Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Bác Hồ, tấm gương sáng về đạo đức báo chí

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa, là nhà báo lỗi lạc. Với sự thành lập Báo Thanh niên, cơ quan của Hội Việt Nam cách mạng đồng chí, số đầu ra ngày 21-6-1925, Người đã khai sinh nền Báo chí Cách mạng Việt Nam. Từ năm 1985, theo quyết định của Ban Bí thư Trung ương Đảng, ngày 21-6 được coi là Ngày Báo chí Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập nền Báo chí Cách mạng Việt Nam.

Bác Hồ là nhà báo lớn, là tấm gương sáng về đạo đức báo chí, là nhà báo với ý nghĩa cao cả, chân chính, tốt đẹp nhất của hai từ ấy.

Tư duy, phong cách, đạo đức báo chí Hồ Chí Minh là một kho tàng quý báu Người để lại cho các thế hệ người làm báo ngày nay và mai sau.

Tư duy báo chí Hồ Chí Minh cụ thể hóa tư tưởng của Người về văn hóa: “Văn hóa là một mặt cơ bản của xã hội”, “Văn hóa là một mặt trận”, “(Nền) văn hóa mới kết hợp hài hòa, đúng đắn truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế”… Báo chí vừa là một bộ phận cấu thành văn hóa vừa là phương tiện xây dựng, truyền bá và thực thi văn hóa. Báo chí là đội quân đi đầu trong công tác tư tưởng, là vũ khí cách mạng. Bác Hồ nói: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Nhiều lần, Người nhấn mạnh ý tưởng này: “Cây bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng động viên quần chúng đoàn kết, đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới…”, “Ngòi bút là vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà…” (1).

Bác Hồ sớm nhận ra vai trò và tác động to lớn của báo chí trong đấu tranh xã hội. Trong quá trình tìm đường giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, tiếp cận tác phẩm của Lênin, Người tâm đắc câu nói vị lãnh tụ lỗi lạc phát biểu từ đầu thế kỷ XX, khá lâu trước khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công: “Cái mà chúng ta nhất thiết phải có lúc này là một tờ báo chính trị. Trong thời đại ngày nay, không có tờ báo chính trị thì không thể có phong trào gọi là chính trị… Không có tờ báo thì không thể tiến hành hệ thống cuộc tuyên truyền, cổ động có nguyên tắc và toàn diện…” (2).

Chỉ 4 năm sau ngày đặt chân lên đất Pháp, được sự ủng hộ của các chí sĩ Việt Nam tại Pháp và sự hợp tác của một số bạn bè quốc tế, Người xuất bản Báo Le Paria (Người cùng khổ). Người là cây bút chính, sắc sảo nhất của tờ báo ấy. Jean Lacouture, một trong số những nhà văn, nhà sử học nổi tiếng Pháp, nhận định: “Sự đóng góp của Nguyễn Ái Quốc cho tờ Le Paria rất to lớn. Ngày nay đọc lại các bài báo của ông vẫn thấy vô cùng hứng thú… Văn phong của Nguyễn là văn phong của một nhà luận chiến tài ba” (3). Song song với việc chủ trương tờ Le Paria, Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị xuất bản tờ báo bằng tiếng Việt, Việt Nam hồn dành cho kiều bào.

Người cộng tác với nhiều tờ báo có thanh thế nhất tại Pháp thời bấy giờ: Nhân đạo, Đời sống thợ thuyền, Người bình dân… Sang Nga, Người viết báo tiếng Nga. Về Trung Quốc, Người cộng tác với tờ Cứu vong nhật báo cùng một vài tờ báo tiếng Anh. Tại đấy, Người sáng lập tờ báo tiếng Việt Thanh niên, mà sự cống hiến vô giá của nó là chuẩn bị về lý luận, chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1943, trở về Tổ quốc sau nhiều năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Báo Việt Nam độc lập, nhằm mục đích: “Kêu gọi nhân dân trẻ với già/ Đoàn kết một lòng như khối sắt/ Để cùng nhau cứu nước Nam ta”. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Người quyết định lập Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam…

Hồ Chí Minh là nhà báo uyên thâm, đa dạng, sắc bén và tài hoa với hàng loạt tác phẩm đúng đắn về nội dung, hùng hồn về lý luận, mẫu mực về ngôn ngữ, có sức đi sâu vào quần chúng, thức tỉnh lòng người, khiến quân thù khiếp sợ. Bác Hồ không viết sách dạy lý luận báo chí, song những phát biểu của Người là một hệ thống quan điểm mang tính kinh điển về báo chí cách mạng.

Tư duy của Bác Hồ về vai trò của báo chí trùng hợp ý kiến các nhà tư tưởng lớn, những người sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin: Các Mác, F. Ăngghen, V.I. Lênin. Trong nhiều trường hợp Hồ Chí Minh gọi báo chí là “vũ khí sắc bén của cách mạng”. Chức năng, nhiệm vụ của báo chí, theo Bác Hồ, là “tuyên truyền, huấn luyện, giáo dục, tổ chức dân chúng…” bằng phương tiện thông tin và các thủ pháp nghề nghiệp khác. Tôn chỉ, mục đích của báo chí Việt Nam không gì ngoài phục vụ “kháng chiến và kiến quốc, đoàn kết toàn dân, thi đua yêu nước; xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà, bảo vệ hòa bình thế giới…”. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, báo chí phải ra sức “đấu tranh cho tự do, chân lý, cho tương lai tươi sáng của loài người…”.

Trong tư duy của Người, đối tượng của báo chí không chỉ dành riêng cho một số tầng lớp nào đó, mà nhất thiết báo chí phải hướng về “đại đa số dân chúng”, phải dành cho đông đảo nhân dân. Tính chất báo chí, theo Bác Hồ, trước hết là “tính quần chúng và tinh thần chiến đấu…”. Ngay từ thời ngày nay chúng ta hay gọi là “bao cấp”, báo chí hầu như được Đảng và Nhà nước chăm lo cho hầu hết, nếu không phải là toàn bộ, nhu cầu về tài chính, Người đã dạy: “Báo chí cũng là một ngành kinh tế”. Báo chí không chỉ có trách nhiệm phục vụ các nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế, mà báo chí cần phải lo cả hoạt động kinh tế của chính mình.

Về quan điểm báo chí, Hồ Chí Minh rất coi trọng “tự do tư tưởng”. Người viết: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do… Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý…”. Nhưng tự do gắn với trách nhiệm, tự do với tinh thần phục thiện: “Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm ra chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền phục tùng chân lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân”.

Nói về phong cách báo chí, Bác Hồ mong muốn báo chí ta phải luôn luôn “gần gũi quần chúng”. Nhà báo suốt đời tâm niệm: “Vì ai mình viết? Viết cho ai, viết để làm gì?”. Văn phong báo chí phải “giản đơn, dễ hiểu, phổ thông, hoạt bát…”. Yêu cầu ấy tuyệt nhiên không bao hàm ý thông tục. Bác Hồ căn dặn các nhà báo cố gắng “viết cho văn chương, cho người đọc thấy hay, thấy văn chương mới thích đọc…”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo (năm 1960). Ảnh: Tư liệu

Báo chí bất kỳ trường hợp nào cũng là diễn đàn của nhân dân. Sản phẩm báo chí mang dấu ấn cá nhân, song tờ báo lúc nào cũng là công lao của một tập thể. Tính tập thể của nghề báo trong tư duy Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện trước hết và chủ yếu ở nội dung mà còn ở lối làm việc: “Người viết, người in, người sửa bài, người phát hành… ăn khớp với nhau…”. Đi đôi với đề cao tính tập thể, Người khuyến khích tài năng cá nhân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ những người làm báo và tổ chức chính trị, nghề nghiệp của họ: Hội Nhà báo Việt Nam. Người khẳng định: “Nói đến báo chí trước hết phải nói đến những người làm báo”. Người nhấn mạnh vai trò “chiến sĩ” của người làm báo, đòi hỏi nhà báo kiên định lập trường, giữ vững quan điểm báo chí cách mạng, không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt. Hơn ai hết, nhà báo phải là người chí công vô tư, có hiểu biết rộng và nhất là có cái tâm trong sáng. Đạo đức báo chí trước hết thể hiện ở những mặt ấy. Người hết sức coi trọng trau dồi đạo đức, hễ có dịp gặp các nhà báo là Người đề cập vấn đề này.

Bản thân Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về đạo đức báo chí. Khi cầm bút, Người không hề quan tâm đến tên tuổi và lợi ích riêng, Người viết không phải để “lưu danh thiên cổ”. Suốt đời, Người chỉ hướng về cái đích thiêng liêng là mang trí tuệ và ngòi bút của mình phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.

Để đạt đến đỉnh cao trong sáng ấy, để trở thành một nhà báo lớn, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh kiên trì học tập, khổ luyện suốt đời. Khi mới đặt chân đến Pháp, do nhu cầu đấu tranh vì độc lập, tự do của đất nước, nhận thấy sự cần thiết trở thành một người viết báo tiếng Pháp giỏi, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu sự nghiệp bằng những mẩu tin ngắn, “mỗi tin chỉ có năm ba dòng”. Mỗi lần tin hoặc bài được đăng, Người so sánh bản thảo với bản in trên báo, để học tập xem các nhà báo đàn anh đã biên tập, sữa chữa ở những điểm nào. Nhờ thế chỉ vài, ba năm sau, cụ thể từ năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã là tác giả nhiều bài chính luận, tiểu phẩm, điều tra… có giá trị cao cả về nội dung và văn chương, làm kinh ngạc giới trí thức Pháp. Mặc dù Bác Hồ coi mình chỉ là “người có duyên nợ với báo chí”, cả cuộc đời của Người, từ những ngày phải trốn tránh kẻ thù cho đến khi đảm đương nhiều trọng trách quốc gia, thời giờ hết sức eo hẹp, Người vẫn không rời cây bút. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ vai trò và tầm quan trọng của báo chí đối với cuộc đấu tranh cách mạng và đời sống xã hội.

Các thế hệ những người làm báo Việt Nam đời đời hướng về học tập Người, với lòng thành kính và biết ơn sâu sắc.

(1) Tất cả những câu trong ngoặc kép đều trích dẫn từ Hồ Chí Minh toàn tập.
(2) Trích từ cuốn Làm gì? của Lênin.
(3) Trích từ cuốn Hồ Chí Minh, tác giả Jean Lacouture, Paris 1967.

Phan Quang

hanoimoi.com.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh quy tụ mọi lực lượng để dựng nước và giữ nước

Nếu nghe ai ca tụng cái vĩ đại của Bác thì được Bác trả lời: một mình tôi thì làm được cái gì? Thiên tài của Bác chính là biết tập hợp lực lượng, biết quy tụ mọi sức mạnh có thể quy tụ được để dựng nước và giữ nước.

“Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” – Ảnh tư liệu.

Trong lịch sử dân tộc, cũng có thời kỳ chia rẽ nội bộ như “Thập nhị sứ quân”, Trịnh – Nguyễn phân tranh, “Nam Kỳ quốc” v.v… nhưng quy luật chung của sự phát triển vẫn là sự đồng tâm nhất trí, sự quy tụ lực lượng với hình tượng “bó đũa”, “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Nguyên lý đó dựa trên thực tế xã hội Việt Nam: sự phân hóa và đấu tranh giai cấp trong nội bộ xã hội bị chi phối và phụ thuộc vào mâu thuẫn lớn hơn: giữa dân tộc Việt Nam và giai cấp thống trị ngoại bang – mâu thuẫn đối kháng cao nhất.

Vốn mang truyền thống đại đoàn kết dân tộc, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trên lộ trình tìm đường cứu nước, nắm được học thuyết Mác–Lênin, phân tích rõ thực trạng xã hội Việt Nam, giải quyết chính xác mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc trong cách mạng Việt Nam.

Nếu trước kia Mác cho rằng giai cấp vô sản trước hết phải trở thành dân tộc, rằng đấu tranh để giải phóng nhân loại là tiền đề để giải phóng giai cấp vô sản thì Bác Hồ coi giải phóng dân tộc là tiền đề để giải phóng giai cấp bị áp bức bóc lột trong xã hội Việt Nam. Nếu dân tộc không được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột của giai cấp tư bản đế quốc thì muôn đời cũng không giải phóng được nhân dân lao động.

Sự sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trên hai mặt. Một mặt phải tìm mọi khả năng quy tụ nhân dân thuộc mọi tầng lớp xã hội có lòng yêu nước thương nòi vào một mặt trận rộng lớn, chống quan điểm biệt phái, quan điểm giai cấp cực đoan có hại cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Mặt khác, phải từng bước giải quyết mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ xã hội Việt Nam, chủ yếu là giữa nông dân với địa chủ, bằng những biện pháp thích hợp (hiến điền, giảm tô, tức, tạm cấp ruộng đất v.v…) để tăng cường sức dân nhưng không phá vỡ mặt trận đoàn kết dân tộc. Sự quy tụ lực lượng rộng rãi đó đã tạo nên sức mạnh quyết định thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Và cũng nhờ đó làm thất bại chính sách chia để trị của kẻ thù trong bất cứ giai đoạn nào.

Sau khi giành được độc lập, thống nhất Tổ quốc chuyển sang xây dựng xã hội mới, phải chăng chúng ta đã coi nhẹ sự quy tụ lực lượng toàn dân tộc theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh” và quá lo sợ, đề cao việc xóa bỏ ngay mâu thuẫn giai cấp trái quy luật lịch sử – tự nhiên, đốt cháy những giai đoạn quá độ cần thiết và lâu dài. Bị ám ảnh bởi những mô hình cải tạo xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa và quản lý kinh tế, quản lý xã hội của Liên Xô, chúng ta đã bỏ mất thời cơ lớn để tập hợp lực lượng, phát triển mạnh sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân, dẫn đến khủng hoảng kinh tế – xã hội.

Từ khi tiến hành đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường với sự phát triển của nhiều thành phần kinh tế, quan trọng nhất là sự giải phóng lực lượng sản xuất trong nông nghiệp quan hệ đến hàng chục triệu lao động cùng với sự khai thác khả năng tiềm tàng của các tầng lớp xã hội khác, bộ mặt kinh tế – xã hội của đất nước đã có nhiều thay đổi lớn.

Tuy nhiên, cũng phải từng bước giải quyết những mâu thuẫn giai cấp, đảm bảo lợi ích của nhân dân lao động nhưng không làm tổn hại đến sự quy tụ lực lượng rộng rãi. Chính sách của Đảng và luật pháp của Nhà nước phải đồng thời giải quyết tốt nhất cả hai mặt đó. Vừa qua, về mặt kinh tế, chúng ta chậm ban bố các luật đầu tư trong nước, luật chống độc quyền, luật lao động v.v… có liên quan đến việc quy tụ lực lượng và giải quyết mâu thuẫn giai cấp.

Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ nguyên lý phải biết kết hợp chặt chẽ sự quy tụ lực lượng trong nước với lực lượng tiến bộ trên thế giới để đấu tranh và xây dựng Tổ quốc. Ngay từ buổi ban đầu cách mạng cho đến lúc hoàn thành giải phóng dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn nhất quán đề cao ngọn cờ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam để tranh thủ rộng rãi sự đồng tình và giúp đỡ của cả nhân loại tiến bộ. Không chỉ riêng các nước xã hội chủ nghĩa mà cả các nước dân tộc chủ nghĩa, các chính phủ tiến bộ, các tầng lớp xã hội, nhân sĩ, một số nhân vật trong giới cầm quyền không tán thành chiến tranh xâm lược v.v… đã đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam.

Bước vào thời kỳ xây dựng đất nước, chúng ta đã đánh mất một phần sự ủng hộ quốc tế đó, mà đáng ra phải được tăng cường hơn trước. Cũng giống như tình trạng quy tụ lực lượng trong nước, chúng ta đã muốn làm trong sạch ngay các quan hệ kinh tế đối ngoại, quá lo sợ về sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân mới trong khi đã nắm vững chính quyền cả nước.

Từ một nước chậm phát triển, chúng ta bị cô lập với thế giới tư bản đang nắm khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nhất cùng với vốn đầu tư và thị trường rộng lớn. Điều kiện quốc tế của sự phát triển đất nước bị hạn hẹp và chịu chung số phận khủng hoảng cùng với các nước xã hội chủ nghĩa trước những cú sốc của thế giới và nội địa.

Chuyển sang thời kỳ đổi mới, nhất là từ sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, chúng ta đã điều chỉnh lại quan hệ đối ngoại, “làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”, nhất là các nước trong khu vực.

Muốn quy tụ lực lượng trong điều kiện quốc tế ngày nay, phải tìm được những mục tiêu chung với các đối tác, tạm gác những nét khác biệt, thậm chí cần phải bắt tay với những kẻ thù cũ đã biết tôn trọng lợi ích đôi bên. Cửa phải mở rộng nhưng phải thường xuyên quét sạch rác rưởi, vi trùng, đảm bảo môi trường trong sạch. Yếu tố quyết định thắng lợi của sự quy tụ lực lượng trên thế giới vẫn là sự lớn mạnh, trưởng thành của bản thân nhân dân ta.

Những thành tựu đạt được trong mấy năm qua là kết quả tổng hợp của sự quy tụ lực lượng trong nước và trên thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục soi sáng cho chúng ta trong một thời kỳ phát triển mới: công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo lời dặn của Bác:

Dân ta nên nhớ chữ đồng
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh.

TRẦN BẠCH ĐẰNG
5-1994
(theo Đến với Tư tưởng Hồ Chí Minh – NXB Trẻ, 2-2007)
Tuổi trẻ Online

Có đức mới vực được nghề

Làm nghề nào muốn tốt thì cũng phải tinh thông mọi ngón chuyên môn. Làm người chiến sĩ công an nhân dân nếu muốn hoàn thành thật tốt chức phận của mình thì không chỉ giỏi nghiệp vụ mà còn phải thấm nhuần những tiêu chí đạo đức cách mạng, trong đó có những phẩm chất cá nhân đặc biệt quan trọng rất cần được thường xuyên tự rèn luyện như những đức tính cần, kiệm, liêm, chính. Đây cũng là một trong những điều mà Bác Hồ từng nhấn mạnh khi viết hoặc nói với lực lượng Công an nhân dân.

Đầu năm 1948, đồng chí Hoàng Mai, lúc đó là Giám đốc Sở Công an Khu XII, đã gửi biếu Bác Hồ số Tết Báo Bạn dân (Nội san của Công an Khu XII). Đọc xong số báo này, tháng 3 năm 1948, Bác Hồ đã gửi thư cho đồng chí Hoàng Mai và căn dặn: “Trên tờ báo phải luôn luôn nhắc nhở anh em rèn luyện tư cách đạo đức”. Theo Bác, tư cách người công an cách mạng là phải đáp ứng được đủ những yêu cầu sau:

Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.
Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ.
Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.
Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.
Đối với công việc, phải tận tụy.
Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”

Bác Hồ đã luôn luôn nhấn mạnh tới việc “tu thân” của người chiến sĩ công an nói riêng và của cán bộ cách mạng nói chung, sao cho thực sự thấm nhuần tư tưởng cần, kiệm, liêm, chính. Trong loạt bài viết in trên Báo Cứu Quốc năm 1949, Bác Hồ đã nhắc nhở:

“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Thiếu một mùa thì không thành trời.
Thiếu một phương thì không thành đất.
Thiếu một đức thì không thành người

Khi dạy về bốn đức tính trên, Bác Hồ đã rất lưu ý tới sự liêm khiết của mọi người nói chung và của đội ngũ cán bộ cách mạng nói riêng. Và Bác đã nhắc lại lời của Khổng Tử: “Người mà không Liêm, không bằng súc vật”. Nói chung, trong tinh hoa văn hóa phương Đông, chữ Liêm luôn là một khái niệm được coi trọng.

Quân tử là phải biết làm tròn phận sự và “tri túc” (biết đủ), không tham những gì không phải của mình. Xưa nay, tri nhân (biết người), tri kỷ (biết mình) đã là quý rồi. Nhưng tri túc (biết đủ) lại càng quý hơn nữa. Không biết đủ thì sẽ không biết dừng lại trên hoạn lộ và những tham vọng thành đạt cũng như làm giàu, những tham vọng nếu ở mức độ hữu lý không bao giờ là xấu cả.

Cổ Ngạn có viết: “Người quân tử cũng mến của cải chứ không phải là không, tuy nhiên có hợp đạo lý thì mới lấy, người quân tử thường mưu cầu ở đạo, chứ không mấy lo nghĩ tới cái sự giàu nghèo, người quân tử có lo chăng là lo đến đạo, chứ không hề lo đến việc ăn uống”.

Còn Lão Tử thì nói: “Không họa nào lớn bằng không tự biết đủ. Không hại nào to bằng sự muốn chiếm hữu. Bởi đó, biết đủ trong cái đủ thì luôn luôn được đủ”. Cũng trong Cổ Ngạn còn có câu: “Biết đủ, coi là đủ, đợi đủ bao giờ mới đủ. Biết nhàn, coi là nhàn, đợi nhàn bao giờ mới nhàn”. Đó là giữ chữ Liêm theo cách hiểu của người xưa.

18co duc moi vuc duoc ngheBác Hồ đến thăm cán bộ, chiến sỹ
Cảnh sát nhân dân Hà Nội nhân dịp Tết Quý Mão (1963)

Đến Bác Hồ, Người đã lý giải chữ Liêm trên một bình diện rộng hơn và dân chủ hơn. Bài báo “Thế nào là Liêm” đã được Bác cho đăng trên tờ Báo Cứu Quốc số ra ngày 1/6/1949 với bút danh Lê Quyết Thắng. Vẫn phong cách giản dị nhưng sâu sắc, Bác giải thích:

“Liêm là trong sạch, không tham lam. Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là Liêm, chữ Liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp. Cũng như ngày xưa Trung là trung với vua, Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi.

Ngày nay, nước ta là nước Dân chủ cộng hòa, chữ Liêm có nghĩa rộng hơn; là mọi người đều phải Liêm. Cũng như Trung là trung với Tổ quốc, Hiếu là hiếu với nhân dân; ta thương cha mẹ ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ.

Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm. Cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần.

Có Kiệm thì mới Liêm được. Vì xa xỉ mà sinh ra tham lam.

Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất Liêm…”.

Hơn ai hết, Bác hiểu những người cán bộ của chế độ mới, những công bộc kiểu mới của nhân dân trong chính thể Dân chủ cộng hòa, chống lại thói bất liêm là một nhiệm vụ không hẳn đã dễ dàng. Bác nói thẳng thắn: “Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư” chính là bất liêm. Bất liêm chính là nguyên nhân của mọi hiện tượng tham ô, lãng phí, làm mất uy tín và sức mạnh của bộ máy chính quyền:

“Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp dục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”.

Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ Liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân”.

Vị trí càng nổi bật thì càng phải đáp ứng những yêu cầu cao về giữ gìn tư cách đạo đức nói chung và về chữ Liêm Chính nói riêng. “Phải lo thì lo trước thiên hạ; hưởng thì hưởng sau thiên hạ” (trích từ bài “Đạo đức cách mạng”, 6/6/1955).

Cũng trong bài báo vừa nêu, công bố với bút danh C.B, Bác Hồ từ rất sớm đã cảnh báo hiện tượng tiêu cực: “Nhưng chúng ta cũng phải nhận ra rằng: Ảnh hưởng xấu của xã hội cũ làm cho một số đảng viên và cán bộ (trong Đảng và ngoài Đảng) hủ hóa. Họ tưởng rằng cách mạng là cốt để làm cho họ có địa vị, được hưởng thụ. Do đó họ mắc phải những sai lầm: Kiêu ngạo, chưng diện, hưởng lạc, lãng phí của công, tự tư tự lợi, không tiết kiệm đồng tiền bát gạo là mồ hôi nước mắt của nhân dân. Họ quên mất tác phong gian khổ phấn đấu, lạt lẽo với công việc cách mạng, xa rời Đảng, xa rời quần chúng. Dần dần họ mất cả tư cách và đạo đức người cách mạng, sa vào tham ô, hủ bại và biến thành người có tội với Đảng, với Chính phủ, với nhân dân”.

Bác Hồ đã hiểu quá rõ rằng, trên thế giới đã có không chỉ một cuộc cách mạng bị hỏng vì đã không xây dựng được một đội ngũ cán bộ cầm quyền với những phẩm chất đạo đức mới, thực sự liêm chính mà chỉ thay đẳng cấp cầm quyền tham nhũng hủ bại này bằng một đẳng cấp cầm quyền tham nhũng hủ bại khác.

Không ngẫu nhiên mà theo hồi ức của các bậc lão thành cách mạng, trong thời kỳ cách mạng mới giành được chính quyền, Bác Hồ đã xử lý rất nghiêm khắc những trường hợp cán bộ, kể cả cấp cao, vi phạm những tiêu chí liêm chính của người cách mạng. Bác muốn phòng ngừa những diễn biến “đạn bọc đường” đối với một chính Đảng cầm quyền.

Cho đến những bài viết cuối cùng trên cõi thế, Bác Hồ vẫn trước sau như một nhấn mạnh tới việc giáo dục đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân để “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.

Người chiến sĩ công an muốn giữ chữ Liêm thì phải như thế nào? Cũng theo những lời dạy của Bác Hồ, trước hết và hơn hết là phải chống lại chủ nghĩa cá nhân. Trong bài nói tại Trường Công an Trung ương ngày 28/1/1959, Bác thêm một lần lý giải: “Thế nào là chủ nghĩa cá nhân? Là so bì đãi ngộ: Lương thấp cao, quần áo đẹp xấu; là uể oải, muốn nghỉ ngơi, hưởng thụ, an nhàn”.

Bác đã thấy trước tất cả những hệ lụy mà chủ nghĩa cá nhân có thể làm nảy nòi, làm ảnh hưởng xấu tới chữ Liêm của người chiến sĩ công an: “Chủ nghĩa cá nhân như vi trùng đẻ ra nhiều bệnh khác: Sợ khó, sợ khổ; tự do chủ nghĩa; vui thì làm, không vui thì không làm, thích thì làm, không thích không làm…”.

Cũng trong bài viết trên Báo Cứu Quốc, Bác Hồ đã dạy rằng, để người cán bộ nói chung và người chiến sĩ công an nói riêng có thể liên tục giữ gìn được chữ Liêm, ngoài sự tu dưỡng bản thân của họ, còn cần tới sự giúp đỡ, kiểm tra của nhân dân. Bác viết:

“Quan tham vì dân dại. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì “quan” dù không Liêm cũng phải hóa ra liêm.

Vì vậy, dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ Liêm.

Pháp luật cũng phải thẳng thay trừng trị những kẻ bất Liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì…”.

Đọc lại những dòng Bác Hồ đã viết nhiều năm về trước, hôm nay, chúng ta vẫn cảm thấy như mọi điều vẫn còn nóng hổi tính thời sự. Để giữ chữ Liêm cho mình, không có gì tốt hơn là chúng ta sống, học tập, làm việc và chiến đấu theo đúng tinh thần những điều Bác Hồ đã dạy.

Chính Nhân
cand.com.vn

Gắn kiểm tra, giám sát với tự phê bình và phê bình

Nhằm kết hợp hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát với tự phê bình và phê bình (TPB và PB) cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau: Thống nhất nhận thức về kết hợp công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng gắn với tự phê bình và phê bình. Củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ năng lực, trình độ, công tâm và trách nhiệm. Coi trọng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, gắn kiểm tra giám sát với TPB và PB.

Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Bên cạnh sự tự giác thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, các cấp ủy đảng phải tăng cường công tác kiểm tra. Công tác này nhất thiết phải gắn bó mật thiết với TPB và PB một cách nghiêm túc. Lề lối làm việc phải dân chủ, cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới, cấp dưới phải phê bình cấp trên. Giúp nhau kinh nghiệm và sáng kiến, giúp nhau tiến bộ. TPB và PB nhau theo tinh thần nhân ái và lập trường cách mệnh.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác kiểm tra là bộ phận cấu thành quan trọng của công tác xây dựng đảng, được tiến hành dựa trên các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng nhưng đồng thời phải làm tốt công tác TPB và PB. Trên cơ sở các nguyên tắc, Điều lệ Đảng về xử lý kỷ luật trong Đảng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: phải gắn kết chặt chẽ, phát huy cao độ vai trò công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng theo Điều lệ Đảng trên cơ sở TPB và PB, lấy giáo dục thuyết phục, cảm hóa là chính, giúp đồng chí mình tiến bộ, giúp tổ chức đảng lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao.

Trong giai đoạn cách mạng mới, trước những yêu cầu đặt ra từ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm không ngừng kiện toàn và nâng cao sức lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, đấu tranh thắng lợi trước các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên mặt trận chính trị tư tưởng, đòi hỏi công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng càng phải gắn bó mật thiết với công tác TPB và PB. Việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra giám sát trong Đảng với công tác TPB và PB sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng đảng, xây dựng ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức lối sống cho mỗi cán bộ, đảng viên, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, suy thoái đạo đức, lối sống, tham nhũng, quan liêu; nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng.

Nhằm kết hợp hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB, cần thực hiện tốt mấy vấn đề sau:

Một là, thống nhất nhận thức về kết hợp công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng gắn với tự phê bình và phê bình.

Đối với đảng viên, cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ phụ trách công tác kiểm tra, giám sát, các tổ chức đảng và các cấp ủy cần phải có nhận thức đúng về sự kết hợp giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB. Đây còn là một trong những nguyên tắc trong công tác lãnh đạo của Đảng. Lãnh đạo ở đâu, lĩnh vực gì, nhiệm vụ nào đều phải gắn liền công tác kiểm tra giám sát ở lĩnh vực, nhiệm vụ đó.

Công tác kiểm tra, giám sát ở các tổ chức cơ sở đảng phải được tiến hành theo nguyên tắc Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn của ủy ban kiểm tra cấp trên. Quá trình kiểm tra, giám sát phải gắn với TPB và PB để giáo dục, thuyết phục, uốn nắn đảng viên, cán bộ, định hướng công tác lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng, tạo điều kiện phát huy dân chủ trong Đảng, giữ vững nguyên tắc và chế độ sinh hoạt đảng, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch vững mạnh, đủ sức lãnh đạo hoàn thành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Công tác kiểm tra, giám sát gắn với TPB và PB là nhằm làm cho tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, cán bộ, đảng viên luôn giữ vững định hướng chính trị, nhận thức tư tưởng, trau dồi phẩm chất đạo đức trong sáng. Công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành một cách dân chủ, đúng nguyên tắc, gắn với tự trọng, tự giác trong TPB và PB.

Hai là, củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ năng lực, trình độ, công tâm và trách nhiệm.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong công tác kiểm tra, giám sát đòi hỏi phải làm tốt công tác củng cố kiện toàn cơ cấu ủy ban kiểm tra các cấp, phải xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát đủ về số lượng và có năng lực và trình độ hoàn thành nhiệm vụ chức trách được giao.

Trước khi bắt đầu cho một nhiệm kỳ mới, các tổ chức đảng từ Trung ương tới cơ sở phải làm tốt công tác củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra các cấp. Chức năng, nhiệm vụ của uỷ ban kiểm tra phải được xác định phù hợp với tính chất nhiệm vụ lãnh đạo của từng tổ chức đảng cụ thể. Điều đó cũng có nghĩa, ủy ban kiểm tra các cấp và đội ngũ cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, giám sát phải được kiện toàn đồng bộ, ngang tầm với tính chất nhiệm vụ được giao. Yêu cầu đặt ra là: Đối với người cán bộ làm công tác kiểm tra phải tận tụy, công tâm, trung thực, liêm khiết, khách quan, dân chủ, có lý có tình, kiên quyết và khôn khéo; đối với ủy ban kiểm tra các cấp là sự dân chủ, đoàn kết, thống nhất, kỷ cương trên cơ sở các nguyên tắc được quy định trong Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Người cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát cũng như uỷ ban kiểm tra cần chủ động, đồng bộ, sâu sát, tỉ mỉ, khách quan, thận trọng trong mọi khâu, mọi bước của công việc kiểm tra, giám sát, đảm bảo tính công minh, chính xác, kịp thời.

Ủy ban kiểm tra và đội ngũ cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, giám sát phải đóng vai trò nòng cốt trong công tác tham mưu nhằm nâng cao hiệu quả, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra được lựa chọn phải thường xuyên học tập, tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức, tự kiểm tra, giám sát mình và chịu sự giám sát, phê bình của cấp ủy, chi bộ và quần chúng; ra sức nâng cao trình độ mọi mặt, mẫn cán, nhạy cảm, tinh thông nghiệp vụ.

Ba là, coi trọng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, gắn kiểm tra giám sát với TPB và PB .

Công tác kiểm tra được tiến hành theo phân cấp, cấp trên kiểm tra cấp dưới, ủy ban kiểm tra cấp ủy cùng cấp kiểm tra đảng viên thuộc quyền về chấp hành nguyên tắc, chế độ, phục tùng kỷ luật Đảng và thực hiện nghị quyết các cấp. Công tác kiểm tra, giám sát được tiến hành trên cơ sở nguyên tắc và Điều lệ Đảng. Trong đó, TPB và PB là nguyên tắc cơ bản trong sinh hoạt đảng mà các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên phải tự giác chấp hành. Việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra, giám sát với TPB và PB là một giải pháp khoa học nhằm tăng cường sức mạnh và nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng, chủ động cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm và giải quyết dứt điểm các vụ việc trên cơ sở nguyên tắc Điều lệ Đảng.

Trung tá, Thạc sĩ Nguyễn Minh Đức
Trường Đại học Nguyễn Huệ
xaydungdang.org.vn

Lênin và các dân tộc phương Đông (7-1924)

Nếu giai cấp vô sản phương Tây coi Lênin là một thủ lĩnh, một lãnh tụ, một người thầy thì các dân tộc phương Đông lại coi Lênin là một người con vĩ đại hơn nữa, cao quý hơn nữa, nếu tôi có thể nói như vậy.

Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngǎn cản nổi.

Quen bị đối xử như những kẻ lạc hậu, thấp hèn, các dân tộc phương Đông đã coi Lênin là hiện thân của tình anh em bốn bể. Không những họ biết ơn Người mà còn tha thiết yêu mến Người. Họ tôn kính Người tương tự như tôn kính cha mẹ. Có thấy các sinh viên Trường đại học các dân tộc phương Đông khóc sưng cả mắt, có thấy các chàng trai trẻ đó nức nở khi biết tin Lênin từ trần thì mới hiểu thấu được tình yêu của họ đối với Người.

Lênin từ trần, đó là cái tang chung cho toàn thế giới. Quốc dân đảng (50) (đảng nhân dân, hiện nắm chính quyền ở Hoa Nam) đang họp đại hội thì được tin Lênin mất. Toàn thể đại hội đứng ngay dậy và buổi họp được bế mạc để tỏ ý để tang Lênin. Theo đề nghị của bác sĩ Tôn Dật Tiên, Chính phủ Quảng Châu đã quyết định ngừng các cuộc biểu diễn nghệ thuật trong ba ngày. Tất cả các công sở đều treo cờ rủ, các đoàn thể vǎn hoá, chính trị, kinh tế ở các địa phương và ở Bắc Kinh, chủ yếu là các hội sinh viên và các tổ chức công nhân, đều tổ chức một cách trọng thể lễ truy điệu nhà cách mạng vĩ đại. Cũng trong dịp này, các đoàn thể ấy đều nhất trí biểu quyết đòi phải thừa nhận ngay lập tức chính quyền xôviết. Sinh viên đã quyết định dựng một bức tượng Lênin trong công viên lớn nhất ở Bắc Kinh.

Nghị viện Trung Quốc đã gửi điện chia buồn.

Phụ nữ cũng khóc thương Lênin. ở Trung Quốc, cũng như ở tất cả các nước phương Đông, phụ nữ rất ít biết những sự việc xảy ra trên thế giới, họ thờ ơ với những sự việc ấy. Nhưng họ đã để tang Lênin. Như vậy là những biểu hiện của phụ nữ Trung Quốc trong hoàn cảnh đau đớn này có một ý nghĩa lịch sử. Một mặt, điều đó chứng tỏ rằng phụ nữ phương Đông đã thức tỉnh; mặt khác, chứng tỏ rằng người thầy vĩ đại đã được tất cả mọi người, nam cũng như nữ, những người bình thường nhất cũng như những người tiên tiến nhất, đều hiểu và yêu mến. Vì thế, tôi xin dịch ra đây bài kêu gọi của một nữ sinh viên, đǎng trong một tờ báo phụ nữ ở Thượng Hải:

“Hỡi các chị em!

Từ khi có chủ nghĩa tư bản, toàn bộ cơ thể xã hội đều bị ảnh hưởng tai hại của nó. Các vật phẩm do tất cả mọi người sản xuất ra, đáng lẽ phải thuộc về tất cả mọi người thì lại thuộc đặc quyền của một vài người! ách áp bức kinh tế đã nô dịch con người, cũng ách áp bức ấy đã biến phụ nữ thành những đồ vật tuỳ thuộc quyền sử dụng của nam giới!

Từ bao thế kỷ nay, bao nhiêu triệu con người đã bị xiềng xích như thế? Bao nhiêu triệu đàn bà đã bị hy sinh?

Trong lúc cuộc chiến tranh thế giới đang diễn ra ác liệt, trong lúc hàng triệu con người không làm hại đến ai, đang muốn sống, nhưng lại bị đưa vào chỗ chết, Lênin đã đạp bằng gian khổ và khó khǎn, đã

thức tỉnh giai cấp vô sản Nga nổi dậy, đã tổ chức các xôviết.

Lênin không những chỉ giải phóng nam giới và nữ giới trên đất nước Tiên sinh, mà còn chỉ đường cho tất cả những người nghèo khổ trên thế giới. Và bất chấp bọn bạch vệ tấn công ở bên trong, bọn tư bản bao vây bên ngoài, ý chí kiên cường của Lênin đã cứu đồng bào của Tiên sinh ra khỏi cảnh đau khổ và lầm than, và đã nêu cao ngọn cờ của Quốc tế cho tất cả những người bị áp bức.

Điều đó há chẳng đáng để chúng ta kính cẩn mặc niệm trước anh linh vĩ đại của Tiên sinh hay sao?

Ngày 21 tháng 1 há chẳng đáng mãi mãi là một ngày tang cho tất cả những nam nữ đang chịu khổ cực hay sao?

Nước Nga đang tiến đến chỗ phồn vinh. Nhưng muốn có được một nền hoà bình thật sự, thì còn phải tiến lên hơn nữa và còn phải làm nhiều việc hơn nữa. Loài người đang thức tỉnh; nhưng muốn tự giải phóng hoàn toàn, thì còn phải đấu tranh. Thế mà giờ đây, người thầy đột ngột từ giã chúng ta, chưa được trông thấy kết quả cuối cùng của sự nghiệp của mình.

Những người có tâm huyết làm sao mà có thể cầm được nước mắt? Những người bị áp bức, nam và nữ, há lại không nên nhận lấy nhiệm vụ mà Lênin đã để lại và tiến lên hay sao? Tiến lên!

Các chị em thân mến!

Chúng ta hãy tổ chức truy điệu một cách trọng thể Người đã suốt đời đấu tranh chống cảnh cùng khổ và ách áp bức của các dân tộc, Người đã đấu tranh cho thế giới đến hơi thở cuối cùng!”.

Để kết thúc, chúng ta hãy chú ý rằng để chỉ Lênin, thì khi nói hay viết, người Trung Quốc đều chỉ dùng từ “Tiên sinh”, một từ vinh dự đồng nghĩa với “Tử” (Khổng Tử, Mạnh Tử) và có nghĩa là: thầy.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Báo Le Paria, số 27, tháng 7-1924.
cpv.org.vn

————————————

(50) Quốc dân đảng: Tổ chức chính trị ở Trung Quốc, do Tôn Trung Sơn sáng lập năm 1905, ban đầu là Trung Quốc cách mạng đồng minh hội; sau Cách mạng Tân Hợi (1911), cải tổ thành Quốc dân đảng. Thời gian đầu, Quốc dân đảng là một tổ chức cách mạng. Năm 1927, người kế tục sự nghiệp của Tôn Trung Sơn là Tưởng Giới Thạch gây chính biến phản cách mạng, đàn áp những người cộng sản, dẫn đến cuộc nội chiến lần thứ nhất ở Trung Quốc. Năm 1937, trước sự xâm lược của phát xít Nhật, Quốc dân đảng buộc phải hợp tác với Đảng Cộng sản Trung Quốc đấu tranh chống kẻ thù chung. Năm 1946, Quốc dân đảng lại gây nội chiến lần thứ hai. Năm 1949, cách mạng Trung Quốc thành công, lực lượng Quốc dân đảng bỏ chạy ra đảo Đài Loan. Tr.295.

Một vị tăng 13 năm sưu tầm tư liệu về Bác Hồ

Mặc dù bận rộn với công việc đạo pháp, Đại đức Thích Nhuận Thọ (SN 1981, tăng thường trú tại chùa Phước Mỹ, xã Mỹ Cát, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định) vẫn dành nhiều thời gian để sưu tầm những hình ảnh, tư liệu về Bác Hồ. Việc làm của Đại đức chứng minh một điều, Bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu, luôn ở trong trái tim mọi người dân Việt Nam.

Vào những ngày cuối tháng 8, chúng tôi đến chùa Phước Mỹ để tìm gặp Đại đức Thích Nhuận Thọ, người suốt 13 năm qua luôn dành nhiều thời gian và công sức để sưu tầm những hình ảnh, tư liệu về Bác Hồ kính yêu. Dù đang bận rộn với công việc xây dựng, sửa chữa chùa nhưng Đại đức vẫn vui vẻ dành thời gian tiếp chúng tôi và kể lại cơ duyên dẫn đến việc làm của mình suốt nhiều năm qua.

nha suĐại đức Thích Nhuận Thọ cẩn thận lật giở những
tấm hình về Bác Hồ mà ông đã sưu tầm được.

Đại đức Thích Nhuận Thọ kể, vào năm 1999, khi còn là chú tiểu tu tại chùa Thiên Phước (ở thôn An Trinh, xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ), trong một lần quét dọn nhà kho của chùa, tình cờ Đại đức nhặt được một túi nilon. Giở túi ra xem, Đại đức thấy bên trong có khoảng 30 bức ảnh về quá trình hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Tuy chưa một lần được gặp Bác nhưng qua sách, báo tôi vô cùng khâm phục và kính yêu lối sống giản dị, đức tính cần kiệm, tình thương yêu con người bao la của Bác Hồ. Cầm những bức ảnh trong tay, tôi nảy sinh ý định sẽ sưu tầm những hình ảnh, tư liệu liên quan đến Bác. Từ đó, mỗi khi có dịp đi đến đâu, tôi đều tranh thủ tìm tòi, mua lại các loại sách, báo, hình ảnh về Bác Hồ”, Đại đức Thích Nhuận Thọ cho biết.

Để chứng minh điều mình nói, Đại đức cho chúng tôi xem hàng chục tấm ảnh ghi lại cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đa số những bức ảnh mà Đại đức sưu tầm được đều là ảnh trắng đen, mặt sau ghi cụ thể năm ấn hành và tên nhà xuất bản.

Trong số những hình ảnh, tư liệu về Bác mà Đại đức Thích Nhuận Thọ sưu tầm được, chúng tôi đặc biệt ấn tượng với “Bộ sưu tập chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tài liệu lưu trữ thời kỳ 1945 – 1969”. Bộ sưu tập ghi lại gần 100 chữ ký của Bác được Đại đức treo trang trọng trong phòng khách của chùa để mọi người dễ dàng nhìn thấy.

Đại đức tâm sự: “Bác Hồ của chúng ta vô cùng bao la, vĩ đại; tấm lòng yêu thương con người của Người cũng giống như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vậy. Càng tìm hiểu về Người, tôi càng thấy mình như một hạt cát bé nhỏ, còn Người rộng lớn như sa mạc bao la. Tôi luôn tâm niệm, học tập và làm theo Bác là công việc ai cũng nên làm và phải làm cả đời. Thời gian tới, khi chùa xây dựng hoàn thành, tôi sẽ dành riêng một phòng để trưng bày số ảnh, sách báo và các kỷ vật về Bác Hồ mà mình đã sưu tầm được trong thời gian qua”.

Kính trọng, yêu quý và thấm nhuần lời dạy của Bác, hơn 10 năm qua, dù hàng ngày bận rộn với công việc đạo pháp nhưng Đại đức Thích Nhuận Thọ vẫn thường xuyên tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện. Hàng năm, Đại đức trực tiếp liên hệ với các trường học đóng trên địa bàn xã Mỹ Cát, tìm những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để chùa hỗ trợ chi phí học tập.

Việc làm của Đại đức Thích Nhuận Thọ nói riêng, chùa Phước Mỹ nói chung thật đáng trân trọng. Những hình ảnh, tư liệu về Bác Hồ mà Đại đức sưu tầm được thật sự là những tài liệu vô giá. Qua đó cũng nhắc nhở chúng ta rằng, để thực hiện tốt việc “học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mọi người phải có lòng yêu nước, yêu thương con người, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Văn Lực – Văn Tố
Theo http://www.baobinhdinh.com.vn
Thu Hiền
(st)
bqllang.gov.vn

Hai bài viết của Bác Hồ trên báo Đảng đúng Ngày Quốc khánh: “Tẩy sạch bệnh quan liêu”

Thường thường những ngày kỷ niệm trọng đại, báo chí ta bao giờ cũng in những bài nêu lên những thành tích lớn mà Đảng và nhân dân ta đã thực hiện được. Đó là một điều cần thiết.

Tuy nhiên, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, bên cạnh những bài viết nêu lên những thành tựu lớn, Bác thường có những bài viết nêu lên cả những khuyết điểm còn tồn tại của cán bộ và đảng viên ta.

Ngày 2 tháng 9 năm 1950, cả nước vui mừng kỷ niệm lần thứ 5 Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, Bác Hồ đã viết bài “Phải tẩy sạch bệnh quan liêu”, in trên Báo Sự thật số 140 với bút danh XYZ (Hồ Chí Minh toàn tập – tập 6 trang 88).

Sang năm sau, cũng ngày 2 tháng 9 năm 1951, Bác lại viết tiếp bài “Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh” in trên Báo Nhân Dân số 23 (Hồ Chí Minh toàn tập – tập 6 trang 292). Bài này Bác ghi bút danh CB.

Hai năm liền trong Ngày Quốc khánh, Bác Hồ viết bài “Tẩy sạch bệnh quan liêu”. Điều đó chứng tỏ quan liêu là một thứ bệnh nguy hiểm, có hại lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

anh chu tich ho chi minhChủ tịch Hồ Chí Minh – Người thầy vĩ đại của báo chí cách mạng Việt Nam. Ảnh: Tư liệu

Trong hai bài báo này, Bác chỉ rõ: Bệnh quan liêu là thế nào?

“Nguyên nhân của nó vì xa cách quần chúng, không hiểu biết dân chúng, không học hỏi dân chúng, sợ dân chúng phê bình… Các cán bộ ấy, người thì cả đời chỉ loanh quanh trong trụ sở. Có người thì bao giờ “Sấm ra đá kêu” mới gặp dân chúng một lần. Khi gặp dân chúng thì đút tay vào túi quần mà “huấn thoại”, nói hàng giờ, nói bao la thiên địa. Song, những việc thiết thực cần kíp của địa phương, những điều dân chúng cần biết thì không nói đến”.

Chứng bệnh ấy thể hiện ra như sau:

Đối với người: Cấp trên đối với cấp dưới, cán bộ đối với nhân dân… chỉ biết dùng mệnh lệnh. Không biết giải thích, tuyên truyền. Không biết làm cho dân chúng tự giác và tự động.

Đối với việc: Chỉ biết khai hội nghị, viết nghị quyết, ra chỉ thị. Chứ không biết điều tra, nghiên cứu, đôn đốc, giúp đỡ, khuyến khích, kiểm tra.

Đối với mình: Việc gì cũng kềnh càng, chậm rãi, làm cho qua chuyện. Nói một đằng làm một nẻo. Chỉ biết lo cho mình, không quan tâm đến nhân dân, đến đồng chí… Chỉ biết ăn cho sang, diện cho kẻng, chẳng những không lo phụng sự nhân dân, mà còn muốn nhân dân phụng sự mình. Tham ô, hủ hoá. Trước mặt dân chúng thì lên mặt “quan cách mạng”.

Và Bác Hồ nói: “Đó là mấy vẻ chính của bệnh quan liêu và nếu không lo chữa thì bệnh quan liêu sẽ đưa bệnh nhân đến chỗ hoàn toàn bị đào thải!”.

Trong bài “Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh” (2-9-1951) Bác viết:

“Ai cũng biết bệnh quan liêu mệnh lệnh là nguy hiểm. Nhưng trong công tác thực tế, nhiều cán bộ ta còn mắc bệnh ấy. Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng” nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ”.

Bác cũng chỉ rõ nguyên nhân của bệnh quan liêu là:

– Xa nhân dân: Do đó không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân.

– Khinh nhân dân: Cho là “dân ngu khu đen” bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình.

– Sợ nhân dân: Khi có sai lầm, khuyết điểm, thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.

– Không tin cậy nhân dân: Họ quên rằng không có lực lượng nhân dân thì việc nhỏ mấy, dễ mấy làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân thì việc khó mấy, to mấy, cũng làm được.

– Không hiểu biết nhân dân: Họ quên rằng nhân dân cần trông thấy những lợi ích thiết thực. Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông.

– Không yêu thương nhân dân: Do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân. Có nơi bệnh quan liêu mệnh lệnh trầm trọng đến nỗi cán bộ lừa phỉnh dân, doạ nạt dân!

Cuối cùng, Bác nêu ra cách chữa chứng bệnh quan liêu mệnh lệnh, gồm 6 điều:

1 – Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết.

2 – Liên hệ chặt chẽ với nhân dân.

3 – Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ.

4 – Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình.

5 – Sẵn sàng học hỏi nhân dân.

6 – Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo.

Bệnh quan liêu là một nguy cơ của Đảng cầm quyền, là nguyên nhân sinh ra nhiều thứ bệnh khác. Quan liêu chính là nguồn gốc sinh ra tham nhũng, lãng phí. Bác Hồ nói: “Bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí. Vì vậy muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí, thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu” (Hồ Chí Minh toàn tập – tập 6 trang 490).

Bác khẳng định: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân. Kẻ thù này khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta, phá hoại đạo đức cách mạng của ta”. Ngày thành lập Đảng (3/2/1969, Bác Hồ lại viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” thể hiện sự quan tâm lo lắng của Người. Bác chỉ rõ: Chính vì chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra bệnh quan liêu mệnh lệnh, tham ô, lãng phí. Chủ nghĩa cá nhân là mẹ đẻ ra mọi tính hư, nết xấu. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng. Bác nhắc nhở và căn dặn phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Và đó cũng chính là yêu cầu của Nghị quyết Trung ương 4 một số những vấn đề cấp về bách xây dựng Đảng hiện nay.

Trong Di chúc của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Đó cũng chính là nguyện vọng và mục tiêu cao cả của cách mạng Việt Nam./.

Theo Bùi Công Bính/Báo Nam Định
Tâm Trang
(st)
bqllang.gov.vn

Tình bạn giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh

“Đại Công báo”, một tờ báo Trung Quốc có hơn một trăm năm lịch sử, là một trong ba tờ báo Hoa văn có uy tín trên thế giới do Liên hợp quốc bình chọn, số ra ngày 6-4-2011 đã đăng bài “Vài mẩu chuyện về tình bạn giữa Hồ Chí Minh với Chu Ân Lai” của tác giả Lý Gia Trung, nguyên Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam từ tháng 12-1995 đến tháng 7-2000. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc tham khảo.

Hai vị vĩ nhân xưng hô với nhau là anh em

Tháng 11-1956, Thủ tướng Chu Ân Lai sang thăm Việt Nam. Trong lời chào mừng các vị khách quý dự tiệc chiêu đãi cấp nhà nước, với tư cách là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không đọc bài viết sẵn, mà nói vo một đoạn: “Với tôi, đồng chí Chu Ân Lai là người anh em của tôi. Chúng tôi đã từng cùng nhau đồng cam cộng khổ, cùng nhau làm công tác cách mạng. Anh ấy là người bạn chiến đấu thân mật của tôi trên ba mươi năm qua!”

Tiếp lời, Thủ tướng Chu Ân Lai cũng nói: “Hồ Chủ tịch vừa nhắc đến cá nhân tôi trên ba mươi năm trước đã quen thân anh, đúng thế! Ba mươi tư năm trước, tại Pa-ri, tôi đã quen thân Hồ Chủ tịch. Anh là người dẫn đường của tôi. Khi ấy, anh đã là một người Mác-xít thành thục, mà tôi khi ấy mới vừa tham gia Đảng Cộng sản. Anh ấy là lão đại ca của tôi!”

Lúc ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại đứng lên nói với mọi người có mặt: “Câu nói vừa rồi của đồng chí Chu Ân Lai, các đồng chí nghe biết là được rồi, không nên nói lại với những người khác. Mọi người đều biết, đồng chí Chu Ân Lai là nhà lãnh đạo của một Đảng lớn và một nước lớn dân số nhiều nhất trên thế giới!”.

Vì thế, báo chí Việt Nam không đưa tin viết bài kỹ câu chuyện này. Mãi cho đến ngày 14-5-1960, Nhân Dân nhật báo Trung Quốc mới tiết lộ tình tiết này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Chu Ân Lai.

Từ năm 1965 về sau, tình hình sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh không được tốt. Thủ tướng Chu Ân Lai rất quan tâm đến bệnh tình của Người, trực tiếp lựa chọn những chuyên gia y tế có trình độ cao nhất Trung Quốc thành lập Tổ điều trị, đến Hà Nội chữa bệnh cho Hồ Chủ tịch.

Tháng 5-1969, bệnh tình của Hồ Chủ tịch tương đối ổn định, phía Việt Nam bèn đề nghị các chuyên gia của Tổ điều trị Trung Quốc về nước nghỉ ngơi củng cố một chút, một tháng sau thì trở lại. Trước khi lên đường, các chuyên gia hỏi Hồ Chủ tịch yêu cầu từ Bắc Kinh mang về những gì. Hồ Chủ tịch nói luôn: “Cái gì cũng không cần, chỉ mang về một con vịt quay Bắc Kinh là được rồi!”.

Sau khi về nước, trong khi nghe báo cáo tình hình, Thủ tướng Chu Ân Lai biết Hồ Chủ tịch thích ăn vịt quay, nói ngay: “Một con không được! Phải mang hai con, đồng thời phải là vịt to, sườn mỏng và tưới ma-gi thơm ngọt và đầy đủ gia vị”. Thủ tướng Chu Ân Lai còn suy nghĩ, nhắc nhở: Việt Nam đang mùa hè, Hồ Chủ tịch lại là người cao tuổi, cơ thể yếu, nên giải quyết đông lạnh bảo quản thực phẩm tươi ngon là vấn đề quan trọng hàng đầu.

Thủ tướng Chu Ân Lai gửi vịt quay tặng Hồ Chủ tịch

Vì chuyện này, Thủ tướng Chu Ân Lai mời đồng chí Lý Cường, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương đến bàn bạc, song đồng chí Lý Cường cũng không am hiểu những tri thức về mặt đông lạnh. Cuối cùng, thông qua Công ty Xuất nhập khẩu Lương thực thực phẩm, một đơn vị trực thuộc Bộ Ngoại thương, tìm đến Nhà máy Rượu Bắc Kinh, ở đây sản xuất được một loại băng khô có thể làm lạnh, sau khi đưa vịt quay và các gia vị vào thùng lót xốp, chung quanh rắc băng khô lên, có thể khống chế nhiệt độ ở độ âm, bảo đảm chắc chắn vịt quay không thể biến chất. Đến khi ấy, Thủ tướng Chu Ân Lai mới yên tâm.

Hạ tuần tháng 6, chuyên gia trong Tổ điều trị trở lại Hà Nội.

Tháng 5-1960, Thủ tướng Chu Ân Lai thăm Việt Nam. Hồ Chủ tịch và Chu Thủ tướng vui với các cháu thiếu nhi Việt Nam. Ảnh do Vũ Phong Tạo cung cấp.

Hồ Chủ tịch quyết định đem một con vịt quay tặng Tổ điều trị, còn một con nữa, Người yêu cầu cùng thưởng thức với Đại sứ Trung Quốc Vương Ấu Bình.

Ngày 30-6, Phủ Chủ tịch Việt Nam gọi điện thoại đến Đại sứ quán Trung Quốc, thông báo: Ngày mai là Kỷ niệm 48 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, Hồ Chủ tịch quyết định mời cơm Đại sứ Vương Ấu Bình tại Phủ Chủ tịch, vào 12 giờ trưa.

Ngày hôm sau, tôi là phiên dịch tháp tùng Đại sứ Vương Ấu Bình đúng giờ đến Phủ Chủ tịch. Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký của Hồ Chủ tịch dẫn chúng tôi vào phòng ăn. Trước khi Hồ Chủ tịch đi vào phòng ăn, đồng chí Vũ Kỳ kể với chúng tôi câu chuyện: Sau khi nghe Tổ điều trị phản ánh, Thủ tướng Chu Ân Lai đã gửi vịt quay sang.

Sau 30 năm, năm 1999, tôi đã gặp đồng chí Vũ Kỳ, năm ấy đã 78 tuổi. Khi nhắc đến chuyện Thủ tướng Chu Ân Lai gửi vịt quay tặng Hồ Chủ tịch, đồng chí ấy vô cùng xúc động. Đồng chí nói với tôi: Đến nay đồng chí ấy vẫn giữ gìn cẩn thận chiếc lọ sứ đựng ma-gi ngọt hồi ấy, coi như một hiện vật văn hóa quý báu có ý nghĩa lịch sử.

Thủ tướng Chu Ân Lai trực tiếp đến Hà Nội viếng Hồ Chủ tịch

Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, hưởng thọ 79 tuổi.

Sau khi nghe tin, Thủ tướng Chu Ân Lai vô cùng đau thương.

Ngoài việc gửi điện chia buồn đến Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Trung Quốc cử Phó thủ tướng Lý Tiên Niệm dẫn đầu Đoàn Đại biểu Đảng và Chính phủ Trung Quốc sang dự Lễ tang Hồ Chủ tịch, tổ chức vào ngày 9 tháng 9.

Thủ tướng Chu Ân Lai còn quyết định trước đó vào ngày 4-9, ông và Diệp Kiếm Anh, Vi Quốc Thanh cùng đến Hà Nội, viếng Hồ Chủ tịch.

Các nhà lãnh đạo cao cấp: Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Phó thủ tướng Võ Nguyên Giáp… trực tiếp ra tận sân bay đón tiếp. Thủ tướng Chu Ân Lai rơm rớm nước mắt, nói: “Tôi đến muộn rồi!”.

Trong khi hội đàm với những nhà lãnh đạo Việt Nam, Thủ tướng Chu Ân Lai đều nói rõ các thành viên của Đoàn đại biểu đều là những đồng chí quan hệ mật thiết với Hồ Chủ tịch. Bản thân đồng chí thay mặt cho Mao Chủ tịch đến. Trong thời kỳ chiến tranh kháng Nhật, Diệp Kiếm Anh đã từng cùng Hồ Chủ tịch công tác tại Văn phòng Bát Lộ Quân tại Trùng Khánh. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Vi Quốc Thanh làm Đoàn trưởng Đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc sang Việt Nam công tác.

Thủ tướng Chu Ân Lai nói:

“Hồ Chủ tịch suốt đời phấn đấu, chẳng những lập công bất hủ vì nhân dân Việt Nam, mà còn có cống hiến rất lớn vì giai cấp vô sản quốc tế. Hồ Chủ tịch có quan hệ đặc biệt mật thiết đối với cách mạng Trung Quốc, với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đồng chí mấy lần đến Trung Quốc, tham gia cách mạng Trung Quốc, cùng chung hoạn nạn, kề vai sát cánh chiến đấu với nhân dân Trung Quốc, dày công vun đắp tình cảm sâu đậm với nhân dân Trung Quốc, với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Phẩm chất cộng sản của Hồ Chủ tịch, sự quan tâm đến nhân dân lao động, ý chí cách mạng, tinh thần đấu tranh triệt để với kẻ thù, tác phong công tác gian khổ chất phác của Chủ tịch, trước sau như một, xứng đáng được mọi Đảng viên cộng sản học tập.”

Thủ tướng Chu Ân Lai nhiều lần nói: “Tôi đến muộn rồi, không thể gặp mặt lần cuối cùng với Hồ Chủ tịch!”.

Khi ấy, thi hài của Hồ Chủ tịch đã được giao cho chuyên gia Liên Xô để tiến hành xử lý y học, không cho người không có phận sự tiếp xúc, nên đáng lẽ Đoàn không thể đến với Người.

Nhưng, vì tình hữu nghị chiến đấu sâu đậm của Thủ tướng Chu Ân Lai với Hồ Chủ tịch, trước khi Đoàn đại biểu lên đường về nước, phía Việt Nam đã phá lệ, bố trí cho Thủ tướng Chu Ân Lai và các đại biểu trong Đoàn đến bái biệt Hồ Chủ tịch.

Lý Gia Trung – (Vũ Phong Tạo dịch)
qdnd.vn

Không gian lịch sử Việt Nam và khu vực khi Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước

QĐND – Thứ Hai, 16/05/2011, 16:53 (GMT+7)

QĐND – Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành 21 tuổi nhận làm phụ bếp với lương tháng 45 phơ-răng (tiền Pháp) trên tàu A-mi-ran La-tút-sơ Trê-vin (Amiral Latouche Tréville) thuộc hãng vận tải Hợp nhất, rời Bến Nhà Rồng, Sài Gòn “đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”(1). Một vấn đề đặt ra là: Tại sao Nguyễn Tất Thành không thể tìm được con đường cứu nước ngay trên quê hương mình hoặc thậm chí ở các nước trong khu vực quanh ta, mà phải sang tận trời Tây? Trả lời thỏa đáng câu hỏi đó không phải là dễ dàng.

Trước hết chúng ta xem xét những gì đã diễn ra trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX trên không gian hẹp là nước Việt Nam. Như chúng ta đều biết, sau khi dập tắt phong trào Cần Vương – cuộc vùng dậy cuối cùng theo ý thức hệ phong kiến nhằm khôi phục nền độc lập dân tộc, thực dân Pháp bắt tay khai thác thuộc địa nhằm bòn rút của cải nước ta làm giàu cho chính quốc. Cùng với việc nhập ngoại giống cây trồng mới, đặc biệt là cây công nghiệp dài ngày, nền nông nghiệp truyền thống của ta nhạt dần tính chất độc canh vốn có của nó, nhiều trung tâm công thương nghiệp và các loại hình giao thông vận tải hiện đại… xuất hiện. Xã hội truyền thống Việt Nam bắt đầu có sự chuyển biến, khởi đầu từ địa hạt kinh tế, sau lan sang các lĩnh vực khác. Dường như cùng một lúc với những chuyển biến bên trong, từ bên ngoài, luồng tư tưởng dân chủ tư sản, theo những con đường khác nhau, đã chảy vào Việt Nam. Từ Trung Quốc, Nhật Bản, Tân văn, Tân thư được truyền vào Việt Nam, tạo nên những ảnh hưởng tư tưởng to lớn. Sau cùng tư tưởng dân chủ tư sản đến từ nước Pháp, quê hương của cuộc cách mạng tư sản điển hình. Trong guồng máy thống trị không chỉ có những tên thực dân tàn bạo, mà còn có cả những người Pháp chân chính, yêu tự do, đó là đội ngũ những thầy giáo, cô giáo, những nhà khoa học Pháp. Tư tưởng dân chủ tư sản được họ gieo vào đầu óc đám học trò đang ngồi trên nghế nhà trường Pháp-Việt, những người đồng nghiệp Việt Nam cùng làm việc với họ trong các cơ quan nghiên cứu khoa học, các công sở.

Nhà Rồng – nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: Tuấn Tú

Bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, tại Pháp, hằng năm đều có tổ chức những Hội chợ thuộc địa để quảng bá vẻ đẹp quyến rũ, nguồn tài nguyên phong phú của các xứ thuộc địa nhằm thu hút vốn đầu tư của tư bản Pháp. Các gian hàng Việt Nam được giới thiệu ở các hội chợ đó. Nhân đó, nhiều người Việt có dịp sang Pháp làm việc như Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Văn Vĩnh… đồng thời các phái đoàn sang Pháp “khảo sát chính trị” cũng được tổ chức. Các đoàn này thường được tuyển chọn trong đám quan lại cấp tỉnh và học sinh Trường Hậu bổ. Tháng 2-1906, đoàn khảo sát chính trị của Bắc Kỳ gồm 10 người, trong đó có Tri phủ Hoài Đức là Trần Tán Bình, sang Pháp. Năm sau, một đoàn khảo sát chính trị khác gồm 17 người (10 người Bắc Kỳ, 7 người Trung Kỳ, đáp tàu Himalaia sang Pháp). Đến Pháp, họ được đưa đi thăm nhiều nơi, nhưng chủ yếu tập trung khảo sát hai lĩnh vực quan trọng là kinh tế và giáo dục. Trở về nước, họ trở thành những người tuyên truyền cho nền văn minh Pháp.

Trong khi tư tưởng dân chủ tư sản tràn vào Việt Nam nhằm chuẩn bị về tư tưởng cho sự chuyển đổi hệ ý thức thì trong xã hội chúng ta lúc đó chưa hội đủ những điều kiện cần thiết nhất cho phong trào cách mạng theo khuynh hướng tư tưởng mới. Lúc đó, xã hội Việt Nam chưa xuất hiện một giai cấp tư sản làm bệ đỡ cho nó và lớp trí thức tân học đang ngồi trên ghế nhà trường, do vậy, lớp nhà nho yêu nước, thức thời đứng ra lãnh trách nhiệm tiếp nhận tư tưởng mới, đưa nó vào cuộc sống và biến nó thành phong trào cách mạng sôi nổi trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX. Dẫu vậy, sự vận động tư tưởng ở Việt Nam bằng phong trào Duy Tân đã bắt đúng nhịp đi và hòa cùng trào lưu “châu Á thức tỉnh” thời đó.

Phong trào Duy Tân ở nước ta đầu thế kỷ trước được phân thành hai nhánh: Ám xã và Minh xã. Ám xã (tổ chức bí mật) do Phan Bội Châu lãnh đạo, chủ trương sử dụng bạo lực, còn Minh xã (tổ chức công khai) do Phan Châu Trinh lãnh đạo, chủ trương tự cường bằng những hoạt động kinh tế, văn hóa – giáo dục. Điều đặc biệt lý thú là phong trào Duy Tân đầu thế kỷ do hai nho sĩ nổi tiếng lãnh đạo đã có sự phối hợp, liên kết bên trong với bên ngoài, giữa các lĩnh vực và giữa các vùng miền của đất nước, tạo thành một phong trào cách mạng có quy mô toàn quốc. Nhưng rồi, phong trào đó cũng bị bọn thực dân và tay sai dập tắt. Năm 1909, sau một thời gian hòa hoãn dài, thực dân Pháp và tay sai huy động một lực lượng quân sự lớn tiến công vào Yên Thế. Khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo đang đi dần tới những năm tháng tồn tại cuối cùng.

Tiếp đến, trên không gian lịch sử rộng hơn – không gian lịch sử các nước trong khu vực, đặc biệt các nước cùng cảnh ngộ như nước ta.

Nước Trung Hoa rộng lớn, văn hiến lâu đời, bị các nước tư bản phương Tây xâu xé cũng đang tìm lối ra. Tư tưởng dân chủ tư sản từ nhiều ngả đường khác nhau được truyền vào Trung Quốc và được lớp nho sĩ tiến bộ như: Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Dương Thâm Tú… tiếp nhận, dấy lên phong trào Duy Tân, rồi được ông vua trẻ Quang Tự đồng tình tiến hành cuộc chính biến Mậu Tuất 1898. Cuộc chính biến diễn ra được một trăm ngày thì bị phái bảo thủ trong triều đình Mãn Thanh do Tây Thái hậu cầm đầu phản công và dập tắt. Ngày 21-9-1898, Tây Thái hậu truất ngôi và bỏ ngục Vua Quang Tự, truy nã Khang, Lương và kết án tử hình Đàm Tự Đồng và Dương Thâm Tú, giải tán các học đường, học hội… Phong trào Duy Tân cuối thế kỷ XIX thất bại. Những người đang sống sót chạy ra nước ngoài cư trú chính trị, tiếp tục viết trước tác truyền về đại lục, tiếp tục nhen nhóm ngọn lửa cho những cuộc vùng dậy tiếp theo. Cho đến tháng 6-1911, Trung Quốc vẫn chưa tìm thấy lối thoát mà phải đến tháng 10-1911, Trung Quốc đã tìm thấy hướng đi bằng cuộc cách mạng Tân Hợi do Tôn Dật Tiên lãnh đạo.

Trên đất nước Ấn Độ bị thực dân Anh đô hộ, những nhà ái quốc Ấn Độ cũng đang tìm hướng giải thoát cho dân tộc mình. Tháng 12-1885, Đảng Quốc dân Đại hội (Đảng Quốc Đại), đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản dân tộc Ấn Độ, được thành lập, chính thức bước lên vũ đài chính trị. Mặc dù, Đảng chủ trương đấu tranh ôn hòa nhưng có vị trí đáng kể trong cuộc đấu tranh chống thực dân Anh như đòi cải cách về giáo dục, xã hội và mở rộng sự tham gia của người Ấn trong các Hội đồng tự trị… Ngày 16-10-1905, ngày đạo luật chia cắt Bengan có hiệu lực, nhân dân Ấn Độ coi đây là ngày quốc tang, đã dấy lên phong trào chống Anh mạnh mẽ, đặc biệt ở Bombay và Cancúta. Cuộc đấu tranh đó đã buộc thực dân Anh phải thu hồi đạo luật chia cắt Bengan, nhưng sau đó cũng không phát triển được.

Ở khu vực Đông Nam Á, phong trào giải phóng dân tộc cũng đang diễn ra rộng khắp, sôi nổi, liên tục.

Ở In-đô-nê-xi-a, nơi bị thực dân Hà Lan đô hộ, nhiều tổ chức yêu nước của trí thức tư sản tiến bộ ra đời, thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Từ năm 1905, nhiều tổ chức công nhân được thành lập và bước đầu truyền bá chủ nghĩa Mác. Cũng trong năm đó, tổ chức nghiệp đoàn đầu tiên của công nhân xe lửa được thành lập, kích thích sự ra đời của các nghiệp đoàn khác, từ đó, dẫn đến thành lập Hội liên hiệp Công nhân In-đô-nê-xi-a vào năm 1908.

Ở Lào, đầu thế kỷ XX, nhân dân các bộ tộc Lào đã nhiều lần nổi dậy chống thực dân Pháp. Năm 1901, nhân dân Xa-van-na-khệt, dưới sự lãnh đạo của Phacađuốc, đứng dậy đấu tranh. Và trong năm đó, một cuộc khởi nghĩa khác bùng nổ trên cao nguyên Bô-lô-ven cho đến năm 1907 mới bị dập tắt. Ở Miến Điện, cuộc kháng chiến chống thực dân Anh diễn ra anh dũng, nhưng cuối cùng bị đàn áp. Nghĩa quân phải rút vào rừng sâu hoạt động đợi thời cơ. Điểm qua tình hình Việt Nam và các nước trong khu vực như vậy để đi tới kết luận rằng, cả “châu Á đau thương”, trừ Nhật Bản và Xiêm, phong trào giải phóng dân tộc theo nhiều khuynh hướng tư tưởng khác nhau diễn ra sôi nổi, liên tục, nhưng cuối cùng bị các thế lực thực dân và tay sai đàn áp và dìm trong máu. Khủng hoảng đường lối cứu nước không chỉ diễn ra ở Việt Nam, mà còn trong cả khu vực.

Ở Việt Nam, các bậc anh hùng nghĩa liệt thừa lòng yêu nước và lòng quả cảm, nhưng trước sau đều phải nhận lấy thất bại xót xa. Có nhiều nhân tố trong tình hình kinh tế-xã hội, chính trị-tư tưởng của đất nước lúc bấy giờ đã tạo nên những nghịch lý đó. Cuộc sống đang chứa đựng nghịch lý thì chính cuộc sống đang tạo ra những điều kiện vật chất để giải nghịch lý đó. Sự thất bại của các phong trào chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vừa chứng tỏ sự lỗi thời của hệ tư tưởng phong kiến, sự yếu ớt và bất lực của hệ tư tưởng tư sản, vừa từng bước chuẩn bị tiền đề cho một phương hướng cứu nước mới. Trong đội ngũ những nhà yêu nước đang hăm hở tìm đường cứu nước có một thanh niên trẻ tuổi mà buổi đầu xuất hiện đã vượt xa những nhà yêu nước đương thời về sự mẫn cảm của trí tuệ, về tầm nhìn. Đó là Nguyễn Tất Thành, người đã tự nguyện gánh lấy trách nhiệm ra đi tìm phương hướng cứu nước mới.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

————————

1. Trần Dân Tiên. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. NXB Chính trị Quốc gia và NXB Thanh niên, Hà Nội, 1994, tr., 12.

Nguyễn Ái Quốc với đội ngũ thanh niên trí thức yêu nước thời dựng đảng

QĐND – Những năm 20 của thế kỷ 20 là những năm cực kỳ quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước, gắn chặt với tên tuổi Nguyễn Ái Quốc. Đó là thời kỳ nước ta trải qua một cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước và xuất hiện Nguyễn Ái Quốc như một vị cứu tinh của dân tộc.

Uy tín của Nguyễn Ái Quốc bắt đầu hình thành từ năm 1919 với Bản Yêu sách của nhân dân Việt Nam gửi Hội nghị Versailles mà thời đó báo chí Pháp gọi là “quả bom chính trị nổ giữa Pa-ri”. Uy tín đó được củng cố và tăng lên qua những hoạt động chính trị của Người tại Pháp, đặc biệt từ khi thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa và cho ra đời tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) và cuốn sách Bản án chế độ thực dân Pháp. Những hoạt động chính trị đó không chỉ có tiếng vang trên đất Pháp, mà còn lan tỏa khắp năm châu, đăc biệt ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Tên tuổi Nguyễn Ái Quốc lan truyền nhanh chóng trên khắp đất nước, khích lệ những thanh niên trí thức trăn trở với vận nước tìm những con đường khác nhau ra nước ngoài tìm Nguyễn Ái Quốc. Sự háo hức của lớp trẻ thời đó đã tạo ra hai luồng xuất dương tìm đến Nguyễn Ái Quốc, trước hết là sang Pháp, sau đó qua Trung Quốc. Lớp thanh niên trí thức yêu nước sang Pháp tìm Nguyễn gồm Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Khánh Toàn, Bùi Công Trừng, Ngô Đức Trì, Trần Văn Giàu, Trần Đình Long, Dương Bạch Mai… Lớp trẻ sang Quảng Châu đến với Nguyễn là những “chàng trai bãi khóa” trong phong trào truy điệu và để tang nhà chí sĩ Phan Chu Trinh bị cảnh sát Pháp đàn áp, truy lùng như Lê Hữu Lập, Nguyễn Công Thu, Nguyễn Danh Thọ, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Sơn, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Hới, Nguyễn Văn Hoan, Trịnh Đình Cửu…(Bắc Kỳ), Lê Duy Điếm, Trần Phú, Nguyễn Ngọc Ba, Nguyễn Văn Lợi, Phan Trọng Bình, Phan Trọng Quảng… (Trung Kỳ), Ngô Thiêm, Lê Văn Phát, Nguyễn Mạnh Trinh… (Nam Kỳ). Lớp trẻ đến với Nguyễn Ái Quốc là đến với người tìm ra con đường cứu nước có hy vọng cho dân tộc, là đến với lãnh tụ cuộc cách mạng tương lai.

Bác Hồ với học sinh trường Trưng Vương-Hà Nội (năm 1956). Ảnh tư liệu

Nỗ lực của Nguyễn Ái Quốc sau 5 năm tìm được con đường giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức thực dân đã bắt đầu có chút thành quả: một lực lượng thanh niên trí thức trăn trở với vận mệnh đất nước tại Quảng Châu đã quy tụ bên Người, coi Người là thầy, là lãnh tụ, sẵn sàng theo thầy và xả thân vì đại nghĩa. Đó là một lực lượng chưa đông, nhưng vô cùng quan trọng để Người “gieo mầm cách mạng”. Và trong hoàn cảnh đó, người thầy, người hướng đạo phải làm gì để vươn tới tầm vóc mà các bậc cách mạng lão thành thuộc thế hệ cha chú như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh từng kỳ vọng?

Tháng 6-1923, khi rời nước Pháp sang Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc đã để lại cho những người bạn chiến đấu của mình trong Hội Liên hiệp thuộc địa và Tòa soạn báo Le Paria một lá thư thắm tình đồng đội, chan chứa sự đồng cảm của những người cùng cảnh ngộ và bày tỏ ý định của Người:

“ Chúng ta phải làm gì?…

Đối với tôi câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”.

Đoạn trích dẫn trên cho ta hình dung được bốn công đoạn (bước) mà Nguyễn Ái Quốc sẽ thực hiện trong tương lai: 1) Trở về nước; 2) Tổ chức; 3) Huấn luyện và 4) Đấu tranh.

Ở bước thứ nhất, trở về nước. Trong hoàn cảnh “các nhà hoạt động bản xứ đều bị giám sát và truy nã rất ráo riết tại chính nước họ. Nhưng ở một nước làng giềng họ có thể hoạt động dễ dàng hơn, vì có ít người biết họ”(1) và bầu không khí chính trị Quảng Châu thuận lợi dưới thời Tôn Trung Sơn. Nguyễn Ái Quốc, khi về đến Quảng Châu vào tháng 11-1924, đã quyết định biến mảnh đất này thành trạm đầu cầu của cách mạng Việt Nam. Từ đó, Quảng Châu trở thành trị sở của Tổng bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Tòa soạn các tờ báo mà Người sáng lập, nơi tổ chức huấn luyện đội ngũ cán bộ cách mạng và tuyển chọn thanh thiếu niên gửi đi đào tạo ở các trường bạn. Nguyễn Ái Quốc dựa vào lực lượng thanh niên trí thức yêu nước để thực hiện những nhiệm vụ trọng đại đó.

Đầu tiên, Người tiếp xúc với những thành viên trong Tâm Tâm Xã tìm hiểu những tâm tư, nguyện vọng của họ, giác ngộ họ và đưa họ vào một tổ chức chính trị mang màu sắc tuổi trẻ – Việt Nam Cách mạng Thanh niên và cho ra đời tờ Thanh Niên làm cơ quan ngôn luận của tổ chức vào tháng 6-1925. Tổ chức cách mạng và tờ báo đó cùng với Người tiếp tục chuẩn bị về chính trị-tư tưởng và tổ chức để xây dựng một đảng Cộng sản ở Việt Nam. Tiếp đến, Người tung thanh niên về trong nước thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ: xây dựng một hệ thống tổ chức cách mạng từ chi bộ lên Kỳ bộ trên toàn quốc và lực chọn những thanh niên trí thức yêu nước sang Quảng Châu dự các lớp huấn luyện chính trị. Với sự nỗ lực của những người tiên phong, đến những tháng đầu năm 1927, một hệ thống tổ chức cách mạng Thanh Niên được phủ khắp đất nước. Không một tổ chức chính trị cùng thời nào (như Hưng Nam-Tân Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng…) có được mạng lưới rộng như vậy. Được thế, trước hết nhờ tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Đồng thời với việc mở lớp huấn luyện những người cổ động, những người tuyên truyền, những người tổ chức tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc, thông qua Phái bộ Bô-rô-đin, lựa chọn và làm thủ tục cho thanh thiếu niên Việt Nam sang học tại Trường Đại học Phương Đông và các trường khác trên đất nước Xô Viết. Đi theo ngả đường này đến nhập học Trường Phương Đông ở Mát-xcơ-va là Lê Hồng Phong, Trần Phú, Phùng Chí Kiên…Trong một lá thư gửi Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên Tiền phong trực thuộc Đoàn Thanh niên Cộng sản Liên Xô ngày 22-7-1926, Nguyễn Ái Quốc đã bày tỏ:

“ Chúng tôi có tại đây (Quảng Châu, Trung Quốc) một nhóm thiếu niên Việt Nam. Các em đều từ 12 đến 15 tuổi. Đó là những thiếu niên Cộng sản đầu tiên của Việt Nam bị chủ nghĩa đế quốc Pháp áp bức và ở đó mọi việc giáo dục đều bị cấm… Lúc chúng tôi nói với các em về cách mạng Nga, về Lê-nin và các bạn, những chiến sĩ Lê-nin-nít Nga nhỏ tuổi, thì các em rất sung sướng và đòi sang với các bạn để thăm các bạn, học tập với các bạn và để trở thành như các bạn-những chiến sĩ Lê-nin-nít nhỏ tuổi.

Rõ ràng, Nguyễn Ái Quốc đã có ý thức chuẩn bị cho cuộc cách mạng tương lai một đội ngũ cán bộ gồm những người trẻ tuổi đó.

Để lật nhào bộ máy thống trị thực dân-phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân sớm muộn phải cần tới bạo lực vũ trang, vì thế, ở một hướng khác, Nguyễn Ái Quốc từ rất sớm đã chuẩn bị cho cách mạng một đội ngũ cán bộ quân sự. Người đã gửi nhiều thanh niên Việt Nam theo học Trường Quân sự Hoàng Phố của Tôn Trung Sơn dưới sự huấn luyện của các chuyên gia quân sự Xô Viết, trong số đó có Nguyễn Sơn, Phùng Chí Kiên, Đỗ Huy Liêm, Nguyễn Tường Loan, Lê Thiết Hùng… và cho xuất bản báo Lính Cách mệnh. Trong một bài viết trên báo Lính Cách mệnh đã khẳng định tính tất yếu của con đường bạo lực vũ trang đối với cuộc cách mạng dân tộc nước ta: “Cách mệnh vô luận ở về thời đại nào, theo về hoàn cảnh nào, muốn cho thành công thì nhất định phải dùng vũ lực, bởi vì thống trị giai cấp nó đè nén mình, nó hà hiếp mình, là nó cậy nó có vũ lực của bọn nó, nên bây giờ cách mệnh cũng phải có vũ lực của cách mệnh để đánh cho bọn thống trị giai cấp thất thế đi, hết nọc đi thì cách mệnh mới thành công được”.

Ở thời dựng Đảng này, lực lượng thanh niên trí thức yêu nước, một bộ phận năng động và nhạy cảm nhất trong thanh niên là chỗ dựa cơ bản, chủ yếu của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình đưa chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam.Trước Nguyễn Ái Quốc, các lãnh tụ của phong trào cách mạng chỉ nhìn nhận và sử dụng thanh niên như một phương tiện để đạt tới mục đích của mình. Với Nguyễn Ái Quốc tình hình đã khác. Trong toàn bộ hoạt động cách mạng của mình, cả trên bình diện lý luận và thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn và thực sự đặt sự tin cậy vào lớp người trẻ tuổi, đặc biệt là lớp thanh nhiên trí thức yêu nước. Trên bình diện lý luận Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều tác phẩm như Trung Quốc và Thanh niên Trung Quốc, Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Cách mệnh, trong đó xác định vai trò to lớn của thanh niên trong tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc. Trên bình diện thực tiễn Người đã lập tổ chức cách mạng theo khuynh hướng mác-xít và cơ quan ngôn luận mang tên Thanh Niên. Người thu hút lực lượng trẻ, giáo dục họ, dìu dắt họ, thử thách họ qua công việc và cuối cùng trao cho họ những trọng trách trong các tổ chức cách mạng. Những người mà Nguyễn Ái Quốc đặt lên vai họ những trọng trách nặng nề đều thuộc lớp trẻ ở độ tuổi đôi mươi. Có thể kể ra một vài ví dụ: Nguyễn Đức Cảnh, Bí thư Tỉnh bộ Thanh niên Hải Phòng năm 19 tuổi; Nguyễn Văn Hoan, Bí thư Liên tỉnh bộ Thanh Niên Hà-Nam-Ninh năm 20 tuổi; Trần Văn Cung, Nguyễn Sĩ Sách, Phạm Văn Đồng… từng giữ những chức vụ công tác quan trọng trong Thanh niên cũng mới ngoài 20 tuổi đời hoặc Trần Phú, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng lúc mới 26 tuổi…

Lực lượng trẻ tuổi ấy từ những người tuyên truyền cổ động, những người tổ chức đã trở thành bộ khung quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930. Có thể nói không quá lời rằng, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nước ta chủ yếu do thế hệ trẻ được Nguyễn Ái Quốc giáo dục, rèn luyện, khởi xướng và tiến hành.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

(1) Hồ Chí Minh Toàn Tập. Tập 2. NXB Chính trị quốc gia. Hn,1980, tr 208.

 

 

 

Bác Hồ với vị tướng Trần Canh, tại chiến dịch Biên giới năm 1950

Đúng dịp Tết Nguyên đán Canh Dần năm 1950, Bác Hồ thực hiện một chuyến đi bí mật sang Trung Quốc, Liên Xô. Ngày 2-1-1950, Bác cùng đồng chí Trần Đăng Ninh, từ Tuyên Quang đi bộ tới Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng, rồi đi tiếp đến Long Châu, Quảng Tây. Đến đây, Bác bắt được liên lạc với Bạn. Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã bố trí xe đón Đoàn đi Nam Ninh, từ đó Đoàn đi xe lửa đến Bắc Kinh. Bác làm việc ở Bắc Kinh một tuần, sau đó Bác cùng đồng chí Trần Đăng Ninh đi xe lửa liên vận đến Liên Xô

Ngày 16-2-1950, Nguyên soái Xtalin mở tiệc chiêu đãi đại biểu sứ quán các nước xã hội chủ nghĩa tại Mát-xcơ-va nhân dịp Liên Xô và Trung Quốc ký “Hiệp ước Tương trợ Đồng minh hữu hảo Xô-Trung” ngày 14-2-1950. Xtalin tự xếp chỗ ngồi gần Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh. Sau buổi tiệc, Xtalin mời Chủ tịch Mao Trạch Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang phòng riêng để trao đổi về việc Liên Xô, Trung Quốc giúp Việt Nam đánh thực dân Pháp.

Chuyến đi bí mật này, Bác đã thành công ở cả hai phương diện chính trị và ngoại giao, đó là chuyến đi lịch sử làm tiền đề cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam – Liên Xô, giữa Việt Nam – Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Ngày 11-3-1950, Bác và đồng chí Trần Đăng Ninh về đến Bắc Kinh, giữa tháng 4 năm 1950, Bác mới về đến Tuyên Quang.

Tháng 6 năm 1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên giới. Ngày 7 tháng 7, Bộ Tổng Tư lệnh ra Mệnh lệnh về chiến dịch Biên giới. Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới Việt – Trung, mở đường nối liền Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ Việt Bắc. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy chiến dịch, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng làm Tham mưu trưởng chiến dịch, Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp phụ trách hậu cần cho chiến dịch. Trung tuần tháng 9 năm 1950, Hồ Chủ tịch lên đường đi chiến dịch.

Đầu năm 1950, Trung tướng Trần Canh đang chỉ huy quân đội trên chiến trường Vân Nam (khi đó Vân Nam chưa giải phóng). Thực hiện cam kết không thành văn giữa Nguyên soái Xtalin, Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc Trung Quốc giúp Việt Nam, Chủ tịch Mao Trạch Đông đích thân điều động Trung tướng Trần Canh về Bắc Kinh nhận nhiệm vụ dẫn đầu Đoàn Cố vấn Quân sự Trung Quốc gồm 14 đồng chí sang Việt Nam. Ngày 7 tháng 7, Đoàn Cố vấn Trung Quốc xuất phát từ Côn Minh đi đến Thái Nguyên. Tại một nhà sàn đơn sơ trên chiến khu, Bác Hồ cảm kích gặp lại người bạn. Bác Hồ và Trần Canh là bạn cũ của nhau. Tháng 5 năm 1924, Trần Canh học khóa 1 Trường Quân sự Hoàng Phố – Quảng Châu, còn Bác Hồ khi đó là Thư ký của Phái bộ Brôđin – Cố vấn Chính trị của Chính phủ Liên Xô bên cạnh Tôn Trung Sơn, khi đó hai người thường xuyên gặp nhau trao đổi công tác.

Ngày 16-9-1950, chiến dịch Biên giới mở màn bằng trận đánh Đông Khê tỉnh Cao Bằng, đến trưa 18 tháng 9 kết thúc thắng lợi. Trong niềm vui lớn, Bác Hồ viết tặng Trần Canh một bài thơ bằng chữ Hán. Theo nguyên bản tài liệu trong “Nhà kỷ niệm Trần Canh” bài thơ này có nội dung như sau:

Huề trượng đăng cao quan trận địa

Vạn trùng sơn ủng vạn trùng vân

Nghĩa binh tráng khí thôn ngưu đẩu

Thệ diệt sài lang xâm lược quân.

Dịch:

Chống gậy lên non xem trận địa

Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây

Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu

Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy.

Đọc xong bài thơ, Trần Canh rất cảm kích, vui vẻ nói với Bác Hồ: “Hồ Chủ tịch đã hạ quyết tâm như thế, thì một mống quân Pháp cũng chạy không thoát!”.

Ngày 8-10-1950, Bác viết thư biểu dương các chiến sĩ ngoài mặt trận và gửi tặng Trần Canh bài thơ thứ hai:

Hương tân mỹ tửu dạ quang bôi

Dục ẩm, tỳ bà  mã thượng thôi

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

Địch nhân hưu phóng nhất nhân hồi.

Dịch:

Rượu ngọt sâm banh lấp lánh ly

Muốn uống, tì bà thúc ngựa phi

Đừng cười say nghỉ nơi trận mạc

Không tha quân địch một tên về.

Từ 10 tháng 9 đến 23 tháng 10 năm 1950, quân Pháp tháo chạy khỏi Thất Khê Cao Bằng, Na Sầm, Lạng Sơn, Đình Lập, An Châu. Ta hoàn toàn phá vỡ hệ thống phòng ngự đường số 4 của địch, giải phóng 5 thị xã, 13 thị trấn với 35 vạn dân, nhiều vùng quan trọng của biên giới Việt – Trung được củng cố và mở rộng, chiến khu Việt Bắc được nối liền với các tỉnh và với các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Đây là chiến dịch tiến công trên qui mô lớn đầu tiên của quân đội ta, tạo ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đánh dấu sự trưởng thành về tổ chức, chỉ huy và trình độ tác chiến của quân đội ta. Trong bữa tiệc mừng thắng lợi, Hồ Chủ tịch tặng tướng Trần Canh hai câu thơ :

Loạn thạch sơn trung cao sỹ ngọa

Mậu mật lâm lí anh hùng lai.

(Tạm dịch: Ẩn sĩ nơi núi đá. Anh hùng chốn rừng xanh. TG).

Qua những bài, câu thơ Bác tặng Trần Canh trên đây, đủ thấy tình cảm của Bác Hồ quí trọng vị tướng Trần Canh đến mức nào! Ngày 11-11-1950, tướng Trần Canh tạm biệt Hồ Chủ tịch và Việt Nam về nước nhận nhiệm vụ mới.

Theo Nguyễn Ngọc Điệp
Thu Hiền (st) / theo http://khcncaobang.gov.vn
bqllang.gov.vn

Bác Hồ ở bản Mạy

QĐND – Tháng Tư, đất nước Triệu Voi đã chớm mùa mưa. Trong tiết trời dìu dịu mát, từ Savanakhẹt, chúng tôi vượt sông Mê Kông đến Nakhon Phanom của Thái Lan thăm ngôi nhà Bác Hồ từng ở để hoạt động cách mạng trong những năm 1928-1929.

Bản Mạy đây rồi ư? Ngôi nhà Bác ở tại đất Thái mà tôi từng nghe, từng đọc từ thời học cấp một đây rồi ư? Cái tên Thầu Chín, bí danh của Bác thời ấy lại âm vang trong lòng chúng tôi. Chợt thấy xôn xao mảnh vườn xanh tốt chở che ngôi nhà bé nhỏ, vách gỗ ngói ta có chiếc rèm tre che nắng, che gió trước cửa chính ra vào. Ngôi nhà, mảnh vườn thuần Việt này còn lưu giữ những kỷ niệm về một thời hoạt động cách mạng bí mật của Bác Hồ kính yêu tại Thái Lan.

Nhà lưu niệm Bác Hồ ở Nakhon Phanom -Thái Lan. Ảnh: Đông Hà

Những nén hương thơm được thắp lên trên chiếc tủ thờ quá đơn sơ để tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cảm xúc trong tôi mỗi lúc càng trào dâng khi tận mắt thấy những kỷ vật của Bác còn lưu giữ trong ngôi nhà. Vẫn thế! Một cuộc sống giản dị thanh cao, những tiện nghi bị lược bỏ đến tối thiểu, còn lại mênh mang tấm lòng yêu nước thương dân, còn lại chí khí phẩm chất của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng. Có thể kể ra ngay mấy đồ vật Bác dùng thuở ấy: Vài bộ áo quần vải thường xếp trong chiếc tủ cao chưa tới một mét, tấm phản gỗ Người từng ngả lưng sau những giờ làm việc miệt mài, mấy cái xoong nhỏ bằng đồng để bên cạnh chiếc kiềng ba chân. Danh mục đồ dùng nếu đếm chắc chỉ đủ một bàn tay.

Năm 39 tuổi, Bác đóng vai nhà sư Hạnh Đa để hoạt động cách mạng tại Thái Lan. Tôi dừng khá lâu trước bức ảnh Người trong tấm áo cà sa màu vàng đang đi khất thực thời ấy để hình dung thêm những gian lao, hiểm nguy mà Bác đã trải qua trên Đường Kách mệnh.

Những hình dung về Bác kính yêu càng sáng thêm qua những hồi ức của ông Võ Trọng Tiêu, người đang coi giữ ngôi nhà lịch sử này. Khi Bác về bản Mạy với cái tên Thầu Chín thì ông Tiêu mới 7 tuổi. ông sinh năm 1922 tại Thái Lan nhưng quê gốc ở Hưng Nguyên, Nghệ An. Gần chín mươi tuổi, ông mới được nhập quốc tịch Thái. Cũng lạ, gần chín thập kỷ qua con người mang dòng máu Việt này không thuộc quốc tịch nào cả nên dù đã có con trai là thiếu tướng công an và con gái là bác sĩ làm việc tại Việt Nam, ông vẫn chưa một lần thực hiện được khát vọng về thăm Tổ quốc, quê hương.

ông Tiêu kể: Những ngày đầu về bản Mạy, Bác ở chung nhà và ăn uống với gia đình ông. Sau đó, vì không muốn làm phiền gia đình, nên Bác cùng các đồng chí của mình xin phép được làm ngôi nhà riêng để ở và sinh hoạt. Đêm đêm, cậu bé Tiêu được Thầu Chín cho ngủ chung. Thường thì khi ngủ dậy Tiêu chẳng thấy Bác đâu nữa. Bác đi đâu, về đâu trong nhà không mấy ai biết. Trong hồi ức của ông Tiêu thì Bác thời ấy người gầy mảnh, da trắng, mặc quần vận. Bàn ghế, tủ đựng áo quần hiện còn lưu giữ ở đây là do tự tay Bác đóng. Vườn nhà có hai cây dừa và cây khế ngọt do Bác trồng. Hiện nay, ai đến đây cũng đều thích ăn khế Bác trồng và muốn chụp ảnh trước cây để làm kỷ niệm. Chiều chiều, khi thôi làm việc Bác cùng các đồng chí của mình đá bóng theo kiểu vòng tròn. Chú bé Tiêu là người xăng xái đi nhặt bóng. Có lúc Bác chơi trò kéo co với các cháu là con của các gia đình cách mạng Việt Kiều gửi vào học chữ quốc ngữ. Một bên là cậu bé Tiêu với ba em học trò, còn bên kia là Bác. Bác cười bảo: Tám chân đấu với hai chân, coi thử ai thua, ai thắng nào. Mùa mưa đến, Bác với mấy đồng chí của Người đi bắt cá. Bốn người lội bì bõm từ thửa ruộng này qua thửa ruộng khác, cá bắt được bỏ chung trong một chiếc giỏ. Về nhà, Bác cười hỏi: Đố mấy chú tôi bắt được bao nhiêu con cá? Tất cả, ngớ ra không ai trả lời được. Bác đổ cá từ giỏ ra, vui vẻ nói, con cá nào bị ngắt đuôi là do tôi bắt đó. Ai cũng bật cười trước cái mẹo của Bác. Cá bắt được, con nào chết thì kho ăn trước, con nào sống thì để lại làm nước mắm. Bác thích ăn những món dân dã đồng quê và hằng ngày nấu nước lá vằng để uống.

Không chỉ nhân dân Việt Nam yêu quý Bác Hồ mà nhiều người Thái Lan cũng rất kính trọng Bác. ông Tiêu cho biết, người Thái vẫn thường đến đây thắp hương cho Bác. Trong 76 tỉnh của Thái Lan đã có dân của 74 tỉnh về thăm ngôi nhà Bác từng ở tại bản Mạy và theo ông Tiêu kể thì một vị tổng chỉ huy quân đội Thái Lan khi đến đây thắp hương cho Bác đã giơ ngón tay cái lên rồi nói: Bác Hồ là người có một không hai trên thế giới này!

Ngôi nhà nhỏ Bác từng ở tại bản Mạy không chỉ là di tích lịch sử quý giá gắn với cuộc đời cách mạng sôi động của Hồ Chí Minh mà còn là nhịp cầu nối tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt -Thái. Ngay cạnh ngôi nhà nhỏ này, có Làng hữu nghị Việt -Thái và nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Anh Đường Quốc Hiệp, năm nay bốn mươi tuổi, nhân viên coi giữ giới thiệu nhà lưu niệm nói với chúng tôi: Bác Hồ là vĩ nhân của Việt Nam và thế giới nhưng rất giản dị. Dù Bác đã xa rời nơi này rất lâu nhưng người dân bản Mạy vẫn luôn luôn thấy hình bóng Người ở đây. Trong ngôi nhà nhỏ, trong hàng dừa cây khế, trong mỗi trái tim người dân bản Mạy luôn có hình ảnh Bác Hồ tỏa sáng.

Nguyễn Hữu Quý
qdnd.vn