đối với dân và đối với cách mạng thế nào? Dân chúng có thể giúp đội du kích được cái gì, làm thế nào tổ chức sự liên lạc với dân chúng.

2. Xếp đặt kế hoạch và chuẩn bị

Trinh thám các tình hình đầy đủ rồi, thì đội trưởng và chính trị phái viên nghiên cứu kế hoạch tập kích theo những nguyên tắc kể trước đây. Nếu điều kiện tập kích không đủ thì mình có thể làm cho điều kiện ấy đầy đủ bằng cách lừa gạt quân thù, náo phía đông đánh phía tây, lừa quân thù vào chỗ dễ tập kích. Xếp đặt kế hoạch tập kích cần chú ý mấy điều này:

A- Chọn lúc tập kích

Tập kích tốt nhất vào 4 lúc này.

a) Đêm tối. Đêm tối thì dễ bí mật, cử động dễ không cho quân thù biết. Nhưng đêm tối thì chóng mệt và hay nhầm đường. Tuy vậy đội du kích đã luyện tập thạo và kỷ luật nghiêm thì cũng không ngại gì.

b) Sắp sáng. Đội du kích ở xa lại, cả đêm phải đi, chực lúc sắp sáng tiến đánh quân giặc lúc quân giặc đương say ngủ, đánh xong là vừa sáng, rất là thuận tiện.

c) Đầu hôm. Đầu hôm giặc canh gác sơ sài, ban ngày đội du kích ẩn núp dọc đường, đến đầu hôm vào đánh úp thì dễ thắng lợi, nếu không thắng lợi nhân đêm tối rút lui cũng dễ dàng.

d) Ban ngày. Tập kích ban ngày rất khó. Muốn tập kích ban ngày phải có đủ mấy điều này: 1) giặc rất xoàng, không có thành luỹ pháo đài, lại không nhanh nhẹn; 2) giặc lẻ loi; 3) giặc khinh thường không đề phòng mưu mẹo của đội du kích; 4) gặp mưa to gió lớn, mù nhiều, dễ ẩn nấp, dễ lại rất gần quân giặc.

B- Chuẩn bị tập kích

Trước khi đi tập kích cần chuẩn bị đầy đủ những điểm sau này:

a) Ước định với nhau trước những dấu hiệu nhất là dấu hiệu lúc nào tiến đánh, lúc nào xung phong.

b) Phòng khi tập kích không thành phải thối (1) , ước định với nhau trước nên thối đường nào, tập họp chỗ nào.

c) Như đường đi hay đường về phải qua sông, trèo núi, phải dự bị trước các đồ đạc cần dùng như bè, phao, dây, v.v.. Còn như tập kích lô cốt hay nhà cửa thì cần đem đồ phá hoại, đồ đốt cháy.

d) Trong phạm vi không sợ lộ bí mật, phải cho bộ đội biết trước cuộc tập kích và tuyên truyền cổ động họ chuẩn bị cho đầy đủ để nắm chắc phần thắng lợi.

C- Tuyệt đối giữ bí mật

Kế hoạch hay đến mấy nếu để lộ ra cho quân thù biết thì nguy, ta nên cần tuyệt đối giữ bí mật cho kế hoạch tập kích, không cần đem toàn thể kế hoạch cho mọi đội viên đều biết, người nào cần biết phần nào chỉ cho biết phần ấy thôi, và lúc nào nên cho biết điều gì đến lúc ấy sẽ cho biết. Có khi muốn được hoàn toàn bí mật và để đánh lừa quân giặc, lúc ra đi mình đi một hướng giả, rồi sau mới quay lại hướng đúng của mình.

3. Bắt đầu ra đi

a) Lúc đi đường, không đi đường to cho đến đường con nếu cần cũng tránh, tốt nhất là tìm đường mới hẳn mà đi, nhưng chú ý đừng để lạc đường, đừng để chậm trễ hay quá mỏi mệt.

b) Lúc hành quân tuyệt đối phải yên tĩnh, tránh tiếng ồn, ánh sáng, trừ người trinh thám được lên đạn, mọi người đều không được lên đạn phòng khi súng nổ bất ngờ.

c) Phải có người trinh thám ǎn mặc như thường đi trước để do thám tình hình.

d) Lúc hành quân nếu gặp lính gác của giặc thì nên tránh, hoặc nếu có thể được thì bắt sống hay im lặng giết chết, quyết không bắn súng, không làm động. Nếu không may gặp phải quân thù thì phải rất nhanh chóng và kiên quyết tiến đến tập kích nhưng đồng thời phải đề phòng quân thù không để quân thù chiếm trước chỗ tốt để đánh lại mình.

4. Lúc đến chỗ tập kích

a) Phải rất bí mật tập hợp tại chỗ ẩn nấp để tập kích, chỗ ẩn nấp ấy không nên quá xa chỗ quân giặc đóng, cũng không nên quá gần.

b) Nhanh chóng triệu tập những người chỉ huy, phân phối công tác, lần cuối cùng xem xét lại tình hình quân giặc. Nếu bắt sống được lính gác của giặc để tra hỏi thì càng hay.

c) Lúc tập kích cần chú ý mấy điều này: không nên quá phân tán quân lực, thông thường nên phân làm đôi, phần nhỏ kiềm chế quân giặc trong lúc phần đông tiến đến tập kích. Nếu có nhiều người nên phái một bộ phận nhỏ ẩn nấp tại con đường quân giặc có thể rút lui để đón đánh. Nếu cần cũng nên phái một số người ẩn núp tại các con đường do các con đường ấy (1) quân giặc ở gần có thể đến cứu bọn bị tập kích. Số người ấy phải phá cầu, phá đường, cắt dây thép (2) .

d) Đâu đó xếp đặt xong thì ra dấu hiệu tiến công.

5. Xung phong

a) Dấu hiệu tiến công đã ra là phải xung phong ngay đánh úp quân giặc trở tay không kịp. Chú ý không nên bắn súng vì bắn súng hiệu quả ít lại động quân thù. Tốt nhất là dùng giáo mác để đâm chém.

Ví dụ trận tập kích của chi đội du kích họ Triệu tại trấn Dương Phòng gần Bắc Bình ở Hoa Bắc. Lính gác của Nhật đã bị giải quyết, đội du kích đến tận gần, quân Nhật mới biết, nhưng đại đao, giáo mác đã quay tít mù đã giết chết phần lớn quân giặc, còn phần nhỏ muốn kháng cự nhưng chẳng mấy lâu cũng bị giải quyết sạch. Trong trận tập kích này bên du kích chỉ có một số ít bộ đội mà lại được rất nhiều quân giặc. Lại còn bắt tù được hơn một trǎm. Được toàn thắng là nhờ đánh bằng giáo mác, nếu dùng súng thì nhất định không được hoàn toàn như thế. Một người đội viên du kích thường hỏi bọn quân Nhật bị bắt chúng sợ cái gì nhất, bọn này đều nói chúng sợ nhất cái giáo dài hình thoi của đội du kích.

b) Nếu quân giặc trong lúc bị tập kích rút vào nhà để chống cự thì ta phải tìm cách đốt nhà, chực chúng ra thì giết, nếu không ra cũng bị chết thiêu.

c) Tập kích xong phần lớn bộ đội phải rút ngay, chỉ để lại số ít thu nhặt các đồ lấy được và xử lý tù binh. Nếu quân giặc thoát được một phần thì có thể đuổi theo đánh cho hết tiệt, nhưng phải phòng quân cứu viện của giặc và cũng không nên đuổi xa quá.

d) Nếu tập kích không thành công, vì quân thù quá mạnh hay đã phòng bị, hay có viện binh đến thì đội du kích phải rất kiên quyết và rất nhanh chóng thối ngay không nên trù trừ, chỉ để lại một đội nhỏ tinh nhuệ che chở cho đại đội rút lui. Tập họp chỗ nào phải ước định với nhau trước.

6. Sau khi tập kích

a) Tập kích xong, đại đội rút về một địa điểm khá xa chỗ tập kích. Số bộ đội ở lại thu xếp đồ đạc và xử lý tù binh cũng làm mau để rút về địa điểm. Nếu có người bị thương bao giờ cũng cẩn thận đưa đi trước.

b) Nếu tập kích đánh tan được quân giặc, và nếu quân cứu viện của giặc không thể đến được thì bộ đội du kích có thể lưu lại chỗ tập kích ít lâu để tuyên truyền tổ chức dân chúng và trừ diệt phản động. Lúc còn ở đó, dầu sao cũng không nên đóng trong làng xóm, vì sợ tàu bay đến đánh, phải đóng nơi bí mật, xa làng xóm một ít. Đối với tù binh, nếu đem đi không tiện thì sau khi tra hỏi và tuyên truyền có thể tha họ về, nhưng không nên lộ cho họ biết những điều bí mật của mình. Bao giờ có cǎn cứ địa đàng hoàng mới nên bắt tù binh về giam. Công việc đâu đấy xong rồi, lúc kéo đi phải trá hình và đi phương hướng giả để giữ bí mật.

Tập kích thành luỹ. Muốn tập kích thành luỹ quân thù phải xếp kế hoạch rất khôn khéo và chu đáo.

a) Trước khi tập kích phải chuẩn bị nội công, nghĩa là có người theo mình mà bí mật ở chung với quân thù trong thành, có khi là binh lính của chúng. Lúc tập kích trong ngoài hưởng ứng với nhau thì quân thù nhất định chết.

Ví dụ: Một đội du kích của Đội quân thứ 8 trong lúc tập kích

thành Trú Châu, nhờ có 1 nghìn 6 nguỵ quân (nguỵ quân là quân người Tàu do Nhật cai quản) phản lại đánh Nhật nên đội du kích hạ thành Trú Châu rất dễ và giết được hơn 2 trǎm quân Nhật.

b) Chọn chỗ quân thù không phòng bị tìm cách khôn khéo lẻn vào thành rồi nổi lên tập kích.

Ví dụ: Quân Nhật có lập một trường tàu bay ở thành Dương Ninh. Khắp ba mặt thành chúng xây đắp thành luỹ rất vững chãi, còn một mặt thì không phòng bị gì hết vì mặt ấy tiếp cận với một con sông lầy ai không biết mà lội qua thì lún mất tích. Người chỉ huy đội du kích sau khi điều tra và thí nghiệm đích xác nếu chạy qua sông rất nhanh thì không sợ lún, nên khéo dùng lối ấy qua sông lọt vào thành đốt cháy 20 cái tàu bay của Nhật rồi bí mật rút mất.

c) Giả làm quân thù, kéo vào thành rồi đánh úp.

Ví dụ: Một đội du kích của Đội quân thứ 8 muốn đánh một thành nhỏ ở Tích Dương, một hôm giả ǎn mặc như một đội quân Nhật nghiễm nhiên tiến vào thành, lính gác không biết cứ để cho vào. Vào thành lại được hoan nghênh tử tế. Chính trong lúc ấy đội du kích quay ra đánh úp giết sạch quân Nhật rồi tháo lui ngay.

d) Quân giặc có việc kéo ra ngoài thành, hoặc do mình khôn khéo dụ ra ngoài thành rồi lợi dụng lúc ấy tập kích chúng và nhân đó xông vào thành.

Cách đối phó nếu quân thù tập kích mình. Đội quân du kích chuyên tập kích quân thù chứ không bao giờ để cho quân thù tập kích mình. Tuy vậy, đội du kích cũng phải phòng xa, nếu không may bị quân thù tập kích thì có thể đối phó thắng lợi.

Lúc đội du kích đóng tại một nơi nào, nhất là trong làng thì cần phải canh gác rất cẩn thận, cấm người ra vào làng và bao giờ cũng đề phòng quân thù đến tập kích. Nếu bị tập kích thì lực lượng chính quân du kích phải rút lui ngay. Nhưng rút xong rồi phải liệu thế quật lại đánh úp quân giặc để cứu vớt số người mình bị bắt hay chưa thoát kịp. Lối đánh quật lại như thế thường được thắng lợi vì quân giặc lúc ấy tưởng đội du kích chạy rồi không phòng bị gì.

cpv.org.vn

————————————–

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

2. Chủ nghĩa cộng sản thời chiến (chính sách cộng sản thời chiến): Chính sách kinh tế của nước Nga Xôviết thi hành trong thời kỳ nội chiến và chống sự can thiệp của 14 nước đế quốc (1918-1920). Theo chính sách này, chính quyền Xôviết không chỉ kiểm soát công nghiệp lớn mà còn kiểm soát cả công nghiệp nhỏ và vừa, nắm độc quyền mua bán lúa mì, cấm tư nhân buôn bán lương thực, trưng mua lương thực thừa của nông dân, nắm hàng tiêu dùng và nông sản để cung cấp cho quân đội, công nhân và nhân dân lao động. Chính quyền Xôviết thi hành chế độ nghĩa vụ lao động đối với tất cả các giai cấp, kể cả giai cấp tư sản, theo nguyên tắc “ai không làm thì không ǎn”.

Việc thực hiện chính sách cộng sản thời chiến lúc đó là hết sức cần thiết và đúng đắn. Nhờ đó đã huy động được sức người, sức của phục vụ cho công cuộc chiến đấu chống bọn bạch vệ và bọn can thiệp, giữ vững chính quyền Xôviết non trẻ. Sau khi đập tan bọn can thiệp vũ trang và kết thúc cuộc nội chiến, chính sách cộng sản thời chiến được thay bằng chính sách kinh tế mới (NEP) tháng 3-1921. Tr.28.

Chương V – Phục kích

Ẩn nấp trong một chỗ chực quân giặc đi qua thoạt ra đánh úp, thế gọi là phục kích. Phục kích dễ thắng lợi hơn tập kích, vậy đội du kích cần chú ý nhiều về cách phục kích nhất là đội du kích mới bắt đầu hoạt động, chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa rèn luyện nhiều.

Muốn phục kích cần chú ý mấy điều này: trinh thám, chọn chỗ phục kích, thi hành phục kích, sau khi phục kích thắng lợi, phục kích lính lẻ của giặc, phục kích đội vận tải của giặc, phục kích lính kỵ mã, xe ô tô, xe hoả của giặc.

1. Trinh thám tình hình giặc. Phải trinh thám rõ tình hình quân giặc thì mới xếp đặt kế hoạch phục kích cho đúng được. Trinh thám không đúng đã không có lợi gì mà không may lại nguy hiểm. Phải trinh thám đích xác mấy điều này:

a) Quân giặc lúc nào đi, đi đường nào, đi đến chỗ nào.

b) Quân giặc có bao nhiêu người thuộc về thứ lính gì, võ khí thế nào, sức chiến đấu thế nào, có xe cộ gì không, cuộc hành quân của giặc có mục đích gì.

c) Lúc hành quân, quân giặc liên lạc với bộ đội khác thế nào, hành quân mau chậm thế nào, quân giặc có thể có viện binh đến cứu như thế nào.

Trinh thám được tin tức gì phải rất bí mật, chỉ người chỉ huy biết mà thôi, người nào không cần biết tuyệt đối không cho biết.

2. Chọn chỗ phục kích. Lúc chọn chỗ phục kích nên chú ý mấy điều này:

a) Có chỗ nấp tốt khiến cho đội du kích trông thấy quân thù còn quân thù thì không trông thấy đội du kích.

b) Có địa hình tốt khiến cho đội du kích đánh quân thù dễ, còn quân thù khó đánh được đội du kích nhất là lúc quân thù đeo mang nặng nề.

c) Cần chỗ ẩn núp có chỗ tiện cho đội du kích thối chớ không tiện cho quân thù thối.

d) Chỗ ẩn núp phải ở ngoài vòng quân địch dò thám. Dẫu có chỗ ẩn núp tốt nhưng lại ở trong vòng dò thám của nó cũng cứ phải bỏ, tìm chỗ khác.

e) Có chỗ đứng trông cho rõ. Có khi phải đặt hai chỗ, một chỗ xa, một chỗ gần, và xếp đặt rất chu đáo cách liên lạc nhanh chóng giữa hai chỗ.

Ví dụ mấy trận phục kích rất tài giỏi của một đội du kích thuộc Đội quân thứ 8 tại con đường Đông Dương quan ở Hoa Bắc. Con đường ấy là con đường giao thông quan trọng của quân địch. Trên con đường ấy bao nhiêu lần đội du kích đã phục kích quân Nhật. Về sau quân Nhật nghĩ ra một kế kể cũng hay. Chúng phao ra cái tin ngày nọ ngày kia một đội vận tải Nhật sẽ qua con đường ấy, đồng thời chúng bí mật phái bộ đội đến ẩn núp tại một chỗ hiểm yếu trên con đường ấy, chực đội du kích đi tìm chỗ phục kích đội vận tải mà chúng đã phao tin sắp đi qua đường. Ngờ đâu nhờ dân chúng đem tin, đội du kích biết đích xác mưu kế quân giặc nên không động đậy. Chúng chờ một ngày, hai ngày chẳng thấy gì bèn lủi thủi kéo về. Lần sau chúng lại dùng kế ấy, cũng phao tin có một đội xe ô tô Nhật sắp qua con đường ấy. Được tin này, đội du kích lập tức phái bộ đội đi ẩn núp trước. Tức thì một đội quân Nhật đi qua, đội du kích nhảy ra đánh úp một trận tan tành. Số là đội quân Nhật này định đi tìm chỗ ẩn núp để tập kích quân du kích.

3. Lúc đi đến chỗ phục kích.

a) Phải khéo chọn con đường đi đến chỗ phục kích. Con đường ấy phải rất bí mật, tốt nhất là tìm đường hoàn toàn mới mà đi, tìm chỗ không có đường mà đi. Tránh đường bùn lầy, vì đi đường bùn lầy phải hao sức nhiều, mệt nhọc nhiều.

b) Phải có người trinh thám mặc quần áo thường, có vũ trang đi trước bộ đội. Lúc bộ đội đi qua làng xóm phải hoá trang (hoá trang là ǎn mặc như người thường chứ không như quân đội).

c) Đến chỗ ẩn núp rồi phải giữ rất kín đáo và im lặng, không được hút thuốc, nói chuyện, làm ồn.

4. Lúc tiến hành phục kích.

a) Bộ đội phục kích phải chia làm 2 phần, một phần nhỏ (thường 1 phần 3 bộ đội) dùng để kiềm chế quân giặc, trong lúc chủ lực (2 phần 3) tiến đánh quân giặc. Đội trưởng phải đứng chỗ nào trông rõ tình hình quân giặc để ra dấu hiệu tiến công.

b) Nhiệm vụ của mỗi bộ phận, của mỗi đội viên phải bàn định trước rất rõ ràng và thích đáng. Người chỉ huy phải theo đúng kế hoạch đã định mà lãnh đạo bộ đội mình tiến công.

c) Nếu quân giặc ít người thì đội du kích có thể chặn đường tiến và đường thối của quân giặc để tiêu diệt chúng. Nếu quân giặc có đông người thì đội du kích phải bỏ đoạn đầu, chỉ chặn đánh đoạn giữa, có khi chỉ chặn đánh đoạn đuôi cho chắc thắng lợi.

d) Lúc đánh đoạn đuôi của giặc phải có người quấy rối đoạn đầu, hoặc hai bên sườn. Nếu có thể được thì phá hoại đường sá, cầu cống làm cho quân giặc rối loạn, đầu đuôi không tiếp ứng nhau được.

e) Lúc tập kích cần phải kiên quyết và nhanh chóng, chớp nhoáng tiến đánh quân giặc trở tay không kịp. Trước hết là ném một loạt thủ lựu đạn, hay xổ một loạt súng rồi rút dao, mác xung phong ngay. Chém đâm quân giặc làm cho chúng hoảng hốt tán loạn, không thể nào chống cự được. Người chỉ huy phải có kế hoạch rất khôn khéo và chu đáo, đừng để mình phải thiệt nhiều người. Nếu mình thắng trận, nhưng cũng thiệt nhiều người thì thật không xứng.

5. Sau khi phục kích thắng lợi.

Phục kích thắng lợi xong phải lập tức thu dung người mình bị thương, thu thập đồ đạc lấy được, xử trí phù lỗ (quân giặc bị bắt gọi là phù lỗ) rồi thối ngay không trù trừ lâu. Nhất là nếu không tiêu diệt được toàn bộ quân giặc, cần phải xếp đặt thối ngay 1 , phòng quân cứu viện của giặc đến đánh.

Đội du kích không chỉ chờ quân giặc đi qua phạm vi hoạt động của mình rồi mới phục kích, mình có thể tìm cách dụ quân giặc, đánh lừa quân giặc vào bẫy để phục kích.

Ví dụ tại làng Lưu Trang, huyện Tích Dương (Hoa Bắc) có quân Nhật đóng. Đội du kích họ Uông phái một tiểu đội đến quấy. Họ bắn lờ phờ mấy phát súng rồi chuồn cho quân Nhật đuổi theo. Đuổi theo cho đến chỗ đội du kích ẩn núp, mấy chục quân Nhật bị giết sạch chỉ sót mấy thằng bỏ đội trốn thoát. Được tin thất bại, quân Nhật phái bốn trǎm người đến cứu viện. Đoán đúng, đội du kích lại ẩn núp trên con đường từ Tích Dương đến Lưu Trang lại được một lần phục kích thắng lợi nữa.

Gặp khi phục kích không xong. Đội du kích ẩn núp để phục kích quân giặc, lúc sắp tiến lên phục kích bỗng thấy quân giặc quá nhiều hay quân giặc đã chiếm chỗ tốt để đối phó, lúc ấy đội du kích phải nhanh chóng và kiên quyết thối lui, nếu cần thì bắn một loạt súng cho tợn rồi rút ngay. Có khi đã tiến lên phục kích rồi mới phát giác mình yếu, quân giặc mạnh thì cũng liệu thế rút lui ngay, không nên liều đánh đến cùng, hy sinh vô ích. Gặp những lúc này, người chỉ huy phải quyết đoán cho nhanh chóng và chỉ huy cho khôn khéo.

6. Phục kích những binh lính lẻ tẻ của giặc. Quân giặc đóng tại một chỗ thường phái lính đem giấy tờ từ chỗ này qua chỗ khác hay phái người vào làng mua rau, lấy đồ. Phục kích để bắt sống hay giết chết bọn lính lẻ tẻ ấy rất dễ và có khi nhờ đó điều tra được nhiều tin tức quý hoá. Nếu cần thì có thể tìm nhiều cách dụ lính lẻ tẻ vào chỗ bí mật và hiểm yếu để phục kích, dễ nhất là dùng con gái.

7. Phục kích đội vận tải hay đội thu lương thực của giặc. Phục kích đội vận tải của quân giặc thường dễ thắng lợi, vì những đội này rất nặng nề, chậm chạp. Lúc phục kích cần chú ý mấy điều này:

a) Chọn chỗ hiểm yếu để ẩn núp, như chỗ lên dốc, xuống dốc, qua sông, qua đường quẹo, đường kẹt trong núi.

b) Phục kích đội vận tải cốt để cướp đồ đạc chứ không để đánh bộ đội đi kèm, vậy lúc phục kích chú ý lừa bộ đội đi kèm xa đội vận tải để giải quyết đám này cho dễ.

c) Lúc tiến lên đánh, cần bắn tợn vào đoạn đầu và đoạn đuôi thì cả đoàn đều hoảng hốt, rối loạn, xe cộ, người ngựa đạp đổ lẫn lộn. Đó là cơ hội tốt cho đội du kích xung phong giết giặc đoạt của.

d) Nếu lực lượng mình ít, phải khôn khéo phân tán quân giặc, chỗ nào cũng có súng nổ, quân giặc phải phân tán để đối phó. Lúc ấy mình nhằm bộ phận nào thuận tiện thì xung phong giải quyết bộ phận ấy.

e) Phục kích thắng lợi rồi, nhắm chừng quân cứu viện của giặc không đến kịp thì mình có thể trì hoãn một chút để thu nhặt đồ đạc của giặc, cái gì đem đi được thì đem đi, cái gì không đem đi được thì phá huỷ.

Nhờ lối phục kích này mà đội du kích cướp được vô số đồ dùng của giặc.

Ví dụ (trích một đoạn trong bản báo cáo của một đội quân Nhật): “Gần huyện Dương Truyền tại làng Bảo An và Quách Thôn, bọn quân đỏ (Nhật gọi đội du kích của Đội quân thứ 8 là quân đỏ) bí mật liên lạc với dân chúng, mấy lần đánh úp các đội vận tải của chúng ta, tiêu diệt sạch bộ đội đi kèm và đoạt lấy tất cả đồ đạc, lương thực, thuốc đạn, áo quần. Mấy lâu nay mọi chỗ đều có chuyện như thế, thật là đáng lo”.

Phục kích đội thu lương thực của giặc có 3 cách:

a) Không đợi đội thu lương đã thu được lương: ẩn núp giữa đường phục kích đánh giết.

b) Chờ đội thu lương đến làng chia nhau đi các nhà thu lương thực, lúc bấy giờ mới tiến lên đánh úp bộ phận nào dễ đánh. Trước khi tiến đánh phải giết chết hay bắt sống lính gác của giặc.

c) Nếu đội du kích ít người, tốt nhất là chờ đội thu lương thực thu xong lương thực rồi trở về, chặn đường phục kích. Lối này dễ thắng nhất vì lúc bấy giờ quân thù gánh vác nặng nề, không thể chú ý được mọi mặt, không thể đối phó kịp.

8. Phục kích lính cưỡi ngựa, xe ô tô, xe hoả, thuyền, tàu.

Phục kích lính cưỡi ngựa. Muốn phục kích lính cưỡi ngựa cần chú ý 3 điều này:

a) Chỗ ẩn nấp để phục kích phải chọn chỗ đường chật hẹp, hiểm yếu, quân giặc khó xoay xở.

b) Trước tiên phải bắn cho ngựa quỵ, thế là người cũng ngã lung tung, rất dễ giải quyết.

c) Tốt nhất là chờ chúng vào làng nghỉ, người một nơi, ngựa một nơi, đột nhiên đánh úp thì chúng trở tay không kịp. Trước tiên phải phái người làm dân thường vào làng do thám, đợi cơ hội tốt là ra dấu hiệu phát động 1 .

Phục kích ô tô. Muốn phục kích ô tô cần chú ý 4 điều này:

a) Chỗ ẩn nấp để phục kích phải chọn chỗ đường chật hẹp, lên dốc, xuống dốc, chỗ đường quẹo, chỗ gần hang hố, hoặc lúc qua sông lộn xộn.

b) Trên đường phải đặt đồ cản xe, hoặc đào hố, hoặc đặt chất nổ.

c) Lúc phục kích phải có bộ phận nhỏ chặn đầu trước và chặn đường sau. Còn lực lượng chính thì tiến đánh các xe và bộ phận đi kèm. Người thì bắt tù hay thả cho đi, xe thì đốt huỷ.

Phục kích ô tô rất dễ thắng lợi. ở Hoa Bắc ngày nào cũng có đội du kích phục kích các đoàn vận tải ô tô của Nhật.

Ví dụ: Chi đội du kích họ Dương giữa con đường từ Quảng Linh đến Linh Nhạc định đón đánh một đoàn ô tô Nhật. Trước họ phá một đoạn đường tại chỗ rất hiểm yếu rồi ẩn núp gần đó. Bắt đầu có 30 hơn chiếc ô tô 2 vận tải từ Linh Nhạc đi Quảng Linh, đến chỗ đường bị phá không đi được. Một ít lâu từ Quảng Linh đến Linh Nhạc lại có 40 hơn chiếc ô tô vận tải, 10 hơn chiếc ô tô bọc sắt và 78 chiếc xe tǎng đến đó cũng bị nghẽn. Đội du kích xem xét đích xác rồi nhảy ra đánh úp, phá hại quân Nhật rất nhiều. Về sau quân Nhật lại đem một đội kỵ mã (lính cưỡi ngựa) và 5 khẩu đại bác đến cứu viện. Nhờ đội du kích khôn khéo ẩn núp và đánh giỏi nên giết được quân Nhật mấy trǎm người và phá được mấy mươi chiếc ô tô, còn mình chỉ bị thương mấy chục người thôi.

Phục kích xe hoả. Muốn phục kích xe hoả cần chú ý mấy điều này:

a) Chỗ phục kích phải chọn chỗ hiểm yếu như lúc vào hầm ra hầm (hầm là chỗ đường xuyên qua núi), lên dốc, xuống dốc, đường quẹo, chỗ bên cao bên thấp, lúc qua cầu.

b) Trước khi phục kích phải tháo cây ngang đường ray 1 và các đinh ốc làm cho xe hoả trật đường ray, hay dùng cây, đá chất đống trên đường ray cũng để làm cho xe hoả trật đường ray.

c) Lúc xe hoả trật đường ray chạy bật ra ngoài là lúc đội du kích tiến lên phục kích. Đội du kích ấy phải phân làm ba phần: một phần dự bị đánh bộ đội của giặc đi kèm xe hoả, một phần đánh vào cạnh các toa xe, còn một phần xông vào trong toa cướp khí giới, đồ đạc và bắt người.

d) Hết sức bí mật liên lạc với nhân viên làm trong xe để đến thời cơ ngoại công nội ứng 2 .

Phục kích thuyền gỗ. Chực lúc thuyền gần bờ hay gặp chỗ quẹo thì tiến đánh. Lúc đánh thì đánh đầu thuyền và đuôi thuyền, bắt thuyền phải vào bờ hay đánh chìm cũng được. Đánh xong, của cải trong thuyền thì lấy, còn người thì bắt tù hay thả.

Đánh thuyền máy thì phải cẩn thận và phải có lực lượng nhiều, nhất là phải có súng to bắn phá đầu máy mới được.

Đi đường gặp quân giặc.

a) Lúc đi đường đội du kích phải có người do thám ǎn mặc thường đi trước, ban ngày đi trước khá xa bao nhiêu xa 3 tuỳ mỗi lúc mà quyết định, ban đêm đi gần một ít, thấy việc gì lạ, nhất là có quân giặc thì cấp tốc quay lại báo cáo đội trưởng. Đội trưởng phải đi trước bộ đội để gặp tin tức gì thì quyết định ngay cách đối phó.

b) Lúc được tin có quân giặc thì phải mau chóng quyết định đánh

hay chuồn không được do dự, vì do dự là nguy vô cùng.

c) Nếu quân giặc ít người, kém sức, mình đánh là chắc được, thì quyết định đánh và trong nháy mắt phải tìm chỗ ẩn núp chờ quân giặc đi qua bắn cho một loạt rồi nhảy ra xung phong. Quân giặc chạy, nếu không ngại gì thì đuổi theo đánh, nhưng chớ đuổi theo quá xa.

d) Nếu quân giặc đông và mạnh, hoặc mình do thám không rõ sức mạnh của giặc thì quyết định chuồn, không do dự chút nào, lúc chuồn nếu quân giặc thấy phải nhằm chúng bắn một loạt súng cho tợn, buộc chúng phải ẩn núp, để mình chuồn cho tiện.

Ví dụ: Một đội du kích kỵ binh đương đi trên con đường ở phía tây huyện Bảo Định (Hoa Bắc), bỗng có người do thám đi trước trông thấy mấy trǎm quân Nhật. Được tin, đội du kích ẩn núp vào một bên đường chực quân thù đi qua, nhảy ra phục kích. Chỉ trong mấy chục phút, quân Nhật bị đánh tan, một phần chết, một phần chạy, để lại vô số súng đạn.

Quấy rối quân giặc. Đội du kích có thể dùng một số ít đội viên tìm cơ hội tốt quấy rối quân giặc, như bắn mấy phát súng vào đồn làm cho quân giặc phải lao đao mỏi mệt.

Ví dụ: Đội du kích hoạt động trên con đường xe hoả Bắc Bình – Hán Khẩu, một lần nhân đêm tối đến gần huyện Tư bắn chết 2 tên lính gác của Nhật rồi lập tức đến trấn Quang Lạc phá hoại đường xe hoả. Được tin, quân Nhật ở huyện Tư và trấn Quang Lạc đều phái binh ra đón đánh du kích. Vì đêm tối quân giặc không nhận rõ được nhau nên bên nào cũng tưởng lầm bên kia là đội du kích. Lần ấy chúng bắn nhau cả đêm, giết lẫn nhau mấy trǎm người, sáng hôm sau mới biết.

Một cách làm rối loạn quân giặc là cách đánh “lối chim sẻ”. Lúc quân giặc hành quân qua núi non hiểm trở, đội du kích rải rác ẩn núp các nơi rất bí mật, ở trong núi bắn ra giết quân giặc, làm cho quân giặc muốn đánh đội du kích cũng không biết đâu mà đánh, muốn tránh cũng không biết chạy đâu cho khỏi. Cách đánh “lối chim sẻ” tuy không giải quyết được toàn đội quân giặc, nhưng cũng làm hại chúng nhiều, và nhất là làm cho chúng mất tinh thần.

cpv.org.vn

Chương VI – Cách phòng ngự

Phòng ngự nghĩa là chống giữ. Mình ở một chỗ, quân thù đến đánh, mình chống giữ gọi là phòng ngự. Như trên đã nói du kích là tiến công, mình bao giờ cũng nhằm quân thù đánh trước. Du kích mà để cho quân thù đến đánh, mình phải phòng ngự, là không tốt rồi, là phải ở vào thế khó rồi. Tuy vậy nhiều khi đội du kích vì tình thế buộc phải phòng ngự như lúc đội du kích hoạt động trong vùng quân thù, bất ngờ bị quân thù tập kích, hoặc sau khi đánh úp quân giặc một trận, đội du kích phải dùng lối phòng ngự để bảo vệ cho chủ lực an toàn rút lui, hoặc lúc bảo vệ cǎn cứ địa của cách mạng, đội du kích cũng phải dùng lối phòng ngự. Nhưng lối phòng ngự này là lối phòng ngự thế công (1) chứ không phải rút vào một chỗ để cho quân thù tha hồ đánh phá.

A- Cách phòng ngự ở ngoài cǎn cứ địa.

1. Phải do thám và canh gác rất nghiêm mật. Đội du kích hoạt động trong vùng ngoài cǎn cứ địa mình thường có quân thù qua lại, phải rất cẩn thận, không nên để cho quân thù dò ra dấu tích mình và có thể đến đánh mình. Muốn được thế, đội du kích phải liên lạc mật thiết với dân chúng rồi chọn người tốt trong dân chúng tổ chức những đội do thám bao vây chỗ quân thù đóng và các con đường quân thù hay đi lại. Hễ quân thù động tĩnh thế nào là các đội do thám ấy cho đội du kích biết ngay. Còn đội du kích lúc hành quân hay lúc đóng tại nơi nào cần phải đặt người canh gác cẩn thận, canh gác chung quanh, canh gác các đường, nếu cần, phải canh gác hai ba lớp.

2. Không đóng quân ở chỗ không tốt.

Đội du kích phải kiên quyết không đóng quân tại chỗ không chắc chắn, khó phòng ngự. Nếu vạn bất đắc dĩ phải đóng, thì phải tập trung tại mấy nhà có địa thế tốt, rồi xếp đặt canh phòng nghiêm ngặt. Nếu chỗ ấy có phản động, việt gian thì phải cấm người ra vào, và nếu cần thì tống giam bọn phản động và việt gian lại. Nhưng phải nhớ rằng: cách phòng ngự tốt nhất là nhờ dân chúng do thám canh phòng hộ cho, hễ có tin gì cho hay ngay.

3. Phải làm hào luỹ và chuẩn bị.

Do thám để phòng ngự như thế cũng chưa đủ, đội du kích cần chuẩn bị nếu bị đánh úp thì đối phó lại. Đóng ở một nơi nào, đội du kích phải luôn luôn chuẩn bị sẵn sàng, nếu có việc thì tập hợp ngay để đối phó. Đội trưởng và người thông tin phải ở luôn tại chỗ dự bị tập hợp. Vũ trang và đồ dùng phải sẵn sàng luôn. Dấu hiệu lúc tiến lúc lui cũng phải ước định với nhau trước.

Những con đường đi đến chỗ tập hợp phải dùng vật chướng ngại (vật chướng ngại là vật ngǎn mọi đường không cho đi lại được) dễ cất để chấn phòng. Những con đường mình rút lui phải làm hào luỹ hai bên. Những con đường không dùng phải bít hẳn lại. Nếu cần thì ngoài phòng tuyến thứ nhất ấy phải đặt phòng tuyến thứ hai (phòng tuyến là con đường có xây hào luỹ để mình ẩn núp mà đánh giặc).

4. Bất ngờ bị quân thù đánh úp.

Lúc ấy phải quyết định ngay đánh úp lại hay rút lui, không trù trừ. Lúc rút lui chỉ để một bộ phận nhỏ kiềm chế quân giặc cho đội du kích rút lui, ngoài ra không có phòng ngự gì khác. Nếu bị đánh úp nơi đóng quân thì phải nhanh chóng và kiên quyết phản xung phong chống lại rồi rút ngay (trước đây có nói rồi).

B- Cách phòng ngự cǎn cứ địa của mình.

Đội du kích đã lập được một cǎn cứ địa có cơ quan trọng yếu như kho tàng, nhà trường, nhà thương thì đội du kích quyết không để quân giặc dễ lấy. Nhưng không phải chết sống gì cũng khư khư giữ lấy cǎn cứ địa. Muốn phòng ngự cǎn cứ địa phải chú ý mấy điều sau này:

1. Dùng lối điều quân lanh lẹ mà phòng ngự. Khi quân địch tiến đánh cǎn cứ địa của chúng ta, nếu có đủ lực lượng thì chúng ta có thể phái bộ phận nhỏ đi chiếm nơi hiểm yếu, xây hào luỹ để chống quân giặc. Làm thế để kiềm chế quân giặc, và để cho chủ lực quân du kích tìm cách đánh úp chúng.

Quân giặc tiến công cǎn cứ địa ta thường dùng lối chia ra nhiều đường mà tiến rồi hợp lại mà đánh. Nếu đội du kích đủ sức thì có thể phái bộ phận đi chặn các đường tiến của giặc, còn chủ lực quân thì lần lượt tiêu diệt các đạo quân của giặc còn cách xa nhau chưa kêu gọi được với nhau. Nếu các đạo quân giặc đến gần nhau rồi, kêu gọi được với nhau rồi thì chủ lực quân du kích phải nhắm chỗ yếu của giặc, đánh tạt ngang vào, chia quân giặc ra nhiều đoạn, rồi cứ từng đoạn mà tiêu diệt. Lối đánh này phải có lực lượng đầy đủ mới được. Nếu lực lượng ta yếu, thì ta phải tránh, quân giặc muốn đánh ta cũng không tìm thấy ta, đến lúc chúng không phòng bị, ta hãy đánh úp chúng, phá hại chúng được chừng nào hay chừng ấy.

2. Hết sức dùng mọi cách ngǎn cản quân giặc. Phải phá hoại đường sá, cầu cống, phá đập cho nước tràn vào. Tìm đủ cách ngǎn cản quân giặc nhất là bộ đội máy móc (bộ đội có xe chở súng) và kỵ binh của giặc.

3. Thực hành vườn không nhà trống. Thực hành vườn không nhà trống để làm cho quân giặc không có cơm ǎn, không có đồ dùng, không tìm được người làm phu.

4. Hô hào dân chúng tham gia vào việc đánh giặc. Muốn chống lại quân giặc, một sức đội du kích không đủ, phải hô hào dân chúng hết sức tham gia vào việc đánh giặc, như phá đường sá, cầu cống,

cắt dây thép, làm vườn không nhà trống, do thám tình hình giặc, canh phòng, chuyên chở đồ đạc, đưa đón người bị thương; tiến lên một bước nữa, dân chúng có thể tổ chức những đội vũ trang giúp sức đội du kích đánh giặc, giết giặc.

5. Lúc quân giặc tiến vào cǎn cứ địa mình, mình đánh phá đằng sau chúng. Lối đánh này cốt để cắt đứt sự liên lạc của giặc với nơi cǎn cứ của chúng. Phải phá đường sá, cầu cống, cắt dây thép, đánh úp đội vận tải, đánh úp quân cứu viện của giặc.

6. Dùng lối đánh chim sẻ hay lối đánh người Mán. Lúc quân giặc kéo vào cǎn cứ địa chúng ta, chúng ta phái đội viên du kích tản mát ra như một đàn chim sẻ, nấp hai bên đường, sau các mỏm núi, chỗ một người, cách nhau khá xa, rồi cứ nhằm vào hàng ngũ quân giặc, nhất là bọn quan mà bắn. Lối đánh chim sẻ này quyết không thắng được quân giặc, nhưng cũng làm cho chúng hao tổn và rối loạn, muốn chống lại cũng không biết đâu mà chống, rút cục chúng phải lùi.

Ví dụ: ở Hoa Bắc, một lần quân Nhật chia 6 đường đánh vào phía nam Chính Thái bị quân du kích Tàu dùng lối đánh “chim sẻ” bắn giết nhiều quá đến nỗi phải rút lui.

cpv.org.vn

———————————

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Chương VII – Cách đánh đuổi giặc

Quân giặc đã bị đánh thua thì đội du kích phải đuổi theo thừa lúc chúng bị khó khǎn mà kế tiếp xung phong để tiêu diệt chúng. Tuy vậy không nên đuổi theo quá xa vì sợ gặp quân cứu viện của chúng.

Lúc quân giặc bị đánh tan rồi thì đội du kích phải cắt ra một số đội viên xếp dọn chiến trường (chiến trường là chỗ đánh nhau) cứu kẻ bị thương và đưa đi nơi dưỡng bệnh, xử trí những đồ đạc lấy được, xử trí tù binh. Còn đại đội thì phải đi ngay phòng khi tàu bay giặc đến ném bom. Chỉ khi nào mười phần chắc chắn là quân cứu viện giặc không đến được thì đại đội du kích mới nên ở lại hơi lâu để tiến hành các công việc tuyên truyền cổ động dân chúng.

Nếu quân giặc bị đánh bại ở nơi gần cǎn cứ địa của chúng ta thì chúng ta lại càng cần đuổi theo mà tiêu diệt. Lúc này phải động viên dân chúng giúp vào.

cpv.org.vn