Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Tầm vóc lịch sử và hiệu ứng xã hội của Cách mạng tháng Tám năm 1945

(TCTG) – Thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của cuộc cách mạng làm thay đổi số phận của cả một dân tộc. Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nhân dân ta đã vùng dậy, lật đổ ách thống trị của thực dân đế quốc và phong kiến, lập nên chính quyền cách mạng do nhân dân làm chủ trong cả nước, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập tự do. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi cùng với bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo và tuyên đọc đã khai sinh ra chế độ Dân chủ cộng hòa của Việt Nam. Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, chế độ thực dân phong kiến bị xóa bỏ, từ đây, Tổ quốc được độc lập, dân tộc và nhân dân ta được hưởng quyền tự do, hạnh phúc.

Ngót một thế kỷ với ách thống trị tàn bạo của đế quốc thực dân, nhân dân ta sống trong cảnh bị đọa đầy, đau khổ, bị chìm đắm trong những đêm dài tăm tối… đã chấm dứt. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thực sự là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc vĩ đại làm thay đổi số phận của cả một dân tộc, đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ tới tự do và làm chủ. Giải phóng để phát triển, giải phóng dân tộc để phát triển dân tộc, mở ra những tiền đề và điều kiện để dân tộc ta chẳng những hồi sinh mà còn vững bước đi tới tương lai, trên con đường lớn của lịch sử Độc lập – Tự do và Hạnh phúc.

Là một cuộc cách mạng kiểu mới và điển hình trong một xã hội thuộc địa thực dân nửa phong kiến, Cách mạng tháng Tám, năm 1945 của Việt Nam được cổ vũ và chịu ảnh hưởng sâu sắc của Cách mạng tháng Mười Nga, năm 1917 và thời đại mới do chính cuộc cách mạng đó sinh thành. Cách mạng tháng Tám là cuộc cách mạng chống đế quốc thực dân và phong kiến, đập tan mọi xích xiềng nô lệ, khẳng định những quyền cơ bản thiêng liêng của con người – quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Cách mạng đã thực hiện những quyền đó trên nền tảng của quyền tự quyết dân tộc, độc lập chủ quyền của dân tộc là cơ sở để thực hiện các quyền tự do, dân sinh và dân chủ của con người.

Tuyên ngôn Độc lập trở thành một văn kiện chính trị – pháp lý và thấm nhuần sâu sắc các giá trị nhân văn của thời đại mới đề cao dân chủ và tự do, công bằng và bình đẳng xã hội. Với con người – đó là quyền được tồn tại thực sự xứng đáng với những con người tự do, quyền được phát triển như một chủ thể nhân cách sáng tạo, ở đó, phẩm giá làm người được tôn trọng và những đè nén, áp bức, bất công làm nhục con người, thống trị dân tộc trong tình cảnh nô lệ bị xóa bỏ. Đi vào lịch sử và sống mãi với thời gian, Tuyên ngôn Độc lập gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, với ý chí và khí phách của dân tộc Việt Nam “Thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Bản Tuyên ngôn ấy thực sự là Tuyên ngôn Lập quốc, Tuyên ngôn Dựng nước của dân tộc Việt Nam trong thời hiện đại. Nó kế thừa truyền thống anh hùng, bất khuất của ông cha ta qua mọi triều đại, nó tiếp nối và phát triển sức sống mãnh liệt, giá trị và bản sắc văn hóa cũng như bản lĩnh chính trị của dân tộc ta qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước để làm thăng hoa trí tuệ và tâm hồn Việt Nam, chân lý và đạo lý Việt Nam trong kỷ nguyên độc lập tự do, trong thời đại mới mang tên Thời đại Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Tuyên ngôn Độc lập mang tinh thần cách mạng triệt để, thấm đượm một triết lý phát triển đồng thời là thông điệp phát triển của Việt Nam trong thời đại mới. Đó là một áng thiên cổ hùng văn tiếp nối liền mạch với các áng thiên cổ hùng văn trước đó của ông cha ta với những âm hưởng hào sảng của Lý Thường Kiệt, dũng khí mãnh liệt của Trần Quốc Tuấn, trí tuệ và nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, trù tính định liệu việc lớn để an dân trị quốc của Nguyễn Huệ – Quang Trung.

Cách mạng tháng Tám đã dẫn tới Tuyên ngôn Độc lập và Tuyên ngôn Độc lập đã tổng kết và nâng cao tầm vóc của cuộc Cách mạng vĩ đại này, không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn có vị trí và ý nghĩa xứng đáng trong lịch sử chính trị thế giới hiện đại. Lịch sử càng lùi xa, những tư tưởng, giá trị và những bài học kinh nghiệm của các cuộc cách mạng chân chính do sức mạnh đoàn kết và sáng tạo của nhân dân làm nên càng trở nên sâu sắc và sống động.

Nhớ lại hơn 80 năm về trước, khi Đảng còn chưa ra đời, cách mạng còn đang ấp ủ những mầm mống sinh thành, trong tác phẩm nổi tiếng “Đường Kách mệnh” (1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã viết: Cách mệnh là phá cái cũ lỗi thời, lạc hậu đổi ra cái mới tiến bộ, phát triển. Người còn nói rõ, muốn làm cách mệnh xã hội, trước hết phải cách mệnh chính bản thân mình đã.

Bởi thế, muốn cho cách mệnh thắng lợi và đến nơi (tức là triệt để) thì Đảng cách mệnh, người cách mệnh phải có chủ nghĩa làm cốt, phải giữ chủ nghĩa cho vững và phải ít lòng tham muốn (ham muốn) về vật chất.

Trong hình thức dung dị của ngôn từ, đây thực sự là những quan niệm, những định nghĩa kinh điển về cách mạng và nhân cách của người cách mạng.

Với tư cách là tư tưởng, đây thực sự là những tư tưởng lớn, những dự cảm sâu sắc, ở tầm chiến lược, được vạch ra bởi một thiên tài – kết tinh sâu sắc và tốt đẹp nhất những tinh hoa của dân tộc và thời đại. Thiên tài ấy là Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Thế kỷ XX – một thế kỷ anh hùng và bi tráng, thế kỷ đã sản sinh ra những cuộc cách mạng điển hình, mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, tiếp nối bởi Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Việt Nam, Cách mạng 1949 của Trung Quốc cũng như Cách mạng Cuba những năm 60 và những cuộc cách mạng khác…

Theo GS.TS Hoàng Chí Bảo
Hội đồng Lý luận Trung ương
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Gửi đoàn chủ tịch Quốc tế nông dân (8-3-1926)

Các đồng chí thân mến,

Tôi muốn biết tại sao tất cả những thư mà tôi đã gửi đến các đồng chí đều không được trả lời, và nhất là những yêu cầu của tôi về báo cáo và tài liệu khác dùng cho tuyên truyền.

Tất cả những thư mà các đồng chí giao cho tôi để gửi đi Giava, Manila, ấn Độ và những nơi khác đã được gửi đi. Chỉ có một thư quay trả lại tôi, vì không có người nhận, đó là thư gửi Ban biên tập Petir, Langiơ, átgét – Xumatơra 1 .

Tôi gửi đến các đồng chí những bài cắt ở báo có liên quan đến phong trào nông dân (tháng 2 và tháng 3), và một số báo nông dân của Quốc dân đảng.

Tôi vẫn hy vọng các đồng chí vui lòng gửi cho tôi tài liệu để tuyên truyền. Xin gửi các đồng chí lời chào anh em.

Quảng Châu, ngày 8-3-1926. NILỐPXKI (N.A.Q)

——————–

Thư đánh máy bằng tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Báo cáo gửi Quốc tế cộng sản (1928)

(Báo cáo của Đông Dương)

Đồng chí thân mến,

A. Sau đây là những việc tôi đã làm cho Đông Dương từ khi đến đây:

1. Tổ chức một tổ bí mật.

2. Tổ chức một Hội liên hiệp nông dân (những người An Nam sống ở Xiêm).

3. Tổ chức một tổ thiếu nhi (7) lựa chọn trong con em nông dân và công nhân. Các em đang ở Quảng Châu và được nuôi dạy bằng tiền của chúng tôi.

4. Tổ chức một tổ phụ nữ cách mạng (bắt đầu từ tháng 4 gồm khoảng 12 hội viên).

5. Tổ chức một trường tuyên truyền 40 . Các học viên được bí mật đưa đến Quảng Châu. Sau một tháng rưỡi học tập họ trở về nước. Khoá thứ nhất được 10 học viên. Khoá thứ hai sẽ mở vào tháng 7 tới, sẽ có khoảng 30 người.

Vì đi đường thì lâu ngày (khoảng 2 tuần lễ), nguy hiểm và tốn kém nhiều và khả nǎng tài chính của chúng tôi thì eo hẹp (với tiền lương của tôi, tiền lương của một trong số các đồng chí của tôi và một ít trợ cấp của các đồng chí Nga), nên công việc không được nhanh chóng như chúng tôi mong muốn.

B. Về tình hình chính trị Đông Dương thì đồng chí hãy đọc bài của tôi gửi cho Inprekorrkèm theo đây.

C. ở Pari có một tổ chức của thuộc địa – Hội liên hiệp các thuộc địa 41 – trong đó có nhiều người An Nam. Những người An Nam này có 2 tờ báo: tờ Le Paria 42 bằng tiếng Pháp và tờ L’Ame Annamite 1 bằng tiếng quốc ngữ. Trong số người An Nam đó có một người, Nguyễn Thế Truyền, mà các đồng chí chúng ta ở Ban nghiên cứu thuộc địa biết rõ. Tôi nhờ đồng chí giúp tôi liên lạc với Nguyễn Thế Truyền do Ban nghiên cứu thuộc địa làm trung gian và nói với Nguyễn Thế Truyền gửi các tờ báo đó cho tôi. Tất cả thư từ gửi cho tôi phải qua Mátxcơva, vì không thể liên lạc trực tiếp được.

D. ở đây, chúng tôi đã xuất bản tờ báo hằng tuần “Thanh niên” 43 .

3. Từ 20 tháng 4, tôi có gửi cho hiệu sách của Đảng 550 phrǎng và nhờ gửi cho tôi báo L’ Humanité, báo La Vie Ouvrière và tạp chí Inprekorr bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, mà các đồng chí Trung Quốc đã yêu cầu tôi cung cấp. Hôm nay là ngày 3 tháng 6 mà tôi vẫn chưa nhận được gì cả. Nhờ đồng chí hỏi giùm hiệu sách vì sao?

Cảm ơn và gửi đồng chí lời chào cộng sản thân thiết.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Địa chỉ: Nilốpxki

Nhờ ông lãnh sự Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết tại Quảng Châu chuyển.

————————-

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

Gửi uỷ ban trung ương thiếu nhi (22 – 7- 1926)

Các đồng chí thân mến,

Chúng tôi có tại đây (Quảng Châu, Trung Quốc) một nhóm thiếu nhi An Nam 44 . Các em đều từ 12 đến 15 tuổi. Đó là những thiếu nhi cộng sản đầu tiên của nước An Nam, bị chủ nghĩa đế quốc Pháp áp bức, và ở đó mọi việc giáo dục đều bị cấm. Các em còn nhỏ nhưng các em đã đau khổ nhiều. Các em đã để cha mẹ ở nhà cách hàng nghìn kilômét để bí mật đến Trung Quốc. Nhiều em có cha mẹ bị người Pháp bắt giam vì các em đã bỏ gia đình đi ra nước ngoài, như những người cách mạng!

Khi chúng tôi nói với các em về Cách mạng Nga, về Lênin và về các bạn, – những chiến sĩ lêninnít Nga nhỏ tuổi – thì các em rất sung sướng và đòi sang với các bạn, để thǎm các bạn, ở với các bạn, học tập với các bạn, và để trở thành như các bạn – những chiến sĩ lêninnít chân chính nhỏ tuổi.

Chúng tôi đã hứa với các em là sẽ viết thư cho các bạn về vấn đề đó. Và giờ đây tôi đã làm việc ấy. Chúng tôi hy vọng rằng các bạn sẽ không từ chối tiếp nhận 3 hay 4 bạn nhỏ An Nam của các bạn, có phải không? Nếu các bạn đồng ý cho các em đến thì các bạn sẽ làm những việc sau đây:

1. Uỷ nhiệm cho đồng chí Bôrôđin, đại diện của Liên Xô tại Quảng Châu, làm mọi điều cần thiết cho hành trình của các em (gửi thư của các bạn cho Quốc tế Cộng sản hay cho Bộ Dân uỷ ngoại giao) .

2. Nói rõ các bạn có thể tiếp nhận bao nhiêu thiếu nhi An Nam.

3. Đến tháng nào thì ở Mátxcơva bắt đầu rét? (Vì các em thiếu nhi đó đến từ một nước rất nóng, phải chọn thời gian cho các em đi).

4. Tới Mátxcơva thì các em sẽ đến địa chỉ nào?

Tôi đợi các bạn trả lời và gửi đến các bạn lời chào cộng sản.

Ngày 22 tháng 7 nǎm 1926
NGUYỄN ÁI QUỐC

Địa chỉ của tôi: Nilốpxki,
Hãng thông tấn Rôxta,
Quảng Châu, Trung Quốc.

————————-

Tài liệu tiếng Pháp (1) , lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng
cpv.org.vn

Gửi đại diện đoàn thanh niên cộng sản Pháp tại Quốc tế thanh niên cộng sản (22 – 7 – 1926)

Đồng chí thân mến,

Chúng tôi đã đưa đến Quảng Châu một số trẻ em An Nam. Chúng tôi đã lập một nhóm thiếu nhi. Chúng tôi muốn gửi 3 hay 4 em qua Nga để các em được tiếp thụ một nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa tốt đẹp. Tôi đã viết thư cho Uỷ ban trung ương thiếu nhi Mátxcơva. Tôi đề nghị đồng chí ủng hộ yêu cầu của tôi và tiến hành mọi hoạt động cần thiết để người ta trả lời tôi được mau chóng và thuận lợi hơn.

Tôi chờ thư trả lời của đồng chí và gửi đến đồng chí lời chào cộng sản anh em.

Địa chỉ:

Ô. Lu, Thông tấn xã Rôxta, Quảng Châu, Trung Quốc.

(Đồng chí hãy đưa thư của đồng chí cho người liên lạc của Quốc tế Cộng sản và đừng gửi qua bưu điện, vì ở đây tôi hoạt động bất hợp pháp).

Quảng Châu, ngày 22 tháng 7 nǎm 1926
NGUYỄN ÁI QUỐC

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn

Sức mạnh của lòng dân

Cách đây tròn 67 năm, dân tộc Việt Nam bắt đầu bước vào kỷ nguyên tự do, độc lập. Chính quyền non trẻ và nền độc lập của dân tộc Việt Nam được xác lập bởi sức mạnh vô song của lòng dân muôn người như một. “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết hợp thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn; nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”.

Sự đúc kết bất hủ ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phản ánh những điển hình lịch sử trọng đại của đất nước như Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mà vẫn luôn mang ý nghĩa thời sự nóng hổi theo dòng chảy thời gian với biết bao thách thức thời cuộc trước khát vọng đưa quốc gia dân tộc tiến lên với thời đại.

Qua hàng ngàn năm lịch sử, nền độc lập và chủ quyền đất nước Việt Nam đã được gìn giữ bởi tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc. Ở những thời điểm ngặt nghèo của lịch sử, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam luôn là mạch nguồn năng lượng to lớn hợp thành sức mạnh đưa dân tộc ta vượt qua bao thác ghềnh làm nên những trang sử vẻ vang. Thời điểm bước vào năm 1945, xét về mặt quân sự, lực lượng ngoại bang ở Việt Nam có đến con số hàng vạn quân cùng sự hậu thuẫn bộ máy cai trị của thực dân, phong kiến, trong khi chỉ có khỏang 5.000 đảng viên Cộng sản mà một số khá đông vẫn đang bị giam cầm trong tù ngục. Thế nhưng, lòng yêu nước đã quy tụ mọi tầng lớp trong xã hội dưới ngọn cờ độc lập dân tộc, trở thành sức mạnh chính trị to lớn, đập tan ách thống trị thực dân, phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân. Bước ngoặt vĩ đại trong trang sử hào hùng của dân tộc được khắc ghi vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trịnh trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trang sử mới của dân tộc ta được minh thị bằng một Nhà nước hoàn toàn mới, được thiết lập, hòan thiện cơ chế vận hành cùng mục đích vận hành gắn liền với nguyên tắc của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Đất nước Việt Nam hôm nay xứng đáng trở nên cường thịnh khi nguồn lực của hơn 86 triệu công dân được khơi dậy thỏa đáng để quốc gia vượt qua thách thức vươn lên kịp thời đại. Khát vọng ấy của dân tộc chỉ có thể hiện thực hóa khi nó gắn kết với lòng người hướng về một mối. Ấy là cơ sở hàng đầu kết nối năng lượng cả dân tộc thành một khối, trong một xã hội mà mỗi một người dân đều góp phần mình bằng những công việc thích hợp, hành động cụ thể vào công cuộc xây dựng quốc gia hưng thịnh. Sự đồng lòng của hơn 86 triệu người dân trong nước cùng hàng triệu kiều bào ta ở hải ngoại sẽ là nền tảng tạo nên sức mạnh để đất nước giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tận dụng thời cơ phát triển kinh tế, đồng thời là bức tường thành vững chắc nhất bảo đảm việc gìn giữ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc trên cơ sở những bằng chứng lịch sử, pháp lý, phù hợp với luật pháp quốc tế. Sự đồng lòng của cả dân tộc trước hết cần phải kiến tạo bởi những niềm tin xác đáng qua sự trải nghiệm thấu đáo bởi tiến trình phát triển của đất nước theo con đường do nhân dân lựa chọn ở thời đại mới. Cũng như sức mạnh của lòng dân trong tháng ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám vẫn đang tích cực hậu thuẫn quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc ngăn chặn mặt trái của cơ chế thị trường cùng những thách thức cam go của quá trình hội nhập. Bên cạnh những thành tựu của sự nghiệp đổi mới trong mấy mươi năm qua, tuy đất nước đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp, nhưng tiềm ẩn sự phát triển thiếu bền vững dần bộc lộ vẫn đang tác động tiêu cực đến đời sống xã hội và tương lai của đất nước. Trong những năm qua, bên cạnh sự giàu có một cách hợp pháp của nhiều người do quy luật thị trường mang lại, không ít kẻ giàu lên nhờ những hành vi tham nhũng, chụp giật do lợi dụng sơ hở của cơ chế, khiến nhiều giá trị xã hội bị đảo lộn, tạo trở lực đối với yêu cầu của sự phát triển của quốc gia dân tộc. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang mới đây đã chỉ ra không ít thách thức đối với hiện tình đất nước: “Ai cũng đồng tình từ bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, cào bằng, bình quân chủ nghĩa làm triệt tiêu mọi động lực phát triển, duy trì nghèo đói, nhưng chuyển sang cơ chế thị trường thì những mặt trái của nó đã giáng vào đời sống xã hội những “đòn” không kém phần khốc liệt. Có những việc tưởng như đơn giản, tưởng như dễ giải quyết, không phải là khó khăn, nhưng khi thực hiện thì đụng đâu cũng vướng vì nó không phải là một bài toán trên lý thuyết đơn thuần mà là xã hội với đủ sắc màu, với những cách nghĩ, những quyền lợi, những ứng xử khác nhau, chằng chịt, cái này níu bám và kìm giữ cái kia; cái “chăn ấm” vô tình kéo sang bên này thì bên kia bị “lạnh”… Xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để “chọc gậy bánh xe”, thậm chí để “cõng rắn cắn gà nhà”. Sự thẳng thắn của người đứng đầu Nhà nước đã và đang đồng cảm với nhiều tầng lớp nhân dân trong nỗi ưu tư trăn trở về một nền quản trị quốc gia hữu hiệu nhằm bảo vệ hiệu quả lợi ích của xã hội, bảo đảm lợi ích tối thượng của dân tộc phù hợp với xu thế của thời đại.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cùng thắng lợi vang dội của các cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc ta là những dấu ấn trọng đại của lịch sử, minh chứng về sức mạnh cộng hưởng lòng yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân vì mục tiêu độc lập dân tộc. Sức mạnh của lòng dân là chân lý chắc chắn sẽ tiếp tục được soi sáng bằng năng lượng tinh hoa của thời đại để cả dân tộc viết tiếp những trang sử hào hùng mới trên con đường cách mạng đưa đất nước tiến về phía trước. Để hôm nay và mai sau, nền độc lập dân tộc tiếp tục bừng nở những ý nghĩa nhân văn mà tất cả người dân đất Việt đều xứng đáng được thụ hưởng thành quả của các giá trị tốt đẹp “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Chu Ninh
daidoanket.vn

Tín tâm và quyết tâm

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của Đảng ta luôn nhấn mạnh vai trò của việc quán triệt và thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng. Người coi tự phê bình và phê bình là “vũ khí sắc bén”, là “thang thuốc đặc trị” những căn bệnh nguy hiểm mà một số cán bộ, đảng viên mắc phải như tham ô, lãng phí, quan liêu …

Và để thang thuốc này thực sự có tác dụng, bên cạnh thái độ nghiêm túc, trung thực, Người còn đòi hỏi ở mọi người mà trước hết là ở từng cán bộ, đảng viên phải có tín tâm và quyết tâm trong thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Bác chỉ rõ: “Trong Đảng, nơi có một vũ khí mạnh nhất để khắc phục khó khăn là phê bình và tự phê bình. Nó là vũ khí sắc bén, dùng nó thì phải đau khổ. Mà đau khổ thì sẽ đi đến thành công. Mà muốn thành công thì phải tín tâm và quyết tâm”.

Tín tâm không gì khác chính là lòng tin. Lòng tin ở trong mỗi cán bộ, đảng viên. Đây là vấn đề rất quan trọng, đặc biệt là trong quán triệt, thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Bởi suy đến cùng tự phê bình và phê bình là quá trình tự đấu tranh không khoan nhượng diễn ra trong nội tại mỗi cán bộ, đảng viên; trong nội tại từng tổ chức, đơn vị: Đó là đấu tranh giữa cái tích cực với cái tiêu cực, giữa cái tốt với cái xấu, giữa cái tiến bộ với cái lạc hậu, giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể … Cuộc đấu tranh này diễn ra liên tục, gay go và quyết liệt vì nó trực tiếp liên quan tới lợi ích, tới thể diện và lòng tự trọng của mỗi người. Do đó, từng cán bộ, đảng viên chỉ có thể thực hiện tự phê bình và phê bình một cách có hiệu quả khi và chỉ khi họ có tín tâm, có lòng tin: Tin vào ý chí cố gắng, nghị lực phấn đấu của bản thân; tin vào tinh thần đấu tranh, tính chiến đấu của đảng viên và tổ chức đảng … Lòng tin là cơ sở thôi thúc họ vươn lên khắc phục khó khăn trong công tác, là động lực giúp họ tự đấu tranh và đánh bật những cái tiêu cực, lạc hậu ra khỏi bản thân mình, tổ chức mình

Song nếu chỉ dừng lại ở tín tâm, dừng lại ở lòng tin thì chưa đủ. Muốn thực hiện tự phê bình và phê bình một cách hiệu quả, cùng với tín tâm mỗi người còn cần phải có quyết tâm. Tín tâm là cơ sở của quyết tâm, nếu không có tín tâm thì không thể có quyết tâm được. Mục đích cuối cùng của tự phê bình và phê bình là gì? Đó chính là giúp cho từng cán bộ, đảng viên cũng như các cơ quan, tổ chức nhận rõ và khắc phục được những khuyết điểm, hạn chế mà mình đã mắc phải, để mọi người cùng nhau tiến bộ hơn, công tác tốt hơn. Để thực hiện được mục đích này hoàn toàn không đơn giản. Nó đòi hỏi mỗi người nhất là cán bộ, đảng viên phải có ý chí quyết tâm rất cao. Quyết tâm để tự chiến thắng chính mình, đấu tranh và loại bỏ những cái xấu, cái tiêu cực ở ngay trong chính con người mình; trong cơ quan, đơn vị mình.

Tín tâm và quyết tâm luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau, đóng vai trò là những nhân tố quan trọng không thể thiếu để tiến hành tự phê bình và phê bình có hiệu quả. Tình trạng cán bộ, đảng viên ở một số cơ quan, tổ chức còn tự phê và phê bình một cách chung chung, hình thức chính là do họ chưa có đủ tín tâm và quyết tâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Có quyết tâm, tín tâm thì tiến bộ. Người kém tranh đấu thì thoái bộ”.

Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 Khoá XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, chúng ta đang đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng trên cơ sở nâng cao chất lượng thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Thiết nghĩ từng cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp trước hết cần làm tốt công tác giáo dục tư tưởng, xây dựng niềm tin, ý chí quyết tâm, xây dựng tín tâm và quyết tâm trong thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình ở mỗi cán bộ, đảng viên. Đây là cơ sở quan trọng, trực tiếp quyết định đến hiệu quả thực hiện tự phê bình và phê bình ở mỗi cơ quan, đơn vị, mỗi tổ chức đảng và trong toàn Đảng hiện nay.

Tạ Quang Đạo
daidoanket.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9: Mặt trận Việt Minh với Cách mạng tháng Tám

Vào những ngày này, toàn Đảng, toàn dân ta đang bằng những việc làm cụ thể để thiết thực kỷ niệm lần thứ 67 ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nhân ngày lịch sử trọng đại này, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại những trang sử đấu tranh oanh liệt và hào hùng của dân tộc ta dưới ngọn cờ của Mặt trận Việt Minh do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương sáng lập.

Bác Hồ và Bác Tôn gặp gỡ một số đại biểu tại
Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt tháng 3-1951

Ảnh: TL

Như chúng ta đều biết, ngày 1-9-1939, Chiến tranh Thế giới lần thứ hai bùng nổ. Nó phát triển nhanh với mức độ ngày càng ác liệt, làm cho tình hình quốc tế cũng như trong nước có những chuyển biến hết sức mau lẹ.

Ở trong nước, Nhật, Pháp thi nhau đàn áp, vơ vét làm cho nhân dân, kể cả tư sản, địa chủ, trí thức cũng phẫn uất và đẩy họ ngả về phe cách mạng. Thấy rõ sự chuyển hướng của tình hình, đầu năm 1941, sau 30 năm đi tìm con đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về để trực tiếp cùng Trung ương lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Sau một thời gian chuẩn bị, Người thay mặt Quốc tế Cộng sản triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám (khóa I) họp từ ngày 10 đến 19-5-1941 tại Pắc – bó (Cao Bằng). Hội nghị đã xem xét lại toàn bộ chiến lược của Đảng Cộng sản Đông Dương và đề ra những chủ trương, quyết sách mang tính lịch sử.

Phân tích những diễn biến của cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, Hội nghị nhất trí với những đánh giá của các Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (tháng 11-1939) và lần thứ 7 (tháng 11-1946), đồng thời dự báo: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô – một nước xã hội chủ nghĩa – thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”.

Về tình hình trong nước, Hội nghị nhận định: Mặc dù bị kẻ thù đàn áp dã man, song phong trào cách mạng xứ Đông Dương vẫn sôi nổi và phát triển mạnh mẽ. Cách mạng Việt Nam lúc này phải là cách mạng dân tộc giải phóng, chứ không phải là cách mạng tư sản dân quyền. Để cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi, công việc cốt yếu của Đảng lúc này là phải liên minh tất cả các lực lượng của các giai cấp, đảng phái, các nhóm cách mạng cứu nước, các tôn giáo, các dân tộc để kháng Nhật. Trước mắt, tất cả các yêu sách của bộ phận mà có hại đến quyền lợi của dân tộc thì phải gác lại để giải quyết sau. Vì vậy, Hội nghị quyết định tạm gác khẩu hiệu cách mạng thổ địa để lôi kéo địa chủ tiến bộ, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất chống Pháp, Nhật. Hội nghị nhận định:

“Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, không thực hiện được độc lập, tự do cho toàn dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp vạn năm cũng không đòi lại được”.

Để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, theo đề nghị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Khẩu hiệu chính của Việt Minh là: Phản Pháp, kháng Nhật, liên Hoa, độc lập. Không chỉ đề cập đến những vấn đề chủ trương, chính sách Mặt trận, Hội nghị Trung ương 8 còn đề ra một cách toàn diện những vấn đề về nội dung, nhiệm vụ, phương thức tổ chức và hoạt động của Mặt trận Việt Minh và các tổ chức, đoàn thể quần chúng.

Hội nghị nêu rõ: Khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm và quyết định lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ của Mặt trận Việt Minh và sẽ là cờ của Tổ quốc khi giành được chính quyền.

Ngày 25-10-1941 Việt Minh công bố Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ. Chương trình của Việt Minh nêu rõ: Muốn cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi, Việt Minh phải liên hiệp hết thẩy các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, đảng phái, xu hướng chính trị, giai cấp. Tất cả đoàn kết lại để đánh đuổi Pháp – Nhật giành quyền độc lập cho xứ sở, đồng thời phải hết sức giúp đỡ Ai Lao và Cao Miên để cùng thành lập Đông Dương độc lập đồng minh.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, Mặt trận trình bày rõ ràng đường lối, chính sách, phương pháp tiến hành và tổ chức lực lượng đấu tranh để thực hiện mục đích cứu nước của mình.

Nhờ có chính sách đúng đắn, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của các tầng lớp nhân dân mà tổ chức và phong trào Việt Minh phát triển nhanh chóng và lan rộng ra khắp nước.

Ngày 7-5-1944 Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị “Về sửa soạn khởi nghĩa”. Tháng 10-1944 lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc có thư Kính cáo đồng bào, kêu gọi các bậc phú hào yêu nước, công, nông, binh, phụ nữ, công chức, tiểu thương cần nhận rõ trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại để đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi, lửa bỏng. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm.

Ngày 22-12-1944 thay mặt Tổng bộ Việt Minh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ra Chỉ thị thành lập Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Ngày 9-3-1945 Nhật hất cẳng Pháp. Nhân sự kiện này, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã kịp thời ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Thực hiện Chỉ thị trên, cao trào cách mạng xuất hiện ở nhiều nơi; Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập. Lợi dụng thời cơ phát xít Đức đầu hàng Liên Xô và các nước đồng minh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc kêu gọi đồng bào hãy vùng lên dưới ngọn cờ của Việt Minh, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Tổng bộ Việt Minh triệu tập Đại hội Quốc dân tại Tân Trào trong 2 ngày 16 và 17-8-1945. Đại hội đã nhiệt liệt tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa do Đảng Cộng sản Đông Dương kiến nghị, thông qua Lệnh Tổng khởi nghĩa và 10 chính sách lớn của Việt Minh, quyết định Quốc kỳ, Quốc ca. Đại hội đã cử ra Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam – một hình thức của Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam do lãnh tụ Hồ Chí Minh – tức Nguyễn Ái Quốc – làm Chủ tịch.

Chỉ trong vòng hai tuần lễ, cuộc Tổng khởi nghĩa do Việt Minh phát động đã thành công trên phạm vi cả nước, đưa Cách mạng tháng Tám đến thắng lợi, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 25-8-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Theo đề nghị của Người, Ủy ban giải phóng dân tộc được đổi thành Chính phủ lâm thời nhằm thực hiện sự đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các đảng phái yêu nước và các nhân sĩ tiến bộ.

Ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội đã diễn ra cuộc mít tinh chào mừng Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Đại diện Tổng bộ Việt Minh Nguyễn Lương Bằng đọc diễn văn khái quát lại vai trò, sứ mệnh lịch sử vinh quang của Mặt trận Việt Minh trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và đọc Lời hiệu triệu đồng bào cả nước, trong đó nêu rõ: Quyền độc lập của chúng ta còn mong manh. Giành chính quyền là một việc khó, giữ vững chính quyền lại càng khó hơn. Việt Minh suốt mấy năm nay kiên quyết phấn đấu, chịu bao hy sinh, đau đớn mới có được độc lập. Ngày nay chính quyền đã được thành lập, Việt Minh không cho thế là đủ. Việt Minh biết rằng: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm. Bởi vậy, Tổng bộ Việt Minh quyết lãnh đạo đồng bào san phẳng mọi trở lực đặng giữ vững quyền độc lập. Tổng bộ Việt Minh kêu gọi quốc dân đồng bào quyết tâm giữ vững độc lập đã giành được, không trông chờ vào người khác, một lòng ủng hộ Chính phủ, sẵn sàng đập tan kế hoạch xâm lược của thực dân Pháp. Khẩu hiệu của toàn dân ta lúc này là: “Đoàn kết, phấn đấu, củng cố nền độc lập”. Lúc này, ai là người yêu nước đều có bổn phận phụng sự Tổ quốc. Người có tiền giúp tiền; kẻ có sức giúp sức, người có tài trí giúp tài trí. Tất cả phải góp sức để xây dựng lâu đài dân tộc Việt Nam phú cường.

Chuyển sang thời kỳ phát triển mới của cách mạng, chính quyền nhân dân được thành lập từ Trung ương đến địa phương trong cả nước. Mặt trận Việt Minh không còn làm chức năng chính quyền như trước. Hoạt động của Mặt trận lúc này là nhằm củng cố và phát triển tổ chức Mặt trận, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, làm chỗ dựa vững chắc cho chính quyền và động viên nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ đất nước trước những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua nổi do thiên tai, địch họa gây ra như: nạn đói đe dọa sinh mạng hàng triệu đồng bào; âm mưu “tiêu diệt Đảng ta”, “phá tan Việt Minh” của 18 vạn quân Quốc dân Đảng Trung Hoa và bọn phản cách mạng Việt Nam ở phía Bắc; bọn quân Anh ở phía Nam giúp thực dân Pháp nổ súng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam từ ngày 23-9-1945.

Qua những việc làm cụ thể, đặc biệt sau sự kiện Đảng tuyên bố tự giải tán để tránh mũi nhọn tiến công của kẻ thù, vai trò Việt Minh trong đời sống chính trị của đất nước ngày càng được đề cao. Mặt trận Việt Minh – hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc – có thêm nhiều thành viên mới, cả thành viên tổ chức lẫn cá nhân. Đó là các đảng phái chính trị, các nhân sĩ yêu nước, những trí thức tiêu biểu thuộc các tầng lớp trên của xã hội.

Để phân hóa hàng ngũ các đảng phái chính trị phản động bám gót quân Tưởng, Việt Minh ký Tuyên ngôn đoàn kết với Việt Nam Cách mạng đồng minh Hội; ký Thỏa hiệp với Việt Nam Quốc dân Đảng; ký thỏa thuận với Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh đồng minh Hội về việc thành lập Chính phủ liên hiệp v.v… Nhiều đại biểu Quốc hội, Bộ trưởng trong Chính phủ là cán bộ Việt Minh đã được Quốc dân Đại hội Tân Trào bầu ra đã tự nguyện nhường lại 70 ghế trong Quốc hội cho các tổ chức, đảng phái không chỉ thể hiện đạo đức trong sáng mà còn chứng tỏ chính sách đại đoàn kết trước sau như một của Việt Minh do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã có tác dụng lôi kéo những người do dự, kể cả những người vốn có tư tưởng chống đối, về với nhân dân, với cách mạng. Bằng uy tín cá nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn quy tụ được nhiều nhân vật tiêu biểu của chế độ cũ tham gia Mặt trận dân tộc thống nhất.

Đánh giá vai trò của Mặt trận Việt Minh, Tuyên ngôn của Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt họp tháng 3-1951 nêu rõ: “Việt Minh có công lớn trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, chống quân cướp nước. Công đức ấy tất cả mọi người Việt Nam phải ghi nhớ. Lịch sử của Việt Minh 10 năm đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc cũng là những trang sử vẻ vang vào bậc nhất của dân tộc Việt Nam ta”.

Nguyễn Túc
Ủy viên Đoàn Chủ tịch
UBTƯ MTTQ Việt Nam
daidoanket.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng: Ngày ấy, bây giờ

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đập tan ách áp bức thực dân gần 100 năm và chế độ phong kiến đã tồn tại hàng nghìn năm ở nước ta, một chế độ mới ra đời – chế độ dân chủ nhân dân, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, nhưng chưa thể bắt tay vào lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải lãnh đạo cách mạng nước ta vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” giành thắng lợi trong xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng. Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định giành và giữ vững chính quyền trong và sau Cách mạng Tháng Tám.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thành quả tổng hợp của các phong trào cách mạng do Đảng phát động, lãnh đạo và duy trì trong suốt 15 năm sau ngày thành lập Đảng: Cao trào Xôviết Nghệ – Tĩnh, Cuộc vận động Dân chủ trong những năm 1936-1939 và Phong trào giải phóng dân tộc năm 1939- 1945. Đây là một trong những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong thế kỷ XX. Với thắng lợi đó, “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 năm tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 6, tr. 159).

Sau Cách mạng Tháng Tám, Chính phủ lâm thời chính thức ra mắt quốc dân đồng bào, chính quyền cách mạng từng bước được thiết lập ở tỉnh, huyện, xã. Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, cùng Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể chính trị – xã hội đã tạo nên chỗ dựa vững chắc cho chính quyền cách mạng non trẻ. Nhân dân Việt Nam ngày càng tin tưởng vào Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tích cực tham gia các phong trào cách mạng do Đảng phát động và lãnh đạo. Tuy nhiên, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta lại phải đương đầu với những khó khăn, thách thức chưa từng có. Song, với sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng nước ta vượt qua tình thế hiểm nghèo, giữ vững chính quyền cách mạng, chủ động chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc giành thắng lợi.

Thắng lợi về giành và giữ vững chính quyền trong và sau Cách mạng Tháng Tám là nhờ đường lối đúng đắn của một Đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam) trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin; luôn coi việc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa ấy là nhiệm vụ và trách nhiệm của mình. Một Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc, biết phát huy mạnh mẽ sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và ngoài Mặt trận Việt Minh; một Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo tài tình… Trong lãnh đạo tổ chức thực tiễn Đảng ấy, đã dự báo đúng đắn sự phát triển của tình hình cách mạng; thấy rõ thuận lợi và những khó khăn, thách thức; linh hoạt, sáng tạo, biết lợi dụng mâu thuẫn trong kẻ thù, cô lập kẻ thù, thêm bạn bớt thù, tập trung vào kẻ thù chính; biết nắm bắt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, vượt qua thách thức… Điều này, chủ yếu do Đảng luôn coi trọng xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Mỗi tổ chức đảng là một pháo đài chiến đấu, cán bộ lãnh đạo các cấp thực sự là những tấm gương sáng ngời vì nước, vì dân, đội ngũ đảng viên tuy không nhiều, nhưng mỗi đảng viên thực sự là một chiến sĩ tiên phong không ngại gian khổ, hy sinh kể cả tính mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Đó là những người có tính đảng cao và tình đồng chí sâu sắc; có đạo đức cách mạng trong sáng; có năng lực tư duy sáng tạo; gắn bó mật thiết với nhân dân, hoà vào dân, ăn sâu, bám chắc trong nhân dân; cùng nhân dân vượt qua biết bao khó khăn, gian khổ, hy sinh giành và giữ vững chính quyền trong điều kiện gặp nhiều khó khăn, thách thức quyết liệt và trong tình thế hiểm nghèo. Những cán bộ, đảng viên ấy, đã được dân tin, dân phục, dân yêu. Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định giành và giữ vững chính quyền trong và sau Cách mạng Tháng Tám, là bài học lớn về xây dựng Đảng ta.

Trong điều kiện hiện nay, trước yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bảo vệ toàn vẹn biên giới, biển đảo; sự diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế; sự biến đổi nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới và quan hệ quốc tế; sự phá hoại của các thế lực thù địch; một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cấp cao suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đội ngũ cán bộ cấp Trung ương là cấp chiến lược rất quan trọng nhưng chưa được xây dựng một cách cơ bản; nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức…Tình hình đó, đặt Đảng và công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH trên đất nước ta trước những khó khăn, thách thức quyết liệt mới. Bài học “xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nhân tố hàng đầu quyết định giành và giữ vững chính quyền trong và sau Cách mạng Tháng Tám” vẫn còn nguyên giá trị và có ý nghĩa lớn để Đảng xây dựng bản thân mình vững mạnh, đưa công cuộc đổi mới vượt qua khó khăn thách thức đến thắng lợi.

Đảng đã ra Nghị quyết Trung ương 4, khoá XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Ðảng hiện nay”, nhằm xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Ðể thực hiện thắng lợi Nghị quyết này, Ðảng đã đề ra bốn nhóm giải pháp. Trong đó, Nghị quyết đặt lên hàng đầu nhóm giải pháp tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên. Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp Trung ương đã tiến hành tốt công việc này, đạt kết quả quan trọng, tạo tiền đề, động lực và điều kiện thuận lợi cho cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng thực hiện tự phê bình và phê bình đúng đắn, nghiêm túc, đạt kết quả. Đây là nhân tố đặc biệt quan trọng để xây dựng Đảng ta vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, để Đảng tiếp tục xứng đáng là người lãnh đạo, người tổ chức mọi thắng lợi của công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc, toàn vẹn Tổ quốc trong điều kiện hiện nay.

PGS,TS Đỗ Ngọc Ninh
daidoanket.vn

Bức ảnh “Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số thành viên Chính phủ ”

Tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam số 90, tháng 4 năm 2001 có đăng bức ảnh với chú thích: “Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (ngày 3/11/1946)”. Đến tháng 8 năm 2002, số 121, Tạp chí này đăng lại bức ảnh này với những dòng chú thích dài và cụ thể hơn: “Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ Lâm thời (ngày 2/9/1945) – Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ảnh chụp tại cửa chính Bắc Bộ Phủ. Trong ảnh gồm có các vị (từ trái qua phải) Hàng thứ nhất: Võ Nguyên Giáp, Vũ Đình Hòe, Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Nguyễn Văn Tố; Hàng thứ 2: Nguyễn Mạnh Hà, Hoàng Tích Trí, Vũ Trọng Khánh, Dương Đức Hiền; Hàng thứ 3: Phạm Văn Đồng, Hoàng Minh Giám, Cù Huy Cận.

Chúng tôi xin được bàn thêm về bức ảnh này như sau:

Theo sử sách, chiều 2/9/1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa mà đầy đủ là Chính phủ nhân dân lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra mắt với 15 thành viên. 12 nhân vật có mặt trong bức ảnh được đặt tên là “Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (ngày 3/11/1946)” hay “Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ lâm thời (ngày 2/9/1945) – Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa” có hai vị chưa phải là Bộ trưởng thời điểm bấy giờ: Hoàng Tích Trí (ngày 3/11/1946 mới được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Y tế) và Hoàng Minh Giám (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao từ năm 1947 đến tháng 4 năm 1954); nhưng lại vắng mặt tới 5 Bộ trưởng trong Chính phủ Lâm thời lúc bấy giờ: Đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chu Văn Tấn; Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính Đào Trọng Kim; Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch; Bộ trưởng Bộ Lao động Lê Văn Hiến và Bộ trưởng Không bộ Nguyễn Văn Xuân. Như vậy, nếu chú thích đúng phải là “Chủ tịch Hồ Chí Minh với một số thành viên Chính phủ…”.

lịch trinhẢnh tư liệu gia đình cố luật gia Vũ Đình Hòe cung cấp.

Cụ Vũ Đình Hòe, cố Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục đầu tiên của Chính phủ nhân dân lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn kể rằng:

“Vào những năm đầu thập niên 1960 của thế kỷ trước, có một người học trò cũ của tôi làm việc ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự ghé thăm tôi ở nhà riêng 27, Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Anh ấy đem cho tôi bức ảnh này và dặn:

– Thầy cất đi! Em thấy cái ảnh này nằm trong trong đống tài liệu. Thấy có thầy, em giữ lại để thầy làm kỷ niệm.

Do anh Vũ Thế Khôi (Trưởng nam của cụ Vũ Đình Hòe – SK&NC) công khai, sau đó ít lâu bức ảnh này được một vài tờ báo và tạp chí trong nước đăng tải với những chú thích khác nhau. Rồi Thông tấn xã Việt Nam có giấy giới thiệu cử người đến gặp tôi xin chụp lại để làm tài liệu lưu trữ. Sau ngày thống nhất nước nhà, bức ảnh cũng đã được đăng ở vài tờ báo khác nữa, mỗi tờ chú thích khác nhau”.

– Thưa cụ, cụ còn nhớ ai chụp bức ảnh này không ạ? – Tôi hỏi.

– Tôi không nhớ ai chụp đâu. Vì tới gần 20 năm sau tôi mới có được bức ảnh quý giá này. Có thể là của anh Nguyễn Bá Khoản.

Cùng ngồi “hầu chuyện” cụ hôm đó còn có người thầy dạy tiếng Nga cho tôi thời sinh viên là Nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi. Thầy Khôi nửa đùa nửa thật hỏi:

– Sao cụ nhanh chân thế! Đứng ngay bên phải Cụ Hồ?

Cụ Hòe nghiêm sắc mặt lại rồi nói tiếp:

– Từng vị trí trong ảnh này là do Bác Hồ sắp xếp. Người đầu tiên là anh Trần Huy Liệu, bên trái. Rồi đến tôi – bên phải. Bác xếp theo kiểu tả tướng quân, hữu tướng quốc.

Tôi hỏi tiếp:

– Thưa cụ, cụ nhớ bức ảnh này được chụp ở đâu không ạ?

Cụ đáp:

– Bức ảnh được chụp ở bậc tam cấp chánh tòa Đông Dương đối diện với nhà Thủy Tạ bên Hồ Gươm. (Tòa này sau đó bị phá đi, thay bằng nhà vệ sinh công cộng và sân tập bóng rổ, đến những năm đầu thập niên 1990, dự án khách sạn Hà Nội Vàng cao 15 tầng không thành và được thay bằng tòa nhà của Bảo Việt hiện nay)

Có nghĩa là những dòng chú thích về bức ảnh “Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ lâm thời (ngày 2/9/1945), Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa” hay “Chính Phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 3/11/1946)” chụp tại Bắc Bộ Phủ đều chưa chính xác.

Cố luật gia, cố Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục đầu tiên sau đó là Bộ trưởng Bộ Tư pháp (1946-1961) của chế độ Dân chủ cộng hòa Vũ Đình Hòe hiện đã qua đời nhưng câu chuyện cụ kể cho chúng tôi về bức ảnh như là một lời nhắc nhở rằng, trong bất kỳ sự kiện nào người chụp ảnh báo chí, biên tập ảnh báo chí cần bảo đảm tính thông tin chính xác về bức ảnh được đăng tải.

Theo NSNA Trần Định/ Báo Quân đội nhân dân
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Kỷ niệm về những ngày Hồ Chủ tịch viết Tuyên ngôn độc lập

Gia đình bà Hoàng Thị Minh Hồ ở 48 Hàng Ngang (Hà Nội) không chỉ là cơ sở bí mật của các cán bộ cao cấp mà còn là nơi che giấu cho Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo Bản Tuyên ngôn độc lập. Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Cách mạng Tháng Tám, bà đã kể lại những kỷ niệm đó.

“Một hôm, cuối Tháng Tám năm 1945, anh Thận (tên gọi thân mật của đồng chí Trường Chinh) đến nói với tôi: “Chị lo một chỗ cho mấy Cụ về”. Thấy vẻ mặt anh Thận khác mọi lần, tôi linh cảm có điều gì quan trọng, nhưng không dám hỏi thêm. Tối hôm đó, có ba người lạ đến, trong đó có một ông Cụ dáng cao, người gầy, nhưng đôi mắt rất sáng và vầng trán rộng. Tôi băn khoăn không hiểu ông Cụ là ai mà mọi người kính trọng yêu thương như tình cha con trong gia đình lễ giáo vậy! Tôi thầm nghĩ, ông Cụ là một người có cương vị tối cao.

Theo kế hoạch của Thường vụ Trung ương Đảng, ngày 23/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội chuẩn bị cho Lễ Tuyên ngôn độc lập và Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào. Trong những ngày đầu cách mạng, Hồ Chủ tịch và các cán bộ trong Thường vụ Trung ương gặp muôn vàn khó khăn nguy hiểm bởi hàng ngày, hàng giờ kẻ thù luôn rình rập ám hại Chủ tịch hòng dập tắt phong trào cách mạng. Trong điều kiện “ngàn cân treo sợi tóc” đó, có những gia đình không quản hy sinh tính mạng và của cải, hết lòng vì cách mạng, cùng với lực lượng Cảnh vệ che giấu, bảo vệ Bác Hồ và Thường vụ Trung ương. Một trong những gia đình đó là gia đình bà Hoàng Thị Minh Hồ.

Gia đình bà Hồ đã ủng hộ cách mạng và hiến cho Nhà nước hàng nghìn cây vàng (chỉ tính riêng quỹ Độc lập, gia đình bà đã ủng hộ số tiền tương đương 500 cây vàng). Gia đình bà còn là cơ sở bí mật của nhiều cán bộ cấp cao như Nguyễn Lương Bằng, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…

Hàng ngày bị cuốn hút bởi bao công việc, tôi vẫn canh cánh lo toan phần việc trên gác 2 nhà mình, cắt cử người nhà cơm nước và làm mọi việc trong nhà, không ai được lên tầng 2. Đêm nào tôi cũng nghe tiếng máy chữ của ông Cụ rất khuya. Chuông đồng hồ điểm 12 tiếng, đèn trên phòng của Cụ mới tắt, nhưng đồng hồ điểm 5 tiếng, đã thấy ông Cụ dậy tập thể dục ngoài ban công.

Tối 1/9/1945, ông Nguyễn Lương Bằng đưa cho tôi một tấm thiếp mời của Ban Tổ chức Chính phủ lâm thời do Cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch ra mắt Quốc dân tại vườn hoa Ba Đình. Gần 10h sáng hôm sau, tôi mới vào được khu vực khách mời dự, sát lễ đài. Hai giờ chiều, buổi lễ bắt đầu, tiếng hô to, kéo dài vang vọng: “Chào cờ…”. Cả biển người im phăng phắc. Đoàn quân nhạc cử Quốc ca. Người tôi sởn gai ốc, nước mắt lăn dài trên hai gò má. Dứt tiếng Quốc thiều, mắt đang nhòa lệ, tôi nhìn lên kỳ đài thấy ông Cụ – người đã từng ở gác 2 nhà tôi. Đó chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh đang dõng dạc hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Lời Người nghe như lời non nước vọng lại làm cả biển người đồng thanh hô vang: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Nước mắt tôi lại trào dâng, cảm giác ngây ngất, nhưng vẫn nghe rõ lời ông Cụ đọc. Tôi lại bâng khuâng liên tưởng đến những đêm với tiếng máy chữ của ông Cụ gõ trong khuya, tạc lên áng văn rửa nỗi nhục mất nước ngót trăm năm và khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Một tuần sau ngày Cụ Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, Cụ cho gọi vợ chồng tôi lên gặp. Chưa hiểu có chuyện gì, trong lòng thấy lo. Tôi nghĩ, hay mình làm việc gì không phải để Cụ không hài lòng. Khi vợ chồng tôi lên, thấy ông Cụ cầm một chiếc ngà voi, trên có khắc một đàn voi, vòi con nọ quấn lấy con kia. Trao món quà cho tôi, Cụ mỉm cười nói rất thân mật:

– Bác và Thường vụ tặng gia đình cô món quà, chúc gia đình và cách mạng đoàn kết như đàn voi này.

Nhận món quà từ tay Cụ Hồ trao, tôi xúc động quá, tự nhiên thấy cay cay nơi sống mũi, rồi nước mắt cứ ứa ra, muốn nói mà ấp úng mãi mới thành lời:

– Thưa Cụ, gia đình cháu xin cảm ơn Cụ, cảm ơn cách mạng, nguyện suốt đời đi theo cách mạng.

Thời gian thấm thoắt trôi đi, nhưng những kỷ niệm về Bác Hồ trong những ngày đầu cách mạng vẫn in sâu trong ký ức tôi. Giờ đây, đến thăm lại nơi Bác làm việc trong những ngày đầu cách mạng ở tầng hai ngôi nhà 48 Hàng Ngang mà gia đình tôi đã hiến cho Nhà nước, tôi như thấy Bác đang ngồi kia vạch đường chỉ lối, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến bến bờ vinh quang, hạnh phúc”.

Theo Quân Đội Nhân Dân
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Lịch trình Bác Hồ về Hà Nội dự Lễ Quốc khánh đầu tiên – Ngày 2/9/1945

Trong những ngày cuối tháng 8 năm 1945, sau Tổng khởi nghĩa –  Cách mạng Tháng Tám thành công, Biên niên sử Hồ Chí Minh (tới năm 1945) ghi các sự kiện lớn như sau:

– Ngày 22 tháng 8: Sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Tân Trào về Hà Nội. Người chưa khỏi bệnh, còn mệt nhiều, có lúc phải nằm cáng.

– Ngày 26 tháng 8: Buổi sáng, tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng chuẩn bị ra Tuyên ngôn độc lập.

Lich trinh Bac Ho ve HNChủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 (Ảnh tư liệu)

– Ngày 27 tháng 8: Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập cuộc họp của Ủy ban Dân tộc giải phóng. Người được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

– Ngày 28 và ngày 29 tháng 8: Từ nơi ở là ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh hàng ngày tới làm việc tại ngôi nhà số 12 phố Ngô Quyền – trụ sở của Chính phủ lâm thời. Người dành phần lớn thì giờ soạn thảo Bản Tuyên ngôn độc lập. (Báo cáo viên năm 2005, Ban TT- VH, trang 230).

Ngày 2/9/1945 diễn ra cuộc mít tinh vô cùng trọng thể tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội): Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên đọc Bản Tuyên ngôn độc lập và ra mắt Chính phủ lâm thời…

Ông Nguyễn Thu Cờ, một cán bộ ngành Công an Hà Nội đã chứng kiến và ghi chép thêm những sự kiện lớn về Bác Hồ trong những ngày từ Tân Trào tới Hà Nội với một lịch trình chi tiết như sau:

– Buổi tối ngày 24/8/1945, Bác Hồ đến nghỉ tại nhà ông Công Ngọc Kha (tức Trần Lộc) ở làng Gạ (nay là làng Phú Gia, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm) ngoại thành Hà Nội, là một cơ sở cách mạng tin cậy.

– Sáng ngày 25 tháng 8: Tại làng Ga, Bác Hồ nghe ông Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh báo cáo tình hình khởi nghĩa ở Hà Nội. Đến buổi chiều, Người đi ô tô vào Hà Nội. Ông Trường Chinh đón Bác cùng đi đến số nhà 48 Hàng Ngang (nhà của vợ chồng ông Trịnh Văn Bô là một thương gia đã tham gia phong trào Việt Minh ở Hà Nội).

– Ngày 27 tháng 8: Ngay tại số nhà 48 Hàng Ngang, sau khi soạn thảo văn kiện lịch sử “Tuyên ngôn độc lập” Bác Hồ có tâm sự với ông Vũ Đình Hòe, Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục là Người cảm thấy xúc động và phấn khởi. Trong những giờ phút ấy, Người đã trải qua ốm nặng nhưng hơn bao giờ hết Người thấy sảng khoái, minh mẫn, khỏe mạnh khi Người nghĩ rằng Người sẽ được tuyên bố với đồng bào mình và trên thế giới rằng “sau bao nhiêu năm gian khổ hy sinh, nhân dân Việt Nam cuối cùng cũng đã đạt được mục đích thiêng liêng”.

Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các vị Bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Ủy ban Dân tộc giải phóng để quyết định cải tổ mời thêm một số nhân sĩ tham gia Chính phủ để cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề mà quốc dân giao phó cho. Ngày 28 tháng 8, khi đưa ra Bản Tuyên ngôn độc lập để góp ý, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra hiệu cho ông Hoàng Minh Giám, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao đọc lên Bản Tuyên ngôn đồng thời phát cho mỗi Bộ trưởng một bản sao đánh máy để các vị ghi ý kiến đóng góp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sửa đổi vài ba ý kiến nhỏ, xong mọi người tán thành, rồi ký tên. Sau đó có chụp ảnh lại.

– Chiều ngày 28 tháng 8, Ban Tổ chức Thành bộ Hà Nội mở cuộc họp đưa ra việc cần kíp xây dựng một Lễ đài Độc lập uy nghi xứng đáng một Lễ đài Độc Lập.

– Ngày 29 tháng 8 bản thông báo được đăng trên các báo với nội dung: “Ngày 02/9/1945 Chính phủ lâm thời cách mạng sẽ làm lễ ra mắt quốc dân đồng bào, tuyên bố độc lập tại vườn hoa Ba Đình, đồng bào nào có nhiệt tâm góp sức, góp của vào việc tổ chức ngày lễ hết sức trọng đại này. Vậy đồng bào nào có thể đảm nhiệm được trọng trách này. Ngay sau đó có họa sĩ Lê Văn Đệ xin dựng Lễ đài, tiếp theo sau đó có kiến trúc sư Ngô Đình Quỳnh vẽ bản thiết kế lễ dài, vị trí dựng lễ đài, chiều cao, chiều rộng. Ban tổ chức giao cho hai anh Ngô Đình Quỳnh và Lê Văn Đệ thiết kế, thi công và trang trí.”

– Đúng 5 giờ sáng ngày 02/9/1945, Ban Tổ chức nghiệm thu công trình. Sau 48 giờ, Lễ đài Độc lập hoàn thành tại Quảng trường Ba Đình, đã được ghi vào lịch sử của dân tộc.

– Từ 10 giờ sáng ngày 02/9/1945, các đoàn thể các giới bao gồm công nhân, viên chức ở các công sở, các nhà máy đóng tại Hà Nội, các đoàn thể Thanh niên, Phụ nữ cứu quốc ở các khu phố, nữ tiểu thương ở các chợ, anh chị em nông dân ở ngoại ô tỉnh Hà Nội, học sinh Trường Bưởi, Trường nữ sinh Đồng Khánh, Trường tư thục Gia Long, Trường Thăng Long, các đoàn thể hướng đạo sinh, anh em Cảnh sát cứu quốc. Ngoài ra, còn có hai chi đội quân giải phóng từ chiến khu Việt Bắc trở về phối hợp với anh em Công an cách mạng đầu tiên ở Bắc Bộ và Hà Nội làm nhiệm vụ trật tự và bảo vệ.

– Đúng 14 giờ chiều ngày 02/9/1945, Thành bộ Hà Nội tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại Quảng trường Ba Đình trước hàng chục vạn đồng bào Hà Nội. Trên lễ đài cao và trang nghiêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông nam Châu Á.

Tiếp đó, toàn thể các Bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời làm Lễ Tuyên thệ trước quốc kỳ “cờ đỏ sao vàng” cùng với toàn thể đồng bào đứng nghiêm chỉnh ở Quảng trường Ba Đình giơ tay hô lớn “Xin thề”. Sau Lễ Tuyên thệ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp trình bày về tình hình đánh thắng Pháp ở hai trận Phay Khắt và Nà Ngần ở tỉnh Cao Bằng và phá tan 500 quân Nhật đánh vào Tân Trào, Hồng Thái. Tiếp theo, Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu báo cáo với đồng bào về việc đoàn đại biều của Chính phủ lâm thời đi Huế nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại và chiếc “quốc ấn”, “quốc kiếm”. Như vậy, ách đô hộ của thực dân Pháp bị lật đổ (1858- 1945) và chế độ phong kiến nhà Nguyễn đã cáo chung (1802- 1945).

Cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh bước ra Lễ đài lần nữa, hô hào nhân dân cả nước quyết hy sinh giữ vững nền độc lập mới giành được và ủng hộ Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hoà mới thành lập.

Theo Vương Liêm/Ủy ban MTTQ Thành phố Hồ Chí Minh
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn