Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Thư gửi Ban phương Đông (12-2-1931)

Thưa ông,

Tôi đã gửi cho ông ba lần mẫu hàng trong nước, qua người giao dịch Trung Quốc của ông, lần gửi cuối cùng vào ngày 8 tháng 2, tôi mong ông đã nhận được cả.

Các em tôi (1) ở Sài Gòn đã nhiều lần tin cho tôi biết chúng sẽ về, nhưng không biết tại sao nay chưa tới. Các em tôi nói chắc chắn rằng lần này sẽ ra ǎn tết với chúng ta. Các cháu tôi (2) ở Bắc Kỳ cũng hẹn như vậy. Ông xem, 9 hay 10 người ở một nhà, chúng ta sẽ ǎn tết thật là vui vẻ. Các em và cháu tôi nhân cơ hội này sẽ đi Thượng Hải. Vợ tôi (3) đang rất bận để chuẩn bị việc đón tiếp.

Ông đã tìm hiểu về việc “Công ty xe hoả tốc hành Mỹ” chưa? Tôi nghĩ đó là cách tốt nhất để gửi tiền cho hành khách.

Hôm nay, tôi gửi thêm cho ông những mẫu hàng khác của các thương cục Mã Lai và Nam Kỳ cũng qua người bạn Trung Quốc của ông. Nhờ ông chú ý khi mẫu hàng đến.

Kính chào
Ngày 12 tháng 2 nǎm 1931
VÍCTO

————————————–

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
cpv.org.vn

Thư gửi Ban phương Đông (16-2-1931)

Thưa ông,

Tôi mong ông đã nhận được tất cả thư của tôi cùng với những mẫu hàng mà tôi đã gửi qua nhân viên Trung Quốc của ông. Nay tôi gửi thêm những mẫu hàng khác qua người bạn Thượng Hải của tôi. Yêu cầu ông trả lời cho bạn tôi biết.

Tôi vừa nhận được hai tập sách rao hàng tiếng Anh của hãng “Inpơrétcơ và công ty”. Tôi còn phải nhận thêm ở bạn Thượng Hải của tôi nhiều tập sách ấy nữa (tiếng Pháp), để gửi cho các nhà buôn Đông Dương.

Nhân dịp này, tôi xin nói để ông biết lý do tại sao những ông giám đốc mới của thương cục Đông Dương lại nóng lòng muốn nhận thư mà chúng ta đã hứa gửi cho họ. Họ mới đến vùng này nên chưa gây được uy tín đối với nhân viên phụ thuộc của họ ở đấy đã lâu hơn. Hơn nữa, họ còn phải chấn chỉnh lại toàn bộ tổ chức. Không nhận được chỉ thị, không có sự ủng hộ chính thức của ban giám đốc thương cục trung ương chúng ta, họ khó hoàn thành tốt được công tác.

Tôi rất mong họ sẽ chóng nhận được thư để công việc ở các nhà buôn đó chạy tốt hơn, ông có đồng ý không?

Kính chào ông
Ngày 16 tháng 2 nǎm 1931
VÍCTO

————————–

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng
cpv.org.vn

Khủng bố trắng ở Đông Dương (19-2-1931)

Tháng 1 có:

– 187 tù chính trị ở các nhà lao tỉnh Thái Bình.

– 201 (97 đảng viên Quốc dân đảng và 104 đảng viên cộng sản) ở các nhà lao Hà Nội.

– 70 (đều là đảng viên cộng sản) ở Thanh Hoá.

– 400 (đều là đảng viên cộng sản) ở Quảng Nam.

– 900 (đảng viên cộng sản và nông dân) ở Nghệ An.

Đó là những con số chúng tôi nắm chắc, còn ở 54 tỉnh khác, chúng tôi chưa có tài liệu gì, nhưng chúng tôi biết ở mỗi tỉnh các nhà lao đều chật ních. Trong cùng một khoảng thời gian ấy:

– 414 tù chính trị bị đem đi đày, trong số đó có các cụ già 67 tuổi, các trẻ em trai và gái mới 15 tuổi, 44 tù chính trị bao gồm học sinh từ 15 đến 16 tuổi, bị án tổng số bằng 219 nǎm khổ sai và 1 án khổ sai chung thân.

án do nhiều toà án khác nhau xử, 201 tù chính trị Hà Nội do một toà án đặc biệt xử, chúng tôi chưa biết bản tuyên án. Ngày 27-1, toà án Nam Định đã tuyên các án sau đây:

– 10 án biệt xứ.

– 4 án 20 nǎm tù.

– 6 án 10 nǎm tù.

– 1 án 4 nǎm tù.

– 1 án 2 nǎm tù.

22 nạn nhân này của chủ nghĩa đế quốc Pháp đều là những sinh viên trẻ tuổi bị cáo đã tổ chức một đoàn thể cách mạng của sinh viên.

Sau đó, toà án thượng thẩm đã tuyên xử:

– 2 án biệt xứ.

– 6 án 20 nǎm khổ sai.

8 người này bị cáo là đảng viên Đảng Cộng sản. Ngày 26-1, toà án bất thường Kiến An đã tuyên án xử 99 đảng viên Quốc dân đảng và 72 đảng viên cộng sản như sau:

– 144 án biệt xứ (8 nữ thanh niên cộng sản)

– 4 án 10 nǎm khổ sai

– 19 án 5 nǎm tù (1 nữ thanh niên)

– 2 án 3 nǎm tù (1 nữ thanh niên)

– 2 án 1 nǎm tù khổ sai.

Riêng ở Bắc Kỳ, tổng số án tháng 1, không kể Hà Nội, là 157 án biệt xứ và 89 án cộng bằng 652 nǎm khổ sai và phạt tù. Chúng tôi không ước tính được số nạn nhân khủng bố trắng ở Nam Kỳ và Trung Kỳ, nhưng cũng trong tháng ấy, ở Trung Kỳ, có hơn 100 nhà nông dân bị lính đốt (ngày 17-1, ở huyện Nghi Lộc), 32 nông dân bị giết chết trong một cuộc biểu tình (cũng ở huyện ấy, ngày 9-1) và 2 nông dân bị giết trong một cuộc biểu tình (ở Hà Tĩnh, ngày 2-1).

Tháng này, ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, tổng số người bị bắt là 350 người.

Dưới đây là một số câu trả lời trước phiên toà Kiến An:

– Nguyễn Vǎn Bôn: Tôi theo những người cộng sản tháng 10-1930 là vì tôi thấy xã hội hiện nay rất thối nát.

– Nguyễn Trọng Tuệ: Phải, tôi là đảng viên Đảng Cộng sản, vì thiếu cơm ǎn, áo mặc, tôi phải làm cách mạng!

– Nguyễn Vǎn Ung: Tôi vào Đảng Cộng sản để lật đổ đế quốc Pháp và cải thiện đời sống cho đồng bào tôi.

– Bùi Vǎn Cao: Tôi theo Đảng Cộng sản để đánh đổ đế quốc Pháp để làm tròn bổn phận của một người dân Việt Nam.

– Nguyễn Vǎn Dai: Tôi bị áp bức nên tôi làm cách mạng để tự giải phóng.

– Phạm Mai: Mặc dầu đi lính cho Chính phủ Pháp, nhưng tôi thấy đồng bào tôi bị áp bức khổ sở, nên tôi vào Đảng Cộng sản để làm cách mạng và giúp đỡ đồng bào.

– Ngô Vǎn Mai: Tôi vào Đảng Cộng sản để đánh đuổi người Pháp ra khỏi đất nước. Không chỉ có mình tôi, ai đã biết cầm bát cơm ǎn cũng phải làm cách mạng. Tôi không cần ai tuyên truyền cho tôi cả.

– Phạm Thị Hội (một nữ thanh niên nông dân): Phải, tôi theo Đảng Cộng sản vì trong xã hội này có nhiều bất công.

– Hạ Bá Cang: Tôi không cần từ chối gì về hoạt động cách mạng của tôi cả vì đó là bổn phận của tôi phải góp sức cứu vớt 20 triệu đồng bào và đánh đổ giai cấp tư sản đế quốc.

– Trần Hy: Tôi là vô sản nên có lý do đương nhiên làm cách mạng.

– Ngô Kim Tài (lính cảnh sát): Tôi vào Đảng để đấu tranh cho hạnh phúc nhân loại.

– Nguyễn Huy Sán: Tôi là công nhân, tôi theo Đảng để bênh vực quyền lợi cho vô sản.

– Nguyễn Thị Hợi: Khi tên quan toà nói với chị: “Cô là giáo học, để làm cách mạng, cô đã bỏ việc đi làm phu ở Nhà máy dệt Nam Định”. Chị trả lời: “Phải, tôi vào Đảng Cộng sản vì chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa đúng đắn. Ông cũng thế nếu ông là vô sản, nhất định ông cũng sẽ vào Đảng”.

– Đoàn Vǎn Nghiêm: Tôi vào Đảng Cộng sản để đánh đổ đế quốc, tư bản và phong kiến Pháp 1 .

– Tống Phục Chiêu: Đánh đổ đế quốc và tư bản là điều chúng tôi cần làm. Đó là lời khai của tôi, các ông muốn làm gì tôi thì làm.

– Bùi Đắc Thanh (bị cáo treo cờ đỏ và rải truyền đơn): Tôi có gan theo Đảng Cộng sản thì tôi cũng có can đảm chịu lấy trách nhiệm, chúng tôi không xem cách mạng như một trò trẻ con.

Ngày 19 tháng 2 nǎm 1931
V.

—————————–

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

Nghệ Tĩnh đỏ (19-2-1931)

Hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ở cách 360 kilômét về phía bắc thành phố Huế, kinh đô nước An Nam (nơi tên vua “bù nhìn” thiết lập triều đình) và cách 326 kilômét về phía nam Hà Nội, thủ phủ xứ Đông Dương thuộc đế quốc Pháp. Tỉnh Nghệ An có 3 phủ, 6 huyện với số dân 614.000 người ở 942 làng. Tỉnh Hà Tĩnh có 2 phủ, 6 huyện, 601 làng, với số dân 405.000 người. Trong số 500.000 người đàn ông của cả hai tỉnh, thì 120.000 người phải đóng thuế thân 2đ20 mỗi nǎm một đầu người.

Hà Tĩnh không có công nghiệp. Vinh là thành phố chính của Nghệ An. ở Vinh, có một nhà ga xe lửa lớn, một nhà máy điện nước, một nhà máy diêm, 5 nhà máy cưa, 2 xưởng sửa chữa ôtô và một vài xưởng nhỏ, tất cả dùng 4.000 công nhân.

Ngoài số công nhân đó và một số như vậy quan lại, chủ đồn điền và người buôn bán…, nhân dân hai tỉnh đều là bần và trung nông (hơn 1 triệu).

Địa thế hai tỉnh nhiều rừng núi, đất đai cằn cỗi, nông giang chẳng có, ở đây thường xảy ra lụt, bão, do đó nhân dân đói khát và nơi ǎn chốn ở rất khổ sở. Sưu thuế nặng nề và nạn áp bức xã hội và chính trị làm cho cảnh ngộ của họ càng cùng cực hơn.

Nhân dân Nghệ – Tĩnh nổi tiếng cứng đầu. Trong thời kỳ Pháp xâm lược cũng như trong các phong trào cách mạng quốc gia (1905-1925) Nghệ – Tĩnh đã nổi tiếng. Trong cuộc đấu tranh hiện nay, công nhân và nông dân Nghệ – Tĩnh vẫn giữ vững truyền thống cách mạng của mình.

Từ tháng 5 đến tháng 12, công nhân Nghệ An (Vinh) đã 8 lần bãi công và biểu tình có 2.500 người tham gia. Cũng trong thời gian đó, 137 cuộc biểu tình đã nổ ra bao gồm tất cả 300.000 nông dân.

Thiệt hại: 625 nông dân bị máy bay ném bom và súng máy giết chết, 8 làng bị triệt hạ, hơn 1.000 chiến sĩ bị bắt giam, hàng trǎm người bị đem đi đày.

ở cả hai tỉnh, hơn 60.000 nông dân (đàn ông, đàn bà và thanh niên) đã được tổ chức vào Hội .

Nghệ – Tĩnh thật xứng đáng với danh hiệu “đỏ”!

II

Từ ngày 26-12 đến ngày 19-1, có hai cuộc lễ lớn ở gần Vinh: một cuộc lễ “đỏ” và một cuộc lễ “vàng”.

Cuộc lễ thứ nhất được tổ chức ở làng Lộc Đa, cách Vinh 2 kilômét, 4.000 công nhân thành phố Vinh và nông dân Hưng Nguyên, Nghi Lộc đã đến dự để làm lễ truy điệu những chiến sĩ bị hy sinh trong ngày 11-12, nhân dịp kỷ niệm Công xã Quảng Châu.

Một lá cờ búa liềm được chǎng ra trên bàn thờ đầy hương hoa, xung quanh cắm 100 lá cờ đỏ và một dây 200 ngọn đèn đỏ. 10 giờ đêm, khi mọi người đã đến đông đủ, hai đoàn xe đạp được bố trí đi tuần tra trên các ngả đường về Vinh và Bến Thuỷ mà từ các ngả đó lính Pháp có thể kéo đến, còn một đoàn khác vây quanh quần chúng và hát bài Quốc tế ca. Lệnh “mặc niệm” bỗng nhiên được đưa ra. Người chủ trì buổi lễ lên đọc điếu vǎn. Sau đó, đại biểu Công hội, Nông hội và đại biểu các làng lên nói chuyện.

Một đại biểu đề nghị: Ngày hôm sau, tất cả các chợ ở Hưng Nguyên và Nghi Lộc đều bãi thị.

Đề nghị đó được mọi người nhiệt liệt hưởng ứng. Ngày hôm sau, đúng như lời cam kết, tất cả các chợ đều vắng tanh.

Trong lúc buổi lễ đang tiến hành, anh em công nhân cắt điện làm cho cả thành phố Vinh – Bến Thuỷ bị chìm ngập 10 phút trong đêm tối.

III

Bom đạn, súng máy, đốt nhà, đồn binh (28 đồn mới được dựng lên ở riêng Nghệ An), tuyên truyền của chính phủ, báo chí… đều bất lực không dập tắt nổi phong trào cách mạng của Nghệ – Tĩnh. Vì thế bọn đế quốc Pháp đã nghĩ ra một thủ đoạn mới: tổ chức những cuộc biểu tình phản cách mạng và bắt buộc nhân dân thành phố tham gia.

Ngày 19-1, nhân dân 24 khu phố bị lôi ra đường, từng tốp một bước theo nhịp trống, mang 5 lá cờ vàng có ba sắc đè lên góc. Cờ vàng là quốc kỳ của Vương quốc An Nam. Những đoàn người “quy thuận” (bọn Pháp đặt cho họ cái tên này mặc dầu những người An Nam đáng thương đó chưa khi nào chiến đấu) bị dẫn đến hoàng cung (nơi bọn quan lại thường đến đó bái vọng nhà vua, mặc dầu ông ta không bao giờ đến đó). Họ được viên tổng đốc bận lễ phục đón tiếp. Quan lớn nói với họ như thế này: “Bây giờ nhân dân thành phố đã xin tạ lỗi quy thuận Chính phủ Nam triều và Chính phủ Pháp thì phải lo giữ gìn trật tự, an ninh trong thành phố. Các người đừng nghe những lời tuyên truyền bậy bạ và đừng phạm những điều đáng chê trách” (tên tổng đốc muốn nói đến cách mạng đấy, nhưng nó không dám dùng những tính từ quá chua cay, mỗi khi nói đến cách mạng trước nhân dân). Tên tổng đốc bảo mọi người lạy ba lạy trước ảnh vua để tỏ lòng trung với vua. Rồi nó dẫn nhân dân đến trước toà sứ và cũng buộc phải lạy ba lần để tỏ lòng trung thành với đế quốc Pháp.

Bọn đế quốc và phong kiến Nam triều xem cuộc biểu tình tỏ lòng trung thành đó là một thành công lớn của chúng và hôm sau tin này được đǎng đầy trên báo chí.

Chúng định tiếp tục tổ chức những cuộc biểu tình như vậy ở Nghệ – Tĩnh. Nhưng ở các thôn xã có nông dân cách mạng thì khó mà tổ chức được như ở thành phố nơi mà chúng chỉ tập hợp được một số người ngốc nghếch mà thôi.

Ngày 19 tháng 2 nǎm 1931
V.

——————————

Tài liệu tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (20-4-1931)

Đây là tôi phê bình về cuộc Hội nghị Xứ uỷ Trung và Bắc.

A- CÁCH KHAI HỘI – Trước khi khai hội, từ đảng viên cho đến các đồng chí phụ trách chưa nghiên cứu kỹ vấn đề. Đến khi khai hội, mới đem ra bàn thì chắc thảo luận không kỹ. Thì giờ khai hội quá dài (Trung 18 buổi, Bắc 13 ngày) mà lại trật tự không sắp sẵn, vậy nên tốn thì giờ nhiều mà các vấn đề thì bàn không hết. Xứ hội Bắc thì những chỗ rất quan trọng như Hải Phòng mà không có đại biểu.

B- CÁCH THẢO LUẬN – Bắc không thảo luận một cách thiết thực mà thảo luận một cách “tầm chương trích cú”. Thí dụ: như chất vấn Trung ương sao khi thì nói “để” dự bị võ trang, khi thì nói “và” dự bị võ trang, v.v.. Vì đảng viên chưa thảo luận cho nên những ý kiến trong hội nghị không thể đại biểu được ý kiến của quần chúng trong Đảng. Vả lại trong khi khai hội, nhiều đồng chí mệt mỏi hoặc phải vắng mặt để đối phó việc khác, ít phát biểu ý kiến. Thành thử ý kiến trong cuộc hội nghị lại là ý kiến của số ít trong số ít.

C- VẤN ĐỀ CÔNG TÁC – Trong hai hội nghị, các lời đề nghị đều có ý mênh mông, không thấy đề nghị thế nào để tất cả đảng viên, tất cả chi bộ thảo luận và thực hành được các nghị quyết án của Trung ương; không thấy đề nghị kế hoạch thiết thực cho mỗi địa phương.

D- VẤN ĐỀ TÊN ĐẢNG – Trung đề nghị chờ bao giờ Cao Miên và Lào có Đảng rồi sẽ nhập các Đảng lại và đổi tên. Thế là các đồng chí Trung không hiểu chỉ thị Quốc tế nói rằng Đảng phải gồm cả vô sản ở Đông Dương và không hiểu nhiệm vụ Đảng là phải làm cho Lào và Cao Miên có đảng bộ. (Trung ương đã in và phát hành chỉ thị Quốc tế cho đảng viên chưa? Sao thấy trong Nghị quyết Bắc có hỏi: “Trung ương bảo thảo luận “chỉ thị” là chỉ thị nào? “).

E- LỰC LƯỢNG CỦA ĐẢNG – Muốn hiểu rõ sức mạnh và chỗ yếu của Đảng ở Trung và Bắc thì chúng ta nên xem bảng này 1 :

Đảng viên

Chi bộ

Thanh niên

Công hội

Nông hội

Phụ nữ

Ghi chú

– Nam Đàn

170

21

641

10.000

452

– Thanh Chương

273

27

78

10.077

232

– Anh Sơn

123

18

35

4.350

62

– Yên Dũng

11

15

3.022

– Diễn Châu

51

2

345

– Quỳnh Lưu

33

4

278

– Vinh

185

8

312

– Hưng Nguyên

55

9

2.032

70

– Nghi Lộc

58

15

1.574

– Hà Tĩnh

370

122

2.000

48

– Quảng Trị

42

– Quảng Ngãi

69

1.200

– Bình Định

40

100

– Hải Phòng

37

9

8

101

– Hòn Gai

8

10

– Nam Định

115

31

293

100

– Phủ Lý

82

13

300

– Thái Bình

40

8

14

270

– Hải Dương

9

1

31

– Hà Đông

12

51

– Bắc Ninh

6

– Hà Nội

36

Nhìn vào bảng trên thì thấy:

ở Trung:

a) Tổ chức Đảng có trong 13 huyện và tỉnh. Nhưng chỉ có 3 huyện là có tổ chức thanh niên. Trong một huyện thanh niên chỉ bằng một phần ba của Đảng, trong một huyện khác, thì bằng một phần tư.

b) Phụ nữ chỉ được tổ chức trong 5 huyện, số lượng phụ nữ trong một huyện chỉ bằng một nửa đảng viên, trong một huyện khác thì chỉ bằng một phần 9.

c) Trong 13 tỉnh và huyện trên, nǎm nơi có Nông hội rất yếu. ở một nơi số lượng nông dân được tổ chức gấp hai lần rưỡi số lượng đảng viên.

d) ở Trung, Công hội chỉ có ở một nơi trên, nhưng công nhân nông nghiệp các nơi thì chưa chỗ nào được tổ chức.

e) ở Trung có 16 tỉnh, mới có tổ chức ở nǎm tỉnh thôi.

f) Báo cáo Trung không nói rõ số lượng đảng viên phụ nữ và số lượng phụ nữ vào Nông hội.

Tổ chức ở Bắc thì yếu quá. Trong một xứ công nghiệp như Bắc, mà chỉ có hai tỉnh là có Công hội, bốn nơi có Thanh niên, nǎm nơi có Nông hội, nhưng xem ra tất cả chưa bằng tổ chức của một huyện thuộc hạng bốn ở Trung. ở một trung tâm chính trị và kinh tế quan trọng như Hà Nội, trừ vài đồng chí lãnh đạo ra thì không có một chiến sĩ nào khác.

Cả hai xứ đều không có tổ chức “Mặt trận phản đế”, “Cứu tế đỏ” và “Cứu tế thất nghiệp” (Trung đã có một chút Cứu tế đỏ).

Tôi đề nghị:

A- Đảng phải:

1. Sửa chữa những sai lầm trên.

2. Lập chương trình hành động cụ thể trong từng huyện và từng tỉnh.

3. Phân phối đảng viên (như nhà binh phân phối binh sĩ).

Các đồng chí phụ trách một vùng hay một công tác nào đó phải lập chương trình hành động cho mỗi đồng chí trong mỗi một tổ chức.

4. Các ban chấp uỷ phải quản lý và kiểm soát rất tỉ mỉ việc thi hành các chương trình hành động đó.

5. Trước tiên phải thống nhất tổ chức Thanh niên và Công hội và những tổ chức đó phải có sinh hoạt độc lập của mình.

B- Tất cả mọi đảng viên và tất cả các chi bộ phải thảo luận Chỉ thị của Quốc tế thứ ba và Nghị quyết của Trung ương, rồi phải ra Nghị quyết về những Nghị quyết và Chỉ thị nói trên. Những Nghị quyết ấy phải đệ trình lên Trung ương, Trung ương sẽ chuyển lên Quốc tế thứ ba. Có làm như thế thì mới có thể nâng cao được trình độ đảng viên, tất cả Chỉ thị và Nghị quyết mới được thi hành, tư tưởng và hành động của đảng viên mới thống nhất; và Quốc tế thứ ba mới nắm được trình độ cách mạng của đảng viên và sự liên lạc từ chi bộ tới Trung ương và với Quốc tế thứ ba mới thực hiện được chặt chẽ (đó là ý kiến của Quốc tế thứ ba).

1- Nhớ gửi:

1) Báo cáo của Nam Kỳ.

2) Báo cáo của Hội nghị Trung ương.

3) Báo cáo về công tác công vận. Tôi đã nói đến ba vấn đề trong thư trước của tôi.

2- Người quen của chúng ta Đuycru (Ducroux) chưa về bằng chuyến tàu này.

3- Các đồng chí biết những tàu này chạy đường Sài Gòn – Tân Gia Ba? ở đây cần biết rõ điều đó.

4- Tôi nghe nói người ta có quen một người Pháp trên một chiếc tàu của sở hàng hải, nếu đúng như vậy (mà cũng cần như vậy) yêu cầu các đồng chí điều tra (về người đó) xem.

5- Khi có một chuyến tàu về, các đồng chí nên đến xem có ai về không. Khi có tàu vào cảng thì tín hiệu như thế nào.

6- Có người ở “kia” sắp về, khi có tin tàu về (từ đầu tháng 5) thì phải lên tàu đón. Trên tàu “Metzinger” có Nghĩa, thợ giặt. Có thể có gì đó (gửi cho các đồng chí). Nhớ đến hỏi anh ta mà lấy.

Ngày 20 tháng 4 nǎm 1931
NGUYỄN ÁI QUỐC

————————————

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng
cpv.org.vn

Thư gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (24-4-1931)

Ngày 23 tháng 4 nǎm 1931

1. Trong thơ đó nói rằng đồng chí mới về đó ở Hồng quân Đông Giang làm liên trưởng (quan ba) kiêm đảng đại biểu. Tiếng Tàu giỏi, nhiều kinh nghiệm binh và nông.

2. Người quen chuyến này chưa trở lại đâu; nó cần biết mối giao thông Sài Gòn – Singapor.

3. Hg – Th – Kông 1 chớ hỏi Lý Pấn 2 nữa. Chỉ giao thiệp với Trần Thiêm thôi. Tàu này chỉ đậu một ngày, phải chú ý khéo trật (b) 3 Tàu Trần Bình 4 có đồng chí Tống Phi Hùng bồi tầng thứ hai, (c) Thuận Khang không chạy HK – SGòn nữa. Phu Sanh nó không chịu nói tên, vậy hãy khoan đã (d) nhớ hỏi anh Nghĩa, thợ giặt của tàu Metzinger, xem hoặc có thơ hoặc có gói gì không.

4. Khi gửi gì, bảo giao thông viết cho rõ để ngoài này điều tra cho biết gì nhận được, gì không. Ngoài này cũng làm thế.

5. Vladimirof ở đây rồi. Nếu chuyến này chưa về được thì chuyến sau (các tàu quen, cái nào cũng phải đón). Blokof, Bourof và Limin 5 còn đọng lại Singapor, đã viết thư gửi họ rồi, Maizen 1 về đến Singapor, thì sợ mà trốn mất.

6. Các cơ quan không đặt bí hiệu hay sao? Sao mà nhiều lần cơ quan lộ rồi mà đồng chí cứ chui vào cho bị! (Chỗ in, chỗ “Vách giả” chỗ Mật 2 v.v.). Hoặc có đứa phản chǎng? Tài liệu bí mật, nhất là về giao thông có lộ không?

7. Khi có tiền thì mỗi đồng chí cẩn thận nên giắt một ít, thế là khi mất khỏi mất hết, mà những người chạy được cũng có xu mà hộ thân.

8. Nên tìm mi thuật gì mà giữ gìn lấy đồng chí trọng yếu, chứ nếu nó cứ túm mòn những vắt khá đi, thì hại cho công việc quá! Thái Bình, Phủ Lý thì nó lại cứ giở sổ mà đi bắt người! Xem những việc đó thì có thể nói rằng Đảng còn kém đường bí mật công tác. “Họ” thường hỏi tôi về vấn đề vì sao mà bị lộ? Vì sao mà bị? Để suy nghĩ và tìm cách sửa đổi. Nhưng trong không báo cáo ra, cho nên tôi cũng ú ớ!

8 Bis. Vấn đề nhiệm vụ tôi: a) Từ ngày Hội nghị Octobre tôi nghĩ trong đã có Trung ương, ngoài đã có Đ, vậy nên công việc tôi chỉ là như “thùng thơ”. Vậy nên tôi xin Đ đổi chỗ vì “thùng thơ” thì người khác cũng làm được. Vì thế mà Đ có thơ định trách nhiệm cho tôi (thơ đó tôi có gửi copie cho T.Ư).

b) Nếu Trung ương báo cáo thường và rõ ràng (détaillé) thì chúng tôi không đòi báo cáo các nơi làm gì, song từ ngày Hội nghị đến nay, Trung ương chưa có lần báo cáo nào tương tế hết. Như việc B phản đối chỉ thị Quốc tế mà cũng đến bây giờ người quen và Trung ương mới nói đến! Vẫn biết hoàn cảnh khó khǎn và Trung ương lắm việc, nhưng “họ” cũng cần phải biết tình hình rõ ràng mà cũng vì vậy mà phải yêu cầu các nơi báo cáo. Nhờ hai tờ báo cáo Xứ Hội nghị gửi ra, mới biết hơi rõ tình hình T và B từ 12 – 30 về trước, (từ đó đến giờ không rõ vì không thấy báo cáo nữa) và họ đương hỏi cho được báo cáo Nam Kỳ. Vả lại khi trước (Octobre) chúng ta đã định rằng, hễ các nơi báo cáo thì làm hai bản, một gửi cho Trung ương, một gửi ra. Thế là đỡ việc cho Trung ương và Quốc tế lại biết rõ tình hình, Đ cũng tán thành cách đó. Như vậy thì có gì là “vô lý và lộn xộn” 1 .

c) Tôi không trao kế hoạch gì riêng cho T và B, chỉ có những thông cáo gấp như 1-5, những chỉ thị đại khái như chỉ thị vừa rồi và những tài liệu nghiên cứu dịch ra thì tôi cứ vẫn gửi ba bản cho Trung ương, T và B. Làm như thế là cho mau, cho tiện và cho chắc chắn (nếu chỗ này không tiếp thì có chỗ khác tiếp).

d) Thơ vừa rồi Trung ương nói: “Chỉ có việc giao thông hoặc báo chương thì tôi giao thiệp với họ, chứ báo cáo thì vô lý và lộn xộn”. Nếu làm như đã nói trên, thì chẳng những không có gì là “vô lý và lộn xộn” mà lại chạy việc lắm. Nếu không vậy thì tôi giao thiệp với T và B cũng không có tác dụng gì.

e) Thơ Trung ương tôi cứ vậy gửi đi rồi. Nhưng việc này cũng vậy. Nhiệm vụ tôi đã là như thơ Đ đã định, cho nên khi có việc gì Đ cũng nói với tôi mà khi tôi có ý kiến gì (như phê bình T và B mới đến) cũng có Đ đồng ý.

Vậy nên khi Đảng nghị định hoặc yêu cầu gì thì tôi cũng nên biết. Nếu không biết gì cả, khi “họ” hỏi đến, tôi biết đường nào mà nói. Nếu chỉ biết truyền thơ qua, đưa thơ lại, nếu không tham gia ý kiến với Đ và với Trung ương, thì tôi ở đây cũng không ích gì lắm. Vì việc đưa thơ thì đồng chí khác cũng làm được.

Nói tóm lại là Trung ương thảo luận lại “nhiệm vụ của K. V” (2): 1/ ý kiến đối với thơ hôm nọ (copie gửi về trước) thế nào? 2/ Các nơi nên hay không nên gửi báo cáo, v.v.. Trung ương giải quyết thế nào, rồi cho tôi biết. Vì nếu để thế mãi, thì chỗ nói thế này, chỗ nói thế kia, thì lộn xộn thiệt, mà lại trở ngại cả công tác.

Thêm: Vladimirof chuyến này chưa về được. Phải chờ Hg-Th-Kông hoặc Trần Bình mới về được.

Chuyến này gửi về 2 Zũa và 200 giấy.

Ngày 24 tháng 4 nǎm 19311)

Ngày 1-5 sắp sửa thế nào, kết quả thế nào cho biết.

Miếng giấy nhỏ chữ Anh là do đại biểu I.J.C. gửi về.

————————

Bút tích tiếng Việt, bản chụp lưu tại Viện Lịch sử Đảng.
cpv.org.vn

Thư gửi Quốc tế Cộng sản (1931)

Đồng chí thân mến,

1. Tôi đã nhận được bức thư ngày 25-4.

2. Đồng chí Tổng bí thư đã bị bắt ngày 19 hoặc 20-4 .

Kể từ khi xuất bản Tạp chí cảnh sát, 7 trong số 101 người đã bị bắt. Vì vậy trong ban thư ký chỉ còn lại một công nhân trẻ tuổi.

3. Riêng ở Hải Phòng đã có 36 trường hợp bị bắt vào ngày 20-4 và 16 trường hợp bị bắt ngày 23-4. Điều đó nói lên rằng mọi hoạt động ở bốn địa phương đều bị lộ.

Một số đồng chí đã dùng súng lục chống lại cảnh sát. 1 đồng chí đã bị hy sinh và nhiều đồng chí khác bị thương.

4. Ngày 20-4 mấy tàu chạy hơi nước của chúng ta chờ để đón sinh viên lên tàu nhưng không có người nào đến. Có lẽ họ cũng đã bị bắt.

5. Ngày 29-4, một đồng chí phụ trách vấn đề thông tin liên lạc đã bị bắt. Vẫn chưa nhận được tin tức từ các đồng chí khác: Khi nào có tin cụ thể hơn thì tôi sẽ báo cho đồng chí biết. Tất cả các mối liên hệ tạm thời bị gián đoạn. Hình như tạp chí cảnh sát cũng lưu truyền ở đây. Tất cả những thanh niên Việt Nam ở đây đều bị kiểm soát và đã bị mật thám Pháp nhận dạng.

6. Nhiều tổ chức Đảng ở địa phương đã bị giải tán, nhiều tài liệu quan trọng rơi vào tay cảnh sát. Chúng tôi sẽ phải tổ chức lại mọi việc. Chúng tôi sẽ trao nhiệm vụ này cho các sinh viên trở về nước. Nếu mọi việc diễn ra tốt đẹp, thì khoảng 2 tuần nữa 4 sinh viên sẽ có mặt ở đây. Tôi sẽ họp với họ.

7. Ngày 20-4, mọi biện pháp đã được sử dụng để ban bố thiết quân luật trên toàn đất nước chống lại các cuộc biểu tình ngày 1-5. Trường học và nhà máy sẽ phải nằm trong sự kiểm soát quân sự chặt chẽ.

8. Ngày 12-4, 55 nông dân đã bị giết trong cuộc diễu hành. Ngày 14-4, 80 người bị giết và ngày 20-4, 30 người bị giết. Bọn đế quốc đã quyết định ngǎn chặn phong trào bằng tàn sát.

Chúng tôi nên chỉ ra cho các đồng chí của mình kế hoạch đấu tranh cụ thể nào? Nếu chúng ta cứ để họ đi theo con đường đó thì sẽ rất manh động, nguy hiểm. Tôi sẽ đề nghị thêm rằng Quốc tế Cộng sản chỉ thị cho tất cả các tổ chức cách mạng của chúng ta tham gia với khẩu hiệu “Bảo vệ Đông Dương” cùng với những hành động: “Không can thiệp vào Trung Quốc”, “Không can thiệp vào nước Nga Xôviết”. Đặc biệt là Đảng Cộng sản Pháp và các tổ chức cách mạng khác sẽ tǎng cường hơn nữa việc bảo vệ phong trào cách mạng ở Đông Dương.

9. Tôi không thể ký tên vào các bức thư vì tôi không có địa chỉ. Xin đồng chí hãy làm tất cả những gì có thể cho tôi. Tất nhiên, điều đó thật phiền phức. Vì điều kiện hiện thời, tôi luôn luôn phải viết cho đồng chí bằng phương pháp này và không phải lúc nào cũng viết cho P.O.B của đồng chí. Tôi đề nghị đồng chí sử dụng phương pháp viết thư tương tự. Nó có rắc rối nhưng an toàn hơn.

Gửi lời chào cộng sản.

VICTO

—————————-

Bút tích tiếng Anh, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Lễ báo công dâng Bác của Đoàn đại biểu dự Đại hội TNCS Hồ Chí Minh Binh chủng Thông tin

Trong không khí thi đua chào mừng 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, hướng tới Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Binh chủng Thông tin lần thứ 8, sáng ngày 15/8/2012, 120 đại biểu đoàn viên thanh niên ưu tú cùng các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy thay mặt cho hơn 3.000 đoàn viên thanh niên Binh chủng Thông tin dự Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về báo cáo với Bác những thành tích tiêu biểu đã đạt được trong phong trào thanh niên nhiệm kỳ qua. Tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Hữu Hùng, Phó Chủ nhiệm Chính trị Binh chủng đã đọc lời báo công dâng Bác.

Binh chung thong tin bao congLễ báo công dâng Bác của Đoàn đại biểu dự
Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Binh chủng Thông tin

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Quân đội, Binh chủng Thông tin không ngừng trưởng thành lớn mạnh về mọi mặt, đặc biệt là tuổi trẻ Binh chủng đã không ngừng học tập, nỗ lực phấn đấu vươn lên làm chủ các thiết bị, khí tài, công nghệ thông tin hiện đại. Là lực lượng đông đảo trong Binh chủng, những cán bộ, đoàn viên thanh niên luôn vững vàng trong mọi hoàn cảnh, giữ vững bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, có ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm minh, tích cực học tập nghiên cứu, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, luôn phấn đấu khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Nhiệm kỳ vừa qua, hoạt động công tác Đoàn và phong trào thanh niên của Binh chủng luôn bám sát nhiệm vụ chính trị gắn với phong trào thi đua quyết thắng của đơn vị, đồng thời đã tổ chức và thực hiện tốt có hiệu quả phong trào “Thanh niên Quân đội thi đua rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Đoàn viên, thanh niên trong Binh chủng luôn bảo đảm thông tin liên lạc, không ngại ngày, đêm, nắng, mưa luôn bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt, kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn, luôn bám trạm, bám đài, tích cực học tập nâng cao trình độ kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ tiêu biểu như: Tuổi trẻ Lữ đoàn 132, Lữ đoàn 134, Lữ đoàn 205, Lữ đoàn 596, Trung đoàn 139. Các cá nhân như: Đồng chí Phạm Văn Tuyền, Lữ đoàn 205, đồng chí Phùng Vương Quốc, Lữ đoàn 596, đồng chí Thái Doãn Ngọc, Lữ đoàn 134 và nhiều gương tiêu biểu khác. Đoàn viên, thanh niên khối Nhà trường cũng luôn xác định tốt nhiệm vụ, tích cực học tập, rèn luyện cầu mong tiến bộ, có nhiều đồng chí đã tích cực tham gia nghiên cứu các đề tài khoa học nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo và đặc biệt trong các kỳ thi Olympic các môn khoa học xã hội và nhân văn đạt giải cao, tham gia thi Robocon đã đạt được thành tích tiến bộ vượt bậc. Đoàn viên, thanh niên Công ty Thông tin điện tử Z755, Trung tâm Kỹ thuật thông tin công nghệ cao đã tích cực chủ động khắc phục khó khăn, chấp hành nghiêm các quy định, quy trình công nghệ. Hàng năm có nhiều công trình, sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị kinh tế cao đưa vào phục vụ cho nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc và sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao. Nhiều đồng chí phấn đấu trở thành thợ giỏi, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý năng động, sáng tạo, góp phần tạo ra nhiều đề tài ứng dụng vào sản xuất kinh doanh tạo ra những sản phẩm có chất lượng, giá trị kinh tế cao.

Bên cạnh việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn” và các cuộc vận động “Vì đồng bào bão lụt”, “Vì người nghèo”, “Quỹ đền ơn đáp nghĩa”, “Nghĩa tình biên giới hải đảo”, “Vì Trường sa thân yêu”… được đoàn viên, thanh niên Binh chủng tích cực tham gia với tình cảm và trách nhiệm cao.Với kết quả đã đạt được, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Binh chủng đã được Tổng cục Chính trị tặng Bằng khen, Giấy khen; 76 đồng chí được tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua, 1.375 đồng chí được tặng Bằng khen, Giấy khen, 3.985 đồng chí đạt danh hiệu Chiến sỹ tiên tiến.

Đây thực sự là những bông hoa đẹp trong vườn hoa muôn màu sắc của Thanh niên Binh chủng Thông tin xin kính dâng lên Bác và nguyện suốt đời “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”.

Duy Chính
bqllang.gov.vn

Thủ đô kháng chiến hôm nay

QĐND Online – Những ngày Tháng 8 lịch sử, chúng tôi về huyện Sơn Dương – Thủ đô kháng chiến, nơi Bác Hồ đã chọn làm căn cứ địa cách mạng của cả nước. 67 năm đã trôi qua, quê hương cách mạng Sơn Dương hôm nay đã đổi thay rất nhiều, cuộc sống mới no ấm đang đến với từng hộ đồng bào các dân tộc nơi đây – niềm tin theo con đường mà Đảng, Bác Hồ đã chọn vẫn mãi sắt son trong trái tim mỗi người.

Chuyện lịch sử

Từ trung tâm thành phố Tuyên Quang men theo con đường nhựa phẳng phiu, chúng tôi tìm về Sơn Dương, về với vùng đất ghi đậm dấu ấn của những năm kháng chiến thần kỳ cùng các sự kiện lịch sử của những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều khiến chúng tôi xúc động, bồi hồi nhất khi trở lại nơi đây là dù đã 67 năm trôi qua nhưng trong ký ức của người dân vùng ATK, những câu chuyện về Bác Hồ, về cách mạng vẫn còn sống mãi.

Đình Hồng Thái. Ảnh: internet

Đến ngôi nhà sàn của gia đình ông Nguyễn Tiến Sự, thôn Tân Lập, xã Tân Trào, nơi Bác Hồ đã từng sống và làm việc trong thời gian khi Người mới trở về từ Pác Bó (Cao Bằng). Giờ đây, ông Sự không còn nữa nhưng các thế hệ con cháu ông vẫn luôn nhớ hình ảnh và những việc làm của Bác Hồ. Bà Hoàng Thị Mai, con dâu trưởng của ông Nguyễn Tiến Sự kể lại: “Những ngày tham gia Việt Minh ở căn cứ địa cách mạng Tân Trào, hình ảnh “ông Ké cách mạng” vẫn in sâu trong tâm trí bà và những người dân nơi đây. Ngoài thời gian làm việc, Người còn cùng với bà con lao động, nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ, động viên chị em phụ nữ hăng hái tăng gia sản xuất”.

Ông Ma Văn Chước, thôn Lũng Búng, xã Tân Trào, năm nay đã 83 tuổi nhưng khi nghe chúng tôi hỏi chuyện về những năm kháng chiến “Thương nhau chia củ sắn lùi/ Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”, đôi mắt ông bỗng sáng lạ thường. Ông bảo, ngày ấy, theo sự chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo thôn, tôi vinh dự được cùng một số anh em khác trong làng lo chuyện hậu cần phục vụ Bác và các đồng chí cách mạng. Cùng với đó, ông còn được giao nhiệm vụ làm giao liên cho cách mạng.

Ông bảo, để đảm bảo giữ bí mật thông tin liên lạc, tôi thường nhét thư vào ống nứa, như vậy địch mới không ngờ tới. Ngày ấy, ở thôn Lũng Búng và cả xã Tân Trào, mọi người không biết Bác Hồ là ai mà chỉ biết đó là ông Ké. Mãi sau này, khi kháng chiến thắng lợi mới biết đó là Bác Hồ. Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, ông hăng hái tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Gia đình ông vinh dự được Chính phủ tặng bằng khen “Gia đình vẻ vang”, bản thân ông được Hội đồng Chính phủ tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang.

Chúng tôi tìm về xã Trung Yên, nơi có 22 điểm di tích lịch sử cách mạng. Trong đó có nhiều điểm di tích quan trọng như: Khu di tích Chủ tịch Tôn Đức Thắng, di tích Ban thường trực Quốc hội, cơ quan Thông tấn xã, Bộ nội vụ… Trung Yên hôm nay, đang không ngừng đổi thay, đường làng ngõ xóm được bê tông hóa sạch đẹp; chợ trung tâm các xã lúc nào cũng tấp nập người mua, người bán; cánh đồng lúa bạt ngàn xanh ngút mắt… Ông Triệu Minh Cương, 88 tuổi, thôn Ao Búc, cán bộ lão thành cách mạng cho biết, thời Pháp, Trung Yên còn nghèo lắm, hơn 80% số hộ đói ăn, nhưng bà con luôn một lòng theo cách mạng, theo cụ Hồ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, bà con đã hiểu hơn về kỹ thuật canh tác tăng gia sản xuất, biết được cái chữ và nâng cao trình độ dân trí… Gần 70 năm trôi qua, chúng tôi rất vui mừng vì thấy quê mình đổi mới, nhiều thôn xóm đã có đường bê tông hóa sạch đẹp, trường học đã được xây kiên cố…

Về các xã ATK: Tân Trào, Hợp Thành, Minh Thanh, Bình Yên, Lương Thiện, Trung Yên của huyện Sơn Dương, nghe những câu chuyện lịch sử qua lời kể của các cụ cao tuổi như Vi Thị Hồi, thôn làng Sảo, xã Hợp Thành; cụ Nông Thị Mơ thôn Lũng Búng, xã Tân Trào; cụ Triệu Minh Cương thôn Ao Búc, xã Trung Yên… chúng tôi càng tin yêu, tự hào về vùng quê cách mạng Sơn Dương. Chính những người dân bình dị ấy đã góp sức làm nên mốc son chói lọi, bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc – Cách mạng tháng 8-1945.

Khởi sắc

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sự chung sức đồng lòng của bà con nhân dân, những năm qua, đời sống vật chất văn hóa tinh thần của bà con nhân dân vùng chiến khu xưa đã không ngừng được nâng lên.

Du khách đến tham quan các hiện vật tại Bảo tàng Tân Trào. Ảnh: Đào Thanh

Đồng chí Hoàng Cao Khải, Phó chủ tịch UBND xã cho biết, hiện toàn xã có 44,1km đường giao thông. Trong đó, có có 6km đường quốc lộ 2C, hơn 4,5km đường liên xã, hơn 20 km đường liên thôn, trong đó bê tông hoá 7,6 km, nhựa hoá 1,5 km, còn 11 km đường đất. Xã có 11 công trình thuỷ lợi, bao gồm 7 hồ chứa, 4 công trình phai đập. Năng lực tưới tiêu chủ động cho 93,1ha ruộng… Hệ thống cơ sở hạ tầng từng bước được cải thiện đã góp phần quan trọng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của bà con nhân dân.

Bà Ma Thị Muộn, Bí thư đảng ủy xã Trung Yên cho biết, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, bà con nhân dân cùng chung sức đồng lòng vượt qua đói nghèo, đến nay, xã không còn hộ đói. Đời sống kinh tế phát triển, nhận thức của bà con được nâng lên, vì vậy việc chăm lo học hành cho con cái họ cũng được cải thiện. Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi học hết bậc tiểu học đạt 100%, hết bậc THCS đạt 97%. Cùng với chăm lo xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Trung Yên luôn chú ý đến việc giữ gìn, tôn tạo và bảo vệ các điểm di tích lịch sử.

Trở lại Bình Yên, chúng tôi thấy hiện hữu sức sống mới đang về với vùng quê cách mạng này. Trong chương trình xây dựng nông thôn mới, xã đang tập trung quy hoạch những vùng sản xuất tập trung hàng hóa, ưu tiên đầu tư phát triển các loại cây thế mạnh gồm rừng, chè, mía. Vụ mùa năm nay, xã đang tích cực chăm sóc 103 ha lúa, nỗ lực hoàn thành trồng mới 133 ha rừng.

Nước sạch đã về với bà con thôn Khuân Đào, xã Trung Yên, huyện Sơn Dương (Tuyên Quang). Ảnh: Đào Thanh

Với hơn 138 di tích và cụm di tích lịch sử văn hóa gắn với bản sắc văn hóa dân tộc đặc sắc, cùng nhiều cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, nên thơ, Sơn Dương có tiềm năng to lớn cho ngành “công nghiệp không khói” phát triển. Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các bộ, ban ngành, nhiều điểm di tích lịch sử của huyện Sơn Dương đã được đầu tư trùng tu xây dựng như: Nhà bia lưu niệm Ban thường trực Quốc hội, thôn Chi Liền, xã Trung Yên…

Theo Ban quản lý Khu du lịch lịch sử văn hóa và sinh thái Tân Trào, để phát triển tiềm năng du lịch của địa phương đơn vị đã thực hiện biên tập 5.000 tờ gấp ghi rõ địa chỉ và tóm tắt lịch sử của các cụm, điểm di tích; phát hành 1.200 đĩa DVD giới thiệu về các điểm di tích về hình ảnh văn hóa, thiên nhiên, con người vùng ATK…

Ông Tô Hoàng Linh – Phó chủ tịch UBND huyện Sơn Dương cho biết, từ đầu năm đến nay, huyện Sơn Dương đã đón trên 350.000 lượt khách đến tham quan du lịch, đạt hơn 75% kế hoạch năm. Doanh thu từ du lịch đạt trên 342 triệu đồng, bằng 68% kế hoạch năm.

Sự kiện đón nhận Bằng xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt đối với Khu Di tích lịch sử Tân Trào diễn ra ngày 16-8 là dấu ấn lịch sử, văn hóa quan trọng, là niềm tự hào đối với mảnh đất và con người xứ Tuyên.

Đào Thanh
qdnd.vn

Cách mạng Tháng Tám – Biểu tượng của cuộc đấu tranh kỳ diệu

QĐND – Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam năm 1945 là cuộc cách mạng hết sức quan trọng không chỉ đối với Việt Nam, mà còn tác động lớn trên thế giới, nhất là đối với các nước thuộc địa khi đó. Đây cũng là động lực để các chuyên gia, nhà sử học quốc tế tìm tòi, nghiên cứu về thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam.

Bức ảnh “Ngày độc lập”, trong bộ sưu tập của Giáo sư người Pháp Phi-líp Đờ-vi-lê (Phillippe Devillers) trưng bày tại Nhà thông tin Tràng Tiền, nhân dịp 2-9-2010. Nguồn: Internet

Sự kiện quan trọng nhất sau Cách mạng Tháng Mười Nga

Trong bối cảnh lịch sử chung của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở châu Á, Đông Nam Á nói riêng, với thời cơ thuận lợi giống nhau, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam nổ ra đúng lúc, kịp thời cơ và thắng lợi triệt để. Do đó, ảnh hưởng của cuộc cách mạng này sâu rộng ở trong nước cũng như trên trường quốc tế.

Trong cuốn “Thế giới bàn về Việt Nam”, tập 2, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976. tr.224, tác giả Thô-mát Hót-kin (Thomas Hodgkin), người Anh, đánh giá Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là một sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử thế giới từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga. “Đó là một cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, một Đảng chỉ mới ra đời được 15 năm. Đó là cuộc cách mạng đầu tiên thành công trong việc lật đổ chính quyền của chế độ thuộc địa. Nó đã nổ ra trong một thời điểm lịch sử kết thúc cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai… Như vậy, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã đánh dấu sự bắt đầu của một thời kỳ mới, nó vạch đường ranh giới của thời đại thực dân bắt đầu nhường chỗ cho thời đại phi thực dân hóa”.

Nhà sử học Na Uy Xtên Tôn-nét-xơn (Stein Tonnesson) trong cuốn sách “Cách mạng Việt Nam năm 1945, Ru-xơ-ven, Hồ Chí Minh và Đờ Gôn trong một cuộc chiến tranh thế giới”, xuất bản năm 1991, cũng cùng chung nhận định rằng, Cách mạng Việt Nam quan trọng vì không phải đơn thuần xảy ra trong bối cảnh Việt Nam. “Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Việt Nam nằm trong những nguồn cảm hứng chủ yếu về một đường lối đấu tranh lớn khác sau chiến tranh, quá trình phi thực dân hóa. Trong các cuộc cách mạng cộng sản, cuộc cách mạng của người Việt Nam có sức sống và làm đảo lộn nhiều nhất”, nhà sử học Tôn-nét-xơn nhấn mạnh.

Sự tất yếu mang tính logic

Theo nhà sử học Sác-lơ Phuốc-ni-ô (Charles Fournieau), nguyên Chủ tịch Hội hữu nghị Pháp-Việt, Cách mạng Tháng Tám đánh dấu thời điểm quan trọng trong lịch sử Việt Nam, phản ánh cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc Việt Nam chống lại sự chiếm đóng của giặc ngoại xâm, đồng thời đánh dấu sự chuyển sang thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam. Không những thế, thành công của Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam còn có ý nghĩa quốc tế, bởi lẽ đây là một trong những phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đầu tiên trên thế giới. Đối với phong trào cách mạng Đông Dương cũng như thế giới, Cách mạng Tháng Tám có vai trò đặc biệt quan trọng.

A-lanh Ru-xi-ô (Alain Ruscio) là một trong những nhà sử học ở Pháp rất quan tâm và đi sâu nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, về các cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Theo nhà sử học này, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam không chỉ là sự kiện gây bất ngờ, mà đó cũng là sự tất yếu mang tính logic trong lịch sử phong trào đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Ông nhấn mạnh, đây là sự kiện trọng đại của cả dân tộc Việt Nam.

Đồng quan điểm với hai nhà sử học trên, nhà báo, nhà nghiên cứu người Pháp Đa-ni-en Ru-xen (Daniel Roussel) còn khẳng định rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là biểu tượng cuộc đấu tranh kỳ diệu của nhân dân Việt Nam để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.

Dù có những nhận xét phong phú về thành công của Cách mạng Tháng Tám, nhưng các nhà sử học nước ngoài đều cùng chung một quan điểm khi cho rằng, có được thành công trên là nhờ sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhờ đó, nhân dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, đặc biệt là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dẫn tới việc chính thức lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2-9-1945.

Bình Nguyên
qdnd.vn

Thư gửi Ban phương Đông (16-1-1935)

Các đồng chí thân mến!

Cǎn cứ vào báo cáo của đồng chí H.N. về tình hình Đảng Cộng sản Đông Dương và theo kinh nghiệm của tôi ở Hoa Nam, Đông Dương, Thái Lan và ở Mã Lai, tôi thấy có bổn phận bức thiết đối với các đảng của chúng tôi là phải đề xuất với các đồng chí đề nghị sau đây:

Trừ một vài đồng chí rất hiếm hoi (đã được huấn luyện ở Trường đại học những người lao động phương Đông, hoặc là trí thức), còn đại đa số đồng chí của chúng tôi, trình độ lý luận và chính trị rất thấp.

Hậu quả của tình trạng thiếu kiến thức về lý luận như vậy là gì? Hậu quả khá nhiều. Các đồng chí đã nghe đồng chí H.N. kể về những hậu quả ấy trong báo cáo. Tôi nói thêm một vài hậu quả nữa:

1. Đa số các đồng chí – ngay cả những đồng chí có trách nhiệm- cũng không hiểu thật rõ “cách mạng dân chủ tư sản” là gì. Các đồng chí ấy nhắc đi nhắc lại những chữ ấy mà không hiểu nghĩa. Vì không thể giải thích được cho công nhân và nông dân, cho nên các đồng chí ấy thường tỏ vẻ lúng túng trong công tác tuyên truyền và cổ động. Để khỏi lung tung, các đồng chí buộc phải “bịa ra”. Do đó, một sự ngu dốt này làm phát sinh một sự ngu dốt khác và một sai lầm này gây nên các sai lầm khác.

2. Các đồng chí ấy cũng không hiểu tại sao phải kết hợp cuộc cách mạng phản đế với cách mạng ruộng đất. Vì vậy mà những khẩu hiệu đưa ra lộn xộn, không phối hợp với nhau.

3. Các đồng chí ấy không hiểu sự khác nhau giữa Đảng với các tổ chức khác, cho đó là sự khác biệt về “cấp bậc”. Ví dụ như xếp Đảng ở số 1, Thanh niên cộng sản ở số 2, Công hội ở số 3, v.v.. Và khi một đồng chí đang hoạt động trong Đảng mà được cử sang hoạt động ở một tổ chức khác, đồng chí đó xem việc chuyển dịch ấy như là một “việc hạ cấp bậc”, gần như là một hình phạt!

4. Hoặc là, các đồng chí ấy bắt đầu tổ chức một nhóm liên minh chống đế quốc, rồi chọn những thanh niên của liên minh để tổ chức một Công hội. Cuối cùng chọn những hội viên Công hội để tổ chức một tổ Đảng.

5. Một cuộc bãi công bùng nổ. Những người lãnh đạo là trí thức viết vào một quyển vở theo trật tự 1, 2, 3, v.v. những bước đi phải tiến hành rồi họ đưa quyển vở ấy cho các đồng chí có trách nhiệm là công nhân. Các đồng chí này đưa quyển vở về nhà máy và thi hành máy móc những điều đã ghi trên giấy mà không biết phán đoán xem những điểm ấy có phù hợp với thực tế hay không!

Hoặc là, các đồng chí ấy dùng mọi biện pháp để phát động bãi công, nhưng khi công nhân đã rời nhà máy xuống đường, các đồng chí ấy không biết phải làm gì nữa.

6. Còn có một nguy cơ lớn khác. Tuy các đảng đã đưa những đồng chí công nhân vào các ban lãnh đạo, nhưng các đồng chí này vẫn bị ảnh hưởng của những phần tử trí thức, bởi vì theo các đồng chí ấy, “những người trí thức đã được đọc tất cả những điều ấy trong các bản luận cương hoặc trong sách”.

Tình hình ấy diễn ra trong thời kỳ 1930-1931, lúc mà các đồng chí của chúng ta đã là những chiến sĩ khá lão luyện và khá từng trải rồi. Nhưng hiện nay, tất cả hoặc hầu như tất cả các đồng chí ấy đã bị giết hay bị cầm tù. Những đồng chí đang hoạt động trẻ hơn, ít kinh nghiệm hơn, do đó có khả nǎng phạm những sai lầm nghiêm trọng hơn.

Vì vậy, tôi thấy tuyệt đối cần thiết là chúng ta phải giúp đỡ các đồng chí của chúng ta khắc phục những khó khǎn ấy bằng cách tạo điều kiện cho các đồng chí tiếp thụ được những kiến thức sơ đẳng nhất mà mỗi chiến sĩ đều phải có.

Và biện pháp duy nhất có hiệu quả để giúp các đồng chí theo phương hướng đó là cho xuất bản những quyển sách nhỏ viết về các vấn đề sau đây:

1. Tuyên ngôn cộng sản,

2. Đảng cộng sản và tổ chức của Đảng,

3. Lịch sử Quốc tế Cộng sản,

4. Lịch sử Đảng,

5. Lịch sử R.K.P.B (Đảng Cộng sản Bônsơvích toàn Liên bang Xôviết),

6. Lịch sử Quốc tế Thanh niên (KIM),

7. Thanh niên cộng sản và tổ chức thanh niên,

8. Công hội,

9. Quốc tế Công hội đỏ,

10. Nông hội,

11. Vấn đề dân tộc,

12. Vấn đề ruộng đất,

13. Quốc tế Cứu tế đỏ (MOPR),

14. Liên minh chống đế quốc,

15. Chủ nghĩa đế quốc Pháp,

16. Cách mạng Tháng Mười,

17. Cách mạng Trung Hoa,

18. Khởi nghĩa vũ trang,

19. Những bài học của các sự biến 1930-1931,

20. Chủ nghĩa Tờrốtxki,

21. Nền kinh tế xôviết,

22. Mác, Ǎngghen, Lênin, Xtalin,

23. Làm thế nào để kết hợp hoạt động bất hợp pháp và hoạt động hợp pháp,

24. Làm thế nào để tổ chức các chi bộ và làm cho các chi bộ hoạt động,

25. Làm thế nào để tổ chức một cuộc bãi công, một cuộc biểu tình, v.v.,

26. Làm thế nào để thực hiện mặt trận thống nhất,

27. Làm thế nào để tổ chức một tờ báo Đảng, tờ báo nhà máy, v.v.,

28. Làm thế nào để tổ chức học sinh, phụ nữ, v.v.,

29. Làm thế nào để vận động binh lính,

30. Luận cương và nghị quyết về vấn đề thuộc địa (của Quốc tế Cộng sản), v.v. và v.v..

Khi xuất bản những tập sách nhỏ ấy, cần phải chú ý đến: 1. Những khó khǎn về việc in lại sách ở các xứ này; 2. khó khǎn về việc giữ sách; 3. khó khǎn của độc giả cất giấu sách; 4. trình độ vǎn hoá thấp của các đồng chí chúng tôi không thể đọc và hiểu được những điều diễn đạt quá dài, quá khó. Vì vậy các tập sách nhỏ ấy phải ngắn, từ ngữ phải rất đơn giản, rất rõ ràng và dễ hiểu đối với quần chúng. Nếu có thể được, nội dung nên trình bày dưới dạng câu hỏi và trả lời.

Các đồng chí của chúng tôi rất dũng cảm và hǎng hái. Các đồng chí ấy công tác rất tận tuỵ. Nhưng vì thiếu kiến thức lý luận, buộc các đồng chí phải mò mẫm từng bước, luôn luôn vấp váp vì thiếu thốn như vậy. Tất nhiên là các đồng chí sẽ được giáo dục rèn luyện trong đấu tranh và trong công tác thực tế hàng ngày. Nhưng có thể tránh được biết bao bế tắc, sai lầm và biết bao thất bại đau đớn, nếu chúng ta có thể cung cấp cho các đồng chí ấy những kiến thức tối cần thiết về lý luận soi đường, tạo điều kiện dễ dàng cho các đồng chí ấy tiến hành công tác.

Đồng chí Xtalin nghìn lần có lý khi nói rằng: “Lý luận tạo cho các đồng chí làm công tác thực tế, sức mạnh định hướng, sự sáng suốt dự kiến tương lai, kiên định trong công tác và lòng tin ở thắng lợi của sự nghiệp của chúng ta”.

Những điều mà tôi nói về các đồng chí chúng tôi ở Đông Dương, ở Thái Lan, v.v. chắc chắn là cũng đúng đối với những đồng chí ở các nước thuộc địa khác, mà ở đây Đảng hoạt động bất hợp pháp và trình độ vǎn hoá của những người lao động còn thấp. Những cuốn sách nhỏ đề nghị trên đây nhất định là cũng rất có ích đối với cả những nước ấy.

Thân ái chào cộng sản
Ngày 16 tháng 1 nǎm 1935
LIN

——————————

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Thư gửi đồng chí Mácti (12-10-1937)

Đồng chí Mácti thân mến,

Chúng tôi đã nhận được tin đồng chí Pôn Vayǎng Cutuyariê của chúng ta sớm từ trần với một nỗi đau buồn sâu sắc.

Đây là một tổn thất to lớn cho Đảng Cộng sản Pháp của chúng ta, cho giai cấp vô sản Pháp, giai cấp vô sản thuộc địa và giai cấp vô sản thế giới.

Tôi đã khóc khi biết tin đồng chí Vayǎng Cutuyariê qua đời. Đối với tôi, anh là một đồng chí, một bạn thân và một người anh em. Chúng tôi đã quen biết nhau từ Đại hội Tua đáng ghi nhớ. Cho tới nǎm 1934, chúng tôi đã cùng nhau làm việc trong vấn đề thuộc địa mà anh từng chứng tỏ hết sức quan tâm.

Trong chuyến anh sang Viễn Đông với tư cách đại biểu và người tổ chức Hội nghị vì hoà bình và chống chiến tranh, chúng tôi đã gặp lại nhau tại Trung Quốc. Dịp đó, anh đã giúp tôi một việc rất lớn để tôi thoát khỏi một hoàn cảnh vô cùng khó khǎn mà tôi vấp phải.

Chúng tôi lại gặp nhau ở đây vào mùa hè, và đã cùng nhau thảo luận vấn đề thuộc địa, đặc biệt là vấn đề Đông Dương.

Giai cấp vô sản thuộc địa đã mất đi một người chiến sĩ tốt và một người bạn chân thành. Vayǎng Cutuyariê đã qua đời, nhưng tấm gương về sự tận tuỵ và lòng can đảm của anh vẫn còn. Khóc than anh qua đời, chúng tôi hứa sẽ noi theo tấm gương cao quý của anh, đấu tranh kiên trì hơn cho tới thắng lợi của sự nghiệp của chúng ta.

Nhân danh cá nhân và nhân danh những người cộng sản Đông Dương cùng các giai cấp cần lao Đông Dương, tôi nhờ anh, đồng chí thân mến, chuyển tới Đảng Cộng sản Pháp của chúng ta, tới gia đình của đồng chí và bạn thân tiếc thương của chúng ta những lời chia buồn sâu sắc.

Ngày 12-10-1937
NGUYỄN ÁI QUỐC

————————

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn