Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Thư gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân (3-12-1925)

Kính gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân,

Các đồng chí thân mến,

1/ Tôi đã hỏi ý kiến C.E.C 1 của C.C.P 2 vấn đề về những quan hệ trực tiếp của tôi với C.E.C của Quốc dân đảng với tư cách là đại diện chính thức của các đồng chí. Các đồng chí của chúng ta nói rằng điều đó là không cần thiết, bởi vì tôi có thể có tất cả mọi thông tin liên quan tới vấn đề nông dân thông qua các đồng chí đảng viên cộng sản Trung Quốc của chúng ta. (Mặc dù Chủ tịch Nông hội ở trong Quốc dân đảng, tất cả mọi công việc – tổ chức cũng như tuyên truyền đều do các đồng chí của chúng ta làm).

2/ Quốc dân đảng đang xuất bản tạp chí “Nông dân” bán nguyệt san, bắt đầu từ tháng này. Số đầu tiên sẽ ra mắt trong vài ngày tới. Tôi sẽ gửi tới các đồng chí.

3/ Tiếp theo là phong trào nông dân diễn ra hằng ngày (trên Nhật báo Quảng Châu) 3 và tranh ảnh đã được xuất bản trong cuộc họp nông dân tháng 5 vừa qua.

4/ Xin gửi cho tôi tư liệu về phong trào nông dân quốc tế (bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh) để dịch và đǎng tải trên tạp chí Quốc dân đảng.

Gửi các đồng chí lời chào cộng sản.

Quảng Châu, ngày 3-12-25. Nilốpxki (naq)

—————————

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Lênin và các dân tộc thuộc địa (1925)

Cho tới ngày Lênin mất, vẫn còn có nhiều dân tộc thuộc các màu da chưa hiểu rõ Lênin là ai và nước Nga ở đâu. Bởi vì chủ nghĩa đế quốc thực dân cố ý không cho họ biết điều đó. Nhưng tại những nơi xa xǎm hẻo lánh ở Đông Dương, người ta cũng đã nghe nói có một dân tộc ở miền Bắc xa xôi đã đánh đuổi được bọn áp bức và tự quản lý lấy mình. ở các nơi xa xǎm hẻo lánh nhất, người ta cũng biết rằng nước đó là nước Nga, và Lênin là người ưu tú nhất của nước đó.

Không phải là không có lý do khi Trường đại học Bắc Kinh tổ chức thǎm dò ý kiến xem ai là người ưu tú nhất trên thế giới, thì ai cũng trả lời: người ưu tú nhất trên thế giới là Lênin.

Từ lâu, nhân dân bị áp bức ở phương Đông đã được biết rằng con người vĩ đại đó, sau khi đã giải phóng nước Nga, còn muốn giải phóng tất cả các dân tộc khác nữa. Điều này cũng đủ để kích thích lòng ngưỡng mộ sâu sắc và phấn khởi đối với lãnh tụ Lênin. Các dân tộc da đen và da vàng biết rằng Lênin vĩ đại đã kêu gọi những người da trắng đấu tranh để giải phóng các dân tộc thuộc các màu da bị áp bức thoát khỏi bọn bóc lột.

Thật dĩ nhiên là tất cả những hy vọng của người nô lệ bị áp bức ở các nước thuộc địa vào một tương lai tốt đẹp đều gắn liền với tên tuổi của Lênin – một con người đặc biệt mà trong thời gian đầu, thậm chí còn có nhiều người chưa tin là có. Rất dễ hiểu rằng tin Lênin mất cách đây một nǎm đã gây cho quần chúng các nước thuộc địa một ấn tượng không sao tả nổi, không sao diễn tả được.

Nhưng dần dần những người bị áp bức sống trong cảnh tǎm tối

đó được biết tin về Đảng Cộng sản, về tổ chức gọi là Quốc tế Cộng sản. Nhất là họ càng ngạc nhiên khi được tin rằng Đảng và tổ chức này đều do Lênin sáng lập ra, và mặc dù Lênin đã mất, nhưng còn có Đảng Cộng sản và Quốc tế Cộng sản tiếp tục sự nghiệp của Người.

Các dân tộc da đen và da vàng kém phát triển chưa phải đã nhận ra ngay rằng Lênin và Đảng Cộng sản chỉ là một. Nhưng khi họ biết điều đó thì họ sung sướng vô hạn. Họ bắt đầu hiểu rằng sự nghiệp của Lênin không bao giờ mất, và họ vẫn hy vọng được giải phóng vì vẫn còn Đảng của Lênin.

Vì vậy, nǎm vừa qua, kể từ ngày Lênin mất, ảnh hưởng của Đảng Cộng sản được lan rộng trong nhân dân các nước thuộc địa và nhân dân những nước đó hết sức chú ý đến Đảng Cộng sản.

Khi Lênin còn sống, nhân dân bị áp bức coi Người là người giải phóng mình. Khi Người mất đi, họ tự hỏi nhau: “Lênin đã mất rồi, chúng ta biết làm sao bây giờ?”. Họ hỏi nhau: “Tìm đâu ra những người có đủ tinh thần dũng cảm và nhân từ như Lênin để chǎm lo đến việc giải phóng những người nô lệ ở các nước thuộc địa?”.

Trong nǎm qua, nhân dân bị áp bức ở các nước phương Đông đã nhận ra rằng, họ đã tìm thấy một Đảng lớn mạnh lấy tên là Đảng Lênin để thay thế cho một vài cá nhân. Và bây giờ, nhân dân các nước thuộc địa đều đặt hy vọng được giải phóng vào Đảng này cũng như một nǎm trước đây đã đặt hy vọng vào Lênin.

Khi còn sống, Lênin là người thầy, người cha của nhân dân bị áp bức. Sau khi mất, Người là ngôi sao chỉ đường tiến tới sự nghiệp giải phóng vĩ đại của nhân dân bị áp bức.

Lênin sống mãi trong lòng mọi người dân nô lệ ở các nước thuộc địa!

NGUYỄN ÁI QUỐC Đại diện Đông Dương ở Quốc tế Cộng sản

—————————

Báo Công nhân Bacu (Liên Xô), số 16, nǎm 1925
cpv.org.vn

Việt Nam vững bước tiến cùng thời đại

(VOV) – Chính phủ và nhân dân Việt Nam đang nỗ lực, sáng tạo để vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục xây dựng và bảo vệ đất nước.

Tối 31/8 tại Trung tâm Hội nghị quốc tế 11 Lê Hồng Phong, Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng phu nhân chủ trì Tiệc chiêu đãi Đoàn Ngoại giao nhân dịp kỷ niệm 67 năm Quốc khánh 2/9.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Tiệc chiêu đãi

Tham dự có các Phó Thủ tướng: Nguyễn Xuân Phúc và Vũ Văn Ninh; lãnh đạo các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và Hà Nội. Về phía Đoàn Ngoại giao có Ngài Jorge Rondon Uzcategui, Đại sứ Cộng hòa Bolivar Venezuela, quyền Trưởng Đoàn Ngoại giao cùng đông đảo các vị Đại sứ, Đại biện, Trưởng Đại diện các Tổ chức quốc tế tại Hà Nội….

Thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhiệt liệt chào mừng các vị Đại sứ, Đại biện, Trưởng Đại diện các Tổ chức quốc tế đến dự cuộc gặp thân mật kỷ niệm 67 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên của độc lập, tự do và tiến bộ xã hội.

Thủ tướng nhấn mạnh: Trong 67 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, nhân dân Việt Nam đã anh dũng, kiên cường vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ để giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, xây dựng đất nước ngày càng phát triển, giàu mạnh, hội nhập quốc tế thành công và đoàn kết, chung sức, vững tin, vững bước tiến cùng thời đại, xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Ngài Jorge Rondon Uzcategui, Đại sứ Cộng hòa Bolivar Venezuela, quyền Trưởng Đoàn Ngoại giao phát biểu

Chính phủ và nhân dân Việt Nam đang nỗ lực, sáng tạo để vượt qua những khó khăn, thách thức, tiếp tục xây dựng và bảo vệ đất nước, trong đó ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, duy trì mức tăng trưởng hợp lý, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh, chủ quyền quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

Thủ tướng bày tỏ vui mừng trước quan hệ giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế có bước phát triển mới, tiếp tục được củng cố, phát triển và đi vào chiều sâu.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng: Với phương châm “là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của Cộng đồng quốc tế”, Việt Nam đang chủ động, tích cực hội nhập toàn diện với thế giới và khu vực, có nhiều đóng góp tại các diễn đàn quốc tế như: ASEAN, Diễn đàn Cấp cao Đông Á (EAS), Phong trào không liên kết, các diễn đàn trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc. Việt Nam tiếp tục thực hiện những cam kết gia nhập WTO, thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực, tham gia đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)…

Thủ tướng gửi lời cảm ơn chân thành tới Chính phủ và nhân dân các nước trên thế giới, các vị Đại sứ, Đại biện và Trưởng đại diện các Tổ chức Quốc tế về những tình cảm tốt đẹp, sự ủng hộ quý báu, sự hợp tác có hiệu quả đã dành cho nhân dân và đất nước Việt Nam trong thời gian qua. Trên con đường phát triển và hội nhập, cùng với những nỗ lực phát huy tối đa nguồn lực trong nước, Việt Nam mong muốn tiếp tục nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ và hợp tác nhiều hơn nữa của bạn bè quốc tế.

Thủ tướng khẳng định: “Chúng tôi tin tưởng chắc rằng hợp tác, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau, coi trọng lợi ích của nhau là nền tảng, là phương cách căn bản, quan trọng và hiệu quả nhất để chúng ta cùng nhau vượt qua khó khăn vì mục tiêu hòa bình và phát triển”.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và phu nhân chúc tiệc các vị khách

Thay mặt Đoàn Ngoại giao, Ngài Jorge Rondon Uzcategui, Đại sứ Cộng hòa Bolivar Venezuela, quyền Trưởng Đoàn Ngoại giao đã gửi lời chúc mừng nồng nhiệt nhất tới Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 67 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; bày tỏ chia sẻ niềm tự hào dân tộc với nhân dân và Chính phủ Việt Nam về khoảnh khắc Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam…

Ngài Jorge Rondon Uzcategui tin tưởng Việt Nam tiếp tục giành chiến thắng trong công cuộc đưa đất nước ngày càng thịnh vượng, trở thành một nước phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; khẳng định rất nhiều các quốc gia khác cùng hợp tác với Việt Nam để cùng phát triển.

Ngài Jorge Rondon Uzcategui bày tỏ: “Chúng tôi nhận thấy quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước đang phát triển từng ngày. Nhiều Đại sứ quán mới được mở ra tại Hà Nội và Việt Nam cũng đã thiết lập các cơ quan ngoại giao mới trên toàn thế giới. Đồng thời Việt Nam đã xây dựng những nhịp cầu hữu nghị bền chặt, đoàn kết và hợp tác với nhiều khu vực. Có được chính sách ngoại giao chủ động như vậy là nhờ vị thế của Việt nam với tư cách là một đối tác đáng tin cậy, một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, với những cam kết hội nhập quốc tế, hòa bình, hợp tác, phát triển và đa phương hóa.

Chúng tôi sẽ làm hết sức mình vì sự thịnh vượng và phát triển của nhân dân Việt Nam. Đây chính là sự tiếp nối cần thiết để thực hiện Tuyên ngôn trí tuệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cũng là mong muốn của tất cả chúng ta: Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, có quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc và tự do…/.

Thành Chung/VOVTV
vov.vn

Hồn Việt, bản sắc Việt trong “Tuyên ngôn Độc lập”

Một sự kiện cách đây 67 năm, không những đi vào lịch sử nước ta mà còn hiện diện vinh danh trong lịch sử thế giới. Đó là ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập(TNĐL), khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Bản Tuyên ngôn Độc lập là áng văn bất hủ, sánh vai cùng nhiều áng “thiên cổ hùng văn” mà ông cha ta đã để lại trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, sau “áng thơ thần bên sông Như Nguyệt”: Nam quốc sơn hà Nam đế cư… gắn với cuộc kháng chiến chống giắc Tống xâm lược của Lý Thường Kiệt, như Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo thống lĩnh toàn dân ba lần đánh bại giặc Nguyên – Mông, hay Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi “Tuyên cáo” về chiến thắng vẻ vang của cuộc kháng chiến trường kỳ đánh đuổi giặc Minh đô hộ dưới ngọn cờ của minh quân Lê Lợi…

Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định về mặt pháp lý quyền làm chủ của nhân dân ta, từ địa vị nô lệ đứng lên giành độc lập, tự tổ chức ra nhà nước của mình. Áng hùng văn bất hủ này thực sự là một Di sản văn hóa và tư tưởng Việt Nam để khẳng định quyền tự chủ của dân tộc. Đọc TNĐL của Bác Hồ, chúng ta nhận ra qua từng lời văn với ngôn ngữ rất chắt lọc của Bác, không những mang tính pháp lý hiện đại, có tầm quốc tế về nội dung, mà còn mang đậm hồn Việt, bản sắc văn hóa dân tộc Việt.

Trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc lại cuộc kháng chiến giành độc lập của Hoa Kỳ, do Thô-mat Giê-phe-son soạn thảo. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thay đổi một ý so với bản tuyên ngôn của Thô-mat Giê-phe-son. Câu “Chúng tôi ủng hộ một sự thật hiển nhiên rằng mọi người đều sinh ra bình đẳng” thì Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ngắn gọn, dễ hiểu hơn:“Mọi dân tộc sinh ra đều bình đẳng”. Quả là một sự thay đổi khéo léo và sáng suốt theo văn phong Việt, phong cách Việt, tính quần chúng hóa rất cao.

Từ chỗ mọi người, Bác đã đưa ra khái niệm lớn hơn, bao quát hơn: Mọi dân tộc, mang đầy đủ ý nghĩa quốc tế vô sản. Đó là một sự suy rộng mang đậm nét Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nguyên văn trong TNĐL, Bác Hồ dùng cách diễn đạt “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là giấy khai sinh cho một Nhà nước Việt Nam theo thể chế Dân chủ vì mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc mà còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng nhân loại bằng sự suy rộng ra thành chân lý mang tầm thời đại. Cũng theo quan điểm, tư tưởng quốc tế vô sản, từ cách nhìn “toàn cầu hóa”, tháng 5-1969, trong Di chúc để lại cho muôn đời con cháu mai sau, Người đã viết: “… Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình. Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc đã dẫn biện: Cũng bình luận về đoạn trích dẫn này, một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam người Hoa Kỳ, bà La-dy Bo-rơ-ton, còn đưa ra nhận xét rằng khi dịch chữ “all men” trong văn bản của Thô-mat Giê-phe-son vào thời được viết, thế kỷ XVIII, chỉ bao hàm những người đàn ông (đương nhiên là da trắng và có tài sản) đã được Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập diễn dịch thành “Tất cả mọi người” mà trên thực tế được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam bao gồm tất thảy các công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, sắc tộc hay chính kiến. Đó chính là một sự “suy rộng” nữa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại cho TNĐL năm 1776 của nuớc Mỹ những tiến bộ của nhân loại gần 2 thế kỷ sau đó.

Giá trị rất quan trọng của TNĐL là một văn bản pháp lý rất hiện đại phù hợp với sự phát triển của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của tất cả các dân tộc bị áp bức, bị nô dịch trên thế giới. Nó khẳng định địa vị pháp lý của nền độc lập và chủ quyền một quốc gia với toàn thế giới, nhất là cộng đồng các quốc gia, các dân tộc đang vươn tới giành tự do, độc lập. Đánh giá về quá trình khởi thảo bản TNĐL, một sĩ quan tình báo Hoa Kỳ, ông A-Pat-ti, phụ trách đơn vị OSS cộng tác với Việt Minh trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, cho rằng: Ngay sau khi nhận được tin phát xít Nhật đầu hàng, nhận thấy thời cơ đã tới, Hồ Chí Minh “đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng, vì ông phải bảo đảm chiếm được một chỗ đứng vững chắc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ông Hồ biết rằng, ông phải làm cho mọi người thấy rõ cả tính hợp pháp lẫn sức mạnh để giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào…”.

Để nâng cao giá trị của bản TNĐL vừa mang tính hiện đại, khoa học, dân tộc và đại chúng, sau khi soạn thảo, Bác đã đem bản thảo trao đổi để lấy ý kiến không chỉ đối với các đồng chí trong đoàn thể của mình mà còn đọc cho những người dân bình thường nghe, với lòng mong muốn nó đến được với mọi đồng bào của mình để làm cho họ có ý thức về một biến cố lịch sử rất to lớn đối với vận mệnh của cả dân tộc.“Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”… Riêng câu nói đó trước khi chính thức đọc bản TNĐL tại Quảng trường Ba Đình đã toát lên tính dân tộc, tính đại chúng trong cách nói và viết của Người. Nó thực sự gần gũi với vận mệnh của mỗi con người, nay đã được gọi là công dân của một nước độc lập theo mục tiêu của một thể chế ưu việt: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.

Trích dẫn những câu chữ rất chọn lọc trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp, Bác Hồ muốn mọi công dân Việt Nam và các dân tộc trên thế giới hiểu rằng: Hai nước thực dân, đế quốc to trên thế giới “tuyên bố” như thế, nhưng lại đi xâm lược, tước đoạt quyền tự do, độc lập của các dân tộc khác. Từ đó, lên án thực dân Pháp, đứng sau là quan thầy Mỹ, đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái để cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta trong 80 năm, trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Sử dụng những trích dẫn ấy, vị Chủ tịch của Nhà nước Việt Nam độc lập còn muốn khẳng định rằng ngay cách mạng Việt Nam cũng là sự nối tiếp trên con đường phát triển tất yếu của nhân loại. Những gì đã diễn ra sau cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã minh chứng một sự thực về nguyện vọng giải phóng của các nước nhỏ khỏi sự đè nén của các nước lớn.

Để chứng minh cái quyền tất yếu của dân tộc ta: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Đó là “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Đây là một Tuyên bố Nhà nước, một văn bản Quốc gia chính thức. Vì thế, theo thông lệ của các chuẩn mực, người viết đã chọn dùng ngôn ngữ luật pháp chứ không phải ngôn ngữ hành chính để thể hiện. Theo đó, tác giả đã không xuất phát từ cái ý chủ quan của riêng mình mà bắt đầu văn bản bằng việc nêu lên một chân lý khách quan, vốn đã thấy trên chính trường quốc tế.

Cách mạng Tháng Tám thành công đã khai sinh ra một nước Việt Nam độc lập. Nước Việt Nam độc lập thì tiếng Việt cũng được độc lập. Độc lập là tiếng nói và chữ viết trở thành chính danh. Mệnh đề ấy rất đơn giản nhưng lại hoàn toàn không đơn giản chút nào trong sự nghiệp đấu tranh cho văn hoá của dân tộc Việt Nam.

Tiếng Việt “là thứ của cải vô cùng lâu đời, vô cùng quý báu của dân tộc” (Hồ Chí Minh, 1962), là công cụ hữu hiệu trong phát triển và giữ gìn văn hoá Việt Nam suốt chiều dài lịch sử. Nhưng tiếng Việt, cho đến ngày Cách mạng Tháng Tám, mới thật sự là thứ ngôn ngữ chính danh. Bản Tuyên ngôn Độc lập mà Hồ Chủ tịch đọc ngày 2 -9-1945 là một minh chứng cho điều tiếng ta đã thật sự trở thành một tiếng độc lập.

Theo GS.TS. Đinh Văn Đức: Các văn kiện nổi tiếng về nền độc lập dân tộc như bài thơ “Nam quốc sơn hà”, hay “Bình Ngô Đại cáo”… đều được viết bằng chữ Hán. Phải đến “Tuyên ngôn Độc lập” (1945) của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới có một văn kiện chính thức đầu tiên về nền Độc lập dân tộc được viết bằng tiếng Việt, chữ Việt một cách chính danh. Ngôn ngữ “Tuyên ngôn Độc lập” là một tuyệt phẩm của tiếng Việt chuẩn mực và hiện đại – Một hòn ngọc văn hoá có giá trị rất quý báu và trường tồn lâu dài, như chính hồn Việt, dân tộc Việt, con người Việt.

Ngôn ngữ “Tuyên ngôn Độc lập” là ngôn ngữ chính luận của một áng hùng văn đầy cảm xúc và của một ý chí sắt đá. Thành công của ngôn ngữ trong văn bản này có thể nhận thấy trên nhiều phương diện. Bản TNĐL có ba nội dung quan trọng, vừa mang tính khẳng định, vừa là lời hiệu triệu hùng hồn, với những tu từ học và ngắt câu, chốt câu rất độc đáo:

“… Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta.

Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

… Nhật tước khí giới của quân đội Pháp.

Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng.

Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”.

Đã là tuyên ngôn thì phải nói ngay được cái chân lý, cái cốt lõi. Các phân tích ngôn từ triển khai tiếp theo sẽ bám vào đó mà thể hiện các lập luận. Ngôn ngữ văn bản này được viết rất giản dị nhưng tổ chức cực kỳ chặt chẽ. Các liên kết lô gích và liên kết mạch lạc làm nòng cốt cho việc triển khai các lập luận cơ bản. Đó liên tục là một chuỗi của các lập luận: Lập luận về quyền dân tộc, lập luận về việc thực dân Pháp vi phạm các quyền đó, lập luận về thời cơ của vận nước, lập luận về quyền và trách nhiệm của dân tộc Việt Nam, lập luận về quyết tâm của chính phủ và nhân dân Việt Nam trong việc giữ gìn quyền độc lập và tự do. Một đặc trưng khác là cùng với lập luận chặt chẽ, lời văn của Tuyên ngôn hết sức trang trọng.

Ngôn ngữ của Tuyên ngôn Độc lập là ngôn ngữ của một văn kiện chính trị lớn, hướng đến một công chúng lớn mà đối tượng đích là “Quốc dân và Thế giới”. Nội dung truyền thông trong bản bố cáo rất lớn lao, có ý nghĩa vận mệnh của Quốc gia và Dân tộc. Dễ dàng nhận ra là tác giả đã viết văn bản trong một sự hào sảng cao độ, các cảm xúc như trào lên ngọn bút quanh hai từ Độc lập và Tự do. Ngôn ngữ luật pháp được vận dụng triệt để, các phát ngôn đầy tính nhân văn và lịch lãm, nhưng không màu mè và giả tạo, không lên gân mà rất tự nhiên, trung thực. Quan điểm của người nói khi phát ngôn rất chân thành và tha thiết nhưng cũng rất kiên định và cương quyết.

Sự súc tích của câu văn và từ ngữ cũng là một nét nổi trội. Có những nội dung rất lớn nhưng tác giả chỉ cần gói gọn trong một dòng với những ngắt đoạn cực ngắn, như khi nói về tình thế của cách mạng ta lúc đó, Tuyên ngôn đã viết: “Pháp chạy. Nhật hàng. Vua Bảo Đại thoái vị… Chúng ta lấy lại đất nước ta từ trong tay Nhật chứ không phải trong tay Pháp”. Thế là rõ: Đối ngoại thì Pháp không có lý do gì để trở lại Việt Nam, đối nội thì chính quyền cũ đã hạ cờ. Lịch sử đã sang trang. Mấy ngày sau, khi Quân đồng minh vào nước Việt thì họ chỉ là khách đến làm nhiệm vụ trong một đất nước có chủ quyền.

Chúng ta thấy lời văn ở đây là kết tinh một thứ tiếng Việt rất mới mẻ và hiện đại. Tính dân tộc và tính đại chúng trong TNĐL thể hiện rõ nét ở những câu, từ vừa mang tính chính luận sắc bén, vừa dễ hiểu để mọi tầng lớp trí-công-nông-binh đều hiểu rõ. Các từ như “thẳng tay”, “tắm”, “nòi giống ta”, “tận xương tủy”, “giết nốt”, “gan góc” hoàn toàn là Việt ngữ, không hề vay mượn, pha tạp chút nào. Ví dụ như: “Chúng đã thẳng tay chém giết”… “tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu… Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược… Chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ… Chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng…”

Đã 66 năm, từ Bản “Tuyên ngôn Độc lập” do Bác Hồ kính yêu của chúng ta soạn thảo và đã đọc tại Quảng trường Ba Đình, dân tộc ta đã trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ với biết bao hy sinh mất mát, nhưng đã “đánh thắng hai để quốc to là Pháp và Mỹ”, mọi người dân Việt Nam đều thấm nhuần sâu sắc và luôn luôn mang bên mình như một thứ hành trang không thể thiếu được. Đó là lời hiệu triệu của Bác: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”. Giá trị của Tuyên ngôn Độc lập cùng lời hiệu triệu đanh thép và trường tồn ấy vẫn luôn luôn tươi rói trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bùi Văn Bồng

xaydungdang.org.vn

Thời đại Hồ Chí Minh sinh ra trước hết từ chủ nghĩa yêu nước

“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”.

Lời tuyên bố trịnh trọng vang lên giữa Quảng trường Ba Đình, Hà Nội ngày 2-9-1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ lâm thời, thay mặt toàn bộ dân nước, không chỉ là lời tuyên bố trước toàn thể thế giới về sự có mặt của một dân tộc anh hùng, về sự khai sinh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Châu Á mà còn thể hiện một sự tự nhận thức về những giá trị nhân văn, giá trị tiến bộ của một dân tộc hàng nghìn năm chìm đắm trong nô lệ và nghèo nàn, lạc hậu; là tuyên ngôn của lòng quyết tâm thực thi các giá trị tiến bộ đó trên đất nước mình.

Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 được coi là áng thiên cổ hùng văn của Việt Nam, bên cạnh bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn, Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi.

Với 1.009 chữ, Tuyên ngôn Độc lập Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn được thế giới coi là tác phẩm tuyên ngôn mẫu mực, chặt chẽ về luật pháp, giàu hình ảnh văn học, thể hiện rõ được ý chí nguyện vọng của dân tộc, của thời đại ; mang tính lịch sử và nhân văn, tính đặc thù và phổ quát.

Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Mc Govern năm 2005 đã đánh giá: Trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viện dẫn Thomas Jefferson và suy luận một cách sáng suốt.

Mở đầu bản tuyên ngôn là một chân lý hiển nhiên: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Tạo hóa, Đấng Tối cao trong quan niệm Phương Tây, cũng như Trời, Đạo Trời trong cách nghĩ của người Phương Đông đều thể hiện một quyền lực, một chân lý tuyệt đối, không ai chống lại được, không phải bàn cãi.

Đoạn trích đầu từ Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ , bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trên thế giới được soạn thảo bởi Luật sư danh tiếng bang Virginia, ông Thomas Jefferson(1743-1826), sau này là Tổng thống Hoa Kỳ (1801-1809), được tuyên đọc ngày 4-7-1776, chấm dứt sự phụ thuộc của Mỹ đối với Anh. “Trong tiến trình phát triển của nhân loại, khi một dân tộc nào đó cần thiết phải xóa bỏ những mối liên kết chính trị giữa họ với một dân tộc khác và khẳng định trước các lực lượng trên toàn trái đất vị thế độc lập và bình đẳng mà các quy luật của tự nhiên và Thượng đế đã ban cho họ thì sự tôn trọng đầy đủ với các quan điểm của nhân loại đòi hỏi họ phải tuyên bố những nguyên do dẫn họ đến sự độc lập đó”.

Đoạn trích thứ hai từ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp 1789.

Mở đầu Tuyên ngôn của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, không chỉ thể hiện tính hợp pháp, hợp lý của nó ở tầm quốc tế; không chỉ là một “đòn đánh chặn” đối với thực dân Pháp và đế quốc can thiệp Mỹ lúc đó, mà còn thể hiện tính hội nhập vào tiến trình dân chủ thế giới trong những khái niệm tự do, bình đẳng, quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc mà nền tảng là độc lập dân tộc.

Tội to nhất mà Tuyên ngôn khẳng định là tội cướp nước, áp bức; trái nhân đạo, chính nghĩa; bóp nghẹt tự do, dân chủ. Những điều đó đến nay và muôn sau vẫn còn mang ý nghĩa thời sự, vẫn khích lệ con người đấu tranh để xóa bỏ.

Tổng kết phong trào đấu tranh cứu nước suốt nửa cuối thế kỷ 19, nửa đầu thế kỷ 20, mà đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám, Tuyên ngôn viết: Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Đoạn văn chính luận mẫu mực ấy không chỉ cho ta thấy kết quả to lớn, vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, còn cho thấy tính nhân văn của dân tộc, của cách mạng vô sản nước ta. Đành rằng trong lịch sử, trong bão táp cách mạng, có nhiều hy sinh, nhiều oan khuất nhưng trong so sánh chung, không ít những cuộc chiến tranh, cách mạng trên thế giới đẫm máu hơn nhiều.

Truyền thống hiếu sinh từ Nguyễn Trãi, đến tư tưởng nhân nghĩa Hồ Chí Minh là nguồn gốc của sức mạnh văn hóa, của tinh thần đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế. Bác Hồ từng nói:

“Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu, có nước phải chặt đầu vua… Nước ta, vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để mưu hạnh phúc chung là nước được hoàn toàn độc lập và chống giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tham ác ra khỏi bờ cõi”. Ngày nay, đọc lại Tuyên ngôn Độc lập và bình tĩnh suy xét lịch sử, thì cái kết quả mà cách mạng tạo ra nước độc lập, dân tự do cũng là khát vọng nghìn đời, mong mỏi của mọi người dân yêu nước, dù ở hoàn cảnh nào, phương trời nào.

Như trên đã nói, điều cốt lõi nhất mà chúng ta, mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều hướng tới là độc lập dân tộc. Nhưng độc lập sẽ không có ý nghĩa gì nếu người dân không đủ cơm ăn , áo mặc, không được thực hiện quyền làm chủ của mình một cách đầy đủ. Ba quyền của mỗi con người, mỗi dân tộc mà Tuyên ngôn nhấn mạnh, đó là quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do.

Ba quyền ấy, dưới chế độ thực dân, phong kiến; dưới sự lệ thuộc kinh tế, chính trị vào nước khác, đã bị tước đoạt.

Dưới chế độ ta, ba quyền ấy cần phải được đảm bảo ngày một tốt hơn. Đó là ý nghĩa thời sự, là mục tiêu không thể xa rời của sự nghiệp cách mạng.

Và không chỉ vào năm 1945, không chỉ vào những ngày đất nước bị giày xéo dưới gót giày xâm lược; ngày nay, toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập phải là tuyên ngôn hùng hồn của mỗi chúng ta, của mọi thời đại.

Nguyễn Sĩ Đại
dvt.vn

Thư gửi đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Quốc dân đảng Trung Quốc (1926)

Kính gửi Đoàn Chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Quốc dân đảng Trung Quốc,

Xin thưa, tệ nhân (2) là một người An Nam mất nước phải lưu vong bôn ba đến chốn này. May thay gặp lúc quý Hội họp Đại hội, tuyên bố viện trợ cho công cuộc giải phóng các dân tộc bị áp bức trên thế giới, không nén nổi sự vui mừng. Song “muốn bốc thuốc, trước hết phải biết bệnh”. Cho nên, tệ nhân yêu cầu quý Hội cho phép đến Hội nghị để bộc bạch tình cảnh đau khổ của đất nước kém cỏi chúng tôi, mong những người muốn giúp chúng tôi tiện nghiên cứu để tìm phương châm. Nước tôi sẽ may mắn biết bao! Cách mạng sẽ may mắn biết bao! Trước khi ngừng lời, xin kính chúc:

Cách mạng Trung Quốc muôn nǎm!

Quốc dân đảng Trung Quốc muôn nǎm! (1)

Ngày 6 tháng 1 Trung Hoa dân quốc nǎm thứ 15
Lý THỤY

Địa chỉ liên lạc: Sứ quán Bôrôđin, ngài Trương Xuân Mộc 2 chuyển.

————————

Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh và Trung Quốc, tiếng Trung Quốc, Nxb. Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr.35
cpv.org.vn

Gửi đoàn chủ tịch quốc tế nông dân (13-1-1926)

Các đồng chí thân mến,

Tôi đã viết thư nhiều lần cho các đồng chí để xin các đồng chí tài liệu về nông dân bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh cho tập san nông dân chúng tôi. Nhưng cho đến nay tôi không nhận được gì cả.

Tôi sẽ rất cảm ơn các đồng chí nếu gửi cho tôi nhật báo của Quốc tế Nông dân từ số 1 cho tới số hiện nay bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh, để tôi có thể dịch sang tiếng Trung Quốc cho việc tuyên truyền của chúng tôi.

Cùng một chuyến thư, các đồng chí sẽ nhận được 2 tấm ảnh to của phong trào nông dân Hải Phòng, và những bài cắt ở báo.

Các đồng chí thân mến, xin nhận những lời chào cộng sản của tôi.

Quảng Châu 13-1-1926 NILỐPXKI
N.A.Q

———————–

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Bài phát biểu tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Quốc dân đảng Trung Quốc (14-1-1926)

Thưa các đồng chí, thưa các anh em,

Chúng tôi vui mừng được gặp mặt và nói chuyện với các vị, đồng thời cũng rất cảm tạ chư vị đã chân thành hoan nghênh. Qua đó, chúng tôi hiểu rằng tư tưởng cách mạng đã thâm nhập vào toàn thể dân chúng, và đặc biệt là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II này càng phát huy chủ nghĩa vĩ đại, chính sách vĩ đại của Tôn Tổng lý, để cùng với các dân tộc bị áp bức phấn đấu. (Vỗ tay).

Các đồng chí, chúng tôi muốn nói rằng, cách mạng cũng giống như khám bệnh vậy, trước hết phải biết cǎn nguyên của bệnh. Tất cả các dân tộc bị áp bức làm cách mạng là do mong muốn thoát khỏi nỗi thống khổ của dân tộc bị áp bức, cho nên tôi muốn trình bày về những nỗi thống khổ mà dân tộc An Nam đã phải chịu đựng.

Thưa các đồng chí,

Dân tộc An Nam chịu đau khổ đã sáu mươi nǎm, dân tộc An Nam bị xâm lược và áp bức đã sáu mươi nǎm. Chúng nó thường rêu rao rằng người Pháp chúng tôi đem vǎn hoá phương Tây đến, chúng tôi đối xử hoà bình với người An Nam các anh là vì chúng tôi muốn làm cho các anh được sung sướng. Nhưng sự thật là sáu mươi nǎm nay, chúng nó chỉ càng ngày càng áp bức thậm tệ nhân dân An Nam. Bây giờ xin nói qua một chút nhân dân An Nam đã cực khổ như thế nào trong sáu mươi nǎm qua để các đồng chí cách mạng ta được rõ.

Nỗi thống khổ thứ nhất mà người Pháp mang đến cho nhân dân An Nam chính là thuế thân. Bất cứ ai, từ mười tám tuổi trở lên, đều phải đóng thứ thuế này. Sau khi đóng thuế, Chính phủ phát cho một tấm thẻ để làm bằng chứng, không được để mất; nếu mất thì bị chúng bắt, đến khi nào nộp tiền lần thứ hai mới được tha. Chúng cho cảnh binh đi khám thẻ khắp mọi nơi mọi lúc, hầu như cứ một giờ khám xét một lần, vì thế dân chúng khổ không kể xiết. Đó là một kiểu người Pháp áp bức dân An Nam. Ngoài thuế thân ra, còn thuế nhà, thuế hàng hoá, v.v.. Không những nguồn lực kinh tế của người An Nam hoàn toàn bị người Pháp nắm giữ là chuyện đương nhiên, mà còn làm tǎng thêm gánh nặng cho người An Nam, khiến nhân dân An Nam không còn khả nǎng sinh tồn về kinh tế nữa. Tất cả đất đai của An Nam, đại bộ phận cũng bị người Pháp chiếm làm tài sản, người An Nam không được quyền lập nghiệp. Đại thể, một bộ phận là sở hữu Chính phủ, một bộ phận là đất đồn binh của người Pháp, một bộ phận là đất các giáo sĩ chiếm cứ. Chỉ có một phần rất nhỏ là đất thổ cư của người An Nam thì lại phải đóng thuế nhà.

Tôi có thể nêu một ví dụ để chứng minh sự tàn ác của ách áp bức của người Pháp. Như thuế thân, nǎm 1914, mỗi tháng tôi đóng mười phrǎng, nhưng đến nǎm ngoái, nǎm 1924, đã tǎng lên đến một trǎm phrǎng. Đủ thấy sự tàn ác của bọn xâm lược Pháp là thế nào. ấy là chưa kể ngoài công trái như ở nước Pháp, chúng còn bắt nhân dân An Nam phải mua hàng của Pháp như một thứ thuế hàng hoá. Hàng hoá đó là gì? Nhiều nhất là rượu do Pháp sản xuất. Chúng làm ra thứ rượu tồi tệ nhất rồi bắt dân An Nam mua. Dù anh là chính khách, nhà buôn, thợ thuyền hay dân cày gì gì, ít nhất mỗi người một chai. Không thể không mua. Ngoài rượu ra, còn một thứ tệ hại hơn, độc hơn, đó là phải mua thuốc phiện. Thuốc phiện có lẽ là một khoản lớn trong dự toán thu nhập của nước Pháp, chiếm đến một phần tư dự toán. Tính thành con số, mỗi nǎm là bốn trǎm triệu phrǎng, đủ thấy nỗi khổ của người An Nam. Nhưng sự

xâm lược của đế quốc Pháp không chỉ có thế. Chiến tranh lại là một chuyện lớn nữa. Hồi chiến tranh Âu châu, người Pháp bắt dân An Nam đi lính, tổng số trên mười vạn. Họ phải bỏ xác ngoài mặt trận chẳng được nhìn thấy quê hương. Cho nên, quả thật là nhân dân An Nam chẳng những phải nộp tiền mà còn phải nộp mạng cho chúng.

Còn một điểm nữa. Đế quốc Pháp một mặt áp bức dân tộc An Nam, mặt khác lại cấm những người anh em chống áp bức. Bởi vì chúng còn sang Trung Quốc dùng súng gươm giết những người anh em Trung Quốc của chúng tôi. Quả thật, đế quốc Pháp chưa bao giờ vừa lòng với sự áp bức của chúng, đã phải nộp thuế thân, còn bắt đóng thuế hàng hoá, đã mua rượu, còn bắt mua thuốc phiện, đã hy sinh tính mạng cho chúng mà chúng chẳng hề mảy may thương xót. Vậy mà người Pháp lại còn có một cách nữa làm khổ nhân dân An Nam, đó là làm thuê. Mỗi nǎm chúng bắt hàng mấy chục vạn người An Nam vào làm thuê trong các xưởng máy của Pháp. Hoàn toàn là làm trâu ngựa nô lệ cho chúng, không được một chút lợi lộc gì.

Thứ hai, người An Nam ở trên đất nước mình mà tuyệt đối không có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, ngay cả đi lại cũng chẳng được tự do, trong nước mình mà mình cũng không được tuỳ ý đi lại. Thí dụ, từ tỉnh này sang tỉnh khác phải có giấy thông hành mới được. Đi ra nước ngoài tất nhiên càng khỏi phải nói. Nếu làm trái thì phải xử tội rất nặng. Theo báo cáo của Chính phủ Pháp, mỗi xã hầu như tháng nào cũng có mấy trǎm người bị xử tội như vậy.

Về giáo dục, trước kia người An Nam học sách Trung Quốc, chịu ảnh hưởng vǎn hoá Trung Quốc. Từ ngày người Pháp chiếm An Nam, thấy người An Nam cũng giống người Trung Quốc, cho nên cũng ra lệnh học sách Trung Quốc. Không ngờ từ sau Cách mạng Tân Hợi 37 của Trung Quốc, thấy rằng cho tiếp tục học sách Trung Quốc thì không ổn, cho nên chúng đã không cho phép người An Nam đọc sách Trung Quốc và học chữ Trung Quốc nữa. Chẳng những thế, chúng càng không muốn để cho người An Nam biết tình hình gần đây của Trung Quốc, bởi vì điều khiến bọn đế quốc không vui hơn cả là ý thức dân tộc của nhân dân bị áp bức.

Các đồng chí! Cách xâm lược của bọn đế quốc chúng nó, về vật chất là dùng đủ loại thuế má và các chất độc như thuốc phiện, về tinh thần là chính sách ngu dân; đó là những âm mưu thâm độc của chúng để xâm lược An Nam.

Thưa các đồng chí,

Bọn đế quốc cố nhiên là áp bức người An Nam, nhưng đồng thời chúng cũng áp bức cả người Trung Quốc. Điều đó, các đồng chí có mặt trong Đại hội đại biểu lần thứ II này chắc chắn đều biết. Vì người Trung Quốc cũng bị đối xử như vậy. Họ cũng phải đóng thuế thân. Và tất nhiên, dù là gái trai già trẻ, họ cũng không được tự do đi lại, muốn đi lại cũng phải có thẻ thông hành. Đồng thời, chúng còn cấm cả tổ chức hội họp, trục xuất các đồng chí Quốc dân đảng. Vì chúng cho rằng, phàm là người của đảng cách mạng thì đều nguy hiểm, cho nên không đuổi không được. Có điều, cách chúng làm thật là hiểm độc, bởi vì chúng đã lợi dụng những phần tử xấu trong người Trung Quốc để chống lại các đồng chí cách mạng, chống lại Chính phủ cách mạng Quảng Châu. Tôi có thể nêu một ví dụ, như lúc Tôn Trung Sơn tiên sinh tạ thế, toàn Trung Quốc cố nhiên đều truy điệu, mà các nước trên thế giới cũng rầm rộ truy điệu. Nhân dân An Nam chúng tôi đương nhiên cũng muốn làm lễ truy điệu như người Trung Quốc, nhưng bọn Pháp cấm không cho phép làm. Tôi có thể nói rằng, ở An Nam bọn đế quốc chẳng những dùng mọi cách để chống lại cách mạng, mà đồng thời còn tìm mọi cách công kích Quốc dân đảng, công kích Chính phủ Quảng Châu.

Chúng ta biết rằng, các dân tộc bị áp bức trên thế giới hiện nay có Ai Cập, Marốc, Xyri, An Nam, Trung Quốc và rất nhiều nước khác. Cho nên, chúng ta cần phải liên hiệp lại, cùng nhau chống chủ nghĩa đế quốc. (Vỗ tay).

Đế quốc Pháp chẳng những thấy cách mạng thì sợ, mà đặc biệt thấy cách mạng Trung Quốc lại càng sợ. Cho nên, chúng không ngần ngại dốc toàn lực ra để giúp bọn phản cách mạng, giúp vũ khí cho bọn Trương Tác Lâm, hòng can thiệp vào phong trào cách mạng quốc dân của chúng ta.

Thưa các đồng chí, như đồng chí Uông Tinh Vệ nói, cách mạng

không có biên giới quốc gia. Dù là Ai Cập, Marốc hay tất cả các dân tộc bị áp bức nào, hễ cùng bị chủ nghĩa đế quốc áp bức, thì phải cùng nhau liên hiệp lại. Đả đảo đế quốc Pháp! Đả đảo chủ nghĩa đế quốc trên thế giới! Quốc dân đảng nhất định giúp chúng tôi giải phóng, giúp tất cả các dân tộc bị áp bức giải phóng. Không phân biệt nước nào, dân tộc nào, tất cả hãy đứng lên chống kẻ thù chung của chúng ta. (Vỗ tay).

Hôm nay tôi rất vui mừng, bởi vì Quốc dân đảng có được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II này, sắp tới nhất định sẽ giúp nhiều cho người cách mạng. Vì thế tôi xin chúc: Quốc dân đảng Trung Quốc muôn nǎm! Cách mạng Trung Quốc thành công muôn nǎm! Cách mạng An Nam thành công muôn nǎm! Cách mạng thế giới thành công muôn nǎm!

(Chủ tịch: Đề nghị mọi người cùng hô to: Cách mạng An Nam thành công muôn nǎm!).

———————————

Tài liệu Trung vǎn, lưu tại Bảo tàng cách mạng Quảng Châu, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Lê Nin và phương đông (21-1-1926)

Quốc tế thứ nhất (38) đã đặt cơ sở cho học thuyết cộng sản, nhưng vì tồn tại trong một thời gian ngắn nên chỉ kịp đề ra những đường lối cơ bản của học thuyết đó mà thôi. Vấn đề các nước thuộc địa chưa được Quốc tế thứ nhất nghiên cứu đầy đủ.

Còn Quốc tế thứ hai với những đại biểu của nó như Mácđônan, Vǎngđécvendơ, Henđécxôn, Blum và nhiều người khác thì lại quá chú ý đến vấn đề này. Trong bất cứ trường hợp thuận lợi nào, những người này cũng nhấn mạnh sự nhất trí của họ với chính sách đế quốc chủ nghĩa mà bọn tư bản thực hiện ở các nước ấy. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa cho sự nghiệp giải phóng của mình, không những không được sự đồng tình của họ mà còn ngược lại. Ví dụ, sau khi lên nắm chính quyền, Mácđônan chẳng kém gì Bônđuin và Sǎmbéclanh đã đàn áp nhân dân ấn Độ, Xuđǎng và các dân tộc khác đã can đảm đấu tranh chống lại bọn người nước ngoài ức hiếp họ.

Với sự tán thành của các ngài đó, người ta đã dội bom xuống các làng mạc bản xứ, và đã đàn áp nhân dân các nước thuộc địa dã man, tàn bạo không sao tả xiết. Mọi người đều biết về chính sách phân biệt công nhân da trắng với công nhân da màu mà bọn thoả hiệp luôn luôn thi hành, về việc các công đoàn chịu ảnh hưởng của bọn xã hội giả hiệu đó không muốn kết nạp các công nhân da màu vào hàng ngũ của mình. Trong chính sách thuộc địa của Quốc tế thứ hai, bất cứ ở đâu cũng lộ rõ bộ mặt thật của tổ chức tiểu tư sản

này. Bởi vậy, cho tới tận Cách mạng Tháng Mười, ở các nước thuộc địa, học thuyết xã hội chủ nghĩa đã bị coi là một thứ học thuyết chỉ dành riêng cho những người da trắng, một thứ thủ đoạn mới để lừa dối và bóc lột người bản xứ.

Lênin là người đầu tiên đã đặt cơ sở cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa.

Lênin là người đầu tiên đã kiên quyết lên án mọi thành kiến đối với nhân dân các nước thuộc địa đã ǎn sâu vào tận xương tuỷ của nhiều công nhân châu Âu và châu Mỹ. Những luận cương của Lênin về vấn đề thuộc địa 39 được Quốc tế Cộng sản tán thành đã gây ra một cuộc cách mạng hoàn chỉnh trong tất cả các nước bị áp bức trên thế giới.

Đồng chí Lênin là người đầu tiên đã nhấn mạnh và nhận thức hết tầm quan trọng to lớn của việc giải quyết một cách đúng đắn vấn đề thuộc địa đối với cách mạng thế giới. Trong tất cả các Đại hội của Quốc tế Cộng sản, của Quốc tế Công đoàn, và của Quốc tế Thanh niên cộng sản, vấn đề thuộc địa luôn luôn được đặt lên hàng đầu.

Lênin là người đầu tiên đã nhận thức và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng. Lênin là người đầu tiên đã nhận thức rằng nếu không có sự tham gia của họ thì không thể có cách mạng xã hội.

Với tất cả sự sáng suốt vốn có của mình, Lênin đã nhận thấy rằng muốn cho công tác trong các nước thuộc địa được thành công tốt đẹp thì cần phải lợi dụng triệt để phong trào giải phóng dân tộc trong các nước đó, rằng giai cấp vô sản trên thế giới, bằng việc ủng hộ phong trào ấy thì sẽ có nhiều bạn đồng minh mới hùng mạnh trong cuộc đấu tranh của mình cho cách mạng xã hội.

Tất cả các đại biểu các nước thuộc địa đã tham dự các Đại hội của Quốc tế Cộng sản sẽ không bao giờ quên được rằng lãnh tụ Lênin, đồng chí Lênin đã quan tâm đến họ dường nào, rằng Người đã biết đi sâu tìm hiểu như thế nào những điều kiện công tác phức tạp và thuần tuý có tính chất địa phương. Từ đó đến nay, mỗi người trong chúng ta đã có đủ thời gian để thấy rõ hàng chục lần rằng những nhận xét của Lênin đúng biết chừng nào, và những lời giáo huấn của Người thật quý giá biết bao.

Chỉ nhờ có thái độ khôn khéo của Lênin đối với vấn đề thuộc địa, mới có thể lay động quần chúng chưa được giác ngộ, và lạc hậu nhất trong các nước thuộc địa. Sách lược của Lênin về vấn đề này được các đảng cộng sản trên toàn thế giới áp dụng đã ngày càng lôi cuốn được những phần tử ưu tú và tích cực ở các nước thuộc địa vào phong trào cộng sản. Việc Lênin giải quyết vấn đề dân tộc phức tạp ở nước Nga Xôviết, việc đảng cộng sản thực hiện trong thực tiễn vấn đề này là một vũ khí tuyên truyền mạnh mẽ nhất trong các nước thuộc địa.

Đối với tất cả các dân tộc bị áp bức và bị nô dịch, Lênin đã thể hiện một bước ngoặt trong lịch sử cuộc đời đau khổ và bị mất quyền của họ, là tượng trưng cho một tương lai mới, xán lạn.

NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————————

38. Quốc tế thứ nhất (Hội liên hiệp lao động quốc tế): Tổ chức quốc tế đầu tiên của giai cấp vô sản, thành lập nǎm 1864 tại Hội nghị công nhân quốc tế ở Luân Đôn (Anh), do C.Mác và Ph. Ǎngghen lãnh đạo. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Quốc tế thứ nhất là Hội đồng trung ương Hội liên hiệp lao động quốc tế mà Mác là uỷ viên thường trực. Bằng cách khắc phục những ảnh hưởng tiểu tư sản và những khuynh hướng bè phái lúc đó đang tồn tại trong phong trào công nhân, Mác đã đoàn kết xung quanh mình những người giác ngộ nhất của Hội đồng trung ương. Quốc tế thứ nhất đã lãnh đạo cuộc đấu tranh kinh tế và chính trị của công nhân ở các nước và củng cố sự đoàn kết quốc tế của họ. Quốc tế thứ nhất đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp truyền bá chủ nghĩa Mác và trong việc kết hợp chủ nghĩa xã hội với phong trào công nhân. Sau khi Công xã Pari thất bại, một nhiệm vụ được đặt ra là thành lập các đảng cộng sản có tính chất quần chúng ở mỗi nước, trên cơ sở những nguyên tắc mà Quốc tế thứ nhất đã đề ra. Nǎm 1876, tại Hội nghị Philađenphia (Mỹ), Quốc tế thứ nhất chính thức giải tán. Tr.218.

Báo Tiếng còi (Liên Xô), tiếng Nga, ngày 21-1-1926.
cpv.org.vn

Cuộc cách mạng mang thông điệp của dân tộc và thời đại

Cách mạng tháng Tám 1945 là sự kiện lịch sử vĩ đại nhất trong thế kỷ XX của nhân dân Việt Nam. Cuộc cách mạng đã làm nên sự khác biệt căn bản về chất của lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX so với tất cả các thế kỷ trước đó của lịch sử dân tộc: Thiết lập một nền dân chủ, khẳng định quyền con người, khẳng định những khát vọng của dân tộc.

Khẳng định những giá trị dân tộc và dân chủ

Trước khi khẳng định một sự thật thiêng liêng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thật sự đã trở thành một nước tự do và độc lập” (1), bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lấy “những lẽ phải không ai chối cãi được” của hai bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ (1776) và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cuộc cách mạng Pháp (1789) để khẳng định những quyền chân chính của dân tộc Việt Nam. Không dừng lại ở nội dung của hai văn kiện lịch sử đó mà Chủ tịch Hồ Chí Minh “suy rộng ra” về quyền dân tộc: “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” (2).

Nhân dân Hà Nội chiếm Bắc bộ phủ (tháng 8/1945).

Với Việt Nam, bản Tuyên ngôn độc lập đánh dấu kỷ nguyên mới của dân tộc: Kỷ nguyên Độc lập – chấm dứt ách nô lệ thực dân và Tự do – chấm dứt chế độ phong kiến. Với nhân loại, bản Tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt Nam là tiếng chuông báo sự khởi đầu tan rã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ gắn liền với xâm lược và nô dịch.

Đó là sự xác lập lần đầu tiên ở Việt Nam một nền dân chủ bằng sự lựa chọn thể chế nhà nước sau cuộc cách mạng – thể chế Dân chủ cộng hòa.

Cuộc cách mạng tháng Tám 1945 là cuộc cách mạng khẳng định quyền con người. Trích “những lẽ phải không ai chối cãi được” trong hai bản Tuyên ngôn bất hủ của cách mạng Hoa kỳ và cách mạng Pháp, bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945 đã khẳng định quyền của con người – cũng chính là nền tảng quyền của dân tộc.

Nhân dân Việt Nam đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đi đầu trong lịch sử đấu tranh của các dân tộc nhược tiểu thuộc địa, bị áp bức. Cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam thắng lợi cũng mở ra một tiền đồ, một tương lai tươi sáng, gây niềm tin và hy vọng, động viên tiếp sức cho các dân tộc còn đang bị áp bức vùng lên đấu tranh giành độc lập cho mình.

Cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 mở ra một cuộc trung hưng mới cho dân tộc Việt Nam. Thành tựu và những thử thách suốt chặng đuờng sáu mươi bảy năm qua đã minh chứng những giá trị của một cuộc cách mạng Dân tộc và Dân chủ.

Thông điệp hòa bình và ý chí độc lập của dân tộc

Đánh giá về một ưu điểm lớn của Cách mạng tháng Tám so với cách mạng ở một số nước khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu nhiều. Có nước phải chặt đầu vua. Có nước đồng bào chia đảng phái chém giết nhau liên tiếp trong bao nhiêu năm. Nước ta vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để mưu hạnh phúc chung là nước đến hoàn toàn độc lập và chống được giặc xâm lăng, đuổi thực dân tham ác ngoài bờ cõi” (3).

Từ đầu tháng 7/1946, khi các cuộc hội đàm chính thức Việt – Pháp đang diễn ra trong lâu đài Fontainebleau, tại Pari cũng diễn ra những hoạt động không mệt mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh để bạn bè thế giới, trước hết là Chính phủ và các tầng lớp nhân dân Pháp, hiểu rõ thiện chí hòa bình và nguyện vọng nóng bỏng của nhân dân Việt Nam là Độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

Trong thời gian hơn ba tháng, với tư cách là thượng khách của nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều cuộc tiếp xúc với các đại biểu của Chính phủ Pháp, nhiều tổ chức đoàn thể và cả các cá nhân. Trong tất cả những cuộc tiếp xúc đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nêu rõ nguyện vọng chân thật của nhân dân Việt Nam là mong muốn giữ mối quan hệ Việt – Pháp “không có tiếng súng”. Khi đến thăm khu di tích lịch sử ở Nooc-man-đi, Người đã lấy bàn tay bịt miệng khẩu đại bác như một biểu tượng của tinh thần: “Giữ gìn hòa bình! Ngăn chặn chiến tranh!”. Đó chính là thông điệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt nhân dân Việt Nam gửi tới nhân dân Pháp và những người cầm quyền Pháp khi đó (4).

Hợp lòng dân và được nhân dân bảo vệ

Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam đã bùng nổ và thành công đúng thời cơ lịch sử. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời nằm ngoài mọi dự tính và dàn xếp của các nước lớn sau Hội nghị Pôts-đam, cũng nằm ngoài mọi tính toán của những kẻ theo chủ nghĩa thực dân Pháp.

Chính quyền cách mạng ra đời “không đồng minh, không tiền, hầu như không vũ khí” – như nhận xét của Pig-non – cố vấn chính trị của Cao ủy Pháp Đác Giăng-li-ơ tại Đông Dương. Ngay từ khi mới ra đời, nạn đói, nạn dốt, nạn tài chính kiệt quệ cùng với nạn ngoại xâm đã đặt vận mệnh của độc lập dân tộc trước nguy cơ “Còn – Mất”.

Nhiệm vụ cách mạng sau khi giành được chính quyền đặt ra đòi hỏi nóng bỏng phải tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân làm hậu thuẫn vững chắc cho Chính quyền cách mạng. Bảo vệ được Chính quyền cách mạng mới có thể thực hiện được những mục tiêu cấp bách cũng như lâu dài: Giữ vững nền độc lập, đem lại đời sống no ấm cho nhân dân.

Bộ máy chính quyền mới đã trực tiếp mang lại những quyền lợi dân sinh, dân chủ, dân quyền mà nhân dân Việt Nam chưa từng được hưởng: bãi bỏ thuế thân (ngày 7/9/1945); bắt buộc học chữ quốc ngữ và không phải trả tiền (ngày 8/9/1945); qui định thể lệ Tổng tuyển cử (ngày 17/10/1945); giảm tô 25% (ngày 20/11/1945); giảm 20% thuế điền (ngày 20/11/1945) v.v…

Sau cuộc tổng tuyển cử tự do và dân chủ đầu tiên trong lịch sử dân tộc, Chính phủ cách mạng lâm thời đã trở thành Chính phủ hợp hiến, do dân bầu, bao gồm nhiều thành phần, đại diện cho các tầng lớp xã hội, đấu tranh cho quyền lợi của cả dân tộc Việt Nam. Chính phủ cách mạng thu hút được sự ủng hộ của toàn dân, được toàn dân bảo vệ vì nó hợp với lòng dân. Ông Ca-put (Bí thư Đảng Xã hội Pháp ở Bắc Kỳ) trong thư gửi Cao ủy Đác Giăng-li-ơ ngày 8/12/1945 đã thừa nhận rằng: Chỉ có Chính phủ Hồ Chí Minh và Việt Minh là có đủ tư cách đại diện cho dân tộc Việt Nam, “họ vẫn là những người có khả năng hơn cả để lôi cuốn được mọi người” (5).

Buổi tối ngày 2/9/1946, tại Pari, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự lễ kỷ niệm Quốc khánh lần đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hội liên hiệp Việt kiều và Hội hữu nghị Pháp – Việt tổ chức. Trong buổi lễ đặc biệt đó, Người xúc động nói: “Chính là sự đoàn kết, đoàn kết hoàn toàn và không gì phá vỡ nổi của toàn thể nhân dân chúng ta đã khai sinh ra nước Cộng hòa của mình” (6).

Trong những năm tháng nước sôi lửa bỏng, vận mệnh dân tộc trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, “Dân tộc trên hết – Tổ quốc trên hết” – đã trở thành khẩu hiệu đoàn kết, tập hợp khối lực lượng quần chúng to lớn ủng hộ Chính phủ cách mạng. Khối đại đoàn kết toàn dân được xây dựng rộng rãi, không bỏ sót một nguồn lực nào đã phát huy sức mạnh to lớn. Kể cả những người không cộng sản, đồng bào Việt Nam ở nước ngoài, những người đã từng làm việc dưới chế độ cũ, những người thuộc giới quan lại, hoàng tộc phong kiến, cả những người tưởng như đã nằm dưới đáy của xã hội xưa v.v… tất cả đều hướng về cuộc đấu tranh của dân tộc và bằng cách này hay cách khác đóng góp cho cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng thành công Chính quyền cách mạng.

Bài học về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần độc lập tự chủ, tự cường để xây dựng và bảo vệ Chính quyền cách mạng từ những năm tháng hào hùng đó vẫn là những giá trị to lớn.

Ngô Vương Anh
baotintuc.vn

(1) Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 4, tr 4
(2) Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh – Toàn tập – Sđd, tr 1
(3) Hồ Chí Minh Toàn tập – Sđd, tập 4, tr 47 – 48.
(4) Ngọai giao Việt Nam 1945 – 2000 – Nxb CTQG, H, 2002, tr 80; 81
(5) Philippe Devillers – “Pari – Sài Gòn – Hà Nội – Tài liệu lưu trữ của cuộc chiến tranh 1944 – 1947” – NXB Thành phố Hồ Chí Minh – 1993 – tr 162.
(6) Diễn văn tại Lễ kỷ niệm Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2/9/1946) tổ chức tại Pari – Hồ Chí Minh – Toàn tập – Sđd, Tập 4, tr 283

Tinh thần bất diệt của Tuyên ngôn Độc lập

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị anh hùng dân tộc đã tạo dựng nên dấu mốc lịch sử vĩ đại nhất cho dân tộc. Đó chính là bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ, long trọng tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Khởi thảo Tuyên ngôn từ Hào Khí Thăng Long

Căn nhà lịch sử số 48 phố Hàng Ngang, là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập. Nơi đây là đất phường Diên Hưng, tổng Hữu Túc (sau đổi là tổng Đông Thọ) huyện Thọ Xương phủ Hoài Đức xưa. Nay di tích này thuộc phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Căn nhà là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc sau khi Người rời Tân Trào (Tuyên Quang) về Hà Nội. Cũng chính tại nơi đây, sáng 26/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng bàn về chủ trương đối nội và đối ngoại trong tình hình mới, về việc sớm công bố danh sách thành viên Chính phủ lâm thời. Người còn đề nghị mở rộng hơn nữa thành phần Chính phủ lâm thời, chuẩn bị Tuyên ngôn Độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời Việt Nam trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ảnh: Tư liệu -TTXVN

Thời gian ở số nhà 48, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành phần lớn thời gian soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập. Trong hoàn cảnh lịch sử vô cùng đặc biệt: Thời gian ngắn, yêu cầu gấp rút, địa điểm chật hẹp, thân phận bí mật. Song bằng sức mạnh, tâm lực, trí tuệ và bản lĩnh của một vị lãnh tụ cách mạng kiệt xuất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành bản thảo Tuyên ngôn Độc lập chỉ trong vòng 3 ngày (từ 28 đến 30/8/1945). Trong quá trình viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời một số đồng chí đến để trao đổi, góp ý kiến cho bản dự thảo Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 30/8/1945, Người tiếp tục mời một số đồng chí đến trao đổi, góp ý kiến. Ngày 31/8, Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung, chỉnh sửa một số điểm vào bản thảo Tuyên ngôn Độc lập. Khi viết xong, Người nói: “Trong đời tôi, tôi đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy”.

Viết bản Tuyên ngôn Độc lập, Người đã viện dẫn lời từ chính bản Tuyên ngôn Độc lập (năm 1776) của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp (năm 1791), khi nói về quyền bình đẳng, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc. Vậy mà, thực dân Pháp đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của thực dân Pháp trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Chính vì vậy, nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người viết: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập lên chế độ Dân chủ Cộng hòa”.

Thời gian sống, làm việc và đặc biệt là viết bản Tuyên ngôn Độc lập ở ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Chủ tịch Hồ Chí Minh sống rất giản dị, đạm bạc. Lúc bấy giờ Người gầy và ho nhiều. Người thường mặc bộ quần áo chàm cũ, đi đôi giày vải và đội chiếc mũ cát đã sờn mà Người đã cầm để vẫy chào đồng bào ở Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945. Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại chiếc bàn tròn trong phòng khách nhỏ, nơi Người viết bản Tuyên ngôn Độc lập, và ngay cả ấn kiếm của Bảo Đại sau khi đưa từ Huế về lúc đầu cũng để trên mặt chiếc tủ ở căn phòng này. Trong suốt thời gian làm việc ở đây, ngôi nhà 48 Hàng Ngang vẫn có người ra vào bình thường, vì tầng 1 lúc đó vẫn là cửa hàng bán vải vóc, tơ lụa của gia đình. Điều đó, chứng tỏ Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tin tưởng vào dân, tin tưởng vào lực lượng cách mạng quần chúng. Sống ở 48 Hàng Ngang có lẽ là những giây phút sảng khoái, hạnh phúc nhất của Người, bởi thành quả độc lập, tự do của dân tộc do chính Người gieo trồng đang ngời lên từng chữ, từng câu trong bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Lấp lánh giá trị thời đại

Đúng 14 giờ ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị trong Chính phủ lâm thời làm lễ ra mắt ở Kỳ đài Độc lập, tại vườn hoa Ba Đình, Hà Nội, trước hàng chục vạn nhân dân Thủ đô và các vùng lân cận. Bản nhạc Tiến quân ca hùng tráng vang lên, mọi ánh mắt đều hướng về lá cờ đỏ sao vàng đang từ từ kéo lên. Vị cha già dân tộc xuất hiện giản dị trong bộ quần áo ka ki và đôi dép cao su. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Người đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với toàn thể nhân dân, với thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập, tự do ra đời, hình thành Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, Nhà nước độc lập đầu tiên trong hệ thống thuộc địa thế giới. Đây là văn kiện lịch sử có ý nghĩa vô cùng trọng đại đối với vận mệnh dân tộc, là mốc son chói lọi trong lịch sử vẻ vang của đất nước ta. Tuyên ngôn là văn bản pháp lý quan trọng đầu tiên khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định quyền tự do, độc lập của nhân dân ta trước toàn thế giới. Bản Tuyên ngôn khẳng định ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi của nhân dân Việt Nam quyết giữ vững quyền thiêng liêng: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đồng thời là một tác phẩm “Thiên cổ hùng văn”, tiếp sau bài thơ “Thần” – “Nam quốc sơn hà” và bài “Bình Ngô đại cáo”, kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc ta; là bản anh hùng ca mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên độc lập tự do và góp phần làm phong phú về Quyền tự quyết của các dân tộc trên thế giới – Quyền độc lập tự do. Sau khi Chính phủ lâm thời làm lễ tuyên thệ và nhân dân thề một lòng ủng hộ Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, Người nói: “Độc lập tự do là quý báu, quý giá vô ngần, ta đã khổ sở trong bao nhiêu năm mới giành được, cần phải cố gắng giữ gìn, bảo vệ”.

Cách mạng tháng Tám với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã xóa tan hai tầng xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp (kéo dài hơn 80 năm) và của phát xít Nhật, đồng thời lật nhào chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại ngót gần 1.000 năm. Nước ta từ một nước thuộc địa, phong kiến đã trở thành một nước độc lập dưới chế độ dân chủ cộng hòa, nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người dân độc lập, tự do, làm chủ nước nhà. Đây là một bước phát triển nhảy vọt của Cách mạng Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới trong sự phát triển của lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa trên thế giới, đặc biệt là nhân dân châu Á và châu Phi.

Có thể khẳng định rằng chính thời điểm lịch sử cực kỳ quan trọng và thử thách ngặt nghèo từ sau cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, việc thành lập chính quyền nhân dân, tuyên bố độc lập, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời… đã bộc lộ đầy đủ và sinh động nhất thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ đây với tư cách là người chủ thực sự của đất nước, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên cường đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc. 30 năm sau ngày “Tuyên ngôn Độc lập”, Đảng và nhân dân đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang: Giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc thắng lợi sự nghiệp cách mạng dân tộc – dân chủ, thống nhất đất nước. Tổ quốc vĩnh viễn được độc lập, nhân dân ta đời đời được tự do, tinh thần bất diệt của Tuyên ngôn Độc lập mãi mãi khắc sâu vào trái tim và khối óc của mỗi người Việt Nam. Với ý nghĩa và tầm vóc lớn lao đó, ngày 2/9/1945 đã trở thành ngày hội lớn của dân tộc, ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Trần Tiến Duẩn
baotintuc.vn

Quảng trường Ba Đình lịch sử và ngày lễ Độc lập 2/9/1945

Vườn hoa Rond Point Puginier nhìn từ phía Đông Nam, sau là Vườn hoa Ba Đình rồi trở thành Quảng trường Ba Đình lịch sử. Ảnh Internet

Quảng trường Ba Đình được xem là quảng trường lớn nhất Việt Nam, nằm trên đường Hùng Vương và trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính nơi đây đã lưu giữ dấu ấn nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc ta. Đặc biệt, cách đây tròn 66 năm, vào ngày 2/9/1945, ngay tại Quảng trường này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Quảng trường Ba Đình xưa là cửa phía Tây của Thành cổ Hà Nội. Khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội đã phá thành vào năm 1894 và tại cổng phía Tây này, Pháp cho xây một vườn hoa nhỏ đặt tên là Rond Point Puginier, còn gọi là Quảng trường tròn (rond point: điểm tròn) hay Vườn hoa Puginier (Puginier là tên một vị cha cố). Xung quanh Vườn hoa Puginier này một số công trình công sở, biệt thự được xây dựng. Một trong những công trình được xây dựng sớm là Phủ Toàn quyền (1902), sau này là Phủ Chủ tịch. Về sau thêm các công trình quan trọng khác là trường Albert Sarraut (1919), nay là Cơ quan Trung ương Đảng và Sở Tài chính (1925), nay là Trụ sở Bộ Ngoại giao.

Cái tên Quảng trường Ba Đình do bác sỹ Trần Văn Lai, người giữ chức Thị trưởng thành phố từ ngày 20/7 đến 19/8/1945 đặt tên. Sở dĩ, Thị trưởng Trần Văn Lai đặt tên là Ba Đình vì ông cảm phục nghĩa quân Đinh Công Tráng đã chống Pháp rất anh dũng ở căn cứ Ba Đình huyện Nga Sơn, Thanh Hoá vào những năm cuối thế kỷ XIX.

Tháng 8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân của quân và dân ta giành được thắng lợi hoàn toàn. Cách mạng tháng Tám thành công đã đập tan xiềng xích nô lệ kéo dài hàng nghìn năm của chế độ phong kiến, xóa bỏ ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, nhân dân ta từ địa vị nô lệ đã vươn lên trở thành những người chủ của đất nước, tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu.

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 22/8/1945, Bác Hồ rời Tân Trào về Thủ đô Hà Nội. Sáng ngày 26/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong số các quyết định của cuộc họp này, Thường vụ nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ Lâm thời ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa vào ngày 2/9; Chủ tịch Hồ Chí Minh phụ trách thảo bản Tuyên ngôn độc lập.

Có nhiều địa điểm được đưa ra lựa chọn để làm nơi diễn ra sự kiện trọng đại: Lễ Độc lập. Lúc đầu khu Quần ngựa hoặc Đông Dương học xá (Đại học Bách Khoa bây giờ) được đưa vào danh sách lựa chọn nhưng song không phù hợp vì thấy quá xa trung tâm Hà Nội lúc đó. Nếu chọn Quảng trường Nhà hát Lớn thành phố thì lại sợ quá chật chội. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, Quảng trường Ba Đình (Vườn hoa Ba Đình lúc đó) đã được chọn là nơi diễn ra lễ Độc lập, cho dù lúc bấy giờ xung quanh địa điểm này còn có những cơ quan như Phủ Toàn quyền, Thành Hà Nội… là những nơi vẫn còn khá nhiều lực lượng thù địch với cách mạng đang chiếm đóng.

Ngày 28/8/1945, Ban Tổ chức ngày lễ Độc lập được thành lập. Đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao nhiệm vụ cho ông Nguyễn Hữu Đang (1913-2007) làm Trưởng ban, chịu trách nhiệm lo liệu công tác tổ chức ngày lễ Độc lập với một mệnh lệnh: “Đây là sự kiện lịch sử lớn kết thúc Cách mạng tháng Tám và khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa” kèm theo một lời khích lệ đầy tin tưởng: “Việc khó mới giao cho chú!”. Công tác chuẩn bị tổ chức ngày lễ Độc lập được tiến hành gấp rút, tất cả những người tham gia thực hiện nhiệm vụ cao cả ấy đều nỗ lực hết mình, làm việc suốt ngày đêm không mệt mỏi với tinh thần trách nhiệm cao.

Công việc dựng lễ đài bắt đầu từ ngày 28/8 và phải hoàn tất trong ngày 1/9. Theo dự tính, lễ đài phải đủ cao, đủ rộng để 2/3 số dân nội và ngoại thành Hà Nội tham dự có thể nhìn thấy. Là người có kinh nghiệm tổ chức nên ngay lập tức, ông Nguyễn Hữu Đang cho mời các kiến trúc sư để thiết kế lễ đài, đồng thời cho gọi thợ mộc thi công. Lễ đài mừng ngày Độc lập, công trình kiến trúc vĩ đại được làm bằng gỗ, ván, đinh và vải. Thời gian thiết kế và thi công vẻn vẹn trong vòng 48 giờ, yêu cầu chặt chẽ không được chậm trễ, nếu chậm 1 giờ là lỡ thời cơ công bố văn kiện “Tuyên ngôn Độc lập”. Và cuối cùng thì công việc cũng đã hoàn thành theo đúng dự kiến.

Và ngày mà toàn Đảng, toàn quân, toàn dân mong đợi đã đến. Ngày 2/9/1945, khắp mọi nẻo đường, con phố trên Thủ đô Hà Nội đều tung bay cờ, hoa và khẩu hiệu chào đón sự kiện trọng đại có một không hai của dân tộc. Những ai có dịp chứng kiến giờ phút thiêng liêng của lịch sử sẽ không thể quên không khí, bối cảnh Quảng trường Ba Đình ngày lễ Độc lập năm ấy. Một biển người đứng chật Quảng trường rạng rỡ, hân hoan, náo nức, hồi hộp chờ đợi giây phút vị lãnh tụ kính yêu đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Họ giương cao cờ, hoa và biểu ngữ, môi nở nụ cười, miệng hát vang bài ca cách mạng. Rừng cờ tung bay phấp phới trước gió mùa thu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ảnh Internet

Đúng 2 giờ chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bộ kaki giản dị bước lên lễ đài với tư cách là Chủ tịch Chính phủ Lâm thời. Bằng giọng nói ấm áp, truyền cảm, Người đã đọc bản Tuyên ngôn lịch sử của dân tộc Việt Nam. Cả biển người im lặng phăng phắc lắng nghe từng câu, từng chữ của Người. Trước toàn thể quốc dân đồng bào và nhân dân thế giới, Hồ Chủ tịch đã trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Sau khi Bác đọc Tuyên ngôn độc lập, toàn thể thành viên trong Chính phủ làm lễ tuyên thệ nhậm chức. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã trình bày tình hình trong nước và chính sách của Chính phủ. Tiếp đến là Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu báo cáo về việc Đoàn đại biểu Chính phủ đi tước ấn kiếm của Bảo Đại. Đại biểu Tổng bộ Việt Minh Nguyễn Lương Bằng nói về cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Minh và hô hào quần chúng nhân dân đoàn kết ủng hộ Chính phủ, thi hành triệt để chương trình kiến quốc của Việt Minh. Cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh lên lễ đài một lần nữa, Người kêu gọi nhân dân kiên quyết hy sinh để giữ vững nền độc lập mới giành được. Lễ mít tinh đã chuyển thành một cuộc tuần hành rầm rộ trong thành phố.

Kể từ đây, một kỷ nguyên mới bắt đầu mở ra cho dân tộc ta: Kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân lao động sau những năm tháng nô lệ đã rũ bùn đứng lên trở thành con người tự do, người chủ của đất nước. Ba ngày sau đó, ngày 5/9/1945, với tư cách là chủ nhà, Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã đón tiếp quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta.

Sau lễ Tuyên bố độc lập, Quảng trường Ba Đình có tên mới là Quảng trường Độc lập. Những năm sau đó, cùng với bao thăng trầm, đổi thay của đất nước, Quảng trường Ba Đình cũng đã mấy lần đổi tên. Sau năm 1954, có ý kiến lấy tên là Quảng trường Độc lập nhưng Bác Hồ đề nghị giữ cái tên Ba Đình. Ngày Bác mất, Quảng trường Ba Đình lịch sử là nơi diễn ra lễ truy điệu Người. Sau này, Đảng và Nhà nước đã quyết định khởi công xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính tại lễ đài, nơi được dựng lên để Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập vào ngày 2/9/1945 ở Quảng trường Ba Đình.

Quảng trường Ba Đình ngày nay. Ảnh Internet

Đã 66 năm trôi qua kể từ lễ Độc lập 2/9/1945, Quảng trường Ba Đình vẫn còn giữ nguyên giá trị lịch sử, văn hóa cho đến tận ngày nay. Nơi đây đã chứng kiến bao sự kiện lớn, đánh dấu những bước trưởng thành của cách mạng nước nhà trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong suốt những năm qua, Quảng trường Ba Đình lịch sử thường xuyên được chọn là nơi để tổ chức các cuộc mít tinh, diễu binh, diễu hành kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện trọng đại hoặc đón tiếp các đoàn khách quốc tế đến thăm Việt Nam. Đây cũng là nơi diễn ra các hoạt động chính trị – văn hóa lớn có ý nghĩa giáo dục truyền thống, đạo đức cho các thế hệ con cháu Lạc Hồng./.

Thu Hiền (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn