Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Thư gửi một đồng chí ở Quốc tế Cộng sản (6-6-1938)

Đồng chí thân mến,

Hôm nay là ngày kỷ niệm lần thứ bảy việc tôi bị bắt giữ ở Hồng Công. Đó cũng là ngày mở đầu nǎm thứ tám tình trạng không hoạt động của tôi. Nhân dịp này, tôi viết thư gửi đồng chí để xin đồng chí giúp đỡ tôi thay đổi tình cảnh đau buồn này.

Đồng chí hãy phân tôi đi đâu đó. Hoặc là giữ tôi ở lại đây. Hãy giao cho tôi làm một việc gì mà theo đồng chí là có ích. Điều tôi muốn đề nghị với đồng chí là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng.

Tôi sẽ rất biết ơn đồng chí, thưa đồng chí thân mến, cho phép tôi được hội kiến. Tôi tin rằng như vậy sẽ tốt hơn. Đã từ lâu rồi đồng chí không gặp tôi.

Đồng chí thân mến, xin đồng chí nhận lời chào cộng sản anh em của tôi.

6-6-1938
LIN
(Nguyễn Ái Quốc)

——————————

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Thư từ Trung Quốc (2-1939)

Quế Lâm, cuối tháng 2

Các bạn thân mến,

Hãy thứ lỗi cho tôi vì không viết thư được thường xuyên cho các bạn. ở đây, chúng tôi bận đến mức là chúng tôi muốn được như Đức Phật nghìn tay – hay ít ra cũng phải như thế thì tôi mới có đủ tay để làm hết mọi việc cần làm.

Tôi muốn nói với các bạn về tình hình chính trị trong tháng này.

Sự biến chính trị quan trọng nhất là kỳ họp của Hội đồng chính trị quốc gia. Chắc các bạn đã nghe nói đến cái cơ quan mới được thiết lập ấy ít lâu sau khi bắt đầu có chiến tranh. Đó cũng là một món quà gián tiếp mà bọn phát xít Nhật đã tặng chúng tôi. Hội đồng là một thứ tiền Nghị viện. Việc thành lập Hội đồng này là một bước tiến tới nền dân chủ hoàn toàn. Và chúng tôi đang tiếp tục tiến lên trên con đường đó.

Kỳ họp được tiến hành vừa qua là kỳ thứ ba. Khi khai mạc, người ta chú ý đến một sự vắng mặt, đó là sự vắng mặt của Uông Tinh Vệ, cựu Chủ tịch của Hội đồng. Người ta ai cũng “tiếc” kẻ vắng mặt, ở chỗ là hắn không chịu cút đi sớm hơn. Bầu không khí lẽ ra đã sớm được trong sạch hơn và những hoạt động vô ích lẽ ra cũng tránh được. Đối với tên quỷ sứ khốn kiếp ấy thì làm Chủ tịch Hội đồng chính trị quốc gia của nước Trung Hoa – một nước Trung Hoa chiến đấu anh dũng và không ngừng tiến bộ – cũng chưa đủ. Hắn còn muốn làm người “cầm lái” một nước Trung Hoa bị ô nhục và biến thành thuộc địa của phát xít Nhật. Thật là “điều kỳ quặc” đáng buồn biết bao! May thay, hắn không còn là Chủ tịch Hội đồng nữa và cũng không bao giờ có thể làm người “cầm lái” nước Trung Hoa nữa; giờ đây, hắn chỉ là tên phản bội số 1 bị toàn dân cǎm ghét và lên án. Thôi cứ để cho quỷ tha ma bắt hắn đi! Chúng ta hãy nói về những việc quan trọng hơn.

Như vậy là Hội đồng chính trị quốc gia đã họp vào ngày 12-2-1939. Kỳ họp này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Trung Quốc. Kỳ họp đã được tiến hành sau hai cuộc hội nghị rất quan trọng của hai chính đảng lớn của nước chúng tôi: Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Trong các nghị quyết của Hội nghị lần thứ 6 của Đoàn Chủ tịch Đảng Cộng sản có nói: “Nhiệm vụ chủ yếu của nhân dân Trung Quốc là kiên quyết tiến hành chiến tranh, một cuộc chiến tranh lâu dài, phát triển và củng cố Mặt trận dân tộc chống Nhật, nhằm khắc phục mọi khó khǎn, tǎng cường các lực lượng của chúng ta, chặn đứng bước tiến của quân thù, chuyển sang phản công, cuối cùng là đuổi bọn xâm lược ra khỏi đất nước chúng ta và tổ chức lại nước Trung Hoa – một nước Trung Hoa tự do, độc lập và hạnh phúc, theo chủ nghĩa tam dân”. (Tháng 10-1938).

Hội nghị lần thứ 5 của Đoàn Chủ tịch Quốc dân đảng (cuối tháng 1-1939) đã tuyên bố: “Từ nay, nhiệm vụ chúng ta càng nặng nề và khó khǎn hơn. Để đập tan những cố gắng cuối cùng nhưng là những cố gắng tuyệt vọng nhất của kẻ thù hung bạo, nhân dân ta đang phải góp hết sức mạnh tinh thần và vật chất vào việc tǎng cường đoàn kết, tích cực đấu tranh và xây dựng đất nước. Để làm tròn những nhiệm vụ đó, phải nâng cao tinh thần dân tộc và tǎng cường kỷ luật cách mạng”.

Trong bài diễn vǎn của mình đọc tại Hội nghị Đoàn Chủ tịch Quốc dân đảng, Thống chế Tưởng Giới Thạch nói: “Hiện nay nếu có cái tư tưởng khờ dại muốn nhân nhượng kẻ thù để mong đạt tới một nền hoà bình mơ hồ thì sẽ rơi vào cạm bẫy, sẽ đi đến diệt vong!”.

Trong bài diễn vǎn của mình đọc tại Hội nghị Đoàn Chủ tịch Đảng Cộng sản, ông Mao Trạch Đông nói: “Chúng ta hãy đề cao lòng tự tin và tự trọng của nhân dân ta. Chúng ta phải kiên quyết đấu tranh đến cùng. Chúng ta phải đả phá không chút thương xót chủ nghĩa thất bại và chủ nghĩa bi quan. Phải triệt để chống lại mọi khuynh hướng thoả hiệp và đầu hàng kẻ thù”.

Tôi dẫn các đoạn trích trên đây để chỉ ra cho các bạn thấy rằng kỳ họp lần thứ 3 của Hội đồng chính trị quốc gia đã họp vào lúc quan niệm thì thống nhất và sự hợp tác thì đã chặt chẽ giữa các đảng chủ yếu của chúng tôi trong Mặt trận dân tộc chống Nhật. Kỳ họp đã diễn ra giữa lúc những khuynh hướng thất bại chủ nghĩa và đầu hàng mà tiêu biểu là Uông Tinh Vệ – bọn này đã ngóc đầu dậy khi Quảng Châu và Hán Khẩu thất thủ – đã bị hoàn toàn tiêu diệt bởi tinh thần đoàn kết và quyết tâm của nhân dân.

Kỳ họp đã được tiến hành dưới sự chủ toạ của Thống chế Tưởng Giới Thạch. Vị Chủ tịch mới đã đọc hai bài diễn vǎn quan trọng. Tiếc rằng vì không có thời giờ nên tôi không thể trích để giới thiệu với các bạn được. Trong khi bế mạc kỳ họp, ông Chủ tịch đã khen ngợi sự đoàn kết chặt chẽ và tinh thần hợp tác anh em giữa các thành viên trong Hội đồng. Đoàn kết và hợp tác, ông nói – làm cho nhân dân càng tǎng thêm lòng tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng. Rồi ông nhấn mạnh một lần nữa đến các nhiệm vụ của Hội đồng, của Chính phủ và của nhân dân. Sứ mạng lịch sử của Hội đồng là đặt cơ sở vững chắc cho một nền dân chủ không thể thiếu được đối với việc động viên và tổ chức nhân dân. Đến lượt chúng ta, động viên và tổ chức nhân dân là điều cần thiết để giành thắng lợi cuối cùng và để xây dựng lại đất nước. Đánh đuổi bọn xâm lược, diệt trừ những tên phản bội, nâng cao sự hiểu biết về chủ nghĩa tam dân – đó là những nhiệm vụ chung và trước mắt của chúng ta. Để làm tròn những nhiệm vụ ấy, cần có sự đoàn kết giữa Hội đồng, Chính phủ và nhân dân. ý nghĩa những bài diễn vǎn đó đại khái là như vậy.

Kỳ họp đã kéo dài 10 ngày. Trong thời gian ấy, các đại biểu đã vạch ra và thảo luận 86 dự án và kiến nghị, trong đó có 19 dự án và kiến nghị thuộc những vấn đề về quân sự, 18 về kinh tế và tài chính, 17 về giáo dục nhân dân, 3 về ngoại giao, 28 về nội trị, 3 về những vấn đề khác.

Các bạn thấy rằng các đại biểu của chúng tôi đã làm việc không phải là tồi. Cần chú ý là trong số đó có một vài dự án đã được đưa ra thực hiện ngay từ hôm nay vì lợi ích cuộc đấu tranh của chúng tôi chống bọn xâm lược, cuộc đấu tranh mà trong thư sau tôi sẽ nói với các bạn.

P.C. LIN

————————-

Báo Notre Voix, ngày 9-4-1939
cpv.org.vn

Thư từ Trung Quốc

Quế Lâm, đầu tháng 3

Các bạn thân mến,

Hôm nay, tôi sẽ nói với các bạn về tình hình quân sự.

Trước khi đề cập chủ đề này, tôi muốn biết xem có khi nào các bạn thấy một chiếc tàu thuỷ bị mắc cạn trên một bãi cát hoặc một đầu máy xe lửa bị trật khỏi đường ray không ? Chắc có chứ! Như vậy là tôi dễ nói để các bạn rõ về tình hình quân sự của kẻ xâm lược chúng tôi. Ai cũng biết rằng quân đội Nhật Bản được cơ giới hoá cao. Càng có nhiều sông lớn và nhiều đường ray thì nó càng tiến nhanh. Nhưng ra khỏi những vùng đó thì nó không làm được trò trống gì. Ngày nay, nó đang bị mắc cạn, đang bị trật đường ray. Tệ hơn nữa, nó đang bị sa lầy, cơ giới của nó đang mất hết tác dụng và trở thành bất lực. Ngày nay, đến lượt chúng tôi tiến công. Để chứng minh điều đó, xin kể dưới đây vài sự việc và con số.

(Tất cả những sự việc và con số nêu lên đều được trích từ các bản thông cáo chính thức).

BẢN TIN PHÁT ĐI TỪ CẨM CHÂU, ngày 7-2-1939:

Trong tháng 1, tại vùng Sơn Đông, Hồ Nam và An Huy, chúng ta đã đánh 266 trận với quân thù đông tới 56.920 tên. Kết quả: 12.354 tên Nhật bị giết và chúng ta đã bắt được:

536 tù binh,

243 súng đại liên,

3.650 súng trường,

103.487 viên đạn,

22 đại bác,

1.134 đạn trái phá,

312 súng phóng bom,

2.008 lựu đạn và chúng ta đã phá được 7 chiếc xe
bọc thép

BẢN TIN PHÁT ĐI TỪ MÃ ĐIẾM, ngày 14-2-1939:

Du kích của chúng ta trong vùng Bắc Hồ Nam và Nam Hồ Bắc mới chiếm lại được sáu huyện: Hoàng Châu 1 , Kothi, Koung shan, Loohan, Kinfon và Suongsing.

BẢN TIN PHÁT ĐI TỪ LẠC DƯƠNG 2 , ngày 16-2-1939:

Từ trung tuần tháng 11-1938, quân địch đã tập trung khoảng 10.000 người để “càn quét” du kích miền Nam, miền Trung và Hồ Bắc. Suốt 3 tháng (tháng 11, tháng 12 và tháng 1), chúng ta đã đánh trên 150 trận. Quân địch bị giết và bị thương đến 3.100 tên (Nhật và người Mãn Châu).

Chúng ta đã bắt được:

1.200 tù binh,

980 súng trường,

11 đại liên,

1 đại bác,

8 ôtô,

62 con ngựa.

Chúng ta đã phá huỷ được 37 ôtô, 15 xe bọc thép và 2 xe tǎng. Tổn thất của ta gồm 1.700 người bị giết, bị thương và bị thất lạc. Chiến dịch “càn quét” do quân địch tiến hành từ 3 tháng nay đã bị hoàn toàn bẻ gẫy.

BẢN TIN PHÁT ĐI TỪ NAM DƯƠNG, ngày 24-2-1939:

Trong cuộc tiến công vào Licolin, phía tây tỉnh Sơn Tây, quân địch đã bị tổn thất trên 2.000 tên bị giết và bị thương, một đại tá và một trung tá Nhật đã bị giết. Chúng ta đã thu được trên 600 lừa và ngựa.

BẢN TIN PHÁT ĐI TỪ LẠC DƯƠNG, ngày 25-2-1939:

Từ ngày 17-2 chúng ta đã bắt đầu tiến công vào Sangxinai, phía tây tỉnh Hồ Nam. Trận chiến đấu ác liệt đã diễn ra suốt trong 3 ngày. Sau khi 700 tên bị diệt, quân địch tan rã đã chạy trốn. Trong khi truy kích, chúng ta đã diệt thêm 300 tên Nhật khác. Đó là thắng lợi lớn nhất của chúng ta trong vùng này từ hai tháng vừa qua.

Trong dịp Tết Nguyên đán Trung Quốc, du kích đã thình lình tiến công và chiếm lại được Tienchachin, cách Hán Khẩu không xa. Trong trận đánh, khoảng 1.000 tên Nhật đã bị giết.

BẢN TIN PHÁT ĐI TỪ TRÙNG KHÁNH, ngày 8-3-1939:

Tổng kết về quân sự của chúng ta trong nửa sau của tháng 2:

Tại Sơn Tây – đánh 203 trận, 13.221 tên Nhật bị diệt. Ta bắt và thu được:

564 tù binh,

540 con ngựa,

1.589 súng trường,

52 đại liên,

3 đại bác,

96 xe bọc thép,

1.231 đạn trái phá.

Tại Hồ Nam – đánh 46 trận diệt 2.020 tên Nhật. Ta bắt và thu được:

5 tù binh,

31 con ngựa,

189 súng trường,

8 đại liên,

9 xe bọc thép,

1.200 viên đạn.

Tại Honai, Sát Cáp Nhĩ, Sóc Châu, và Sơn Đông: đánh 75 trận, diệt 3.400 tên Nhật. Ta bắt và thu được:

100 tù binh,

149 con ngựa,

291 súng trường,

20 đại liên,

6 đại bác,

43 ôtô,

3.000 viên đạn.

Tại Hồ Nam, Hồ Bắc và Quảng Tây: đánh 56 trận, diệt 1.475 tên Nhật. Ta bắt và thu được:

28 tù binh,

28 con ngựa,

190 súng trường,

9 đại liên,

4 đại bác,

9 ôtô,

110 lựu đạn.

Tại Triết Giang – đánh 16 trận, diệt 117 tên Nhật. Ta bắt và thu được:

2 tù binh,

26 súng trường,

11 đại liên.

Tại Quảng Đông – đánh 8 trận, diệt 668 tên Nhật. Chúng ta thu được 3 súng trường.

Ngoài ra, chúng ta còn đánh đắm 6 tàu thuỷ của Nhật, phá huỷ 267 kilômét đường ray và hạ 2 chiếc máy bay trên cầu.

Ngày 10-2, phi công của ta đã ném bom xuống sân bay Wansing, phía nam tỉnh Sơn Tây, phá huỷ 11 máy bay địch.

Ngày 20-2, 30 máy bay địch đến ném bom xuống Lan Châu.

Ta đã hạ được 9 chiếc. Ba hôm sau, chúng lại đến với 20 máy bay. Chúng ta đã hạ được 6 chiếc.

Theo các báo xuất bản ở Hồng Công, từ tháng 10-1937 đến tháng 11-1938, số người Nhật bị giết và bị thương là 600.080.

Ngày 20-1-1939, tổng hành dinh Nhật tuyên bố rằng, từ khi bắt đầu chiến tranh đến ngày 30-12-1938, Nhật Bản mất 1.010 máy bay, trong đó 221 chiếc bị hạ và 179 chiếc bị phá huỷ bởi không quân Trung Quốc, 107 chiếc bị lục quân phá huỷ và 11 chiếc do hệ thống phòng không Trung Quốc hạ, 19 chiếc bị bắt buộc phải hạ cánh và 17 chiếc bị mất tích. Ngoài ra, còn có 365 chiếc bị thiệt hại do những nguyên nhân khác nhau.

Những con số đó hoàn toàn ǎn khớp với những bản tin của Trung Quốc. Từ ngày 1-1 đến 25-2, chúng tôi đã hạ được 28 máy bay của địch. Như vậy, tổng cộng lại, bọn Nhật đã mất 1.038 máy bay.

Xin lỗi các bạn vì tôi đã nhồi nhét các bạn với bấy nhiêu con số. Song là “những con số hùng hồn” như người Pháp vẫn nói. Chúng hùng hồn hơn bất cứ một sự mô tả nào khác mà tôi có thể làm được.

Các bạn sẽ nói: được, nhưng người Trung Quốc cũng bị tổn thất, những tổn thất lớn nữa là khác. Chúng tôi không hề giấu giếm điều đó. Chúng tôi xin thành thực nói với các bạn. Chúng tôi thành thật nói là khi bắt đầu chiến tranh, phía Trung Quốc có 5 người chết thì phía Nhật Bản có 1 người chết. Ngày nay, trên mặt trận chính quy, tổn thất hai bên ngang nhau, bên phía Trung Quốc 1 người chết, phía Nhật Bản cũng 1 người chết. Nhưng “trên mặt trận du kích”, chẳng hạn ở Sơn Đông và ở Hồ Bắc, trung bình 4,5 người Nhật bị giết, trong khi phía Trung Quốc 1 người bị giết, còn ở Sơn Tây, cứ 14 người Nhật bị giết thì phía Trung Quốc có 1 người bị giết.

Các bạn sẽ nói: Cường điệu. Tin hay không, tuỳ ý các bạn (1). Nếu các bạn biết anh em du kích đã chiến đấu như thế nào, hẳn các bạn sẽ không chút lấy làm lạ về những con số trên đây. Trong một bức thư sau, có lẽ tôi sẽ có dịp nói với các bạn nhiều hơn về vấn đề này. Trong khi chờ đợi, chỉ cần nói với các bạn rằng anh em du kích chúng tôi đánh giặc chủ yếu là bằng mưu mẹo và sự bất ngờ. Nếu khi họ thấy chưa chắc thắng được kẻ địch thì họ chưa đánh. Một tên tư lệnh Nhật đã nói một cách chua chát rằng nói đến du kích là làm cho hắn đau đầu. Hắn còn thêm rằng “bọn người Trung Quốc đó không biết tiến hành chiến tranh như những người vǎn minh. Chúng tiến công khi người ta bất ngờ nhất. Khi người ta đi tìm chúng, thì không thấy chúng đâu cả!”. Đúng như vậy. Nhưng nếu bọn Nhật muốn quân du kích đánh giặc như những “người vǎn minh” bằng cách dùng giáo mác và súng trường để chọi với xe tǎng và đại bác thì chúng có thể cứ chờ đó. Chúng tôi không đến nỗi ngu ngốc như thế!

Hôm nay, tôi đã nói chuyện khá nhiều rồi. Vậy xin tạm biệt các bạn thân mến, và hẹn đến thư sau.

P.C. LIN

——————————

Báo Notre Voix, ngày 16-4-1939
cpv.org.vn

Chủ nghĩa anh hùng của công nhân Trung Quốc trong chiến tranh chống Nhật

CUỘC BÃI CÔNG YÊU NƯỚC

Trong chiến tranh chống Nhật, công nhân Trung Quốc là những người yêu nước ưu tú nhất, trong vùng Mãn Châu những người thất nghiệp và công nhân đều được tuyển mộ hàng loạt vào quân đội nhân dân. Công nhân mỏ biến thành du kích. Hàng ngày, anh em công nhân đường sắt, không sợ nguy hiểm đến tính mệnh, đã hợp sức với các lực lượng chống Nhật để cướp đoạt vũ khí và làm trật bánh những đoàn tàu của địch.

Ngay từ khi bọn Nhật bắt đầu xâm chiếm vùng Hoa Bắc, đã có hai trǎm nghìn công nhân, viên chức làm việc trong các công xưởng và các hãng Nhật ở Thượng Hải tham gia cuộc bãi công yêu nước. Các thuỷ thủ đã từ chối không chịu làm việc trên những tàu thuỷ chuyên chở hàng hoá của Nhật Bản. Những người thợ rèn thì lao động suốt ngày đêm để cung cấp mã tấu cho quân đội. Với đồng lương ít ỏi của mình, anh em công nhân Trung Quốc làm việc ở nước ngoài đã chịu thiếu thốn mọi thứ để góp tiền mua công trái, gửi thuốc men về các bệnh viện dã chiến cho quân đội, và gửi những thanh niên tình nguyện về nước để bảo vệ Tổ quốc.

Đằng sau phòng tuyến của quân thù và trên hai bên bờ sông Dương Tử, hàng nghìn và hàng triệu công nhân Hán Khẩu và Thượng Hải đã chiến đấu anh dũng. Trong tỉnh Hồ Bắc, 7.000 công nhân mỏ ở Hân Định đã được tổ chức thành những đội du kích. Câu chuyện về những người công nhân – du kích ở Hân Định là lý thú nhất.

TỔ CHỨC NHAU NHƯ THẾ NÀO?

Mỏ Hân Định nằm trên tuyến đường sắt Thái Nguyên – Hân Định. Mỗi ngày, các mỏ đó sản xuất khoảng 20.000 tấn than đá loại tốt. Trên 5.000 công nhân và nhân viên kỹ thuật người nước ngoài làm việc tại các mỏ này.

Bọn Nhật coi việc chiếm đóng mỏ Hân Định như chiếm được một miếng mồi béo bở. Với chính sách khoan dung giả dối, chúng tìm cách mua chuộc công nhân bằng cách tổ chức bán lương thực, thực phẩm cho họ với giá rẻ. Nhưng công nhân không để bị mắc vào thủ đoạn giả nhân giả nghĩa của bọn Nhật. Họ muốn đấu tranh nhưng không biết tổ chức cuộc đấu tranh, vì thiếu kinh nghiệm. “Hội công nhân cứu quốc Sơn Tây” thấy rõ tình hình đó. Hội muốn phái những nhà tổ chức đến các mỏ nhưng không thực hiện được vì bọn Nhật kiểm soát quá chặt chẽ. Ra sức tìm mãi, cuối cùng Hội mới kiếm được hai người công nhân quê ở Hân Định là: Tso-lung và Viou-hou. Người thứ nhất là một công nhân già trước kia đã ở trong quân đội. Người thứ hai là một người thất nghiệp. Sau khi được huấn luyện vài bài về chiến thuật và được cung cấp một khẩu súng trường, họ trở về Hân Định, và mỗi người bắt đầu tiến hành cuộc đấu tranh theo quan điểm của mình.

LÚC BẮT ĐẦU HỌ GỒM CÓ BẢY NGƯỜI…

Viou-hou mở đầu bằng việc đi tìm người cộng tác. Anh đã nhanh chóng tìm được một cựu lãnh tụ của phong trào nông dân và nǎm công nhân trẻ… Với đội quân bé nhỏ đó, anh bắt đầu đánh giặc. Đêm nào cũng vậy, Viou và các đồng chí của mình đều đi vòng quanh các nẻo và các nhà ga xe lửa. Đến mỗi nơi, họ bắn vài phát súng trường. Bọn Nhật tưởng có nhiều du kích tiến công chúng nên chúng dùng đại liên bắn trả lại hàng tràng dài. Chúng bắn vu vơ trong đêm tối, chứ không thấy gì hết. Hai hoặc ba giờ sau – vừa đúng với thời gian cần thiết để Viou và các đồng chí của anh lại đi từ địa điểm này sang địa điểm khác – cuộc chơi lại bắt đầu.

VÀ BỌN NHẬT NGÀY CÀNG TRỞ NÊN MỆT MỎI

Kết quả đầu tiên của những phát súng bắn ban đêm là đã làm cho bọn Nhật bị báo động suốt đêm, nên ban ngày vì quá mệt mỏi chúng không thể đi quấy nhiễu dân làng được nữa. Do đó, tiểu đội của Viou tranh thủ được cảm tình và lòng biết ơn của nông dân là những người đã nguyện sẽ ủng hộ anh đến cùng.

Được quần chúng tin yêu, Viou ngày càng mở rộng phạm vi hoạt động của mình. Bí mật và kiên trì, anh tổ chức nông dân thành những đội tự vệ và phái họ đi phá hoại các đường giao thông. Nông dân đã làm công việc đó một cách rất tích cực và đầy nhiệt tình. Hễ có một hiệu lệnh đưa ra là đàn ông, phụ nữ và thậm chí cả trẻ con nữa đều tề tựu với cuốc, xẻng trong tay; và chỉ trong thời gian chớp nhoáng, hàng trǎm mét đường sá đã trở thành vô dụng. Đôi lúc sau khi phá huỷ được một đoạn đường sắt, nông dân liền mang những thanh ray vào tận trong núi để dùng vào việc rèn vũ khí. Dĩ nhiên là tất cả những công việc đó đều được tiến hành trong đêm tối.

Dưới sự chỉ đạo của Viou, nông dân còn tổ chức những cuộc phục kích làm trật bánh các đoàn tàu, tiến công bọn Nhật và đã thu được chiến lợi phẩm. Những trận thắng đó càng khuyến khích những người du kích mới, họ bảo nhau rằng: “Bọn quỷ Nhật Bản đó không đến nỗi đáng ghê sợ như vậy. Chúng ta có thể đánh bại chúng!”.

ĐỒNG MINH XƯƠNG MÁU VÀ SẮT THÉP

Hoạt động của họ giờ đây nhằm vào việc trừ bỏ bọn phản bội. Một buổi sáng nọ, người ta thấy Lam-te-sou, một trong những tên thân Nhật có nhiều thế lực nhất và tích cực nhất đã bị treo cổ trên cây. Bên cạnh có một bản tuyên cáo tội phản quốc của hắn. Dưới bản tuyên cáo ký tên: “Đồng minh xương máu và sắt thép diệt trừ bọn phản bội”. Vụ xử tên Lam-te-sou đã có tác dụng lớn. Từ hôm đó, bọn phản bội và mật vụ không dám ló mặt ra như trước nữa và do đó công tác bí mật của những người yêu nước càng được thuận lợi.

TSO-LUNG LẠI CÓ MỘT PHƯƠNG PHÁP KHÁC

Tso-lung bắt đầu công việc của mình theo một hướng khác và bằng một phương pháp khác. Trong khi Viou-hou bắt đầu hoạt động trong nông dân, thì Tso-lung lại bắt đầu hoạt động trong công nhân; Viou-hou bắt đầu bằng việc cổ động, còn Tso-lung thì bắt đầu bằng công tác tổ chức. Ngay sau khi trở về Hân Định, Tso liền vào ngay các mỏ, bác tìm được nǎm đồng chí và tổ chức một kho vũ khí. Vũ khí thì bọn Nhật không thiếu gì. Anh em công nhân cũng biết rõ cả và trong đêm tối thì còn biết rõ hơn cả bọn Nhật, nơi cất những vũ khí đó. Chỉ trong thời gian hai tháng, Tso đã có trong kho mình 200 khẩu súng trường, 1.200 lựu đạn, trên 26.000 viên đạn; 18 súng phóng lựu đạn và súng liên thanh, 1 máy vô tuyến điện, 3 máy điện thoại và những dụng cụ khác. Bọn Nhật tuy thấy rõ là vũ khí bị mất, nhưng chúng không biết ai lấy trộm và cất giấu ở đâu.

BỌN NHẬT ĐI TÌM NHỮNG VŨ KHÍ Ở KHẮP NƠI

Số đội viên du kích của Tso ngày càng tǎng. Ban đêm, họ là du kích diệt Nhật cướp vũ khí – thậm chí họ tìm cách đánh cắp được cả sơn pháo! Ban ngày, họ trở lại làm công nhân mỏ, ngoan ngoãn nhất và hiền lành nhất thế giới. Bọn Nhật đi tìm kiếm du kích ở khắp nơi, trừ các mỏ. Chúng có nghe nói đến Tso và ráo riết đi tìm bác ta. Nhưng Tso, mặt đầy bụi than, tay xách đèn; vai vác cuốc vẫn ung dung đi từ mỏ này sang mỏ khác, qua lại một cách bình tĩnh trước con mắt bọn hiến binh Nhật, nhưng chúng không nhận ra bác.

NƠI NÀY MỘT LỜI NƠI KIA MỘT LỜI

Tso bận trǎm công nghìn việc, nào tổ chức những công nhân mỏ, nào đi cổ động trong đám binh sĩ người Mãn Châu và tuyên truyền trong bọn lính Nhật. Dưới sự chỉ đạo của bác, mỗi người thợ mỏ trở thành một cổ động viên và một tuyên truyền viên. Người ta đối xử với binh sĩ Mãn Châu như với bạn bè thân thiết nhất. Chỉ trong khi chuyện trò bình thường và thân mật, người ta mới đưa ra nơi này một lời, nơi kia một lời để khêu gợi lòng nhớ quê hương và thức tỉnh tinh thần yêu nước của họ. Công tác cổ động ấy chẳng bao lâu đã mang lại kết quả. Tháng 2-1938, sáu chục người Mãn Châu trong vùng mỏ đã nổi dậy, sau khi diệt 12 lính và một sĩ quan Nhật, họ đi theo du kích, mang theo 2 súng liên thanh và 30 súng trường. Sau đó không lâu, 35 hiến binh Mãn Châu cũng làm như thế. Họ chạy về phía chúng tôi sau khi đã diệt 21 tên lính và một sĩ quan Nhật.

Với binh lính Nhật, người ta tuyên truyền bằng cách phát cho chúng những truyền đơn chống phát xít và chống chiến tranh, cốt làm nản lòng chúng. Có tên đã tự tử.

Hai phong trào đó phối hợp với nhau, một từ phía nông dân do Viou-hou tổ chức và phong trào kia từ phía công nhân do Tso-lung tổ chức – hình thành nên một phong trào mạnh mẽ của du kích vùng mỏ. Những đội du kích này cộng tác chặt chẽ với quân đội chính quy chúng tôi và với du kích ở Hồ Bắc và Sơn Tây. Bởi vậy, không có ngày nào là các mỏ không bị tấn công, hoặc nơi này hoặc ở nơi kia.

ĐÓ LÀ MỘT ĐÊM…

Có một lần, đó là đêm 8-2-1938, một phân đội của Bát lộ quân quốc gia cách mạng do đại uý Tsang chỉ huy, bất ngờ đi thǎm các mỏ. Khi đến đầu vùng này, đại uý được anh em công nhân đón chờ và dẫn thẳng về phía thành Hân Định. Những chiếc thang dây đã được chuẩn bị sẵn sàng nên các chiến sĩ trèo qua tường một cách dễ dàng. “Cu cu… cu!”, một con gà trống gáy đâu đây, và thế là thành phố bỗng tối om, nhờ sự chǎm lo của anh em công nhân, nên điện tắt, máy điện thoại bị cắt, đường sá bị chặn lại.

NHỮNG TIẾNG HÔ CHIẾN ĐẤU LÀM RUNG CHUYỂN CẢ THÀNH PHỐ NHỎ

Những tiếng hô chiến đấu làm rung chuyển khắp thành phố nhỏ. Bọn Nhật lâm vào tình trạng hỗn loạn. Được sự hướng dẫn của anh em công nhân, các chiến sĩ đã tiến hành có kế hoạch việc di chuyển các kho vũ khí và trinh sát sở chỉ huy Nhật Bản. Công việc xong xuôi, họ rút lui một cách rất lặng lẽ.

MỘT CƠN BÃO LỬA SÚNG LIÊN THANH

Mặc dù hết sức bí mật, nhưng cuối cùng bọn Nhật cũng biết rằng anh em công nhân đã biến thành du kích và bộ tổng tư lệnh của họ đóng trên một trong những ngọn núi. Thế là chúng điều 200 binh sĩ đi “phá cái tổ du kích”. Anh em công nhân đã được những công nhân khác báo cho biết trước, nên tất cả đều được chuẩn bị kỹ để đối phó với cuộc tiến công. Vừa đến lưng chừng đồi, bọn Nhật gặp phải một cơn bão lửa súng liên thanh buộc chúng phải chạy tán loạn.

Một tuần sau, những người công nhân du kích chuyển sang phản công. Bọn lính Nhật đang tập bắn cách thành Hân Định 7 kilômét. Chúng bỗng nghe tiếng súng liên thanh nổ sau lưng chúng, từ phía núi… đó là anh em công nhân. Bị đánh bất ngờ, bọn Nhật chạy trốn tán loạn, du kích thu được nhiều súng đạn.

THẾ LÀ NỔ RA CUỘC CHIẾN TRANH CÔNG KHAI THỰC SỰ

Như vậy là bùng nổ cuộc chiến tranh công khai thật sự giữa bọn Nhật và anh em công nhân ở Hân Định. Và chính anh em công nhân đã thắng, vì bọn Nhật không còn có thể khai thác các mỏ được nữa, và “miếng mồi béo bở” trở thành một gánh nặng thật sự đối với chúng.

CÂU CHUYỆN MỘT KỸ SƯ ĐỨC

Một nét khác đáng chú ý về tổ chức du kích vùng Hân Định là ở chỗ nó hình thành một mặt trận chống Nhật có tính chất quốc gia và quốc tế. Quốc gia, vì có một sự hợp tác chặt chẽ giữa ban giám đốc các mỏ và công nhân mỏ, giữa công nhân và nông dân, giữa du kích và quân đội chính quy. Quốc tế, vì có một sự cộng tác chặt chẽ giữa người Trung Quốc và người nước ngoài. Nhưng người nước ngoài là nhân viên kỹ thuật, nói riêng là viên tổng công trình sư người Đức, đã giúp nhiều cho du kích. Và đó là điều ai cũng biết. Sự cộng tác ấy đã được hình thành như sau: từ hơn ba chục nǎm nay, viên kỹ sư đã sống ở Trung Quốc. Ông rất nhiệt tình đối với người Trung Quốc và có một mối thù cá nhân sâu sắc đối với bọn Nhật. Mối thù này là do thú tính của bọn Nhật gây ra. Đã nhiều lần, người vợ viên kỹ sư bị bọn Nhật chửi mắng. Một hôm, trong khi bà đang tắm, một tên Nhật lẻn vào phòng… Bà vùng chạy ra bao lơn. Hắn đuổi theo bà ra đấy, và chỉ khi bà chĩa súng lục vào hắn, hắn mới chịu để cho bà yên. Từ đó, cả hai vợ chồng đều đứng hẳn về phía người Trung Quốc là những người – như viên kỹ sư đã nói – đang đấu tranh anh dũng, không chỉ vì nền độc lập của đất nước mình mà còn vì tất cả nền vǎn minh nữa.

P.C.LIN

—————————-

Báo Notre Voix, ngày 30-4-1939
cpv.org.vn

Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ III)

(BGĐT)- Diễn biến giành chính quyền ở các huyện. Tại Việt Yên, ngày 18-7-1945 du kích của huyện Việt Yên và phủ Yên Thế đột nhập phá nhà máy đúc gang Bạc Sơn, xã Tiên Sơn, thu 9 súng, 3 máy chữ, chia 25 tấn thóc cho dân.

Mít tinh Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 (Ảnh: Tư liệu).

Tại Yên Thế, sau khi phủ lỵ và đồn Bố Hạ bị ta tước vũ khí, Nhật điên cuồng chống phá phong trào cách mạng. Tỉnh uỷ quyết định trừng trị tri phủ Yên Thế- Tưởng Văn Trang để cảnh cáo những tên phản động khác. Ngày 15-7-1945, đồng chí Hà Thị Quế, Tỉnh uỷ viên phụ trách phủ Yên Thế liền cử một đội vũ trang tuyên truyền phục kích bắt  tri phủ và những tên còn lại. Ngày 17 và 18-7-1945, tự vệ Yên Thế đã thu 20 súng, 2 máy chữ ở Phủ Yên Thế. Bộ máy chính quyền tay sai của Nhật ở Yên Thế hoàn toàn tan rã.

Tại Lục Ngạn, thấy điều kiện khởi nghĩa ở địa phương đã chín muồi, đêm 17-7-1945, đồng chí Nguyễn Thanh Bình- phụ trách Lục Ngạn đã triệu tập một cuộc họp ở làng Đọ bàn kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị quyết định khởi nghĩa giành chính quyền phủ Lục Ngạn vào sáng  ngày 18-7-1945. Ngay đêm 17-7-1945, gần 400 tự vệ khu Gàng, Rùm, Quỷnh, Sơn Đình, Tam Rỵ, Chu Điện, Đọ và phố Lục Nam được huy động bao vây phủ và phá cầu Mẫu Sơn, chặn quân tiếp viện của địch đóng ở cầu Lồ. Sáng 18-7-1945, tự vệ võ trang tiến vào phủ đường Lục Ngạn. Tri phủ Vũ Phạm Hổ đã ra hàng, xin nộp dấu ấn, sổ sách cho Việt Minh. Ngày 20-7-1945, ta tổ chức mít tinh mừng phủ Lục Ngạn được giải phóng. Uỷ ban dân tộc giải phóng phủ đã ra mắt toàn dân.

Tại Yên Dũng, ngày 20-7-1945, đội tự vệ Song Khê (phủ Lạng Giang) do đồng chí Ninh Văn Phan chỉ huy phối hợp với lực lượng tự vệ An Tràng, Đào Tràng và một số địa phương khác đánh đồn Đức La, phá kho thóc chia cho dân nghèo. Cùng đêm 20-7-1945, tự vệ Song Khê cùng với cảh vệ Cảnh Thuỵ bao vây huyện lỵ Yên Dũng, bắt tri phủ huyện Phùng Trọng Mưu cùng binh lính nộp vũ khí, gấy tờ, sổ sách và bằng triện.

Từ 1-6 đến 20-7, lực lượng cách mạng đã lần lượt giành chính quyền ở các huyện Hiệp Hoà, Việt Yên, Yên Thế, Lục Ngạn, Yên Dũng tạo điều kiện thuận lợi cho khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh. Tình hình thế giới lúc đó cũng là điều kiện khách quan, hồng quân Liên Xô đánh bại phát xít Đức. Ngày 14-8-1945, Nhật hạ vũ khí đầu hàng quân đồng minh. Đây là thời cơ ngàn năm có một cho nhân dân ta giành chính quyền đã tới.

Đồng chí Hồ Công Dự và một số các đồng chí phụ trách huyện Việt Yên, Yên Dũng đã họp tại Song Khê quyết định chớp thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh trước khi phát xít Nhật và bọn Đại Việt hành động. Kế hoạch khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh được vạch ra: 3 đồng chí Hồ Công Dự, Ninh Văn Phan, Trương Văn Nhã cùng một số cán bộ tự vệ sẽ đột nhập vào dinh tỉnh trưởng, bắt tỉnh trưởng phải đầu hàng; đội tư vệ phải luôn trong tư thế sẵn sàng nổ súng khi cần thiết và cùng với quần chúng biểu tình thị uy để uy hiếp địch; gửi thư báo cáo cho các đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh, Hà Thị Quế, Nguyễn Thanh Bình nhanh chóng quân tiếp viện; làm trung lập bọn Nhật.

Diễn biến chiếm dinh tỉnh trưởng Phủ Lạng Thương. Tảng sáng ngày 18-8-1945, đồng chí Hồ Công Dự và Ninh Văn Phan cùng một đội tự vệ trang bị vũ khí xuất phát từ đình làng Song Khê vượt cầu sông Thương vào tỉnh lỵ đột nhập dinh tỉnh trưởng. Bị tấn công bất ngờ, tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Đĩnh phải đầu hàng nộp toàn bộ vũ khí và ra lệnh cho viên Chánh bảo an giao trại  bảo an binh, thu gần 200 khẩu súng. Viên chánh bảo an và số đông bảo an xin ra nhập lực lượng vũ trang cách mạng.

Tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 (Ảnh: Tư liệu).

7 giờ sáng ngày 18-8-1945, cờ đỏ sao vàng tung bay trên dinh tỉnh trưởng và trại bảo an ninh ở phủ Lạng Thương. Tên sỹ quan chỉ huy quân đội Nhật ở Bắc Giang phải ngồi vào bàn thương lượng với Việt Minh và chấp hành mọi điều kiện do ta yêu cầu: Việt Minh hoàn toàn làm chủ tỉnh Bắc Giang, giữ gìn trật tự an ninh trong tỉnh; quân Nhật đóng ở các nơi trong tỉnh phải rút về tập trung tại cầu Lồ- Lục Ngạn và phủ Lạng Thương không được mang vũ khí ra phố, không được chuyển thóc đi nơi khác.

Lực lượng tự vệ Phủ Lạng Thương và các huyện Lạng Giang, Yên Thế, Việt Yên, Yên Dũng cùng quần chúng tuần hành thị uy.

Sau khi khởi nghĩa thắng lợi, tỉnh uỷ quyết định thành lập uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Bắc Giang do đồng chí Nguyễn Thanh Bình là chủ tịch.

Sáng ngày 19-8-1945, lực lượng khởi nghĩa hoàn toàn làm chủ Phủ Lạng Thương.

Chiều ngày 21-8-1945, một cuộc mít tinh lớn với hàng nghìn người được tổ chức tại sân vận động Phủ Lạng Thương để chào mừng chính quyền mới. Đồng chí Nguyễn Thanh Bình đã tuyên bố xoá bỏ chính quyền cũ, thành lập uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời các cấp, giới thiệu chương trình của mặt trận Việt Minh, kêu gọi mọi người hăng hái tham gia các tổ chức cứu quốc, nâng cao cảnh giác và kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng. Sau đó, cuộc mít tinh lớn được biến thành một cuộc tuần hành biểu dương lực lượng.

Nam Thanh
baobacgiang.com.vn

>> Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ I)
>> Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ II)

Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ II)

(BGĐT)- Giữa tháng 3-1945, Ban cán sự tỉnh Bắc Giang đã cử đồng chí Chu Đốc- cán bộ quân sự, Hồ Công Lạng- cán bộ chính trị về Lục Ngạn. Tháng 5-1945, Xứ uỷ cử thêm đồng chí Nguyễn Đức Quỳ- cán bộ chính trị mở các lớp chính trị ở Rùm, Quỷnh cho hàng chục cán bộ cơ sở và hội viên cứu quốc.

Phát lệnh Tổng khởi nghĩa năm 1945 (Ảnh: tư liệu)

Các làng có cơ sở Việt Minh đều thành lập đội tự vệ thoát ly hoặc bán thoát ly ở các làng Gàng, Rùm, Quỷnh, Ngạc. Các trận phục kích đánh Nhật ở Cầu Lồ và dọc đường 13 đã gây cho địch nhiều thiệt hại. Phong trào cách mạng lên cao, một số hào lý ra nhập Việt Minh. Bộ máy thống trị của phát xít Nhật từ phủ đến tổng, xã đều rệu rã, nhiều nơi chính quyền địch không còn hiệu lực. Mặt trận Việt Minh đứng ra giải quyết công việc.

Ở Yên Dũng, ngày 17-3-1945, thanh niên Cảnh Thuỵ tổ chức phục kích bắt tri phủ huyện Phạm Khắc Dậu. Tháng 4-1945, Ban cán sự tỉnh lập hai đội công tác cử về Yên Dũng làm nhiệm vụ tuyên truyền xung phong. Trong một thời gian ngắn, nhiều làng xã trong huyện đều tổ chức các đoàn thể cứu quốc, Mặt trận Việt Minh, đội tự vệ. Tại Hương Gián, An Tràng, Đạo Tràng, Tư Mại, Song Khê, Cảnh Thuỵ, Bằng Lương, ta đã tổ chức nhiều cuộc mít tinh, đấu tranh chống Nhật phá lúa trồng đay. Tại Song Khê, Mặt trận Việt Minh đã thu triện, sổ sách ghi thuế…chính quyền của địch tại Song Khê đã hoàn toàn  bị vô hiệu hoá.

Ở Phủ Lạng Thương, các cơ sở cách mạng được xây dựng ở xưởng sửa chữa xe lửa, nhà máy nước và phát triển tới các lực lượng công chức, binh lính, học sinh, tiểu thương…

Tại Lạng Giang, từ đầu tháng 4-1945, phong trào cách mạng ở Phi Mô, Quảng Mô, Bừng…phát triển tới Khê Cầu, Chí Mỹ, Mải Hạ, Bắc Thịnh, Chi Lễ, Dương Quan, Bằng, Kép, Đào Mỹ, Yên Bừng, Kế, Hương Gián…và toả ra các vùng xung quanh. Đến tháng 6-1945, phong trào cách mạng ở Lạng Giang phát triển khá mạnh. Nhiều làng, xã, chính quyền địch không còn hiệu lực, một số đã ngả theo cách mạng. Tại một số nơi, tránh lý trưởng tự nộp triện cho Việt Minh.

Nhưng trở ngại cho phong trào cách mạng của tỉnh Bắc Giang lúc này là hoạt động của các đảng phái phản động và bọn thổ phỉ, bọn Quốc dân Đảng và bọn Đại Việt đã nổi dậy ở Yên Thế, Lục Ngạn và ở Phủ Lạng Thương. Một số tên Quốc dân Đảng tìm cách cản trở ta hoạt động (ở Việt Yên) hoặc xây dựng lực lượng vũ trang chống lại ta (ở Đan Hội, Lục Nam). Bọn thổ phỉ đa số ẩn náu ở Yên Thế, Hữu Lũng, Sơn Động, Lục Ngạn gây khó khăn cho phong trào cách mạng.

Từ sau khi Nhật đảo chính Pháp, hầu hết miền núi tỉnh Bắc Giang, đặc biệt là Lục Ngạn, Sơn Động là nơi hoạt động của ba thế lực: Lực lượng cách mạng; lực lượng thổ phỉ; chính quyền bù nhìn và bọn  Đại Việt. Trước tình hình đó, Ban cán sự tỉnh chủ trương: đối với chính quyền bù nhìn cần thuyết phục, trừng trị bọn phản động; kiên quyết tiêu diệt bọn tướng phỉ và bọn đầu sỏ phản động; xây dựng các đoàn thể quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang, tổ chức tuyên truyền xung phong; kêu gọi các dân tộc đoàn kết kháng Nhật; tranh thủ đào tạo cán bộ dân tộc.

Tại Lục Ngạn, Sơn Động ta đã thành lập đội “Hoa Kiều tự vệ” để đánh Nhật, trấn áp thổ phỉ. Tuyên truyền bà con người Hoa cùng hợp tác với người Việt đánh Nhật, Pháp. Cuối tháng 7-1945, ta thành lập đội võ trang tuyên truyền gồm 18 người hoạt động từ Rùm qua Đối Sơn, Mai Sưu, Hổ Lao, Đám Trì (Lục Ngạn) cùng với các hình thức họat động, các cơ sở cách mạng trong đồng bào dân tộc ít người được mở rộng nhiều địa phương đã lập đội tự vệ để bảo vệ xóm làng chuẩn bị thời cơ giành chính quyền.

Ở Yên Thế, ta cũng tổ chức đội võ trang tuyên truyền ở các làng bản như Mỏ Trạng, Xuân Lương, Đồng Vương, Canh Nậu, Hương Vỹ… để tuyên truyền, vận động quần chúng, đồng bào dân tộc ít người tham gia các đoàn thể cứu quốc, mặt trận Việt Minh.

Đối với bọn quốc dân Đảng và Đại Việt, một số ta lôi kéo, phần lớn ta dùng lực lượng vũ trang tiêu diệt không cho chúng chống phá cách mạng..

Đình Vân Xuyên, xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang)- nơi mít tinh, tập trung lực lượng quần chúng đi khởi nghĩa giành chính quyền ở Hiệp Hoà – 1945.

Từ ngày 15 đến ngày 20-4-1945, tại làng Liễu Ngạn, tổng Hoàng Vân (Hiệp Hoà), Trung ương Đảng họp Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ để thảo luận cụ thể công tác chuẩn bị khởi nghĩa. Ngày 8-5-1945, tại làng Quế Sơn (Hiệp Hoà), hội nghị gồm đại biểu uỷ ban dân tộc giải phóng các xã trong huyện đã quyết định việc tạm chia ruộng đất của đồn điền Cọ và Vát cùng với việc giảm tô 25% cho nông dân. Chính quyền địch ở Hiệp Hoà hoang mang. Thời cơ giành chính quyền huyện đã đến. Tối 1-6-1945, lực lượng tự vệ chiến đấu ở một số làng thuộc tổng Hoàng Vân dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh tiến vào chiếm huyện lỵ. Tri huyện Thái Vĩnh Thịnh đã nộp toàn bộ sổ sách, giấy tờ cho ta. Sáng hôm sau, ta huy động quần chúng đến phá kho thóc chia cho nhân dân. Huyện lỵ Hiệp Hoà và đồn Chã thất thủ. Ở đồn Thị Cụ bọn lính cũng bỏ chạy về tỉnh. Toàn huyện Hiệp Hoà được giải phóng.

Hiệp Hoà giải phóng làm cho bọn quan lại từ phủ, huyện đến tỉnh hoang mang giao động. Trong khi đó, cao trào cách mạng trong toàn tỉnh dâng lên cuồn cuộn làm cho bộ máy chính quyền của địch ở thôn, xã bị tê liệt và tan dã hàng loạt. Đó là những điều kiện thuận lợi cho phép Đảng bộ tỉnh Bắc Giang phát động quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền cấp tỉnh.

(Còn nữa)

Nam Thanh
baobacgiang.com.vn

>> Bắc Giang những ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám-1945 (kỳ I)

Thư từ Trung Quốc

Hôm nay, tôi sẽ nói với các bạn về tình hình nội bộ quân thù.

Lúc đầu, bọn quân phiệt Nhật hứa là sẽ chiến thắng trong 3 tháng, rồi 6 tháng, rồi lại sau khi chiếm Hán Khẩu. Nhưng cuộc đấu tranh đã kéo dài từ gần 2 nǎm nay. Hán Khẩu một lúc nào đó đã bị thất thủ, nhưng thắng lợi thì vẫn chưa có. Hơn nữa, tình hình của nhân dân Nhật lại ngày càng tồi tệ. Giá sinh hoạt và thuế má ngày một tǎng nhanh và không thể nào tính toán nổi. Mùa màng thu hoạch kém, 1,8 triệu công nhân không có việc làm, 3 triệu người thất nghiệp từng phần. Bất chấp sự đe doạ của toà án quân sự, từ tháng 1 đến tháng 6-1938, đã nổ ra 593 cuộc bãi công của công nhân và 2.995 cuộc biểu tình thị uy của nông dân. Một số lớn trí thức bị bắt. Các hiệu buôn nhỏ bị khánh kiệt, vì những người chủ của chúng bị gọi ra mặt trận. Người ta thấy binh lính ra đi, nhưng chỉ thấy chở về nước những bình đựng di hài 1 hoặc chỉ thấy gửi về những tờ phiếu nhỏ ghi là “Đã hy sinh ở chiến trường”.

Thêm vào đó là không khí phát xít trong quân đội của Nhật hoàng và nỗi đau khổ của những cuộc trường chinh trên một đất nước xa lạ và thù địch. Cuộc tiến công dồn dập của du kích, việc tuyên truyền chống chiến tranh được tiến hành ở Nhật, sự tỏ tình thân thiện của quân đội và nhân dân Trung Quốc – tất cả những điều đó đã ảnh hưởng nặng nề đến binh lính Nhật. Đối với những người tiêu cực, sau khi mất tinh thần thì họ tự tử.

Những người giác ngộ nhất thì nổi dậy. Tôi không kể ra đây danh sách những vụ tự tử vì sẽ quá dài dòng. Tôi chỉ kể vài – chứ không phải tất cả cuộc nổi dậy gần đây nhất, vẫn là theo những thông cáo chính thức thôi.

NHỮNG VỤ BINH BIẾN

Takou, ngày 22-1.

3.000 binh sĩ đã làm binh biến. Trong khi lên tàu thuỷ ở Thượng Hải, họ được những viên thuyền trưởng cho biết họ sắp được trở về Nhật Bản. Nhưng đến ngoài khơi Takou, đáng lẽ các tàu đó tiếp tục đi về hướng Đông, nhưng chúng lại hướng vào cảng này. Bị binh lính chất vấn, các viên thuyền trưởng nói rằng theo phản lệnh của bộ tổng tư lệnh, binh lính phải hoãn nghỉ phép để đi đến Sơn Tây là nơi mà hoạt động của du kích đang phát triển. Thế là cuộc binh biến bắt đầu. Bốn chiếc tàu chiến đậu ở cảng bắt đầu bắn vào những người làm binh biến. Những binh lính đồn trú ở Takou – tưởng rằng bọn lính thuỷ tiến công chúng, liền nã súng vào những chiếc tàu đó. Về phía du kích, thì tưởng rằng quân đội của chúng tôi đã đến và đang bị quân Nhật tấn công, nên cũng vội vàng xông vào cứu. Người ta đánh nhau loạn xạ. Cuộc chiến đấu kéo dài trong nhiều giờ và chỉ chấm dứt khi những lực lượng Nhật Bản khác được điều đến. Binh lính và những người Nhật làm binh biến đều bị chết và bị thương nhiều. Những người làm binh biến còn sống sót đều bị áp giải lên mặt trận Luyouan.

Hán Khẩu, ngày 9-2.

Những tổ chức bí mật do binh lính Nhật thành lập, muốn tỏ tình đoàn kết với những người làm binh biến ở Takou. Nhưng không may là kế hoạch đã bị lộ từ trước. Những người bị bắt gồm có: 12 hiến binh, 130 sĩ quan và binh lính, 55 người dân thường (tất cả đều là người Nhật) và 8 người Bạch Nga.

Chouangtung (phía bắc tỉnh Hà Bắc), ngày 13-2.

Từ mặt trận Wangxung trở về để đi lên Hán Khẩu, khoảng 2.000 binh sĩ Nhật đã nổi dậy và giết viên chỉ huy của họ là thiếu tá Yo Katha. Những người làm binh biến bị tấn công cùng một lúc bởi những lính thuỷ và bộ binh được phái đến đàn áp họ. Về phía họ có nhiều người chết.

Chongcha, ngày 17-2.

2.000 lính Nhật được lệnh phải ra mặt trận. Đến Jouchikiou, họ không chịu lên tàu. Lữ đoàn của tướng Hamito được điều đến để đàn áp họ. Cuộc chiến đấu giữa quân đội và những người làm binh biến đã diễn ra trong một ngày rưỡi. Khoảng 800 binh sĩ làm binh biến đã bị hy sinh.

Singlo, ngày 26-2.

Theo tin tức do một số người Nhật ở Thái Nguyên cho biết thì ngày 13-2, trung đoàn của đại tá Nomura vừa đến phía tây tỉnh Sơn Tây thì nổi dậy. Viên đại tá đã tự sát và 9 tên sĩ quan bị những người làm binh biến giết.

LÒNG CUỒNG TÍN ẤY CÒN ĐÂU NỮA

Người ta thấy rằng trong cuộc chiến tranh Trung – Nhật và trong cuộc chiến tranh Nga – Nhật, khi một người lính ra mặt trận, anh ta được gia đình và làng xóm dọn tiệc mừng. Lúc lên đường, anh ta được cả làng đi tiễn, có mang theo nhạc cụ và cờ. Trên những lá cờ đó có ghi những lời động viên như: “Hy sinh vì Nhật hoàng là vinh dự lớn nhất!”, “Hãy chiến thắng khi trở về hoặc là tự sát trên chiến trường!”, v.v.. Người Nhật lấy làm tự hào được phục vụ Nhật hoàng. Người ta tự hào vì đã có con hoặc chồng ở mặt trận. Còn ngày nay thì thế nào ?

Ngày nay, sự cuồng tín đó đã giảm đi nhiều, nếu không nói là đã tiêu tan rồi. Chúng tôi xin trích vài đoạn trong các báo, những đoạn này đã được các tù binh xác nhận.

Singlo, ngày 6-2.

Một sĩ quan phiên dịch người Nhật nói rằng, gần đây trong huyện X, khi những đoàn tàu quân sự sắp chuyển bánh, bố mẹ các binh sĩ bắt đầu khóc than và la ó, rồi họ nằm lên trên đường sắt để ngǎn không cho tàu chạy. Họ đông đến nỗi hình thành một dãy dài khoảng 6 kilômét. Cảnh tượng thật là đáng thương đến nỗi có những công nhân lái đầu máy xe lửa phải tự tử để khỏi bị buộc phải lái những đoàn tàu đó.

Thái Nguyên, ngày 15-2.

Phần đông binh lính vừa mới đến Sơn Tây là những người buôn bán, tuổi từ 30 đến 35 – họ không thích chiến tranh. Trong khi trò chuyện, họ kể rằng những người phụ nữ Nhật đã tự tổ chức lại thành cái gọi là “tổ chức để đòi chồng”.

Mặt trận trải quá dài. Bọn quân phiệt không có đủ người. Để khắc phục điều đó, chúng cưỡng ép những người Triều Tiên, Mãn Châu và những người Trung Quốc trong vùng bị chiếm phải nhập ngũ và đưa họ ra mặt trận. Chúng nói “Làm như vậy rẻ hơn”. Nhưng trên thực tế, đó là “uống thuốc độc cho đỡ khát”, như ngạn ngữ Trung Quốc đã từng nói. Những người Triều Tiên, Mãn Châu và những người Trung Quốc trong các vùng bị chiếm chỉ mong chờ có cơ hội thuận tiện là sẽ quay súng chống lại bọn Nhật tàn bạo đó. Xin trích dẫn thêm vài bản thông cáo chính thức mà tình cờ chúng tôi đọc được.

Hồng Công, ngày 12-2.

Gần Quảng Châu, 6.000 binh lính Triều Tiên đã nổi dậy. Nhiều sĩ quan Nhật bị giết. Những đội tảo phạt gồm lính bộ binh và hải quân được phái đến để đàn áp những người làm binh biến. Cuộc chiến đấu kéo dài suốt cả ngày. Những người đứng đầu cuộc nổi dậy là Thôi Chang Kwei, Li Vin Ka, Kim Chang Han và 800 người Triều Tiên khác đều bị giết. Số còn lại bị quân lính áp giải về Triều Tiên.

Louang, ngày 23-2.

Những đội gọi là tự vệ ở các khu Lang Song và Jongshan, sát ngay Bắc Kinh, đều do Chang Dung Lai, Oei Sou Tin, Chou Wan Lung và Hoa The Hai chỉ huy. Những đội đó gồm trên 1.000 người. Sau khi cấp vũ khí và trả lương, bọn Nhật phái những đội ấy đi coi như những đội quân tiên phong đi chống du kích tại miền Nam Hồ Bắc. Nhưng đáng lẽ đi về phía nam thì Chang Dung Lai và những người bạn chiến đấu của anh lại gặp nhau ở Joumachang, gần Jongshan, và tấn công mạnh mẽ vào quân đội Nhật.

Sau khi đọc qua vài sự việc trên đây, chắc các bạn thừa hiểu vì sao bọn Nhật sau khi chiếm Hán Khẩu, Quảng Châu và Nam Dương thì không còn tiến được nữa.

P.C. LIN

———————————

Báo Notre Voix, ngày 21-5-1939
cpv.org.vn

Thư gửi một đồng chí ở Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản

Bạn thân mến,

Trong thư trước, tôi quên nói với bạn một vài điều. Hôm nay tôi bổ sung thêm điều đó.

ít lâu nay, tôi có quan hệ với chủ nhiệm báo Notre Voix (14) – tờ tuần báo xuất bản ở Hà Nội từ 1-1939. Đó là những mối liên hệ thuần tuý báo chí. Tôi đã gửi cho ông ta một bài báo nói về những sự tàn bạo của Nhật Bản 1 ở Trung Quốc. Sau khi đǎng bài báo đó, ông ta viết cho tôi rằng, bài báo được bạn đọc hoan nghênh và yêu cầu tôi luôn luôn gửi cho ông ta tài liệu. Để đáp lại, tôi đã đề nghị ông ta phái ai đó nói chuyện cụ thể với tôi về hình thức cộng tác này. Ông ta không trả lời. Tôi viết thư lần thứ hai. Không có sự trả lời. Tuy nhiên ông ta tiếp tục gửi báo của ông ta cho tôi; và tôi – thỉnh thoảng gửi cho ông ta những bài báo.

Có thể đến tháng 5 tôi sẽ phái một người nào đó nói chuyện với ông ta.

Khi đọc Notre Voix, tôi thấy những thông tin khá hay:

1. Nhóm cánh tả có nhiều tờ báo:

Dân chúng 15 (Masse), nhật báo cộng sản tiếng bản xứ, xuất bản hợp pháp ở Sài Gòn, có 10.000 người đọc.

Lao động (Travail).

Dân tiến (Progrès).

Dân muốn (Voeux du Peuple), tất cả ở Sài Gòn.

Đời nay (époque Actuelle).

Thế giới (Monde), cơ quan của Thanh niên dân chủ.

Notre Voix – tờ tuần báo cộng sản – tất cả ba tờ ở Hà Nội.

Những tờ báo này bị cấm nghiêm ngặt ở Trung Kỳ và luôn luôn bị các nhà chức trách Bắc Kỳ và Nam Kỳ không để cho yên. Những phần tử cánh tả người Pháp có hai tờ báo: Effort và Agir.

Giúp Trung Quốc: Những thanh niên cánh tả người bản xứ đã tổ chức lạc quyên để giúp những nạn nhân chiến tranh và cả những đảng viên nữa, gửi thuốc men cho quân đội chúng ta, tung ra khẩu hiệu “Giúp Trung Quốc”, và tuyên truyền tẩy chay hàng hoá Nhật Bản. Họ đã đòi trục xuất ra khỏi lãnh thổ Đông Dương tên Uông Tinh Vệ và những tên phản bội khác.

Theo tờ Notre Voix, họ đã sáng tác một bài ca dao “Cứu Trung Quốc là cứu mình!”; bài ca dao đó đã trở nên rất phổ thông trong quần chúng. Ngay cả những trẻ chǎn trâu bò cũng hát.

Thanh niên Trung Quốc và thanh niên bản xứ cùng nhau tổ chức những buổi biểu diễn để giúp Trung Quốc.

Chi nhánh Đảng Xã hội Pháp, Hội nhân quyền (Hà Nội) và những phần tử cánh tả người bản xứ đã lập “Hội bảo vệ Trung Quốc”. Mới đây, Hội này đã tổ chức một chợ phiên lớn để giúp đỡ nạn nhân chiến tranh.

2. Đảng Xã hội 1 – Trong hội nghị (đầu tháng 1), họ đã biểu quyết về các nghị quyết chống đàn áp, về sự thống nhất hành động và về sự bảo vệ Trung Quốc.

Những đại biểu của Thanh niên dân chủ đã có mặt ở hội nghị để yêu cầu thành lập một chi hội thanh niên xã hội nhằm thống nhất và lãnh đạo phong trào thanh niên ở Đông Dương.

Trong thời gian hội nghị, Notre Voix đã đǎng một bức thư chào mừng hội nghị của những người xã hội và đề nghị lập mặt trận thống nhất.

Hội nhân quyền đã đòi quyền tự do lập nghiệp đoàn cho công nhân bản xứ.

3. Dưới một cớ tầm phào vô lối, hai đảng viên Dân chủ ở Viện dân biểu Trung Kỳ đã bị tước quyền đại biểu và bị buộc tội.

Để chống lại sự tǎng thuế, ba đại biểu đảng viên xã hội người bản xứ ở Hội đồng thành phố Hà Nội (được bầu vào tháng 12 trước, với số trung bình 409 phiếu so với với số trung bình 157 phiếu của danh sách tư sản) đã từ chức.

Những lãnh tụ cánh tả – Tạo, Mai, Ninh, Nguyễn được ân xá vào dịp đầu nǎm âm lịch, đã nộp đơn ứng cử vào Hội đồng thuộc địa của Nam Kỳ.

4. Sự đàn áp xảy ra ở khắp nơi, đặc biệt là ở Trung Kỳ, chống những … phần tử cánh tả, những công nhân và những nông dân hoạt động.

Những sự khám xét, bắt bớ diễn ra hàng ngày ở tỉnh này hay ở tỉnh khác.

Thuế má tǎng.

Sự phá hoại chống lại luật xã hội lan rộng. Ngày nghỉ hàng tuần bị bãi bỏ ở một loạt hiệu buôn.

5. Bọn phản động hoạt động mạnh.

ở Hà Nội, mới xuất bản một tờ báo phát xít: Cứu nước, đấu tranh chống mặt trận nhân dân, những hội viên Tam điểm, những người Do Thái, những người xã hội và những người cộng sản. Số báo Cứu nước đầu tiên viết: “Chúng ta không giấu giếm, chính chúng ta muốn nói to lên rằng Đảng được chúng ta tán thành nhất đó là Đảng bình dân Pháp do Đôriô (Doriot) lãnh đạo…”.

Đọc, một tờ báo mới do một người bản xứ lãnh đạo cũng đòi chủ nghĩa quốc xã. Đây là một vài chỗ nổi của nó: “Chính phủ Pháp, nếu muốn cộng tác thành thực với người An Nam phải thực hiện chính sách chống cộng”. Tất cả được in bằng tít chữ to (10-1-1939) “Chủ nghĩa cộng sản là tai hoạ của loài người. Chính phủ còn chờ gì để tiêu trừ bọn vô lại cộng sản ?” (13-1-1939). Biên tập viên của tờ báo này vừa mới được phép xuất bản một tờ báo hàng ngày bằng tiếng bản xứ Pháp – An Nam và Chính phủ đã hứa cho hắn làm quan ở cấp khá cao.

Tờ Tổ quốc An Nam có khuynh hướng phát xít. Nó tôn thờ Mútxôlini (Moussolini) và nước Italia phát xít.

Bọn tờrốtkít chia làm hai nhóm cãi lộn nhau.

Bọn Nhật Bản hoạt động khá mạnh ở Đông Dương. Một nhà báo Pháp và một người bản xứ đã bị kết án 15 nǎm tù khổ sai vì làm gián điệp cho Nhật Bản. Một sĩ quan Nhật Bản đã bị bắt giữ với chiếc cặp đầy tài liệu mật về phòng thủ Đông Dương.

Đọc Notre Voix, tôi có cảm tưởng rằng phong trào của mặt trận thống nhất ở xứ này không mạnh lắm. Trái lại, những phần tử cánh tả hoạt động khá mạnh.

Tôi khá khoẻ. Tôi góp phần nhỏ bé của tôi vào cuộc đấu tranh chống Nhật Bản bằng cách thỉnh thoảng gửi những bài tuyên truyền cho các báo nước ngoài và công tác ở Bát lộ quân. Tôi chúc bạn sức khoẻ tốt và tôi xin bạn nhận lời chào thân thiết nhất của tôi.

20-4-1939
LIN

Địa chỉ: (Bằng máy bay)
Quế Lâm (Quảng Tây) Trung Quốc 1

—————————-

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Thư từ Trung Quốc – Về chủ nghĩa Tờrốtxki

Quế Lâm, ngày 10-5-1939

Các bạn thân mến,

Trước kia, chủ nghĩa Tờrốtxki đối với tôi cũng như đối với nhiều người khác, hình như là một vấn đề tranh cãi trong nội bộ giữa các phe phái khác nhau của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bởi vậy, chúng tôi không lưu ý đến nó. Nhưng ít lâu trước khi xảy ra chiến tranh – nói đúng hơn là hồi cuối nǎm 1936, và nhất là trong thời gian chiến tranh, những sự cổ động đầy tội lỗi của bọn tờrốtxkít đã làm cho chúng tôi sáng mắt ra. Thế là chúng tôi bắt đầu nghiên cứu vấn đề. Và việc nghiên cứu đó đã chứng minh cho chúng tôi thấy như sau:

1. Vấn đề chủ nghĩa Tờrốtxki không phải là sự tranh cãi trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc, vì giữa những người cộng sản và bọn tờrốtxkít không có quan hệ, hoàn toàn không có quan hệ gì với nhau cả. Nhưng đây là một vấn đề liên quan đến toàn quốc, toàn dân: một vấn đề chống lại Tổ quốc.

2. Bọn phát xít Nhật và bọn phát xít nước ngoài đều biết rõ điều đó, bởi vậy chúng cố ý gây mối bất hoà để lừa gạt thiên hạ và làm mất uy tín của những người cộng sản, chúng làm cho người ta tưởng rằng những người cộng sản và bọn tờrốtxkít là cùng một cánh với nhau.

3. Bọn tờrốtxkít Trung Quốc (cũng như bọn tờrốtxkít nước ngoài) không lập thành nhóm, càng không lập thành chính đảng. Chúng chỉ là những bè lũ bất lương, những con chó sǎn của chủ nghĩa phát xít Nhật (và chủ nghĩa phát xít quốc tế).

4. Trong tất cả các nước, bọn tờrốtxkít đều dùng những tên gọi hoa mỹ để che giấu những công việc kẻ cướp bẩn thỉu của chúng. Chẳng hạn: ở Tây Ban Nha, chúng gọi là “Đảng công nhân thống nhất mác xít” hoặc “POUM”. Chắc các bạn cũng biết rằng chính bọn chúng đã tổ chức tất cả những tổ do thám ở Mađrít, ở Bácxơlon và ở các nơi khác để phục vụ cho Phrǎngcô. Chính chúng đã tổ chức cái “đội quân thứ 5” nổi tiếng để giúp làm nội ứng cho các quân đội phát xít ý – Đức. ở Nhật Bản, chúng gọi là “MEL” (Đồng minh Mác, Ǎngghen, Lênin). Bọn tờrốtxkít Nhật dụ dỗ thanh niên vào trong đồng minh, rồi tiếp đó chúng đi tố cáo họ với sở cảnh sát. Chúng còn mưu toan chui vào Đảng Cộng sản Nhật Bản cốt để phá hoại nó. Tôi cho rằng bọn tờrốtxkít Pháp hiện giờ cũng đang tập hợp chung quanh nhóm “Cách mạng vô sản” và nhiệm vụ của chúng là phá hoại Mặt trận nhân dân. Về việc này, chắc các bạn biết rõ hơn tôi. ở nước Trung Hoa chúng tôi, bọn tờrốtxkít liên kết với nhau chung quanh nhóm “Tranh đấu”, nhóm “Chiến tranh chống Nhật và vǎn hoá” và nhóm “Cờ đỏ”.

5. Bọn tờrốtxkít không chỉ là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản, mà còn là kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ. Đó là bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất.

Chắc các bạn đã đọc bản án xử bọn tờrốtxkít ở Liên Xô. Nếu các bạn chưa đọc thì tôi khuyên các bạn nên đọc và làm cho bạn bè mình cũng đọc nó. Đọc bản án này rất bổ ích. Nó sẽ giúp các bạn thấy rõ bộ mặt thật đáng ghê tởm của chủ nghĩa Tờrốtxki và bọn tờrốtxkít. ở đây, tôi xin phép các bạn chỉ trích dẫn vài đoạn trong bản án có liên quan trực tiếp đến Trung Quốc thôi.

Trước toà án, tên tờrốtxkít Racốpxki khai như sau: Nǎm 1934, khi hắn còn ở Tôkiô (với tư cách là đại diện Hội chữ thập đỏ Liên Xô), một nhân vật cao cấp trong Chính phủ Nhật đã nói với hắn:

“Chúng tôi có quyền mong đợi ở những người tờrốtxkít một sự thay đổi về sách lược. Tôi không cần đi sâu vào chi tiết. Chỉ cần nói rằng chúng tôi mong đợi ở họ những hành động thuận lợi cho sự can thiệp của chúng tôi vào công việc của Trung Quốc”.

Racốpxki trả lời với tên Nhật: “Tôi sẽ viết thư cho Tờrốtxki về vấn đề này”. Đến tháng 12-1935, Tờrốtxki ra chỉ thị cho những tên Trung Quốc đồng bọn của hắn, và nhắc đi nhắc lại rằng: “Đừng gây trở ngại cho cuộc xâm lược của Nhật Bản ở Trung Quốc”.

Như vậy là bọn tờrốtxkít Nga muốn bán cho đế quốc Nhật không chỉ những phần đất của Tổ quốc mình – Xibêri và những tỉnh ven biển – mà chúng còn muốn bán cho đế quốc Nhật cả Tổ quốc chúng tôi – nước Trung Hoa nữa!

– Thế thì bọn tờrốtxkít Trung Quốc đã hành động như thế nào? Rõ ràng các bạn sẽ nôn nóng, hỏi tôi như vậy.

– Nhưng, thưa các bạn thân mến, chỉ trong bức thư sau, tôi mới có thể trả lời các bạn được. Các bạn há chẳng đã dặn tôi viết những bài ngắn đó sao?

Mong sớm được gặp lại các bạn.

P.C.LIN

———————-

Báo Notre Voix, ngày 23-6-1939
cpv.org.vn

Thư từ Trung Quốc – Hoạt động của bọn tờrốtxkít Trung Quốc

Các bạn thân mến,

Trước khi trả lời câu hỏi của các bạn về hoạt động của bọn tờrốtxkít Trung Quốc, trước hết cho phép tôi giới thiệu với các bạn nửa tá những tên đầu sỏ, quá ư phản bội đã từng làm rạng danh “quốc tế thứ tư”. Đó là: Trần Độc Tú, Bành Thuật Chi, La Hán, Diệp Thanh, Trương Mộ Đào, Hoàng Công Lược.

Theo thứ tự thời gian, sau đây là những việc chúng đã làm:

Tháng 9-1931, trong khi quân đội Nhật xâm chiếm Mãn Châu, Sở mật thám Nhật ở Thượng Hải đã bắt liên lạc với ba tên trước. Hai bên đã ký kết với nhau một hiệp định: Nhóm tờrốtxkít cam kết không tiến hành một cuộc tuyên truyền nào chống lại cuộc xâm lược của Nhật. Sở mật thám Nhật thì cam kết sẽ trả cho nhóm tờrốtxkít mỗi tháng 300 đôla, cùng những khoản tiền trả thêm cho cân xứng với những “công việc đã làm được có kết quả”.

Thế là Trần Độc Tú và đồng bọn bắt tay ngay vào công việc. Với tiền bạc của Nhật, chúng cho xuất bản những tạp chí và những tập trào phúng để truyền bá những tư tưởng như là: “Chiếm Mãn Châu, người Nhật chỉ mong giải quyết nhanh chóng những vấn đề còn đang tranh cãi, chứ họ không hề có chút ý đồ nào xâm lược Trung Quốc”.

Những mục trên các tờ báo tờrốtxkít vừa rao thì đến lượt Thượng Hải bị bọn Nhật tấn công, vào tháng 1-1932.

Lúc đó, bọn tờrốtxkít nói như thế nào? Chúng có thừa nhận là chúng phạm sai lầm không? Chúng có thôi làm việc cho kẻ xâm lược không? Hoàn toàn không? Trong khi binh sĩ của Lộ quân thứ 19 hy sinh xương máu của mình để bảo vệ đất nước thì bọn tờrốtxkít, trên lời nói cũng như trong hành động, đã phạm hết tội phản bội này đến tội phản bội khác. Một mặt chúng viết:

“Cuộc chiến tranh ở Thượng Hải không có quan hệ đến nhân dân. Đó không phải là một cuộc chiến tranh dân tộc cách mạng. Đó là một cuộc chiến tranh giữa bọn đế quốc với nhau”. Và mặt khác, chúng phao tin đồn nhảm, đưa ra những khẩu hiệu có tính chất thất bại chủ nghĩa, làm lộ những kế hoạch phòng thủ, v.v..

Không phải chỉ có thế đâu. Những tên tờrốtxkít khác như Hoa Vǎn Khôi và Cung Tân Thư đã chui vào trong cuộc bãi công của công nhân Thượng Hải, chúng bí mật liên lạc với Sở cảnh sát và bọn chủ Nhật, và làm đủ mọi cách để phá hoại phong trào. Thậm chí, chúng còn mưu toan bắt đi cả những người cầm đầu giỏi nhất của cuộc bãi công.

Nǎm 1933, nguyên soái Phùng Ngọc Tường và tướng Cát Hồng Xương, một đảng viên cộng sản đã tổ chức một đội quân chống Nhật ở Kalgan. Trong thời kỳ này, Đảng Cộng sản đang còn hoạt động bí mật, việc liên lạc giữa miền Trung và miền Bắc đang khó khǎn. Lợi dụng tình hình đó, tên tờrốtxkít Trương Mộ Đào tự xưng là “đại diện Đảng Cộng sản” và tìm cách biến sự nghiệp chống Nhật thành một cuộc nội chiến, bằng cách đưa ra khẩu hiệu: “Đi với Nhật, chống lại Tưởng Giới Thạch”. Hắn bị tướng Cát lột mặt nạ và tống cổ đi. ít lâu sau đó, tướng Cát nhân có công việc phải đi đến Thiên Tân, Trương Mộ Đào liền cho người ám sát ông.

Trong thư sau, tôi sẽ kể để các bạn rõ về việc bọn tờrốtxkít Trung Quốc tiếp tục phản bội Tổ quốc của chúng như thế nào.

Chào thân ái
P.C.LIN

—————————

Báo Notre Voix, ngày 7-7-1939.
cpv.org.vn

Thư từ Trung Quốc – Tổng kết sau 2 nǎm đấu tranh

Trong dịp kỷ niệm lần thứ hai cuộc chiến tranh chống Nhật, cho phép tôi, qua báo Notre Voix, thành thực cảm ơn các bạn Đông Dương và Pháp đã từng trực tiếp hoặc gián tiếp giúp đỡ chúng tôi trong những lúc khó khǎn và lúc đấu tranh. Trong khi cảm ơn và mong rằng trong tương lai các bạn đó sẽ giúp đỡ chúng tôi một cách có hiệu quả và tích cực hơn, tôi tin chắc là đã nói lên được tình cảm sâu sắc của tất cả anh em Trung Quốc chúng tôi.

Nhân dịp kỷ niệm này mà điểm lại một cách nhanh chóng những thành tích của hai nǎm đấu tranh vừa qua có lẽ không phải là thừa.

Với cái giá phải trả là 10 tỷ yên và 700.000 người bị chết và bị thương, bọn phát xít Nhật đã xâm chiếm 12 tỉnh của chúng tôi (với số dân là 200 triệu người). Đó là một tổn thất nặng nề đối với chúng tôi. Còn đối với Nhật Bản, phải chǎng đó là một thắng lợi lớn? Không. Trong số 1.038 khu hay huyện trong vùng bị chiếm, chỉ có 65 khu hay huyện hoàn toàn bị đặt dưới sự kiểm soát của địch, tuy rằng 25 trong số 65 khu hay huyện đó đã bị chiếm từ trước chiến tranh; tên phản bội Âu Như Canh đã tổ chức tại đấy cái gọi là “Chính phủ tự trị Hà Bắc chống cộng”. Trên 900 khu hay huyện đang là cǎn cứ của du kích và hoàn toàn do chúng tôi kiểm soát. Những khu hay huyện khác chỉ bị địch kiểm soát từng phần, chúng chiếm đóng các tỉnh lỵ và những con đường lớn, chứ không dám mạo hiểm đi vào các làng mạc. Bởi vậy cho nên đó vừa làm một tổn thất đối với chúng tôi, nhưng về phía địch thì đó không phải là một thắng lợi.

Nếu chúng ta xét cuộc chiến tranh trong toàn cục của nó, chúng ta có thể nói rằng suốt trong hai nǎm nay, bọn đế quốc Nhật đã bị đánh bại trên tất cả các mặt trận.

Mặt trận chính trị: Sách lược “làm cho người Trung Quốc này đánh người Trung Quốc khác” của chúng đã bị bẻ gãy trước Mặt trận dân tộc chống Nhật của chúng tôi, bọn phát xít Nhật phải chuyển sang dùng một sách lược khác: “đánh mạnh, thắng nhanh”. Đến lượt nó, sách lược này cũng bị phá tan với chính sách của chúng tôi là “chiến tranh kéo dài”. Sách lược thứ ba của Nhật Bản là “ký nhanh hoà ước, kết thúc nhanh cuộc chiến tranh” đã bị thất bại thảm hại trước quyết tâm của chúng tôi là đánh đến cùng. Hiện nay, chúng đang thử “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, nghĩa là dùng tài nguyên trong những vùng bị chiếm để chống lại chúng tôi. Chính sách đó cũng không thực hiện được, giống như cái tham vọng muốn khai hoang một núi lửa! Làm sao chúng có thể khai thác được một nước mà ở hậu phương đang mọc lên tua tủa những giáo mác và súng trường của du kích, còn ở tiền phương thì bị súng trường và súng liên thanh của bộ đội chúng tôi chặn lại?

Mặt trận kinh tế: Cách đây hai nǎm, một tên bộ trưởng Nhật viết: “Nước Nhật sẽ bị phá sản nếu cứ để cho công trái vượt quá 10 tỷ”. Thế mà hiện nay, công trái của Nhật đã lên tới 24 tỷ, vượt xa tổng thu nhập của cả nước. Theo tờ Niên giám kinh tế Nhật Bản 1 , từ tháng 7 đến tháng 9-1938, chỉ tính trong huyện X… đã có 64 công xưởng bị đóng cửa. Trong công nghiệp nhẹ, trên 8.000 cơ sở chỉ hoạt động từng phần, 1,5 triệu công nhân không có việc làm. Mùa màng nǎm nay kém nǎm ngoái 4,7 triệu tạ. Số vụ bãi công và xung đột về ruộng đất ngày càng tǎng. Trong nửa đầu của nǎm 1938, đã xảy ra 593 vụ bãi công và 299 cuộc biểu tình của nông dân. Thương nghiệp cũng giảm sút một cách nguy kịch do việc tẩy chay được tổ chức tại các nước chống Nhật.

Mặt trận quân sự: Từ 8 tháng nay, quân Nhật không tiến được nữa. Nhiều lần chúng toan vượt qua sông Hoàng Hà, nhưng lần nào chúng cũng phải tháo lui sau khi bị tổn thất nặng nề. Điều đó chứng tỏ quân đội Nhật đã bị suy yếu. Trong thời kỳ thứ hai của cuộc chiến tranh, chúng định huy động tất cả là 46 sư đoàn, nhưng chỉ huy động được 33 sư đoàn. Chúng không đủ người để đối phó với một mặt trận quá dài – khoảng 3.000 kilômét! Tinh thần chống chiến tranh ngày càng lan nhanh trong quân đội và nhân dân. Những vụ tự tử, đào ngũ và binh biến xảy ra trong quân đội ngày càng nhiều. Tính đến tháng 12 nǎm vừa qua, trên 6.000 giáo viên và giáo sư đã bị bắt vì đã đấu tranh chống chiến tranh.

Nếu chúng ta nhìn về mặt quốc tế, chúng ta sẽ thấy rằng chủ nghĩa phát xít Nhật – uy hiếp mọi người và gây chiến với mọi người- đang lâm vào tình trạng ngày càng bị cô lập.

Chống một kẻ thù rất mạnh và rất nguy hiểm, nhưng đang suy yếu nhanh chóng, chúng tôi có tất cả những điều kiện thuận lợi. Thời gian đang làm chúng tôi mạnh lên, một đất nước bao la với những tài nguyên vô tận, một số dân đông đúc sẽ là một nguồn dự trữ cho quân đội chúng tôi; Pháp, Anh, Mỹ và nhân dân tất cả những nước dân chủ đều giúp đỡ chúng tôi; Liên Xô là một trong những người bạn chung thuỷ nhất và vô tư nhất đối với chúng tôi.

Chúng tôi có “thiên thời, địa lợi và nhân hoà” là ba yếu tố cần thiết cho chiến thắng. Nhưng để khỏi mang tiếng là khoác lác, tôi xin mượn lời một người nước ngoài, đã từng hiểu biết nhiều về Trung Quốc, – ông vốn là đại sứ Mỹ: “… Thái độ của nhân dân Trung Quốc rất bình tĩnh – ông đại sứ ấy nói như thế. – Tinh thần các chiến sĩ rất cao. Những người lãnh đạo đều tuyệt đối tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của mình. Chưa bao giờ quyết tâm đánh đến cùng lại mạnh đến thế…”.

Mặc dù lời dẫn chứng này hơi cũ – ông đại sứ phát biểu những lời này ngày 4-7 tại Niu Oóc -, nhưng nó vẫn có giá trị. Để kết thúc, cho phép tôi giới thiệu với các bạn đoạn cuối của một bài hát được soạn ra để chào mừng lễ kỷ niệm nǎm thứ hai cuộc chiến tranh của chúng tôi vì nền độc lập và tự do:

“Ai có tiền thì góp tiền.
Ai có sức thì góp sức.
Mỗi chúng ta là một chiến sĩ anh dũng.
Tiến lên! Quân thù sắp phải nhả ra thôi.
Hãy cống hiến tất cả! Hãy cống hiến tất cả!
Cho chiến thắng đang đến với chúng ta!”.

P.C.LIN

—————————-

Báo Notre Voix, ngày 14-7-1939.
cpv.org.vn

Thư từ Trung Quốc – Hoạt động của bọn tờrốtxkít ở Trung Quốc

Các bạn thân mến,

Trong những thư trước, tôi đã kể với các bạn về việc bọn tờrốtxkít ǎn lương của tụi Nhật, đã tìm cách phá hoại như thế nào cuộc đấu tranh anh hùng ở Thượng Hải và sự nghiệp yêu nước ở Kalgan. Hôm nay, tôi lại kể tiếp với các bạn câu chuyện về tội ác của chúng.

Rút lui về Phúc Kiến, Lộ quân thứ 19 lại tiếp tục chiến đấu. Nó tổ chức một chính phủ chống Nhật và bắt đầu cuộc vận động thành lập mặt trận duy nhất bằng cách ký kết một hiệp nghị với Hồng quân Trung Quốc. ít lâu trước đó, Lộ quân thứ 19 là một trong những lực lượng đã từng hǎng say chống cộng; nhưng trước tình hình Tổ quốc lâm nguy, nó đã quên hết hận thù để theo đuổi một mục đích duy nhất là chống quân xâm lược.

Theo lệnh của Nhật, bọn tờrốtxkít đi ngay vào hoạt động. Một mặt, chúng khêu gợi chủ nghĩa địa phương của dân chúng để chống lại chính phủ mới – Lộ quân thứ 19 từ Quảng Đông tới – và mặt khác, chúng tìm cách làm cho Hồng quân suy yếu. Cách chúng tiến hành để thực hiện nhiệm vụ thứ hai là như sau: chúng xin vào Hồng quân với tư cách là những phần tử cách mạng và để gây tín nhiệm, lúc đầu chúng làm việc rất tích cực. Một khi được đề bạt lên những cương vị ít nhiều có trọng trách, chúng bắt đầu làm công việc tội lỗi. Xin nêu vài ví dụ: Trong chiến đấu, khi cần phải rút lui thì chúng tiến và khi cần tiến thì chúng lùi. Chúng gửi quân nhu súng đạn đến những nơi không cần, nhưng những chỗ đang cần thì chúng lại không gửi tới.

Chúng bôi thuốc độc vào vết thương của các chiến sĩ – nhất là cán bộ quân đội – cốt làm cho tay chân họ bị cưa cụt đi, v.v.. Những hành động tội lỗi đó đã được phát hiện khá sớm, thật may cho những người cộng sản!

Từ nǎm 1935, những người cộng sản đã bắt đầu một chiến dịch tuyên truyền rộng lớn cho mặt trận dân tộc chống Nhật. Nhân dân, nhất là công nhân và sinh viên, đã tích cực ủng hộ cương lĩnh đó. Trong Quốc dân đảng, tư tưởng về mặt trận dân tộc đã có tiến bộ. Trong lúc đó, người ta thấy bọn tờrốtxkít vẫn đóng vai trò hai mặt. Vừa vu khống, vừa chia rẽ. Chúng nói với quần chúng: “Đấy! thế là bọn cộng sản đã tự bán mình cho giai cấp tư sản rồi. Quốc dân đảng sẽ không bao giờ chống Nhật đâu!” Còn với Quốc dân đảng, thì chúng nói: “Mặt trận dân tộc ư? Đó chẳng qua chỉ là một thủ đoạn của bọn cộng sản thôi. Nếu muốn đánh Nhật, trước hết phải diệt trừ bọn cộng sản!”.

Cuối nǎm 1936, trong sự biến Tây An, chính sách đoàn kết chống Nhật đã thắng. Khi thấy âm mưu gây nội chiến của chúng bị thất bại, bọn tờrốtxkít Trương Mộ Đào và Tạ Duy Liệt liền tổ chức vụ ám sát tướng Vương Di Triết, một trong số những người sốt sắng tán thành chủ trương về mặt trận dân tộc 1 .

Bây giờ nói về nǎm 1937, thời kỳ sắp xảy ra chiến tranh. Toàn dân đều đoàn kết chống xâm lược. Tất cả mọi người, trừ bọn tờrốtxkít. Những tên phản bội này, họp lén lút với nhau, đã thông qua những “nghị quyết” mà sau đây là một vài đoạn: “Trong cuộc chiến tranh chống Nhật này, thái độ của chúng tôi đã rõ ràng: những kẻ nào muốn chiến tranh xảy ra và có chút ít ảo tưởng về Chính phủ Quốc dân đảng; những kẻ đó đều là phản bội thật sự. Việc hợp tác giữa Đảng Cộng sản và Quốc dân đảng chẳng qua chỉ là một sự phản bội có ý thức mà thôi…”. Và những thứ tồi tệ khác cùng một loại như thế.

Chiến tranh đã đến gần. Những lời hứa hẹn của Sở mật thám Nhật được vật chất hoá. Bọn tờrốtxkít ở Thượng Hải được lĩnh một tháng 100.000 đôla để làm việc tại miền Trung và miền Nam đất nước. Bọn ở Thiên Tân và Bắc Kinh mỗi tháng lĩnh 50.000 đôla để làm việc tại Hoa Bắc, nhằm chống lại Bát lộ quân và những tổ chức yêu nước khác.

Đến giữa nǎm 1937, bọn tờrốtxkít đã bị khám phá và bị bắt trong Đặc khu. Theo lời Tôn Nghĩa Hải thú nhận, chúng có nhiệm vụ: 1) phá hoại Bát lộ quân, 2) gây cản trở cho sự phát triển của mặt trận dân tộc, 3) do thám, và 4) tổ chức mưu sát các nhà lãnh đạo.

Trước toà án nhân dân của Đặc khu, tên tờrốtxkít Hoàng Phật Hải, ngoài những điều khác ra, đã khai rằng, trong cuộc gặp gỡ lần thứ tư, Trương Mộ Đào có dặn hắn: “Anh hãy nghiên cứu kỹ phương pháp và hệ thống tổ chức của Hồng quân. Sau đó, anh thành lập những trung tâm thanh niên để dùng vào việc phá hoại…. Mục đích của chúng ta là gây rối loạn trong Hồng quân và trừ khử những tên chỉ huy của nó”. Trương Mộ Đào còn dặn hắn rằng: “Dụ dỗ một bộ phận cán bộ cơ sở theo chúng ta, khêu gợi lòng nhớ quê hương của họ, khuyến khích họ đào ngũ bằng cách cho họ một ít tiền đi đường. Đó là một trong những phương pháp để làm cho quân đội tan rã”.

Tên tờrốtxkít Quách Uẩn Kinh thú nhận là Tôn Nghĩa Hải đã giao cho hắn nhiệm vụ phải tuyên truyền chủ nghĩa thất bại trong đám chiến sĩ, bằng cách nói với họ rằng Trung Quốc không bao giờ thắng nổi vì “ngay dù chúng ta có đánh đuổi được người Nhật đi chǎng nữa, thì người Mỹ và người Anh cũng sẽ áp bức chúng ta”; rằng “không những chúng ta sẽ không thắng nổi mà sẽ còn bị tiêu diệt nếu chúng ta đấu tranh”; rằng “Trung Quốc quá yếu, không chống lại nổi Nhật Bản, Anh và Mỹ đâu!”. Và Trương Mộ Đào bổ sung những chỉ thị đó bằng cách nói thêm rằng: “Phải lợi dụng chính sách mặt trận dân tộc để vu cáo bọn cộng sản, và để nói rằng chúng đã bán rẻ giai cấp vô sản, cốt để gây bất bình trong đám chiến sĩ…”. Lấy cớ là để giáo dục, bọn tờrốtxkít tổ chức những phần tử chậm tiến trong quân đội thành những nhóm trung tâm nhỏ, rồi lợi dụng những điều kiện sống gian khổ trong quân đội để khuyến khích họ đào ngũ mang theo cả vũ khí và câu kết với bọn thổ phỉ, gây rối loạn ở hậu phương trong khi Bát lộ quân đang ở ngoài mặt trận….

Đó là những mưu mô của bọn tờrốtxkít chống lại Bát lộ quân dân tộc cách mạng. Trong thư sau, tôi sẽ nói các bạn rõ về việc bọn phản bội đó đã dùng phương pháp đáng ghê tởm như thế nào để mưu làm tan rã các lực lượng chống Nhật khác.

LIN

—————————–

Báo Notre Voix, ngày 28-7-1939 và ngày 11-8-1939
cpv.org.vn