Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9

Công việc đầu tiên của chính phủ đầu tiên

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ lâm thời sau phiên họp chính phủ đầu tiên 3-9-1945 (ông Vũ Đình Hòe đứng cạnh Bác Hồ bên trái) – Ảnh tư liệu

TT – Bất ngờ, chúng tôi được biết ông Vũ Đình Hòe – người từng giữ chức vụ bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục trong Chính phủ lâm thời đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – vẫn còn sống và hiện ở một căn nhà nhỏ tại phường Hiệp Phú, quận 9, TP.HCM.

Đã bước vào tuổi 93 nhưng ông Hòe vẫn còn minh mẫn và rất xúc động khi kể về những ngày đầu lập quốc 60 năm trước mà ông được vinh dự tham gia trực tiếp với tư cách là một bộ trưởng.

Nhiệm vụ đè nặng trên vai bộ trưởng

Ngay sau ngày lịch sử 2-9-1945, ngày 3-9 Bác triệu tập cuộc họp phiên đầu tiên của Chính phủ.

Trong tình hình đất nước vừa thoát ra khỏi kiếp nô lệ, nạn đói lịch sử còn hoành hành khắp nông thôn miền Bắc, quân xâm lược vẫn còn uy hiếp, Bác đã đưa ra sáu vấn đề cấp bách mà Chính phủ cần thảo luận và thực thi khẩn cấp.

Nhiệm vụ đầu tiên là mở ngay những cuộc lạc quyên, tăng gia sản xuất để cứu đồng bào khỏi nạn đói và nhiệm vụ thứ hai ngay sau cứu đói là mở chiến dịch chống mù chữ trong toàn quốc…

“Tôi biết trách nhiệm đang đè nặng trên vai bộ trưởng giáo dục khi Bác nhắc tới vấn đề quan trọng thứ hai và nhìn về phía tôi…” – ông Vũ Đình Hòe nhớ lại. Trong suốt quá trình Pháp thuộc, hơn 90% dân Việt bị mù chữ, chính nạn thất học là một quốc nạn ngày ấy.

Ngày 8-9, Bác Hồ ký ngay sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ để phụ trách việc chống mù chữ trong cả nước – một trong những sắc lệnh đầu tiên của nhà nước non trẻ.

Ông Vũ Đình Hòe kể: “Ngay những ngày đầu Chính phủ hoạt động, Hồ Chủ tịch dành hẳn một giờ để tiếp đoàn cán bộ cao cấp của Bộ Giáo dục sang Phủ chủ tịch làm việc. Biết rõ tác phong ngắn gọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi đi ngay vào vấn đề: “Thưa Cụ chủ tịch, chúng tôi xin phép trình bày ba việc để xin Cụ chỉ giáo”.

Ông Vũ Đình Hòe tại nhà riêng ở phường Hiệp Phú, Q.9, TP.HCM – Ảnh: Vũ Bình – “Ông Vũ Đình Hòe sinh năm 1912, tốt nghiệp Đại học Luật khoa Đông Dương của Pháp mở tại Hà Nội, phó chủ tịch Hội truyền bá quốc ngữ (do cụ Nguyễn Văn Tố làm chủ tịch). Ông gia nhập Đảng Xã hội Pháp (SFIO). Năm 1941, ông cùng những trí thức trẻ ra tờ báo Thanh Nghị trước ngày tổng khởi nghĩa. Ông hoạt động trong Đảng Dân chủ VN với tư cách ủy viên Trung ương Đảng Dân chủ, tham gia Mặt trận Việt Minh và được cử đi dự đại hội Tân Trào…”

Bác nói ngắn gọn và hỏi: “Tôi nghe. Việc thứ nhất?”. “Xin trình Cụ hai dự thảo sắc lệnh, một là thanh toán nạn mù chữ trong vòng một năm và hai là sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ”.

Hồ Chủ tịch sau khi hỏi thăm về cơ sở vật chất cho nha bình dân học vụ đã nhanh chóng tán thành. Chúng tôi đề nghị cho Bộ Giáo dục chỉ thị ngay trong niên học tới đây, tất cả các trường, kể cả đại học, chỉ được dùng tiếng Việt khi học, khi dạy và trong mọi kỳ thi… Hồ Chủ tịch bảo: “Hay đấy nhưng có vội quá không? Các ông đã chuẩn bị đủ chưa?”.

Theo sự phân công trong đoàn, hai anh Nguyễn Văn Huyên và Ngụy Như Kontum, tổng giám đốc các nha đại học vụ và trung học vụ, trả lời Cụ Hồ: “Thưa Cụ chủ tịch, ông Hoàng Xuân Hãn – bộ trưởng trong chính phủ cũ trước đây – đã bắt đầu làm thử ở Trung bộ, xem ra khá trơn tru…

Hồ Chủ tịch nghe xong thì nói ngay: “Ông Hoàng Xuân Hãn tôi có biết hồi còn ở bên Pháp, người này có tâm, thế thì bộ quyết định đi…”.

Sau đó, Bộ Quốc gia giáo dục đã tổ chức hội nghị toàn quốc bình dân học vụ để bàn kế hoạch triển khai sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xóa nạn mù chữ trong một năm.

Đi liền với hội nghị là khai mạc lớp đào tạo giáo viên bình dân học vụ đầu tiên cho toàn quốc, mang tên “Khóa Hồ Chí Minh” được vinh dự đón Hồ Chủ tịch đích thân đến dự”.

“Xã hội hóa giáo dục” từ ngày lập quốc

Ông Vũ Đình Hòe nhớ lại: Thật ra lúc đó không ai tin rằng chỉ một năm là có thể làm được việc xóa mù chữ, vì nếu chỉ dựa vào ngân sách nhà nước thì phải ít nhất 30, 40 năm nữa mới kết thúc được phong trào.

Sao không biết dựa vào sức dân? Có sức dân thì mọi việc sẽ được hoàn thành. Ông Hòe lên diễn đàn và đưa ra bài toán của mình: “Cứ dạy cho một người biết đọc, biết viết trong ba tháng phải tốn ít ra là 6 đồng. Dạy cho 10 triệu người trong một năm phải tiêu hơn 60 triệu đồng tiền sách vở, giấy bút. Nếu trả lương giáo viên thì phải thêm 10 triệu đồng nữa vì phải cần đến 10 vạn giáo viên, mỗi giáo viên có thể dạy 100 học sinh trong một năm”.

Cả hội nghị cùng bàn bạc, góp ý và đi đến thống nhất: về khoản chi cho giáo viên thì không phải tốn vì phong trào sẽ không ai nhận tiền lương. Còn về con số 10 vạn giáo viên thì tính ra cả nước có 57 tỉnh, mỗi tỉnh phải tự tổ chức 2.000 giáo viên, mỗi tỉnh có khoảng 800 làng, mỗi làng phải tự túc lo bảy giáo viên…

Một lớp bình dân học vụ xóa mù chữ sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân – Ảnh tư liệu – “Chiến dịch diệt “giặc dốt”, chống nạn mù chữ từ ấy bừng lên. Khắp mọi nơi hừng hừng khí thế thi đua học văn hóa cùng với việc gia tăng sản xuất diệt “giặc đói”. Người chưa biết chữ thì cố gắng học nhanh cho đỡ phí tổn, người biết chữ thì chồng dạy vợ, con dạy cha, anh dạy em. Học mọi lúc, mọi nơi, trẻ chăn trâu thì ra đồng tranh thủ học trên lưng trâu, các chiến sĩ đi hành quân thì người đi sau kề lên lưng người đi trước mà học.”

Căng nhất vẫn là khoản chi 60 triệu đồng để mua sách vở, ông Hòe đề nghị: “Trong lúc ngân sách còn eo hẹp, các lớp bình dân học vụ có thể dùng phấn hay gạch để viết xuống đất, chi phí sẽ rút xuống còn 2 đồng chứ không phải 6 đồng như trước đây, vậy Chính phủ có thể trả 5 triệu đồng cho khoản đó không?”.

Bộ trưởng Tài chính Phạm Văn Đồng đang ngồi bên dưới trả lời ngay: “được!”. Cả hội trường vỗ tay hoan nghênh. Ông Hòe thừa thắng xông lên: “Còn 15 triệu nữa, chi phí này ta không nhờ Chính phủ mà sẽ trông vào nhân dân, mỗi làng tự lo 1.000 đồng một năm có được không?”.

Các đại biểu từ khắp nơi về dự đều hô to: được… được và vang rền tiếng vỗ tay. Cô huấn luyện viên lớp đào tạo giáo viên Trương Thị Giáo mang sổ vàng lên xin chữ ký Bác Hồ và các bộ trưởng.

Bác Hồ nói: “Tôi khen sáng kiến của ông bộ trưởng. Ông khéo thu xếp để ta làm được việc lớn mà không phải tiêu pha lớn…”.

Tính đến cuối năm 1945, sau hơn ba tháng phát động, theo báo cáo chưa đầy đủ của các tỉnh Bắc bộ gửi về Bộ Quốc gia giáo dục thì đã mở được 22.156 lớp học với 29.960 giáo viên và đã dạy biết chữ cho 519.250 học viên mà tổng chi phí xuất từ ngân sách trung ương là 815,68 đồng, còn lại đều do các địa phương và tư nhân chi trả.

Trung bộ, Nam bộ cũng có những con số tương tự. Không chỉ xóa nạn mù chữ, Bộ Quốc gia giáo dục bấy giờ cũng đã xây dựng được 14 trường trung học, trường kỹ nghệ cao cấp và sơ cấp với tổng số gần 6.000 học sinh trung học.

Ngày 15-11-1945, mặc dù tình thế rất khó khăn nhưng Trường đại học Việt Nam cũng đã khai giảng. Trong tờ trình Quốc dân đại hội (Quốc hội) của Bộ Quốc gia giáo dục sáu tháng sau do ông Vũ Đình Hòe đọc: “Thành công lớn nhất của chính quyền lâm thời trong việc xây dựng nền giáo dục cho đất nước chính là đặt nền tảng cho một nền giáo dục có tính cách duy nhất, chung cho tất cả các giai cấp xã hội, lấy tôn chỉ bình đẳng làm căn bản, là nền giáo dục cách mạng, khác với nền giáo dục Pháp thuộc trước đây”.

Ông Vũ Đình Hòe nói: “Tôi chỉ làm việc ở Bộ Quốc gia giáo dục sáu tháng, sau đó thì chuyển sang làm bộ trưởng Bộ Tư pháp. Nhưng đó là sáu tháng đầy kỷ niệm và ấn tượng không thể nào quên được trong cả cuộc đời”.

VŨ BÌNH

tuoitre.vn

Tinh thần Quốc khánh 2/9 bất diệt

(ĐCSVN) – Cách đây vừa tròn 67 năm, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời, đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội
(Ảnh: Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Năm 1945, tình hình thế giới và trong nước biến chuyển rất nhanh. Tháng 8/1945, Nhật đầu hàng Đồng minh. Quân Đồng minh sắp kéo vào nước ta để giải giáp vũ khí của Nhật. Thực dân Pháp cũng ráo riết chuẩn bị quay trở lại xâm lược nước ta lần nữa. Tình thế lúc này là vô cùng nguy nan, tuy nhiên, lại là thời cơ ngàn năm có một để tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Với nhãn quan cách mạng nhạy bén và sáng suốt, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Lúc này, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng quyết giành cho bằng được độc lập cho Tổ quốc.
Với quyết tâm đó, trong các ngày 16 và 17/8/1945, Tổng bộ Việt Minh đã tổ chức Quốc dân Đại hội Tân Trào, thông qua chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc; đồng thời, thành lập Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Ngày 19/8/1945, hàng chục vạn người dân ở Hà Nội và các tỉnh lân cận theo các ngả đường đã kéo về chật kín Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội. Lúc gần 10 giờ rưỡi, cuộc mít tinh lớn chưa từng có trong lịch sử của nhân dân cách mạng, với sự bảo vệ của Tổ chức Thanh niên tự vệ và Thành đoàn Việt Minh Hoàng Diệu Hà Nội đã diễn ra. Trên diễn đàn, Đại diện Việt Minh dõng dạc phát lệnh Tổng khởi nghĩa. Ngay sau đó, lực lượng nhân dân cách mạng đã tiến thẳng tới Phủ Khâm Sai, cơ quan đầu não của chính phủ bù nhìn. Trước khí thế cách mạng cao ngất của nhân dân, tất cả binh lính bảo vệ Phủ Khâm sai đã hạ vũ khí đầu hàng vô điều kiện, để cho nhân dân làm chủ toàn bộ khu vực. Cũng trong thời gian này, một cánh biểu tình tới chiếm Trại Bảo an binh, đã vấp phải sự can thiệp của quân đội Nhật. Tuy nhiên, trước sức mạnh của cách mạng, quân Nhật đã phải rút lui, nhường Trại Bảo an Binh cho nhân dân làm chủ. Ngay trong đêm 19 tháng 8, Uỷ ban Nhân dân cách mạng Bắc bộ và Uỷ ban Nhân dân cách mạng Hà Nội đã được thành lập. Ngày 20 tháng 8, Ủy ban Nhân dân cách mạng Bắc Bộ, đại diện cho chính quyền cách mạng lâm thời đã chính thức ra mắt toàn thể quốc dân đồng bào tại Bắc Bộ phủ.

Thắng lợi của cách mạng tại Hà Nội như tiếng súng lệnh báo hiệu cho cuộc cách mạng của cả nước. Nhân dân ở tất cả các địa phương đã lần lượt nổi dậy, nhanh chóng phá tan cả hệ thống chính quyền bù nhìn trong cả nước.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Hồ Chủ tịch đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; mở ra một kỷ nguyên mới, một thời đại mới của dân tộc Việt Nam.

Bản Tuyên ngôn lịch sử nhấn mạnh: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Đặc biệt, Tuyên ngôn đã khẳng định: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Hơn sáu thập kỷ đã trôi qua, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân cả nước giành được nhiều thắng lợi quan trọng trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Hiện nay, cục diện trên thế giới đang có nhiều thay đổi, có thuận lợi và có cả khó khăn, phức tạp, nhưng đất nước ta đã lớn mạnh hơn rất nhiều và trở thành một quốc gia có uy tín trên trường quốc tế, là thành viên của nhiều tổ chức trên thế giới như: Liên hiệp quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)… và có quan hệ với hầu hết các nước và khu vực trên thế giới. Vừa qua, Đại hội XI của Đảng đã đưa ra những quyết sách chiến lược, nhằm phấn đấu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Toàn Đảng, toàn dân đang đoàn kết phấn đấu, quyết tâm xây dựng thành công nước Việt Nam thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Kỷ niệm 66 năm ngày Quốc khánh 2-9 năm nay, chúng ta – những người con nước Việt, dù đang ở trong nước hoặc ở xa Tổ quốc, chắc chắn không khỏi xúc động bồi hồi khi nhớ về những năm tháng hào hùng và sôi sục khí thế của những ngày đầu cách mạng. Chúng ta sẽ không thể nào quên những giây phút lịch sử của ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới về sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Dù cho năm tháng qua đi, nhưng tinh thần của Tuyên ngôn độc lập 2/9 vẫn đời đời bất diệt trong tâm hồn mỗi người dân nước Việt Nam hôm nay và mai sau.

Đào Nguyên Lan
cpv.org.vn

Bài 2: Cách mạng Tháng Tám – Bài học lớn về nắm bắt thời cơ

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo thành công cuộc Tổng khởi nghĩa “long trời, lở đất” ngày 19.8.1945 một cách nhanh gọn, ít tổn thất nhất, nhưng thành quả đạt được vô cùng to lớn. Cho đến nay, sau 65 năm nhìn lại, bài học về lựa chọn thời cơ của Cách mạng Tháng Tám vẫn còn nguyên giá trị…

Ngày 19.8.1945, hơn 10 vạn quần chúng thủ đô Hà Nội đã tham gia mít tinh mở đầu cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ảnh: T.L

Thời cơ là tình thế xuất hiện trong thời điểm nhất định có lợi nhất cho việc chủ động phát huy mọi sức mạnh để giành thắng lợi. Ngày Tổng khởi nghĩa 19.8.1945 làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám kỳ diệu, chính là do chúng ta đã kịp thời chớp lấy thời cơ và giành thắng lợi trọn vẹn…

Tháng 10.1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ Trung Quốc về Cao Bằng. Người quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa của các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn vì thời cơ chưa đến, kẻ thù vẫn còn mạnh. Đến ngày 12.3.1945, Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” là một văn kiện lịch sử có ý nghĩa chỉ đạo hành động, chuẩn bị mọi lực lượng để đón thời cơ khởi nghĩa một cách chủ động đã được Đảng ta sớm đề ra, phù hợp với tình hình lúc đó. Ngày 14.8.1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) nhận định thời cơ đã đến, quyết định Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc, giành chính quyền trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Trước đó, trong đêm 13.8.1945, khi Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Lúc này, thời cơ thắng lợi đã tới, dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập.

Ngày 16 và 17.8.1945, Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào, tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, thành lập Ủy ban Dân tộc Giải phóng do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Trong thư kêu gọi đồng bào cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Người cũng khẳng định: “Chúng ta không thể chậm trễ”.

Ngày 19.8.1945, Tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội. Chỉ trong vòng 15 ngày, cuộc Tổng khởi nghĩa đã thành công trong cả nước.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp duyệt các đơn vị vũ trang vừa ở chiến khu về tham gia giành chính quyền ở thủ đô. Ảnh: T.L

Những dấu mốc lịch sử của cuộc cách mạng vĩ đại Tháng 8.1945 đã chứng tỏ nghệ thuật chỉ đạo tài tình của Đảng ta và của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc chọn đúng thời cơ, ra quyết định Tổng khởi nghĩa đúng lúc. Thể hiện cụ thể việc này là trong chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng tháng 3 năm 1945 “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” và bản Quân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc phát đi lúc 23h30 ngày 13.8.1945 hiệu triệu toàn dân đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Chọn thời điểm 13 tháng 8 để phát động Tổng khởi nghĩa là vô cùng sáng suốt, bởi vào thời điểm đó, cách mạng đã lên tới cao trào, lực lượng cách mạng đã lôi kéo được những tầng lớp trung gian, lừng chừng. Có thể thấy, bằng tầm nhìn chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã tận dụng triệt để những thuận lợi cơ bản: Phát xít Nhật hoang mang; Chính phủ Trần Trọng Kim yếu thế; quân Đồng minh chưa vào nước ta; quân Pháp có tham vọng quay trở lại Việt Nam song chưa có lực lượng… Thời cơ khởi nghĩa ngàn năm có một đã được chọn một cách chính xác trong khoảng 15 ngày trước khi quân Tưởng và quân Anh đổ bộ vào Đông Dương. Nếu phát động Tổng khởi nghĩa sớm hơn, nhân dân ta sẽ tổn hại nhiều xương máu. Nếu phát động Tổng khởi nghĩa muộn hơn, khi quân Đồng minh đã vào Đông Dương thì Cách mạng Việt Nam sẽ mất đi thế chủ động của mình và sẽ gặp nhiều khó khăn khác. Cũng nhờ chọn đúng thời cơ mà sức mạnh của nhân dân ta trong Cách mạng Tháng Tám đã được nhân lên gấp bội, đã tiến hành Tổng khởi nghĩa thành công trong phạm vi cả nước trong thời gian ngắn…

Những bài học lịch sử về Cách mạng Tháng Tám còn rất nhiều nhưng 3 bài học về nắm bắt thời cơ, tập hợp lực lượng và xây dựng niềm tin vừa nêu vẫn là những bài học nóng hổi, mang tính thời sự trong công cuộc phát triển đất nước hôm nay. Chúng ta đã ra khỏi chiến tranh, ra khỏi sự kiệt quệ kinh tế và đang trở thành một trong những quốc gia phát triển nhanh trên thế giới. Một nước có diện tích và dân số thuộc vào những nước nhóm đầu, tiềm năng rất lớn chưa được khai thác như nước ta là một thực thể không thể bỏ qua, không thể không xây dựng mối quan hệ hai bên cùng có lợi. Một đất nước ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng ngày càng được củng cố… tạo ra nhiều lợi thế đối nội và đối ngoại. Đó là cơ sở xuất hiện những thời cơ để vươn lên dân giàu nước mạnh.

  • L.C.N.T

baobinhdinh.com.vn

Bài 1: Cách mạng Tháng Tám – ý nghĩa lịch sử và hiện thực

Ngày 2.9.1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ảnh: Tư liệu

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 dẫn tới việc khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có ý nghĩa to lớn đối với dân tộc ta và có ý nghĩa quốc tế sâu sắc.

Cách mạng Tháng Tám là một trong những trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta đã đập tan ách phát-xít Nhật, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp gần 100 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Đảng ta từ khi ra đời bị khủng bố dã man, đã trở thành đảng lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo xã hội.

Từ cuối thế kỷ 19, sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thi hành chính sách thống trị vô cùng tàn bạo. Chúng chia cắt đất nước ta, xóa tên nước Việt Nam trên bản đồ thế giới, thẳng tay chém giết những người yêu nước, cướp đoạt ruộng đất, tài nguyên, bóc lột dân ta đến tận xương tủy, thực hiện chính sách ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn làm cho nòi giống ta suy nhược.

Khi phát-xít Nhật xâm lăng Đông Dương, thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, dân ta chịu hai tầng áp bức: quân phiệt Nhật và thực dân Pháp. Cuối năm 1944, đầu năm 1945, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói thảm thương.

Tiếp nối truyền thống bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc, biết bao bậc trung nghĩa đứng lên chống thực dân Pháp giành độc lập, nhưng đều thất bại vì không có một đường lối cứu nước đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê-nin – lý luận cách mạng tiên tiến của thời đại – đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn và sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành các cao trào cách mạng, vượt qua bao hy sinh, tổn thất để giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám, đem lại cuộc biến đổi xã hội chưa từng có và tạo ra bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc.

Cách mạng Tháng Tám đã để lại cho chúng ta những kinh nghiệm lịch sử quý báu, mãi mãi soi sáng các chặng đường cách mạng Việt Nam. Ðó là bài học giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xác định và kết hợp đúng đắn các nhiệm vụ chiến lược trong từng thời kỳ cách mạng; bài học về phát động sức mạnh toàn dân tộc, lấy sức mạnh của đội quân chủ lực công – nông làm nòng cốt; bài học thực hiện triệt để phương châm “thêm bạn bớt thù”; bài học về nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ; bài học về xây dựng một đảng Mác – Lê-nin có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ sáng suốt, thường xuyên vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, gắn bó mật thiết với nhân dân, có đội ngũ cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu, chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, cùng nhiều bài học khác.

65 năm qua, tiếp nối truyền thống và phát huy thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Ðảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhìn lại những thắng lợi đã qua, chúng ta càng thấy tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám.

Ngày 19.8.1945, tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, các lực lượng quần chúng cách mạng đánh chiếm Bắc Bộ Phủ. Ảnh: T.L

 

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đem lại niềm tin tự giải phóng, cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống ách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, mở ra thời kỳ tan rã của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Ðánh giá ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Ðảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Cách mạng Tháng Tám thành công là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ngọn cờ đó đã dẫn dắt nhân dân ta giành thắng lợi suốt 60 năm qua. Tiếp bước con đường của Cách mạng Tháng Tám, trước yêu cầu phát triển đất nước và trước những thời cơ và nguy cơ, Đảng ta và nhân dân ta xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam hiện nay là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, nhiệm vụ trước hết phải chăm lo xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt, ngăn ngừa mọi sự chống phá của các thế lực thù địch. Vì vậy, nhiệm vụ phát triển kinh tế, đẩy mạnh CNH, HĐH được Đảng xác định là nhiệm vụ trung tâm.

65 năm trước đây, Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng các tầng lớp nhân dân khỏi ách thống trị, bóc lột của chế độ thực dân phong kiến, đem lại cho mọi người dân Việt Nam quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Độc lập, tự do, hạnh phúc luôn là mục tiêu nhất quán của chế độ mới. Ngày nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cũng đang tiếp tục phấn đấu theo mục tiêu nhân văn cao cả đó.

Phát huy bản sắc truyền thống “Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc” của dân tộc, Cách mạng Tháng Tám là biểu tượng sáng ngời của ý chí quật khởi của cả dân tộc. Thấm nhuần sâu sắc kinh nghiệm đại đoàn kết dân tộc của Cách mạng Tháng Tám, hơn lúc nào hết, ngày nay chúng ta phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, các giai cấp, tầng lớp, mọi thành phần kinh tế, mọi giới, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài, hướng sức mạnh đó vào mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Vào thời điểm Cách mạng Tháng Tám 1945, vị thế nước ta trên trường quốc tế còn thấp, nhưng Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nắm chắc và dự đoán đúng tình hình thế giới, tận dụng thời cơ, phối hợp hành động, làm chuyển hóa so sánh thế và lực giữa ta và địch, tạo nên sức mạnh tổng hợp áp đảo kẻ thù. Ngày nay, chúng ta có thời cơ hơn để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, lấy tự lập tự cường, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ tối đa những điều kiện quốc tế thuận lợi để bồi bổ sức mạnh dân tộc và kết hợp với sức mạnh quốc tế thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Lãnh đạo toàn dân làm Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Đảng ta lúc đó chỉ có 5.000 đảng viên và phải hoạt động bí mật, điều kiện thông tin liên lạc để lãnh đạo, chỉ đạo phong trào toàn quốc hết sức khó khăn. Nhưng nhờ có đường lối đúng đắn của Đảng và Bác Hồ, sự chủ động, sáng tạo của tổ chức đảng, đoàn thể quần chúng và nhân dân ở các địa phương nên khởi nghĩa đã nổ ra đồng loạt và có sự phối hợp từng vùng, từng miền và trên phạm vi cả nước. Ðó là một bài học hết sức quý báu về sự lãnh đạo của Ðảng và xây dựng Ðảng trong bất cứ thời kỳ cách mạng nào.

Nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện có kết quả hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là vấn đề có ý nghĩa sống còn của nước ta hiện nay. Chúng ta vững tin rằng, dưới sự lãnh đạo của Ðảng một dân tộc đã rửa được nỗi nhục mất nước, một dân tộc đi tiên phong chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, thì dân tộc ấy nhất định có đủ nghị lực và sức mạnh chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên sánh vai cùng các dân tộc trên thế giới.

  • L.C.N.T

baobinhdinh.com.vn

Thư trả lời ông H. (Thượng Huyền) (9-4-1925)

Tôi xin cảm ơn ông đã gửi cho tôi hai tập viết của ông: Cách mệnh (1). Tôi đã đọc cả hai tập ấy. Ông còn yêu cầu tôi góp ý kiến nhận xét. Vâng, xin chiều theo ý ông!

Đứng về mặt phê bình, nghĩ như thế nào tôi xin nói thẳng với ông như thế ấy. Tôi không chắc rằng tất cả những nhận xét của tôi đều sai cả; nhưng xin ông cứ bác bỏ những nhận xét nào ông cho là khó hiểu. Việc trao đổi này sẽ có lợi cho cả hai chúng ta.

Trước hết tôi xin nói rằng tôi rất phấn khởi thấy ông đã dũng cảm và thiện ý viết hai tập này. Dũng cảm là vì ông đã viết bằng quốc ngữ 2 về một đề tài khá rộng mà từ trước đến nay chưa ai dám đề cập đến. Còn tinh thần thiện ý thì đã thể hiện rõ ở trên 32 trang giấy mà ông đã viết. Tất nhiên là 32 trang ấy chưa đủ để in thành sách. Nhưng nếu viết để đǎng báo, thì cũng đã khá tốt rồi!

Bài viết của ông có nhiều điển tích và dẫn chứng lịch sử. Điều đó chứng tỏ rằng ông rất thích đọc sách.

Bây giờ tôi xin bắt đầu nhận xét. Tôi luôn luôn nhớ rằng phê bình thì dễ, còn sáng tác nghệ thuật thì khó. Ví như, khi xem một bức tranh vẽ, chỉ ra được những sai sót hoặc nêu lên được những ưu điểm này nọ, thì dễ. Khi nghe một người khác dạo một bản nhạc, tôi có thể nhận xét anh ta chơi có hay hay không. Còn nếu ông bảo tôi hãy cầm bút vẽ bức tranh ấy hoặc cầm lấy nhạc cụ có dây kéo cho ra tiếng, thì tôi chịu…

Trên đây tôi có nói rằng, bài viết của ông có nhiều điển tích, nhưng tôi ngại điển tích ông nêu ra quá nhiều. Dùng điển tích là tốt, nhưng nếu lạm dụng sẽ làm cho độc giả khó chịu. Bởi vì tính chất cao xa, thâm thuý của các điển tích thường cũng hay bao hàm những ý nghĩa mơ hồ có thể làm cho người ta hiểu lầm. Một câu tục ngữ Pháp có nói: “Hứa hẹn nhiều bơ hơn là bánh mì”. Tôi nghĩ rằng một tác phẩm vǎn chương không cứ dài mới hay. Khi nào tác phẩm ấy chỉ diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói, khi nó được trình bày sao cho mọi người ai cũng hiểu được, và khi đọc xong độc giả phải suy ngẫm, thì tác phẩm ấy mới xem như là một tác phẩm hay và biên soạn tốt. ý kiến của tôi dựa vào hai câu trích dẫn sau làm bằng chứng:

Trong sách Luận ngữ, chúng tôi dẫn câu này: Tǎng Tử trả lời “Tất nhiên”. Câu ấy chỉ gồm có một từ. Một từ mà cũng đã rất đủ để thể hiện cả nghị lực và toàn bộ kiến thức của Tǎng Tử. Khi đọc từ ấy, lẽ nào người ta không hình dung được niềm vui sáng lên trong cái nhìn của Khổng Tử và tâm trạng vui của vị sư phụ đang đàm đạo với môn đệ.

Tôi thách ai có thể thêm, bớt một chữ nào trong câu ấy. Đó là lối hành vǎn thật sự trong sáng và cao xa.

Có một lần, một vị tướng của Napôlêông đệ nhất bị bao vây ở Oatéclô. Kẻ địch ra lệnh cho ông ta đầu hàng; ông đáp cộc lốc: “Cứt”. Câu nói ấy chỉ có một từ, lại là một từ tục tĩu. Nhưng trong tình thế nguy kịch nghiêm trọng ấy của vị tướng, nghìn lời nói khác cũng không thể nào thể hiện được hơn lòng dũng cảm và sự khinh bỉ của ông đối với kẻ thù. Và chỉ một lời đáp ấy cũng đủ để vị tướng củng cố được đội ngũ của mình. Chỉ câu nói ấy cũng đủ làm cho tên ông vang dội khắp châu Âu. Nó còn được ghi vào biên niên sử cho đến ngày nay và người Pháp ai cũng biết đến lời đáp ấy.

Vì vậy, một lối hành vǎn giản dị, chính xác hơn hẳn cái lối hành vǎn rườm rà, hoa mỹ.

Ngôn ngữ của ta còn nghèo. Khi nói, chúng ta phải vay mượn nhiều từ ngữ nước ngoài, nhất là từ ngữ Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng lạm dụng từ ngữ Trung Quốc chỉ làm cho vǎn thêm khó hiểu, trừ những từ thông dụng mà ai cũng đã biết và trừ những từ mới, như người bônsêvích, chủ nghĩa bônsêvích, tài chính… Ông nói, chúng ta phải giúp cho đồng bào ta làm quen với những từ mà nay họ chưa hiểu, lâu rồi họ cũng sẽ hiểu. Có thể làm như vậy được, nếu ông chỉ nghĩ đến viết cho họ tác phẩm vǎn học… Còn nếu tác phẩm của ông lại định dùng để tuyên truyền thì đó phải là một tác phẩm ai đọc cũng hiểu được. Một tác phẩm hành vǎn hay mà khó hiểu thì chẳng có ích gì. Ví như, bảo đồng bào chúng ta hãy lắng nghe một người Pháp hay một người Trung Quốc hát: dù cho những ca sĩ ấy là những nghệ sĩ tuyệt vời đi nữa thì họ cũng không lôi cuốn được đồng bào ta.

Tôi xin chia những điều phê bình của tôi thành hai phần: phần thứ nhất nói về hình thức bài viết của ông, và phần thứ hai nói về nội dung.

cpv.org.vn

Đại hội công nhân và nông dân (2-5-1925)

Đây là Đại hội lần thứ nhất của nông dân tỉnh Quảng Đông và là Đại hội lần thứ hai của công nhân toàn Trung Quốc, cả hai Đại hội cùng họp chung.

Đại hội lần thứ nhất của công nhân Trung Quốc họp nǎm 1922 ở Quảng Châu. Lúc đó cũng đã quyết định sẽ họp Đại hội lần thứ hai vào nǎm sau. Nhưng bọn quân phiệt áp bức đã giết hại và bắt giam các chiến sĩ, buộc các tổ chức công nhân miền Bắc phải đi vào hoạt động bất hợp pháp. Vì vậy, các đại biểu những tổ chức ấy không thể họp đại hội vào thời điểm đã ấn định.

Khi Ngô Bội Phu và đồng bọn bị đánh đổ, hoạt động của vô sản mới lại xuất hiện trở lại ở Hoa Bắc.

Điều cần chú ý là trong khi các tổ chức công nhân phía Bắc bị bọn quân phiệt giải tán thì các tổ chức công nhân phía Nam dựa vào Chính phủ cách mạng Quốc dân đảng lại phát triển nhanh chóng.

Sau khi tập hợp được lực lượng và chấn chỉnh lại đội ngũ ở phía Bắc, vô sản trong toàn Trung Quốc mới triệu tập Đại hội lần thứ hai ở Quảng Châu ngày 1 tháng 5.

Những người cách mạng Quảng Đông, trong khi giúp đỡ vô sản ở thành phố cũng không quên vô sản ở nông thôn. Trong hai nǎm, họ đã tập hợp được hơn 200.000 bần nông và công nhân nông nghiệp vào tổ chức.

Để có một sự lãnh đạo thống nhất về công tác và đấu tranh, nông dân có tổ chức ở các huyện quyết định họp Đại hội tỉnh lần thứ nhất.

Do đã nhất trí với nhau và nhằm thực hiện một mặt trận thống

nhất giữa những người bị bóc lột ở các thành phố với những người bị bóc lột ở nông thôn, những người lãnh đạo đã triệu tập đồng thời vào một lúc hai Đại hội họp ở cùng một địa điểm.

Khai mạc Đại hội – Cổng chính và đại lễ đường Trường đại học Quảng Châu trang trí rất đẹp bằng cờ đỏ và cờ đuôi nheo. ở ngay cửa vào có treo một tấm bảng lớn kết toàn bằng hoa, trên có câu “Vô sản và nông dân đoàn kết” (tất nhiên là bằng chữ Trung Quốc). Trên lễ đài có chân dung bác sĩ Tôn Dật Tiên, chân dung Các Mác, Lênin, Lipnếch và Rôda Lucxǎmbua. ở hai bên phòng họp, có treo ảnh các chiến sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp của vô sản Trung Quốc, có tranh vẽ và khẩu hiệu cách mạng, những lời chúc mừng của các tổ chức công nhân, binh lính và nông dân.

Trước giờ, phòng họp đã chật ních. Lễ khai mạc mở đầu bằng bản nhạc và bài Quốc tế ca. Những người đại diện của Quốc dân đảng và trong ban tổ chức đọc diễn vǎn chào mừng các đại biểu. Đại diện Quốc tế Công hội đỏ 33 được nhiệt liệt hoan nghênh; diễn từ của vị đại diện ấy bị ngắt quãng bằng những tràng vỗ tay vang lên như sấm.

Lễ kết thúc, các đại biểu ra tham dự cuộc biểu tình do nhân dân Quảng Châu chuẩn bị. Binh lính, sinh viên, nông dân từ các xã đến, công nhân, học sinh các trường quân sự, tất cả thanh niên cách mạng và lao động đều có mặt. Có hơn 100.000 người tham gia biểu tình. Các báo đều thừa nhận chưa khi nào có một cuộc tập trung đông đảo và phấn chấn như vậy.

Cờ đỏ dẫn đầu, đoàn biểu tình kéo đi qua các đường phố lớn, vừa đi vừa hát những bài ca cách mạng. Lời hô “Đả đảo chủ nghĩa đế quốc!”, “Cách mạng muôn nǎm!” vang đến tận các tô giới nước ngoài. Hàng nghìn thuyền bè trương cờ kéo đi trên sông, hưởng ứng lời hô của những người biểu tình bằng những lời hoan hô của những tràng pháo nổ. Thật là một cảnh tượng hùng vĩ. Những cụ già người Trung Quốc, thích cảnh phúng dụ, cho rằng rồng đỏ đã giáng trần trong thành phố. Đúng như vậy, những người biểu tình ai cũng cầm trong tay một lá cờ đỏ, hình nhỏ, có ghi một trong những khẩu hiệu sau đây:

a) Liên minh công nông muôn nǎm!

b) Trung Quốc giải phóng muôn nǎm!

c) Vô sản tất cả các nước, liên hiệp lại!

d) Đả đảo chủ nghĩa đế quốc!

đ) Đả đảo chủ nghĩa quân phiệt!

e) Vô sản Trung Quốc, chúng ta hãy đoàn kết!

g) Đả đảo bọn phản bội giai cấp công nhân!

h) Ngày làm 8 giờ muôn nǎm!

v.v. và v.v..

Không xảy ra một sự cố gì. Tôi phải nói đến điều này, bởi vì trừ ở nước Nga Xôviết và Quảng Châu cách mạng, giai cấp tư sản tất cả các nước đều có thói quen lợi dụng ngày 1 tháng Nǎm 34 để tàn sát công nhân.

Một bức điện tín. Sau cuộc lễ, Đại hội đã gửi bức điện sau đây cho Quốc tế Công hội đỏ:

“Kính gửi Quốc tế Công hội đỏ, nhờ chuyển cho các tổ chức công nhân và tổ chức cách mạng tất cả các nước.

“Bị nhiều tầng áp bức của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa tư bản, từ mấy nǎm nay, giai cấp vô sản Trung Quốc đã ra sức tổ chức nhau lại để chống bóc lột.

Trong ngày 1 tháng Nǎm này, ngày giai cấp vô sản quốc tế biểu tình chống kẻ tử thù của mình là chủ nghĩa tư bản, chúng tôi, đại biểu cho quần chúng nhân dân lao động Trung Quốc họp Đại hội toàn quốc lần thứ hai ở Quảng Châu.

“Đồng thời, chúng tôi đã có một cuộc họp chung với đại biểu của 300.000 nông dân đã có tổ chức. Chúng tôi sẽ cùng nhau hoạt động vì lợi ích của công nhân, nông dân nghèo Trung Quốc.

“Chúng tôi đều biết rằng giải phóng nhân dân lao động phải là sự nghiệp của bản thân những người lao động. Chúng tôi cũng biết rằng bọn đế quốc có mặt trận thống nhất của chúng, và rằng nếu vô sản nước Mỹ, vô sản châu Âu và vô sản Nhật Bản mà không cùng nhau tay nắm tay hành động cùng với các dân tộc bị áp bức

các nước thuộc địa và nửa thuộc địa thì không thể nào đánh đổ được chủ nghĩa đế quốc. Vì vậy, chúng ta phải xây dựng một tổ chức rộng lớn của những người vô sản toàn thế giới và của quần chúng bị áp bức bóc lột ở tất cả các nước. Có đoàn kết chúng ta mới chiến thắng được đế quốc, chiến thắng được bọn phản động và những tên phản bội Quốc tế vàng Amxtécđam 35 .

“Mặt trận thống nhất vô sản quốc tế muôn nǎm!

“Cách mạng vô sản muôn nǎm!”

Đó là ngày đầu tiên của hai cuộc Đại hội.

Việc gia nhập Quốc tế Công hội đỏ và gia nhập Hội đồng Quốc tế Nông dân ở Mátxcơva đã được ghi vào biên bản.

Sắp tới tôi sẽ gửi báo cáo chi tiết cho các đồng chí.

——————————–

Quảng Châu ngày 2-5-1925
HOWANG T.S
cpv.org.vn

Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu (10-1925)

Do sức ép của công luận ở Pháp và ở Đông Dương, ông Varen đã nửa chính thức hứa sẽ chǎm sóc vụ Phan Bội Châu. Ông hứa thế; giả thử cứ cho rằng một vị toàn quyền Đông Dương mà lại biết giữ lời hứa đi chǎng nữa, thì chúng ta vẫn được phép tự hỏi liệu quan toàn quyền Varen sẽ “chǎm sóc” vụ ấy vào lúc nào và ra làm sao.

Trước hết, ngài chỉ muốn chǎm sóc đến khi nào yên vị thật xong xuôi ở bên ấy đã.

Nhưng ngài lại chỉ vừa mới xuống tàu, mà hành trình từ Mácxây đến Sài Gòn kéo chừng bốn tuần lễ cơ. Như vậy có nghĩa là trong bốn tuần lễ đó, Phan Bội Châu vẫn bị giam trong tù.

* * *

Đến Sài Gòn thì ông Varen, có gì mà không lường trước được, sẽ bị quấn quýt lấy, lôi kéo đi, giằng co, ru vỗ, ấp ủ trong mớ bòng bong những buổi chiêu đãi, những cuộc tiếp với rước, những lời chúc với tụng. Tiếp đấy là một cuộc tuần du linh đình qua khu phố bản xứ, giữa hàng nghìn người da vàng đã được nước Pháp hàng phục bằng sức mạnh của lưỡi lê, nay giao phó vận mệnh trong tay quan toàn quyền. Và đó cũng là lần đầu tiên trong đời mình, hai con mắt của ông Varen được thấy hiển hiện cái huyền diệu của một thành phố Đông Dương, dưới lòng đường, trên vỉa hè, trong cửa tiệm. Những cu li xe 1 kéo xe tay phóng cật lực, đôi bàn chân trần

giẫm lạch bạch trên mặt đường nóng bỏng; những quả dưa hấu bổ phanh đỏ lòm lòm; những xâu lạp xường lủng lẳng dưới mái hiên các hiệu cơm; cái rốn một chú khách trưng ra giữa trời; một viên quan uể oải bước qua, tay phe phẩy cái quạt, ngực đeo tấm bắc đẩu bội tinh 1 hình chữ thập. Thật là lộn xộn! Thật là nhốn nháo!

Bỗng dưng tất cả dừng lại, dưới cây đũa thần, hay đúng hơn dưới ngọn roi gân bò mà viên đội xếp Tây vừa vung lên vừa quát tháo: “Cái giống tởm nhà mày! Có cút đi không, cái giống tởm!”. Thế là cái đám đông lúc nhúc đứng sắp hàng, vừa yên lại vừa lặng, hai bên lề đường. Gì thế nhỉ ? Xe ô tô quan toàn quyền sắp đi qua đấy … Xe kia rồi! Lại cả ông Toàn quyền đây rồi!

– Quan có cái mũ hai sừng trên chóp sọ! Một chú bé con thầm thì.

– ồ! Cái áo dài đẹp chửa! Một chị con gái thốt ra.

– Ngài sắp diễn thuyết đấy! Một anh sinh viên kêu lên.

– Đôi bắp chân ngài bọc ủng! Một bác cu li xe thở dài.

– Rậm râu, sâu mắt 12 ! Một nhà nho lẩm bẩm.

Thế là ô tô ông Varen chạy qua giữa hai hàng rào con người, lưng khom lại khi ngài đến gần. Cùng lúc, một tiếng rào rào nổi lên: “Lạy quan lớn! Bẩm lạy quan lớn ạ!” 3 .

Trong khi đó thì Phan Bội Châu vẫn nằm tù.

* * *

Từ Sài Gòn ra Hà Nội, ông Varen sẽ dừng lại Huế. Triều đình An Nam, do hoàng đế hay hình bóng hoàng đế dẫn đầu sẽ tất tưởi đi nghênh tiếp hiện thân tôn nghiêm của nước Pháp. Đức kim thượng Khải Định sẽ thỉnh ông Varen thǎm hoàng cung, và ông Varen sẽ vào. Hoàng thượng Khải Định sẽ thỉnh ông Varen dự yến, và ông Varen sẽ ǎn. Đến lúc tráng miệng, hoàng thượng đứng dậy, ngài uy nghi tiến đến gần quan toàn quyền; đưa những ngón tay dài và mảnh, lấp lánh châu ngọc đỏ xanh, ngài cài lên ngực ông Varen loại tưởng lệ phong tặng cao quý nhất của hoàng triều: Nam long bội tinh, và thế là ông Varen được gắn mề đay.

Trong khi đó thì Phan Bội Châu vẫn nằm tù.

* * *

Nhưng chúng ta hãy theo dõi, theo dõi bằng đôi cánh của trí tưởng tượng, những trò lố chính thức của ông Varen. Hãy theo ông đến tận Hà Nội, tận cổng nhà lao chính, tận xà lim, nơi người đồng bào tôn kính của chúng ta đang rên xiết.

Ôi thật là một tấn kịch! Ôi thật là một cuộc chạm trán! Con người đã phản bội giai cấp vô sản Pháp, tên chính khách đã bị đồng bọn đuổi ra khỏi tập đoàn, kẻ đã ruồng bỏ quá khứ, ruồng bỏ lòng tin, ruồng bỏ giai cấp mình, lúc này mặt đối mặt với người kia, con người đã hy sinh cả gia đình và của cải để xa lánh khỏi thấy mặt bọn cướp nước mình, sống xa lìa quê hương, luôn luôn bị lũ này sǎn đuổi, bị chúng nhử vào muôn nghìn cạm bẫy, bị chúng kết án tử hình vắng mặt, và giờ đây đang bị, vẫn chúng, đeo gông lên vai, đày đoạ trong nhà giam, ngày đêm bị bóng dáng của máy chém như một bóng ma ám kề bên cổ.

Giữa kẻ phản bội nhục nhã và bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng, giữa hai con người đó xảy ra chuyện gì đây?

– Tôi đem tự do đến cho ông đây! Varen tuyên bố vậy, tay phải giơ ra bắt tay Phan Bội Châu, còn tay trái thì nâng cái gông to kệch đang xiết chặt Bội Châu trong nhà tù ảm đạm.

“Nhưng, có đi phải có lại, tôi yêu cầu ông lấy danh dự hứa với tôi là sẽ trung thành với nước Pháp, hãy cộng tác, hãy hợp lực với nước Pháp để tiến hành ở Đông Dương một sự nghiệp khai hoá và công lý.

“Ông Phan Bội Châu, tôi biết rõ tâm hồn cao thượng và cuộc đời đầy hy sinh, nhiều nguy nan của ông, và chính tôi, tôi xin là người đầu tiên, với tư cách là toàn quyền Đông Dương, được bày tỏ tấm lòng rất mực quý trọng ông. Song những ý tưởng hào hiệp nhất phải chǎng bao giờ cũng hay nhất? Phải chǎng bao giờ cũng thực hiện được? Than ôi, không đâu, ông ạ! Vả lại, trời ơi! Tại sao chúng ta lại cứ cố chấp cãi lộn nhau mãi thế này, trong lúc ông và tôi, tay nắm chặt tay, chúng ta có thể làm được biết bao công việc tốt đẹp cho xứ Đông Dương này? Chúng ta có thể cùng nhau làm cho nước ông trở thành một quốc gia tân tiến lớn, một xứ tự trị, một nước Pháp ở châu á!

“Ô! Ông nghe tôi, ông Phan Bội Châu này! Ông hãy để mặc đấy những ý nghĩ phục thù của ông, hãy từ bỏ đi những mưu đồ xưa cũ, và, thôi, chớ tìm cách xúi giục đồng bào ông nổi lên chống lại chúng tôi nữa; trái lại, ông hãy bảo họ cộng tác với người Pháp, và, làm như vậy là ông sẽ được tất cả, được cho đất nước ông, được cho bản thân ông!

“Về chuyện này, tôi có thể kể ông nghe gương của một trong những trợ thủ cũ của ông, là ông Nguyễn Bá Trác; ông biết đấy, ông này đã biết điều rồi và hiện nay thì đã đứng về phía chúng tôi. Nhưng nếu gương của người đồng bào ông, ông cho là chưa đủ, thì tôi xin kể gương đồng bào của chính tôi cho ông nghe, gương các bạn học của tôi từ hồi còn nhỏ, các chiến hữu của tôi, Guyxtavơ, Alếchxǎng, Arixtít, Anbe, Pôn và Lêông 11 . Những vị ấy, ngày nay lừng danh cả, đều đã lần lượt đốt cháy những cái mà mình đã tôn thờ và đang tôn thờ những cái mà mình đã đốt cháy. Như vậy các vị ấy có sao không ? Chẳng sao cả. Nền dân chủ của chúng tôi, nhờ Chúa! Rất là tốt! Thật thế, nền dân chủ hào hùng của nước Pháp, mà hôm nay tôi được vinh dự thay mặt giữa các ông, khoan dung với những người, như tôi, đã đoạn tuyệt với những lầm lạc của tuổi trẻ.

“Nhưng sao thế, ông hãy nhìn tôi này, ông Phan Bội Châu! Trước tôi là đảng viên xã hội đấy, và giờ đây thì tôi làm toàn quyền…!”.

ừ thì Phan Bội Châu nhìn Varen. Nhưng, lạ chưa! Những lời nói của Varen hình như lọt vào tai Bội Châu chẳng khác gì “nước đổ lá khoai” 1 , và cái im lặng dửng dưng của Bội Châu suốt buổi gặp gỡ hình như làm cho Varen sửng sốt cả người.

Không phải vì một bên nói tiếng Nam, một bên nói tiếng Tây: đã có một viên quan ở đấy làm thông ngôn cơ mà. Nhưng cứ xét binh tình, thì đó chỉ là vì Bội Châu không hiểu Varen cũng như Varen không hiểu Bội Châu

*

*      *

Cuộc gặp gỡ chấm dứt ở đấy, hay ít ra là không ai biết được gì hơn nữa. Chỉ có anh lính dõng An Nam bồng súng chào ở cửa ngục là cứ bảo rằng, nhìn qua chấn song, có thấy một sự thay đổi nhẹ trên nét mặt người tù lừng tiếng. Anh quả quyết – cái anh chàng ranh mãnh đó- rằng có thấy đôi ngọn râu mép người tù nhếch lên một chút rồi lại hạ xuống ngay, và cái đó chỉ diễn ra có một lần thôi.

Nếu quả thật thế, thì có thể là lúc ấy Bội Châu có mỉm cười, mỉm cười một cách kín đáo, vô hình và im lặng, như cánh ruồi lướt qua vậy 2 .

T.B. – Một nhân chứng thứ hai của cuộc hội kiến Varen – Phan Bội Châu (xin chẳng dám nêu tên nhân chứng này) lại quả quyết rằng Bội Châu 1 đã nhổ vào mặt Varen; cái đó thì cũng có thể.

NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————–

Báo Le Paria, số 36 – 37,
tháng 9 và tháng 10 – 1925.
Nguyễn ái Quốc: Truyện và ký, Nhà xuất bản Vǎn học, Hà Nội, 1974, tr. 31-37.
Theo bài in trong sách Truyện và ký.
cpv.org.vn

Báo cáo gửi Quốc tế nông dân về nghị quyết của Đảng bộ Quốc dân Đảng Quảng Đông về vấn đề nông dân

Bản nghị quyết mở đầu rằng, cuộc cách mạng dân tộc không thể hoàn thành nếu không có sự ủng hộ của quần chúng; và rằng, ở Trung Quốc, 85% quần chúng là nông dân. Nhận thức rõ điều quan trọng đó, Quốc dân đảng – từ khi được cải tổ – đã chú ý đến mức tối đa vấn đề nông dân.

Lòng hǎng hái của nông dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông dân rất muốn tự tổ chức nhau lại. Sau một nǎm kể từ tháng 5 nǎm ngoái, 22 Hội nông dân đã được thành lập.

Ngày 1 tháng 5, một hội nghị có 117 đại biểu dự – đại diện cho 210.000 nông dân đã tham gia tổ chức -, thành lập Hội nông dân tỉnh. Chưa đầy 6 tháng sau, đã có thêm 11 Hội nông dân huyện nữa được thành lập, nâng tổng số Hội nông dân huyện lên tới 33 hội với 450.000 hội viên.

Ngay cả những nông dân sống dưới sự áp bức của bọn quân phiệt Đặng Phù Ninh và bè lũ, cùng những anh em của họ ở Huệ Nam, Quảng Tây, Hà Nam, Hồ Nam và các tỉnh khác đều noi gương. Họ tổ chức một cách bí mật hoặc công khai, nhưng họ đã có tổ chức.

Tinh thần cách mạng của họ. Khi bác sĩ Tôn tiến hành cuộc khảo sát ở miền Bắc thì chính tự vệ nông dân cùng với tự vệ công nhân đã hộ vệ ông tới Thiều Châu. Trong thời gian xảy ra cuộc bạo động của bọn hổ thương, chính tự vệ nông dân đã hợp tác với tự vệ công nhân để bảo vệ Chính phủ cách mạng, trong khi nông dân

Đông San đã dùng vũ lực ngǎn chặn bọn lính tình nguyện của thương nhân huyện này không để chúng xuất quân đi đánh Quảng Châu. Trong cuộc chiến tranh sông Đông vừa qua, nông dân ở Đông Hoàn, Hải Phong, Lục Phong và Phù Nguyên đã làm tất cả mọi việc để giúp đỡ quân đội của Đảng. Trong thời gian cuộc phản loạn của Lưu và Dương, nông dân nhiều huyện đã nổi dậy và tiến công những đội quân phản loạn và giúp đỡ Chính phủ cách mạng tiêu diệt bọn quân phiệt phản loạn trong vòng mấy ngày. Gần đây, nông dân Đông Hoàn đã hỗ trợ một cách có hiệu quả binh lính của Chính phủ tước vũ khí khi bọn lính ngoan cố của Lam Sooyai và những tên khác. Lần này nông dân Hải Phong lại chịu đựng những sự hy sinh lớn để giúp đỡ quân đội của Đảng trong cuộc chinh phạt sông Đông hiện nay.

Sự đau khổ của họ. Thế nhưng những nông dân anh dũng đó lại là những người bị bóc lột và bị áp bức hơn ai hết! Trước hết, họ bị đội hương dũng áp bức. Tổ chức này do bọn địa chủ lớn và bọn hào lý xây dựng nên, chúng trang bị vũ khí cho những người nông dân để chống lại những người anh em cùng giai cấp của mình. Bọn địa chủ và bọn hào lý có ý định dùng đội hương dũng để bảo vệ nông dân chống lại bọn phỉ, nhưng trong thực tế tổ chức này còn tồi tệ hơn cả bọn phỉ.

ở một xã như Lisao, nông dân bị buộc phải nộp mỗi nǎm 100.000 đôla để duy trì đội hương dũng. ở một làng nhỏ như Huệ Đức người ta lột của nông dân mỗi nǎm hơn 20.000 đôla. ở Thuận Đức, viên chỉ huy đội hương dũng cứ mỗi nǎm kiếm lợi được 70.000 đôla. ở các huyện khác, nông dân cũng bị bóc lột như vậy. Để moi tiền của nông dân, đội hương dũng đã thu ít nhất là 20 loại thuế.

Những kẻ áp bức họ. Trước kia nông dân thụ động. Hiện nay, với tổ chức của mình, họ tự bảo vệ mình. Do đó những kẻ áp bức họ chỉ còn trông cậy vào những hành động tội ác.

Không có tháng nào mà không có một vài Hội nông dân bị triệt phá hoặc một vài chiến sĩ bị sát hại. Đây là bản tóm tắt một sổ đen: 1924 – tháng 5 – tháng 6, hai Hội nông dân ở Quảng Ninh bị triệt phá. Tháng 7 – tháng 8, Hội nông dân Nam Phố và Nam Hội bị triệt phá. Tháng 9 – tháng 10, Hội nông dân Đông Hoàn cũng cùng chung một số phận. Tháng 11 – tháng 12, thì Hội nông dân của vùng 2 thuộc Quảng Ninh, Hội nông dân Hoa huyện và Hội nông dân Phiên Ngung bị triệt phá. Bọn hào lý và bọn địa chủ thuê bọn phỉ cướp phá các vùng, đốt trụ sở của Hội nông dân và giết hại các hội viên của hội.

Chuỗi tội ác đó mỗi tháng một tiếp tục kéo dài thêm, tội ác của bọn hào lý Hồ Giang gây ra tháng 5 vừa qua đặc biệt dã man. Nhiều nhà cửa của nông dân bị đốt, các cán bộ của Hội nông dân bị giết hại, phụ nữ và nữ thanh niên trong làng bị hãm hiếp.

Mới gần đây thôi, bọn hào lý ở Thuận Đức, Phù Nguyên, Thông San đã phạm cùng một tội ác đáng xấu hổ như vậy đối với nông dân ở huyện của chúng.

Nghị quyết. Những sự thật đó cho thấy rõ ràng rằng đội hương dũng là công cụ áp bức nông dân. Hơn nữa, nhiều đội lại thường gồm những tên phỉ và những kẻ không thể chấp nhận được, trong khi một số khác không thể giữ gìn được an ninh và trật tự trong huyện của họ. Song tất cả những đội đó đều là những trở ngại cho chính sách nông dân của Đảng. Hơn nữa, sự thật đã được chứng thực đầy đủ là ở bất cứ nơi nào mà nông dân đã thành lập đội tự vệ của mình thì đội tự vệ đó chẳng những duy trì được an ninh và trật tự ở làng và huyện mà còn có thể ủng hộ Chính phủ cách mạng, tǎng cường cơ sở của Đảng.

Vì vậy đảng bộ Quảng Đông của Quốc dân đảng quyết định đề nghị Chính phủ giải tán các đội hương dũng ở những nơi có đội tự vệ nông dân và xoá bỏ – càng sớm càng tốt – cơ quan tổng chỉ huy các đội đó. Đồng thời yêu cầu Chính phủ tổ chức đội tự vệ nông dân để giữ gìn an ninh và trật tự ở các làng và các huyện, phù hợp với chương trình nông dân của Đảng.

Những sự áp bức khác. Bên cạnh đội hương dũng còn có bọn quan lại và bọn quân phiệt, bọn này tự gọi mình là đảng viên của Đảng, nhưng hành động hoàn toàn trái với các quy tắc của Đảng.

Mục đích duy nhất của chúng là kiếm tiền. Chính sách duy nhất của chúng là hợp tác với bọn hào lý xấu bóc lột nông dân và áp bức Hội nông dân.

Quân đoàn 3 đóng ở Quảng Ninh và huyện trưởng Tài đã nhúng tay vào vụ đổ máu ở huyện đó. Binh lính của Phúc ở Thuận Đức và viên huyện trưởng Tǎng phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc tàn sát đã xảy ra ở 6 làng. ở Đông San hiến binh trưởng Ngô, đại uý Yiép thuộc quân đoàn 2 và binh lính của Phúc – cùng với bọn hào lý – đã đốt phá và cướp bóc 30 làng.

Nơi nào có phong trào nông dân thì đều có tình hình như vậy. Những hành động đó của quân đội và của bọn quan lại không những làm cho nông dân xa lìa Đảng, mà còn phá hoại kế hoạch của Đảng.

Để gạt bỏ những trở ngại đó và để làm cho sự hợp tác giữa Đảng và nông dân trở thành một sự hợp tác thực sự, cần phải xử sự quyết liệt đối với bọn quân nhân phản bội và bọn quan lại cũng như bọn hào lý mục nát. Chỉ có bằng cách như vậy Hội nông dân mới có thể phát triển được, chương trình nông dân của Đảng mới có thể thực hiện được.

Bọn cho vay nặng lãi. Bọn cho vay tiền nặng lãi là những kẻ không thương xót gì nông dân cả. ở các huyện quanh Quảng Châu, chúng lấy lãi ít nhất là 36%. ở huyện Cao Yên chúng lấy lãi 73% và ở Lôi Châu 108%! Hơn nữa, nếu người cha không trả được nợ thì con anh ta bị buộc phải làm cái việc trả nợ đó.

Những cửa hiệu cầm đồ, những thương nhân vô lương tâm cũng chẳng nhân từ gì hơn. Thuế khoá nặng nề dồn thêm sức nặng lên gánh nặng của nông dân vốn đã quá nặng rồi!

Những sự khốn cùng của nông dân. Những người làm thuê cho nông trại được trả công thật thảm hại trong lúc con cái nông dân làm việc thật sự chẳng được gì.

Người lĩnh canh làm việc vất vả quanh nǎm mà chỉ được 35 hoặc 40% sản lượng. Ngay cả với cái phần còm cõi đó, mỗi vụ gặt họ vẫn phải biếu xén địa chủ. Thế vẫn chưa hết. Địa chủ có thể lấy lại ruộng, không cho người lĩnh canh thuê vào bất kỳ lúc nào y muốn. Địa chủ dùng hai thủ đoạn khác nhau: địa chủ nhỏ thì cho thuê, địa chủ lớn hơn thì tập hợp các khoản cho thuê.

Các công ty độc quyền ruộng đất giữ chặt nông dân nghèo dưới gót giày tàn bạo của chúng. Chúng cướp hết ruộng đất rồi sau đó cho thuê ruộng với mức lãi 80%.

Hoàn cảnh của những người sở hữu nhỏ thật quá xa với điều mong muốn. Họ bị buộc phải nộp 30 loại thuế. ở Hải Phong và Lôi Châu chẳng hạn, bọn quân phiệt đã thu thuế ruộng đến nǎm 1930.

Nghị quyết. Đảng bộ khẩn thiết yêu cầu:

Xoá bỏ sự nô dịch của nợ nần, các thứ thuế nặng và ngoại ngạch, sự độc quyền ruộng đất.

Cấm cho vay nặng lãi, cấm thu hồi ruộng đất, không cho nông dân thuê nữa mà không có đủ lý do; đòi ấn định địa tô tối đa, thống nhất đo lường, miễn thuế khi mất mùa.

Đòi thiết lập ngân hàng và các hợp tác xã nông dân, cải cách hệ thống nông nghiệp, hoàn thiện công trình tưới nước.

Về những người làm thuê cho các nông trại, Đảng bộ yêu cầu rút ngắn ngày lao động, tǎng lương, đối xử bình đẳng đối với công nhân nam nữ trẻ tuổi.

Đòi xoá bỏ đội hương dũng, đội hương vệ, cục bảo vệ bãi cát và các tổ chức ǎn bám khác. Các quỹ và các nguồn tiền của các tổ chức này phải được chuyển cho Hội nông dân để sử dụng vào việc cải thiện nông nghiệp.

Đòi chuẩn bị cho việc trồng rừng ở tất cả những đất công và đất chưa canh tác.

Ngoài ra Đảng bộ còn yêu cầu cấp ruộng cho những nông dân không có ruộng.

Giáo dục. Đại đa số nông dân bị thất học. Còn nữ thanh niên và phụ nữ nông dân thì trên thực tế bị tước mọi loại học vấn. Sự dốt nát đã khiến cho nông dân trở thành một công cụ dễ sai khiến trong tay thế lực phản cách mạng. Để khắc phục tình trạng đó, Đảng bộ yêu cầu:

Tổ chức lớp học buổi tối cho người lớn và trường không thu học phí cho trẻ con.

Để thực hiện chương trình này, Đảng bộ yêu cầu Chính phủ mở rộng hệ thống giáo dục không thu tiền đến tất cả các huyện và lập một ngân sách đặc biệt để dùng vào mục đích đó. Đảng bộ còn đề nghị thêm rằng tất cả các chùa chiền, đền đài, các quỹ và các nguồn của cải công phải được sử dụng cho công việc giáo dục.

———————

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Phong trào nông dân tỉnh Quảng Đông (16-10-1925)

1. Phong trào Hội nông dân bắt đầu từ huyện Hải Phong vào tháng 5-1922. Nông dân vốn bị tầng lớp quý tộc nhỏ, bọn địa chủ, bọn quan lại và bọn quân phiệt áp bức và bóc lột. Nhưng chưa bao giờ họ bị bóp nặn nặng nề như bị Trần Quýnh Minh bóp nặn hiện nay.

Thoạt đầu, nông dân Hải Phong nghĩ rằng Trần là người quê quán ở huyện này, có lẽ ông ta sẽ theo cái truyền thống “một người con quý, cả huyện hạnh phúc”. Nhưng hoá ra lại không phải thế. Những kẻ đi theo Trần đã đem tiền cướp được trong các cuộc phiêu lưu quân phiệt của chúng – mua ruộng và trở thành địa chủ mới. Chúng có nhiều phương pháp để có ruộng. 1/ Chúng làm cho Trần đánh thuế ruộng rất nặng. Những địa chủ nhỏ không thể nộp thuế được nên phải bán ruộng với giá rẻ. 2/ Trần yêu cầu tất cả các chủ đất phải đem giấy tờ để kiểm tra, nếu ai không có giấy tờ thì ruộng đất của người ấy sẽ bị tịch thu. Các gia đình nông dân đều sống chết ở đất này từ bao thế kỷ, nên đại đa số họ biết rất rõ ruộng nào là của mình, nhưng không biết giấy tờ ở đâu. Vì lẽ đó, một số lớn nông dân đã bị Trần cướp đoạt.

Ruộng đất đã đổi chủ nên hoàn cảnh của nông dân, tất nhiên, bị xáo trộn. Và những người chủ mới, có lực lượng vũ trang trong tay tha hồ bóp nặn nông dân. Toàn bộ đội quân những người chủ nhỏ bị tước đoạt đã làm tǎng đội ngũ nông dân nghèo. Vì thế đời sống trở nên khó khǎn không thể chịu được và sự nghèo khổ ngự trị khắp nơi.

Nhiều nông dân nghèo bị dồn ra khỏi làng để đi tìm việc ở Hương Cảng.

Rồi nổ ra cuộc bãi công thắng lợi của thuỷ thủ. Những công nhân mới, khi về thǎm quê, lại là người đưa tin và người tuyên truyền.

Thế là con đường đi được chuẩn bị, chúng tôi liền thừa cơ đó phát động một cuộc vận động xây dựng Hội nông dân. Ngay lập tức 5.000 nông dân đã tham gia phong trào.

2. Hiện tại 11 Hội nông dân huyện đã chính thức được thành lập. Và 13 Hội nữa sắp được thành lập. Tổng số hội viên là 465.000 người (riêng Hải Phong đã có 200.000 hội viên).

16 Hội nông dân huyện đã có đội tự vệ (Hải Phong có 500 đội viên tự vệ nông dân).

Trước đại hội Hội nông dân tỉnh vào tháng 5 nǎm ngoái đã có 20 huyện có Hội nông dân. Hiện nay, các Hội nông dân đã được thành lập ở 32 huyện.

Tháng 2-1923, Hải Phong có một vụ kiện giữa địa chủ và nông dân. Nông dân được kiện. Bọn địa chủ tung tin đồn rằng Hội nông dân sẽ thực hiện chủ nghĩa cộng sản và rằng bọn địa chủ phải tự tổ chức nhau lại để bảo vệ tài sản của mình. Một hiệp hội đã được thành lập với hơn 100 địa chủ tham gia, dưới sự lãnh đạo của một người chú của Trần. Rồi chúng buộc viên quan toà phải xét lại vụ án. Trong lúc xét xử, bọn địa chủ đến dự phiên toà rất đông. Sợ hãi, viên quan toà đã ra lệnh bắt giam 6 nông dân. Lập tức 6000 nông dân đã họp mít tinh, sau đó là một cuộc diễu hành. Càng sợ hơn, viên quan toà phải thả mấy người tù đó. Những người nông dân chiến thắng đã hân hoan đón các đồng chí của mình, họ vừa hoan hô vừa hô lớn: “Đả đảo bọn địa chủ!”.

Từ đó sự phân cách giữa địa chủ và nông dân càng rộng thêm. Vào tháng 7-1923, do tai họa về bão, 20.000 nông dân đã xuống đường tuần hành, đòi giảm 70% tô. Được lực lượng của Trần Quýnh Minh che chở, bọn địa chủ đã thu tô và không giảm chút nào. Một cuộc chiến đấu đã xảy ra và 3 nông dân đã bị bắt.

Bọn quân phiệt, bọn quý tộc, bọn quan lại và bọn hiến binh đứng về phía bọn địa chủ. Hội nông dân đã kêu gọi nông dân tiến hành một cuộc mít tinh, và 30.000 người đã hưởng ứng lời kêu gọi. Bọn địa chủ và chiến hữu của chúng đào hào, dựng chiến luỹ, tiến hành việc chuẩn bị tựa hồ như để đương đầu với cả một đội quân lớn.

Sau cuộc mít tinh, hiến binh bắt thêm 25 nông dân nữa. Nông dân muốn tiến công nhà tù, nhưng các thủ lĩnh của họ thấy rằng kẻ thù được trang bị vũ khí đầy đủ trong khi nông dân không có gì ngoài nắm tay không, nên đã ngǎn họ lại.

Sáu tháng sau 28 nông dân bị bắt mới được thả.

Từ tháng 7-1923 đến tháng 2-1924, Hội nông dân hoạt động bất hợp pháp. Sau tháng 2, Hội nông dân thử mở cửa trở lại, nhưng đã bị bọn quân phiệt đóng cửa. Chẳng bao lâu sau quân đội Quốc dân đảng đã đánh bật Trần Quýnh Minh và Hội nông dân xuất hiện trở lại một cách hợp pháp.

Với quân đội Quốc dân đảng và những thuỷ thủ bãi công ở Hương Cảng.

Trong cuộc chiến đấu giữa Trần và Quốc dân đảng (tháng 4) nông dân Hải Phong đã dành cho quân đội của Đảng mọi sự giúp đỡ dẫn đường, vận tải, giao liên, v.v.. Một vài nông dân đã nhập ngũ ra hoả tuyến.

Khi cuộc bãi công nổ ra, nông dân đã tiến hành nhiều cuộc biểu tình đoàn kết, họ đã quyên góp nhiều nghìn đôla vào quỹ bãi công; họ giúp đỡ đội bảo vệ của những người bãi công ngǎn chặn việc tuồn thực phẩm vào Hương Cảng.

Tháng 9, khi quân đội của Trần lại trở về Hải Phong, đội tự vệ nông dân đã chiến đấu rất dũng cảm và chỉ rút lui khi họ bị quân thù đông hơn về số lượng đè bẹp, 50 nông dân bị giết.

Huyện Quảng Ninh.

Bọn địa chủ được vũ trang mạnh. Nông dân chỉ được hưởng 30% sản phẩm, còn 70% thì rơi vào bọn địa chủ.

Một vài người quê quán ở huyện này làm việc ở các xưởng dầu tại Quảng Châu. Chính họ là những người thúc đẩy Hội nông dân. Lúc đầu bọn địa chủ coi khinh nông dân, công nhân và không chú ý đến tổ chức của họ. Nhưng khi Hội nông dân đã thành lập và nông dân đã biểu lộ nhiệt tình và có ưu thế về số lượng thì bọn địa chủ liên kết lực lượng của chúng với lực lượng của bọn quân phiệt. Chúng đốt phá các trụ sở của Hội nông dân, giết và làm bị thương nhiều hội viên. Hành động tàn ác đó của bọn địa chủ khiến cho nông dân càng thêm trung thành với tổ chức của mình và càng kiên quyết đấu tranh. Vì bọn địa chủ tập trung lực lượng của chúng vào 3 làng nên nông dân đã rút sang những làng khác và bí mật tổ chức đội tự vệ của mình.

Mùa đông nǎm ngoái, họ bắt đầu tiến hành phong trào giảm tô. Bọn địa chủ đã thuê bọn phỉ dùng vũ lực để thu tô.

Đó là một cuộc chiến tranh thật sự. Mỗi bên tham chiến đều có lãnh thổ và sở chỉ huy của mình. Để thúc giục Chính phủ giúp đỡ, nông dân đã tiến hành một cuộc mít tinh với 10.000 người tham dự. Phụ nữ và trẻ em cũng tham gia cuộc biểu tình. Chính phủ đã phái đội vệ sĩ và đội xe bọc thép đến giúp nông dân.

Viên chỉ huy đội vệ sĩ đã ǎn hối lộ của bọn địa chủ và đề nghị nông dân ký một bản hoà ước với điều kiện là 7 địa chủ cầm đầu cuộc gây rối sẽ bị trừng phạt. Một tên cầm đầu khác được quan toà che chở thì muốn đánh lừa mọi người bỏ qua tội lỗi của mình nên mời các thủ lĩnh nông dân và các sĩ quan đội xe bọc thép đến dự một tiệc lớn. Các khách đã đến dự và khi tiệc tan họ đã bắt giữ y.

Trước khi hội nghị hoà bình có thể diễn ra, 5 nông dân ở những làng khác đã bị bọn địa chủ giết hại. Lập tức, cuộc chiến đấu lại tiếp diễn. Viên chỉ huy vệ sĩ ǎn hối lộ đã bị thải hồi và một sĩ quan khác lên chỉ huy, nhưng đó mới chỉ là biện pháp đầu tiên. Quân thù cố thủ trong pháo đài, song pháo đài cũng bị nông dân vây hãm. Khi nước tiếp tế của chúng đã hết, bọn địa chủ đã phải quy phục.

Cuộc xung đột kéo dài 3 tháng, kết thúc bằng thắng lợi của nông dân.

Huyện Hoa Yên.

Bọn địa chủ ở đây không những chống lại Hội nông dân mà còn âm mưu lật đổ chính quyền. Vụ âm mưu này đã bị Chủ tịch Hội nông dân phát giác và đã báo cho nhân dân biết. Sau khi bị thất bại trong vụ này, bọn địa chủ đã chi một số tiền lớn để lo lót cho viên quan ở toà án huyện. Nhưng khi đã ngồi vào cương vị của mình rồi, viên quan toà mới vì thiếu can đảm nên đã chẳng làm gì để chống lại Hội nông dân.

Thấy mọi mưu toan của mình bị thất bại, bọn địa chủ đã dùng đến hành động trực tiếp. Chúng thuê phỉ giết hại các chiến sĩ và phá hoại Hội nông dân. Trong thời gian có những biến động chính trị ở Quảng Châu, bọn địa chủ đã tấn công. Đây đó đã diễn ra cuộc chiến đấu nhỏ, bởi vì nông dân tuy không được vũ trang, nhưng đã không từ bỏ cuộc chiến đấu. Chủ tịch Hội đã bị giết trong một cuộc chiến đấu, và kẻ thù đã chặt chân tay, cắt tai và mổ bụng ông.

Khi cuộc bạo loạn của bọn quân phiệt thất bại và những phần tử phản cách mạng đã bị Chính phủ Quốc dân đảng diệt sạch thì bọn địa chủ vì đã mất chỗ dựa, nên chấp nhận tất cả các yêu sách của nông dân.

Huyện Vệ Hoa.

Trong cuộc chiến tranh mới đây giữa Chính phủ Quốc dân đảng và Trần Quýnh Minh, nông dân huyện Vệ Hoa giống như các đồng chí của họ ở các huyện khác, đã dành cho binh lính của Đảng bất kỳ sự giúp đỡ nào mà họ có thể làm được. Vì lẽ đó, Trần đã trả thù, khi quay lại vùng này. Y đã giải tán các Hội nông dân bằng lực lượng quân sự. Y đã đánh thuế nặng. Hội nông dân đã kêu gọi 2.000 hội viên và tiến hành một trận chiến đấu công khai chống tên quân phiệt này. Nông dân có 120 người bị giết và bị thương. Sau trận chiến đấu, mặc dù bị thất bại, nông dân vẫn tập trung lực lượng của mình, tiến hành phòng ngự và loan tin rằng họ đang chờ quân đội của Đảng. Họ đã giữ vững được trận địa của mình trong một thời gian. Về sau, khi phát hiện quân tiếp viện của Đảng

không tới, quân địch đã đánh bật nông dân ra khỏi sở chỉ huy của họ, đốt cháy 50 ngôi nhà, cướp đi 410 con trâu, đấy là chưa nói đến việc cướp bóc tiền bạc và các thứ khác.

Các huyện khác cũng ở vào một hoàn cảnh gần như thế về mặt tổ chức, hoạt động và chiến đấu.

Bọn địa chủ: Chúng không có tổ chức vững chắc. Việc chúng lên hay xuống liên quan đến sự lên xuống của những phần tử phản cách mạng. Trong thời gian xảy ra vụ Thương Hô, cuộc bạo loạn của Lưu và Dương, sự ổn định của Trần Quýnh Minh và việc để cho bọn quân phiệt nhỏ nhập ngũ phục vụ Chính phủ làm cho bọn địa chủ lên đến mây xanh. Một khi bọn bè bạn phản cách mạng của chúng bị đè bẹp thì chúng lại rơi sụp xuống đất và trở thành những “người bạn tốt” của nông dân.

Thanh niên và phụ nữ. Khoảng 1/3 hội viên Hội nông dân là thanh niên. Nhiều người trong số họ là cán bộ của Hội nông dân. Cũng có phụ nữ và nữ thanh niên, nhưng rất ít. Thuận Đức và Hải Phong có câu lạc bộ thanh niên nông dân. ở Hải Phong có một nhóm thiếu niên tiền phong, song tiếc thay nhóm này tổ chức chưa hoàn chỉnh.

Trao đổi tin tức. Sẽ là một điều rất lý thú nếu thiết lập được sự trao đổi tin tức giữa thanh niên nông dân với Ban thanh niên của Quốc tế Nông dân. Nhưng hiện nay việc này không thực hiện được vì có khó khǎn về giao thông liên lạc cũng như khó khǎn về ngôn ngữ.

Ngày 16-10-1925. NILỐPXKI

————————-

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Phong trào nông dân tỉnh Quảng Đông

Những câu hỏi sau đây đã được gửi đi tất cả các Hội nông dân huyện.

1/ Nguồn gốc của Hội nông dân và tình hình hiện nay của nó.

2/ Kinh nghiệm.

3/ Hội viên.

4/ Đội tự vệ nông dân.

5/ Quan hệ giữa Hội nông dân và các tổ chức khác.

6/ Thanh niên nông dân và giáo dục của họ.

7/ Tuyên truyền chính trị.

8/ Tiếng vang chính trị từ Quảng Châu.

9/ Quan hệ với công nhân công nghiệp.

10/ ảnh hưởng của đạo Cơ đốc.

11/ Những yêu sách trước mắt của nông dân.

A) TRẢ LỜI CỦA HYUYỆN T HANH VIỄN

1/ Phong trào có cùng một nguồn gốc như nhau đối với tất cả các huyện, không trừ một huyện nào. Đó là sự áp bức về kinh tế và chính trị.

ở tất cả các nơi, phong trào vấp phải sự chống đối mạnh mẽ của bọn địa chủ và bọn kỳ hào bằng các thủ đoạn từ tung tin nhảm đến ám hại những người đấu tranh. Nông dân hǎng hái tổ chức nhau lại. Nhưng vì chưa giác ngộ về lực lượng của chính mình, họ

vẫn giữ thói quen tin vào Chính phủ.

2/ Khi thành lập, Hội nông dân Thanh Viễn đã trải qua những cuộc đấu tranh dưới đây:

a/ Có một cường hào độc ác quen thói áp bức nông dân đã ngǎn cản họ tham gia Hội nông dân. Ngay khi được tổ chức, phong trào nông dân đã bắt và giải y đến huyện trưởng, người này đã nhận được thư của ông Lưu Trọng Khải, đã quá cố, nên đã giam tên cường hào một thời gian dài. Thắng lợi này đã tǎng cường ảnh hưởng và tiếng tǎm của Hội nông dân; và nông dân đã nhanh chóng tham gia tổ chức.

b/ Có hai làng ở gần nhau, làng A và làng B cách nhau một quả đồi và quả đồi đó là của làng A. Có một tục lệ là nông dân cả hai làng đều có thể lên đồi cắt cỏ và kiếm củi khô trừ những cây do làng A trồng. Có một lần nông dân làng B (đã có Hội nông dân của mình) đi cắt cỏ trên đồi, nhưng họ bị bọn kỳ hào làng A (làng này không có Hội nông dân) đuổi đánh. Phong trào nông dân làng B đã tới để bảo vệ dân làng mình và bắt giữ những viên kỳ hào xúc phạm. Những viên kỳ hào đã thừa nhận lỗi lầm của họ và trả 800 đôla để bồi thường thiệt hại. Nhưng về sau người ta đã tuyên bố tình trạng chiến tranh giữa hai làng và tình trạng chiến tranh kéo dài đến 3 tháng.

Làng A nhận thấy Hội nông dân các nơi khác mỗi ngày một mạnh thêm, nên đã phải chịu trả 300 đôla tiền phạt và ký một hiệp nghị có lợi cho làng B.

c/ Một tuyên truyền viên của Hội nông dân bị tiến công. Nông dân yêu cầu viên huyện trưởng trừng trị những kẻ cầm đầu cuộc tiến công. Bọn này đều là kỳ hào. Quan toà xử phạt bọn kỳ hào phải trả cho Hội nông dân 150 đôla.

3/ Hội viên. 40 làng có 2303 hội viên. 8 làng nữa sẽ chính thức thành lập Hội nông dân của mình trong tương lai gần đây nhất.

4/ Đội tự vệ nông dân. 684 người với 563 súng trường (do địa phương chế tạo).

5/ Đội hương dũng. Lúc đầu được thành lập để bảo vệ dân làng chống lại bọn kẻ cướp, giờ đây đã trở thành công cụ của bọn kỳ hào chống lại nông dân. Mỗi nǎm mỗi người nông dân phải nộp cho tổ chức này:

Thuế đầu người 15 cân thóc

Thuế nhà 15 cân thóc mỗi gia đình

Thuế trâu 15 cân thóc mỗi gia súc

Thuế thu hoạch mùa màng 50% sản lượng thóc.

Đội hiến binh hương lý. Nông dân phải nộp cho tổ chức này:

Thuế gia đình 0,20 đôla

Thuế trâu 0,20 đôla mỗi con

Thuế thu hoạch mùa màng 5% sản lượng.

Những tổ chức này nói chung đều chống lại Hội nông dân.

Bọn kẻ cướp. Chúng chống lại Hội nông dân khi chúng bị bọn địa chủ, bọn kỳ hào thuê. Nếu không thì chúng trung lập, thậm chí đôi khi có cảm tình với chúng ta.

Binh lính. Thái độ của họ tuỳ thuộc thái độ các sĩ quan của họ. Một số thì ủng hộ Hội nông dân; một số khác – bị bọn địa chủ mua chuộc – thì chống lại Hội nông dân.

6/ Thanh niên nông dân. Hoàn toàn thất học: trên 30% số còn lại chỉ được đi học một hoặc hai nǎm, và chỉ có học vấn hoàn toàn sơ đẳng và rất lạc hậu. Làm việc rất vất vả. Sống rất nghèo túng. Số người thất nghiệp tǎng, không có sự vui chơi giải trí nào. Trình độ học vấn rất thấp. Nhiều người tham gia Hội nông dân.

7/ Tuyên truyền chính trị. Lúc đầu nông dân rất sợ chủ nghĩa cộng sản, vì họ nghe nói (do bọn địa chủ nói) rằng những người cộng sản xã hội hoá phụ nữ. Bây giờ họ đã hiểu chút ít rằng chủ nghĩa cộng sản thật ra là cái gì và họ tin rằng Đảng cộng sản là đảng duy nhất có thể giải thoát họ khỏi sự khốn cùng hiện tại của họ.

8/ Chúng ta có 8 đảng viên cộng sản và 5 đoàn viên thanh niên cộng sản hoạt động trong nông dân ở huyện này.

9/ Nông dân có tổ chức vốn đứng về phía Chính phủ dân tộc chủ nghĩa. Nhưng khi chúng tôi trình bày trong báo cáo này, vì chưa giác ngộ về sức mạnh của chính mình, họ cảm thấy bǎn khoǎn và nghi ngờ trước mỗi thay đổi về chính trị ở Quảng Châu. Bọn địa chủ đã lợi dụng mọi cơ hội – cuộc nổi dậy của Lưu và Dương, vụ ám hại Liêu Trọng Khải, v.v., để tung tin đồn nhảm nhằm làm cho nông dân lo sợ. Nhưng lần nào cũng vậy, chúng ta đều nhanh chóng chống lại bằng cách tǎng cường công tác tuyên truyền và giờ đây nông dân đã hiểu hoàn toàn rõ tình hình chính trị.

10/ Một số ít công nhân trong huyện này còn chưa được tổ chức, vì thế giữa Hội nông dân với họ không có mối liên hệ.

Từ khi có cuộc bãi công chống đế quốc, những người bãi công quê quán ở huyện này đã trở về làng và thành lập ra Hiệp hội những người bãi công. Giữa Hội nông dân và Hiệp hội những người bãi công có mối liên hệ rất chặt chẽ.

11/ Có 3 trường truyền giáo nhưng có rất ít học viên. Những trường này không có ảnh hưởng đối với nông dân là những người phản đối đạo Cơ đốc, không phải vì coi đạo Cơ đốc là công cụ của chủ nghĩa đế quốc (họ còn chưa hiểu), mà vì coi đạo Cơ đốc là một tôn giáo ngoại quốc và phản tổ tiên. Một trong những trường đó gần đây đã bị đóng cửa.

12/ Những yêu sách trước mắt:

Xoá bỏ đội hương dũng

Xoá bỏ thuế nặng nề

Súng giá rẻ (nhà nước phải bán cho họ)

Tổ chức hợp tác xã

ấn định chuẩn mực thuế.

B) TRẢ LỜI CỦA HOA UYÊN

1/ Hội nông dân được thành lập vào tháng 10-1924. Tuy còn non trẻ nhưng Hội đã dạy cho các hội viên biết dựa vào sức mình hơn là dựa vào người khác. Trong thời kỳ đầy những tin đồn đại về chính trị, một số làng đã không ngần ngại chính thức hành động mở màn. Đó là một tiến bộ lớn. Trở ngại chủ yếu trên con đường phát triển đầy đủ của Hội nông dân là những khó khǎn về tài chính.

2/ Những trận chiến đấu lớn đã diễn ra giữa nông dân và địa chủ, chúng phá hoại các trụ sở của nông dân và giết hại những người lãnh đạo của họ. Cuối cùng địa chủ đã thất bại và buộc phải ký những hiệp định dưới đây:

a/ Trừng phạt những kẻ chịu trách nhiệm về việc gây ra xung đột

b/ Bồi thường 1000 đôla cho Hội nông dân

c/ Bồi thường 2000 đôla cho người bị giết

d/ Phải trả 800 đôla phí mai táng

e/ Cam kết sau này không gây rắc rối cho Hội nông dân nữa.

3/ Hội viên. 19 làng có 2100 hội viên.

4/ Chỉ có một làng đã tổ chức phong trào nông dân với 15 hội viên.

5/ Trước kia, đội hương dũng có hơn 10.000 đội viên và 4000 khẩu súng. Nhưng hiện nay nó đang teo dần đi đến tan rã.

Một vài bǎng cướp muốn lợi dụng phong trào nông dân, một số khác chống lại phong trào nông dân, nhưng chỉ trên lời nói.

Binh lính đóng ở huyện thì trung lập.

6/ Thanh niên. Trình độ tri thức cao hơn một chút so với trình độ tri thức của thanh niên Thanh Viễn. Có nhiều trường học hơn. Đại đa số thanh niên phụ thuộc vào gia đình của họ. Nhiều người đã tham gia Hội nông dân.

7/ Trình độ hiểu biết chính trị cũng giống như trình độ hiểu biết chính trị ở Thanh Viễn. Thoạt đầu, nông dân cũng sợ chủ nghĩa cộng sản. Giờ đây họ mong mỏi thực hiện chế độ cộng sản. Họ nghĩ rằng Quốc dân đảng và Hội nông dân cũng giống nhau thôi.

8/ Chúng ta có 13 đảng viên cộng sản hoạt động trong phong trào; 4 người trong số đó là nông dân ở địa phương.

9/ Tiếng vang chính trị. Bất chấp sự tuyên truyền của bọn địa chủ, nông dân rất ít bị kích động bởi những lời đồn nhảm về chính trị.

10/ Công nhân dầu mỏ ở Quảng Châu, người quê ở huyện này, đã giúp đỡ Hội nông dân rất nhiều trong việc tuyên truyền cũng như trong việc tổ chức hoạt động. Nhưng bản thân công nhân sống ở trong huyện thì chưa được tổ chức, vì vậy không có mối liên hệ giữa họ với Hội nông dân.

11/ Có 4 trường truyền giáo, nhiều học viên. Nhưng chỉ có khoảng 1 hoặc 2% học viên trở thành người theo đạo.

12/ Những yêu sách trước mắt :

Dẹp yên bọn cướp

Cấm trò cờ bạc và chơi bời, do bọn kỳ hào bảo trợ vì trò cờ bạc và chơi bời này gây tai hại trong gia đình nông dân

Thống nhất Quảng Đông

Xoá bỏ thuế khoá nặng nề.

C) THUẬN ĐỨC

1/ Hội nông dân ở đây bắt đầu hoạt động nǎm 1921. Do cánh hữu của Quốc dân đảng khởi xướng, nhằm tǎng cường lực lượng của họ. Cuối nǎm 1922, chúng tôi bắt đầu công tác tuyên truyền của mình. Nǎm 1923, hai Hội nông dân làng được thành lập, với 300 hội viên. Từ tháng 7 đến tháng 10 lại có thêm 18 Hội nông dân nữa được thành lập bởi 5 học viên Trường nông dân. Tháng 3-1925 số hội viên đã lên tới 1400 người.

2/ Đấu tranh. Có một làng bị bọn lính của Lý Phúc Lâm đốt trụi và 30 nông dân bị chúng giết hại. Một kỳ hào ở làng bên vì xung đột cá nhân với làng bị triệt hạ, nên đã dẫn bọn lính đến đốt phá.

Một vài chiến sĩ đã bị giết hại và một số khác bị bọn kỳ hào bắt giữ. Những sự áp bức đó khiến cho nông dân vô cùng phẫn nộ và hiểu rằng phải tự tổ chức nhau lại để bảo vệ lợi ích và an ninh của mình.

3/ Hội viên. 48 Hội nông dân làng với 4000 hội viên.

4/ Đội tự vệ nông dân chưa được tổ chức.

5/ Một vài đội hương dũng vẫn giữ trung lập, và một số khác chống lại chúng tôi. Bọn này đã giết hại một chiến sĩ của chúng tôi, chúng đã cướp bóc và bắt giữ nhiều người trong số các chiến sĩ của chúng tôi.

Dù bọn kẻ cướp rất mạnh nhưng chúng chưa phạm một điều gì chống lại Hội nông dân.

Bề ngoài binh lính đồn trú có thái độ trung lập, nhưng trong thực tế chúng chống lại chúng tôi, việc giết chóc kể trên đã cho thấy rõ điều này.

6/ Thanh niên. Trình độ học vấn rất thấp. Điều kiện sinh sống khá hơn ở các huyện khác. 40% hội viên Hội nông dân là thanh niên nông dân. Có một “Câu lạc bộ thanh niên nông dân và công dân” mới được thành lập trong thời gian gần đây.

7/ Một vài nông dân rất muốn biết về chủ nghĩa cộng sản. Họ yêu cầu chúng tôi cung cấp nhiều sách báo của Đảng hơn nữa và tài liệu để đọc khác. Nhiều người khác chǎm chú nghe chúng tôi dù rằng họ chưa xác định lập trường.

8/ Chúng tôi có 6 đảng viên cộng sản hoạt động tại đây.

9/ Nông dân vẫn còn lo sợ khi có biến động chính trị nào đó ở Quảng Châu.

10/ Có quan hệ tốt giữa Hội nông dân và các tổ chức công nhân.

11/ Đạo Cơ đốc. Chưa nghiên cứu, không thể báo cáo được.

12/ Trong huyện có 20 phân bộ Quốc dân đảng.

13/ Những yêu sách trước mắt:

Xoá bỏ thuế cây dâu

Trừng trị những hào lý gây thiệt hại cho Hội nông dân.

D) KHÚC GIANG

1/ Hội nông dân này bắt đầu hoạt động tháng 5-1925.

2/ Đấu tranh. Có một chiếc cầu, muốn đi qua nông dân phải trả 1 xu trong lúc binh lính hoặc người ǎn mặc sang trọng không phải trả gì hết. Một lần, một hội viên nông dân muốn đi qua cầu mà không trả tiền; người gác cầu không để cho anh ta qua cầu như vậy. Tiếp đó đã gây ra một trận đánh nhau. Hiến binh đã bắt người hội viên nông dân. Hội nông dân can thiệp và thứ thuế này bị bãi bỏ. Nông dân coi đó là một thắng lợi lớn về tinh thần.

b/ Hiến binh không phải là bạn tốt của nông dân và nông dân cǎm ghét chúng đến xương tuỷ. Có một lần, một tên hiến binh bị mấy người nông dân giết ở trên núi. Pháp luật không thể buộc tội được vì không tìm được bằng chứng.

c/ Một cuộc biểu tình của nông dân đã nổ ra. Khẩu hiệu là “Đả đảo việc bắt bớ phu phen!”. Thông thường, chính hiến binh là kẻ tiến hành việc bắt bớ, nên nông dân coi họ là những kẻ phải chịu trách nhiệm. Trên đường tuần hành, họ gặp một viên trưởng hiến binh. Họ đã nện cho y một trận đòn nên thân rồi giải tới huyện. Mặc dù họ phải bồi thường 42 đôla cho gã hiến binh, nhưng lại hài lòng vì đã cho hiến binh một bài học.

3/ Hội viên – 120 làng có 6.740 hội viên.

4/ Đội tự vệ còn chưa được tổ chức.

5/ Giữa bọn hương dũng và Hội nông dân chưa có xung đột, mặc dù bọn hương dũng bí mật giúp đỡ bọn địa chủ chống chúng ta.

Một vài toán cướp vẫn còn có thái độ trung lập. Một số khác có thái độ thân thiện.

6/ Trước khi Hội nông dân được thành lập, quân đồn trú thường phá hoại các cây quả trong vườn của nông dân. Nhưng hiện nay chúng không dám đụng đến nữa. Chúng cũng tôn trọng nông dân hơn trước.

Phải vạch rõ rằng viên huyện trưởng hiện nay rất thân thiện với Hội nông dân.

7/ Thanh niên: 80% thất học. Trong 120 làng đã có Hội nông dân không có một người nào đọc được báo. Trong những làng này, chúng tôi thấy chỉ có 15 trường nhỏ với 280 học sinh.

Thanh niên nông dân ở đây cùng khổ hơn ở bất kỳ huyện nào khác. Bên cạnh công việc nặng nhọc hằng ngày, họ còn phải làm những công việc mà người lớn tuổi không muốn làm, như canh sông ban đêm chẳng hạn.

Có chừng 2400 thanh niên nông dân đã tham gia Hội nông dân.

8/ Nông dân tán thành cương lĩnh của Đảng cộng sản. Nhiều người trong nông dân đã tham gia Quốc dân đảng.

Một phân đoàn của “Liên đoàn đấu tranh giải phóng phụ nữ” mới được thành lập gần đây, do một đồng chí nữ của chúng ta tổ chức, 20 hội viên, tất cả đều là nông dân nữ.

Chúng ta có 13 đảng viên cộng sản hoạt động trong phong trào, trong số đó 6 người là nông dân địa phương.

9/ Tiếng vang chính trị – Nông dân ở đây đau khổ rất nhiều vì thuế quân sự và vì việc bắt phu phen. Vì thế họ lo ngại trước bất kỳ biến động nào về chính trị hay quân sự ở Quảng Châu.

Họ rất lo ngại về cái chết của Liêu Chung Khải. Nhưng khi Chính phủ xét xử nghiêm khắc những phần tử phản cách mạng và bọn lính ngoan cố và khi chúng ta giải thích cho họ biết ý nghĩa của sự kiện thì họ hoàn toàn hiểu rõ tình hình. Trong cuộc trường chinh sông Đông hiện nay, 300 nông dân đã tình nguyện giúp đỡ quân đội cách mạng.

10/ Mặc dù giữa các tổ chức của công nhân và Hội nông dân chưa có quan hệ với nhau, nhưng nông dân hoàn toàn hiểu đúng sự cần thiết phải hợp tác và đoàn kết giữa các tổ chức của công nhân và Hội nông dân.

11/ Có 7 trường truyền giáo (Anh, Pháp, Mỹ và Đức) ở huyện lỵ với khoảng 1000 học sinh. Sinh viên và nhà buôn có vẻ rất ngả theo ảnh hưởng của đạo Cơ đốc, trong khi nông dân triệt để chống lại ảnh hưởng của đạo Cơ đốc.

Không thấy có nông dân nào theo đạo.

12/ Những yêu sách trước mắt:

Giảm thuế

Cung cấp vũ khí để tổ chức đội tự vệ nông dân.

E) PHÙ NGUYÊN (GẦN HƯƠNG CẢNG)

1/ Huyện này có 2 địa chủ lớn có hơn 500 mẫu ruộng; 10 địa chủ có từ 200 đến 500 mẫu; 50 địa chủ có từ 100 đến 200 mẫu; 200 địa chủ có từ 50 đến 100 mẫu; 1.000 địa chủ có từ 30 đến 50 mẫu; 3.000 địa chủ có dưới 30 mẫu.

Một người làm mướn cho nông trại mỗi nǎm được từ 20 đến 100 đôla.

Phong trào bắt đầu bùng nổ vào đầu nǎm nay – nổ ra là do sự bóc lột của bọn quân phiệt, bọn hào lý và bọn hiến binh.

Tình hình của Hội nông dân là tốt.

2/ Đấu tranh. Hội nông dân đã thành công trong việc tước vũ khí một vài đội hương dũng, đã làm cho một hiến binh trưởng bị cách chức, đã chống lại quân đồn trú (6 nông dân đã bị giết).

3/ Hội viên. 55 làng với 7635 hội viên và 300 hội viên dự bị.

4/ Đội tự vệ nông dân có 1500 người có súng, nhưng chưa được huấn luyện, 2 chi đội thường trực, mỗi chi đội có 30 người.

5/ Hội nông dân đã giúp đỡ đội bảo vệ cuộc bãi công ngǎn chặn trộm cắp. Điều này làm cho bọn kẻ cướp tức tối; để trả thù, chúng đã ủng hộ bọn quân phiệt chống lại chúng ta. Một vài đội hương dũng đã bị Hội nông dân thu hút, một số khác còn trung lập, trong khi đó có một số chống lại chúng ta.

6/ Thanh niên. Mỗi làng có 1 hay 2 trường tư. Rất mê tín (một phong tục kỳ lạ: khi cô dâu mới cưới về thǎm bố mẹ mình ba ngày sau khi cưới, cô ta phải kêu khóc khi về đến gần làng). 10% hội viên Hội nông dân là những nông dân trẻ dưới 28 tuổi.

7/ Khoảng 150 nông dân ở huyện này là đảng viên Quốc dân đảng.

8/ Khác với nông dân các huyện khác, nông dân Phù Nguyên không dễ dàng bị xao xuyến bởi những sự kiện chính trị xảy ra ở Quảng Châu.

9/ Quan hệ giữa nông dân và công nhân rất chặt chẽ và có hiệu quả, như việc nông dân tham gia ngǎn ngừa trộm cắp để tiếp tế cho Hương Cảng đã cho thấy rõ điều này.

10/ Yêu sách trước mắt:

Giảm thuế.

F) TÂN HỘI

1/ Nông dân ở đây rất khổ vì bị bọn phỉ, bọn quan lại, bọn quân phiệt và tầng lớp quý tộc cũ cướp bóc. ở một vài nơi thậm chí còn tồn tại chế độ nô lệ. Nét đặc trưng của huyện này là phỉ lại đẻ thêm ra phỉ, và có những người nông dân lương thiện trở thành phỉ không phải để cướp bóc, mà là để tự vệ. Trong xã Lý ắc, một xã lớn, 3.000 trong số 10.000 dân đã trở thành phỉ, vì nếu một gia đình nào đó không có một người tham gia bǎng phỉ thì gia đình đó sẽ bị những tên phỉ khác áp bức. Nhiều người trong bọn phỉ đó là những người kiên quyết ủng hộ Hội nông dân.

2/ Đấu tranh. Có một tài chủ nào đó có 10.000 đôla công trái. Viên huyện trưởng tịch thu thuyền (20 chiếc) của nông dân trong làng gã tài chủ kia với ý định đem bán để trả nợ. Những nông dân nghèo không biết phải làm gì ngoài việc nguyền rủa cho chúng gặp những điều khốn khổ. Hội nông dân và Liên đoàn lao động đã đến cứu họ. Được công luận tạo cho sức mạnh – công luận phản đối hành động độc đoán của viên huyện trưởng -, các đại biểu của Hội nông dân và của Liên đoàn lao động gửi một tối hậu thư cho viên chánh án yêu cầu trả lại các thuyền đó trong 24 giờ. Việc đó được thực hiện đúng như vậy và thắng lợi này đã đem lại uy tín cho Hội nông dân. Từ đó nông dân hiểu rằng Hội nông dân hoạt động vì lợi ích của họ.

b/ Có một địa chủ lớn muốn sử dụng sức nước của một con sông bằng cách đắp một cái đập chặn nửa dòng sông lại. Việc đó gây ra nhiều bất tiện cho những nông dân sống ở bờ sông. Hội nông dân đã can thiệp và đã làm cho cái đập bị phá. Thắng lợi thứ hai này đã đem lại cho Hội nông dân thêm nhiều hội viên nữa.

3/ Hội viên. 14 làng. Việc điều tra số lượng hội viên chưa tiến hành được.

4/ Đội tự vệ nông dân: chỉ có 40 người và rất ít súng.

5/ Đội hương dũng. Mặc dù có 5.000 người nhưng không nguy hiểm vì tổ chức kém.

ở huyện này ít nhất có 30.000 tên phỉ; nhưng chúng rất thân thiện với Hội nông dân. Nhiều tên phỉ còn tham gia Hội nông dân.

Binh lính đồn trú trước kia rất tàn ác đối với nông dân; từ khi chúng bị Chính phủ Quốc dân đảng giải tán, toán quân mới có quan hệ với Hội nông dân.

6/ Thanh niên. Trình độ học vấn rất thấp. Làm việc rất vất vả.

7/ Do tuyên truyền phản cách mạng của bọn hào lý và bọn địa chủ, nông dân sợ hãi Quốc dân đảng. Nhưng hiện nay Hội nông dân đã thành công trong việc làm cho họ hiểu đảng này thực sự là cái gì.

8/ Trước mỗi sự kiện chính trị xảy ra ở Quảng Châu, bọn hào lý ở đây, giống như anh em chúng ở các huyện khác, đã tung tin đồn nhảm để làm cho nông dân lo sợ. ở đây chúng ta chỉ có 1 đảng viên cộng sản và hai học viên Trường nông dân để chống lại sự tuyên truyền phản cách mạng đó. Kết quả là nông dân tin những điều bọn hào lý nói với họ và do đó làm cho công tác của chúng ta trở nên khó khǎn.

9/ Quan hệ giữa công nhân và nông dân rất tốt.

10/ Những yêu sách trước mắt:

Giảm thuế,

Dẹp yên bọn phỉ.

G) TÙNG SƠN (NƠI SINH CỦA BÁC SĨ TÔN)

1/ Kẻ thù lớn nhất của Hội nông dân là đội hương dũng. Một lần trong khi Hội nông dân đang họp, đội hương dũng đã vây nhà, giết chết một hội viên Hội nông dân và làm bị thương một người khác. Tên hào lý chỉ huy cuộc tấn công ấy về sau đã bị trừng trị.

Một đội hương dũng khác đã cấm hội viên của Hội nông dân không được đi qua làng của mình. Trong một vài trường hợp, Hội nông dân đã thành công trong việc tước vũ khí của đội hương dũng.

Tình hình Hội nông dân là tốt, nhưng chúng ta còn phải phấn đấu để đuổi ra khỏi Hội bọn hào lý cơ hội chủ nghĩa đã gia nhập Hội nông dân nhằm củng cố vị trí của chúng hơn là hoạt động vì lợi ích của nông dân nghèo.

2/ Hội viên. 120 làng; 15.600 hội viên.

3/ Một vài toán phỉ chống lại chúng ta; một số khác muốn giúp đỡ chúng ta. Nông dân đã hợp tác với Chính phủ Quốc dân đảng tước vũ khí quân phản cách mạng.

Quân đồn trú hiện nay rất thân thiện với Hội nông dân. Hiến binh chống lại chúng ta.

4/ Thanh niên. Trình độ học vấn hầu như là số không. Trong một số làng có 1000 gia đình, chỉ có một hoặc 2 trường với 50 hoặc 60 học sinh, tất cả đều là con cái phú nông và trung nông. Chưa có cái gì để phục vụ con em nông dân nghèo.

5/ Khi nông dân nghe nói về cương lĩnh của Đảng cộng sản thì họ đã tán thành. Tiếc thay, bản thân các đồng chí của chúng ta không hiểu thật sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin để tuyên truyền rộng hơn, và để tìm kiếm đảng viên cho Đảng từ trong hàng ngũ nông dân.

6/ ở đây chúng ta có 9 đảng viên cộng sản và 4 đảng viên dự bị.

7/ Bọn hào lý cũng rất khôn ngoan, chúng lợi dụng mọi cơ hội để tung tin đồn nhảm hòng làm cho nông dân sợ hãi. Nhưng chúng tôi đã chống lại có hiệu quả sự tuyên truyền của chúng. Sau khi Liêu Chung Khải bị giết hại, bọn hào lý vô cùng mừng rỡ. Chúng nói với nông dân: “các người thấy đấy, họ đã giết vị thủ lĩnh đầy sức mạnh của các người rồi đấy; sắp đến lượt các người nếu các người không rời bỏ Hội nông dân ngay lập tức!”. Nhưng khi chúng tôi đã tǎng cường công tác tuyên truyền – liên tục từ làng này sang làng khác – giải thích cho mọi người hiểu rõ ý nghĩa của việc đó thì nông dân chẳng những không sợ nữa, mà còn nôn nóng muốn trả thù cho người bạn bị giết hại của mình là ông Liêu.

Hiện nay, đội hương dũng hợp tác với bọn địa chủ để tung tin đồn nhảm. Chúng nói rằng Quảng Châu chẳng bao lâu nữa sẽ bị Trần Quýnh Minh chiếm và ông này sẽ đem bắn tất cả các hội viên của Hội nông dân, v.v..

8/ Với công nhân. Nông dân ở huyện này, những người sản xuất nhiều rau cho thị trường Hương Cảng và thị trường Ma Cao, bị đụng chạm nặng nề do việc phong toả những cảng này. Thoạt tiên họ rất phản đối những người bãi công. Nhưng khi nghe chúng tôi giải thích, họ không những quên tất cả những sự phẫn nộ đối với những người bãi công mà còn quyên góp rất hào phóng vào quỹ bãi công. Sự bực bội của họ đối với người công nhân một phần đã biến thành lòng yêu nước, mến thương những người bãi công yêu nước và phần khác biến thành sự cǎm ghét bọn đế quốc.

9/ Có nhiều trường truyền giáo. Các trường đó đã cố gắng rất nhiều để làm cho người ta chuyển sang theo đạo, nhưng kết quả rất bé nhỏ. Tuy vậy, ở một làng chúng tôi thấy một số lớn nông dân đã theo đạo Cơ đốc. Những người theo tôn giáo này nói với chúng tôi: “Chúng tôi không biết và không quan tâm xem đạo Cơ đốc là cái gì, chúng tôi tin theo vì cần sự giúp đỡ của họ. Bây giờ chúng tôi có Hội nông dân để bảo vệ lợi ích của mình, chúng tôi có thể cáo biệt nhà thờ!”.

10/ Những yêu sách trước mắt:

a. Giải tán đội hương dũng.

b. Nông dân kiểm soát bãi cát.

c. Giảm thuế.

————————

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân (27-10-1925)

Các đồng chí thân mến,

Những thư của các đồng chí đề các ngày 1, 2, 13, 17, 18, 30 tháng 8 và các ngày 1, 2, 5, 7, 9 tháng 9 đến tôi cùng vào một ngày: ngày 14 tháng 10.

1/ Số tiền các đồng chí gửi cho sẽ do đồng chí Bôrôđin xử lý theo sự chỉ dẫn của các đồng chí. Bản thanh toán về số tiền đó sẽ được gửi đến các đồng chí sau. Việc xuất bản các tài liệu, việc cử người đi tuyên truyền, và việc gửi đều đặn các tin tức cho các đồng chí sẽ được thực hiện. Song việc cử người trong số các đồng chí đi Mátxcơva – theo ý kiến của tôi – thì chưa được vì tất cả các đồng chí chúng ta bây giờ đang cần ở đây. Không có ai trong số họ biết tiếng nước ngoài.

2/ Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân đảng không hề cử một đoàn đại biểu nông dân nào. Không ai biết ông Cho-ngao là ai.

3/ Tôi gửi đến các đồng chí một báo cáo về công tác nông dân ở tỉnh Quảng Đông. Bản báo cáo đó trả lời những vấn đề trong thư của các đồng chí đề ngày 5-9-25.

4/ Thư gửi Quốc tế thứ hai 36 đǎng ở tờ “Dân quốc nhật báo”, cơ quan của Quốc dân đảng; và báo “Con đường công nhân”.

5/ Tôi yêu cầu các đồng chí gửi cho chúng tôi những tài liệu bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, nhưng không bằng tiếng Đức bởi vì chúng tôi không hiểu tiếng Đức.

Xin gửi các đồng chí lời chào cộng sản .

Quảng Châu, ngày 17-10 NILỐPXKI

———————–

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân (5-11-1925)

Các đồng chí thân mến,

Những báo cáo và nghị quyết sau đây của Phân bộ Quốc dân đảng Quảng Đông sẽ cho thấy rằng:

1/ Nông dân bị sự áp bức của bọn kỳ hào, bọn kẻ cướp, bọn tham quan ô lại, bọn hương dũng, bọn quân phiệt, bọn địa chủ, bọn cho vay nợ, bọn độc quyền.

2/ Những yêu sách mà họ nhất trí đưa ra là giảm thuế, dẹp yên bọn cướp, giải tán hương dũng.

3/ Học vấn của họ nói chung là rất thấp.

4/ Do truyền thống gia trưởng, người đại diện cho tất cả các thành viên trong gia đình mình, nên người phụ nữ nông dân không- hoặc không được phép – tham gia hoạt động của tổ chức.

5/ Họ tán thành cương lĩnh của Đảng Cộng sản (1) khi nỗi lo của họ về “xã hội hoá phụ nữ” được xua tan.

6/ Họ có thể chịu sự hy sinh to lớn để bảo vệ giai cấp của họ hoặc để ủng hộ Chính phủ cách mạng.

7/ Phong trào đang được tổ chức và được lãnh đạo bởi các đồng chí cộng sản của chúng ta dưới danh nghĩa Quốc dân đảng.

8/ Bức thư của đồng chí gửi cho tôi (ngày 17 tháng 8) chỉ rõ rằng: “Hiện thời sự tham gia của Hội nông dân Trung Quốc vào Quốc tế Nông dân chỉ thuần tuý mang tính chất tuyên cáo. Chúng ta sẽ phải làm gì để cho sự tham gia đó trở thành thực sự ?

9/ Tôi chưa chính thức liên lạc được với Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân đảng 1 như đồng chí đã chỉ thị, tôi sẽ hỏi các đồng chí của chúng ta ở đấy xem tôi được giới thiệu chính thức thì hơn hay làm việc thông qua các đồng chí Trung Quốc của chúng ta thì hơn. Trong thư sau, tôi sẽ báo cáo về vấn đề đó.

10/ Tôi không nhận được một tuyên ngôn nào từ đồng chí Hanlơ.

11/ Tôi không nhận được một đề cương nào về vấn đề nông dân Trung Quốc như đồng chí nói là đã gửi cho tôi.

12/ Cùng với bản báo cáo này, tôi gửi tới đồng chí một vài tấm ảnh và một vài tập sách mỏng do Phân bộ nông dân Quốc dân đảng xuất bản.

Xin gửi lời chào cộng sản.

Quảng Châu, ngày 5-11-1925. NILỐPXKI (NAQ)

————————–

Tài liệu tiếng Anh, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn