Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Phụ lục: Gửi thanh niên Việt Nam

Ông Đume, nguyên toàn quyền Đông Dương đã viết: “Khi nước Pháp đến Đông Dương, thì dân tộc An Nam đã chín muồi để làm nô lệ”. Từ đó đến nay hơn một nửa thế kỷ đã trôi qua. Nhiều biến cố phi thường đã làm đảo lộn thế giới. Nhật Bản đã đứng vào hàng đầu các cường quốc trên thế giới. Trung Hoa đã làm cách mạng. Nga đã tống cổ lũ bạo chúa đi để trở thành một nước cộng hoà vô sản. Một luồng gió giải phóng mạnh mẽ đã làm cho các dân tộc bị áp bức vùng lên. Người Airlan, Ai Cập, Triều Tiên, ấn Độ, tất cả những người chiến bại hôm qua và nô lệ hôm nay đó, đương đấu tranh dũng cảm cho nền độc lập ngày mai của họ. Riêng người An Nam, thì vẫn cứ thế: sẵn sàng làm nô lệ.

Hãy nghe đoạn vǎn khốn nạn này của một tên khách An Nam trong một bữa tiệc hai trǎm người ǎn, tổ chức ra để chiêu đãi bọn Utơrây, Valuyđơ và bè lũ và để được ngửi mùi bít tất thối của bọn “liên minh dân tộc” này. Anh chàng An Nam ấy đã không ngại bỏ ra 85 quan cho một bữa chè chén. Hắn đọc diễn vǎn tại bữa tiệc:

“Tôi lấy làm tự hào được thay mặt cho toàn thể cử toạ nói lên tấm lòng tôn kính sâu sắc, niềm vui mừng và lòng biết ơn của chúng tôi đối với các vị. Đối với con mắt khâm phục của chúng tôi, các vị thật là những người tiêu biểu cho chính phủ của dân tộc Pháp vinh quang.

“Tôi không tìm ra được danh từ nào đủ đẹp để nói lên cho thật đúng ý nghĩa của tư tưởng sâu kín trong chúng tôi, nhưng thưa các vị, các vị hãy tin ở tình gắn bó thuỷ chung, ở lòng trung thành, ở sự sùng bái của chúng tôi đối với nước Đại Pháp, là người đỡ đầu và bảo hộ, đã coi chúng tôi như con, không phân biệt màu da và chủng tộc.

“Mỗi người chúng tôi đều đã tự mình nhận thấy tất cả những ân huệ mà Nhà nước chí tôn và những vị đại diện cho nước Đại Pháp đã ban cho chúng tôi bằng cách áp dụng đúng đắn và sáng suốt những luật pháp rộng rãi và khoan hồng”.

Trong đám tang viên toàn quyền Lông, ông N.K.V, tiến sĩ luật, tiến sĩ khoa chính trị và kinh tế, làm việc tại toà biện lý Sài Gòn, đã quả quyết rằng, nếu có thể phát biểu thay toàn thể nhân dân Đông Dương, thì ông sẽ đau đớn nói lên lời cảm tạ thiết tha đối với quan toàn quyền về tất cả những gì mà Ngài đã làm cho dân tộc An Nam. Rồi ông V. kêu to lên rằng:

“Những người mà nhờ những biện pháp bao dung của Ngài, ngày nay đang được cùng các vị đại diện của Nhà nước bảo hộ góp phần vào sự phồn vinh không ngừng tǎng lên của xứ Đông Dương, những người ấy cảm tạ Ngài tự đáy lòng và sùng bái hình ảnh của Ngài. Kinh tế là vấn đề mà Ngài lo nghĩ đến nhiều nhất. Ngài đã muốn cho Đông Dương có đủ trang bị kinh tế để trở thành một nước Pháp thứ hai, một nước Pháp hùng cường ở Viễn Đông, một chi nhánh của nước Pháp Cộng hoà!

“Ngài đã đem hết tâm hồn, trí não vào sứ mệnh của Ngài là khai hoá cho một dân tộc bị ngǎn cản trên con đường tiến bộ vì nhiều điều kiện lịch sử và khí hậu. Ngài là người chiến sĩ vô song của tiến bộ và là sứ giả của vǎn minh …”.

Còn ông Cao Vǎn Sen, kỹ sư, hội trưởng hội những người Đông Dương tại Pháp, thì nói rằng việc ông Lông chết quá sớm là một cái tang cho Đông Dương. Rồi ông kết thúc bài điếu vǎn bằng những lời sau đây:

“Thưa quan toàn quyền, chúng tôi chân thành thương tiếc Ngài vì đối với tất cả chúng tôi, Ngài là một ông chủ bao dung, khoan thứ như một người cha”.

Từ những việc trên, tôi xin kết luận rằng, nếu quả thật tất cả

mọi người An Nam đều rạp mình sát đất như bè lũ tay sai ấy của chính quyền thì người An Nam có phải chịu số kiếp nô lệ cũng là đáng đời.

*

*      *

Thanh niên ta cũng cần biết là hiện nay có hơn hai nghìn thanh niên Trung Quốc trên đất Pháp và độ nǎm vạn ở châu Âu và châu Mỹ. Hầu hết những thanh niên ấy đều đã tốt nghiệp Hán vǎn và tất cả đang là sinh viên – công nhân. Còn chúng ta, thì chúng ta có những sinh viên được học bổng và những sinh viên thường, nhờ ơn nhà nước hay tiền của cha mẹ (hại thay, hai cái nguồn ấy lại không bao giờ cạn cả), mà đang dành một nửa thì giờ vào các việc… chơi bi a, một nửa của nửa thì giờ còn lại để đến các chốn ǎn chơi; số thì giờ còn lại, mà ít khi còn lắm, thì để vào trường đại học hoặc trường trung học. Nhưng sinh viên – công nhân Trung Quốc thì lại không có mục đích nào khác hơn là nhằm thực sự chấn hưng nền kinh tế nước nhà và họ theo châm ngôn: “Sinh sống bằng lao động của bản thân và vừa học hỏi vừa lao động”.

Họ đã làm như thế này: vừa đặt chân lên đất nước người là tất cả những người có nǎng khiếu giống nhau và cùng muốn học một nghề thì tập hợp lại thành nhóm để vận động xin việc với bọn chủ. Khi được nhận vào xưởng thợ hay nhà máy, thì cố nhiên là họ bắt đầu bằng cách học việc, rồi sau trở thành thợ. Đối với nhiều người đã được nuôi dưỡng trong cảnh giàu sang và được gia đình chiều chuộng, thì làm những việc nặng nhọc là một điều gian khổ. Nếu họ không có một quyết tâm vững chắc, không được một sức mạnh tinh thần phi thường thúc đẩy thì phần lớn đã phải chùn bước. Nhưng cho tới nay, tất cả vẫn tiếp tục làm việc. Một trở lực thứ hai là ngôn ngữ bất đồng, họ đã khắc phục được trở lực ấy nhờ biết lợi dụng khiếu quan sát, cái khiếu gần như là một bản nǎng đặc biệt của những người Viễn Đông chúng ta. Nếu họ không hiểu được hay hiểu một cách khó khǎn những lời chủ họ nói, thì họ chǎm chú quan sát những cái mà chủ chỉ cho họ.

Họ kiếm không được bao nhiêu tiền. Với số tiền công ít ỏi, trước hết họ phải tính sao cho đủ sống. Và, họ coi việc không xin tiền chính phủ, không xin tiền gia đình là một vấn đề danh dự. Sau nữa, tuỳ theo số tiền kiếm được họ trích một phần để đóng vào quỹ tương tế do họ lập ra. Quỹ này nhằm hai mục đích: 1) giúp đỡ những sinh viên đau ốm có giấy chứng nhận của thầy thuốc, và những sinh viên thất nghiệp có giấy chứng nhận của chủ; 2) trợ cấp một số tiền trong một nǎm cho tất cả những người mới học nghề xong để giúp họ bổ túc nghiệp vụ.

Lao động ở nước nào, họ cũng xuất bản ở đấy một tờ tạp chí (luôn luôn là do sinh viên – công nhân đóng góp). Tạp chí ấy viết bằng chữ Hán, cung cấp tin tức của Tổ quốc và đǎng những vấn đề thời sự lớn trên thế giới, v.v.. Tạp chí dành một mục cho độc giả trao đổi những điều bổ ích cho việc học nghề của họ, báo cho nhau biết sự tiến bộ của từng người, khuyên nhủ và động viên nhau. Ban ngày họ làm việc, ban đêm, họ học tập.

Kiên trì, quyết tâm và đoàn kết như thế, các “ông chú trẻ tuổi” 1 của chúng ta chắc chắn sẽ đạt mục đích. Với một đạo quân 50.000 công nhân dũng cảm đáng khâm phục, lại được đào tạo trong kỷ luật và kỹ thuật hiện đại, thì không bao lâu nữa, Trung Quốc sẽ có một địa vị trong hàng các cường quốc công nghiệp và thương nghiệp thế giới.

Ở Đông Dương, chúng ta có đủ tất cả những cái mà một dân tộc có thể mong muốn như: hải cảng, hầm mỏ, đồng ruộng mênh mông, rừng rú bao la; chúng ta có những người lao động khéo léo và cần cù.

Nhưng chúng ta thiếu tổ chức và thiếu người tổ chức! Bởi thế công nghiệp và thương nghiệp của chúng ta là một con số không. Thế thì thanh niên của ta đang làm gì? Nói ra thì buồn, buồn lắm: họ không làm gì cả. Những thanh niên không có phương tiện thì

không dám rời quê nhà; những người có phương tiện thì lại chìm ngập trong sự biếng nhác; còn những kẻ đã xuất dương thì chỉ nghĩ đến việc thoả mãn tính tò mò của tuổi trẻ mà thôi!

Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám Thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh.

cpv.org.vn

Vǎn minh tư bản chủ nghĩa và phụ nữ ở các thuộc địa (1925)

Hiếm mới có dịp những tiếng nói được cất lên – tuy rất rụt rè – trong các nghị viện của các chính quốc để làm cho người ta chú ý đến tình cảnh thê thảm của giai cấp vô sản thuộc địa. Còn thảm thương hơn nữa là số phận của phụ nữ và trẻ em làm thuê trong những công việc nặng nhọc như làm than và làm việc trong các hầm mỏ.

Trong các nước bị chiếm đó, không có luật hay sự hạn chế nào để kiềm chế bớt bọn bóc lột. Những người thợ bản xứ bị coi như súc vật. Người ta chỉ cho họ những gì vừa đủ để khỏi chết đói. Người ta dùng roi để thúc họ đi. Không có bảo hộ lao động, không có bồi thường tai nạn. Người ta thấy lại trong các thuộc địa đó tất cả hệ thống phong kiến trung cổ và dã man của chủ nghĩa tư bản. Hãy lấy sự bóc lột trong các hầm mỏ ở ấn Độ thuộc Anh làm ví dụ, chúng ta sẽ thấy thứ nhân đạo và vǎn minh của bọn con buôn của đế quốc Anh. Một nghị sĩ Anh vừa cho chúng tôi biết rằng, cho đến nǎm 1921, ở ấn Độ, có 252 hầm mỏ được khai thác.

Các hầm mỏ đó dùng 42.000 phụ nữ và 1.171 trẻ em. Thật là một sự nhục nhã cho thế kỷ XX phải thấy những phụ nữ bước run run, đầu đội thúng than nặng, mà vẫn phải bước vì đói; và những trẻ em từ 12 đến 13 tuổi bò trong những đường hầm chật hẹp, vừa đi bằng bốn chân, vừa dùng rǎng kéo một thúng đầy!

Tư bản đầu tư vào các hầm mỏ đó là 5.681.000 livrơ.

Lợi nhuận từ 35 đến 50%. Có khi lên tới 80-90%. Một công ty thừa nhận rằng trong thời gian 1911-1921, trung bình lợi nhuận mỗi nǎm là 110%.

Trong lúc các nhà đi khai hoá của chúng ta ngày càng béo ra với những món lợi nhuận khổng lồ, thì sau đây là những điều đã xảy ra đối với nam nữ công nhân người bản xứ:

1.465 tai nạn chết người,

1.871 người chết,

2.212 người bị thương nặng.

40% vô sản hầm mỏ là phụ nữ và trẻ em, chúng ta có thể kết luận rằng, trong thời gian 10 nǎm, không dưới 2.200 phụ nữ và trẻ em ấn Độ đã phải hy sinh trên bàn thờ của chủ nghĩa tư bản đi khai hoá.

Vừa rồi, một đạo luật được thông qua quy định ngày làm việc dưới hầm là 9 giờ cho người lớn, và cho phép chính phủ “cải thiện” tình cảnh của phụ nữ và trẻ em làm việc trong hầm mỏ. Nhưng đạo luật đó chỉ được thi hành sau nǎm 1924. Trong lúc chờ đợi, bọn chủ tiếp tục bóc lột một cách vô liêm sỉ, và phụ nữ, trẻ em ấn Độ vẫn tiếp tục đau khổ.

NGUYỄN ÁI QUỐC

———————————

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng
cpv.org.vn

Lênin và các dân tộc thuộc địa (24) (2-1925)

Bài viết của đại diện các thuộc địa Pháp bên cạnh Quốc tế Cộng sản

Lênin đã đặt tiền đề cho một thời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa.

Lênin là người đầu tiên đã kiên quyết lên án mọi thành kiến về vấn đề này còn âm ỷ trong đầu óc của nhiều nhà cách mạng châu Âu và châu Mỹ.

Mọi người đều biết rõ những luận cương của Quốc tế Cộng sản về vấn đề thuộc địa. Trong tất cả các Đại hội của Quốc tế Cộng sản, của Quốc tế Công đoàn (25) và Quốc tế Thanh niên cộng sản (26), vấn đề các nước thuộc địa đã được nêu lên hàng đầu. Lênin là người đầu tiên đã hiểu và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng. Lênin là người đầu tiên đã chỉ rõ rằng, nếu không có sự tham gia của các dân tộc thuộc địa, thì cách mạng xã hội không thể có được.

Lênin đã tìm ra những phương pháp có hiệu quả để tiến hành có kết quả công tác trong các nước thuộc địa và đã nhấn mạnh là cần phải sử dụng phong trào cách mạng dân tộc ở những nước này.

Các đại biểu của các nước thuộc địa tham dự các Đại hội của Quốc tế Cộng sản, vẫn còn nhớ vị lãnh tụ – người đồng chí đã dành cho họ sự chú ý dường nào, và Người đã biết đi sâu tìm hiểu như thế nào những điều kiện công tác phức tạp nhất và thuần tuý có

tính chất địa phương. Mỗi người chúng ta đều có đủ thời gian cần thiết để tin chắc rằng những điều nhận xét của Người là đúng và những lời giáo huấn của Người là quý giá đến mức nào. Với phương pháp khéo léo của mình, Lênin đã lay chuyển được quần chúng nhân dân chưa giác ngộ và lạc hậu nhất trong các nước thuộc địa. Sách lược của Lênin về vấn đề này đã được các đảng cộng sản trên toàn thế giới áp dụng, đang lôi cuốn tất cả những phần tử ưu tú và tích cực ở các nước thuộc địa vào phong trào cộng sản.

Việc Lênin giải quyết vấn đề dân tộc hết sức phức tạp ở nước Nga Xôviết là một thứ vũ khí tuyên truyền mạnh mẽ trong các nước thuộc địa.

Trong con mắt của các dân tộc thuộc địa, trong lịch sử cuộc đời khổ đau và bị mất quyền của các dân tộc thuộc địa, Lênin là người sáng tạo ra cuộc đời mới, là ngọn hải đǎng chỉ dẫn con đường đi tới giải phóng cho toàn thể nhân loại bị áp bức.

NGUYỄN ÁI QUỐC

cpv.org.vn

———————————-

24. Kỷ niệm một nǎm ngày V.I.Lênin qua đời, mùa xuân 1925, Nguyễn Ái Quốc viết bài Lênin và các dân tộc thuộc địa. Với lòng khâm phục và kính yêu vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản quốc tế, tác giả nêu rõ sự quan tâm đặc biệt của Lênin đối với cuộc cách mạng của các dân tộc bị áp bức, lập luận có sức thuyết phục và cách giải quyết thực tế ở nước Nga Xôviết làm cho nhân dân các dân tộc bị áp bức đều hướng về Người, tin tưởng và đi theo con đường cách mạng của Người. Qua bài báo, Nguyễn Ái Quốc đã trình bày rõ công lao vĩ đại của Lênin đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và tình cảm chân thành của hàng triệu người bị áp bức đối với V.I.Lênin, vị lãnh tụ thiên tài của cách mạng vô sản và cách mạng của các dân tộc thuộc địa trên thế giới. Tr.136.

25. Quốc tế Công đoàn (Quốc tế công đoàn đỏ): Tổ chức liên hiệp quốc tế của các công đoàn cách mạng, được hình thành về mặt tổ chức vào nǎm 1921, tồn tại đến cuối nǎm 1937. Nó liên kết các trung tâm công đoàn không gia nhập tổ chức công đoàn cải lương là Quốc tế Amxtécđam, và liên kết các nhóm, các khuynh hướng đối lập tiến bộ trong nội bộ các tổ chức công đoàn cải lương ở các nước. Quốc tế Công đoàn đấu tranh để thiết lập một sự thống nhất trong phong trào công đoàn trên cơ sở đấu tranh cách mạng nhằm bảo vệ những yêu sách của giai cấp công nhân, chống nguy cơ chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, và đoàn kết với giai cấp công nhân nước Nga Xôviết. Tr.136.

26. Quốc tế Thanh niên cộng sản: Tổ chức quốc tế của thanh niên lao động cách mạng. Theo sáng kiến của Lênin, Đại hội lần thứ nhất của thanh niên xã hội chủ nghĩa được triệu tập ở Béclin (Đức) từ ngày 20 đến 26-11- 1919 (có 29 đại biểu của 13 nước tham dự) đã thông qua nghị quyết thành lập Quốc tế Thanh niên cộng sản. Tổ chức này đã gia nhập Quốc tế Cộng sản với tư cách là một phân bộ. Quốc tế Thanh niên cộng sản có những phân bộ riêng của mình ở 56 nước. Các cơ quan lãnh đạo của Quốc tế Thanh niên cộng sản là Đại hội quốc tế và Ban chấp hành. Quốc tế Thanh niên cộng sản hoạt động dưới sự lãnh đạo về tư tưởng và tổ chức của Quốc tế Cộng sản. Nó đã có tác dụng quan trọng trong việc tuyên truyền, giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin trong thanh niên, đề ra mục tiêu, phương pháp đấu tranh cho thanh niên trong sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới. Nǎm 1943, cùng với việc giải tán Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Thanh niên cộng sản cũng tự giải tán. Tr.136

Thư gửi cho một đồng chí đảng viên Đảng Cộng sản Pháp (19-2-1925)

Quảng Châu, ngày 19-2-1925

Đồng chí thân mến,

Tôi không biết đồng chí là ai, nhưng tôi đoán rằng đồng chí phải là Maran. Có đúng vậy không? Trước khi đi, tôi đã yêu cầu Đảng gửi đến tôi báo chí và các tài liệu khác cho công tác tuyên truyền. Tôi ở Trung Quốc đã 5 tháng nay, và tôi chưa nhận được gì cả. Tôi hoàn toàn không biết những gì đã xảy ra trong Đảng và ở châu Âu.

ở đây, có nhiều công tác phải làm, mà công tác thì rất thú vị, ở trong Đảng Trung Quốc cũng như ở trong Đảng mới của An Nam mà chúng tôi đang xây dựng.

Tôi gửi đến đồng chí bản sao bức thư của tôi gửi Đoàn Chủ tịch. Trong thư có 3 nội dung:

1) Yêu cầu kinh phí – vì tôi không thể xin ở Đảng khi mà Đảng không có đồng nào, đồng chí hãy cố gắng để Đoàn Chủ tịch đáp ứng yêu cầu của tôi. Không được như vậy sẽ không có tiền để làm việc có kết quả.

2) Đề nghị gửi sinh viên – Đối với một thuộc địa như Đông Dương, chúng tôi phải có ít nhất 10 sinh viên – tuyên truyền viên. Nhưng chúng tôi có thể gửi 5 hay 7 người. Điều chủ yếu là cho tôi biết càng sớm càng tốt con số được chấp nhận để tôi có thể chọn trong số những người đang ở Trung Quốc hay phải đi tìm người ở

trong nước. Với cả hai đề nghị này, tôi chắc rằng đồng chí sẽ phải đấu tranh vất vả; vì đồng chí Tơranh đã đấu tranh vất vả cho việc đi của tôi.

3) Về tài liệu tuyên truyền – Tôi chẳng có gì cả trừ phi đồng chí viết một bức thư thúc giục rất khẩn cấp cho Ban Bí thư hay cho Bộ Chính trị của Đảng. Địa chỉ của tôi là: Lý. Hãng thông tấn Rôxta- Quảng Châu – Trung Quốc.

Báo chí nói rằng Misen Mácty đã ra khỏi Đảng và cũng khuyên Ǎngđrê làm mạnh hơn nữa. Có đúng không?

Tôi quên một việc khá quan trọng. Đồng chí hỏi Ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng chúng ta: Nguyễn Thế Truyền có phải là đảng viên hay không? Nếu đúng là đảng viên, phải chỉ thị cho Truyền gia nhập nhóm lập hiến, vừa được tổ chức ở Pari để làm hạt nhân.

Tôi tin tưởng ở đồng chí và gửi tới đồng chí lời chào cộng sản anh em.

NGUYỄN ÁI QUỐC

——————————–

Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản (19-2-1925)

Quảng Châu, ngày 19-2-1925.

Kính gửi Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản.

Các đồng chí thân mến,

Tình hình Đông Dương hiện nay vẫn giống như tôi đã mô tả trong bản báo cáo đầu tiên của tôi. Tôi chỉ xin trình bày với các đồng chí 3 việc sau đây:

1. Đảng Lập hiến mà tôi đã nói đến trong bản báo cáo gần đây nhất với các đồng chí vừa mới được tǎng cường do sự gia nhập của một nhà cách mạng An Nam lão thành, một nhà nho, bị kết án tử hình, được ân xá, bị trục xuất sang Pháp, và cuối cùng được chính phủ Eriô cho nhập quốc tịch Pháp. Chương trình được công bố của Đảng ấy là: Pháp – An Nam hợp tác và việc tầng lớp thượng lưu của người An Nam được nhập quốc tịch Pháp.

2. Những người bảo thủ và những người dân chủ người Pháp đang đấu tranh với nhau ở Đông Dương như những ông chủ của họ đang đấu tranh với nhau ở Pháp. Mới đây, nhiều truyền đơn chống đế quốc đã được rải ở Nam Kỳ (cǎn cứ vào những đoạn trích, tôi cho rằng, những truyền đơn ấy là của Ban thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp). Những người bảo thủ kêu lên: Hãy coi chừng chủ nghĩa bônsêvích! Còn những người dân chủ lại trả lời họ rằng: Chính các

anh đã bày ra những trò ấy để doạ chúng tôi!

3. Chính phủ Xiêm mới trao cho Chính phủ Pháp một nhà cách mạng An Nam lão thành từ Trung Quốc đến. Chính phủ Pháp thường quen yêu cầu trục xuất các nhà cách mạng An Nam lưu vong ở Xiêm; người vừa mới bị trục xuất đã bị chặt đầu không xét xử sau khi đến Sài Gòn được 24 tiếng đồng hồ.

Công tác đã làm được:

Chúng tôi đã lập một nhóm bí mật gồm 9 hội viên, trong đó có:

2 người đã được phái về nước.

3 người ở tiền tuyến (trong quân đội của Tôn Dật Tiên).

1 người đang đi công cán quân sự (cho Quốc dân đảng).

Trong số hội viên đó, có 5 người đã là đảng viên dự bị của Đảng Cộng sản.

Chúng tôi còn có 2 đoàn viên dự bị của Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin.

Chúng tôi có tại Xiêm một trạm – cơ sở (để đưa đón người ra vào) khá vững. ở đó có chừng 50 người làm ruộng đoàn kết chặt chẽ và trước đây đã giúp được rất nhiều việc. Giờ đây, chúng tôi phải tổ chức họ lại về mặt chính trị và củng cố cơ sở đó về mặt kinh tế, bằng cách mở rộng nó.

Những việc chúng tôi phải làm trong nǎm nay:

a) Thiết lập một cơ sở hoạt động tại Quảng Châu.

b) Thiết lập những cơ sở giao thông:

1. ở Quảng Tây.

2. ở phía cực Nam Quảng Đông.

3. ở Bǎng Cốc.

4. ở Tích Kho (điểm kết thúc của đường xe lửa Bǎng Cốc và cách Lạc Phách 20 ngày đường).

5. ở Lạc Phách, trên tả ngạn sông Mê Kông và cách Trung Kỳ 15 ngày đường.

c) Phái một đồng chí về ở trong nước để thu thập và chuyển tin tức.

d) Phái một hoặc nhiều đồng chí làm việc trên các tàu thuỷ đi lại giữa Trung Quốc và Đông Dương.

Tất cả những công việc cần thiết ấy sẽ tốn chừng 5.000 đôla.

e) Gửi sinh viên An Nam sang học Trường đại học cộng sản ở Mátxcơva.

Những điều tôi yêu cầu các đồng chí:

Một đồng chí khác và tôi, chúng tôi chỉ có thể để dành dụm – đến mức cao nhất – từ 100 đến 150 đôla mỗi tháng, số tiền này hoàn toàn không đủ cho công tác khẩn cấp của chúng tôi. Vậy tôi yêu cầu các đồng chí:

1. Vui lòng cấp cho tôi một số tiền.

2. Cho tôi biết là có thể gửi bao nhiêu sinh viên An Nam sang Mátxcơva.

3. Tôi sẽ cám ơn các đồng chí rất nhiều nếu các đồng chí trả lời những yêu cầu của tôi bằng điện báo.

4. Gửi cho tôi tài liệu tuyên truyền bằng tiếng Pháp (để cho sinh viên An Nam và binh lính Pháp).

Xin gửi lời chào cộng sản
NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————

Tài liệu tiếng Pháp , lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng
cpv.org.vn

Con rùa (2-1925)

Truyện

Cốc! Cốc! Cốc!

– Ai đấy? Ông Xã, lý trưởng làng La Lo 1 , vừa hỏi to vừa bước ra mở cổng cái vườn con… Chào ông anh ạ! Ông nói với người vừa ló ra. May mắn làm sao tệ xá lại được vinh hạnh đón tiếp ông anh quá bộ lại chơi thế này?

– Trời bao nhiêu sao thì xin mừng bác phúc lộc bấy nhiêu, khách lạ trả lời. Chả là tôi mang đến bác tờ trát của quan sứ.

Xem lướt xong lệnh của quan trên, ông Xã gãi đầu gãi tai. Ông có vẻ quýnh lắm.

– Gì thế, ông? Bà vợ lo lắng hỏi.

Ông Xã không đáp, chỉ ra hiệu cho người bạn đời thân quý của ông đi theo ông.

Khi chỉ còn hai người, ông nói: “Hiền thê ta ơi! Sự thể như thế này. Quan sứ đòi tôi lên dinh ngài. Nhà nó cũng biết đấy: Quan là một ông Tây tốt chỉ thích của tốt, cho nên mình mà vào nhà ngài hai tay rỗng không thì khi ra khỏi nhà ngài là đôi mông no đòn. Thế nhưng nhà mình có gì coi được: gà, thỏ, vịt, gà tây, thì đã bán sạch để nộp thuế cả rồi còn đâu! Lấy gì dâng quan bây giờ?”.

Đến lượt bà vợ ông Xã trở nên tư lự. Bà biết rằng cái con người đáng sợ mà ông chồng thân yêu của bà sắp phải lên trình diện này, trước kia – trong thời kỳ bình định – đã từng chặt 75 cái đầu hào mục xứ Bắc Kỳ. Lên làm quan sứ, ông ra lệnh cứ nện đòn bất luận tên dân An Nam nào, đàn ông hay đàn bà cũng thế, qua cổng nhà ông mà không hạ mũ nón. Tính ông hung bạo làm dân chúng khiếp vía. Muốn vui chuồng gà, ông mượn gà mái của dân trong vùng, rồi chẳng bao giờ trả lại sau khi đã có cả trứng lẫn gà con. Nói tóm lại là bà biết rằng ông quan da trắng này dữ tợn lắm, và bà run sợ sẵn khi nghĩ trước đến cảnh tượng chồng bà sẽ được tiếp đón như thế nào nếu không mang gì đến đấm cái mõm công sứ.

– Tôi nghĩ ra rồi, im lặng mấy phút rồi bà nói, nghĩ cái hay lắm!

Đặt xong xuôi con rùa ngay ngắn trên cái khay bạc thuê của chính nàng hầu quan sứ, bày xong xuôi cả khay lẫn rùa lên chiếc chiếu trải trước cửa phòng giấy ngài công sứ, ông Xã đến trình diện với tất cả nỗi niềm cung kính tất phải có đối với vị đại diện của Nhà nước bảo hộ.

– Lạy quan lớn, ông vừa thưa vừa quay lại phía chiếu, dám xin quan lớn nhận cho, của mọn thôi ạ! Cái món qu… qu… 1 .

Ông không nói hết được tiếng quà, vì thoắt nhận ra rằng trên khay thế là đã khuất bóng rùa. Cái con vật, không buộc, đã thừa lúc ông Xã khốn khổ nhà ta quay đi mà chuồn mất.

Nhưng quan sứ – ngài khoan hoà rất mực – reo to lên:

– Ô cái khay đẹp quá thôi! Để ta phải gửi lên biếu quan toàn quyền mới được! Đúng hôm nay lại là ngày lễ sinh nhật toàn quyền phu nhân, hẳn bà thích lắm đấy.

“Và ông thì ông sẽ thǎng cấp cho ta”, ngài công sứ nghĩ thầm thêm trong bụng.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Theo bài in trong sách: Truyện và ký

——————–

Báo Le Paria, số 32, tháng 2 và tháng 3-1925.
Nguyễn ái Quốc: Truyện và ký, Nhà xuất bản Vǎn học, Hà Nội, 1974, tr.39-41.
cpv.org.vn

Những vấn đề châu Á (1925)

Nội chiến ở Trung Quốc. – Việc chuẩn bị về quân sự của Anh – Mỹ ở Thái Bình Dương. – Mấy ý tưởng của Nhật Bản

Những sự biến ở Trung Quốc ngày càng đáng cho ta chú ý đến nhiều hơn, nếu ta coi đó là những sự biến gắn liền với toàn cục, tức tình hình chung ở châu á.

Cuộc nội chiến nhen lên ở Trung Quốc thực ra chỉ là một cuộc đọ gươm giữa các đế quốc Pháp – Nhật và Anh – Mỹ.

Ngô Bội Phu, người của đế quốc Anh – Mỹ thua. Trương Tác Lâm người của đế quốc Pháp – Nhật được: nhưng được cuộc, thì lại chẳng phải là Nhật, mà cũng chẳng phải là Pháp. Số là, may thay có một lực lượng thứ ba không làm tôi tớ cho tập đoàn đế quốc nào cả. ý tôi muốn nói đảng cách mạng của Tôn Dật Tiên.

Những vị tướng Trung Quốc vừa mới hạ vũ khí – trong bao lâu?- thì Pháp đã đòi những khoản còn thiếu trong số tiền gọi là bồi thường về phong trào Nghĩa hoà đoàn 27 ; Nhật đòi nhượng cho mình những cǎn cứ điện báo; Mỹ đòi phải áp dụng một kế hoạch na ná như kế hoạch Đaoxơ 28 ; Anh đòi kiểm soát đường sắt ở Trung Quốc. Trước những yêu sách đó, Tôn Dật Tiên và đảng Quốc dân cách mạng của mình, tức Quốc dân đảng đáp lại rằng: “Hãy khoan! Chúng tôi, chúng tôi đòi phải huỷ bỏ những hiệp ước bất công, xoá bỏ những nhượng bộ nhục nhã; tóm lại Trung Quốc phải là của người Trung Quốc và người Trung Quốc phải được tự do giải quyết công việc của mình theo ý mình muốn. Còn sau sẽ hay”.

Vì vậy ở Trung Quốc, Tôn Dật Tiên là một trong những nhà chính trị mà bọn đế quốc ghét nhất và gờm nhất. Nhưng Carakhan, đại sứ Liên Xô ở Bắc Kinh, cũng bị họ thù ghét chẳng kém gì.

Từ sau Hội nghị Oasinhtơn 29 , Nhật không liên minh với Anh nữa. Xét rằng hoạt động ở Trung Quốc và ở ấn Độ của người bạn đồng minh cũ có phần nguy hiểm, Anh đã cắt đứt liên hệ bạn bè với Nhật để bắt tay với chú Sam 1 chặt chẽ hơn, vì quyền lợi của chú Sam ở Trung Quốc dễ thoả thuận với quyền lợi của Anh. Việc bỏ rơi đó mới chỉ là bước đầu: đế quốc Nhật sẽ còn bị nhiều vố nữa! Trái lại, Pháp đã tỏ vẻ rất trọng vọng Nhật và đã cho Nhật hưởng một mức thuế nhập khẩu ưu đãi ở Đông Dương. Thật là một ân huệ nhỏ bé chẳng gây được một tiếng vang nào trên thế giới, mà trái lại thì thế giới đã vừa được nghe thấy tiếng bom nổ trong vụ mưu sát ở Quảng Châu.

Nhật vừa bị Anh bỏ rơi thì luôn ngay ở Mỹ người ta lại bỏ phiếu cấm người Nhật di cư sang Mỹ. Đế quốc Nhật không thể nào lại không nhǎn mặt về điều nhục nhã này; họ đã phản ứng lại bằng những cuộc phản đối và những cuộc biểu tình kịch liệt nhưng vô hiệu quả. Bị bạn đồng minh cũ bỏ rơi, bị kẻ thù luôn luôn chửi vào mặt, Nhật đã sôi sục cǎm phẫn. Họ mới nảy ra cái ý nghĩ thành lập Khối Liên á. Tại sao lại không thành lập một liên minh Nga – Hoa- Nhật? Đề xướng ra ý kiến mới này là những giáo chức đại học, những chính khách, trong đó có chủ tịch phòng tài chính. Báo chí thạo tin ở phương Tây (Tạp chí Bỉ, chẳng hạn) nhất là báo chí Anh đều nghiên cứu ý kiến đó một cách lo ngại, nhưng làm ra vẻ không có gì là quan trọng cả.

Việc khởi công quy hoạch lại cǎn cứ thuỷ quân Xanhgapo, tốn đến 11 triệu đồng bảng Anh, phải chǎng là một cái chấm dứt của “tình hữu nghị” Anh – Nhật và là một lời đáp thiết thực đối với cái ý định thành lập một liên minh châu á? Nhưng dù sao cũng là một hành động chuẩn bị ǎn ý của chủ nghĩa đế quốc Anh – Mỹ.

Nước Mỹ, đã có một ngân sách thuỷ quân là 300 triệu đôla và một hạm đội gồm 840 thuỷ phi cơ, 18 chiến hạm, 81 tàu ngầm, 103 khu trục hạm, 113 tuần dương hạm, phóng ngư lôi hạm và các chiến thuyền nhỏ khác, cùng với 4.785 sĩ quan hải quân và 86.000 thuỷ thủ, lại sắp đóng thêm 8 tuần dương hạm mới. Hình như đó chỉ cốt để đạt số “5-5-3” (xin giải thích để những người không sành về vấn đề này được rõ rằng, đây là công thức về tỷ lệ các lực lượng hải quân mà hội nghị “tài giảm binh bị” ở Oasinhtơn đã quy định cho Mỹ, Anh và Nhật). Và nay mai, ở Thái Bình Dương, sẽ có những cuộc diễn tập lớn của hạm đội Mỹ.

Dư luận ở Nhật thấy: nào là hội nghị Đế quốc 30 – hội nghị phòng thủ Đế quốc 1 – ở Luân Đôn, nào là các công trình ở Xanhgapo, nào là các cuộc diễn tập lớn ở Thái Bình Dương. Và tự hỏi: Chuẩn bị như thế để đánh ai đây? Nhật là cường quốc duy nhất ở châu á có lực lượng vũ trang, là kình địch duy nhất của các đế quốc Anh và Mỹ ở Thái Bình Dương. Nhật cảm thấy mũi dùi chĩa thẳng vào mình. Kết quả là trong nước cứ sôi lên sùng sục. Tiếp sau ý kiến thành lập một liên minh châu á, lại nảy ra ý kiến thành lập một liên bang các chủng tộc da vàng. Theo lời của những người đề xướng ý kiến đó, 1.000.000.000 người da vàng có nhiệm vụ phải trút bỏ ách thống trị của 60.000.000 người da trắng đi. Đó là một chủ trương không thể thực hiện được do lòng ích kỷ của người Nhật và do những điều mà họ đã làm. Trong khi phản đối đạo luật Mỹ cấm người da vàng di cư đến Mỹ, trong khi tự xưng là người đứng đầu các chủng tộc da vàng bị áp bức, Nhật lại trục xuất ra khỏi lãnh thổ của mình hơn 6.000 công nhân Trung Quốc và sẽ tiếp tục trục xuất “những người lao động nước ngoài”. Còn người Triều Tiên có thể nghĩ thế nào về lòng thành thật của người Nhật, thì đừng nói đến là hơn.

Đối với người Nhật thì, 10 nǎm trước đây, Mikađô 2 là một đấng chí tôn; chiến đấu để phục vụ một vị hoàng đế chí tôn là một vinh dự. Người Nhật ngày nay có một tâm lý khác hẳn rồi. Vừa rồi, nhân một cuộc du hành của hoàng gia tại vùng lân cận Đông Kinh,

cảnh sát đã bắt giữ 3.400 thanh niên “để đề phòng”. Thật là một sự đề phòng có ý nghĩa! Chính phủ muốn đưa mục huấn luyện quân sự vào chương trình giảng dạy ở nhà trường, giáo sư và sinh viên đều nhất trí phản đối. Chủ nghĩa sô vanh 31 , dù có những sự đe doạ của Anh – Mỹ giúp thêm vào, cũng không thể thành công như xưa được nữa. Liệu thế hệ thanh niên Nhật sẽ có hiểu rằng sự cứu vãn là do ở chỗ những người vô sản tất cả các nước liên hiệp lại với nhau không ? Điều chắc chắn là thanh niên đang tiến nhanh và tiến về phía tả.

Để kết thúc những dòng này, xin thêm một chi tiết: cái mộng một “liên bang những chủng tộc da vàng” vừa mới được nói đến ở Nhật, thì một thượng nghị sĩ Mỹ, ông Britơn, đã đề nghị triệu tập một “hội nghị những người da trắng ở Thái Bình Dương…”.

NGUYỄN ÁI QUỐC
(Vlađivôxtốc)

————————-

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 19, nǎm 1925
cpv.org.vn

Nông dân Trung Quốc (21-3-1925)

Nông dân Trung Quốc nghèo khổ là do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

1. Dân số quá đông, còn đất đai thì không đủ để canh tác.

2. Phương tiện canh tác thô sơ.

3. Công nghiệp phát triển rất kém nên không thu hút được số dân dư thừa không có việc làm, do đó trộm cướp như rươi, chúng sống bám vào nông dân.

4. Chủ nghĩa quân phiệt là một dạng cướp bóc khác.

5. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản nước ngoài buộc nông dân phải bán rẻ nông phẩm và mua hàng hoá đắt.

6. Lụt lội và các thiên tai khác. Hầu như nǎm nào cũng vậy, vùng này hay vùng khác, có khi nhiều vùng một lúc, bị lụt hoặc bão cuốn sạch, phá sạch.

7. Lòng tham của bọn địa chủ.

Hằng nǎm, tá điền phải chi phí cho một mẫu 1 ruộng

3,5 đôla tiền giống

3,5 – phân bón

1 – hao mòn dụng cụ

6 – ǎn uống cho lao động

Cộng 14 đôla.

Được mùa, một mẫu thu được 32 đôla. Trong số tiền ấy, địa chủ lấy mất 75% tức là 24 đôla; phần tá điền chỉ còn lại 25% tức là

8 đôla. Như vậy tá điền lỗ 6 đôla. Tuy có thu hoạch thêm về chǎn nuôi, đánh cá, nghề phụ và chịu thiếu thốn, người tá điền cũng khó có đủ tiền để chi tiêu. Nếu bọn kẻ cướp số 1 và số 2, hoặc bão lụt lại tiến công nữa thì người nông dân nghèo chỉ có tuyệt vọng. Anh ta chỉ còn có một cách để khỏi chết đói là dấn thân đi bổ sung cho đội ngũ bọn kẻ cướp hoặc quân phiệt để rồi lại đi tước đoạt nông dân ở các vùng khác.

Để chống lại những lực lượng áp bức ấy, với sự thúc đẩy của công nhân công nghiệp có tổ chức và được Chính phủ miền Nam cổ vũ, nông dân Trung Quốc bắt đầu tổ chức nhau lại. Điều lệ tổ chức của họ có những đặc điểm sau đây: Không được tổ chức vào hội:

a) Địa chủ có trên 100 mẫu đất.

b) Địa chủ phạm tội cưỡng bức nông dân.

c) Thầy cúng, mục sư.

d) Những người có quan hệ với đế quốc.

e) Những người hút thuốc phiện, cờ bạc.

Trước phong trào cách mạng ấy, địa chủ và kỳ hào ở thôn xã đều cảm thấy bị uy hiếp. Và chúng cũng tổ chức nhau lại. Chúng trở thành những tên phát xít và dùng những biện pháp phát xít để chống lại nông dân có tổ chức. Hǎm doạ, hành hung cá nhân, vu khống trên báo chí phản động, cướp bóc trụ sở các tổ chức, ám sát, biện pháp nào chúng cũng dùng đến, miễn là nếu không xóa bỏ được thì cũng có thể làm cho các tổ chức cách mạng bị thiệt hại. Đã có những chứng cớ cho thấy rằng có một số đại địa chủ đã treo thưởng đến 5.000 đôla cho ai giết được một chiến sĩ tích cực.

Dù sao, nông dân đã được tổ chức cũng không chịu thua. Ngay khi thấy xuất hiện tổ chức đối địch, họ tổ chức dân quân để đối phó lại.

Sinh viên và công nhân đã vào công hội đều tích cực giúp đỡ nông dân.

NGUYỄN ÁI QUỐC

———————-

Tài liệu tiếng Pháp, có ghi ngày 19-3-1925 – 21-3-1925 ở trang đầu, lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

“Lối cai trị của người Anh” (8-4-1925)

Trung Quốc, Ấn Độ, Xuđǎng

Những người bảo thủ trở lại nắm quyền, việc đó đã làm cho chủ nghĩa đế quốc Anh thêm sức mạnh. Chủ nghĩa đế quốc Anh muốn thi hành ở Trung Quốc một chính sách tích cực và “mạnh mẽ”. Để bắt đầu, người ta đã đề nghị với Hội nghị Luân Đôn ngày 24 tháng 11 vừa rồi rằng những đường sắt ở Trung Quốc phải do các lực lượng quân sự Mỹ, Nhật, Bỉ, Pháp và Anh kiểm soát và giám sát. Nước Anh bỏ nhiều vốn nhất vào những đường sắt ấy và sẽ đóng một vai trò quyết định trong việc kiểm soát và chiếm giữ những hệ thống đường sắt đó. Dự án tốt đẹp ấy chưa được thông qua.

Đầu nǎm nay, thủ đô chính thức của ấn Độ thuộc Anh bỗng nhiên thấy buộc phải áp dụng “Đạo luật phòng thủ ấn Độ” 2 nǎm 1918, tức là đạo luật bất thường thiết lập tình trạng giới nghiêm tǎng cường. Dưới chế độ ấy, tất cả những viên chức và cảnh sát người Anh, từ cấp thanh tra trở lên, đều có quyền bắt bớ và giam giữ những người ấn Độ bị tình nghi, không làm thủ tục cũng chẳng cần xét xử gì cả. Chỉ trong một buổi sáng mà các trường trung học, các ký túc xá của sinh viên và khoảng 100 toà nhà đã bị khám xét. Hàng trǎm vụ bắt bớ đã xảy ra. Trong số những người bị bắt giam, có: S. Sunđe Rôdơ, lãnh tụ trong Ban Chấp hành Đảng Quốc đại ấn Độ 32 ; Baran Roy, bí thư tỉnh uỷ của đảng này; S.Míttrơ, bí thư của

Đảng Svaragít; và nhiều người Svaragít khác có tiếng tǎm và được tôn trọng. Vǎn phòng các công ty của người ấn Độ đều bị quân đội và cảnh sát chiếm đóng. Các nhà cầm quyền Anh ở Bengan lại định giải quyết bằng vũ lực tất cả những khó khǎn về chính trị.

ở đây, chúng tôi sẽ không nhắc lại những sự biến xảy ra ở Nhật Bản và Ai Cập mà mọi người còn nhớ. Điều mà người ta ít biết đến là đã từ lâu các nhà công nghiệp Anh hằng ôm ấp cái mộng thi hành một cách kiên quyết một “chính sách bông” ở châu Phi. Họ đã biến Xuđǎng thành một đồn điền rộng lớn, và để thực hiện mục đích đó, họ sẽ chuyển hướng dòng sông Nin ở miền thượng lưu. Đồn điền được tưới nước như vậy sẽ đem lại một nǎng suất kỳ diệu; nhưng… nông nghiệp miền hạ lưu sông Nin sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng; vì dòng nước màu mỡ tốt tươi đã bị đổi đi hướng khác. Vì vậy, người Ai Cập đã phản đối việc thực hiện kế hoạch đó. Việc ngài Lixtếch, tổng tư lệnh người Anh trong quân đội Ai Cập bị ám sát được người Anh dùng làm cớ để hoàn toàn tự do hành động ở Xuđǎng; từ nay họ là những người chủ duy nhất ở đấy. Máu đổ ở Xuđǎng và Ai Cập có lẽ sẽ chỉ để tǎng thêm màu mỡ cho đồn điền của họ ở Xuđǎng mà thôi…

NGUYỄN ÁI QUỐC

—————————-

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 33, ngày 8-4-1925
cpv.org.vn

Kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9: Tương lai đang thúc giục chúng ta viết lên những trang sử mới

Nhân kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, đồng chí TRƯƠNG TẤN SANG, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam có bài viết với tựa đề Tương lai đang thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới. Bài viết khẳng định, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945 là thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ, quật cường của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bài viết thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, thách thức, khuyết điểm trong quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước từ những ngày đầu đến nay; qua đó khẳng định, bằng những bài học kinh nghiệm trong suốt chiều dài lịch sử, Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn cùng đi trên một con thuyền, cùng cập bến và vượt qua thử thách. Bài viết cũng nêu bật, vấn đề đoàn kết – hòa hợp – thống nhất cần được giữ gìn, phát huy, tạo thành sức mạnh tổng hợp giúp đất nước vượt qua khó khăn, thách thức hiện nay và mai sau… Báo SGGP xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết Tương lai đang thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới.

Ngày Quốc khánh bao giờ cũng đem lại cho mỗi người chúng ta những cảm xúc thật đặc biệt.

Tôi nhớ lại cảm xúc của mình vào những ngày kỷ niệm này trong nhiều năm đã qua, cho dù lúc đó tôi đang ở thành phố hay nông thôn, vào buổi trưa hay vào lúc nửa đêm khi vạn vật đã chìm vào giấc ngủ. Tràn ngập trong tâm khảm tôi lúc đó là cảm xúc thiêng liêng và lắng đọng về ý nghĩa vĩ đại của Ngày Độc lập với non sông và dân tộc Việt Nam ta. Một câu hỏi da diết xuất hiện trong những khoảnh khắc ấy: những gương mặt mà ta đã gặp, những ngôi nhà, góc phố, hàng cây, mỗi ngôi làng, hay thậm chí một tiếng chuông chùa trong đêm, sẽ như thế nào, sẽ ra sao, nếu như không có Ngày Độc lập ấy?

Đã có rất nhiều cuốn sách, những bài diễn văn của các học giả, các nhà lãnh đạo trong và ngoài nước, trong suốt 67 năm qua, đề cập từng khía cạnh, thậm chí nhỏ nhất về ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, không chỉ với đất nước và nhân dân Việt Nam, mà với sự tiến bộ của nhân loại nói chung. Trong thời đại thông tin ngày nay, việc kiếm tìm những thông tin như vậy trở nên thật dễ dàng…

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp xúc cử tri quận 4, TPHCM tháng 6-2012

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc ta với hình ảnh biểu tượng cách đây 67 năm, ngày 2-9 tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trịnh trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam). Ngày 2-9 đã trở thành mốc lịch sử trọng đại của đất nước, mở ra trang sử mới rạng rỡ trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người dân Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, một Nhà nước kiểu mới – Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân được xây dựng. Việt Nam từ một nước nô lệ bị sự thống trị hà khắc của chính quyền thực dân – phong kiến, đã xuất hiện trên bản đồ thế giới với tư cách là một nước tự do và độc lập. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ, đã trở thành người chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình… Hơn ai hết, mỗi một người dân Việt Nam – những hậu duệ của rất nhiều thế hệ trước đó từng trải qua biết bao thiên tai, binh lửa, bao biến cố thăng trầm, những tiếp biến “vật đổi sao dời” ngàn năm, hết đời này sang đời khác – bằng máu huyết, thanh danh, vận mệnh của dân tộc và của chính mình, đều ý thức rõ ràng giá trị sâu sắc thiêng liêng và ý nghĩa lịch sử vĩ đại của Ngày Độc lập này. Không ai có thể phủ nhận điều đó!

Cũng không ai có thể phủ nhận một sự thực lịch sử: thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần đấu tranh quật cường của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh. Với những giá trị lịch sử to lớn và những bài học thực tiễn phong phú, suốt 67 năm qua kể từ ngày thành lập nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa dân tộc và nhân dân Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ thắng lợi “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ở Điện Biên Phủ, đến thắng lợi vĩ đại mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối; đến những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN…

Đến bất cứ nơi đâu trên đất nước Việt Nam hôm nay, ta cũng bắt gặp những đổi thay theo hướng tiến bộ, khắp nơi đều là những công trường xây dựng, diện mạo thành thị, nông thôn bao trùm một sức sống mới… Những vật dụng quen thuộc xưa kia trong đời sống lam lũ của người dân như cái khố rách, cái cối xay, đôi guốc mộc, hay là chiếc xe đạp Thống Nhất mới chỉ vài chục năm trước còn là một phương tiện “sang trọng” thời bao cấp… thì nay chỉ còn là ký ức hay vật trưng bày trong các viện bảo tàng.

Sau hàng ngàn năm lịch sử, đất nước đã bao giờ đẹp như hôm nay?

Nhưng phải chăng không còn điều gì bất cập, không có vấn nạn gì mà mỗi khi nghĩ đến ta thấy nhức nhối trong lòng?

Hàng ngày lật giở các trang báo, gặp gỡ các cán bộ, đảng viên và nhân dân, ai cũng có một điều gì đó, một bức xúc hoặc không đồng tình nào đó động chạm đến bản thân hoặc do chính sách, do tổ chức thực hiện. Thậm chí, nhiều khi ta bắt gặp sự phản ứng đến mức phẫn nộ. Đã có những chính sách được về mặt chính trị, an ninh thì lại chưa ổn về mặt xã hội, dẫn đến những tranh luận nhiều khi gay gắt, thậm chí xung đột. Giá cả các mặt hàng leo thang kéo theo nhiều hệ lụy; chuẩn mực giá trị bị đảo lộn và xem thường dẫn đến pháp luật kỷ cương, đạo đức xã hội bị xói mòn nghiêm trọng. Kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì mặt trái tiêu cực của nó càng có môi trường nảy sinh. Ai cũng đồng tình từ bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, cào bằng, bình quân chủ nghĩa làm triệt tiêu mọi động lực phát triển, duy trì nghèo đói, nhưng chuyển sang cơ chế thị trường thì những mặt trái của nó đã giáng vào đời sống xã hội những “đòn” không kém phần khốc liệt. Có những việc tưởng như đơn giản, tưởng như dễ giải quyết, không phải là khó khăn, nhưng khi thực hiện thì đụng đâu cũng vướng vì nó không phải là một bài toán trên lý thuyết đơn thuần mà là xã hội với đủ sắc màu, với những cách nghĩ, những quyền lợi, những ứng xử khác nhau, chằng chịt, cái này níu bám và kìm giữ cái kia; cái “chăn ấm” vô tình kéo sang bên này thì bên kia bị “lạnh”… Xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để “chọc gậy bánh xe”, thậm chí để “cõng rắn cắn gà nhà”…

Nhìn nhận những khó khăn, thách thức này phải bằng con mắt biện chứng lịch sử. Trên thực tế, cách mạng Việt Nam cũng như mọi nơi khác trên thế giới, chưa bao giờ hết khó khăn, thử thách. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, cách mạng Việt Nam lúc đó lâm vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài đe dọa, hậu quả của chế độ phong kiến – thuộc địa để lại rất nặng nề. Khó khăn chồng chất, nhưng Đảng, Nhà nước và toàn dân ta đã làm nên những điều kỳ diệu, tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước, bầu Quốc hội, thành lập Chính phủ, ban hành Hiến pháp, xây dựng và củng cố chính quyền từ Trung ương đến địa phương, tạo điều kiện để Nhà nước Việt Nam vượt qua vô vàn gian khổ, bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám, giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Cũng như vậy, giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ, khó khăn nào bằng? Nhưng cả nước đều ra trận, quyết chiến, quyết thắng, và đã chiến thắng vang dội, Việt Nam trở thành “lương tâm của thời đại” như nhiều người trên thế giới đã tôn vinh. Sau khi đất nước thống nhất, khó khăn chồng chất, hậu quả nặng nề của chiến tranh chưa được khắc phục thì lại vừa phải tiến hành cuộc chiến đấu mới để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, vừa phải chống lại sự bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, phải tìm tòi khảo nghiệm con đường phát triển phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Cũng có không ít những sai lầm, khuyết điểm, phải sửa sai như trong cải cách ruộng đất, sửa sai những khuyết điểm chủ quan duy ý chí trong lãnh đạo, quản lý và cơ chế chính sách khiến cho kinh tế – xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng thời điểm trước Đại hội VI (1986).

Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo hơn hai thập kỷ qua, giống như một cỗ xe còn chưa hoàn thiện nhưng đang chạy với tốc độ nhanh, thành công nhiều mà khó khăn cũng lắm. Hiện nay, những khó khăn mà chúng ta phải đối mặt là việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN còn nhiều hạn chế, có nguyên nhân khách quan nhưng chủ yếu do nguyên nhân chủ quan. Nền kinh tế đất nước phát triển chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc. Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực cho phát triển còn hạn chế. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu còn dựa vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm đi vào chiều sâu. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội còn nhiều bất cập, một số mặt còn bức xúc. Môi trường bị ô nhiễm. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa hoàn thiện, những hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng là những nhân tố cản trở sự phát triển. Vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định chính trị – xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia…

Ngoài xã hội và trong bộ máy Nhà nước, cái tích cực với cái tiêu cực xen lẫn, nhiều vấn đề giải quyết chậm, để lỡ mất cơ hội. Phải làm sao đây để phát triển đất nước giữa một thế giới cạnh tranh không chấp nhận sự trì trệ? Nếu chỉ cố gắng như những năm vừa qua không còn đủ nữa, mà phải đổi mới quyết liệt để theo kịp bước tiến thời đại, phải tiến hành những giải pháp đồng bộ trong mọi lĩnh vực. Trước những bất cập về quản trị kinh tế, chúng ta chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, nhưng đó đâu phải việc ngày một ngày hai. Thậm chí có những việc như chống lạm phát đã hé lộ khả năng giải quyết được cơ bản, nhưng nếu không cẩn thận thì có nguy cơ chuyển sang căn bệnh mới tác hại không kém đó là giảm phát. Sốt ruột thật, nhưng công việc đòi hỏi chúng ta phải điềm tĩnh, tỉnh táo, kiên trì tìm giải pháp giải quyết căn cơ, không chỉ nhất thời. Trong khi tìm tòi, tháo gỡ, xã hội chúng ta vẫn phải đối mặt với những áp lực mới, gay gắt…

Mới đây thôi, những vấn đề đặt ra từ Tiên Lãng – Hải Phòng, Văn Giang – Hưng Yên, Vụ Bản – Nam Định… đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại các cơ sở pháp lý về đất đai. Hoặc, những đổ vỡ, kém hiệu quả của DNNN; những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và cả trong nhân dân, đòi hỏi phải chỉnh đốn, phải tăng cường thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; những khoảng cách giữa mong muốn và hiện thực đòi hỏi phải rút ngắn; những mục tiêu đòi hỏi phải đạt được nếu không muốn dẫn đến tụt hậu và bất ổn; ngân sách Nhà nước thì còn rất eo hẹp, nợ công tăng lên, hàng loạt doanh nghiệp phá sản, hàng hóa tồn đọng nhiều, lạm phát đang ăn vào thu nhập của phần đông người lao động… Đó thực sự là những áp lực không nhỏ, không chỉ với bộ máy Đảng, Nhà nước mà với toàn xã hội. Khó có thể nói những khó khăn thời kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và những khó khăn hiện nay thì cái nào lớn hơn, khốc liệt hơn?

Nhưng, Việt Nam là một đất nước, một dân tộc luôn vượt qua được mọi khó khăn và thực hiện được những mục tiêu tưởng như là không thể.

Nhân kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, cần nhắc lại những bài học kinh nghiệm đã giúp Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách. Đó là bài học về nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, bài học về sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân – chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử, cội nguồn sức mạnh của Đảng chính là từ sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Đó là bài học về tăng cường củng cố đoàn kết – đoàn kết toàn Đảng, toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết là truyền thống quý báu và nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Đó là bài học về sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam… Những bài học này, nếu được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, ai cũng quán triệt thực hiện trên thực tế, không phải chỉ là những khẩu hiệu suông, thì bất cứ khó khăn nào chúng ta đều có thể vượt qua!

Niềm tin “kháng chiến nhất định thắng lợi” trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc năm xưa, phải được thể hiện bằng niềm tin mới “sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN nhất định thành công” trong giai đoạn hiện nay!

Suốt 67 năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã cố kết chặt chẽ, như cùng đi trên một con thuyền, cùng cập bến, cùng vượt qua thử thách hay nguy cơ chìm thuyền. Đảng, Nhà nước thì cũng từ nhân dân mà ra. Trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, trong muôn mặt của đời sống, dân tộc và cách mạng có hòa nhập với nhau, chính trị và xã hội có ổn định thì mới tồn tại và phát triển. Đó là đặc trưng của Việt Nam. Đối lập và chia rẽ, định kiến và bất ổn là con đường ngắn nhất phá hoại mọi thành tựu, đưa đất nước đến bờ vực thẳm hoặc sẽ bị các thế lực không muốn nhìn thấy một Việt Nam phát triển lôi kéo và lợi dụng.

Làm sao để chính trị xã hội ổn định? Mỗi người chúng ta đang sống trong cơ chế kinh tế thị trường, sử dụng có hiệu quả những mặt tích cực và hạn chế những mặt trái của nó không hề dễ dàng, nhất là với nước ta, vốn xuất phát từ một trình độ thấp, thu nhập quốc dân trên đầu người mới chỉ bắt đầu bước vào mức thấp của ngưỡng trung bình, với biết bao những khó khăn, thách thức và mâu thuẫn nhiều khi không lường hết được. Tôi xin nhấn mạnh: Đứng trước chúng ta là những nhiệm vụ kinh tế – xã hội mới phức tạp hơn trước kia rất nhiều.

Đoàn kết, hòa hợp, thống nhất từng là bài học và nguyên nhân thắng lợi trong mọi giai đoạn lịch sử của dân tộc Việt Nam trong quá khứ, tiếp tục phải là một trong những giải pháp quan trọng nhất của đất nước để vượt lên những khó khăn, thách thức hiện nay và mai sau. Trong giai đoạn mới, đoàn kết – hòa hợp – thống nhất cần được giữ gìn, phát huy và bổ sung thêm những giá trị mới nhằm thu hẹp những khác biệt, tất cả phải nhằm vào mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”…

Kinh nghiệm thực tiễn đã cho thấy, tất cả những ai nỗ lực học tập, làm việc, cố gắng làm việc trong khả năng của mình phải có được cơ hội, cuộc sống và thu nhập tốt hơn, chỉ như thế mới khuyến khích và tạo môi trường, khát vọng cho mọi người nỗ lực vươn lên, vượt qua khó khăn. Chúng ta không khuyến khích bình quân chủ nghĩa. Chúng ta chấp nhận sự cạnh tranh, lên án lòng ganh ghét đố kỵ bởi nó kìm hãm phát triển. Không có đất nước nào có thể lớn lên được từ lòng đố kỵ. Đồng thời, chúng ta tôn vinh lòng nhân ái, chia sẻ, yêu thương và cùng đấu tranh để chấm dứt nghèo đói, dốt nát và bệnh tật… Tôi tin, bất cứ ai, nếu có một nhu cầu tự thân như vậy và với tinh thần xây dựng, sẽ đều có trách nhiệm với đất nước và phải có thái độ như thế nào trong hoàn cảnh cụ thể của mình. Đối diện với những khó khăn trong kháng chiến, mọi cán bộ, đảng viên đều biết phải làm tốt công tác dân vận và phải làm gương ra sao, và mỗi người dân từng đem cả nhà mình lót đường cho xe ra trận, kể cả tính mạng của mình khi cần, sẽ biết phải thể hiện lòng yêu nước thế nào khi đối chiếu vào hoàn cảnh mới hiện nay… Những kinh nghiệm ấy vẫn còn nguyên giá trị và phải được phát huy trong lúc này. Trách nhiệm của Đảng, Nhà nước là phải hình thành các điều kiện để làm xuất hiện những hành vi tích cực của toàn Đảng, toàn dân cho đất nước, cho việc củng cố và xây dựng Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn.

Việt Nam đã chứng tỏ không chỉ một lần về khả năng có thể vượt qua những khó khăn tưởng chừng không thể, chúng ta sẽ tiếp tục vượt qua mọi thử thách để thực hiện những mục tiêu lớn lao. Để làm được như vậy, đoàn kết, đồng thuận là một yêu cầu không thể thiếu.

Những gì đi ngược lại yêu cầu ấy phải dần bị triệt tiêu!

Chúng ta phấn đấu để trong một tương lai gần, năm 2020, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có trình độ phát triển trung bình; chính trị – xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn, nhanh hơn, vững chắc hơn trong các giai đoạn sau.

Tiếp tục con đường của Cách mạng Tháng Tám trong giai đoạn này đòi hỏi chúng ta phải thực hiện bằng được mục tiêu đó! Nếu đất nước, dân tộc đã từng hun đúc ngọn lửa để chúng ta hy sinh xương máu, vượt qua biết bao “bão giông”, “nắng lửa” trong thiên tai và địch họa của “một thời đạn bom”, chúng ta phải làm mọi cách để giữ gìn những giá trị đó và làm cho đất nước trở nên tươi đẹp trong “một thời hòa bình”. Chúng ta hãy chứng tỏ niềm tin và tình yêu đất nước của mình bằng cách làm việc để xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như lúc sinh thời Bác Hồ hằng mong ước. Không có gì chưa hoàn thiện mà chúng ta lại không có thể làm cho nó ngày càng hoàn thiện hơn bằng lòng yêu nước chân chính…

Dù còn những khiếm khuyết, chưa hoàn thiện trên cơ thể đất nước, nhưng phải khẳng định rằng: công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tất cả những điều đó đã được chúng ta cùng nhau thực hiện và là bằng chứng về khát khao vươn lên của chúng ta. Đất nước chưa có bao giờ đẹp như hôm nay. Nhiều vùng của đất nước còn chậm phát triển, nhưng cũng đã có rất nhiều nơi công trình mới mọc lên to lớn, tráng lệ; còn đó những bộ phận dân cư đời sống rất khó khăn, cực nhọc, nhưng đại bộ phận đã vượt qua sự đói khổ, bần cùng, rất nhiều gia đình đã trở nên khá giả, giàu có, và chúng ta đang phấn đấu rút ngắn khoảng cách giàu nghèo; đất nước đang ngày càng được thế giới chú ý, trân trọng, đang tiếp tục vươn lên với sức mạnh Phù Đổng…

Hôm nay, chúng ta không thể quên rằng chúng ta là những thế hệ đang kế thừa thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại. Vào thời điểm này, chúng ta thành kính tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại và nhà văn hóa kiệt xuất, Người đã dẫn dắt chúng ta đi theo con đường cách mạng đúng đắn, làm rạng rỡ dân tộc ta, non sông đất nước ta. Chúng ta tự hào về dân tộc Việt Nam – một dân tộc Anh hùng, thông minh, hòa hiếu, đầy lòng nhân ái, cần cù, sáng tạo, yêu nước nồng nàn, có khát vọng vươn lên mạnh mẽ, luôn đoàn kết nhất trí một lòng đi theo Đảng, xây dựng quốc gia độc lập, tự do, phồn vinh, tiến bộ. Chúng ta đời đời khắc ghi công ơn to lớn của hàng triệu người con ưu tú đã hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, biết ơn các bậc lão thành cách mạng, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thân nhân các liệt sĩ và những người đã hiến dâng tất cả tuổi xuân, xương máu, tài năng và của cải cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Biết ơn những thế hệ đi trước, chúng ta phải làm mọi điều có thể để đất nước phát triển. Tự hào với những gì đã làm được, nhưng chúng ta cũng cần phải biết hổ thẹn với tiền nhân, với những bậc tiên liệt về những yếu kém, khuyết điểm của mình đã cản trở bước đi lên của dân tộc. Hổ thẹn không phải để bạc nhược, mất ý chí, mà để vươn lên gấp hai, gấp ba, để tiếp tục đi tới với tư thế vững vàng, khí phách hiên ngang vốn là truyền thống dân tộc, góp phần làm cho đất nước ta phát triển và trường tồn mãi mãi.

Tương lai đang vẫy gọi và thúc giục chúng ta viết nên những trang sử mới!

Theo sggp.org.vn
bqllang.gov.vn

Bài 3: Diễn biến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 ở Hà Nội

Bài 1: Cách mạng Tháng Tám – ý nghĩa lịch sử và hiện thực
Bài 2: Cách mạng Tháng Tám – bài học lớn về nắm bắt thời cơ

Có thể nói, thời gian xa đi càng làm tỏa sáng sự kiện ngày 19 tháng 8 năm 1945. Cuộc khởi nghĩa có tiếng vang lớn không chỉ riêng đối với Hà Nội mà thắng lợi của nó còn ảnh hưởng tích cực tới cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhiều địa phương trong cả nước, mở ra một kỷ nguyên mới của một nước Việt Nam độc lập.

Ngày 19.8.1945, hơn 10 vạn quần chúng thủ đô Hà Nội đã tham gia mít tinh mở đầu cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ảnh: T.L

Tháng 8.1945, chỉ trong vòng không đầy một tuần, quân đội Xô Viết đánh tan gần 1 triệu quân Quan Đông của Nhật tại Mãn Châu (Trung Quốc), buộc phát xít Nhật đầu hàng Liên Xô và Đồng minh vô điều kiện. Tin Nhật đầu hàng vô điều kiện đã nhanh chóng thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng trong toàn quốc, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, khắp cả Bắc, Trung, Nam. Lúc này, các tầng lớp trung gian đã ngả hẳn về cách mạng, hàng ngũ địch hoang mang, khủng hoảng, do dự, chia rẽ đến cực điểm, quần chúng sẵn sàng hy sinh cho mục tiêu cuối cùng của cách mạng.

Từ xuất phát điểm ấy, ngày 15.8.1945 khi nhận được tin phát xít Nhật chính thức đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện, Xứ ủy Bắc Kỳ đã triệu tập ngay một hội nghị tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) bàn kế hoạch chuẩn bị tiến hành khởi nghĩa. Hội nghị đã quyết định thành lập Ủy ban Quân sự cách mạng Hà Nội (tức Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội).

Ngày 16.8, Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội đã quyết định triệu tập hội nghị mở rộng gấp rút công tác chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Hội nghị kiểm điểm lại tình hình, phân công cán bộ phụ trách các hướng, đồng thời quyết định kế hoạch phá cuộc mít tinh). Hội nghị chủ trương biến cuộc mít tinh của Tổng hội công chức (sẽ diễn ra ngày hôm sau, là cuộc mít tinh của lực lượng thân Nhật nhằm mục đích ủng hộ Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim) thành cuộc mít tinh của quần chúng ủng hộ cách mạng và nếu có điều kiện thuận lợi sẽ biến thành cuộc biểu tình tuần hành ủng hộ Việt Minh.

Đến chiều ngày 17.8, cuộc mít tinh vừa mới bắt đầu, Việt Minh bất ngờ giương cờ đỏ sao vàng, xông lên chiếm lấy diễn đàn, kêu gọi nhân dân vùng dậy trước con mắt kinh hoàng của phát xít Nhật và bọn tay sai. Các đội tự vệ chiến đấu xuất hiện với vũ khí trong tay bảo vệ cho đội Tuyên truyền xung phong diễn thuyết, hô hào quần chúng ủng hộ Việt Minh.

Trưa ngày 18.8, khoảng 3000 công nhân các xưởng sửa chữa ôtô, các xí nghiệp lớn tổ chức biểu tình trước phủ Khâm sai, ủng hộ cách mạng. Tối ngày 18.8, không khí chuẩn bị khởi nghĩa bùng lên khắp thành phố. Đội Xung phong đột nhập nhà in báo “Tin mới” hướng dẫn công nhân in thêm những khẩu hiệu truyên truyền, hô hào quần chúng khởi nghĩa.

Sáng ngày 19.8, Hà Nội bừng lên không khí đấu tranh, hàng vạn nông dân, công nhân ngoại thành và các huyện Thanh Trì, Thường Tín, Phú Xuyên, Hoài Đức, Đan Phượng (Hà Đông), Gia Lâm (Bắc Ninh) mang theo cờ Việt Minh cùng gậy gộc, mã tấu, dao phạt bờ, câu liêm và súng từ khắp các cửa ô dồn dập tiến vào thành phố. Quảng trường Nhà hát Lớn chưa bao giờ đông đến thế, trên quảng trường là cả một rừng cờ đỏ giữa biển người. Trưa 19.8, cuộc mít tinh bắt đầu, sau phút mặc niệm để tưởng nhớ các chiến sỹ đã hy sinh, nhạc “Tiến quân ca” vang lên hùng tráng, tất cả hướng về lá cờ đỏ sao vàng…

Du kích đánh địch trên đường 191. Ảnh: T.L

Ngay sau đó, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban quân sự cách mạng, cuộc mít tinh chuyển thành biểu tình vũ trang, đi đánh chiếm các vị trí đầu não quan trọng của địch. Một nửa quần chúng phía trước tiến về phủ Khâm sai, nổ súng thị uy, hô vang khẩu hiệu ủng hộ cách mạng. Trước khí thế hùng hậu của quần chúng, đoàn quân cách mạng tiến về phủ Khâm sai mà không gặp sức kháng cự nào đáng kể, các đội lính bảo an ngay sau đó chất khí giới nộp cho quân cách mạng. Chiếm xong phủ Khâm sai, đội Xung phong, Tự vệ và quần chúng tiến sang Tòa thị chính, tại đây Thị trưởng chính quyền bù nhìn Trần Văn Lai đã giao chính quyền lại cho nhân dân. Tại Sở cảnh sát, do được vận động từ trước nên anh em cảnh sát đã ngả về cách mạng nhanh chóng. Việc chiếm trại Bảo an binh gặp nhiều khó khăn hơn, có lúc tưởng chừng như đổ máu vì quân Nhật quyết tâm giữ lấy kho vũ khí, nhưng bằng mưu trí, sự khéo léo của ta, đến 4 giờ chiều quân Nhật đã rút lui.

Chiều ngày 19.8, cả Hà Nội ngập tràn trong niềm vui cuộc khởi nghĩa giành chính quyền đã thành công, chính quyền đã nằm trong tay nhân dân. Trong không khí thắng lợi, ngày 20.8.1945 chính quyền cách mạng ra mắt quốc dân trong tiếng vỗ tay vang dội. Hà Nội từ ngày hôm ấy lại trở về với tư cách là người chủ của nước Việt Nam anh hùng.

Thắng lợi ngày 19.8.1945 của nhân dân Hà Nội là thắng lợi của trí tuệ và lòng quả cảm, ngày này đi vào lịch sử dân tộc như một biểu tượng cho thắng lợi chung của cách mạng Tháng Tám trong cả nước.

Cuộc khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội vào ngày 19.8.1945 đã góp phần quan trọng quyết định kết thúc nhanh chóng quá trình tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

  • Phúc Trần

baobinhdinh.com.vn

Tuyên ngôn độc lập “Là hoa quả của sự đổ máu và hy sinh tính mạng”!

Đó là kết luận được tác giả Trần Dân Tiên viết ra trong tác phẩm “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (Nxb Văn học 1970, trang 110) như một lời nhắn nhủ đến mỗi thế hệ người con Việt Nam luôn biết trân trọng giá trị của độc lập tự do, biết hy sinh lợi ích riêng tư để quyết bảo vệ, giữ gìn độc lập tự do của Tổ quốc trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Và một điều hiển nhiên là, sẽ yêu quý độc lập tự do hơn, khi chúng ta thấu hiểu sự hy sinh xương máu của bao thế hệ ông cha ta đã ngã xuống qua mấy ngàn năm lịch sử, từ đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc đến đánh thắng đế quốc Âu – Mỹ và tên phát xít Nhật ở phương Đông cũng vì để đổi lấy nền độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam hôm nay! Một dân tộc nhỏ bé, đất không rộng người không đông như Việt Nam nhưng đã gan góc, kiên cường đến lạ thường, trở thành một điều hiếm thấy trong lịch sử nhân loại từ cổ tới kim.

Trên thực tế, để có bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố với thế giới ngày 2/9/1945 tại Ba Đình (Hà Nội), toàn thể dân tộc ta phải chiến đấu kiên cường suốt 87 năm trời, kể từ khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng tấn công đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) ngày 01/9/1858. Ngay từ khi Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, các tầng lớp từ nhân dân đến nho sĩ và quan lại đã vùng lên đấu tranh quyết liệt để giữ nền độc lập cho dân tộc.

Trước hết phải kể đến cha con Trương Định – Trương Quyền, rồi Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân, hai anh em Phan Tôn – Phan Liêm…rồi một số quan lại yêu nước như đốc học Phạm Văn Nghị đem 300 quân tình nguyện từ Bắc vào kinh đô Huế xin được lên đường giết giặc, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương cùng con trai đã anh dũng hi sinh khi bảo vệ thành Hà Nội năm 1873, đến Tổng đốc Hoàng Diệu kiên cường đánh Pháp giữ thành Hà Nội năm 1882. Nhiều tri thức nho sỹ còn dùng ngòi bút làm vũ khí đánh giặc như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị…

Tiếp đến là các phong trào đấu tranh để đòi lại nền độc lập cuối thế kỷ XIX, trong đó phải kể đến phong trào Cần vương dưới sự chỉ huy của Tôn Thất Thuyết, khởi nghĩa Ba Đình, Hùng Lĩnh, Hương Khê ở Trung kỳ; khởi nghĩa Sông Đà, Bãi Sậy ở Bắc kỳ… diễn ra rầm rộ nhưng cuối cùng trước sau đều kết thúc thất bại. Sang đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước và cách mạng theo khuynh hướng dân chủ diễn ra rầm rộ, tiêu biểu là cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Đến lượt Bác Hồ với những hoạt động không biết mệt mỏi cùng với sức mạnh tổng lực của nhân dân theo con đường chủ nghĩa Mác – Lênin, thành lập một chính đảng của giai cấp vô sản, kinh qua 15 năm chiến đấu, cuối cùng đã làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945 vĩ đại, độc lập tự do đã về với Tổ quốc Việt Nam sau 61 năm rơi vào tay giặc (1884 -1945).

Khi cuộc Cách mạng tháng Tám đang tiến đến những thắng lợi cuối cùng thì cũng là lúc Bác Hồ viết ra những dòng đầu tiên trong bản Tuyên ngôn độc lập nhằm khẩn trương tuyên bố với đồng bào và thế giới sự ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Bác Hồ viết Tuyên ngôn trong bối cảnh lịch sử hết sức đặc biệt, ở thời khắc gấp rút của cách mạng, trong thời gian chỉ 3 ngày, tại phòng ăn ở số 48 Hàng Ngang, dưới thân phận bí mật…, nhưng nó được coi là “áng thiên cổ hùng văn” và được đưa vào chương trình dạy học phổ thông từ mấy năm nay.

Ngày 27/7/1945, Thường vụ Trung ương họp, rồi Hội đồng chính phủ lâm thời họp, bàn nhiều việc quan trọng, trong đó có việc tổ chức lễ tuyên bố độc lập vào ngày 2/9/1945, Bác Hồ phụ trách soạn thảo Tuyên ngôn độc lập. Từ ngày 28/8/1945, tức là ngày 21/7/Ất Dậu (1) – khi mà nhân dân ở Hà Tiên và Đồng Nai giành được chính quyền về tay nhân dân, Bác Hồ bắt đầu viết Tuyên ngôn. Bác Hồ viết Tuyên ngôn độc lập tại tầng 2, nhà ông Trịnh Văn Bô, bà Hoàng Thị Minh Hồ ở số 48 phố Hàng Ngang – một gia đình doanh nhân giàu lòng yêu nước.

Suốt 3 ngày, với tâm lực, trí tuệ và bản lĩnh của một vị lãnh tụ cách mạng luôn canh cánh nỗi lòng vì độc lập cho dân tộc, vì hạnh phúc ấm no cho nhân dân; từng trải nghiệm hoạt động cách mạng từ Đông sang Tây với chiếc máy đánh chữ đã sử dụng hồi ở căn cứ địa Việt Bắc, Bác Hồ đã viết xong bản Tuyên ngôn độc lập vào ngày 30/8 – ngày mà vua Bảo Đại đọc chiếu thoái vị trước đông đảo nhân dân tại Ngọ Môn kinh đô Huế và nộp ấn kiếm cho Chính phủ cách mạng lâm thời. Viết xong, Bác mời một số đồng chí để trao đổi, góp ý kiến cho bản dự thảo Tuyên Ngôn độc lập này rồi ngày hôm sau, tức 31/8 Bác bổ sung, chỉnh sửa một số điểm và chỉ còn chờ ngày được tuyên bố.

2 giờ chiều ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nền dân chủ cộng hoà trước đông đảo nhân dân trong và ngoài nước rằng:

“..Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do…Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay,…đứng về phe Đồng minh chống phát xít. Dân tộc ấy phải được tự do,…phải được độc lập!…Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” (2).

Những câu chữ chứa đựng hồn non sông nước Việt ấy là nỗi lòng hoạt động cách mạng suốt 35 năm của Bác. Chính vì vậy mà ngày 30/8/1945, sau khi đọc bản thảo cho những người công tác thân cận nghe và hỏi ý kiến họ, Bác Hồ đã không dấu nổi sự sung sướng nói rằng: “Trong đời tôi, tôi đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy”. Sung sướng vì đây là “kết quả của những bản yêu cầu gửi cho hội nghị Véc-xây mà Bác Hồ đã viết năm 1919 và chương trình Việt Minh Bác viết năm 1941. Hơn nữa, bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của những bản tuyên ngôn khác và tinh hoa của tiền bối như các cụ Thủ Khoa Huân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và của nhiều người khác, của bao nhiêu sách báo truyền đơn bí mật viết bằng máu và nước mắt của những nhà yêu nước từ hơn 80 năm trước”. Nó còn “là hoa là quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh của những người con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường,… là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn 20 triệu nhân dân Việt Nam”(3).

Bản tuyên ngôn đó có tính dân tộc, lại có tính quốc tế, vừa có ý nghĩa lịch sử lại có ý nghĩa thời đại sâu sắc. Nó có tác động trực tiếp đến sự thắng lợi trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và công cuộc xây dựng CNXH hiện nay. Giành – giữ và củng cố độc lập dân tộc không chỉ là nhiệm vụ của thời chiến mà còn là nhiệm vụ quan trọng của toàn dân tộc ta ở thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước trên con đường CNXH. Trong bối cảnh thế giới ngày nay, khi mà sự hội nhập để phát triển đã trở thành tất yếu thì vấn đề giữ vững nền độc lập để không bị phụ thuộc vào các nước lớn về nhiều mặt, đặc biệt là kinh tế và văn hoá luôn đặt ra cho chúng ta những thách thức không nhỏ./.
_________________

Chú thích:
(1), Theo Vũ Kỳ, Thư ký Bác Hồ kể chuyện, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2005, tr.17.
(2), Hồ Chí Minh toàn tập, t.3, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2000, tr.555-557.
(3) Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Văn học 1970, tr.110.

Theo Lê Đức Hoàng
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn