Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Phong trào cách mạng ở Đông Dương (14-8-1926)

Tình hình kinh tế. Xứ Đông Dương bị Ngân hàng Đông Dương, thành lập nǎm 1875, thống trị về mặt kinh tế. Đến nǎm 1924, vốn của ngân hàng là 64.400.000 phrǎng. Cũng trong thời kỳ này, doanh số lên tới 4.503.000.000 phrǎng và thu được 34.000.000 phrǎng tiền lãi. Chính Ngân hàng Đông Dương đã chỉ huy tín dụng công nghiệp, thương nghiệp ở Đông Dương, Công ty mỏ than Bắc Kỳ (công ty này hằng nǎm xuất cảng 1.400.000 tấn than trị giá 12.000.000 đồng hay 201.000.000 phrǎng) và Công ty hoả xa Vân Nam.

Về thương nghiệp nói chung, ở Đông Dương, doanh số hơn 4 tỷ phrǎng. Bán thuốc phiện thu được 215.000.000 phrǎng và bán rượu thu được khoảng 1 tỷ phrǎng tiền lãi. Trong số 1 tỷ phrǎng này, Chính phủ thu 200.000.000 phrǎng, số còn lại vào túi bọn tư bản độc quyền. Như vậy là chỉ có đầu độc dân bản xứ mà đế quốc Pháp đã thu được 415.000.000 phrǎng!

Ngân sách toàn Đông Dương là 1.327.000.000 phrǎng.

Người ta xuất cảng 1.500.000 tấn gạo trị giá 252.000.000 phrǎng và 80.000 tạ cao su.

Đông Dương thịnh vượng như vậy. Nhưng sự thịnh vượng ấy chỉ làm lợi riêng cho người Pháp mà thiệt hại cho người An Nam. Mỗi ngày, đàn ông chỉ kiếm được 32 xu, đàn bà 28 xu, trẻ con 16 xu. Hơn nữa, họ không được trả lương đều đặn và không phải bao giờ cũng nhận bằng tiền mặt. Công ty mỏ than tổ chức ra những

cửa hàng bán thực phẩm và các vật dụng khác. Thợ bắt buộc phải mua hàng ở đấy, giá đắt hơn thị trường 10%. Thường thì người ta trả lương bằng hàng hoá lấy ở các cửa hàng đó, người thợ chỉ được lĩnh một ít tiền mặt và mãi 15 ngày hay một tháng sau mới được lĩnh; chính bằng cách này mà công ty ngǎn được thợ thuyền bỏ trốn.

Theo lời thú nhận của toàn quyền Đông Dương thì đời sống của thợ mỏ quá khổ cực và công việc của họ quá nặng nề nên trong số 15.907 thợ mỏ thống kê được vào nǎm 1906, không ai sống đến 60 tuổi. Và bọn tư bản thuộc địa cũng lại viện cớ đó để từ chối không tổ chức quỹ hưu bổng cho thợ thuyền bản xứ!

Đời sống nông dân cũng chẳng hơn gì. Đất thì xấu, phương pháp canh tác thì lạc hậu, do đó nǎng suất rất thấp kém. Sản lượng một hécta ở châu Âu là 4.670 kilô thóc, ở Nhật Bản 3.320 kilô, ở Nam Dương 2.150 kilô, còn ở Đông Dương sản lượng chỉ có 1.210 kilô.

Người bản xứ đo ruộng đất bằng “mẫu”, chứ không đo bằng hécta. Một mẫu đất tốt sản xuất khoảng 50 thùng thóc trị giá 24đ75. Trong số tiền này, Chính phủ đã trích thu 2đ10, khoảng 10%. Nhưng cày cấy mỗi mẫu ruộng, người nông dân đã phải chi hết 28đ50 về tát nước, phân bón, giống má, thuê trâu bò, nhân công, v.v.. Như vậy là lỗ vốn mất 3đ75.

Người ta sẽ hỏi: “Thế thì người nông dân sống thế nào được và lấy gì mà đóng thuế?”. Có thể trả lời đơn giản như thế này: sống thế nào cũng được, nhưng người nông dân vẫn phải sống và phải đóng góp. Một câu tục ngữ An Nam có nói: “Không làm cũng chết, mà làm cũng chết”. Tập quán nghìn xưa cũng như sức mạnh của trǎm ngàn mối quan hệ khác đã trói chặt người nông dân với ruộng đất. Nếu biết nơi nào thoát thân được thì họ cũng đã rứt bỏ ra đi. Suốt nǎm, phần lớn những người nông dân phải ǎn rau ǎn khoai. Rất ít khi họ ǎn cơm, chỉ trong những ngày giỗ tết chẳng hạn, thì họ mới dám động tới hạt cơm quý giá ấy.

Ngoài thuế má nặng nề, tǎng lên 550% trong khoảng mười nǎm, người dân bản xứ còn bị khổ sở với trǎm nghìn thứ hạch sách. Tờ báo “Khai hoá” của người bản xứ ở Bắc Kỳ mới đây có viết: “Biết bao người đã bị bắt trái phép. Họ bị giam cầm hàng tháng trời… Lính tráng bắt họ đóng tiền này tiền kia, rồi còn hành hạ họ nữa… Có người bị đánh đập tàn nhẫn đến nỗi phải vào nhà thương. Tóm lại, nếu người nào vô phúc bị bắt mà nghèo đói thì đành cam phận, còn kẻ hơi khá giả thì phải bán vợ đợ con để nộp tiền phạt dù có bị bắt oan cũng vậy”.

Còn có những trường hợp nghiêm trọng hơn nhiều. Như một tên công sứ ở Cao Miên đã bòn rút tiền thuế của những người dân cùng khổ để xây dựng một lâu đài nghỉ mát tốn 57.600.000 phrǎng, tên ấy còn bắt dân đắp thêm một con đường từ nhà ở đến lầu nghỉ mát. Hơn 1.900 người đã thiệt mạng trên con đường này!

Tình hình chính trị. Tháng 11 nǎm ngoái, khi Varen, “nhà xã hội” tới nhận chức toàn quyền, dân bản xứ có đưa “Tập dân nguyện của người An Nam”, đòi tự do báo chí, tự do ngôn luận, quyền lập hội và hội họp, v.v.. Cũng như bọn toàn quyền trước, Varen đã hứa hẹn nhiều để không làm gì cả.

Cũng thời kỳ ấy, bọn mật thám Pháp bắt cụ Phan Bội Châu ở Thượng Hải. Cụ là một nhà lão thành yêu nước xuất dương từ 20 nǎm nay. Người ta đưa cụ về Bắc Kỳ để xử án. Mặc dầu Chính phủ Pháp giữ bí mật vụ bắt bớ này, nhưng người An Nam ai cũng biết tin, một phong trào phản đối sôi nổi khắp nơi.

Khi Varen đến Bắc Kỳ, sinh viên biểu tình đòi thả nhà lão cách mạng bị bắt giữ. Họ mang cờ và biểu ngữ kêu gọi: “Ân xá cho cụ Phan Bội Châu!”, “Đả đảo chế độ thực dân tàn bạo!”.

Đây là lần đầu tiên người ta được thấy một sự kiện như vậy ở Đông Dương. Varen buộc phải ân xá cho cụ Phan Bội Châu, nhưng vẫn bí mật giám sát cụ.

Từ đó phong trào sinh viên tiếp tục phát triển sôi nổi, đến tháng 3 vừa rồi, phong trào mới thật mạnh.

Khi Bùi Quang Chiêu, một người thuộc phái quốc gia, mới ở Pháp về – Chiêu vừa tổ chức ở Pháp một cuộc vận động chống những tên quan cai trị thuộc địa thối nát – hàng nghìn người An Nam do sinh viên hô hào, đã đi đón và đón tiếp rầm rộ 45 . Hôm đó, bọn phát xít Pháp cũng tổ chức phản biểu tình, chúng huy động cả quân lính, mật thám và cảnh sát. Bọn phát xít bắn súng lục chỉ thiên, và đá ông Chiêu. Mặc dầu có sự khiêu khích đê tiện ấy, người bản xứ vẫn giữ một thái độ rất bình tĩnh. Điều đó đã làm thất bại âm mưu của bọn Pháp định gây ra một “ngày đẫm máu” hòng dạy cho người An Nam biết phục tùng chúng!

Cũng đúng vào dịp này, nhà chí sĩ Phan Chu Trinh, một người thuộc phái quốc gia khác, vừa qua đời. 30.000 người An Nam ở khắp xứ Nam Kỳ đã làm lễ an táng theo quốc lễ và khắp nước đã tổ chức lễ truy điệu nhà chí sĩ. Chỉ trong vài ba ngày, một cuộc lạc quyên đã thu được 100.000 đồng. Tất cả học sinh, sinh viên đều để tang cụ.

Trước phong trào yêu nước của toàn dân, bọn thực dân Pháp sợ hãi, bắt đầu phản công lại. Chúng cấm học sinh để tang và tổ chức lạc quyên. Chúng cấm tổ chức các lễ truy điệu, v.v.. Để phản đối lại, học sinh đã bãi khoá. ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Huế, Sài Gòn, Phú Lâm, v.v. đâu đâu học sinh cũng đều bãi khoá. Nữ sinh cũng tham gia phong trào. Một sự việc đầy ý nghĩa sau đây đã chứng tỏ tinh thần yêu nước của học sinh: Tại trường Saxlu Lôba ở Sài Gòn có người đã viết lên bảng mấy chữ: “A.B. L.F.” (A bas les Franỗais – Đả đảo thực dân Pháp). Các giáo sư Pháp bắt học sinh lên xoá bảng. Chẳng một em nào chịu xoá cả.

Tên “xã hội” Varen ra lệnh cho hiệu trưởng các trường “phải thẳng tay trừng trị những hành động vô kỷ luật”. Thế là đã xảy ra nhiều cuộc khám xét, bắt bớ và đuổi hàng loạt học sinh. Riêng ở Sài Gòn, hơn 500 học sinh đã bị đuổi ra khỏi trường.

Các tổ chức chính trị. ở Bắc Kỳ, có một hội bí mật gọi là “Phục Việt” (46) . Mới đây hội này có rải truyền đơn, mà sau đây là vài đoạn trích dẫn:

“Nước Pháp dùng vũ lực để bắt nước ta làm nô lệ … họ đã áp bức dân ta nhiều nǎm nay … Trong cảnh ô nhục và cǎm thù đó, chúng ta, người An Nam không thể đội trời chung với người Pháp. Hỡi hai mươi lǎm triệu đồng bào! Những ai không chịu đem lòng sắt đá ra lật đổ cường quyền, thì thà hãy để cho thịt xương tự tan nát mà đền nợ nước.

“… Cường quyền đã đến ngày mạt vận. Các dân tộc đang hưởng ứng lời kêu gọi của nước Nga cách mạng. ấn Độ và Ai Cập đã vùng dậy đòi lại tự do… Lẽ nào người An Nam chúng ta lại vẫn chìm đắm trong giấc ngủ triền miên?… Hỡi dân tộc An Nam! Nếu chúng ta không đạt được (việc tự giải phóng) bằng phương pháp ôn hoà, thì chúng ta không ngần ngại hành động quyết liệt để trả thù nhà, nợ nước và để chen vai thích cánh với nǎm châu… Hỡi dân tộc An Nam! Hãy mau mau thức tỉnh…”.

ở Nam Kỳ, có một nhóm trí thức Tây học tự xưng là “Đảng lập hiến”, họ là một nhóm ôn hoà chủ trương “Pháp – An Nam đề huề”. Theo chúng tôi biết thì nhóm này không có hệ thống tổ chức, không có điều lệ, không có cán bộ. Đó là một tổ chức tập hợp nhau về mặt tinh thần. Vì họ thường đả kích chế độ cai trị thối nát ở thuộc địa trong khi vẫn tôn trọng “chủ quyền Pháp” nên họ có ảnh hưởng khá lớn trong quần chúng người bản xứ.

Có một nhóm khác là nhóm “Thanh niên An Nam”. Nhóm này tiến bộ và hoạt động hơn. Cơ quan báo chí của nhóm này do một người đã gia nhập quốc tịch Pháp làm chủ nhiệm, thường trích in bài của báo L’Humanité xuất bản ở Pari. Nhóm này cũng xuất bản, dưới hình thức những sách nhỏ, bản Tuyên ngôn Dân quyền và bản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản 47 của Mác.

Tất nhiên là Chính phủ Pháp hết sức tìm cách phá bỏ nhóm này, nhưng không kết quả, vì nhóm đó đưa tổ chức thành đảng. Vì thế Chính phủ Pháp bèn đàn áp các thành viên của nhóm đó.

Tháng 3, nhóm “Thanh niên An Nam” có tổ chức một cuộc mít tinh phản đối việc trục xuất một người Bắc Kỳ. Cuộc mít tinh thông qua kiến nghị như sau:

“Chúng tôi 3.000 người An Nam… sau khi nghe diễn thuyết nói chuyện … nhận thấy rằng việc trục xuất những người An Nam quê ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ ra khỏi địa phận Nam Kỳ là một hành động

độc đoán…, chúng tôi cực lực phản đối sự lạm quyền này… và khẩn thiết đòi Chính phủ Pháp ở Đông Dương phải tôn trọng những quyền tự nhiên và bất khả xâm phạm của con người và của công dân đã được xác nhận trong Hiến pháp của nước Cộng hoà Pháp, nhất là: 1) tự do báo chí viết bằng tiếng bản xứ, 2) bỏ câu thúc thân thể về dân sự và thương sự, 3) tự do học tập, hội họp và tự do đi lại”.

Trước cuộc mít tinh, người ta đã rải truyền đơn, cuối tờ truyền đơn có câu: “Nếu Chính phủ không chịu trả lại cho chúng tôi những quyền tự do cần thiết nói trên (quyền tự do báo chí, v.v.) thì chúng tôi không còn chút tin tưởng nào ở thiện ý của Chính phủ và chúng tôi nguyện cùng nhau tận tâm tận lực hoạt động để giải phóng dân tộc An Nam”.

Cũng vì đã viết những tiếng giải phóng dân tộc An Nam và đã phát hành số đầu tiên và cũng là số cuối cùng của báo An Nam trẻ- Diễn đàn giải phóng quốc gia, trong đó có đǎng lại bài của báo L’Humanité và báo Le Paria, mà hai tác giả, những người đã viết truyền đơn, đã tổ chức mít tinh, vừa là chủ nhiệm vừa là quản lý tờ báo, đã bị kết án hai nǎm tù!

Do hai vụ án này, học sinh lại tiếp tục bãi khoá. Thực dân Pháp lại dùng những biện pháp hành chính để trấn áp trả thù.

Tình hình chính trị ở Đông Dương có thể tóm tắt trong lời than vãn sau đây của một tờ báo tiếng Pháp ở Bắc Kỳ:

“Vụ biến động này… đã làm cho nước ta xưa nay yên ổn biết bao, đã trở thành trung tâm của những cuộc biến động và hỗn loạn”.

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 91, ngày 14-8-1926
cpv.org.vn

46. Hội Phục Việt: Một tổ chức yêu nước được thành lập vào mùa hè nǎm 1925, do sự kết hợp nhóm những chính trị phạm cũ ở Trung Kỳ (thực dân Pháp phải thả ra dưới áp lực của phong trào quần chúng và phong trào đòi tự do dân chủ phát triển mạnh ở Việt Nam từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất) với nhóm sinh viên Trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội. Cơ sở của Hội chủ yếu ở vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh. Trong phong trào đấu tranh sôi nôi của nhân dân ta đòi thực dân Pháp thả nhà ái quốc Phan Bội Châu nǎm 1925, hội viên của Hội này đã rải truyền đơn ở các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, thị xã Hải Dương và cả ở Nam Kỳ kêu gọi đấu tranh. Cơ sở của Hội bị lộ và Hội phải đổi tên là Hưng Nam. Do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội – tổ chức cách mạng do Nguyễn Ái Quốc sáng lập nǎm 1925 ở Quảng Châu (Trung Quốc), Hưng Nam đã chuyển thành Tân Việt cách mạng đảng (tháng 7-1928), sau đó phân hoá và dẫn tới sự ra đời của Đông Dương Cộng sản liên đoàn (tháng 1-1930) là một trong ba tổ chức cộng sản đã hợp nhất lại thành Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2-1930. Tr.231.

“Vǎn minh” Pháp ở Đông Dương (1927)

Nền “vǎn minh” Pháp tại Đông Dương thể hiện ở những chiều hướng khác nhau. Trước hết, thông qua sự cướp bóc trơ tráo nhân dân bản xứ – những người nông dân nghèo An Nam và Cao Miên bị chiếm đoạt trắng trợn -, nhằm thực hiện một nền kinh tế đồi bại đáng hổ thẹn. Điều đó cũng diễn ra như vậy ở Nam Kỳ. Những người bản xứ tại nơi này đã bị cướp đoạt không dưới 115.000 hécta ruộng đất, và người ta tính rằng, trong ít nǎm nữa, số diện tích này sẽ lên đến 200.000 hécta.

Tất cả các tầng lớp thực dân đại diện cho nền “vǎn minh” đều nhúng tay vào những cuộc cướp đoạt đó. Tất nhiên, đi đầu là những viên chức cao cấp nhất của Pháp tại những thuộc địa này. Tiến sĩ Cônhắc, thống đốc Nam Kỳ, đã bị công khai kết tội trong Uỷ ban thuộc địa là đã xuyên tạc, giả mạo và đánh cắp các biên bản của Uỷ ban. Một viên chức cao cấp khác, viên công sứ Sabachiê, đã áp dụng một chế độ thống trị chuyên quyền ghê gớm nhằm thực hiện các kế hoạch của mình, mà qua đó, các nhà giam chật ních tù nhân; không những thế, chúng đã quyết định và thi hành vô số những bản án tử hình chưa từng biết đến ở nơi đây cho tới lúc bấy giờ.

Trong lần trở về nước của lãnh tụ những người theo chủ nghĩa dân tộc Bùi Quang Chiêu, khi đó đã trở thành một kẻ thỏa hiệp nổi tiếng xấu xa, các tay súng An Nam đã bị tước vũ khí, nhưng vô số súng liên thanh lại được chuẩn bị sẵn sàng để chống lại đám đông khổng lồ đang ồ ạt kéo tới gần để chào mừng ông ta. Tại một vụ xử hai nhà báo An Nam trẻ tuổi, người ta đã huy động cả quân đội, sen đầm, dân binh, cảnh sát thành phố và mật vụ. Dân bản xứ

không được phép đặt chân tới nhiều nơi của thành phố Sài Gòn.

Chúng không còn tin vào binh lính Pháp và tất nhiên, càng ít tin hơn vào binh lính An Nam. Vì thế chúng đưa tới thuộc địa những người Xênêgan, họ bị cấm không được giao tiếp với dân bản xứ. Vì lo sợ binh lính châu Phi được đưa đến sẽ có thể liên hệ với dân châu á, nên chúng chủ trương tuyên truyền sự thù ghét và chia rẽ binh lính da đen và những người bản xứ da vàng.

Khi “đảng viên xã hội” Varen được bổ nhiệm làm toàn quyền từ Pháp đến, súng ống và đạn dược cũng thường được gửi tới. Nhiều chuyến tàu vận tải đưa những công cụ “vǎn minh” của Pháp đã sang Đông Dương.

Sự khủng bố mạnh nhất vẫn tiếp diễn ở tất cả các miền của Đông Dương, ở Nam Kỳ, Cao Miên, Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Ngày nào cũng có những cuộc bắt bớ giam cầm hàng loạt người. Bị theo dõi đặc biệt chặt chẽ là những sinh viên, mà một số họ đang tìm cách tiếp tục học tập ở nước ngoài. Bởi vì từ sau cuộc bãi khoá rộng lớn của sinh viên, trường học của các thuộc địa đã bị đóng cửa đối với họ.

ở một loạt thuộc địa Pháp, như đảo Rêuyniông nằm sát hòn đảo lớn Mađagátxca bên bờ biển phía Đông châu Phi, hay như đảo Tân Calêđôni nằm ở phía Tây châu úc, số dân đã nhanh chóng bị giảm sút vì rượu mạnh và lao dịch. Do đó, bọn thực dân không có đủ lực lượng lao động làm cho các đồn điền của chúng, và bởi thế, chúng yêu cầu chính phủ Nam Kỳ phải bảo đảm cung cấp các lực lượng lao động. Thế là người ta thường đọc được những tin tức về việc tổ chức đưa 2.000 thợ thuyền sang Tân Calêđôni, nơi đã có 62.000 dân vào nǎm 1875, và nay dân số giảm xuống còn 27.000 vì công việc “khai hoá” của Pháp.

Việc di cư của các lực lượng lao động này tất nhiên cũng là “tự nguyện” như khi vận chuyển “những người tình nguyện” từ Đông Dương sang những nơi trận mạc của châu Âu, và mới đây, sang Marốc và Xyri. Người ta hay nghe nói đến những cuộc ra đi, nhưng không bao giờ nghe nói tới ngày trở về của “những người tình nguyện” đã bị cưỡng bức bằng bạo lực mà phải đi. Hiện nay đang có khoảng 6.000 “người tình nguyện” từ Bắc Kỳ trên đảo Tân Calêđôni.

Sau hơn sáu mươi nǎm người Pháp chiếm đóng Đông Dương, nền giáo dục ở Đông Dương vẫn luôn luôn dừng lại ở trình độ vô cùng thấp kém. Các lực lượng lao động không được đào tạo để có trình độ . Thay vào đó, ở Đông Dương, lại có 2.000 nơi buôn bán rượu mạnh và thuốc phiện. Trong nǎm 1924, toàn Đông Dương có 20 triệu dân, song chỉ có 213.977 học sinh và 4.193 giáo viên bản xứ, trong khi ngay tại quần đảo Philippin bị đế quốc Hoa Kỳ áp bức với 10 triệu dân đã có 1.128.977 học sinh và 25.451 giáo viên bản xứ. ở Đông Dương, không chỉ thiếu trường học, mà trường sở hiện có cũng thật kém cỏi.

Người ta còn thấy rõ sự thối nát của thực dân Pháp qua thú nhận của tờ L’Impartial, cơ quan ngôn luận của Pháp ở Đông Dương rằng viên thống đốc Cônhắc đã phạm một loạt hành động tham nhũng. Cả người “đảng viên xã hội” Varen cũng tham gia hǎng hái vào việc tham nhũng vì chỉ một vài tháng sau khi tới Đông Dương, ông ta đã gửi về Pháp 74 hòm tặng phẩm có trọng lượng 4.910 kilô và kích cỡ là 30 mét khối.

Để bảo vệ Hà Nội, dinh luỹ của bọn Pháp bất tài và vô lương tâm, bọn cai trị Bắc Kỳ đã có tội trong việc phá vỡ đê mà không thông báo kịp thời cho dân biết, làm cho 20.000 dân chúng ở nông thôn đã bị chết đuối. Chúng cấm các báo đǎng tin về hành động dã man đó.

A.P

Tập san Inprekorr, tiếng Đức, số 17, nǎm 1927.
cpv.org.vn

Hãy nhớ đến những người bị tù đày vì chính trị của chúng ta (1-2-1927)

Bị đày sang Tân Calêđôni 1 nǎm 1913, được tha nǎm 1924, người đồng bang của chúng ta lại bị khước từ việc trả về quê hương.

Ngày 5-9-1913, sau những quả bom ở Hà Nội và Thái Bình, toà đề hình Hà Nội, trong một phiên toà xử kín, cǎn cứ vào những báo cáo của cảnh sát, quyết định kết án tử hình vắng mặt Phan Bội Châu và hoàng thân Cường Để, đưa lên máy chém khoảng chục người vô tội và đưa đi đày khoảng ba chục người khác.

Lê Ngọc Liên bị nỗi bất hạnh và được vinh dự liệt vào số sau này với lời nhận xét khó hiểu như sau: “Âm mưu chống an ninh quốc gia và đồng loã tụ tập với bọn bất lương” 2 .

Chúng ta thử tìm cách giải đáp trò đố chữ này.

Nǎm 1913, Lê Ngọc Liên với tư cách một người thợ đã “hợp tác” với Khánh Ký, một người anh em của mình. Ông Khánh Ký hiện nay là một trong những nhà nhiếp ảnh lớn nhất ở Sài Gòn và ông ta chưa bao giờ, theo tôi biết, bị tai tiếng hoặc tố cáo là bất lương. Như thế, không phải vì là một người đã hợp tác với Khánh Ký mà Lê Ngọc Liên bị kết án phát vãng.

Vậy thì vì lý do gì? – Như thế này: thời bấy giờ có một hội lớn theo chủ nghĩa dân tộc gọi là “Đông kinh nghĩa thục”. Được thành lập do những nho sĩ có danh vọng nhất ở Bắc Kỳ, trong đó có ông Cử Can, thân sinh Lương Ngọc Quyến, người anh hùng của cuộc khởi nghĩa lớn Thái Nguyên, các ông Phan Tiên Phong và Phan Trọng Kiên, anh em của Phan Vǎn Trường, trạng sư ở toà thượng thẩm Pari, hội “Đông kinh nghĩa thục” dự định truyền bá học vấn trong quảng đại quần chúng nhân dân của chúng ta. Hội mở tại Hà Nội những lớp học công khai và không lấy tiền. Lê Ngọc Liên dự những lớp ấy, kết thân với vài người bạn và mời họ về nhà uống trà, chỉ có thế.

Bỗng những vụ đánh bom xảy ra. Một sự đàn áp khốc liệt đã ập xuống những hội viên của “Đông kinh nghĩa thục”. Nhà cầm quyền bắt giam bừa bãi giáo sư, học sinh và bạn bè của họ. Khi cảnh sát xông vào nhà Lê Ngọc Liên, họ thấy người đồng hương của chúng ta đang ngủ trưa với một trong những người bạn cùng lớp. Thế là đủ lắm rồi: đấy là những người âm mưu chống an ninh quốc gia, đấy những kẻ đồng loã tụ tập với bọn bất lương!

Lê Ngọc Liên đã bị đày sang Tân Calêđôni vào tháng 9-1913 như thế đấy.

Ngày 29-12-1924, anh chính thức biết tin mình được tha. Đến thời điểm này, anh đã trải qua 11 nǎm bị đày ải. Quả thật, cũng đã đến lúc, vì những gì anh sai phạm…, người ta phải để cho anh trở về xứ sở với gia đình của mình.

Các bạn tin như thế à? – Các bạn đã nhầm. Ngay lúc đó, Lê Ngọc Liên được bọn quản lao báo cho biết là họ hoàn toàn không có trách nhiệm gì về việc hồi hương của anh và anh phải tự mình xoay sở mọi phí tổn từ Numêa 1 đến Hải Phòng.

Anh ta, một người bị đày ải, thế họ muốn anh ta trả bằng cái gì

mới được chứ? Thật là ngu xuẩn và đê tiện. Nhưng, chính quyền thực dân là như thế đấy.

Ngày 20-1-1926, Lê Ngọc Liên gửi đơn lên thống đốc Tân Calêđôni. Không được trả lời. Ngày 25-2-1926, gửi đơn lên Bộ trưởng thuộc địa. Không được trả lời. Lê Ngọc Liên nhờ Hội những người lao động Đông Dương ở Mácxây can thiệp, hội này nhờ phân hội Nhân quyền Mácxây và phân hội Mácxây lại nhờ Uỷ ban trung ương của Hội ở Pari (tháng 6-1926). Không được trả lời.

Trước sự lẩn tránh chung ấy, ở phía hữu và phía tả, người đồng hương của chúng ta sẽ buộc phải, theo người ta nói với tôi, nhờ đến Hội chữ thập đỏ quốc tế và cả Đảng Cộng sản. Như thế người ta sẽ có thêm một bằng chứng rằng chính là Chính phủ đẩy những người An Nam đến với chủ nghĩa bônsêvích mà về chủ nghĩa này, Chính phủ lại không ngừng vung vẩy một con ngoáo ộp, cố nhiên là để lừa dối hòng che lấp những việc làm bẩn thỉu của mình. Nhưng ngoại trừ Chính phủ và bọn thống đốc, phải chǎng người ta có thể tin chắc rằng những tổ chức gọi là thuộc phái tả, cụ thể ở đây là Hội nhân quyền, đã hơi quá hững hờ khi phải bảo vệ quyền của những quân khốn khổ người da màu?

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo L’Ame Annamite, ngày 1-2-1927
cpv.org.vn

Thư gửi chi bộ Đảng trường Đại hoc Phương Đông (25-6-1927)

Mátxcơva, ngày 25 tháng 6 nǎm 1927

Gửi chi bộ cộng sản Trường đại học cộng sản của nhân dân lao động phương Đông mang tên đồng chí Xtalin,

Các đồng chí thân mến,

Theo quyết định của Ban phương Đông, Ban bí thư latinh của Quốc tế Cộng sản và đại diện Đảng Cộng sản Pháp ở Ban Chấp hành, một nhóm cộng sản An Nam đã được thành lập với các đồng chí sau đây:

– Phon Shon,

– Le Man,

– Jiao,

– Min Khan,

– Lequy 1 .

Đồng chí cuối cùng được cử làm bí thư nhóm.

Vì các đồng chí đó đều là sinh viên trường các đồng chí và để cho họ có thể học cách làm việc, chúng tôi yêu cầu chi bộ đồng chí chỉ định một hay hai đồng chí chǎm lo việc giáo dục cộng sản cho nhóm đó, để đào tạo các đồng chí đó theo sinh hoạt của Đảng.

Ban bí thư latinh của Quốc tế Cộng sản G. HUMBE Đại biểu An Nam NGUYỄN ÁI QUỐC

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng
cpv.org.vn

Báo cáo gửi ban Phương Đông Quốc tế cộng sản (6-1927)

1) Từ tháng 11-1924, tôi được Ban phương Đông và Đảng Cộng sản Pháp phái đến Quảng Châu để làm việc cho Đông Dương.

Vì trong suốt thời gian ấy (1924-1927), tôi không nhận được quỹ cũng không được lương của Quốc tế Cộng sản, tôi phải làm việc dịch thuật để kiếm sống và để phụ thêm cho công tác mà nó ngốn từ 75 đến 80% tiền lương của tôi, cộng với tiền đóng góp của các đồng chí.

Mặc dù thiếu thời gian và tiền, nhờ sự giúp đỡ của các đồng chí người Nga và An Nam, chúng tôi đã có thể: 1) Đưa 75 thanh niên An Nam đến học ở Trường tuyên truyền do chúng tôi tổ chức ở Quảng Châu, 2) Xuất bản 3 tờ tuần báo nhỏ, 3) Phái những người tuyên truyền vừa mới được đào tạo về Xiêm, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Nam Kỳ, 4) Thành lập một liên đoàn cách mạng do một uỷ ban gồm 5 uỷ viên ở Quảng Châu lãnh đạo, liên đoàn đã bắt rễ khắp nơi trong tất cả các xứ Đông Dương đó.

Tuy nhiên việc đi lại của các sinh viên và tuyên truyền viên, việc tổ chức các lớp học, v.v. tốn kém nhiều tiền (cho mỗi sinh viên từ Đông Dương đến Quảng Châu và trở về, chúng tôi chi hết 200 đôla). Vả lại sự giúp đỡ tài chính của các đồng chí không đều đặn và khó nhận nên tôi không thể tiếp tục làm như vậy được. Vì thế những đồng chí người Nga ở Quảng Châu đã tán thành dự kiến đi Mátxcơva để xin tiền của tôi.

Khi đoàn Đại biểu Quốc tế Công nhân đến Quảng Châu, đồng chí Đôriô (đại diện Đảng Cộng sản Pháp), đồng chí Vôlin (đại diện những đồng chí người Nga ở Quảng Châu) và tôi, chúng tôi đã chuẩn bị và gửi Ban phương Đông một kế hoạch công tác và một dự án tài chính. Cho đến ngày 5 tháng 5, tôi không nhận được câu trả lời về vấn đề đó, cũng không nhận được chỉ thị nào khác.

2) Khi cuộc đảo chính nổ ra 1 , 3 trong 5 uỷ viên của Uỷ ban Đông Dương chúng tôi bị bắt giữ, tôi suýt bị bắt, tướng Lý Tế Thâm có quan hệ mật thiết với bọn đế quốc Pháp ở Đông Dương và ở Hạ Môn, một đồng chí người Nga duy nhất có trách nhiệm lúc đó đang ở Quảng Châu cũng không thể giúp đỡ được chúng tôi, hoặc cho một lời khuyên nào, thậm chí ngừng trả tiền cho tôi với tư cách là người phiên dịch. Không thể làm gì được, trụ sở của chúng tôi bị cảnh sát đến khám xét và giám sát. Khi đó, tôi chỉ còn cách là phải chọn gấp giữa hai con đường hoặc là để bị bắt hay tiếp tục qua Mátxcơva về công tác ở Xiêm.

3) Chính trên tàu từ Thượng Hải đến Vlađivôxtốc, đồng chí Đôriô đã gặp tôi và đề nghị trước khi đi Xiêm, hãy đến Pari đã. Đồng chí nói để đồng chí sẽ hỏi Ban Chấp hành.

ở Vlađivôxtốc, đồng chí Vôitinxki từ Trung Quốc đến sau tôi vài ngày, đã đề nghị tôi quay trở lại Thượng Hải.

Như vậy, vấn đề đặt ra với tôi là: tôi phải theo đề nghị nào chứ không thể nhận cả hai đề nghị cùng một lúc. Tôi phải đi đâu, Xiêm hay Thượng Hải ? Công tác của tôi ở nước nào cần hơn cả ? Phải chǎng chúng tôi sẽ thử tổ chức một số lính An Nam ở Thượng Hải (vả lại theo họ nói với tôi thì họ đã sẵn sàng trở về nước) và bỏ lại tất cả công việc đã được bắt đầu ở Đông Dương ?

Vấn đề đó do các đồng chí quyết định. Tôi chỉ được phép nói quan điểm của tôi như sau:

Dù rằng về bản thân và về mặt vật chất thì đối với tôi, tôi ở Thượng Hải sẽ tốt hơn nhiều, nhưng tôi muốn đi Xiêm hơn. a) Vì công tác trong binh lính An Nam ở Thượng Hải chắc chắn là rất

hay, song công việc hoặc nói cho đúng hơn là sự tiếp tục công việc ở Đông Dương – dù kết quả còn xa xôi và ít nhưng lại quan trọng hơn. b) Vì ở Thượng Hải chứ không phải ở Xiêm, nhiều đồng chí khác có thể thay tôi. c) Vì những tin tức về cuộc phản biến Trung Quốc do đế quốc Pháp truyền lan đang gieo rắc sự nhụt chí trong người An Nam và trong lúc này, nếu chúng ta để công tác không liên tục thì tất cả những gì chúng ta đã làm trong 3 nǎm qua sẽ mất hết và chúng ta sẽ rất khó làm lại từ đầu vì tâm trạng những người An Nam đã nhiều lần thất vọng.

Vì thế, tôi tiếp tục đi Mátxcơva để trình bày yêu cầu của tôi.

4) Yêu cầu của tôi : Ngay bây giờ tôi không thể lập một dự trù ngân sách chi tiết cho công tác của tôi ở Đông Dương (đi qua Xiêm). Vì vậy, tôi chỉ có thể lập dự trù theo cách áng chừng với những con số phù hợp với hoàn cảnh. Biết sự khó khǎn về liên lạc từ Đông Dương đi Mátxcơva, và định thời gian cư trú ở thuộc địa này khoảng chừng 2 nǎm, tôi trình bày với các đồng chí một yêu cầu về ngân sách tính theo Mỹ kim như sau:

Lương tháng 150 đôla trong 2 nǎm
(cho tôi và những người giúp việc) 3.600 $

Quỹ để công tác trong 2 nǎm
(mỗi tháng 200 đôla) 4.800 $

Tiền chi bất thường 1.100 $

Tổng cộng 9.500 $

Tất nhiên, ở đây tiền lương chỉ là tượng trưng vì ngoài phần trợ giúp tối cần thiết cho chúng tôi, phần còn lại sẽ chuyển sang quỹ công tác. Và nếu các đồng chí vui lòng chấp thuận thì ngân sách này chỉ được thực hiện từ ngày tôi đến Bǎng Cốc.

Trong khi chờ đợi quyết định của các đồng chí, xin các đồng chí vui lòng: 1) đưa tôi vào bệnh viện, 2) khi tôi ra bệnh viện cho phép tôi được học vài kinh nghiệm cần thiết cho công tác của tôi 3) và cho tôi lên đường càng sớm càng tốt.

Gửi các đồng chí lời chào cộng sản.

Mátxcơva tháng 6-1927

1) Cấu tạo của một phân ban

2) Việc gửi các sinh viên

3) Chương trình nghiên cứu và tư liệu 1 .

Tài liệu đánh máy, tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Người chụp bức ảnh lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập

Sáng tháng 8 trải nắng vàng, tôi đến thăm ông Nguyễn Dung ở 18 Nam Ngư để hưởng cái thú ngắm lại bức ảnh lịch sử “Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập trên Lễ đài Ba Đình” được phóng thành khổ lớn, lồng khung kính, treo trên tường.

Bac Ho trong nhung ngay thang 8 lịch su

Đây là tấm ảnh kỷ niệm không thể quên của đời ông và bạn bè, những thanh niên Hà Nội trẻ măng trước Tổng khởi nghĩa là đội viên Đội Thanh niên xung phong thành Hoàng Diệu (tên Hà Nội thời ấy) và ngày 19 tháng 8 là lực lượng xung kích cùng làn sóng nhân dân đánh chiếm Phủ Khâm Sai, Trại Bảo an binh, Sở Liêm phóng, nhà tù Hỏa Lò, Nhà Tiền… từ tay phát xít Nhật và chính quyền bù nhìn, sau đó tham gia lực lượng Công an nhân dân.

Ngày Độc lập 2-9-1945, theo lệnh của trên, ông dẫn chừng hai chục trinh sát đi bảo vệ Lễ đài Ba Đình. Già nửa thế kỷ trôi qua, thấm thoắt, ông Dung đã ở tuổi 82, mái tóc bạc trắng, đi lại khó khăn, phải chống batoong. Không ngờ, ba năm sau ông đã vội ra đi.

Nhìn bức ảnh đẹp, rõ đến từng chi tiết của ông bạn thân tặng, tôi càng thấy cái tài của GS, KTS Ngô Huy Quỳnh với thời gian cho phép chỉ có 15 giờ đồng hồ đã nghĩ cách thiết kế và thi công lễ đài bằng gỗ, trang trí bằng vải để tạo dáng kiến trúc và màu sắc cho nhanh. Lễ đài mang hình bệ cột cờ thành Thăng Long xưa, bốn mặt hình thang, phần lớn diện tích từ dưới lên phủ vải đỏ xếp thành từng nếp, giữa có ngôi sao vàng lớn, phần trên phủ vải vàng, nổi lên những đường võng bằng lụa đỏ. Hai bên lễ đài thiết kế hai bệ lớn bằng gỗ phủ vải đỏ, giữa có sao vàng, trên đặt lư hương lớn bằng gỗ hình chữ nhật, trong có đỉnh đồng đốt trầm hương do phụ lão ngoại thành phụ trách. Nhìn toàn cảnh, lễ đài nổi bật lên, giản dị mà trang nghiêm, giữa một vườn hoa rộng mênh mông, đằng sau có hàng cây cổ thụ làm nền.

Trên Lễ đài có cột cờ ở chính giữa, các vị trong Chính phủ lâm thời đứng xung quanh. Ở giữa hàng đầu, dưới nắng thu vàng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ở tuổi 55, đầu trần, mặc lễ phục kaki, đang đọc Tuyên ngôn độc lập trước máy phóng thanh, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Nhớ lại trước đó vài năm, ông Dung còn cho tôi xem bức ảnh thứ hai có thêm một số chi tiết mà bức ảnh trên không có. Bức ảnh đặc tả đội danh dự bảo vệ Lễ đài gồm khoảng một đại đội dàn thành ba lớp theo hai bậc thềm hình tròn, đứng nghiêm trang, nhìn ra phía trước, tay áp vào khẩu súng lục đeo bên người ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đây Nguyễn Dung, đội mũ phớt nâu, sơ mi trắng cộc tay, quần soóc trắng, bít tất trắng dài, giày hai màu là học sinh trường Thăng Long. Đứng đằng sau là Nguyễn Xuân Nho mặc soóc, sơ mi ngắn tay, đội mũ cát, học sinh Trường Bưởi, Lê Văn Thủy mặc quần dài xuất thân làm thợ nhà in. Cả ba đều là người Hà Nội. Đây nữa, Nguyễn Lung, Nguyễn Cao mặc đồ sơ mi cổ cồn, quần dài trắng, tóc chải sáp bóng mượt. Nhiều người khác mặc quân phục lấy ở khu quân nhu của Bảo an binh. Người nào cũng đeo bên sườn một khẩu súng ngắn đều là chiến lợi phẩm.

Ông Dung nhắc lại phút lịch sử. Đoàn xe ô tô chở Bác Hồ và các vị trong Chính phủ lâm thời rời Bắc bộ phủ, có các chiến sỹ bảo vệ mặc soóc, áo cộc tay, đội mũ cát, đi xe đạp hộ tống hai bên. Đoàn xe qua Tràng Tiền, Hàng Khay, Tràng Thi, Cửa Nam, Điện Biên Phủ, lên vườn hoa Ba Đình. Quá 14h, đoàn xe tiến vào phía sau Lễ đài. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời bước theo cầu thang lên Lễ đài, trong tiếng reo mừng như sấm dậy. Cuộc mít tinh bắt đầu. Đội quân nhạc cử hành trọng thể hành khúc “Tiến quân ca” của Văn Cao. Trước máy phóng thanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, cả biển người im lặng nghe giọng đọc thấy sự xúc động của Người. Giữa chừng, Bác ngừng lại hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Cả biển người đồng thanh đáp: “Có…ó…ó”. Sau buổi lễ, đồng bào đi diễu hành ở các đường phố, tắm mình trong không khí độc lập, tự do, từ đây thực sự đổi đời.

Nhìn hai tấm ảnh của ông Dung, tôi nhớ tới phóng viên, nghệ sỹ nhiếp ảnh Nguyễn Bá Khoản, người Thường Tín, Hà Nội, mất cách đây 19 năm ở tuổi 76 (1917-1993). Xưa kia, ông là phóng viên nhiếp ảnh các báo Tin tức, Lao động, Cứu quốc… Ông được đi nhiều, có lần đi du lịch vòng quanh Đông Dương bằng xe đạp. Cuốn nhật ký bằng ảnh đã ghi lại chuyến đi đó. Nhớ năm 1990, tôi đến thăm nhà ông ở Hai Bà Trưng. Tới nhà mới thấy nhà ông nghèo nhưng giàu sản phẩm tinh thần. Trên mặt bàn bừa bộn những ảnh, sổ ghi cảm tưởng ở các triển lãm ảnh, những số báo, những bản chụp bài viết về ông. Mấy thập kỷ nay, người ta viết về ông đã nhiều, sử dụng ảnh của ông cũng không ít. Nguyễn Bá Khoản là nghệ sỹ nhiếp ảnh nổi tiếng.

Hôm ấy, tôi hỏi ông về chụp bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, ông vẫn nhớ như in. Chiều 2/9/1945, nghe Tổng biên tập Báo Cứu quốc là đồng chí Xuân Thủy dặn dò xong, ông xách chiếc máy ảnh cũ lên vườn hoa Ba Đình vào trước giờ khai mạc. Sau Lễ chào cờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập trước một biển người, một rừng cờ đỏ sao vàng. Ông Khoản chọn chỗ đứng, xoay các góc độ, lựa ánh sáng – hồi ấy chưa có ống kính tê-lê và ghi được hình ảnh vị Chủ tịch nước đầu tiên giữa khung cảnh hùng tráng một ngày lịch sử trọng đại của dân tộc. Bình tĩnh, tự tin, ông bấm liền mấy kiểu với những tốc độ khác nhau. Ngoài bức ảnh lịch sử ấy, ông còn bấm được nhiều kiểu khác như đội danh dự bảo vệ lễ đài, các đoàn thể… Chiều hôm ấy, phim được tráng ngay, ảnh được in thành nhiều bức. Bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập là bức đẹp nhất, đánh dấu nửa đời người cầm máy ảnh của ông. Năm sau, đúng ngày 19-8-1946, bức ảnh lịch sử được phóng to và trưng bày lần đầu tại Nhà triển lãm Tràng Tiền, trước sự ngưỡng mộ của đồng bào Thủ đô và cả nước.

Ít ai biết trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông Khoản đã giữ gìn, bảo quản những phim ảnh chụp được từ già nửa thế kỷ trước rất cẩn thận bằng lối thủ công. Trở về Hà Nội sau ngày giải phóng, năm 1990 ông gửi tặng Trung tâm lưu trữ Quốc gia toàn bộ 2.000 tác phẩm, một tài sản quý của một đời phóng viên nhiếp ảnh.

Từ năm 1991, được sự giúp đỡ của Hội Nghệ sỹ nhiếp ảnh Việt Nam và Hà Nội, Thông tấn xã Việt Nam, ông đã ba lần triển lãm ảnh của mình – trong đó có triển lãm ảnh lịch sử – được nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười và đông đảo nhân dân tới xem. Tháng 7 năm 1996, tin vui lớn ập đến. Nguyễn Bá Khoản được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về những bức ảnh chụp Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng, kháng chiến. Tuy đã đi xa nhưng những tác phẩm của ông còn mãi với thời gian.

Theo Thọ Cao/Báo An ninh Thủ đô
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Những kỷ niệm thiêng liêng ngày Độc lập

Lễ đài nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945

(VOV) – 66 năm qua với biết bao “vật đổi sao rời”, nhưng những kỷ niệm sâu sắc về ngày 2/9/1945 mãi mãi ghi đậm trong khối óc và trái tim của những người lính… Thời khắc lịch sử ngày 2/9/1945 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cách nay đã 66 năm. Những người chiến sỹ trẻ nhiệt huyết, hăng hái xung phong, tích cực tham gia vào các hoạt động cách mạng ở Hà Nội năm xưa, nay đã trở thành những người lính già đầu bạc, mắt mờ và đi lại cũng khó khăn. Những người còn lại còn rất ít, có thể đếm trên đầu ngón tay.

Trong câu chuyện với chúng tôi về ngày độc lập đầu tiên ấy, mỗi người lính già đều không giấu nổi niềm tự hào. Có thể thấy ở họ vẫn toát lên tinh thần sục sôi cách mạng, ý chí chiến đấu để thoát khỏi ách áp bức nô lệ mà khi đó, họ đã là những nhân chứng sống, nhân chứng lịch sử của ngày tháng hào hùng không thể nào quên…

Tiếng Bác Hồ rung động mãi trong tim…

Tiếp chúng tôi trong căn phòng rộng hơn 20m2 nằm sâu trong ngõ Vĩnh Tuy, Hà Nội, ông Phạm Thế Cường (tức Phạm Đình Cảnh – tên gọi lúc tham gia hoạt động cách mạng) năm nay đã ngoài 80 tuổi. Tuổi cao khiến việc đi lại của ông Cường trở nên khó khăn, nhưng trí nhớ thì vẫn còn minh mẫn.

Ông bảo, những đồng đội cũ cùng lứa tuổi với ông giờ đã ra đi gần hết, những người còn sống sức khỏe đã yếu, vài người có bệnh tai biến, phải sống cuộc sống thực vật. Rồi cũng có người vừa mới hôm qua còn gọi điện cho ông hẹn hò tham dự buổi hòa nhạc “Còn mãi với thời gian” vào ngày 2/9 tới, giấy mời còn chưa đến tay thì đã ra đi mất rồi…

Đột nhiên ông hạ giọng nói: “Thời gian đối với tôi vô cùng quý giá, nó có thể tính bằng giây, bằng phút. Hôm nay tôi còn có thể nói chuyện được với anh chị, nhưng không biết ngày mai có còn không?”… Ngừng một lát, ông bồi hồi kể lại hồi ức về quãng đời hoạt động của mình cách đây 66 năm…

“Tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, bố mẹ mất sớm phải ở với chị họ. Năm 16 tuổi, tôi tham gia hoạt động trong Đội tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu. Đây là một đơn vị bộ đội địa phương do Xứ ủy và Thành ủy trực tiếp chỉ đạo, mang danh nghĩa như một đoàn thể quần chúng có vũ trang. Thành viên của đội đều là những đoàn viên đã được rèn luyện và thử thách của đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh.

Lúc đầu, đội được sử dụng để bảo vệ các cơ quan lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Mặt trận Việt Minh ở cấp Trung ương, Xứ ủ­­­­­y Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội, bảo vệ Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo cấp cao khác. Đội tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu được giao cử 2 đơn vị (Đơn vị Tô Hiệu và Trần Quốc Toản) đến Quảng trường Ba Đình dự lễ Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945.

Đơn vị Tô Hiệu của ông Cường có vinh dự đặc biệt là đứng ngay ở hàng đầu sát lễ đài, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, như một hàng rào danh dự, trực tiếp bảo vệ lễ đài. Tất cả anh em đều rất xúc động một phần vị sự tin cậy của Đảng, một phần vì lòng náo nức được tận mắt nhìn thấy Bác Hồ kính yêu, người lãnh tụ tối cao của dân tộc Việt Nam. Mọi người rất phấn khởi. Anh em số đông là thanh niên trẻ, sôi nổi”.

Ông Cường nhớ lại, ngày 2/9 cách đây 66 năm: “Hôm ấy, tham dự mít tinh gồm đủ mọi thành phần, mọi tầng lớp xã hội: công nhân, dân quân, thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, các cụ phụ lão, các nhà sư…

Ánh mắt ông Cường rực sáng lên khi nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam: “Ngày hôm đó trời nắng, oi bức, Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện trong trang phục giản dị, áo ka ki cao cổ, chân đi dép cao su trắng. Cả biển người im phăng phắc lắng nghe Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Lời Người điềm đạm, nhưng cương quyết, từng lời nói đi vào tâm khảm người nghe, tràn đầy tình cảm sâu sắc và ý chí kiên quyết”.

Có lẽ với ông Cường, tiếng hô “Xin thề!” của hàng vạn chiến sỹ đồng bào và câu hỏi chân tình “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” của Bác Hồ trong giờ phút thiêng liêng ấy là điều mãi mãi không thể nào quên. Ông Cường chia sẻ: “Có nhiều người dân vừa khóc vừa hô “Xin thề!” và tôi hiểu rằng, những người như chúng tôi, từ thân phận đói nghèo, nô lệ, nay trở thành người dân của nước Việt Nam độc lập. Đấy là niềm hạnh phúc vô cùng lớn lao mà chỉ những ai đã trải qua mới thấu hiểu”.

“Đó là những ngày tháng gian khổ, hào hùng nhưng cũng hạnh phúc nhất cuộc đời tôi. Những tư tưởng mới trong bản Tuyên ngôn độc lập đã thấm sâu trong tâm trí chúng tôi. Chúng tôi đã thấy giá trị của độc lập, thấy trách nhiệm thiêng liêng phải bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nền độc lập mới giành được…” – Ông Cường nói trong xúc động.

Dòng ký ức hùng tráng làm ông Cường như quên đi thực tại, một hồi lâu ông mới kể tiếp, sau ngày 2/9/1945, ông Cường tiếp tục tham gia tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu. Năm 1986, ông về nghỉ hưu và được phong hàm Đại tá.

Trải qua 41 năm trong quân ngũ, dù có nhiều khó khăn, nhưng niềm tự hào nhất của ông là được chiến đấu cho đến ngày giành độc lập 30/4/1975. Ông Cường có 4 người con, trong đó có người trai đầu đã hy sinh vì Tổ quốc. Và cha ông cũng là liệt sỹ.

Tất cả như vừa mới hôm qua…

Rời nhà ông Cường, chúng tôi tìm gặp bà Lê Thị Thanh, nguyên là Hiệu phó trường Cao đẳng sư phạm mẫu giáo Trung ương. Trong những ngày mùa thu cách mạng năm 1945, bà Thanh tham gia Hội Phụ nữ cứu quốc, rồi trở thành nữ chiến sỹ của Trung đoàn Thủ đô có mặt trong 60 ngày đêm chiến đấu quyết tử bảo vệ Hà Nội.

Cũng giống như ông Cường, bà Thanh hồ hởi khi kể về kỷ niệm của một thời oanh liệt: “Là học sinh yêu nước trường Trung học Nguyễn Huệ – Hà Nội, tôi sớm được giác ngộ cách mạng. Năm 16 tuổi, tôi được phân công làm tình báo, liên lạc viên và đi rải truyền đơn ở nhiều nơi. Có lần, trong khi làm nhiệm vụ, tôi phải đi qua những ngôi mộ của các đồng đội đã hy sinh, tôi sợ lắm! Nhưng, tôi tự trấn an tinh thần bằng cách nghĩ về họ lúc còn sống và khe khẽ cất tiếng hát. Sau đó một thời gian, trong một đợt địch càn quét, tôi đã dũng cảm bắn chết 1 tên giặc Pháp và được tham gia các buổi mít tinh ở Làng Cót, Hà Nội”.

Trong cuộc đời mình, có lẽ giây phút được tham gia và chứng kiến không khí của ngày chiến thắng, ngày độc lập 2/9 cách đây 66 năm là điều hạnh phúc và cảm giác khó tả đối với không chỉ riêng bà Thanh mà với nhiều người. Cảm xúc đó còn lưu lại mãi cho đến tận bây giờ.

Bà Thanh hồi tưởng: “Tôi nhớ ngày 2/9/1945, lúc đó quần chúng đi lại rất đông ở các khu phố của Hà Nội, các cửa hàng cửa hiệu phần lớn là đóng cửa và treo cờ hoa mừng ngày độc lập. Những đoàn người rầm rập kéo về Quảng trường Ba Đình: Phụ nữ nội thành mặc áo dài trắng, phụ nữ ngoại thành áo nâu quần đen, chít khăn mỏ quạ. Thanh niên áo sơ mi cộc tay, quần soóc, công nhân quần áo xanh, các đoàn tu sĩ thiên chúa giáo áo đen, các em thiếu nhi áo trắng, quần soóc xanh”.

“Buổi sáng 2/9, tôi cùng các chị em trong đoàn phụ nữ cứu quốc đến từng gia đình vận động họ tham gia cuộc mít tinh vào buổi chiều cùng ngày. Đến 14h, đoàn phụ nữ cứu quốc tiến về Quảng trường Ba Đình rực rỡ cờ hoa với những tiếng hô vang khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Việt Minh!”, “Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh!”. Đoàn phụ nữ cứu quốc của chúng tôi được đứng vị trí đầu tiên. Khoảng 14h30, bà Dương Thị Thoa (tức Lê Thi) trong đoàn được Ban Tổ chức cử lên kéo cờ độc lập cùng với bà Đàm Thị Loan”.

Cả biển người bỗng im phăng phắc để lắng nghe Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Lần đầu tiên được nhìn thấy Người, tôi đã nhận thấy ở Người sự giản dị và gần gũi” – Bà Thanh hào hứng kể.

Câu chuyện của bà Thanh kể về ngày độc lập như vừa mới đây thôi. 66 năm trôi qua, nay bà Thanh đã bước sang tuổi 81 nhưng tinh thần vẫn vô cùng minh mẫn. Bà phục vụ trong quân ngũ đến khi 53 tuổi mới chuyển sang ngành giáo dục và làm Hiệu phó của trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo Trung ương cho tới khi nghỉ hưu. Giờ đây, cứ mỗi dịp tháng 8 hàng năm, bà và các đồng đội cũ lại gặp nhau, ôn lại kỷ niệm xưa. Thi thoảng, ngày độc lập đầu tiên ấy, bà và đồng đội ôn lại như để tiếp thêm ý chí, nghị lực cho thế hệ con cháu…

Câu chuyện của những người lính đã đi qua ngày tháng hào hùng như ông Phạm Thế Cường, bà Lê Thị Thanh cùng biết bao người chiến sỹ khác về ngày 2/9/1945 sẽ không chỉ là dòng sự kiện trong trang sử vàng vẻ vang của dân tộc. Ký ức Cách mạng mùa thu tháng Tám cùng hình ảnh Bác Hồ trong ngày độc lập đầu tiên ấy, chắc hẳn sẽ còn đọng mãi trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Đó như một bài học truyền thống, soi rọi cho các thế hệ sau tiếp nối truyền thống của cha anh trên con đường cách mạng, sống, chiến đấu, lao động, học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Theo vov.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Mùa thu Cách mạng và sự ra đời của một bài hát

Năm 1975 đã kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Trong khi người Việt Nam hân hoan với thắng lợi vừa giành được, thì ở bên kia bờ đại dương có những người Mỹ đang cố gắng trả lời câu hỏi là tại sao Mỹ thua Việt Nam. Năm 1980, Archimesdes L.A. Patti đã xuất bản cuốn sách “Why Việt Nam” (Tại sao Việt Nam) để góp phần trả lời câu hỏi đó. Tiến sĩ Trần Viết Nghĩa (Khoa Lịch sử, ĐHQG Hà Nội) tóm lược cảm nghĩ của sĩ quan tình báo Mỹ về ngày lễ độc lập trong cuốn sách này.

Patti nguyên là một sĩ quan tình báo OSS ở Trung Quốc trong Thế chiến hai. Trong năm 1945, Patti từng gặp gỡ Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số nhà lãnh đạo cao cấp khác của Việt Nam, và là một trong số rất ít người Mỹ đã tham dự buổi lễ độc lập của Việt Nam tại Quảng trường Ba Đình.

Ngày 22.8.1945, Patti đáp máy bay từ Côn Minh đi Hà Nội để giải quyết vấn đề tù binh ngoại quốc ở Đông Dương. Trên đường từ sân bay Gia Lâm về Hà Nội, Patti thấy có nhiều biểu ngữ và lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh tràn ngập phố xá. Hà Nội thanh bình sau ngày Việt Minh giành được chính quyền.

Trưa 29.8.1945, Hồ Chủ tịch cho xe đón Patti đến phố Hàng Ngang gặp Người. Người thông báo cho Patti về phiên họp đầu tiên của Chính phủ mới ở Bắc Bộ phủ, quyết định lấy ngày mùng 2 tháng 9 là ngày độc lập. Người sẽ công bố nền độc lập dân tộc, ra mắt các thành viên Chính phủ với nhân dân và chương trình hành động của Chính phủ cho mọi người đều biết.

Điều đặc biệt là Patti được Hồ Chủ tịch cho xem bản thảo Tuyên ngôn độc lập. Patti rất ngạc nhiên khi trong mấy câu đầu nhắc đến một số danh từ rất quen thuộc và giống với Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776. Patti hỏi Người có ý định sử dụng câu đó không. Người cười nhã nhặn và hỏi lại Patti một cách dịu dàng: “Tôi không thể dùng được câu ấy à?”. Patti cảm thấy ngượng ngập và lúng túng khi trả lời: “Tất nhiên, tại sao không”.

Sau khi yêu cầu người phiên dịch đọc lại đoạn đầu một lần nữa, Patti nhớ lại thì thấy các danh từ đã được chuyển vị và nhận xét các chữ “tự do” và “quyền sống” đã bị thay đổi. Người liền nói: “Đúng, không thể có tự do mà không có quyền sống, cũng như không thể có hạnh phúc mà không có tự do”.

Sáng ngày thứ bảy – mùng 1 tháng 9, Patti đi một vòng quanh Hà Nội và nhận thấy: “Ai cũng bận rộn, hớn hở và vội vàng, nhưng không ai tỏ ra hấp tấp. Trước cửa nhà, trên ban công, ngoài cổng ra vào đầy các loại cờ đỏ, hoa, đèn. Nhiều toán người hăm hở giăng lên ngang trên đường phố, những khẩu hiệu hô hào “Độc lập và tự do cho Việt Nam”, và hoan nghênh Đồng Minh”. Chiều cùng ngày, Patti được Hồ Chủ tịch mời đến ăn cơm. Hồ Chủ tịch mở đầu câu chuyện bằng việc Patti đi thăm phố phường Hà Nội có thỏa mãn về những điều được nghe và thấy không. Patti trả lời rằng ông ấn tượng mạnh mẽ đối với công tác chuẩn bị buổi lễ và sự cởi mở của những người dân mà ông đã bắt chuyện.

Ông Hoàng Minh Giám phấn khởi thông báo cho Patti biết dân chúng đã tự bỏ tiền ra để sửa sang, làm sạch và trang trí thành phố phục vụ ngày lễ. Patti hỏi trong ngày lễ độc lập có diễu binh không. Ông Võ Nguyên Giáp trả lời cũng muốn có một số đội diễu binh, nhưng bộ đội vừa mới ở rừng về nên không có đủ thời gian diễn tập, vì vậy những đơn vị chỉ sắp hàng đứng tại chỗ. Sau bữa cơm thân mật, Hồ Chủ tịch mời Patti uống cà phê. Người ôn lại những sự cộng tác của Người với người Mỹ tại Trung Quốc và rừng núi Bắc Kỳ, bày tỏ mong muốn người Mỹ ủng hộ nền độc lập của nước Việt Nam.

Đến buổi trưa, nhóm của Patti đi đến Quảng trường Ba Đình. Nhóm chọn một địa điểm thuận lợi ngay trước lễ đài. Đội danh dự trong trang phục mũ bấc, đồng phục kaki, quần soóc, tất cao và vũ khí mới. Đây là lực lượng được huấn luyện, trang bị và có kỷ luật nhất. Ngoài ra, còn có các đội dân quân, tự vệ với nhiều loại vũ khí khác nhau.

Patti cảm thấy không khí oi bức, nhưng đôi lúc có vài cơn gió nhẹ làm phấp phới cả biển cờ trên quảng trường. Bất chợt, có tiếng còi và hiệu lệnh quân sự phát ra từ các đội hình. Đội danh dự và các đơn vị bộ đội đứng thẳng. Mấy phút sau nổi lên tiếng hô “Bồng súng chào”. Trên lễ đài, mọi người đều mặc đồ trắng, thắt cavát và đầu để trần, trừ Hồ Chủ tịch mặc đồ kaki màu sẫm.

Sau khi nghe Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập, Patti khó nắm bắt được nội dung của Tuyên ngôn, dù đã có người phiên dịch, nhưng cảm nhận được “cứ nghe giọng nói của ông Hồ, bình tĩnh và rõ ràng, ấm cúng và thân mật, và nghe thấy được quần chúng trả lời thì chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa là ông đã thấu tới tận quần chúng”.

Sau ngày độc lập, Patti còn ở lại Việt Nam thêm một thời gian nữa, chứng kiến thêm nhiều khó khăn mới của nước Việt Nam, được tiếp kiến thêm với Hồ Chủ tịch và một số nhà lãnh đạo khác của Việt Nam. Trước khi về Mỹ, Patti được Hồ Chủ tịch mời dự tiệc chia tay.

Trong buổi chia tay, ông Võ Nguyên Giáp đã đánh giá cao sự giúp đỡ của “Người Mỹ ở Côn Minh” – trong đó có Patti – đối với Việt Nam trước khởi nghĩa. Ông chúc Patti lên đường may mắn và tỏ ý mong rằng Việt Nam sẽ sớm có một người bạn ở Washington. Điều này làm cho Patti ngạc nhiên và xúc động, vì trước đó ông Giáp không bao giờ để lộ ra bất cứ một tình cảm nào đối với Mỹ và cá nhân Patti. Hồ Chủ tịch chia sẻ với Patti sự thất vọng khi Mỹ từ chống thực dân lại đang trang bị và tiếp tế cho quân Pháp tái xâm lược Đông Dương. Người nói với Patti: “Điều đó, họ sẽ phải trả bằng một giá đắt”./.

Theo TS Trần Viết Nghĩa
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Cảm nhận của một người Mỹ về ngày lễ độc lập của Việt Nam

Năm 1975 đã kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Trong khi người Việt Nam hân hoan với thắng lợi vừa giành được, thì ở bên kia bờ đại dương có những người Mỹ đang cố gắng trả lời câu hỏi là tại sao Mỹ thua Việt Nam. Năm 1980, Archimesdes L.A. Patti đã xuất bản cuốn sách “Why Việt Nam” (Tại sao Việt Nam) để góp phần trả lời câu hỏi đó. Tiến sĩ Trần Viết Nghĩa (Khoa Lịch sử, ĐHQG Hà Nội) tóm lược cảm nghĩ của sĩ quan tình báo Mỹ về ngày lễ độc lập trong cuốn sách này.

Patti nguyên là một sĩ quan tình báo OSS ở Trung Quốc trong Thế chiến hai. Trong năm 1945, Patti từng gặp gỡ Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số nhà lãnh đạo cao cấp khác của Việt Nam, và là một trong số rất ít người Mỹ đã tham dự buổi lễ độc lập của Việt Nam tại Quảng trường Ba Đình.

Ngày 22.8.1945, Patti đáp máy bay từ Côn Minh đi Hà Nội để giải quyết vấn đề tù binh ngoại quốc ở Đông Dương. Trên đường từ sân bay Gia Lâm về Hà Nội, Patti thấy có nhiều biểu ngữ và lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh tràn ngập phố xá. Hà Nội thanh bình sau ngày Việt Minh giành được chính quyền.

Trưa 29.8.1945, Hồ Chủ tịch cho xe đón Patti đến phố Hàng Ngang gặp Người. Người thông báo cho Patti về phiên họp đầu tiên của Chính phủ mới ở Bắc Bộ phủ, quyết định lấy ngày mùng 2 tháng 9 là ngày độc lập. Người sẽ công bố nền độc lập dân tộc, ra mắt các thành viên Chính phủ với nhân dân và chương trình hành động của Chính phủ cho mọi người đều biết.

Điều đặc biệt là Patti được Hồ Chủ tịch cho xem bản thảo Tuyên ngôn độc lập. Patti rất ngạc nhiên khi trong mấy câu đầu nhắc đến một số danh từ rất quen thuộc và giống với Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776. Patti hỏi Người có ý định sử dụng câu đó không. Người cười nhã nhặn và hỏi lại Patti một cách dịu dàng: “Tôi không thể dùng được câu ấy à?”. Patti cảm thấy ngượng ngập và lúng túng khi trả lời: “Tất nhiên, tại sao không”.

Sau khi yêu cầu người phiên dịch đọc lại đoạn đầu một lần nữa, Patti nhớ lại thì thấy các danh từ đã được chuyển vị và nhận xét các chữ “tự do” và “quyền sống” đã bị thay đổi. Người liền nói: “Đúng, không thể có tự do mà không có quyền sống, cũng như không thể có hạnh phúc mà không có tự do”.

Sáng ngày thứ bảy – mùng 1 tháng 9, Patti đi một vòng quanh Hà Nội và nhận thấy: “Ai cũng bận rộn, hớn hở và vội vàng, nhưng không ai tỏ ra hấp tấp. Trước cửa nhà, trên ban công, ngoài cổng ra vào đầy các loại cờ đỏ, hoa, đèn. Nhiều toán người hăm hở giăng lên ngang trên đường phố, những khẩu hiệu hô hào “Độc lập và tự do cho Việt Nam”, và hoan nghênh Đồng Minh”. Chiều cùng ngày, Patti được Hồ Chủ tịch mời đến ăn cơm. Hồ Chủ tịch mở đầu câu chuyện bằng việc Patti đi thăm phố phường Hà Nội có thỏa mãn về những điều được nghe và thấy không. Patti trả lời rằng ông ấn tượng mạnh mẽ đối với công tác chuẩn bị buổi lễ và sự cởi mở của những người dân mà ông đã bắt chuyện.

Ông Hoàng Minh Giám phấn khởi thông báo cho Patti biết dân chúng đã tự bỏ tiền ra để sửa sang, làm sạch và trang trí thành phố phục vụ ngày lễ. Patti hỏi trong ngày lễ độc lập có diễu binh không. Ông Võ Nguyên Giáp trả lời cũng muốn có một số đội diễu binh, nhưng bộ đội vừa mới ở rừng về nên không có đủ thời gian diễn tập, vì vậy những đơn vị chỉ sắp hàng đứng tại chỗ. Sau bữa cơm thân mật, Hồ Chủ tịch mời Patti uống cà phê. Người ôn lại những sự cộng tác của Người với người Mỹ tại Trung Quốc và rừng núi Bắc Kỳ, bày tỏ mong muốn người Mỹ ủng hộ nền độc lập của nước Việt Nam.

Đến buổi trưa, nhóm của Patti đi đến Quảng trường Ba Đình. Nhóm chọn một địa điểm thuận lợi ngay trước lễ đài. Đội danh dự trong trang phục mũ bấc, đồng phục kaki, quần soóc, tất cao và vũ khí mới. Đây là lực lượng được huấn luyện, trang bị và có kỷ luật nhất. Ngoài ra, còn có các đội dân quân, tự vệ với nhiều loại vũ khí khác nhau.

Patti cảm thấy không khí oi bức, nhưng đôi lúc có vài cơn gió nhẹ làm phấp phới cả biển cờ trên quảng trường. Bất chợt, có tiếng còi và hiệu lệnh quân sự phát ra từ các đội hình. Đội danh dự và các đơn vị bộ đội đứng thẳng. Mấy phút sau nổi lên tiếng hô “Bồng súng chào”. Trên lễ đài, mọi người đều mặc đồ trắng, thắt cavát và đầu để trần, trừ Hồ Chủ tịch mặc đồ kaki màu sẫm.

Sau khi nghe Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập, Patti khó nắm bắt được nội dung của Tuyên ngôn, dù đã có người phiên dịch, nhưng cảm nhận được “cứ nghe giọng nói của ông Hồ, bình tĩnh và rõ ràng, ấm cúng và thân mật, và nghe thấy được quần chúng trả lời thì chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa là ông đã thấu tới tận quần chúng”.

Sau ngày độc lập, Patti còn ở lại Việt Nam thêm một thời gian nữa, chứng kiến thêm nhiều khó khăn mới của nước Việt Nam, được tiếp kiến thêm với Hồ Chủ tịch và một số nhà lãnh đạo khác của Việt Nam. Trước khi về Mỹ, Patti được Hồ Chủ tịch mời dự tiệc chia tay.

Trong buổi chia tay, ông Võ Nguyên Giáp đã đánh giá cao sự giúp đỡ của “Người Mỹ ở Côn Minh” – trong đó có Patti – đối với Việt Nam trước khởi nghĩa. Ông chúc Patti lên đường may mắn và tỏ ý mong rằng Việt Nam sẽ sớm có một người bạn ở Washington. Điều này làm cho Patti ngạc nhiên và xúc động, vì trước đó ông Giáp không bao giờ để lộ ra bất cứ một tình cảm nào đối với Mỹ và cá nhân Patti. Hồ Chủ tịch chia sẻ với Patti sự thất vọng khi Mỹ từ chống thực dân lại đang trang bị và tiếp tế cho quân Pháp tái xâm lược Đông Dương. Người nói với Patti: “Điều đó, họ sẽ phải trả bằng một giá đắt”./.

Theo TS Trần Viết Nghĩa
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Thư gửi PH.Bi-u (8 – 1927)

Đồng chí thân mến,

Nhờ đồng chí nói với nữ đồng chí thay chị Mácgô rằng, nếu tôi có thư từ gì xin gửi theo địa chỉ dưới đây:

ái Quốc

Krưm – Eppatôria
Nhà an dưỡng Lênin.
Xin chào tất cả
Tháng 8 nǎm 1927

Bưu ảnh của Nguyễn Ái Quốc
gửi Francois Billoue (bản tiếng Pháp).

Bản chụp lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Những tội ác kinh khủng của Đế quốc Pháp ở Đông Dương (28-9-1927)

Sau cuộc xâm chiếm của đế quốc Pháp, nhân dân các đảo Tân Êbrít 1 đã bị tiêu diệt bởi rượu, các bệnh hoa liễu và lao động khổ sai, những tai hoạ do nền vǎn minh đế quốc chủ nghĩa du nhập vào trong nước. Sự kiện này đã được ông nghị ácxinbô, báo cáo viên về ngân sách thuộc địa, chính thức thú nhận tại Nghị viện Pháp.

Nòi giống bản xứ thì bị giết chóc, nhưng đất đai các đảo vẫn phì nhiêu và vẫn mang lợi cho bọn thực dân Pháp. Tuy nhiên, bọn này không tự canh tác được trong các đồn điền của mình. Chúng cần có nô lệ. Chúng tìm đến nô lệ ở Đông Dương.

Ngày xưa người ta dùng phương pháp tuyển mộ. Công nhân và nông dân Đông Dương – bị thuế má đè nặng đến lụn bại, bị cái nghèo khổ theo đuổi và bị mua chuộc bởi hứa được lương bổng cao – tự đưa mình vào tròng, xuống tàu đi sang “Tân lục địa”. Nhưng họ bị giết hại bởi sự ngược đãi của chủ đồn điền không kém gì các bệnh tật của vùng nhiệt đới, phần lớn những người “cam kết ra đi” không bao giờ còn thấy đất nước và gia đình mình nữa. Từ đó trở đi, những người Đông Dương khác thà chết đói trên đất nhà còn hơn đem thân sang chết ở đồn điền Pôlinêdi thuộc Pháp.

Những cuộc tuyển mộ đầy tội ác

Hiện nay, để cung cấp nhân công cho đồn điền của họ, người Pháp không lùi bước trước những phương tiện đầy tội ác nhất. Dưới đây là một vài thí dụ: Những tên thực dân Pháp yêu cầu các quan cai trị Pháp ở Đông Dương – những kẻ luôn luôn là đồng loã và đôi khi chung vốn với họ – bắt các làng ở Đông Dương cung cấp một số cu li. Nếu các làng – biết là mình phải làm gì đối với số phận của người mình – không thi hành ngay mệnh lệnh thì bị trừng phạt. Hoặc là, lợi dụng tình trạng đói kém luôn xảy ra ở Đông Dương, người Pháp cho người Đông Dương vay tiền rồi ít lâu sau cho bắt họ vì không trả được nợ, buộc họ phải đáp tàu sang Ôxtrâylia. Hoặc nữa, chúng làm như dùng cu li vào một công việc gì đó trên tàu biển, rồi bỗng nhiên, cu li thấy mình bị trói và giam trong khoang tàu, khi tàu sắp khởi hành. Chúng đánh lừa những người Đông Dương thất nghiệp, hứa cho họ một việc làm ở một tỉnh bên. Chúng đưa các nạn nhân xuống tàu và, giữa đường, đổi hướng đi. Thế là, chúng bắt cóc những người Đông Dương bằng sức mạnh hoặc bằng thủ đoạn và đưa họ đi trong những chuồng bằng sắt, đến tận Tân Êbrít.

Những chứng cớ không thể chối cãi

Trên tàu biển, người Đông Dương chen chúc như những con vật trong những khoang thiếu không khí, không có ánh sáng. Chúng cho họ ǎn uống chẳng là bao. Người ốm bị ném xuống biển “để khỏi lây sang những người khác”. Họ luôn bị những người mang súng canh giữ. Tới các đảo, họ bị giam trong một trại, tức là một cái chợ; chủ đồn điền đến xem họ, chọn và mua một đầu người với giá bao nhiêu đó.

Để đưa phụ nữ đi, chúng cho họ được mang con theo. Nhưng một khi họ đã xuống tàu, chúng quǎng trẻ em xuống nước “để thủ tiêu những cái mồm vô ích”. Điều này đã từng xảy ra với những người đàn bà Bắc Kỳ.

Tháng 7 vừa qua, một tàu biển cập bến Taoxvin với 480 người Đông Dương nhốt trong những chuồng ở đáy tàu. Được một thuỷ thủ báo cho biết, những người Trung Quốc ở Taoxvin định xuống giúp các nạn nhân, nhưng họ bị những người gác có vũ trang trên tàu cản lại. Trong lời kêu gọi người Trung Quốc đǎng trên báo Daily Standard, những người Đông Dương khốn khổ kia nói rằng: Người ta đã dùng thuốc mê bằng thuốc lá tẩm độc, để kéo họ đến tô giới Pháp ở Quảng Châu Loan rồi bắt cóc; trên tàu biển họ chịu đựng đến mức kinh khủng đói, khát và nhất là sự độc ác của những kẻ canh gác: người ốm bị ném xuống nước.

WANG

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 99, ngày 28-9-1927
cpv.org.vn

Sự thống trị của Đế quốc pháp ở Đông Dương (15-10-1927)

CUỘC XUNG ĐỘIT “HOA – VIỆT”

Từ 19 đến 22-8, giữa người An Nam và Hoa kiều ở Hải Phòng, một hải cảng ở Bắc Kỳ, đã xảy ra những cuộc ẩu đả đổ máu. Có 8 Hoa kiều chết và 125 người bị thương, 8 nhà máy và 12 cǎn nhà Hoa kiều bị đốt cháy. Báo chí Pháp ở Đông Dương và ở Pháp cho rằng cuộc xung đột này chỉ liên can đến người An Nam và Hoa kiều thôi, và nguyên nhân là do hai dân tộc đó “hiềm thù” nhau, còn người Pháp thì không dính dáng gì đến vụ xung đột ấy cả.

Khẳng định như vậy là không đúng. Chẳng phải hôm nay mà cũng không phải hôm qua người Hoa mới đến Đông Dương. Họ đã ở đây hàng thế kỷ nay rồi. Và từ khi họ đến ở đây, họ đã luôn luôn giữ một vị trí rất quan trọng trong đời sống kinh tế của Đông Dương. Nhưng chưa bao giờ lại có những cuộc xung đột giữa người An Nam và các “chú” khách của họ cả.

Cuộc xung đột hiện nay, cũng như cuộc tẩy chay hàng hoá của Hoa kiều nǎm 1919 là do bọn thực dân Pháp gây nên vì những lý do sau đây:

ít lâu nay, trong dân chúng An Nam, đang có một sự sôi sục mạnh mẽ: những cuộc biểu tình của những người có tinh thần dân tộc, những cuộc bãi khoá của giới đại học, những cuộc bãi công của thợ thuyền, những cuộc nổi dậy của nông dân, hoạt động của các tổ chức cách mạng bí mật, việc bầu những cựu chính trị phạm vào “Viện dân biểu” bản xứ, v.v. và v.v.. Tất cả tình hình ấy đã làm cho bọn thực dân Pháp hoảng sợ, chúng tìm mọi cách để lái hoạt động chính trị đó đi theo một hướng khác.

Trong nǎm qua, người An Nam đã tỏ ra có nhiều cảm tình với cách mạng Trung Quốc. Khi tàu chiến Misơlê của Pháp, trên đường sang Trung Quốc, cập bến Sài Gòn để tu sửa, anh em công nhân xưởng tàu ở hải cảng đó đã đình công không chịu tu sửa 48 . Cũng nǎm ấy, khi nǎm Hoa kiều ở Sài Gòn bị nhà chức trách Pháp trục xuất vì tuyên truyền cách mạng, thì hàng nghìn người An Nam đã tự động họp nhau lại để tiễn chân. Mối tình thân thiện Hoa – Việt ấy đã làm cho bọn Pháp rất hoảng sợ.

Hoa kiều sống ở Đông Dương đều bị bọn thực dân Pháp ra sức áp bức và bóc lột. Thuế khoá nặng nề. Cũng như người An Nam, Hoa kiều đều bắt buộc phải có giấy thông hành mới được đi từ nơi này đến nơi khác, tốn rất nhiều tiền và mất nhiều thì giờ, đồng thời lại bị trở ngại rất lớn trong công việc buôn bán. Công nhân Hoa kiều không có quyền tự do tổ chức. Tất cả những sự việc đó và những sự hà lạm khác đã gây nên một phong trào chống Pháp trong giới người Hoa, phong trào này kết hợp với tinh thần quật khởi của người An Nam sẽ là một nguy cơ rất lớn cho chủ nghĩa đế quốc.

Chính vì tất cả những lý do ấy đã khiến đế quốc Pháp tìm cách chia rẽ Hoa kiều và người An Nam, làm cho họ chống lẫn nhau.

Nhưng âm mưu của bọn đế quốc từ ngày 19 đến 22-8 quá ư lộ liễu khiến ngay những người không chú ý lắm cũng thấy rõ được. Trong một nước có chế độ kiểm duyệt thường xuyên, có tất cả những viên chức kể cả các đốc học và giáo viên đều làm mật thám, một nước mà mỗi tháng người ta trả ba mươi đồng cho mỗi học sinh tình nguyện làm mật thám, một nước mà bất kỳ cuộc hội họp và tập hợp nào cũng đều bị cấm đoán cả, làm thế nào mà trong những điều kiện ấy, người ta lại có thể tổ chức những cuộc ẩu đả đổ máu như vậy được? Làm sao mà bọn cảnh sát và nhà chức trách Pháp – luôn luôn được thông báo về bất kỳ một hành động nhỏ nào của người bản xứ và lúc nào cũng sẵn sàng đàn áp – lại chỉ can thiệp

rất muộn, sau khi đã có nhiều người bị giết chết, nhiều thiệt hại đã xảy ra? Vì sao mà những cuộc ẩu đả ấy lại có thể kéo dài từ 19 đến 22-8 mà không có lấy một biện pháp nào để ngǎn chặn cả?

Bởi vậy, người ta bắt buộc phải kết luận rằng cuộc xung đột ấy không những được bọn đế quốc Pháp làm ngơ mà chúng còn có dụng ý nhen lên và gây ra nữa.

VIệN “ĐUMA” AN NAM 49

Do sự thúc ép của quần chúng bản xứ, bọn đế quốc Pháp buộc phải nhân nhượng hoặc nói cho đúng hơn là giả bộ nhân nhượng. Chúng phái một “đảng viên Đảng Xã hội” sang làm toàn quyền. Chúng tung ra khẩu hiệu “Pháp – An Nam hợp tác”. Chúng tổ chức ra “Viện dân biểu”.

Song kết quả lại hoàn toàn trái với điều mong muốn của chúng. Sau một thời kỳ nuôi ảo tưởng, người An Nam bây giờ đã biết thế nào là một đại biểu của Quốc tế thứ hai. Họ thấy rằng, sự “hợp tác” được ca tụng nhiều như thế đã thể hiện thành những sự bóc lột bỉ ổi và những cuộc đàn áp thẳng tay đối với bất kỳ một cuộc biểu dương chính trị nào của người bản xứ.

Viện “Đuma” An Nam (không phải do cuộc đầu phiếu phổ thông mà chỉ do các kỳ mục, địa chủ và thương nhân bầu ra) không hề xoa dịu được người An Nam, mà còn đưa lại cho họ cơ hội để tỏ rõ tinh thần phản kháng của mình.

Trong các cuộc bầu cử vừa qua, những người ra ứng cử, mà nhiều người biết rõ những hoạt động yêu nước của họ và việc họ chỉ trích chế độ cai trị của người Pháp, cũng như những chính trị phạm đi đày về, đều trúng cử. Mặc dù nhà chức trách Pháp dùng mưu kế và hǎm doạ, nhưng không có một người ứng cử nào do Chính phủ giới thiệu, lại trúng cử cả.

Tất cả những “vị dân biểu” này chỉ có tiếng nói tư vấn thôi. Các vị dân biểu Trung Kỳ thì mỗi nǎm hội họp một lần và lúc nào họp là do khâm sứ quyết định. Thậm chí họ không có lấy một phòng họp, hay một phòng để làm việc. Mỗi một kỳ họp đều do một viên chức người Pháp chủ toạ. Nhưng cái đó vẫn không làm cho các vị đại biểu An Nam đáng thương ấy rụt rè lên tiếng và phát hiện ra được những điều khá bổ ích.

Trong kỳ họp hồi tháng 8, “người phát ngôn” 1 của Viện dân biểu Trung Kỳ đã tuyên bố:

“Chúng tôi không có phòng để làm việc, không có ngân sách, không có gì hết. Nǎm ngoái, thậm chí chúng tôi cũng không có cơ hội nào để thảo luận được. Trong số hàng trǎm yêu sách của chúng tôi, không một yêu sách nào được thực hiện cả…

“Chính bản thân các đại biểu cũng không có quyền ǎn nói, thử hỏi trong những điều kiện như vậy, làm thế nào mà họ lại có thể giúp đỡ được người khác? Thế mà nhân dân lại tin rằng chúng tôi có quyền tham gia giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến đất nước nên trông mong nhiều ở chúng tôi… Tờ thông tri tháng 2 vừa rồi của Chính phủ thuộc địa đã hoàn toàn làm mất hết phẩm cách của chúng tôi, nên chúng tôi không thể làm được một việc gì cả. Thật là nhục nhã và buồn thảm biết bao!…

“Với những thủ đoạn đàn áp của Chính phủ sử dụng trong tất cả mọi cơ hội, thì tất phải có an ninh và trật tự. Thế mà chẳng có kết quả gì. Các cuộc rối loạn vẫn liên tiếp nổ ra… Nhiều người An Nam đã bị hành hạ, truy nã, bắt giữ và cầm tù vì tội đã đọc báo chí đã có phép của sở kiểm duyệt. Cả nhà đều bị phạt nếu người nhà phạm một tội là phát biểu trong một cuộc họp. Trẻ em chỉ không đi học một buổi là bị đuổi và như thế là suốt đời bị dốt nát… Vì trung thành với lợi ích của nhân dân, mà một số đại biểu đã bị thoá mạ trước công chúng…”.

Viên khâm sứ đã trả lời một câu tinh tế. Ông ta trình bày chương trình của Chính phủ thuộc địa, chương trình đó có thể tóm tắt như sau: “Hỡi dân An Nam! Các người hãy nhẫn nhục mà chịu đựng” và ông ta nói: “Sau khi Chính phủ đã trình bày rất rõ ràng và dứt khoát rồi, nếu các ông còn ngần ngại không chấp thuận hoặc nếu các ông phản đối lại mà không có lý do cǎn bản, thì Chính phủ sẽ tin rằng các ông không thiết gì đến tương lai của xứ này… Các ông nên biết rằng, muốn vǎn minh và tiến bộ, thì phải có kỷ luật và phải tôn trọng chính quyền đã được thiết lập”.

ĐÓI, DỊCH TẢ, THUẾ KHÓA, v.v.

Dân số Đông Dương giảm đi nhanh chóng vì nạn đói kém, dịch tả và… chủ nghĩa đế quốc Pháp.

Số người chết so với số người sinh ra nhiều hơn gấp bội. Số trẻ em chết thật là khủng khiếp. Ta hãy lấy thành phố Hải Phòng làm thí dụ. Theo thống kê hồi tháng 7-1927, trong thành phố này, người An Nam sinh được 147 trẻ. 81 là con trai và 66 là con gái. Cùng trong thời gian đó, có 204 người chết, trong đó có 84 là trẻ em. Trong số 147 trẻ em mới đẻ, chỉ còn sống được 63 em!

Để chứng minh rõ rằng vì nghèo khổ mà người An Nam bị chết nhiều, chúng ta hãy so sánh những thống kê về số người sinh ra và chết đi giữa người nước ngoài và người bản xứ cùng ở thành phố đó. Đối với người Âu, cứ số trẻ sinh ra là 8 thì số người chết là 3, trong số chết đó có một là trẻ em. Đối với Hoa kiều, cứ số trẻ sinh ra là 22 thì số người chết là 23, trong số chết này có 6 trẻ em.

Các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi (Trung Kỳ) đều bị nạn dịch tả hoành hành. Dân cư hoảng sợ. Đầu tháng 8, mỗi ngày có hàng trǎm người ốm được đưa đến nhà thương Huế. Chỉ riêng tỉnh Quảng Nam đã có hơn 7.000 người bị bệnh trong tháng 8.

Chưa phải đã hết. Trời nắng như đốt làm cho lúa má khô héo trước khi nảy hạt. Trời nắng như thế là nguy cơ của nạn đói, đồng thời lại làm cho nạn dịch hạch tǎng lên. Mặt khác, Bắc Kỳ thì bị tàn phá vì đói kém do nạn lụt gây ra. Để bảo vệ người Pháp ở Hà Nội khỏi bị cảnh lụt lội, khi Bắc Kỳ bị nước tràn về, Chính phủ thuộc địa đã cho phá vỡ đê Gia Lâm ở phía bên kia Hà Nội, để tháo nước về phía ấy. Họ làm như vậy mà không báo cho người bản xứ biết trước, nên 20.000 người An Nam đã bị cơ quan cai trị của người Pháp làm cho bị chết đuối!

Sau những trận lụt, người An Nam ở Trung Kỳ và Nam Kỳ đã tổ chức quyên góp để cứu giúp các đồng bào bất hạnh của mình. Nhà chức trách Pháp đã xoáy mất phần lớn số tiền đó bỏ vào quỹ để nâng giá đồng phrǎng lên! Mặc dù những hiện vật quyên góp rất nhiều, nhưng nhà chức trách chỉ phân phát cho những người bị nạn mỗi người một tháng được có hai kilô rưỡi gạo thôi!

Chỉ riêng ở Bắc Kỳ, người ta đã tính ra có đến 155 đồn điền lớn thuộc quyền của người Pháp, mỗi cái rộng trên 200 hécta. Trong số đồn điền ấy, 11 cái rộng trên 500 hécta, 4 cái trên 600 hécta, 5 cái trên 700 hécta, 1 cái trên 800 hécta, 5 cái trên 900 hécta, 9 cái trên 1.100 hécta, 7 cái từ 1.200 hécta đến 1.500 hécta, 2 cái từ 1.500 hécta đến 2.500 hécta, 3 cái từ 3.150 đến 3.750 hécta, 1 cái trên 4.100 hécta, 1 cái trên 5.500 hécta, 1 cái trên 6.900 hécta, 1 cái trên 7.500 hécta, 1 cái trên 8.515 hécta.

Rồi đến 34 khu mỏ không những chỉ có mỏ mà còn có ruộng đất ở xung quanh nữa, trong số đó có 7 khu rộng từ 800 đến 1.500 hécta, 8 khu từ 1.500 đến 2.900 hécta, 1 khu trên 3.000 hécta, 2 khu từ 3.600 đến 4.900 hécta, 1 khu trên 6.100 hécta, 3 khu từ 13.000 đến 13.800 hécta, 1 khu trên 18.000 hécta, 1 khu trên 22.000 hécta, 1 khu trên 25.000 hécta.

Như vậy thì người An Nam chẳng còn được bao nhiêu nữa. Bất chấp tất cả tình trạng đó và mặc dù xứ này đã bị đủ thứ tai hoạ tàn phá, người Pháp vẫn cứ tiếp tục tǎng thuế khoá. Ngân sách của Bắc Kỳ sắp được nâng từ 18.017.180 (?) đến 18.200.670 đồng. Chế độ của đế quốc Pháp ở Đông Dương là như thế đấy!

cpv.org.vn