Chương VI – Cách phòng ngự

Phòng ngự nghĩa là chống giữ. Mình ở một chỗ, quân thù đến đánh, mình chống giữ gọi là phòng ngự. Như trên đã nói du kích là tiến công, mình bao giờ cũng nhằm quân thù đánh trước. Du kích mà để cho quân thù đến đánh, mình phải phòng ngự, là không tốt rồi, là phải ở vào thế khó rồi. Tuy vậy nhiều khi đội du kích vì tình thế buộc phải phòng ngự như lúc đội du kích hoạt động trong vùng quân thù, bất ngờ bị quân thù tập kích, hoặc sau khi đánh úp quân giặc một trận, đội du kích phải dùng lối phòng ngự để bảo vệ cho chủ lực an toàn rút lui, hoặc lúc bảo vệ cǎn cứ địa của cách mạng, đội du kích cũng phải dùng lối phòng ngự. Nhưng lối phòng ngự này là lối phòng ngự thế công (1) chứ không phải rút vào một chỗ để cho quân thù tha hồ đánh phá.

A- Cách phòng ngự ở ngoài cǎn cứ địa.

1. Phải do thám và canh gác rất nghiêm mật. Đội du kích hoạt động trong vùng ngoài cǎn cứ địa mình thường có quân thù qua lại, phải rất cẩn thận, không nên để cho quân thù dò ra dấu tích mình và có thể đến đánh mình. Muốn được thế, đội du kích phải liên lạc mật thiết với dân chúng rồi chọn người tốt trong dân chúng tổ chức những đội do thám bao vây chỗ quân thù đóng và các con đường quân thù hay đi lại. Hễ quân thù động tĩnh thế nào là các đội do thám ấy cho đội du kích biết ngay. Còn đội du kích lúc hành quân hay lúc đóng tại nơi nào cần phải đặt người canh gác cẩn thận, canh gác chung quanh, canh gác các đường, nếu cần, phải canh gác hai ba lớp.

2. Không đóng quân ở chỗ không tốt.

Đội du kích phải kiên quyết không đóng quân tại chỗ không chắc chắn, khó phòng ngự. Nếu vạn bất đắc dĩ phải đóng, thì phải tập trung tại mấy nhà có địa thế tốt, rồi xếp đặt canh phòng nghiêm ngặt. Nếu chỗ ấy có phản động, việt gian thì phải cấm người ra vào, và nếu cần thì tống giam bọn phản động và việt gian lại. Nhưng phải nhớ rằng: cách phòng ngự tốt nhất là nhờ dân chúng do thám canh phòng hộ cho, hễ có tin gì cho hay ngay.

3. Phải làm hào luỹ và chuẩn bị.

Do thám để phòng ngự như thế cũng chưa đủ, đội du kích cần chuẩn bị nếu bị đánh úp thì đối phó lại. Đóng ở một nơi nào, đội du kích phải luôn luôn chuẩn bị sẵn sàng, nếu có việc thì tập hợp ngay để đối phó. Đội trưởng và người thông tin phải ở luôn tại chỗ dự bị tập hợp. Vũ trang và đồ dùng phải sẵn sàng luôn. Dấu hiệu lúc tiến lúc lui cũng phải ước định với nhau trước.

Những con đường đi đến chỗ tập hợp phải dùng vật chướng ngại (vật chướng ngại là vật ngǎn mọi đường không cho đi lại được) dễ cất để chấn phòng. Những con đường mình rút lui phải làm hào luỹ hai bên. Những con đường không dùng phải bít hẳn lại. Nếu cần thì ngoài phòng tuyến thứ nhất ấy phải đặt phòng tuyến thứ hai (phòng tuyến là con đường có xây hào luỹ để mình ẩn núp mà đánh giặc).

4. Bất ngờ bị quân thù đánh úp.

Lúc ấy phải quyết định ngay đánh úp lại hay rút lui, không trù trừ. Lúc rút lui chỉ để một bộ phận nhỏ kiềm chế quân giặc cho đội du kích rút lui, ngoài ra không có phòng ngự gì khác. Nếu bị đánh úp nơi đóng quân thì phải nhanh chóng và kiên quyết phản xung phong chống lại rồi rút ngay (trước đây có nói rồi).

B- Cách phòng ngự cǎn cứ địa của mình.

Đội du kích đã lập được một cǎn cứ địa có cơ quan trọng yếu như kho tàng, nhà trường, nhà thương thì đội du kích quyết không để quân giặc dễ lấy. Nhưng không phải chết sống gì cũng khư khư giữ lấy cǎn cứ địa. Muốn phòng ngự cǎn cứ địa phải chú ý mấy điều sau này:

1. Dùng lối điều quân lanh lẹ mà phòng ngự. Khi quân địch tiến đánh cǎn cứ địa của chúng ta, nếu có đủ lực lượng thì chúng ta có thể phái bộ phận nhỏ đi chiếm nơi hiểm yếu, xây hào luỹ để chống quân giặc. Làm thế để kiềm chế quân giặc, và để cho chủ lực quân du kích tìm cách đánh úp chúng.

Quân giặc tiến công cǎn cứ địa ta thường dùng lối chia ra nhiều đường mà tiến rồi hợp lại mà đánh. Nếu đội du kích đủ sức thì có thể phái bộ phận đi chặn các đường tiến của giặc, còn chủ lực quân thì lần lượt tiêu diệt các đạo quân của giặc còn cách xa nhau chưa kêu gọi được với nhau. Nếu các đạo quân giặc đến gần nhau rồi, kêu gọi được với nhau rồi thì chủ lực quân du kích phải nhắm chỗ yếu của giặc, đánh tạt ngang vào, chia quân giặc ra nhiều đoạn, rồi cứ từng đoạn mà tiêu diệt. Lối đánh này phải có lực lượng đầy đủ mới được. Nếu lực lượng ta yếu, thì ta phải tránh, quân giặc muốn đánh ta cũng không tìm thấy ta, đến lúc chúng không phòng bị, ta hãy đánh úp chúng, phá hại chúng được chừng nào hay chừng ấy.

2. Hết sức dùng mọi cách ngǎn cản quân giặc. Phải phá hoại đường sá, cầu cống, phá đập cho nước tràn vào. Tìm đủ cách ngǎn cản quân giặc nhất là bộ đội máy móc (bộ đội có xe chở súng) và kỵ binh của giặc.

3. Thực hành vườn không nhà trống. Thực hành vườn không nhà trống để làm cho quân giặc không có cơm ǎn, không có đồ dùng, không tìm được người làm phu.

4. Hô hào dân chúng tham gia vào việc đánh giặc. Muốn chống lại quân giặc, một sức đội du kích không đủ, phải hô hào dân chúng hết sức tham gia vào việc đánh giặc, như phá đường sá, cầu cống,

cắt dây thép, làm vườn không nhà trống, do thám tình hình giặc, canh phòng, chuyên chở đồ đạc, đưa đón người bị thương; tiến lên một bước nữa, dân chúng có thể tổ chức những đội vũ trang giúp sức đội du kích đánh giặc, giết giặc.

5. Lúc quân giặc tiến vào cǎn cứ địa mình, mình đánh phá đằng sau chúng. Lối đánh này cốt để cắt đứt sự liên lạc của giặc với nơi cǎn cứ của chúng. Phải phá đường sá, cầu cống, cắt dây thép, đánh úp đội vận tải, đánh úp quân cứu viện của giặc.

6. Dùng lối đánh chim sẻ hay lối đánh người Mán. Lúc quân giặc kéo vào cǎn cứ địa chúng ta, chúng ta phái đội viên du kích tản mát ra như một đàn chim sẻ, nấp hai bên đường, sau các mỏm núi, chỗ một người, cách nhau khá xa, rồi cứ nhằm vào hàng ngũ quân giặc, nhất là bọn quan mà bắn. Lối đánh chim sẻ này quyết không thắng được quân giặc, nhưng cũng làm cho chúng hao tổn và rối loạn, muốn chống lại cũng không biết đâu mà chống, rút cục chúng phải lùi.

Ví dụ: ở Hoa Bắc, một lần quân Nhật chia 6 đường đánh vào phía nam Chính Thái bị quân du kích Tàu dùng lối đánh “chim sẻ” bắn giết nhiều quá đến nỗi phải rút lui.

cpv.org.vn

———————————

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.

Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Advertisements