Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Những chỉ thị mà tôi nhớ và truyền đạt

1. Lúc này, Đảng không nên đưa ra những đòi hỏi quá cao (độc lập dân tộc, nghị viện, v.v.). Như thế sẽ rơi vào cạm bẫy của phát xít Nhật.

Chỉ nên đòi các quyền dân chủ, tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do báo chí và tự do ngôn luận, đòi ân xá toàn thể chính trị phạm, đấu tranh để Đảng được hoạt động hợp pháp.

2. Muốn đạt được mục đích trên phải ra sức tổ chức Mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi.

Mặt trận ấy không những chỉ có người Đông Dương mà bao gồm cả những người Pháp tiến bộ ở Đông Dương, không những chỉ có nhân dân lao động mà gồm cả giai cấp tư sản dân tộc.

3. Đối với tư sản dân tộc, Đảng phải có thái độ khéo léo, mềm dẻo. Phải hết sức lôi kéo họ và giữ họ ở trong Mặt trận, thúc đẩy họ hành động nếu có thể, cô lập họ về chính trị nếu cần. Tránh hết sức để họ ở ngoài Mặt trận, vì như thế là đẩy họ rơi vào tay bọn phản động, là tǎng thêm lực lượng cho chúng.

4. Đối với bọn tờrốtxkít, không thể có thoả hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị.

5. Để phát triển và củng cố lực lượng, mở rộng ảnh hưởng và hành động có hiệu quả. Mặt trận dân chủ Đông Dương 17 phải có liên hệ chặt chẽ với Mặt trận nhân dân Pháp 18 , vì Mặt trận này cũng đấu tranh cho các quyền tự do dân chủ và có thể giúp rất nhiều cho ta.

6. Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và nǎng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo.

7. Muốn làm được nhiệm vụ trên, Đảng phải đấu tranh không nhân nhượng chống tư tưởng bè phái, và phải tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác – Lênin để nâng cao trình độ vǎn hoá và chính trị cho các đảng viên. Phải giúp đỡ cán bộ không đảng phái nâng cao trình độ. Phải duy trì quan hệ chặt chẽ với Đảng Cộng sản Pháp.

8. Ban Chấp hành Trung ương phải kiểm soát các báo chí của Đảng để tránh những khuyết điểm về kỹ thuật và chính trị (ví dụ: đǎng tiểu sử đồng chí R., báo “Lao động” viết đồng chí đó ở đâu, đồng chí đó trở về như thế nào, v.v.. Báo đó lại đǎng và không bình luận gì về bức thư của đồng chí này cho rằng chủ nghĩa Tờrốtxki là sản phẩm của tính khoe khoang cá nhân, v.v.).

Viết nǎm 1939

—————————–

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổ chức, lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thắng lợi và sáng lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (1930-1945)

Sau cao trào 1930-1931, sự khủng bố của thực dân Pháp càng gắt gao hơn, nhiều chiến sĩ cách mạng bị bắt bớ, tù đày, giết hại. Ngày 6 tháng 6 nǎm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Anh bắt giam trái phép tại Hồng Kông (Trung Quốc).

bh - cmt8Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945

Cuối nǎm 1933, Nguyễn Ái Quốc rời Hồng Kông. Đầu nǎm 1934, Người trở lại Liên Xô. Tại đây Người vào học Trường Quốc tế Lênin, nghiên cứu ở Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, đồng thời tiếp tục theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước trong tình hình chủ nghĩa phát xít đã công khai đàn áp mọi phong trào dân chủ và hoà bình. Trong nhiều tài liệu Nguyễn Ái Quốc nêu lên sách lược của Đảng Cộng sản Đông Dương trong thời kỳ 1936-1939, nhấn mạnh vấn đề tập hợp mọi tầng lớp nhân dân và thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi đấu tranh đòi tự do, dân chủ và hoà bình.

Trước những chuyển biến của tình hình thế giới, tháng 10 nǎm 1938, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô về Trung Quốc. Tháng 9 nǎm 1940, phát xít Nhật chiếm đóng Đông Dương. Cuối nǎm 1940, Người về sát biên giới Việt – Trung, bắt liên lạc với tổ chức Đảng, chuẩn bị về nước. Người đã mở lớp huấn luyện chính trị để chuẩn bị cán bộ đáp ứng yêu cầu tình hình nhiệm vụ mới. Người nêu rõ trong tài liệu huấn luyện: “Sự nghiệp giải phóng dân tộc là sự nghiệp chung của các dân tộc, các giai cấp bị bóc lột ở Đông Dương. Toàn thể nhân dân Đông Dương không phân biệt dân tộc nào, giai cấp nào đều phải đồng tâm hiệp hội đoàn kết cùng nhau mới làm nổi”.

Ngày 28 tháng 1 nǎm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, Người chọn Cao Bằng làm cǎn cứ địa xây dựng tổ chức, phát động phong trào cách mạng. Vùng Khuổi Nậm Pác Bó là nơi họp Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương (tháng 5 nǎm 1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, nơi ra Báo Việt Nam Độc Lập, mở các lớp huấn luyện xây dựng lực lượng cách mạng. Pác Bó có hang Cốc Bó, nơi Nguyễn Ái Quốc chọn làm chỗ ở và làm việc của mình.

Ngày 6 tháng 6 nǎm 1941, Nguyễn Ái Quốc gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng… Việc cứu quốc là việc chung, ai là ngườiViệt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài nǎng góp tài nǎng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dẫu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”.

Tháng 8 nǎm 1942, lấy tên là Hồ Chí Minh và với tư cách là đại diện Mặt trậnViệt Minh và phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội quốc tế chống xâm lược, Người sang Trung Quốc. Ngày 29/8/1942 Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam, sau đó bị giải qua gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian ở tù, Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm thơ nổi tiếng “Nhật ký trong tù“. Đến nay “Nhật ký trong tù” đã được dịch ra hơn 10 thứ tiếng.

Tháng 9 nǎm 1943, Hồ Chí Minh được trả lại tự do. Tháng 3 nǎm 1944, Người tham dự Hội nghị Các lực lượng cách mạng Việt Nam ở Liễu Châu (Trung Quốc). Tại Hội nghị này Người đã đọc báo cáo về hoạt động của Mặt trận Việt Minh và Đảng Cộng sản, nêu rõ tiền đồ của sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam, mối quan hệ mật thiết và lâu đời giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Tháng 9 nǎm 1944, Hồ Chí Minh trở lại Cao Bằng. Người gửi thư cho đồng bào toàn quốc kêu gọi chuẩn bị triệu tập Quốc dân Đại hội. Tháng 12 nǎm 1944, Người quyết định thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dânViệt Nam.

Ngày 9 tháng 3 nǎm 1945, phát xít Nhật đảo chính hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương. Cuộc chiến tranh thế giới thứ I cũng bước vào giai đoạn cuối với những thắng lợi của Liên Xô và các nước Đồng minh. Ngày 4 tháng 5 nǎm 1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang) sau sự kiện Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản (ngày 9 tháng 8 nǎm 1945) và ồ ạt tiến công đạo quân Quan Đông của chúng, Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hirôsima (6/8/1945), và Nagadaki (9/8/1945), ngày 10 tháng 8 phe Đồng minh đã gửi công hàm yêu cầu Nhật Bản đầu hàng không điều kiện. Chớp thời cơ ấy, ngày 12 tháng 8 nǎm 1945, Hồ Chí Minh cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Theo đề nghị của Người, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã họp tại Tân Trào ngày 13 tháng 8 nǎm 1945. Hội nghị thông qua quyết định Tổng khởi nghĩa, thành lập ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ngày 16 tháng 8 nǎm 1945, Quốc dân Đại hội Tân Trào đã hoàn toàn nhất trí với chủ trương phát động khởi nghĩa của Đảng. Đại hội đã bầu ra Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Trong bức thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến; toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên”. Ngày 19 tháng 8, khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội, ngày 23 tháng 8 thắng lợi ở Huế, ngày 25 tháng 8 thắng lợi ở Sài Gòn.

Ngày 2 tháng 9 nǎm 1945, tại Quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Theo Camau.gov.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Báo cáo gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản

Các bạn thân mến,

Tôi ra đi đã 9 tháng nay và đã tới nơi được 7 tháng. Nhưng tôi lấy làm khổ tâm mà báo cáo rằng tôi chưa hoàn thành nhiệm vụ. Đúng là tôi đã rơi vào cơn lốc lớn đang làm biến đổi số mệnh của hàng trǎm triệu con người và trên con đường di chuyển của nó, nó đã ngẫu nhiên làm đảo lộn tất cả kế hoạch của tôi. Tuy nhiên điều đó cũng không thể bào chữa cho sự bất lực của tôi.

Trong bảy tháng qua, tôi đã làm gì ? Được sự giúp đỡ của một số bạn, tôi bắt tay tiến hành nghiên cứu, nhưng chẳng thu được kết quả nào. Sau đó, tôi tìm cách bắt các mối liên lạc, và việc này đã đưa lại ít nhiều kết quả như sau đây chúng ta sẽ rõ. Trong khi chờ đợi, để khỏi phí thời gian, tôi đến làm việc phiên dịch các tin tức thế giới (nghe đài thu thanh) ở Bát lộ quân, làm bí thư chi bộ, chủ nhiệm câu lạc bộ và hiện nay, uỷ viên uỷ ban câu lạc bộ. Đồng thời tôi đã viết một cuốn sách nói về Khu vực đặc biệt và một số bài báo phản ánh những biến cố chính trị và quân sự, sự tàn ác của bọn Nhật Bản, tinh thần anh dũng của các chiến sĩ Trung Quốc, cuộc đấu tranh chống bọn tờrốtxkít… để tuyên truyền quốc tế.

Từ ngày 12-2-1939, số lớn những bài đó đã được đǎng trên tờ Notre Voix, tuần báo công khai của Đảng Cộng sản Đông Dương, xuất bản tại Hà Nội. Trên các bài đó tôi đều ghi Quế Lâm và ký tên Lin, hy vọng rằng các đồng chí có trách nhiệm có thể đoán được ai là tác giả và hiện người đó ở đâu. Nhưng hy vọng này không đạt được. Tuy nhiên, giữa tôi và đồng chí chủ nhiệm tờ báo đã hình thành một mối liên hệ chặt chẽ, và đồng chí ấy vẫn tin chắc tôi là một nhà báo Trung Quốc.

Chỉ đến cuối tháng này (tháng 7), thông qua một người bạn, rồi thông qua đồng chí chủ nhiệm tờ báo nói trên, tôi mới gửi được cho Ban Chấp hành Trung ương địa chỉ của tôi và các đường lối, chủ trương. Nên chú ý là từ lúc ra đi, để cho dễ nhớ, tôi đã ghi lại những điểm chính của đường lối, chủ trương. Nhưng bản ghi đó, cùng với tất cả đồ đạc còn lại của tôi, đã bị thất lạc ở Diên An và đến lúc tôi về tới nơi thì chỉ còn lại vẻn vẹn một quyển từ điển. Vì vậy, tôi chỉ có thể truyền đạt cho Ban Chấp hành Trung ương những điều tôi còn nhớ. Đề nghị các đồng chí xem có những gì sai lầm và thiếu sót lớn không (bản sao kèm theo) 1 .

*

*      *

Qua tờ Notre Voix và tờ Đời nay – một tờ tuần báo công khai khác của Đảng xuất bản bằng tiếng Việt ở Hà Nội – tôi có thể tóm tắt tình hình trong nước như sau:

Nhìn chung, từ nǎm 1936 đến nǎm 1938, tình hình đã được cải thiện khá nhiều, chế độ ngày làm 8 giờ, hằng tuần có ngày nghỉ, chế độ nghỉ hằng nǎm là 10 ngày có lương, tự do tổ chức đã bắt đầu được thực hiện. Nhiều tù chính trị đã được ân xá. Nhưng tất cả những điều đó đã xấu đi từ khi Chính phủ Đalađiê ngả về hữu, nhất là từ nǎm 1939. Tình hình nghiêm trọng này đã gây nên phong trào đấu tranh trong quần chúng.

TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ TRONG NGƯỜI BẢN XỨ

Trung Kỳ: 2 đảng viên xã hội người bản xứ, nghị viên dân biểu và biên tập viên báo “Dân” đã bị tước quyền đại biểu, quyền công dân và bị tống giam. Tờ báo “Dân” bị đóng cửa.

Trong cuộc bầu cử bổ sung, 2 đảng viên xã hội khác đã trúng cử với đa số phiếu: 669 và 878 phiếu, so với 292 và 500 phiếu bỏ cho các ứng cử viên do chính quyền đưa ra. (Hình như nhiều người cộng sản đã lấy danh nghĩa Đảng Xã hội để dễ hoạt động hợp pháp).

Nam Kỳ: Trong dịp bầu cử Hội đồng quản hạt, Mặt trận dân chủ đã đưa ra danh sách Ninh, Tạo, Mai. Chính quyền đã gây mọi khó khǎn đối với các ứng cử viên này: từ chối không nhận danh sách ứng cử, đe doạ các chủ muốn cho họ thuê phòng làm nơi hội họp, xé áp phích của họ, bắt các biên tập viên báo Dân chúng (tờ báo công khai của Đảng ở Sài Gòn), tịch biên toà báo và tài chính của nó… Sau hàng trǎm cuộc mít tinh phản đối, có hơn 2 vạn người tham gia, chính quyền mới buộc phải thừa nhận danh sách ứng cử đó. Và chỉ đến vòng bầu cử thứ hai, 3 tên tờrốtxkít và 3 tên lập hiến mới trúng cử.

Bắc Kỳ: Do các đại biểu người Pháp từ chối không chịu thảo luận đề nghị nâng số đại biểu người bản xứ lên bằng số đại biểu người Pháp (hiện nay có 12 Pháp và 6 bản xứ), 3 đại biểu đảng viên xã hội người bản xứ đã từ chức. Trong khi bầu lại, những người từ chức đó đã thắng lợi rất oanh liệt và trúng cử với con số từ 750 đến 772 phiếu so với con số từ 11 đến 370 phiếu bỏ cho các ứng cử viên do chính quyền đưa ra.

ít lâu sau, anh Phan Thanh, một trong số đại biểu đảng viên xã hội đó, chết. Dân chúng đã tổ chức tang lễ rất trọng thể. Đám tang có 153 vòng hoa, có đại biểu 14 tỉnh về dự và dài 2 kilômét. Gia đình anh nhận được 110 điện viếng. Chưa bao giờ có một đám tang lớn như thế ở Hà Nội.

TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ CỦA PHÁP Ở BẮC KỲ

Tháng 1, Đại hội Chi nhánh Đảng Xã hội Bắc Đông Dương họp tại Hà Nội. Nhiều quyết nghị đã được thông qua:

Kết nạp đảng viên: – “…tới tận các thợ thủ công mù chữ…”.

Thống nhất hành động: – “… Đại hội thông qua đường lối thống nhất hành động của Ban Thường vụ và giao cho Ban Thường vụ thực hiện sách lược này…”.

Giúp đỡ Trung Quốc: – “Một uỷ ban thường trực sẽ được thành lập để đảm nhiệm việc giúp đỡ Trung Quốc, đồng thời giúp đỡ cả những người cộng hoà Tây Ban Nha, những người lưu vong Tiệp Khắc, những người Do Thái và các nạn nhân Đông Dương”.

Chống đàn áp – “… cực lực phản đối những hành động phá hoại lòng tin cậy và mối hy vọng của nhân dân bản xứ đối với nước Pháp dân chủ…. Báo động cho tất cả các tổ chức tiến bộ đang hoạt động ở miền Bắc Đông Dương và đề nghị các tổ chức ấy cùng phối hợp hoạt động để ngǎn chặn những hành động vô chính trị và độc đoán đó”.

Một đại biểu thanh niên dân chủ (không phải là một tổ chức) đã đọc trước Đại hội một bản kiến nghị yêu cầu cho thành lập một chi hội Thanh niên xã hội (vào tháng 4, một chi hội như thế đã được thành lập ở Hà Nội).

Tờ Notre Voix đã đǎng một lời chào mừng anh em gửi cho Đại hội.

Hội nhân quyền 19 đã đòi tự do lập nghiệp đoàn cho công nhân bản xứ. (Về sau tôi sẽ trình bày chính sách của bọn tờrốtxkít Đông Dương).

CÔNG NHÂN

Tuỳ từng vùng, tiền lương có khác nhau. Nhưng nét chung đối với tất cả các nơi là tiền lương rất thấp.

Lương công nhật tối thiểu là:

Đàn ông – Trung Kỳ: từ 0đ20 đến 0đ33

Bắc Kỳ: – 0đ22 – 0đ33

Đàn bà – Trung Kỳ: – 0,15 – 0,25

Bắc Kỳ: – 0,17 – 0,25

Trẻ em – Trung Kỳ: – 0,11 – 0,19

Bắc Kỳ: – 0,12 – 0,17

Theo số liệu chính thức ở Bắc Kỳ thì giá sinh hoạt tháng 6-1939 tǎng 40% so với tháng 9-1938 và so với nǎm 1914 thì tǎng 177%; trong khi đó, tiền lương chỉ tǎng từ 10 đến 12%, vì vậy một làn sóng bãi công đã nổ ra.

Địa phương

Ngành nghề

Yêu sách

Người tham gia bãi công

Tháng

Kết quả

– Turan

công nhân Riksha phản đối tǎng tiền thuê nhà

1

– Vĩnh Long

thợ làm gạch tǎng lương

500

nt

thắng lợi

– Chợ Lớn

đồn điền tǎng lương

nt

– Thủ Dầu Một đồn điền giảm giờ làm từ 11 giờ xuống 9 giờ

300

nt

thắng lợi

– Hải Phòng

thợ may tǎng lương (không nổ ra bãi công)

3

thắng lợi

– Hải Phòng

thợ cưa

tǎng lương

1.000

4

– Cần Thơ

thợ cưa

tǎng lương

100

4

– Hà Nội

thợ cưa

tǎng lương

400

4

– Uông Bí

công nhân mỏ than

tǎng lương

300

4

thắng lợi

– Mỹ Tho

công nhân Riksha

phản đối phạt vạ

200

4

– Chợ Lớn

thợ cưa

tǎng lương

100

4

– Hải Phòng

công nhân sợi

tǎng lương

3.000

nt

thắng lợi

– Hà Nội

thợ may

tǎng lương

nt

– Hà Nội

thợ in

tǎng lương

70

4

thắng lợi

– Nam Định

trẻ em bán
kem

phản đối tǎng giá

60

5

– Hà Nội

trẻ em bán kem

tǎng giá

100

5

thắng lợi

– Hà Nội

đô tuỳ

tǎng lương

500

nt

– Hà Nội

thợ dệt

tǎng lương

14

nt

thắng lợi

– Hà Nội

học nghề

cải thiện sinh hoạt

30

nt

– Hà Nội

nhạc sĩ

tǎng lương

40

nt

– Hà Nội

thợ dệt

tǎng lương

nt

thắng lợi

– Hà Nội

thợ mộc

nt

700

nt

thắng lợi

– Hải Phòng

công nhân
bốc vác

nt

1.500

nt

thắng lợi

– Sài Gòn

công nhân
vệ sinh

nt

300

nt

thắng lợi một phần

– Hải Phòng

công nhân
xi mǎng
tǎng lương (bãi công 1 giờ)

60

6

thắng lợi

– Hải Phòng

công nhân
bốc vác

nt

100

nt

– Hải Phòng

công nhân
xe chỉ

nt

800

nt

thắng lợi

– Hải Phòng

dệt thảm

nt

700

nt

– Hải Phòng

làm ô yêu sách, (không bãi công)

nt

– Hải Phòng

chè tǎng lương

200

nt

thắng lợi

– Hải Phòng

thợ máy tǎng lương

300

5

thắng lợi

– Hải Phòng

hãng buôn

nt

300

6

nt

– Hải Phòng

chè

nt

300

nt

thất bại

– Hải Phòng

thuỷ tinh

nt

700
phụ nữ

nt

– Hà Nội

công nhân
hoả xa

nt

800

nt

thắng lợi một phần

– Hà Nội

thêu tǎng lương

nt

thắng lợi một phần

– Hà Nội

làm mũ tǎng lương

100

nt

thắng lợi một phần

– Hà Nội

hãng ô tô Pho

nt

300

6

– Dĩ An

xe lửa

nt

700

nt

– Sài Gòn

bến tàu

nt

4.000

6

thắng lợi

– Sài Gòn

nhà in

nt

300

6

thắng lợi một phần

– Sài Gòn

thợ giày

nt

nt

– Hà Nội

máy diêm

tǎng lương

240 phụ nữ

6

thắng lợi

– Hà Nội

nhà in

nt

60

6

thắng lợi

– Hà Nội

thợ mộc ngày hợp pháp

6

thắng lợi

– Hà Nội

nhà in khác tǎng lương

6

thắng lợi

– Hà Nội

xe lửa

nt

6

– Hà Nội

thợ máy

nt

600

6

thắng lợi

– Hải Phòng

lái tàu sông

nt

6

thắng lợi

– Uông Bí

công nhân
mỏ than

nt

2.000

6

thắng lợi

(Bảng này thống kê từ tháng 1 đến tháng 6, nhưng chưa đầy đủ. Dấu (-) tức là chưa biết).

Một vài đặc điểm của các cuộc bãi công nói trên:

So với trước thì các cuộc bãi công nǎm 1939 có tổ chức và có kỷ luật hơn. Các cuộc bãi công ấy đều đưa ra những yêu sách cụ thể hơn: đòi tǎng lương, ngày làm 8 giờ, bảo hiểm xã hội, công nhận các đại biểu, tự do nghiệp đoàn. Đó là những yêu sách cơ bản.

Hầu hết các cuộc bãi công đều được sự ủng hộ tinh thần và vật chất của công nhân các ngành khác, của nông dân và tiểu thương; đôi khi ngay cả tù chính trị cũng đóng góp vào các cuộc lạc quyên ủng hộ. Những người bãi công đã ra lời kêu gọi lao động trong cả nước và đã nhận được thư tỏ tình đoàn kết. Mỗi lần thắng lợi, họ lại ra những bản tuyên bố động viên toàn thể công nhân đoàn kết lại, đồng thời cũng nhận được nhiều điện mừng gửi tới.

Trong khi cuộc bãi công của công nhân Nhà máy sợi Hải Phòng đang nổ ra, bọn mộ công nhân đã tìm cách quyến rũ công nhân thất nghiệp Nam Định; nhưng những người này không muốn trở thành những kẻ phá hoại bãi công và đã gửi thư khuyến khích bạn đồng nghiệp của họ ở Hải Phòng tiếp tục đấu tranh cho đến thắng lợi.

Sau cuộc bãi công, bọn chủ và bọn thanh tra lao động buộc phải ký giao kèo với đại biểu công nhân. Như vậy là đoàn đại biểu công nhân được coi như hợp pháp.

Những người bãi công đã thực hiện kỷ luật dân chủ. Ví dụ: sau cuộc bãi công của công nhân Nhà máy sợi Hải Phòng, đến trưa thì ban giám đốc và bọn thanh tra lao động của nhà máy ký giao kèo, nhưng đại biểu của những người bãi công từ chối không chịu ký khi họ chưa có ý kiến đồng ý của toàn thể công nhân. Đến 2 giờ chiều, trước 2.000 công nhân tập hợp rất trật tự trước nhà máy, bản giao kèo được đem ra đọc. Chỉ sau khi toàn thể những người tham gia bãi công nhất trí tán thành, các đại biểu mới ký tên vào bản giao kèo. Lúc bấy giờ, công nhân đã giơ nắm tay “mặt trận đỏ” lên cám ơn viên tổng thanh tra lao động. Bức thư của họ được đǎng trên các báo và kết thúc bằng những khẩu hiệu: “Vô sản thế giới muôn nǎm! Mặt trận dân chủ muôn nǎm! Tự do nghiệp đoàn, dân chủ và tinh thần đoàn kết muôn nǎm!”.

Làn sóng bãi công làm cho bọn chủ lo lắng. Một số trong bọn chúng (Nhà máy sợi, Nhà máy rượu Nam Định và một số khác) không đợi công nhân yêu sách, đã thực hiện tǎng lương.

Tổ chức công nhân

Từ nǎm 1936, sau khi Mặt trận nhân dân ở Pháp thắng lợi, phong trào đòi tự do nghiệp đoàn ở Đông Dương bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Để ngǎn chặn hoặc làm trì trệ phong trào, chính phủ thuộc địa đã “khuyên công nhân trước hết hãy tổ chức những hội ái hữu” với một điều lệ hạn chế do tự chúng thảo ra. Nhưng ngay sau khi chính phủ Pháp ngả về hữu thì các tổ chức ái hữu ở Đông Dương bắt đầu bị khủng bố. ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ, người ta đóng cửa một vài tổ chức cũ, gây khó khǎn đối với những tổ chức mới và cấm không cho lập thêm các tổ chức khác. ở Trung Kỳ thì lại quá tay! Người ta bỏ tù 4 nǎm những nông dân tổ chức hợp tác! Vì vậy cho nên “đòi hỏi tự do tổ chức” trở thành một trong những khẩu hiệu chính của tất cả các cuộc bãi công và biểu tình. Cần nhắc lại rằng, ngày 6-3-1939, công nhân dệt ở Hà Nội đã gửi thư cho Thống sứ Bắc Kỳ đòi tự do nghiệp đoàn. Ngày 14-4, cũng ở thành phố này, những người lao động đã gửi thư cho Bộ trưởng thuộc địa tố cáo những hành động đàn áp công nhân và đòi tự do dân chủ. Ngày 6-6, đại biểu các hội ái hữu của 4 thành phố (Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng và Hà Đông) đã gửi cho Thống sứ Bắc Kỳ và cho Tổng thanh tra lao động một lá thư, trong đó, đoạn cuối như sau:

“Nǎm 1936, khi phong trào đòi tự do nghiệp đoàn lên cao, chính phủ bảo những người lao động hãy tổ chức những hội ái hữu đã, trong khi chờ đợi thành lập nghiệp đoàn. Chúng tôi không phải là những người bảo thủ để tin rằng hội ái hữu là một bước cần thiết để tiến tới nghiệp đoàn, nhưng vì không muốn bỏ lỡ một cơ hội nhỏ nào, nhằm tổ chức quần chúng lao động lại, nên chúng tôi đã bắt đầu tiến hành thành lập hội ái hữu ở khắp nơi, mỗi nơi một ít, đồng thời không ngừng đòi nhà chức trách phải thực hiện tự do nghiệp đoàn.

“Khắp nơi, mỗi nơi một ít, các hội ái hữu được thành lập, làm việc trong không khí mới mẻ và với một phương pháp mới. Thấy vậy, nhà chức trách tìm hết cách ngǎn chặn, khủng bố các hội ấy, đuổi những công nhân là hội viên hoặc công nhân có trách nhiệm trong các tổ chức này, giải tán một cách độc đoán những hội ái hữu cũ và ngǎn cấm không cho thành lập những hội mới.

“Chúng tôi kịch liệt phản đối việc giải tán các hội ái hữu hoạt động trong vòng trật tự, hợp pháp và không bao giờ vượt quá phạm vi nghề nghiệp của mình. Chúng tôi kiên quyết đòi cho những người lao động được tự do lập hội ái hữu. Thay mặt các hội ái hữu của những người lao động Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và Hà Đông, đại biểu cho niềm hy vọng của các tầng lớp lao động Bắc Kỳ, với thiện cảm và sự ủng hộ của lao động toàn Đông Dương, chúng tôi lớn tiếng đòi: Tự do nghiệp đoàn! Tự do tổ chức hội ái hữu!”.

Ngày 1-5-1939

Nǎm 1938, lần đầu tiên Hà Nội được tổ chức ngày 1-5 hợp pháp. Ngày đó thật là lớn và đối với Đông Dương, có thể nói là vĩ đại: 2 vạn người biểu tình. Nǎm nay, Đảng Cộng sản tán thành, nhưng Đảng Xã hội lại phản đối biểu tình công khai. Cuối cùng, một cuộc họp đã được tổ chức tại trụ sở Đảng Xã hội, có 100 đại biểu các tổ chức tham dự. ở các thành phố khác lại có nhiều cuộc biểu tình lớn hơn.

Hải Phòng 700 người biểu tình,

Thái Bình 500 –

Thanh Hoá 2.000 – trong 23 cuộc míttinh,

Nghệ An 500 nông dân,

Sài Gòn 11 cuộc biểu tình, 5 cuộc bãi công,

Mỹ Tho 250 công nhân biểu tình,

Long Xuyên 300 –

Thà khẹt (Lào) 40 –

Sau ngày lễ đó, nhiều vụ bắt bớ và tù tội đã diễn ra.

Những cuộc biểu tình khác

Lấy cớ để phòng thủ Đông Dương, ngày 15-5 Chính phủ quyết định thu 10 triệu bạc “đảm phụ quốc phòng”. Tất cả gánh nặng đó đè lên lưng người bản xứ. Một công chức người bản xứ phải đóng góp 8 lần so với đồng sự của họ người Pháp. Một người Âu chỉ phải đóng một đồng thuế thân, trong khi đó một người bản xứ phải đóng từ 1đ50 đến 20đ00, cộng thêm 4đ20 tiền miễn trừ tạp dịch nữa. Thuế môn bài tǎng gấp đôi, gấp bốn. Ví dụ: một ông già bán thuốc chữa bệnh vốn chỉ 15đ00 mà phải đóng đến 6đ00 thuế thân và 9đ80 thuế môn bài! Nông dân phải đóng nhiều hơn nǎm 1938 là 38%. Tình hình đó đã gây ra những cuộc biểu tình và phản đối trong nhân dân. Dưới đây là bản thống kê không đầy đủ về những cuộc biểu tình đó.

Ngày tháng

Địa phương

Người tham gia

Yêu sách

Tháng 3

Hà Nội

200

– Người buôn bán gửi đơn cho chính phủ phản đối tǎng thuế.

Tháng 4

Hà Nội

Tiểu thương

– Gửi đơn cho chính phủ phản đối tǎng thuế.

Tháng 4

Vĩnh Long

Nông dân

– Đòi chia đất công.

Tháng 5

Hải Phòng

1.500

– Phản đối tǎng thuế, đòi giảm thuế cho người nghèo, đòi tự do tổ chức, đoàn kết với công nhân bãi công, chống khủng bố.

Tháng 5

Hà Nội

722

– Tiểu thương đòi phủ toàn quyền giảm thuế cho người nghèo và người thất nghiệp. Đánh thuế nặng hơn đối với các công ty lớn.

Tháng 5

Hải Phòng

438

– Tiểu thương phản đối tǎng thuế.

Tháng 5

Hải Phòng

1000

– Công nhân và tiểu thương phản đối tǎng thuế và đòi tự do tổ chức.

Tháng 5

Sơn Tây

– Nông dân làng Dụ Phước đòi chia ruộng công.

Tháng 5

Thái Bình

500

– Biểu tình chống thuế, đòi tự do dân chủ, đòi ân xá chính trị phạm.

Tháng 5

Thanh Hoá

– Đòi lại phiếu quốc trái mà bọn trung gian đã chiếm mất.

Tháng 6

Hà Đông

100

– Nông dân Hạ Trì chống thuế.

Tháng 6

Cao Bằng

300

– Nông dân chống thuế.

Tháng 6

Hải Phòng

1.500

– Công nhân và tiểu thương chống tǎng thuế, chống khủng bố và chủ nghĩa phát xít, đòi tự do tổ chức.

Tháng 6

Hà Nội

650

Biểu tình phản đối tǎng thuế, tỏ tình đoàn kết với những người bãi công và nông dân bị tước đoạt ở Thái Ninh.

Tháng 6

Hà Đông

3.000

– Nông dân làng Vǎn Phước chống bán ruộng công.

Tháng 6

Thái Bình

500

– Nông dân Đặng Phổ chống tǎng thuế, tỏ tình đoàn kết với nông dân Thái Ninh.

Tháng 6

Thái Bình

– Nông dân An Thái đòi chia ruộng công.

Tháng 6

Hải Phòng

– Hàng trǎm người biểu tình ở công viên phản đối tǎng thuế, chống khủng bố công nhân, và tỏ tình đoàn kết với những người bãi công.

Tháng 6

Thanh Hoá

1.739

– Nhân dân gửi 47 đơn cho phủ toàn quyền đòi giảm thuế và thực hiện tự do dân chủ.

Tháng 7

Thái Bình

– Hàng ngàn nông dân biểu tình phản đối tước đoạt ruộng đất của họ (1.500 mẫu) để cấp cho bọn chủ báo Hà Nội buổi chiều và Đông Pháp. Số ruộng đất này thuộc làng Thái Ninh. Nhiều cuộc bãi thị đã nổ ra.

Báo Chí

Theo tôi biết, ở Bắc Kỳ cánh tả có những tờ tuần báo như sau:

Demain – Đảng Xã hội,

Tribune républicaine – (Pháp),

Effort – Tiến bộ – tự trị – (bản xứ),

Notre Voix – Cộng sản,

Đời nay – Cộng sản,

Người mới – Khuynh hướng xã hội,

Ngày mới – Khuynh hướng xã hội,

Thế giới – Thanh niên tiến bộ.

Trung Kỳ:

Tiếng dân – Quốc gia.

Nam Kỳ:

Dân chúng – Cộng sản,

Lao động – Khuynh hướng cộng sản (tôi cho như vậy),

Tiến tới – Tiến bộ,

Đông phương – Tiến bộ,

Mới – Thanh niên dân chủ.

Các báo này tán thành đòi tự do, dân chủ và ân xá chính trị phạm.

Tờ Dân chúng xuất bản ở Sài Gòn từ tháng 7-1938 là tờ báo đầu tiên đã bất chấp đạo luật cấm phát hành nếu không được phép trước. Sau khi nó ra đời được một tháng, quyền tự do báo chí được ban hành, nhưng hàng ngày, người ta cứ tìm cách cắt xén và thủ tiêu đi, như về sau, chúng ta sẽ thấy. Tôi nghĩ rằng Dân chúng cũng là tờ báo được nhiều người đọc nhất ở Đông Dương, vì số lượng phát hành của nó lớn hơn tất cả – mỗi số 1 vạn bản. Ngày 7-3, tờ báo bị tịch thu, các biên tập viên của nó bị bắt. Trong suốt tháng sau, 28 cuộc mít tinh phản đối đã nổ ra, một vài cuộc có tới 1.000 người tham gia; và để giúp đỡ tờ báo, một cuộc lạc quyên đã được tổ chức và thu được hơn 400đ trong một tuần lễ. Phản đối chính phủ tìm cách ngǎn cản các ứng cử viên của Mặt trận dân chủ trong cuộc bầu cử Hội đồng quản hạt, trong vòng đầu, báo Dân chúng đã đưa ra khẩu hiệu bỏ phiếu trắng và 2.585 cử tri đã làm theo.

Báo Đời nay ở Bắc Kỳ cũng rất được nhiều người đọc. Trong danh sách “ủng hộ báo Đời nay” người ta đọc thấy tên phụ nữ, thanh niên, học sinh, công nhân, nông dân, tiểu thương ủng hộ từng xu nhỏ một. Người ta còn thấy tên một thiếu nữ ủng hộ tới 20 đồng bạc; có lẽ đó là một người cảm tình trẻ tuổi thuộc tầng lớp tư sản. Công nhân ở Boócđô, Havơrơ, Xiêm, Lào và Vân Nam cũng đều gửi tiền ủng hộ. Khi công nhân, nông dân, tiểu thương và hương sư có kêu ca điều gì thì họ cũng nhờ tới báo “Đời nay”.

Người đọc tờ Notre Voix thì ít hơn nhiều, và chỉ gồm những người Đông Dương biết tiếng Pháp, làm chính trị. Đây là cương lĩnh của tờ Notre Voix và cũng là cương lĩnh chung của các tờ báo cộng sản Đông Dương:

“Notre Voix sẽ là tiếng nói của những người mong muốn hoà bình, muốn được tự do và hạnh phúc hơn, của những người quyết tâm đấu tranh cho một cuộc sống tốt đẹp hơn, đấu tranh chống lại các lực lượng bảo thủ và áp bức xã hội, chống lại những kẻ gây chiến, chủ nghĩa phát xít trong nước và trên quốc tế.

“Nói một cách chính xác hơn, Notre Voix sẽ hoạt động để mở rộng và củng cố mặt trận những lực lượng tiến bộ, mặt trận dân chủ Pháp – Đông Dương, để tǎng cường tình đoàn kết của nhân dân Đông Dương với các chiến sĩ anh hùng Trung Quốc, Tây Ban Nha và nói chung, với toàn thể nhân dân thế giới”.

Chính phủ thuộc địa tích cực dùng bạo lực chống lại các báo phái tả cũng như các báo dân chủ bản xứ. Chúng đuổi những công nhân, viên chức đọc các báo đó, đe doạ những độc giả khác, tịch thu báo, và đôi khi cả tài chính của toà báo, bắt bớ và tống giam các biên tập viên và phóng viên, truy tố ban biên tập trước toà án, v.v.. Các biên tập viên báo Thanh niên bị bắt ngay sau khi tờ báo phát hành. Thuế môn bài các đại lý báoĐời nay đều tǎng 700%.

Nói về những cuộc đàn áp ấy, báoĐời nay, cơ quan của Đảng Xã hội xuất bản ở Hà Nội, viết:

“Người ta chỉ có thể khiển trách họ đã đề cập đến những vấn đề dân chủ, đã ca ngợi một sự hợp tác Pháp – Việt chân thành, một sự đoàn kết hợp lý trước hoạ phát xít…. Người ta bóp nghẹt mọi tài liệu dân chủ và dung túng sách báo thân Nhật hoặc có khuynh hướng phát xít”.

Cũng cần nhắc ra đây tên một số sách bị cấm:

Lênin

Nước Nga Xô viết

Lịch sử cách mạng Trung Quốc

Tây Ban Nha

Thắng lợi của thái độ kiên trì của Liên Xô

Việc võ trang Liên Xô

Công cuộc khôi phục ở Liên Xô

Sự tiến bộ trong quan hệ Trung – Xô

(Tóm lại, tất cả sách viết về Liên Xô).

Tờrốtxki, công cụ của chủ nghĩa phát xít (bằng tiếng Trung Quốc)

Mặt trận thống nhất chống phát xít sau sự kiện Muyních (bằng tiếng Trung Quốc).

Tất cả những sách chống phát xít và ngay cả những quyển sách như:

Nguyên lý lãnh đạo (bằng tiếng Việt) và các tác phẩm vǎn nghệ như:

Lúc tôi ở với Lênin của Goócki, cũng đều bị cấm.

Báo cánh tả bằng tiếng Việt bị cấm lưu hành ở Trung Kỳ và Cao Miên. Các báo tờrốtxkít và có khuynh hướng phát xít được khuyến khích và tự do lưu hành khắp nơi.

Cuốn Tư bản cũng bị cấm ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ.

Tù chính trị

Theo tờ Notre Voix thì còn khoảng 1.500 tù chính trị ở trong các nhà lao. Tổ chức cứu tế nhân dân ở Pháp luôn luôn can thiệp và các báo cánh tả Pháp, Việt ở Đông Dương (ngay bọn tờrốtxkít cũng có tham gia một lần và theo cách của chúng) đều lên tiếng đòi trả lại tự do cho họ.

Tháng 6, Hội đồng quản hạt Nam Kỳ đã thông qua một bức điện gửi cho Bộ trưởng Bộ thuộc địa yêu cầu ân xá toàn thể các chính trị phạm.

Các báo cộng sản đều tổ chức lạc quyên giúp đỡ họ. Từ nǎm 1938 cho đến tháng 4-1939, số tiền lạc quyên đã hơn 800đ. Cũng như mọi khi, những người đóng góp vẫn cứ là công nhân, nông dân, sinh viên, tiểu thương, thanh niên dân chủ, công nhân bản xứ làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, đôi khi cũng có những hành động cảm động: 2 thanh niên nông dân cùng nhau ủng hộ 7 xu và bên cạnh họ là một người cảm tình vô danh ủng hộ 20đ. Cũng có những người ủng hộ thuốc uống, sách và truyện cũ, kẹo, bưu ảnh, v.v..

Nhưng nếu lớp tù chính trị này được thả ra thì người ta lại tống giam những lớp mới khác.

Biểu tình trước trụ sở Hội đồng dân biểu: 3 nǎm tù và 3 nǎm quản thúc.

Tham gia vào hội tương tế, dù hội này đã được phép mở: cũng án như vậy.

Đưa yêu sách của dân làng cho các nghị viên, dù các nghị viên đó tự mình đến hỏi: 10 nǎm khổ sai và 10 nǎm quản thúc, v.v..

Phi Vân (mà người ta cho rằng đã phản bội) đã bị bắt và bị kết án 10 nǎm tù hồi tháng 6-1939. Anh ta bị áp giải một cách cẩn mật từ nhà lao đến Toà án Bắc Ninh, tay bị xiềng, đầu trần, chân đất, mình trần trụi và chỉ mang mỗi chiếc quần cộc.

Tờ Cố gắng viết về các cuộc đàn áp như sau: “… 20 nǎm sau khi hàng vạn đồng bào của chúng ta đã ngã xuống trên chiến trường Pháp, chúng ta vẫn không được hưởng một chút quyền, một chút tự do sơ đẳng nào mà nhân dân các nước dân chủ vǎn minh đã được hưởng.

Không có tự do báo chí.

Không có tự do lập hội.

Không có tự do hội họp.

Sau hai nǎm thực hiện một mức tự do hạn chế, trong đó, một vài chính kiến đã được phép nói lên đến một chừng mực nào đó, Chính phủ Đông Dương… lại bắt đầu o ép và đàn áp… Tờ Ngày mai viết:

“Hình như các nhà cầm quyền của chúng ta đã mất hết sáng suốt và bình tĩnh, hình như hễ bị kinh khủng là họ mất hết trí minh mẫn và lòng độ lượng; kể từ nǎm 1930… – thời kỳ bi thảm mà hiện nay hình như chúng ta đang trở lại – chưa bao giờ lại có những phương pháp đàn áp khốc liệt và tàn bạo quá tay đến thế.

Người ta tịch thu, người ta cấm đoán, người ta bắt bớ, người ta kết tội một cách không cǎn cứ, điên rồ, sai trái, độc đoán và hết sức ráo riết. Người ta bịa đặt, người ta nặn ra mọi chứng cớ giả tạo, người ta dùng đến những hành động nhục nhã. Người ta dùng cả những biện pháp bất hợp pháp: người ta đã hành động đến mức không luật pháp, đạo đức, nhân quyền, lương tri nào có thể bào chữa cho một chính sách ngu xuẩn đến thế”.

Đông Dương và Trung Quốc

Những người lao động Việt Nam hoàn toàn đứng về phía Trung Quốc. Những người có ít nhiều tinh thần dân chủ, những nhà buôn Pháp cũng đều như vậy, tất nhiên vì nhiều nguyên nhân khác nhau.

Đảng Xã hội, Hội nhân quyền và tất cả những phần tử cánh tả ở Bắc Kỳ đã tổ chức vào đầu nǎm 1939 một cuộc hội chợ lớn để giúp các nạn nhân chiến tranh của Trung Quốc. Những người cộng sản đưa ra khẩu hiệu: “Giúp đỡ Trung Quốc!”. Dân chúng đã thấm nhuần tinh thần khẩu hiệu đó và bằng chứng là, dù còn đói khổ, từ tháng 3-1938 tới tháng 2-1939, họ đã đóng góp 579 đồng vào cuộc lạc quyên ủng hộ các chiến sĩ Trung Quốc, do các báo cộng sản ở Bắc Kỳ tổ chức (ở các địa phương khác cũng có lạc quyên, nhưng tôi không biết kết quả). Ngày đầu nǎm, báo Notre Voix đã nhận được 38đ35 ủng hộ những người du kích. Nhân dịp kỷ niệm 2 nǎm ngày chiến tranh bùng nổ, nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã gửi cho các chiến sĩ 100 đồng và một lá thư cổ vũ gồm 2.330 chữ ký.

Những người cộng sản cũng đưa ra khẩu hiệu tẩy chay hàng Nhật. Cần nói thêm rằng, những người cộng sản đã đặt ra bài hát: “Giúp Trung Quốc tức là giúp mình”, và bài hát đó đã được truyền đi rất rộng trong quần chúng. Nhiều nơi đã tổ chức các cuộc biểu diễn ban đêm. Người biểu diễn là công nhân, nông dân, nhất là thanh niên, họ thường phối hợp với thanh niên Trung Quốc để làm.

Dưới áp lực của Nhật, Chính phủ Pháp quyết định đóng cửa biên giới Trung Quốc – Bắc Kỳ lại. Chính phủ thuộc địa không tán thành chủ trương ấy. Các thương gia Pháp đấu tranh chống quyết định đó. Báo chí cũng nhất trí chống lại việc đóng cửa biên giới, nhưng với lý do khác nhau, kẻ thì vì vật chất, người thì vì chính trị. Trước Hội đồng dân biểu, Chủ tịch phòng thương mại Hà Nội đã kịch liệt phản đối quyết định của Chính phủ. Sau khi cho biết rằng từ tháng 2 đến tháng 10-1938, Đông Dương đã xuất cảng sang Nhật 341.000 tấn than và quặng sắt, ông nói: “… Nếu chúng ta coi việc xuất cảng này là hợp pháp thì không thể hiểu tại sao chúng ta lại cấm việc xuất cảng sang Trung Quốc, … Trung Quốc đã nhường đường xe lửa Vân Nam cho một công ty Pháp, Trung Quốc đã nhường đất để làm đường sắt và cung cấp nhân lực cần thiết cho công cuộc xây dựng. Ngoài ra, trong điều 4 của Hiệp ước Trung – Pháp có ghi: “Dụng cụ chiến tranh, vũ khí và đạn dược mà Chính phủ quốc gia muốn chuyển vận xuyên qua đất Bắc Kỳ sẽ được miễn mọi thứ” … Không tôn trọng lời ký kết của nước Pháp, chúng ta đã cấm vận chuyển hàng hoá sang Trung Quốc bằng con đường sắt (Pháp – Trung Quốc) Vân Nam. Trong lúc đó, chúng ta lại giao than và quặng sắt của chúng ta cho Nhật Bản…”.

Tướng tổng tham mưu trưởng Bạch Sùng Hy tuyên bố với các nhà báo Pháp: “Hiện nay không phải chỉ Quảng Tây tỏ ý bất bình với nước Pháp, mà cả Vân Nam, Quảng Đông và tất cả các tỉnh khác ở Hoa Nam nữa”.

Trong thời gian 3 tháng, người Trung Hoa đã làm xong 250 kilômét đường ôtô nối liền Vân Nam và Rǎnggun. Anh sẽ cho Trung Quốc vay 100 triệu để xây dựng một con đường sắt chạy theo hướng này. Chính phủ Đalađiê nhận thấy rằng nhiều mối lợi to lớn sẽ mất, không những thế cả nền thương mại Pháp ở Bắc Kỳ cũng sẽ bị phá sản, cho nên chúng buộc phải ngấm ngầm mở lại cửa biên giới mà không nói nǎng gì.

Nhật chiếm đảo Hải Nam và Spralây làm cho Pháp lo sợ. Họ liền tìm cách hợp tác với người Anh (Hội nghị quân sự ở Singapo) và chuẩn bị phòng thủ: tǎng quân bằng cách tuyển thêm một vạn người, sửa lại các hải cảng, xây dựng sân bay và các nhà máy có thể sản xuất từ 150 đến 400 máy bay một nǎm.

Các báo cánh tả cho rằng như vậy vẫn chưa đủ, rằng muốn phòng thủ có kết quả thì phải có sự hợp tác thành thật của dân chúng; muốn thế, cần ban hành những quyền dân chủ cho người bản xứ.

Nên nhớ rằng chính phủ thuộc địa đã tổ chức một trường học tiếng Nhật ở Thanh Hoá. Lại một sự việc có ý nghĩa hay một dấu hiệu sợ hãi: tháng 6, trong một thông tri gửi cho người Pháp ở Bắc Kỳ, chính phủ đã hỏi họ rằng: Nếu chiến tranh nổ ra thì họ sẽ tản cư vợ con họ ra sao.

Nói thêm, những người cộng sản đã sáng tác bài hát Giúp Trung Quốc tức là giúp mình, một bài hát rất được phổ biến. Nhiều đêm (vui) kịch đã được tổ chức ở nhiều nơi. Những phần tử hǎng hái là công nhân, nông dân và nhất là thanh niên, họ thường hợp tác với thanh niên Trung Quốc.

Hoạt động của Nhật ở Đông Dương

Bọn Nhật đã nhòm ngó Đông Dương từ lâu. Điều đó rất rõ ràng. Chương trình hoạt động của chúng có thể chia ra 3 mặt tuyên truyền, xâm nhập kinh tế và hoạt động gián điệp. Công tác tuyên truyền ấy chỉ tranh thủ được bọn quan lại bất mãn và các cụ đồ nho. Trong khi tuyên truyền, những người này tỏ ra công khai thân Nhật và chống Trung Quốc. Nhưng họ không có chút tác dụng nào trong đông đảo quần chúng, vì như trên đã nói, quần chúng thực sự đứng về phía Trung Quốc. Từ 34 nǎm nay, bọn Nhật đã nuôi Cường Để, ông hoàng Việt Nam lưu vong ở trên đất chúng, chỉ mong có dịp sẽ dùng đến. Về mặt kinh tế, đặc biệt bọn Nhật tìm cách thâm nhập vào các vùng mỏ Bắc Kỳ. Chúng đã đầu tư được vào nhiều công ty khai thác. Thứ hai là bán hàng hoá giá rẻ.

Gián điệp Nhật hoạt động rất mạnh ở Đông Dương. Ba tháng trước đây, một người Pháp chủ nhiệm một tờ báo và một người Việt Nam đã bị kết án 20 và 15 nǎm khổ sai về tội làm gián điệp. Về vấn đề này, tờ Effort viết: “Nhưng biết bao người như thế sẽ có thể tiếp tục công việc của họ một cách yên ổn gần như tuyệt đối, do thái độ do dự của các nhà cầm quyền Pari của chúng ta tạo nên”. Đối với bọn gián điệp người Nhật, Chính phủ Pháp tỏ ra rất nhân nhượng. Ví dụ, nǎm ngoái một sĩ quan Nhật bị bắt quả tang làm gián điệp ở Bắc Kỳ, người ta bắt được trong người hắn một tập tài liệu dày cộp. Nhưng Chính phủ chỉ yêu cầu tên sĩ quan này ra khỏi Đông Dương mà thôi. Mới đây, người ta bắt được ở Lào Cai 3 gián điệp người Nhật đang vẽ các cứ điểm chiến lược. Ra trước toà án, chúng chỉ bị phạt 100 quan!

Trái lại, người ta kết tội những người cộng sản là thân Nhật. Ngày 13-6, đồng chí chủ nhiệm tờ báo cộng sản Đời nay ở Hà Nội bị triệu đến sở mật thám. Viên chánh cẩm bảo đồng chí rằng: Những người cộng sản đã ǎn lương của Nhật và chính vì thế mà họ đã tổ chức bãi công nhằm mục đích phá hoại việc tiếp tế cho Trung Quốc. Những người cộng sản đã kịch liệt phản đối lời vu cáo này của bọn cẩm bằng lời nói và bằng vǎn bản.

*

*      *

Tôi rất tiếc hôm nay chưa thể nói được về bọn tờrốtxkít. Liên lạc cần phải đi ngay. Tôi phải ngừng bút và gửi lời chào anh em tới các đồng chí.

Cuối tháng 7 nǎm 1939

LIN

———————————

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Báo cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản

1. Địa lý: ấn Độ China thuộc Pháp, còn có tên là “Đông Dương”, gồm 5 vùng, Ai Lao, Cao Miên, Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ. Ba vùng sau là Việt Nam.

2. Dân tộc: Toàn Đông Dương có khoảng 25 triệu dân. Dân tộc Việt Nam chiếm tuyệt đại đa số: 20 triệu người. Cao Miên hơn 2 triệu người. Lào, Mán, Thổ và các dân tộc thiểu số khác cộng trên dưới 3 triệu người.

3. Chế độ chính trị: Nam Kỳ bị Pháp chinh phục trước tiên, là xứ thuộc địa. Trung Kỳ, Cao Miên, Ai Lao là nước bảo hộ, có quốc vương. Bắc Kỳ là Territory (khu quản hạt).

Toàn bộ chính quyền Đông Dương nằm trong tay Toàn quyền người Pháp. Mỗi vùng có một Khâm sứ người Pháp. Mỗi tỉnh có một Công sứ người Pháp. Ngoài ra, còn có người bản xứ làm tỉnh trưởng, tri phủ, tri huyện, v. v.. do người Pháp uỷ nhiệm.

4. Tài nguyên: Nam Kỳ sản xuất nhiều lúa gạo nhất. Mỗi nǎm xuất khẩu khoảng từ 1500 đến 1800 tấn. Bắc Kỳ nhiều nhất là khoáng sản. Mỗi nǎm sản xuất 2 triệu tấn than. Các kim loại đều có. Còn các vùng khác thì đất xấu, dân nghèo.

5. Nạn bóc lột: Ruộng vườn nhà cửa, các việc ma chay cưới xin, sinh con đẻ cái, các loại gia súc 1 , nhất nhất đều phải nộp thuế. Nam từ mười bảy, mười tám đến nǎm mươi lǎm tuổi, hằng nǎm phải nộp thuế thân, từ hai đồng đến mười hai đồng. Sau khi nộp thuế, mỗi người được phát một tấm thẻ ghi rõ tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp, hình dạng, có lý trưởng và tỉnh trưởng Pháp ký tên đóng dấu. Thẻ đó, ai cũng phải mang theo người. Nếu không sẽ bị bắt giữ. Người Pháp lợi dụng cách đó để ngǎn chặn những người cách mạng hành động.

6. Quốc phòng: Quân số không rõ, có khoảng chừng ba vạn lính. Phần lớn là lính bản xứ. Một số ít là “lính lê dương”. “Lính lê dương” không phải là người Pháp, mà người quốc tịch nào cũng có. Họ đều là những tù nhân chạy trốn. Quân lính đóng ở các thành phố lớn và vùng biên giới. Máy bay rất ít. Lực lượng hải quân cũng yếu ớt. Theo mật thám Nhật Bản nói: chỉ cần hai sư đoàn là đủ để chinh phục Đông Dương.

Do đối xử không công bằng – lính bản xứ không được làm sĩ quan, đời sống lại rất khổ – cho nên họ rất ghét người Pháp.

7. Phong trào giải phóng: Nổi tiếng nhất có:

– Sau nǎm 1880: ở Trung Kỳ, có “Khởi nghĩa vǎn thân” do Phan Đình Phùng lãnh đạo. ở Bắc Kỳ, có du kích chiến của Hoàng Hoa Thám. Đến nǎm 1912, Hoàng Hoa Thám bị ám sát, khởi nghĩa mới bị dập tắt 1 .

– Nǎm 1908: Nông dân Trung Kỳ bạo động.

– Nǎm 1910: Binh lính Hà Nội mưu đánh chiếm Hà Nội.

– Nǎm 1915: Nhân cuộc chiến tranh đế quốc lần thứ nhất, vua An Nam khởi nghĩa ở Trung Kỳ. ở Bắc Kỳ, binh lính Thái Nguyên khởi nghĩa, do một chính trị phạm lãnh đạo. Thổ dân vùng thượng du Bắc Kỳ cũng nổi dậy.

– Đầu nǎm 1930: Việt Nam Quốc dân đảng khởi nghĩa ở Yên Bái (Bắc Kỳ).

– Nǎm 1930 – 1931: Nông dân Trung Kỳ thành lập Xôviết, do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

– Sau nǎm 1936, có phong trào của Mặt trận Dân chủ.

8. Các tầng lớp xã hội và khuynh hướng của họ:

– Công nhân: ở Bắc Kỳ, công nhân mỏ than chiếm tuyệt đại đa số. Thứ đến công nhân đồn điền ở Nam Kỳ, rồi đến công nhân đường sắt, công nhân xưởng công binh Sài Gòn, công nhân dệt, v.v.. Tổng cộng không đến một triệu người. Họ tuy không có quyền tự do tổ chức công hội, nhưng trong hai thời kỳ 1930-1931 và 1936-1939, họ đấu tranh rất mạnh mẽ.

– Nông dân: Những nǎm 1930-1931, nông dân Nam Kỳ và Trung Kỳ tổ chức (bí mật) rất tốt, đấu tranh rất dũng cảm. Bắc Kỳ chỉ có một số ít tỉnh có tổ chức và đấu tranh. Sau này, nông dân Trung Kỳ đã phải lùi bước vì bị khủng bố gắt gao. Hiện tại, nông dân Nam Kỳ đoàn kết tốt hơn so với các địa phương khác.

Công nhân, nông dân đương nhiên là rất cǎm ghét người Pháp.

– Trí thức: Từ học trò đến công chức, thầy thuốc, vì có trình độ vǎn hoá tương đối cao, có điều kiện tiếp cận với người Pháp, hai vì họ bị người Pháp coi thường, cho nên họ đều rất ghét người Pháp. Song vì không có tổ chức, thiếu người lãnh đạo, cho nên họ “dám nghĩ mà không dám nói”.

– Tiểu thương: Thương nghiệp lớn đều nằm trong tay người Pháp, cỡ nhỏ hơn trong tay Hoa kiều. Người Việt Nam chỉ buôn bán nhỏ. Họ không ngoi lên được bởi các thứ thuế má nặng nề, do đó họ cũng rất cǎm ghét người Pháp, đồng tình với cách mạng.

– Giai cấp tư sản dân tộc: Trong người Việt không có ai làm chủ nhà máy lớn, chủ hiệu buôn lớn hoặc chủ nhà bǎng như người Trung Quốc. Họ thường chỉ là những chủ xưởng nhỏ như xưởng rượu, xưởng xay sát lúa gạo, xưởng in. Lúc bị chèn ép, họ oán người Pháp. Khi phong trào công nhân lên mạnh, họ sợ cách mạng. Nhưng trong số đó cũng có vài người giúp đỡ cách mạng. Thế lực của họ rất yếu ớt, không có tổ chức.

– Quan lại, địa chủ: Họ tuy hai mà một, một mà hai. Quan lại lớn đồng thời là địa chủ lớn. Ví dụ, tỉnh trưởng tỉnh Hà Đông ở Bắc Kỳ, một mình y chiếm hai phần ba ruộng đất toàn tỉnh. Bọn này cùng với đế quốc Pháp sống dựa vào nhau. Địa chủ lớn ở Nam Kỳ có đoàn thể riêng: “Đảng lập hiến”. Địa chủ các vùng khác không có tổ chức gì cả.

– Vương công: như hoàng đế An Nam, quốc vương Cao Miên, v.v.. Tất nhiên họ là những rường cột phản động. Người Pháp lợi dụng họ làm bù nhìn để thi hành những luật pháp thời Trung cổ. Trước chiến tranh đế quốc lần thứ hai, ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ còn có một chút quyền tự do, như tự do xuất bản; còn ở Trung Kỳ, Cao Miên, Lào, ngay cả chút tự do đó cũng không có.

Nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ, như nǎm 1885 vua Hàm Nghi và nǎm 1915 vua Duy Tân đã đứng ra lãnh đạo chống Pháp.

– Hoa kiều: Chiếm vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế ở Đông Dương. ở bất kỳ thành phố nào, nhỏ là quán cà phê, lớn là ngành buôn bán xay sát gạo, phần lớn đều là của họ. Số Hoa kiều có khoảng trên dưới 50 vạn người, đại đa số là người Quảng Đông và người Phúc Kiến. Họ đều có tổ chức “bang”, như bang Quảng Đông, bang Phúc Kiến, bang Triều Châu, bang Hải Nam. Mỗi Hoa kiều là một “bang viên”, không ai đứng ngoài. Và chính phủ Pháp cai trị dân Hoa kiều thông qua các “bang” này. Về mặt chính trị, Quốc dân đảng (Trung Quốc – ND) và Đoàn thanh niên Tam dân chủ nghĩa rất hoạt động. ở Nam Kỳ, công nhân Hoa kiều cũng rất hoạt động, có thời kỳ An Nam Cộng sản đảng có hơn vạn đảng viên là Hoa kiều.

9. Các đảng phái:

A- Đảng Lập hiến: Thành lập ở Nam Kỳ sau Chiến tranh đế quốc lần thứ nhất, là đảng của những địa chủ lớn. Họ không có cương lĩnh, điều lệ, thẻ đảng gì cả. Từ ngày thành lập chưa họp lần nào, nhưng lại có riêng một tờ nhật báo bằng tiếng Pháp. Mấy người tự xưng là lãnh tụ đứng ra kêu gào bênh vực Chính phủ Pháp, bênh vực quyền lợi của địa chủ.

B- Tân Việt đảng: Tổ chức tại Trung Kỳ nǎm 1925, do một số trí thức đứng ra thành lập. Sau này, những phần tử tiến bộ đã gia nhập Đảng Cộng sản, số phần tử xấu bỏ chạy. Hiện không còn tồn tại nữa.

C- Quốc dân đảng 20 : Do giai cấp tiểu tư sản – những thầy giáo, luật sư, v.v. tổ chức ra tại Bắc Kỳ nǎm 1927. Họ tuyên bố theo chủ nghĩa Tôn Trung Sơn, cũng tuyên bố sẽ hợp tác có điều kiện với người Pháp, ráo riết tuyên truyền vận động trong binh lính người bản xứ. Vì tổ chức không chặt chẽ, nhiều mật thám đã chui vào được, dẫn đến việc nǎm 1929 phần lớn đảng viên bị bắt. Thế là các lãnh tụ của đảng này tuyên bố: “Đánh cũng chết, không đánh cũng chết, phải quyết một phen sống mái!”. Vào đầu nǎm 1930 họ làm bạo động ở Yên Bái (Bắc Kỳ). Tuy có nhiều binh lính bản xứ tự nguyện tham gia, nhưng vì tổ chức và lãnh đạo không tốt, cuộc bạo động đã nhanh chóng thất bại, rất nhiều người bị hy sinh. Một số lãnh tụ thứ yếu chạy sang Vân Nam, tiến hành công tác tổ chức bằng cách khủng bố và cưỡng ép. Họ mang súng lục và dao gǎm đến nhà Việt kiều rồi hỏi: “Anh có đồng ý gia nhập đảng của chúng tôi hay không?”. Bị doạ dẫm như vậy, không ít người Việt sống ở Vân Nam đã trở thành đảng viên Quốc dân đảng. (Nhiệm vụ của đảng viên là đóng đảng phí, vâng lời các lãnh tụ). Do đó, có một thời kỳ, thế lực của họ ở Vân Nam rất lớn. Ví dụ, trong toa tàu trên tuyến xe lửa Vân Nam – Việt Nam, họ có hòm thư riêng của mình. Một lần, lãnh sự Pháp bí mật bắt cóc một đảng viên, dùng xe riêng đưa về Bắc Kỳ. Quốc dân đảng cử ngay một chiếc xe đi cướp lại đảng viên đó.

Nhưng vì các lãnh tụ đảng này có thái độ ngang ngược quá đáng đối với Việt kiều như chửi mắng, chém đầu, nên ai cũng chán ghét. Lại vì chuyện họ giết một tên mật thám rồi chặt đầu ném trước lãnh sự quán Pháp, nên Chính phủ Pháp lợi dụng vấn đề này can thiệp với Chính phủ Vân Nam. Chính phủ Vân Nam đã trục xuất các lãnh tụ Quốc dân đảng. Từ đó, Việt Nam Quốc dân đảng hoàn toàn tan rã.

Gần đây, có vài ba người (trong đó có một người nghi là tay sai Pháp kiêm Hán gian, vì hắn không có nghề nghiệp gì mà sinh hoạt rất sang trọng) lợi dụng tình hình Hoa – Việt, đề nghị với tỉnh đảng bộ Côn Minh giúp đỡ sửa chữa và công bố một “Tuyên ngôn về thời cuộc” (Tuyên ngôn xem sau), cho phân phát truyền đơn “Kính cáo Việt kiều” bằng tiếng Việt. Hai tài liệu trên đây vừa xuất hiện thì bị các đảng viên cũ phản đối mạnh mẽ. Có mấy người tìm đến các đồng chí của chúng tôi, đề nghị giúp đỡ viết một Tuyên ngôn phản đối bản Tuyên ngôn trên.

D- Đảng Cộng sản: Nǎm 1924, một vài thanh niên Việt Nam học ở trường quân sự Hoàng Phố và một số thanh niên Việt Nam sống ở Quảng Châu tổ chức ra “Tâm tâm đảng” với ý nghĩa “Tâm tâm tương ấn” 1 . Hành động đầu tiên cũng là hành động cuối cùng của họ là vụ nổ bom mưu sát Toàn quyền Đông Dương khi y đến thǎm Sa Diện 2 . ít lâu sau, đoàn thể này cải tổ thành “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” 3 . Lúc này, nhờ sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc và các đồng chí Nga ở Quảng Châu, “Hội Thanh niên” hoạt động rất sôi nổi. Nhiều đoàn viên tiên tiến đã tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đồng thời tổ chức nhiều lớp huấn luyện, cử người về nước tìm thanh niên đưa sang học. Học xong, đưa về nước công tác. Lúc này, cả ông Tưởng 4 , ông Tống 5 , ông Bạch 6 cũng có sự giúp đỡ. Những học viên không về nước được, thì đưa vào học ở Trường quân sự Hoàng Phố. Từ đó, toàn Đông Dương, nhất là ở ba kỳ Nam, Trung, Bắc đều có tổ chức và hoạt động của “Hội Thanh niên”.

Nǎm 1927, Quảng Châu có chính biến, Lý Tế Thâm muốn tìm tôi, nhưng tôi đã đi rồi. Số học sinh Việt Nam ở Trường quân sự Hoàng Phố bị bắt giam một nǎm, sau khi được tha họ đều chạy sang phía Hồng quân. ở Việt Nam, “Hội Thanh niên” vẫn tiếp tục phát triển.

Nǎm 1929, tại Hương Cảng, họ họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng. Trong Đại hội, các đại biểu Bắc Kỳ đề nghị thành lập Đảng Cộng sản, nhưng không được thông qua. Họ bèn rút khỏi hội nghị, về nước tổ chức “Đông Dương Cộng sản đảng”.

Mấy tháng sau, “Hội Thanh niên” Nam Kỳ cũng tổ chức ra “An Nam Cộng sản đảng”.

Đứng giữa hai “đảng”, “Hội Thanh niên” Trung Kỳ và cánh tả của Tân Việt không biết đi đâu, theo đâu, bèn tổ chức ra “Cộng sản liên đoàn”. Do đó, cùng một lúc trong một nước có ba “Đảng Cộng sản” không thống nhất được với nhau.

Cuối nǎm 1929, tôi đến Hương Cảng, triệu tập một hội nghị. Kết quả đã thống nhất được ba “đảng” thành Việt Nam Cộng sản đảng, sau đổi tên thành “Đông Dương” Cộng sản đảng. Vì lúc này người Pháp ráo riết thi hành chính sách vơ vét thuộc địa để phục hưng nước Pháp nên nhân dân Việt Nam bị bóc lột rất nặng nề, lại vì các đồng chí chúng ta rất hǎng hái và cố gắng, nên đã tổ chức được rất nhanh, rất tốt công nhân, nông dân và học sinh. ở Việt Nam, sau cuộc bạo động của Quốc dân đảng, Chính phủ Pháp đã thi hành triệt để chính sách khủng bố trắng, nhưng càng khủng bố thì quần chúng đấu tranh càng dũng cảm. Từ 1-5-1930, phong trào bãi công, bãi khoá, bãi thị, chống thuế lan rộng khắp cả nước; đến tháng 9, nông dân Trung Kỳ đã thành lập Xôviết trong một số huyện, nhất là ở 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh. Họ thực hiện các chế độ như chia ruộng đất, nam nữ bình quyền, phổ thông đầu phiếu, v.v.. Chính quyền của người Pháp lúc này không còn tồn tại ở nhiều thôn xã nữa. Chính phủ Pháp buộc phải dùng tàu bay, súng máy, “lính lê dương” giết sạch, đốt sạch khu Xôviết. Cả nước chìm ngập trong khủng bố trắng. Đảng viên và những phần tử tích cực trong quần chúng, gái trai già trẻ bị tàn sát kể tới hàng ngàn người, mười sáu ngàn người bị lưu đày sang Guyan (châu Mỹ) và các hoang đảo khác.

Sau tháng 5-1931, phong trào cách mạng tiếp tục bị đàn áp.

Sau nǎm 1933, Đảng dần dần khôi phục lại được tổ chức.

Nǎm 1936, sau khi Mặt trận nhân dân Pháp giành được thắng lợi, một số cải cách tiến bộ đã được thực hiện ở Đông Dương. Chẳng hạn, chấm dứt khủng bố trắng, nhiều tù chính trị được tha. Mặc dầu vẫn trong tình trạng bí mật hoàn toàn, nhưng công tác của Đảng có phần dễ dàng hơn.

Sau Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản, Đảng thi hành chính sách Mặt trận thống nhất, bắt đầu tổ chức “Mặt trận dân chủ Đông Dương”. Tất cả những người Đông Dương có khuynh hướng dân chủ, chi bộ Bắc Kỳ của Đảng Xã hội Pháp, v.v. đều tham gia. Công nhân, nông dân tuy chưa được tự do tổ chức công hội, nông hội, song các tổ chức quần chúng như Hợp tác xã, Hội ái hữu, Hội tương tế, v.v. cũng nhanh chóng lần lượt thành lập ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ.

Đảng tuy bí mật, song báo chí của Đảng lợi dụng những danh nghĩa khác nhau đã công khai xuất bản. Sau nǎm 1938, ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ, báo Đảng hoàn toàn công khai và nhanh chóng trở thành những tờ báo có ảnh hưởng rộng lớn.

ở đây, chúng tôi cần nêu ra một đặc điểm rất lý thú của Đảng Cộng sản Việt Nam mà e rằng nhiều đảng anh em trên thế giới không có: Đảng có hai loại đảng viên, đảng viên bí mật và đảng viên công khai. Những đồng chí trước đây bị bắt, bị tù đầy, được tha sau nǎm 1936, là những đảng viên công khai. Các đồng chí này công khai hoạt động, như phụ trách báo chí của Đảng, tham gia các phong trào quần chúng với danh nghĩa Đảng, lấy danh nghĩa cộng sản ứng cử vào các hội đồng dân biểu kỳ, tỉnh. Có người nhân danh chi bộ Đông Dương của Đảng Xã hội Pháp để thực hiện các chính sách của chúng tôi. Do đó, không chỉ trong quần chúng công nông, mà trong nhân dân nói chung, ảnh hưởng của Đảng tương đối lớn. Ví dụ, các vị dân biểu trong “Viện dân biểu” Trung Kỳ vốn là nơi thế lực phong kiến mạnh nhất, cũng đều có sự gần gũi với chúng tôi.

Từ nǎm 1937 đến tháng 9-1939, những cuộc thị uy của nông dân, bãi công của công nhân do Đảng lãnh đạo hầu như diễn ra liên tục.

E. Đảng bảo hoàng: ở Bắc Kỳ có một đảng tên là Đảng bảo hoàng. Họ có một tờ báo riêng. Một số quan lại dựa vào thế lực của nhà vua để hoạt động. Họ không có ảnh hưởng gì. Trái lại, dân chúng nói chung rất coi thường họ.

G. Phái tờrốtxkít: Vì quan hệ cá nhân: người lãnh đạo của phái này tên là Tạ Thu Thâu là một trí thức lưu học tại Pháp, vǎn chương rất bóng bẩy, có tài ǎn nói, lại là một kẻ đạo đức giả, nguỵ quân tử, cho nên thanh niên và công nhân ở Sài Gòn chịu ảnh hưởng của phái này rất nặng. Song, trong nông thôn Nam Kỳ và ở các địa phương khác, họ không có thế lực.

Tóm lại, chúng tôi có thể nói rằng, ở Đông Dương chỉ có Đảng Cộng sản là một chính đảng chân chính, có tính chất toàn quốc và có quần chúng.

Muốn biết tình hình Việt Nam như thế nào từ sau khi bùng nổ cuộc Chiến tranh đế quốc lần thứ hai, xin xem phần phân giải dưới đây:

TÌNH HÌNH VIỆT NAM SAU KHI CHIẾN TRANH CHÂU ÂU BÙNG NỔ

1. Về chính trị. Chính phủ Pháp giải tán tất cả các đoàn thể quần chúng ở Việt Nam như Hợp tác xã, Hội ái hữu, Hội tương tế, v.v.; đóng cửa các báo chí tương đối tiến bộ; bắt bớ giam cầm nhiều phần tử tiên tiến, nhất là thanh niên; tiếp tục tiến hành khủng bố trắng.

2. Về kinh tế. Gia tǎng mức thuế cũ, đặt ra nhiều loại thuế mới, giá cả sinh hoạt tǎng vọt. Ngoài thuế má nặng nề, tǎng cường vơ vét tài nguyên và các hình thức cướp đoạt khác, khiến dân chúng hết đường sống, lòng dân sôi sục cǎm hờn.

3. Về quân sự. Phần lớn trai tráng, từ mười sáu đến nǎm mươi lǎm tuổi đều bị lôi vào lính, đưa sang Cận Đông và Pháp. Có địa phương, bốn phần mười bị bắt đi. Đã phải xuất tiền, lại phải xuất người, cho nên dân chúng ngày càng bất bình.

4. Về xã hội. ở Việt Nam vốn chẳng có cái gì gọi là bảo hiểm xã hội. Từ khi bùng nổ chiến tranh châu Âu, thời gian làm việc bị kéo dài, lương bị giảm, sức mua giảm sút. Lại thêm tình trạng bất kể là công nhân hay viên chức, động chạm đến Chính phủ Pháp là bị xét xử theo quân luật. Sống dưới sự áp bức bóc lột tàn khốc như vậy, dù là sĩ nông công thương, ai cũng cǎm thù ách thống trị của người Pháp, ai cũng có tâm lý “tao với mày cùng chết”.

Thêm nữa, người Pháp nào mở miệng cũng nói nước Pháp hùng mạnh thế này thế nọ, quân Pháp anh dũng thế này thế nọ, Pháp sẽ thắng lợi thế này thế nọ, nên từ ngày nước Pháp buộc phải đầu hàng Đức thì uy tín của người Pháp đã bay lên quá chín tầng mây, còn người Việt Nam trong lòng không ai là không mừng rỡ. Không hiếm người muốn lợi dụng cơ hội này đánh đổ ách thống trị của người Pháp. Chỉ vì không có người tổ chức và lãnh đạo họ. Vì sao Đảng Cộng sản không tổ chức và lãnh đạo họ? Vì tám chín phần mười số cán bộ cũ đã bị bắt. Cán bộ mới thì còn thiếu kinh nghiệm và chưa đủ lực lượng. Ngoài ra, còn một vấn đề nữa muốn kêu gọi toàn dân đứng lên phải có người đủ uy tín danh vọng, nói được làm được đi tiên phong thì mới có kết quả.

TÌNH HÌNH SAU KHI PHÁP ĐẦU HÀNG ĐỨC

Tình hình hiện nay phức tạp hơn nhiều! Việt Nam là Việt Nam của ai đây?

Đức – với tư cách là nước chiến thắng, đương nhiên sẽ coi Việt Nam là Việt Nam của nước Đức.

Anh – vì nó thu nhận “Uỷ hội quốc gia Pháp” 1 , nên cũng cho rằng Việt Nam có khả nǎng trở thành Việt Nam của nước Anh. Trung tuần tháng 6, hải quân Anh đã dự định làm một cuộc “diễu hành thị uy vui vẻ” với Pháp ở Sài Gòn. Nghe nói sau này không diễu hành nữa.

Mỹ – vì vấn đề Philíppin, Mỹ tỏ ra ghen ǎn trước việc Nhật chiếm Việt Nam. Gần đây, họ thường nói đến “chủ nghĩa Mônrô”, việc nhòm ngó Thái Bình Dương là bước mở đầu của Mỹ.

Trung Quốc – có người chủ trương: phía Pháp không thể bảo vệ được Việt Nam, Trung Quốc nên xuất binh thay Pháp bảo vệ Việt Nam để chống Nhật.

Nhật Bản – hiện đang mưu toan nhanh chóng chiếm Việt Nam. Nó đã hoàn thành bước thứ nhất: một mặt chiếm Trấn Nam Quan, từ cứ điểm này, nội trong ba tiếng đồng hồ, quân Nhật đã có thể tới được Hà Nội. Một mặt, phái hạm đội tuần phòng vịnh Đông Điều, sẵn sàng đổ bộ lên Hải Phòng dễ như trở bàn tay. Mặt khác, dùng hải lục không quân uy hiếp các thành phố, các ga xe lửa quan trọng ở Bắc Kỳ, thực hiện việc phong toả Trung Quốc, đồng thời giám sát hành động của Chính phủ Pháp và người Việt Nam. Nghe nói, Bộ lục quân Nhật Bản đề nghị dùng vũ lực để nhanh chóng chiếm lấy Việt Nam.

Chính phủ Pháp ở Đông Dương tuy tuyên bố không thừa nhận Chính phủ Pêtanh, phục tùng “Uỷ hội quốc gia Pháp” ở Luân Đôn và kháng chiến đến cùng. Nhưng đối với Nhật Bản thì rǎm rắp nghe theo. Ví dụ: Họ ngoan ngoãn chấp hành việc phong toả Trung Quốc. (Có một người từ Hà Khẩu sang Lào Cai, mua một cân bột mỳ. Lúc trở về, lính Pháp nói với anh ta: “Mày phải ǎn hết bột mỳ rồi hãy đi. Nếu mày mang bột mỳ sang qua cầu, tao sẽ bắn chết mày!”. Họ gửi quà uý lạo quân Nhật đóng ở Trấn Nam Quan. Không những cho phép máy bay Nhật được quyền lên xuống sân bay Hà Nội mà còn đồng ý cho Nhật được sử dụng máy bay của Pháp, v.v.. Còn đối với người Việt Nam, Chính phủ Pháp tiếp tục thi hành chính sách khủng bố trắng.

ý định của Chính phủ Pháp là: Nếu phải giao Việt Nam cho Đức hoặc phải trả lại cho người Việt Nam thì chi bằng dâng Việt Nam cho Nhật Bản tốt hơn.

Còn người Việt Nam đối với Nhật thì thế nào? Vì họ đã quá cǎm ghét người Pháp, lại vì không được nghe, được biết những tội ác hãm hiếp, tàn sát của người Nhật ở Trung Quốc, nên họ nghĩ rằng nếu không được tự do độc lập, bọn quỷ vàng có đến cũng còn hơn quỷ Pháp. Cũng có người nghĩ rằng: Chúng ta nên lợi dụng cơ hội rối ren này mà dấn lên, thành bại ra sao, chưa cần tính tới.

ĐỘNG CƠ HÀNH ĐỘNG CỦA CHÚNG TÔI

1. Cơ sở của chủ nghĩa đế quốc Pháp đã tan rã. Chúng không còn lực lượng giải quyết công việc của Việt Nam. Đức, ý tuy cho phép Pháp giữ lại lực lượng hải quân để bảo vệ thuộc địa của nó, nhưng xung đột của hải quân Anh, Pháp khiến hải quân Pháp không thể hoạt động tại Viễn Đông. Huống hồ, tàn quân sau đại bại, về tinh thần cũng như về vật chất, đều không đáng kể.

2. Đức hiện nay đang dốc toàn lực ra để đối phó với Anh – Mỹ và giải quyết vấn đề Pháp, Hà Lan, v.v. chưa thể quan tâm nhiều tới các thuộc địa tương lai.

3. Nhật tuy hung hǎng, nhưng đại bộ phận thực lực của nó đã bị kiềm chế do cuộc kháng chiến của Trung Quốc, cũng không thể dốc toàn lực ra để chinh phục Việt Nam.

4. Lực lượng vũ trang của Pháp ở Việt Nam, phần lớn là binh lính người Việt. Binh lính người Việt vốn có truyền thống cách mạng. Vụ bạo động ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái là những ví dụ. Nếu chúng ta biết khéo léo kêu gọi, thì họ – ít nhất là một bộ phận- có khả nǎng quay súng chống lại Pháp (hoặc chống lại Nhật).

5. Lực lượng của chúng tôi hiện nay tuy chưa thể tính toán được, nhưng quân đồng minh hiện có của chúng tôi rất mạnh. Ngoài Liên Xô, phía tây có ấn Độ, phía đông có khu giải phóng rộng lớn của Trung Hoa.

6. Nhân dân Việt Nam tuy hiện nay chưa được tổ chức, nhưng ai cũng chán ghét cuộc đời nô lệ, ai cũng mong muốn độc lập, tự do, và đang trong tư thế một người lên tiếng vạn người ủng hộ.

Tóm lại, những điều kiện khách quan cho phép chúng tôi có hy vọng thành công. Song, lực lượng chủ quan – lực lượng của Đảng còn quá yếu. Như trên đã nói, một đảng mới mười tuổi lại trải qua hai lần khủng bố lớn, số cán bộ có kinh nghiệm đấu tranh hiện còn đang rên xiết trong tù ngục, khiến đảng viên và quần chúng như “rắn không đầu”, không thể tận dụng cơ hội tốt “nghìn nǎm có một”.

Chúng tôi liệu có khả nǎng làm thay đổi hoàn cảnh đó, khắc phục khó khǎn đó, giúp Đảng hoàn thành sứ mạng lịch sử của nó hay không? Có. Chúng tôi nhất định không thể từ trong đánh ra, chúng tôi chỉ có cách từ ngoài đánh vào. Nếu chúng tôi có được:

(1) Tự do hành động ở biên giới.

(2) Một ít súng đạn.

(3) Một chút kinh phí.

(4) Vài vị cố vấn,

thì chúng tôi nhất định có thể lập ra và phát triển một cǎn cứ địa chống Pháp, chống Nhật – đó là hy vọng thấp nhất. Nếu chúng tôi có thể mở rộng Mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp bức, có thể lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước đế quốc thì tiền đồ tươi sáng là có thể nhìn thấy được. Tôi rất hy vọng các đồng chí giúp tôi nhanh chóng giải quyết vấn đề này.

12-7-40

Bút tích chữ Hán, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

“Ôông-Trôi-Co-Mat”

Đó là một câu nói của Việt Nam, nghĩa của nó là “ông trời có mắt”. Từ khi nước Pháp thất bại thảm hại và phải đầu hàng, câu nói đó rất thịnh hành ở Việt Nam. Ký giả lúc đầu không rõ lý do tại sao, sau được một người bạn Việt Nam giải thích rằng: Hồi thế kỷ XIX, người Pháp phải mất 20 nǎm (1) – từ 1862 đến 1883 – mới chinh phục nổi Việt Nam, vậy mà nay, chưa được vài tháng, nước Pháp hoàn toàn đã bị nước Đức chinh phục! Trước kia, đế quốc Pháp chiếm cả một khu vực rộng 12 triệu cây số vuông, cai trị 60 triệu dân thuộc địa, vậy mà nay, ba phần nǎm nước Pháp bị người ta chiếm đóng, 28 triệu người Pháp hoá thành dân mất nước, 14 vạn người chết trận, hơn 20 vạn người bị thương, 25 vạn người chạy ra nước ngoài, 2 triệu người bị bắt làm tù binh trở thành nô lệ cho quân Đức! Trước kia, đế quốc Pháp bóc lột vơ vét tận xương tuỷ dân Việt Nam và dân các xứ thuộc địa, vậy mà nay, nước Pháp mỗi ngày phải cung phụng cho quân Đức 400 triệu phrǎng, phải nộp 58% bột mỳ, các nguyên liệu khác cũng bị vơ vét mang đi sạch, đến nỗi chín phần mười dân vùng Pari thất nghiệp, dân chúng cả nước phải chịu đói rét. Tất cả, tất cả những chuyện ấy chẳng phải là “ông trời có mắt”, đang trả thù cho các dân tộc nhỏ yếu chúng ta đó sao? Lại nữa, người Pháp đều gọi tất cả những cái gì là không hợp lý, là kệch cỡm bằng từ Chinoiserie, tức là “kiểu Tàu”, nay Pháp chịu quỳ gối đầu hàng, còn Trung Quốc thì anh dũng kháng chiến đã hơn ba nǎm và càng đánh càng mạnh, vậy từ nay, phàm tất cả những gì là nhu nhược, là đớn hèn, chúng ta cũng có thể gọi đó là “kiểu Pháp” được rồi! Âu đó cũng là “ông trời có mắt”…

Ông bạn tôi vui vẻ kết luận: “Nếu hai dân tộc Trung Quốc và Việt Nam có thể sát cánh chặt chẽ với nhau, đá cho đế quốc đang áp bức chúng ta cút đi, thế thì ông trời chẳng những có mắt mà còn có cả chân nữa!”.

BìNH SƠN

———————–

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc),
ngày 15-11-1940.
cpv.org.vn

Chú ếch và con bò

Một chú ếch nhìn thấy một con bò, trong bụng rất thèm được to như bò, bèn cố đem hết sức bình sinh ra phình người rõ to để mong được như bò. Vì cố sức quá, cái thân bé tí của ếch ta đã bị nổ tung và chàng ếch không biết lượng sức mình cũng ô hô toi mạng. Đó là câu chuyện ngụ ngôn của Pháp.

Những người như kiểu chú ếch kia trên thế giới này quả không ít. Mútxôlini đánh Hy Lạp, dẫm phải đinh, là một ví dụ. Thấy quân Nadi (1) một ngày nuốt trôi được cả Đan Mạch và Lục Xâm Bảo (2) , hai tuần lấy được Hà Lan và Bỉ, 18 ngày chiếm được Ba Lan, một tháng chinh phục được nước Pháp, “Hắc y” tể tướng không cầm nổi sự thèm thuồng những “cao công vĩ tích” của Hítle. Thế là y cũng đem hết sức bình sinh ra làm “chiến tranh chớp nhoáng, hòng nuốt chửng nước Hy Lạp, đặng ra oai với họ Hít. Không ngờ quân ý xúi quẩy to, kể từ khi khai chiến, nhiều phen bị thất bại, thậm chí có nơi thua “mảnh giáp không còn”. ảo tưởng thắng lợi của họ Mút cũng vỡ toang như chú ếch kia. Ông anh Hítle của y chắc hẳn cũng chửi thầm: “Cái thằng vô tích sự! Mày chỉ làm tǎng nhuệ khí của kẻ thù, mất cả oai phong phe trục! Poucos Madona!” (3)

——————————–

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc),
ngày 24-11-1940, bản chụp
lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Trò đùa dai của Rudơven tiên sinh

Nǎm 1760 (?), nước Mỹ một mình đơn độc chống lại người Anh. Để kéo cái đuôi con sư tử Grǎng Brơtanhơ (1) , hoàng đế Pháp phái tướng La Phayét (2) thống lĩnh lính “tình nguyện”, đạp sóng cưỡi gió, vượt trùng dương, đến Tân Thế giới để giúp người Mỹ đánh người Anh.

Trong Chiến tranh đế quốc lần thứ nhất, các nhà tư bổn Mỹ cho Anh, Pháp và các nước đồng minh khác vay khá nhiều tiền. Đánh nhau đã hơn hai nǎm, liên quân vẫn chưa nắm chắc phần thắng. Nếu quân Đức thắng, các nhà tư bổn Mỹ ắt lỗ vốn to. Cho nên, Chính phủ Mỹ bèn cử tướng Pơsinh (Pershing) (3) , chỉ huy đại đội binh mã, đạp sóng cưỡi gió, vượt trùng dương, sang Cựu Thế giới để giúp Anh, Pháp đánh Đức.

Ngày đầu tiên đặt chân lên nước Pháp, việc đầu tiên tướng Pơsinh làm là dẫn tất cả nhân viên trong ban tham mưu và cử quân đội đến đặt vòng hoa trước mộ La Phayét. Vị nguyên soái Mỹ đã đọc trước mồ vị tướng Pháp một bài diễn từ có thể nói là tráng liệt nhất, hùng hồn nhất và cũng ngắn gọn nhất thế giới. Ông ta nói: “La Fayette – we are here!” (4) . Chỉ có bốn chữ, không nhiều hơn cũng không ít hơn. Vẻn vẹn có mấy chữ mà ý nghĩa thật sâu xa. Có thể hiểu: “Chúng tôi đến để lấy đức trả đức” – thực ra là lấy oán trả “đức” -, cũng có thể hiểu: “Thế kỷ trước, các anh giúp chúng tôi đánh người Anh, đâu phải vì “nhân đạo công lý” quái gì, chẳng qua các anh muốn làm suy yếu thế lực của Anh. Nay chúng tôi giúp các anh đánh người Đức, cũng đâu phải vì “tự do dân chủ”, chẳng qua chúng tôi muốn thu hồi những món nợ của nước Mỹ. Dù sao, ơn huệ trước kia của các anh, chúng tôi giờ đã trả đủ, không bớt một chút xíu. Những món nợ hiện nay của phố Uôn, sau chiến tranh, các anh cũng phải hoàn trả đủ số”.

Hai mươi lǎm nǎm trước, tướng Pơsinh là tử thù của người Đức, là đồng sự trong thắng lợi của tướng Pêtanh. Nhân tài ngoại giao của nước Mỹ đâu phải ít, vậy mà Tổng thống Rudơven cứ khǎng khǎng cử một ông già đã ngoại tám mươi sang làm đại sứ ở Pháp, chắc không ngoài dụng ý chọc tức người Đức và làm bẽ mặt Pêtanh.

Ru tiên sinh thật đúng là chơi trò đùa dai.

BÌNH SƠN

(Lời người biên tập: Tướng Pơsinh cuối cùng lấy lý do
sức khoẻ đã từ chối việc bổ nhiệm của Tổng thống Ru).

——————————–

Cứu vong nhật báo (Trung Quốc),
ngày 27-11-1940, bản chụp
lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Trở lại nơi Bác Hồ viết Tuyên ngôn độc lập

Vào những ngày đầu tháng 9 lịch sử, chúng tôi có dịp trở lại ngôi nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, nơi Bác Hồ đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước ngày 2/9/1945. Ngôi nhà này đã được công nhận là Di tích Lịch sử văn hóa vào ngày 29/4/1979.

Những dấu ấn lịch sử

Dịp này, cán bộ của điểm di tích 48 Hàng Ngang- 35 Hàng Cân (Bảo tàng Hà Nội) đang chuẩn bị triển lãm chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bản Tuyên ngôn độc lập” dự kiến diễn ra trong quý IV/2011. Bà Nguyễn Thị Mai, phụ trách điểm di tích này cho biết: “Trưng bày dự kiến chia làm 3 phần: Ngôi nhà Hàng Ngang nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Bản Tuyên ngôn độc lập; Tư tưởng Hồ Chí Minh trong Bản Tuyên ngôn độc lập; Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên định giữ vững nền độc lập tự do. Những tư liệu, hiện vật, ảnh giới thiệu… tại triển lãm lần này do Bảo tàng Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh và TTXVN hỗ trợ, cung cấp. Do điểm di tích này gắn với sự ra đời của Bản Tuyên ngôn độc lập nên triển lãm sẽ tập trung vào chủ đề này. Bản thân căn phòng, nơi Bác và các đồng chí Trung ương Đảng làm việc, tại tầng 2 của tòa nhà này, cũng đã là một minh chứng cho một thời khắc lịch sử của Cách mạng Việt Nam”.

Phần trưng bày ở tầng 1 tại 48 Hàng Ngang.

Theo bà Mai, trưng bày lần này sẽ có phần dành riêng liên quan đến chủ ngôi nhà 48 Hàng Ngang là gia đình nhà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô và lịch sử ngôi nhà 48 Hàng Ngang – nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử gắn liền với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. “Bên cạnh đó, triển lãm cũng làm nổi bật sự kế thừa truyền thống dân tộc của Bản Tuyên ngôn độc lập qua hai bản trích bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt- được nhìn nhận như là Bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Đại Việt thế kỷ XI và “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi – Bản Tuyên ngôn độc lập thứ 2 của Đại Việt thế kỷ XV. Và Bản Tuyên ngôn độc lập của Bác Hồ là kế thừa truyền thống đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc ta”, bà Mai cho biết thêm.

Nơi Bác Hồ họp với Thường vụ Trung ương Đảng (1945).

Nơi Bác Hồ viết Bản Tuyên ngôn độc lập (1945).

Được biết, trước đây, điểm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn độc lập chỉ có tầng 1 và tầng 2 của tòa nhà 48 Hàng Ngang; phần còn lại do Chi cục Thuế Hoàn Kiếm sử dụng. Năm 2008, di tích này đã được UBND thành phố Hà Nội khôi phục nguyên gốc gồm cả tòa nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân với diện tích mặt sàn hơn 443 m2. Trong khoảng thời gian năm 2008 – 2009, điểm di tích này tạm đóng cửa để tu sửa. Vào dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, nơi đây mới mở cửa trở lại với trưng bày chuyên đề “Học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, diễn ra từ tháng 5/2010. Hiện nội dung trưng bày này vẫn tiếp tục tại tầng 1 của ngôi nhà 48 Hàng Ngang.

Được sự giới thiệu của cán bộ điểm di tích 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, chúng tôi đã có dịp gặp bà Hoàng Thị Minh Hồ, vợ ông Trịnh Văn Bô. Năm nay, dù 97 tuổi nhưng bà vẫn còn minh mẫn khi kể về những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Bà Hoàng Thị Minh Hồ kể: “Ngôi nhà đã được ông bà sửa sang, tôn tạo theo lối kiến trúc hiện đại thời thuộc Pháp. Nhà có 4 tầng, tầng 1 làm cửa hàng bán tơ lụa tại 48 Hàng Ngang, còn phía 35 Hàng Cân là nơi để xe, kho hàng. Tầng 2 và tầng 3 có nhiều phòng dùng làm phòng tiếp khách, phòng ăn, phòng ngủ. Tầng 4 ngoài phòng để ở còn có một sân thượng phơi phóng. Ngôi nhà chạy dài theo kiểu “nhà ống” truyền thống, mặt trước là cửa hàng, còn mặt sau quay ra 35 phố Hàng Cân.

Lưu bút của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong sổ lưu niệm của di tích 48 Hàng Ngang- 35 Hàng Cân.

Do nằm ngay giữa khu buôn bán nhộn nhịp nên ngôi nhà 48 Hàng Ngang đã được chọn làm địa điểm đón Bác Hồ. Hơn thế, gia đình ông bà Trịnh Văn Bô là một gia đình yêu nước, được giác ngộ cách mạng và là một trong những cơ sở cách mạng tại nội thành, nên nơi đây đã được chọn làm nơi ở và làm việc của Bác cùng các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng trước ngày khởi nghĩa. Các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh đã đưa Bác đến ngôi nhà này. Xe ô tô đưa Bác không đỗ ở cửa trước mà đi vòng lối cổng sau thuộc phố Hàng Cân, vào tận sân trong.

Bà Hoàng Thị Minh Hồ kể: “Dịp cuối tháng 8/1945, gia đình tôi chỉ biết có một “thượng cấp” đến ở và làm việc. Khi các anh Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh dẫn Bác vào nhà, chúng tôi ra chào. Tôi còn nhớ Bác mặc rất giản dị, áo nâu, quần soóc nâu, đội mũ dạ. Chúng tôi đưa Bác lên gác 3, nơi tôi đã dọn sẵn một buồng, nhưng Bác lại xuống tầng 2 ở luôn cùng các đồng chí và làm việc tại đó. Đến ngày 2/9, khi Bác Hồ đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, gia đình tôi mới biết “thượng cấp” ở nhà chúng tôi chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bà Hoàng Thị Minh Hồ (thứ 2 từ trái sang).

“Những ngày tháng 8 này, tôi vẫn nhớ như in những ngày tháng hào hùng đó. Phố nào cũng có cờ đỏ sao vàng, người dân đổ ra đường đấu tranh, mít tinh giành độc lập. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố đất nước độc lập, người dân nào cũng vui vì từ nay không còn là người dân nô lệ nữa. Đó là điều sung sướng nhất”, bà Hoàng Thị Minh Hồ cho hay.

Làm sống động di tích

Đến điểm di tích 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân, chúng tôi được chị Nguyễn Bích Hạnh, cán bộ điểm di tích dẫn đi thăm, giới thiệu về ngôi nhà, chỉ dẫn nơi Bác đã ở và làm việc tại ngôi nhà này từ ngày 25/8 đến đầu tháng 9/1945; nơi Bác cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định nhiều chủ trương quan trọng về đối nội, đối ngoại trong tình hình mới; về thể chế và thành phần của Chính phủ mới, về tổ chức ngày lễ Độc lập… Cũng chính tại căn phòng ở tầng 2 của ngôi nhà này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây cũng là văn kiện pháp lý, tuyên bố với toàn thế giới về quyền độc lập tự do của Việt Nam.

Chị Hạnh cho biết, du khách vào thăm điểm di tích này chủ yếu là khách nước ngoài; còn khách nội địa chủ yếu theo đoàn đến nhân dịp ngày lễ như thành lập Đoàn, dịp Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Bình quân khoảng 40 – 50 khách/ngày. Khảo sát ý kiến của các doanh nghiệp du lịch tại khu phố cổ cho thấy, khách quốc tế đến điểm di tích 48 Hàng Ngang vì muốn được chứng kiến nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Bản Tuyên ngôn độc lập. Tuy nhiên, hiện tại phần trưng bày chuyên đề về Bác ở đây không có gì mới so với hiện vật có tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, nơi mà nhiều du khách đã ghé thăm khi vào Lăng viếng Bác. Hiện tại dù căn nhà 48 Hàng Ngang – 35 Hàng Cân đã được khôi phục nguyên gốc, nhưng phần cho du khách tham quan vẫn chỉ là tầng 1 và tầng 2 của khối nhà 48 Hàng Ngang, nên họ chỉ ghé qua chụp vài bức ảnh lưu niệm rồi về.

Theo các doanh nghiệp du lịch, điểm di tích này chưa thực sự tạo thành điểm thu hút do chưa đa dạng phần nội dung. Bên cạnh giới thiệu với du khách về một điểm Bác Hồ đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập, điểm di tích này có thể khôi phục, giới thiệu các nét văn hóa của người Hà Nội đầu thế kỷ 19, nhất là nơi đây từng là cửa hàng bán lụa nổi tiếng. Sự giới thiệu đa dạng về các hoạt động văn hóa như ngôi nhà cổ 87 Mã Mây là điều đáng để học tập, để di tích đến gần với cuộc sống. Có vậy mới tạo được sức hút với du khách.

Tầng 2, nơi Bác viết Bản Tuyên ngôn độc lập gồm hai căn phòng, một phòng tiếp khách và một phòng Bác ở. Phòng tiếp khách có ban công nhìn ra mặt phố Hàng Ngang, rộng chừng 50 m2, có cửa kính, cửa chớp, che rèm lụa trắng. Căn phòng nhỏ Bác ở có diện tích khoảng 20 m2, đồ đạc rất đơn sơ. Chính tại căn phòng nhỏ bé này, Bác Hồ đã khởi thảo Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bài và ảnh: Xuân Minh
baotintuc.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 Phát huy bài học sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám

Vào những ngày này của 67 năm về trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, hưởng ứng Lời hiệu triệu quốc dân đồng bào của Tổng bộ Việt Minh (ngày 14-8-1945) và Đại hội quốc dân Tân Trào (ngày 16-8-1945), cả dân tộc ta bất kể đàn ông, đàn bà, tôn giáo trên mọi miền của Tổ quốc đã đoàn kết một lòng, nhất tề vùng lên “đem sức ta tự giải phóng cho ta”.

Chỉ trong vòng gần hai tuần lễ, với sức mạnh “dời non, lấp biển”, nhân dân ta đã làm cho chính quyền của địch hoàn toàn sụp đổ và xây dựng chính thể mới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Đúng nửa tháng sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 17-9-1945, Hồ Chủ tịch có “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”. Trong thư có đoạn: “Chúng ta đã lập nên một chính thể dân chủ cộng hòa. Đó là một cuộc thắng lợi xưa nay chưa từng có trong lịch sử nước ta… Vì sao có cuộc thắng lợi đó?

Một phần là vì tình hình quốc tế thuận lợi cho ta. Nhất là vì lực lượng của toàn dân đoàn kết. Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo lá cờ Việt Minh để tranh lại quyền độc lập cho Tổ quốc.

Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó” (1).

Bài học lớn rút ra từ thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám là: Với đường lối đúng đắn của Đảng lãnh đạo, nắm vững và giương cao ngọn cờ dân tộc độc lập, biết khơi dậy và phát huy sức mạnh toàn dân tộc thì khó khăn mấy, cách mạng cũng vượt qua và giành thắng lợi.

Bài học đó vẫn giữ nguyên giá trị trong công cuộc đổi mới ngày nay.

Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nhân dân ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nhờ có đổi mới mà đất nước đã ra khỏi tình trạng nước kém phát triển; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị được củng cố, ngày càng vững mạnh; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của đất nước được tăng lên nhiều lần, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Những thành tựu đó vừa là kết quả, vừa là tiền đề, là điều kiện thuận lợi để tăng cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân.

25 năm qua, nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng về đổi mới công tác vận động quần chúng, về cải cách bộ máy hành chính, về đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất v.v… được ban hành và được thể chế hóa trong Hiến pháp (sửa đổi), các luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định v.v… đã và đang đi vào cuộc sống, tiếp tục thu được những kết quả tốt đẹp. Khối đại đoàn kết trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được mở rộng. Sự đồng thuận xã hội ngày càng tăng, trở thành một nhân tố cơ bản đảm bảo ổn định chính trị – xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển và tiếp tục nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân.

Cùng với những tiến bộ đã đạt được, chúng ta cũng cần thấy rõ những khó khăn, thách thức đang đặt ra cho sự nghiệp đại đoàn kết trong giai đoạn hiện nay. Đó là:

a. Trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang làm xuất hiện ngày càng nhiều những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Mâu thuẫn nội bộ có chiều hướng gia tăng nhanh và tỷ lệ thuận với mức độ phân hóa giàu nghèo.

b. Cùng với sự gia tăng về mức độ phân hóa giàu nghèo thì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội vẫn đang là những đòi hỏi bức bách của một bộ phận nhân dân, nhất là trong tình hình khó khăn hiện nay.

c. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, thái độ cửa quyền, hách dịch, vòi vĩnh, gây phiền hà để nhận hối lộ của một số cán bộ, nhân viên đã trở thành nỗi đau, sự nhức nhối của toàn xã hội, gây bất bình trong nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng và trực tiếp đến uy tín của Đảng, của Nhà nước và mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân cũng như việc củng cố, tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất.

Để góp phần đưa cách mạng nước ta tiếp tục tiến lên trên con đường xã hội chủ nghĩa, trước mắt phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chủ trương phát huy mạnh mẽ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với những định hướng lớn sau:

– Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

– Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước được ban hành đều vì lợi ích của nhân dân.

– Cán bộ công chức phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; rèn luyện phấn đấu để thực sự là công bộc của nhân dân như Hồ Chủ tịch từng căn dặn.

– Nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của nhân dân; phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Cùng với phát huy dân chủ, Đại hội chủ trương nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới. Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi người vào một mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội.

Để đoàn kết được rộng rãi, lâu dài và bền vững, trong điều kiện hiện nay phải giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành phần trong xã hội và đoàn kết trong Đảng phải được xem như hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Để đoàn kết trong Đảng được chặt chẽ, cần thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng chỉnh đốn Đảng đang tiến hành ở các ngành các cấp hiện nay. Tổng kết lịch sử dựng nước và giữ nước của tổ tiên ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra chân lý:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”.

Thực hiện chân lý đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, toàn dân đoàn kết, nhân dân ta nhất định thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, nhất định vượt qua mọi khó khăn, xây dựng thành công “một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” như Di chúc của Hồ Chủ tịch để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta.

Nguyễn Túc
(Ủy viên Đoàn Chủ tịch
UBTƯ MTTQ Việt Nam)
daidoanket.vn

(1) “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” ngày 17-9-1945 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, trang 17 – 18

Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sau khi lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách Mạng Tháng Tám (1945), giành độc lập cho Việt Nam từ tay phát xít Nhật, sáng 2/9/1945, trước hàng vạn đồng bào thủ đô Hà Nội, Chủ Tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản “Tuyên Ngôn Độc Lập” khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhà nước độc lập đầu tiên của giai cấp lao động, ra mắt chính phủ mới. Sau đây là tòan văn bản “Tuyên Ngôn Độc Lập”:

Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở trung, nam, bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông – dương để mở thêm căn cứ đánh đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng dã man bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày mồng 9 tháng 3, biết bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt minh hơn nữa.

Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên bái và Cao bằng.

Tuy vậy, đối với nước Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày mồng 9 tháng 3, Việt minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Hồ Chí Minh

VOVNews
vov.vn

Giữ vững quyền độc lập

Đất nước bình yên, nhưng không thể chủ quan nghĩ rằng: tự do, độc lập này cứ tự nhiên mà vĩnh cửu. Sự độc lập của đất nước luôn gắn kết với sự đoàn kết của toàn dân tộc.

“…Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Hôm nay, ngày 2.9, những ai là con dân nước Việt Nam sẽ không thể không nghe những lời bất hủ như trên do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường Ba Đình lịch sử cách đây đúng 66 năm trước.

Người dân hân hoan trong niềm vui độc lập. Ảnh tư liệu.

Sự thật lịch sử suốt 66 năm qua từ ngày Bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời và hơn thế nữa, suốt mấy ngàn năm lịch sử của cả dân tộc, không biết bao con dân Việt Nam đã quyết đem tất cả để giữ vững quyền tự do, độc lập cho Tổ quốc! Một sứ mệnh thiêng liêng không một ai dễ dàng chối từ khi non sông bị đe dọa, khi đất nước đứng trước họa ngoại xâm. Lời khẳng định ấy cũng chính là tiếng gọi oai hùng mà hàng hàng, lớp lớp thế hệ thanh niên Việt Nam quyết tâm lên đường bảo vệ quê hương, giữ vững tự do, độc lập.

Tự do, độc lập cho Việt Nam đã thật sự định hình sau cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 lịch sử. Dẫu nó đã bị đe dọa, dày xéo sau đó bởi sự tái chiếm của Pháp và sự can thiệp của đế quốc Mỹ, nhưng cuối cùng dân tộc Việt Nam cũng đã hưởng nguyên vẹn quyền thiêng liêng ấy suốt mấy mươi năm qua. Sự thật rõ ràng nhất là chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm. Việt Nam hòa bình-độc lập-tự do xây dựng phát triển kinh tế ngần ấy thời gian. Đây là một thành quả không dễ mà có, nhất là khi các mối đe dọa đến quyền độc lập, tự do của Tổ quốc không một lúc nào chịu ngừng lại, chịu chùn bước. Thế mới biết, giữ vững quyền tự do, độc lập cho đất nước quý giá và thiêng liêng biết nhường nào. Và vì thế, khi nghe những lời của Hồ Chủ tịch “…quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”, mới thấy được hồn thiêng sông núi oai hùng ra sao.Đất nước hôm nay đang bình yên, con dân Tố quốc này đang hưởng những tháng ngày tự do, độc lập. Nhưng không phải vì thế mà vội quên đi những con người đã ngã xuống cho sự bình yên này. Càng không phải thế mà mù quáng tin rằng: tự do, độc lập này là vĩnh cửu, là không thể mất đi. Bởi lịch sử dân tộc đã chứng minh một quy luật rất rõ ràng: khi chúng ta chủ quan nhất, mất cảnh giác nhất, là khi quyền tự do, độc lập của đất nước dễ bị tước đoạt nhất. Điều này cũng đã được Đảng và Nhà nước ta luôn luôn lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân, toàn dân chú ý. Và một sự thật luôn đúng, không bao giờ khác hơn được: quyền tự do-độc lập của đất nước luôn đồng hành, gắn kết với sự đoàn kết của toàn dân tộc. Đoàn kết toàn dân không gì khác hơn là nhà nước luôn mang đến niềm tin cho người dân. Nghĩ một cách rộng hơn, giữ vững tự do, độc lập cho đất nước hôm nay không có gì khác hơn ngoài sự đoàn kết-tin tưởng của toàn dân tộc với sự lãnh đạo, điều hành của nhà nước vậy.

Hoàng Ngọc Lữ
baodatviet.vn

Bảo tồn, tôn tạo và phục hồi cây đa Tân Trào

Ngày 27/10, ông Nguyễn Việt Thanh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang cho biết: Hội đồng Khoa học tỉnh Tuyên Quang vừa tổ chức chức đánh giá, nghiệm thu Dự án khoa học và công nghệ “Nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để bảo tồn, tôn tạo và phục hồi cây đa Tân Trào”.

Chăm sóc cây đa Tân Trào bằng phương pháp phun chế phẩm sinh học.

Dự án thực hiện biện pháp kỹ thuật để chống đổ, chống đỡ phần thân cây đang còn sống và bảo tồn nguyên trạng phần gốc không còn sống của cây đa Tân Trào bằng cách sử dụng hệ thống cốt thép móng bê tông, cột đỡ bằng thép ống D250 mm ngoài bọc composit (vật liệu tổng hợp) giả thân cây, liên kết với thân cây bằng đai thép.

Đồng thời, dự án thực hiện phương pháp chăm sóc phần còn sống của cây đa Tân Trào bằng cách phun chế phẩm sinh học (phân bón lá hữu cơ sinh học KH, AH, NH) vào cành và lá cây định kỳ 10 ngày/lần. Nhờ vậy, đến nay, trên cành cây duy nhất còn sống của cây đa Tân Trào đã ra hai cụm rễ và nhiều chồi lá mới. Một cụm có 27 rễ và một cụm 20 rễ; đường kính mỗi cụm rễ 35 –40 cm. Hai cụm rễ này đã ăn sâu vào trong lòng đất để hút chất dinh dưỡng nuôi cành còn lại của cây đa Tân Trào…

Dự án đã được Hội đồng Khoa học tỉnh Tuyên Quang đánh giá cao và đạt được các mục tiêu dự án đề ra.

Tin, ảnh: Vũ Quang Đán
baotintuc.vn