Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Người quay những thước phim cuối cùng về Bác

Cũng như những năm trước đây, cứ vào dịp Tết Độc lập, người dân trên mọi miền đất nước lại về với “Làng Trù quê mẹ và Làng Sen quê cha”. Trong những ngày tháng thiêng liêng này, chúng tôi tìm gặp người nghệ sĩ đã quay những thước phim cuối cùng về Bác. Đó Thiếu tá Nguyễn Thanh Xuân (ảnh), 82 tuổi, ở xóm Liên Sơn 1, xã Nam Kim, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Trong căn phòng nhỏ, ông Xuân gợi nhớ lại những tháng năm không thể nào quên…

Năm 1952, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, chàng thanh niên  21 tuổi Nguyễn Thanh Xuân xếp bút nghiên rời Làng Sen lên đường vào quân ngũ. Xuất thân trên mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, ông đã góp phần trong thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Sau kháng chiến chống Pháp, ông được lệnh cùng đơn vị tiếp quản Thủ đô.

gap nguoi quay thuoc phim cuoi cung

Năm 1961, ông Xuân được chuyển về công tác tại Xưởng phim Quân đội. Với niềm say mê ham học hỏi cộng thêm lòng kiên trì chịu khó, ông tiếp cận nhanh với máy quay phim. Hơn 37 năm trong quân ngũ và 30 năm cầm máy quay lưu lại hơn 7000 thước phim tư liệu nhưng có lẽ khoảnh khắc thiêng liêng nhất trong cuộc đời bấm máy của ông là 10 ngày túc trực bên cạnh Bác Hồ, ghi những thước phim quý giá lưu lại cho mai sau. Ông Xuân bồi hồi nhớ lại: “Được gặp Bác là niềm vui sướng tự hào của cuộc đời tôi, nhưng được giao trọng trách quay lại những thước phim trước khi Bác mất đó là lòng thành kính mà tôi dâng lên Người”.

Ngày 29-8-1969, nhận được lệnh đặc biệt của Tổng cục Chính trị, ông Xuân và một đồng chí (người miền Nam) vào Phủ Chủ tịch. Không được thông báo trước, ông Xuân cùng đồng đội cấp tốc mang theo hành trang gồm máy quay và một số trang thiết bị cần thiết. Khi xe dừng trước Phủ Chủ tịch, trong lòng ông Xuân xúc động vì được gặp Bác là niềm mơ ước từ lâu. Nhưng khi tận mắt chứng kiến sức khỏe Bác yếu dần, ông Xuân chỉ biết ôm đồng nghiệp rơi lệ…

“Chúng tôi ở bên Bác 24/24 giờ trong ngày. Chúng tôi lo nhất là khi bật máy quay lên sợ làm mất giấc ngủ của Bác. Do chiếc máy quay đã cũ, âm thanh phát ra từ máy khiến chúng tôi ái ngại. Chúng tôi đã nghĩ ra cách dùng vải nhung, xốp bọc bên ngoài máy với mục đích là cách âm để tránh tiếng động mạnh. Chúng tôi tự dặn mình: Đây là nhiệm vụ thiêng liêng, phải dốc toàn tâm để ghi được những khoảnh khắc cuối đời của Bác” – ông Xuân kể. 10 ngày túc trực bên giường bệnh, sử dụng hơn 5000m phim nhựa, ông Xuân đã ghi lại tất cả những hình ảnh từ sinh hoạt cho đến giây phút trước khi Người về với thế giới người hiền. Trước khi ra đi, Bác chỉ có một ý nguyện thật giản dị: “…Bác muốn nghe một câu hò xứ Huế… Bác muốn nghe một câu hò xứ Nghệ… Bác muốn nghe một đôi làn quan họ…”. Những cảm xúc trào dâng ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí ông Xuân.

Đã bước sang tuổi “xưa nay hiếm”, ngồi lật lại trang sử cuộc đời, ông Xuân không khỏi xúc động bồi hồi, đặc biệt khi nhắc lại giây phút bên Bác. Trở về với cuộc sống đời thường, trong mỗi hành động, mỗi việc làm của mình, ông Xuân luôn cảm nhận được ánh mắt Bác Hồ dõi theo như nhắc nhở ông phải sống mẫu mực với con cháu, với bà con xóm làng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ.

Ông Nguyễn Bảo Huỳnh, Chi Hội trưởng Hội Cựu chiến binh Liên Sơn 1 cho biết: “Ở  Hội Cựu chiến binh, ông Xuân là người tích cực. Cứ mỗi lần sinh hoạt, ông đều kể các câu chuyện về Bác cho anh em nghe và có những nhận thức sâu sắc, trên cơ sở đó mà vận dụng vào thực tiễn đời sống hiện nay…”.

Theo qdnd.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Ký ức đẹp của người lái xe phục vụ Bác Hồ

nguoi lai xe phục vụ BH
Ông Nguyễn Văn Mùi

“Tôi may mắn được là người lái xe phục vụ Bác Hồ từ năm 1961 đến 1969. Đã hơn 40 năm trôi qua nhưng những ngày tháng sống bên Bác vẫn luôn trong tâm trí tôi, tưởng chừng như chỉ mới ngày hôm qua…”. Đó là những tâm sự của ông Nguyễn Văn Mùi về những kỷ niệm của mình trong những năm lái xe phục vụ Bác Hồ.

Ông Nguyễn Văn Mùi, sinh năm 1931, trong một gia đình nông dân nghèo ở thôn Bắc Cầu, xã Xuân Hùng (Xuân Trường – Nam Định). Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ông tham gia cách mạng và làm ở Xưởng Đúc tiền Chính phủ. Đến năm 1951, ông được phân công vào Ban 12, có nhiệm vụ chuyên chở hàng hóa, lương thực, thực phẩm, thuốc men, đạn dược cho tiền tuyến. Trong thời gian đó, ông luôn cố gắng học tập, rèn luyện để trở thành một lái xe vững vàng về chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời chiến. Hòa bình lập lại (1954), ông được phân công vào Đội lái xe phục vụ Bác Hồ. Ông Mùi nhớ lại: “Ban đầu tôi mới chỉ là người lái xe chở các chiến sĩ bảo vệ Bác. Tôi đặt ra cho mình mục tiêu là phải cố gắng làm việc hết sức để góp phần bảo vệ Bác”. Nhớ lại thời khắc ấy, ông Mùi không giấu nổi cảm xúc: “Được lái xe phục vụ Bác Hồ, đó là niềm hạnh phúc, nhưng tôi cũng rất lo vì trách nhiệm rất nặng nề khi phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho Bác mỗi khi đi trên đường. Đồng chí Kháng (người cận vệ riêng của Bác) đã nói với tôi: Lái xe cho Bác phải nhanh trí, bình tĩnh, kịp thời xử lý chính xác mọi tình huống, không kể sự nguy hiểm tới tính mạng của mình để bảo đảm an toàn cho Bác”.

Trong suốt quãng thời gian lái xe phục vụ Bác, ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và trách nhiệm được giao, để lại trong ông những kỷ niệm sâu sắc về Người. Ông kể: Bên cạnh Bác, mọi người đều thấy thoải mái, mọi khoảng cách đều bị xóa tan bởi sự hài hước và dí dỏm của Người. Mỗi khi đi công tác, hay tìm hiểu đời sống nhân dân, Bác thường trò chuyện và hỏi mọi người những chuyện xảy ra trên đường. Có lần đang đi trên đường, dù đường thoáng nhưng tôi vẫn cho xe chạy chậm để bảo đảm an toàn cho Bác. Bỗng lúc ấy có chiếc xe ô tô khác vượt lên trước, Bác hỏi: “Xe mình và xe họ, xe nào tốt hơn?”. Lúc ấy tôi lúng túng không biết trả lời sao thì đồng chí Kháng đỡ lời: “Xe mình cũng tốt như xe họ, nhưng để đảm bảo an toàn cho Bác nên đồng chí Mùi giữ tốc độ như thế này là tốt nhất”. Lúc ấy Bác cười, nói: “Hóa ra xe chạy nhanh hay chậm là có chú Kháng cầm trịch chứ gì, vậy thì lần sau không cho chú Kháng đi nữa”. Câu nói hài hước khiến đồng chí Kháng bẽn lẽn đỏ mặt, còn mọi người thì cười vui vẻ.

Là một vị lãnh tụ, được nhân dân tôn kính nhưng trong cuộc sống hàng ngày, Bác là người rất giản dị và gần gũi với tất cả mọi người. Vì vậy, ông Mùi cũng như nhiều anh em khác không ai bảo ai, đều tự nhủ phải học tập Bác trong công việc và cuộc sống hằng ngày. Với ông Mùi thì kỷ niệm sâu đậm nhất trong quá trình lái xe cho Bác chính là món quà bất ngờ của Bác tặng trong ngày cưới. Ông vẫn nhớ như in, khi ông lập gia đình, Bác Hồ đã gửi chúc mừng vợ chồng ông 20 đồng. Ông kể “Cả gia đình tôi đều khóc vì cảm động, nhất là bố mẹ tôi. Mọi người đều động viên tôi phải cố gắng công tác thật tốt để xứng đáng với tình thương yêu của Bác dành cho”. Trong cuộc sống hằng ngày, Bác đều hỏi thăm chuyện gia đình, vợ con và bố mẹ của các đồng chí phục vụ. Đồng chí nào có việc gia đình, Bác đều quan tâm, hỏi thăm, động viên và chỉ bảo nên làm gì cho phải…

Sau khi Bác Hồ mất, theo yêu cầu của tổ chức, ông Mùi lại tiếp tục lái xe cho Bác Tôn. Thời gian lái xe cho Bác Tôn, ông Mùi được quản lý hai chiếc xe, một chiếc Von-ga và một Com-măng-ca. Thế nhưng, cũng như Bác Hồ, chỉ khi nào tiếp khách quan trọng Bác Tôn mới sử dụng xe Von-ga, còn bình thường Bác chỉ dùng xe Com-măng-ca cho dân dã. Ông kể: Bác Tôn thường hay thể dục buổi sáng và môn thể dục Bác ưa chuộng nhất là đạp xe. Thế nhưng để giữ an toàn cho Bác nên sáng nào cũng vậy mỗi khi Bác đạp xe là lại có hai, ba cảnh vệ đạp xe cùng để bảo vệ Bác. Vì là người giản dị không thích làm phiền người khác nên có lần Bác Tôn đã bảo với anh em: Bác già rồi, các chú cứ mặc kệ Bác. Bác không làm sao đâu, các chú cứ ngủ nghỉ cho khỏe, dậy sớm làm gì (Bác Tôn thường dậy và đạp xe tập thể dục vào lúc 5h sáng). Và nhiều lúc, để đỡ phiền phức cho anh em nên có hôm Bác Tôn đã một mình đạp xe ra cổng làm anh em cảnh vệ “trở tay” không kịp…

Trong ngôi nhà ở đường Phương Mai, quận Đống Đa (Hà Nội), ông Nguyễn Văn Mùi đang sống vui vẻ, quây quần bên cháu con. Điều lắng đọng sau những năm tháng được gần gũi Bác Hồ đó là những đức tính cao đẹp ông đã học được từ vị Chủ tịch nước đáng kính. Ông coi đây là tài sản vô giá của cuộc đời ông, nó thiêng liêng và không gì có thể sánh được. Ông vẫn đang dành thời gian còn lại của mình để truyền dạy cho cháu con đức tính giản dị, khiêm tốn, biết sống thân thiết với mọi người và cũng là để con cháu tự hào vì có một người cha, người ông đã có những năm tháng được sống và làm phục vụ một người vĩ đại như Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Bài và ảnh: Văn Thứ
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Hành hình kiểu Linsơ (1924)

Một phương diện ít người biết của nền văn minh Mỹ

Ai cũng biết giống người da đen là giống người bị áp bức và bóc lột nặng nề nhất trong loài người. Ai cũng biết sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản và việc tìm ra Tân thế giới đã mang lại hậu quả trực tiếp là làm sống lại chế độ nô lệ, một chế độ, trải qua nhiều thế kỷ, đã là một tai hoạ thật sự đối với người da đen và là một bất hạnh đẫm máu đối với nhân loại. Điều mà mọi người có lẽ không biết là người da đen châu Mỹ, tiếng rằng đã được giải phóng 65 nǎm nay rồi, nhưng vẫn còn phải chịu đựng nhiều nỗi thống khổ ghê gớm về tinh thần và vật chất, mà tàn ác nhất và ghê tởm nhất là tục hành hình kiểu Linsơ.

Linsagiơ là do từ Linsơ mà ra. Linsơ là tên một chủ đồn điền ở bang Viếcgini vừa là địa chủ, vừa là quan toà. Lợi dụng tình hình rối ren trong cuộc chiến tranh giành độc lập, hắn thâu tóm toàn bộ quyền hành trong quận. Những người thuộc phái bảo hoàng và những người thuộc phái bảo thủ bị hắn trừng phạt rất dã man, không cần xét xử, không cần án từ gì cả. Nhờ bọn chủ nô, nhờ đảng Ku Klux Klan và những tổ chức bí mật khác, nên tục hành hình kiểu Linsơ, một tục không hợp pháp và man rợ trở thành phổ biến và kéo dài mãi ở các bang trong Liên bang Mỹ. Sau khi người da đen được giải phóng, tục đó càng trở nên vô nhân đạo, và đặc biệt chĩa vào người da đen.

Các bạn hãy tưởng tượng…

Các bạn hãy tưởng tượng một đám đông cuồng loạn. Quả đấm nắm chặt, mắt đỏ ngầu, miệng sùi bọt, la ó, chửi bới, nguyền rủa…, đám đông ấy đang bị lôi cuốn bởi cái thú cuồng loạn được phạm tội ác mà không phải lo sợ gì cả. Họ vũ trang bằng gậy gộc, đuốc, súng lục, thừng, dao, kéo, nước lưu toan, dùi. Tóm lại là bất cứ vật gì có thể dùng để giết hoặc làm bị thương được.

Các bạn hãy tưởng tượng giữa đám đông ấy, là một đống thịt đen bị xô đẩy, đánh đập, giày xéo, rạch da, róc thịt, chửi rủa, bị đá đi đá lại, đẫm máu, bất động.

Cái đám đông ấy, chính là những kẻ tham gia hành hình. Cái xác người rách nát kia, đó là người da đen, là nạn nhân.

Trong cơn sóng hằn thù và thú tính, những kẻ tham gia hành hình lôi người da đen đến một khu rừng hay một quảng trường công cộng nào đó. Họ trói người đó vào cây, tưới dầu lửa vào người đó, lấy những chất dễ cháy phủ lên người đó. Trước khi châm lửa, họ bẻ dần từng chiếc rǎng một của người đó. Rồi móc mắt người đó. Từng nhúm tóc xoǎn bị rứt khỏi đầu, mang theo từng mảng da, để lộ ra một sọ người đẫm máu. Nhiều miếng thịt nhỏ rời khỏi cái thân hình đã tím bầm vì bị đánh đập.

Người da đen không kêu được nữa: lưỡi đã sưng phồng lên vì một thanh sắt nung đỏ gí vào. Toàn thân người ấy quằn quại như một con rắn bị đánh, dở sống, dở chết. Một nhát dao, thế là rụng một tai. ái chà! Nó mới đen làm sao! Nó mới đáng tởm làm sao! Thế là bọn đàn bà rạch nát mặt người đó ra…

Có kẻ hét: “Châm lửa lên đi!”. Một kẻ khác góp thêm: “Đốt vừa đủ để thui nó từ từ thôi”.

Người da đen bị nướng chín, thui vàng, cháy thành than. Nhưng người đó phải chết hai lần mới đáng đời. Cho nên họ liền treo người đó lên, nói cho đúng là treo cái xác không còn là một cái xác nữa lên. Và bây giờ, tất cả những người không được tham dự cảnh thiêu sống ấy, vỗ tay. Hoan hô!

Khi ai nấy đã xem chán rồi, họ hạ cái xác xuống. Cái dây treo được chặt ra từng đoạn, bán mỗi đoạn 3 hay 5 đôla. Bọn đàn bà tranh nhau mua làm vật kỷ niệm và để lấy khước.

Thế là “Công lý nhân dân” – như ở đó, người ta vẫn gọi – đã được thực hiện. Đám đông dịu đi, khen ngợi những kẻ “hành sự” rồi tản dần đi, vui vẻ như vừa dự xong một bữa tiệc, và hẹn gặp nhau một bận khác.

Trong khi đó thì trên mặt đất nhày nhụa mỡ và khói, một đầu lâu đen, nát bét, bị thui cháy, không ra hình thù gì nữa, nhǎn nhó một cách đáng sợ và hình như muốn hỏi vầng dương đang lặn rằng: “Đó là vǎn minh ư?”.

Một chút thống kê

Từ 1889 đến 1919, đã có 2.600 người da đen bị hành hình kiểu Linsơ, trong đó có 51 phụ nữ và thiếu nữ, với 10 cựu binh trong đại chiến.

Trong số 78 người da đen bị hành hình kiểu Linsơ nǎm 1919, có 11 người bị thiêu sống, 3 người bị thiêu sau khi đã bị giết, 31 người bị bắn chết, 3 người bị hành hạ cho đến chết, 1 người bị chặt ra làm nhiều mảnh, 1 người bị dìm chết dưới nước, 11 người bị giết bằng nhiều cách khác.

Đứng đầu là bang Gioócgia với 22 nạn nhân, thứ đến bang Mítxixipi với con số 12. Trong cả bang thứ nhất và bang thứ hai đều có 3 binh sĩ trong số bị hành hình. Trong số 11 người bị thiêu sống, thì ở bang Gioócgia có 4 người và 2 người ở bang Mítxixipi. Trong 34 vụ hành hình có tính toán trước và có tổ chức hẳn hoi, thì bang Gioócgia cũng lại đứng đầu với 5 vụ. Thứ hai đến bang Mítxixipi với 3 vụ.

Cǎn cứ theo những tội trạng buộc cho những nạn nhân nǎm 1919, thì:

Một người có chân trong Liên đoàn những người không đảng phái (những chủ trại độc lập);

Một người đã truyền bá những sách báo cách mạng;

Một người đã dám quá tự do lên tiếng công kích những vụ hành hình kiểu Linsơ;

Một người đã bình luận về những vụ xô xát giữa một người da trắng và da đen ở Sicagô;

Một người mà người ta biết là lãnh tụ của phong trào đấu tranh cho lợi ích của người da đen;

Một người vì không kịp tránh sang bên đường nên đã làm cho một đứa bé da trắng ngồi trong ôtô hoảng sợ.

Nǎm 1920, có 50 vụ hành hình kiểu Linsơ và nǎm 1923, có 28 vụ.

Những tội ác đó bao giờ cũng là do ghen ghét về kinh tế mà ra, hoặc do thấy những người da đen ở địa phương làm ǎn khấm khá hơn người da trắng, hoặc do thấy công nhân da đen không chịu bị bóc lột đến xương tuỷ. Trong tất cả các vụ đó, những thủ phạm chính không bao giờ bị làm rầy rà, chỉ đơn giản là vì họ luôn luôn được bọn chính khách, bọn tài chính, bọn cầm quyền và nhất là báo chí phản động kích thích, khuyến khích, xúi bẩy, rồi lại bao che.

Mỗi khi sắp xảy ra hay đã xảy ra một vụ hành hình kiểu Linsơ thế là báo chí chớp ngay lấy, coi là dịp may hiếm có để tǎng số báo phát hành. Báo chí tường thuật sự việc với dụng tâm đưa ra rất nhiều chi tiết.

Không một lời trách móc hướng vào bọn giết người. Không một lời thương xót đối với những nạn nhân. Không một lời bình luận.

Báo New Orleans States ngày 26 tháng 6 nǎm 1919 đǎng nổi bật tin sau đây bằng cỡ chữ 25 phân suốt chiều ngang trang nhất: Hôm nay, một tên da đen sẽ bị 3.000 công dân thiêu chết. Và ngay dưới đó là một tin in bằng chữ nhỏ xíu: Được một đạo vệ binh lớn bảo vệ, Hoàng đế nước Đức đã cùng với Đông cung thái tử chạy trốn.

o Jackson Daily News ra cùng ngày đó, in trên hai cột đầu trang nhất và bằng cỡ chữ lớn:

Tên da đen J.M. sẽ bị dân chúng ở Enlisvinlơ thiêu chết, vào nǎm giờ chiều nay

Tờ báo chỉ quên thêm “khẩn khoản mời toàn thể dân chúng đến dự”, nhưng tinh thần là như vậy.

Vài chi tiết

“Hồi 7 giờ 40 phút tối nay, J.M. đã bị hành hạ bằng một thanh sắt nung đỏ, sau đó bị đem thiêu… Một đám đông khoảng 2.000 người (1),… có nhiều đàn bà và trẻ em đã tham dự vụ thiêu… Sau khi người da đen bị trói trước pháp trường, người ta liền đốt một đống lửa. Cách đó một quãng, một đống lửa khác cũng được đốt lên để nung một thanh sắt. Khi thanh sắt đã đỏ rực, một người cầm lấy và gí vào người da đen. Người này hoảng lên, vội nắm lấy thanh sắt. Thế là không khí sặc sụa mùi thịt cháy khét… Thanh sắt đỏ được gí vào nhiều nơi trên mình người da đen, tiếng kêu la và rên rỉ của người đó dội vào tận trong thành phố. Hành tội một hồi lâu, những người đeo mặt nạ tưới xǎng vào người da đen và đốt đống củi lên. Ngọn lửa bốc cao và liếm quanh người da đen đang van xin người ta làm phúc cho nó một phát đạn. Những lời nǎn nỉ của nó làm cho người ta lớn tiếng chế nhạo” – Báo Chatanocca Times, ngày 13 – 2 – 1918.

“Mười lǎm ngàn người vừa đàn ông, đàn bà và trẻ con hò reo như sấm khi người ta giội gadôlin (2) lên người tên da đen và châm lửa. Họ đấm đá nhau, la hét, và xô đẩy nhau để được đứng gần tên da đen hơn. Hai người trong bọn họ cắt tai tên da đen trong khi ngọn lửa bắt đầu thui nó.

Một người khác định cắt gót tên da đen… Đám đông nhấp nhô và di chuyển để ai nấy đều được nhìn thấy tên da đen bị đốt cháy. Khi thịt bị cháy hết, còn trơ xương ra và khi cái thân hình trước kia chỉ còn là một cái xác rách nát bốc khói, không ra hình thù gì nữa, chập chờn trong ngọn lửa, mọi người cũng vẫn còn mê mải đứng xem…” – Báo Mymphis Press, ngày 22-5-1917.

“… đàn ông thuộc đủ mọi hạng, đàn bà, trẻ con đều kéo đến xem. Nhiều bà trong giới thượng lưu đi theo đám đông từ cửa nhà tù đến đấy, những bà khác cũng từ các ngả gần đấy kéo đến… Khi xác tên da đen rơi xuống, người ta hǎng hái tranh nhau những mẩu dây thừng” – Báo Vicksburg Evening Post, ngày 4-5-1919.

“… một người cắt tai nó, một người khác xẻo bộ phận sinh dục của nó… Nó tìm cách bám lấy dây thừng, người ta liền chặt phǎng các ngón tay đi. Trong khi người ta treo nó lên cây, một gã to như hộ pháp lấy dao chém vào cổ nó: ít nhất nó cũng bị tới 25 vết thương… Nó bị kéo lên rồi hạ xuống đám lửa hồng, rồi lại bị kéo lên và hạ xuống, cứ thế mãi… Cuối cùng, một người ném dây thòng lọng tròng vào người nó, đầu kia thì buộc vào một con ngựa để lôi cái xác chạy khắp các phố Oacô. Cái cây treo xác tên da đen lại ở ngay dưới cửa sổ nhà viên thị trưởng. Ông này thản nhiên nhìn đám đông hành hình. Trên suốt chặng đường, tất cả mọi người đều tham gia bǎm vằm tên da đen. Nhiều người đập nó bằng xẻng, cuốc, gạch, gậy gộc. Khắp mình nó, từ đầu đến chân, chỗ nào cũng đầy thương tích. Hàng nghìn người cùng reo vui vang dội, khi ngọn lửa được châm lên… Một lúc sau, cái xác được kéo lên cao, để ai nấy đều có thể ngắm nhìn được, nên người ta vỗ tay như sấm dậy…” – Báo Crisis, tháng 7-1916.

Những người da trắng là nạn nhân của hành hình kiểu Linsơ

Chẳng cứ gì người da đen mà cả những người da trắng nào dám bênh vực người da đen cũng bị đối xử tàn nhẫn, như bà Hariét Bichơ Stao, tác giả cuốn “Cái lều của chú Tôm” chẳng hạn. Eligiát Lôvagiôi bị giết. Giôn Brao bị treo cổ, Tômát Bítsơ và Xtêphen Phôxtơ bị ngược đãi, bị đánh đập và bị bỏ tù. Trong nhà tù, Phôxtơ đã viết như sau: “Khi tôi nhìn tay chân tôi bị đánh nát nhừ, tôi nghĩ rằng, để giam giữ tôi, nhà tù sẽ chẳng còn cần thiết bao lâu nữa… 15 tháng vừa qua, nhà tù đã 4 lần mở cửa xàlim đón tôi, đồng bào tôi đã 24 lần lôi tôi ra khỏi nhà thờ của họ, họ đã hai lần ném tôi từ tầng gác thứ hai xuống, một lần đánh tôi đến sụn lưng, một lần khác họ định cùm kẹp tôi, hai lần họ phạt tiền tôi. Có lần, 1 vạn người định đưa tôi ra hành hình kiểu Linsơ, và tôi đã bị đánh bị thương 20 chỗ, ở đầu, cánh tay, cổ…”.

Trong 30 nǎm, đã có 708 người da trắng, trong đó có 11 phụ nữ, bị hành hình kiểu Linsơ, người thì vì đã tổ chức bãi công, người thì vì đã đồng tình với cuộc đấu tranh của người da đen.

Hành hình kiểu Linsơ thật đáng chiếm một vị trí vinh dự trong bộ sưu tập toàn bộ những tội ác của nền “vǎn minh” Mỹ.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 59, nǎm 1924.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Ngay sau khi Nguyễn ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : “Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ”. Nguyễn ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên. Tr. 1.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.

Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước. Tr.1.

Nơi lưu giữ những tư liệu, hình ảnh về Bác Hồ

Đến nay, Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam (được xây dựng trên khuôn viên của Bảo tàng Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định trước đây) đã hoàn thành giai đoạn I. Nằm giữa trung tâm Thành phố Nam Định, với diện tích rộng 1,2ha, Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam là nơi tái hiện lại lịch sử ngành Dệt may cả nước nói chung và ngành Dệt may Nam Định nói riêng trong hơn 1 thế kỷ qua. Ngoài việc trưng bày nhiều hiện vật, hình ảnh về lịch sử Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định từ thời Pháp thuộc như: Bức thư của những người công nhân gửi ông chủ khi bị đánh đập, chà đạp; chiếc máy dệt thời kỳ đó, tại đây, còn trưng bày những vũ khí đã được Trung đoàn tự vệ của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định dùng để chiến đấu với giặc Mỹ, bảo vệ nhà máy… Và hơn hết là những kỷ vật thiêng liêng của Bác Hồ qua những lần Bác về thăm cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định.

mot goc nhà may detMột góc Nhà truyền thống ngành Dệt may Việt Nam. Ảnh: Internet.

Tại khu vực trung tâm của Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam là nơi trưng bày các hình ảnh, kỷ vật về Bác và những tình cảm của công nhân ngành Dệt may với Bác Hồ, những di vật ghi lại lời căn dặn sâu sắc của Bác đối với tập thể cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định khi Người về thăm. Tiêu biểu là các hiện vật: Phòng nghỉ của Bác khi về thăm nhà máy năm 1957; những bức ảnh tư liệu quý về cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định vui mừng đón Bác về thăm nhà máy vào ngày 24-4-1957, Huy hiệu của Hồ Chủ tịch tặng công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định, Bác Hồ thăm phân xưởng dệt năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem các sản phẩm của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định năm 1957, Bác Hồ thăm nhà mẫu giáo dành cho con em cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định năm 1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem lá cờ Đảng của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định khi Người về thăm nhà máy năm 1963, Bức điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi anh chị em công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định ngày 28-12-1963… Bên cạnh đó, Bảo tàng còn lưu giữ nhiều hiện vật gắn liền với hình ảnh thân thương về Hồ Chủ tịch trong mỗi lần Bác về thăm tỉnh Nam Định: Đó là chiếc ghế đá nơi Bác Hồ đã ngồi nghỉ để nói chuyện với cán bộ, công nhân Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định; những văn bản ghi lại lời dạy của Hồ Chủ tịch đối với Đảng bộ, nhân dân tỉnh nhà nói chung, công nhân ngành Dệt may Nam Định nói riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Với quy mô và ý nghĩa to lớn, Bảo tàng ngành Dệt may Việt Nam đi vào hoạt động sẽ là một công trình văn hóa lưu giữ, trưng bày các hiện vật, hình ảnh giới thiệu với các tầng lớp nhân dân, bạn bè quốc tế về lịch sử của Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định nói riêng, của ngành Dệt may cả nước nói chung. Đặc biệt, những hình ảnh, tư liệu về Bác Hồ trong những lần về thăm Nhà máy liên hợp Dệt Nam Định là những tư liệu, hiện vật quý, góp phần giáo dục truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho giai cấp công nhân ngành Dệt may cả nước hôm nay và mai sau./.

Bài và ảnh: Việt Thắng
Theo baonamdinh.com.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Những ngày được gặp Bác ở An toàn khu

Đi theo hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vinh dự lớn nhất của cụ Nguyễn Quang Thuận, 86 tuổi, ở xã Đại Hợp, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng là những lần được về gặp Bác Hồ ở An toàn khu Định Hóa (Thái Nguyên), được Bác tặng quà, gắn Huy chương, chụp ảnh với Bác. Cụ Thuận kể:

Sáng sớm ngày 19-5-1954, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 367 Pháo cao xạ thông báo cụ và bốn chiến sĩ xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ về An toàn khu báo công và chúc mừng sinh nhật Bác. Nhận tin này, cụ vui mừng chạy đi khắp căn cứ Mường Phăng (Điện Biên) báo tin vui với đồng đội. Ngay sáng hôm ấy, cụ cùng Phạm Thế Nhuận, Đại đội trưởng đánh sân bay Mường Thanh; Hoàng Đăng Vinh, chiến sĩ bắt sống tướng Đờ-cát; Phạm Văn Phan, công binh đưa bộc phá vào giữa đồi A1 và Bạch Ngọc Giáp, chiến sĩ pháo mặt đất từ căn cứ Mường Phăng về An toàn khu.

Hồi đó, đường đi còn rất khó khăn, mọi người đến An toàn khu đã hơn 6 giờ chiều, được đồng chí Trường Chinh đón tại Nhà khách của Trung ương, dặn dò các chiến sĩ vài điều rồi dẫn mọi người đi ăn cơm. Khoảng 10 giờ 30 đêm ấy, vì đi đường mệt, cả năm anh em đang thiêm thiếp ngủ thì Bác đến. Mọi người choàng dậy đã thấy Bác ngồi bên giường. Ai cũng bất ngờ, bàng hoàng, xúc động. Bác ân cần hỏi chuyện mọi người và khuyên các chiến sĩ đi ngủ để giữ gìn sức khỏe. Từ lúc Bác ra khỏi phòng, mọi người không ai ngủ, cứ ngồi kể chuyện về Bác cho đến sáng. Hôm sau, Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo tin lát nữa mọi người sẽ được gặp Bác, báo cáo chiến công với Bác và Bộ Chính trị. Nghe vậy, ai cũng sung sướng, hồi hộp chờ đợi. Khoảng 9 giờ 30 phút, Bác đón mọi người ngay sân vườn, phía trước lán trại Bác ở và làm việc. Cùng đứng với Bác ở phía sau có Bác Tôn Đức Thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các đồng chí Trường Chinh, Văn Tiến Dũng và đồng chí Lê Liêm, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Bác tươi cười bắt tay hỏi chiến công từng người trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Bác hỏi cho vui chứ thực ra ai lập công như thế nào Bác đã biết.

Sau khi nghe mọi người kể về chiến công và chúc thọ Bác, Bác bảo năm chiến sĩ đứng thành hàng ngang để Bác gắn Huy chương Chiến công. Bác còn nhờ đồng chí Các-men (Liên Xô) chụp ảnh cho Bác, Bộ Chính trị và các chiến sĩ xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Chụp ảnh xong, Bác bảo các đồng chí trong Bộ Chính trị đưa các chiến sĩ thăm An toàn khu, xong lại về gặp Bác.

Những ngày sau đó, trở về đơn vị, ai cũng phấn khởi, kể lại chuyện cho đồng đội nghe về những ngày được sống bên Bác ở An toàn khu. Tạm dừng câu chuyện, cụ Thuận đứng dậy mở cánh tủ lấy ra một hộp gỗ nhỏ, trong đó đựng rất nhiều Huân chương, Huy chương và tấm ảnh đen trắng được ép bọc rất cẩn thận. Đó là ảnh cụ Thuận cùng bốn chiến sĩ chụp chung với Bác và Bộ Chính trị ở An toàn khu. Cụ coi đây là một kỉ vật mang theo suốt đời.

Tiếp nối câu chuyện, cụ Thuận bảo, đúng một tháng sau sinh nhật Bác, năm chiến sĩ lại được trở về gặp Bác ở An toàn khu. Lần này, Bác đãi cơm mọi người ở ngay trong khu lán của Người. Vừa ăn, Bác vừa hỏi chuyện và gắp thức ăn cho từng người. Sau bữa ăn, Bác bảo đồng chí Trường Chinh đưa năm chiến sĩ đi thăm vườn rau của Bác. Đồng chí Trường Chinh kể, đây là vườn rau do Bác tự trồng, hàng tháng, Bác góp cho nhà bếp 15 kg rau và mỗi bữa Bác vẫn dành một nắm gạo cho chiến sĩ ngoài mặt trận. Trước khi chia tay, Bác đưa cho mỗi người một gói quà gửi về đơn vị và chuyển lời thăm hỏi tới anh em cùng gia đình. Rời An toàn khu mà lòng cụ Thuận thấy ấm áp, tai vẫn văng vẳng lời Người dạy bảo. Tình cảm của Bác đã tạo cho cụ Thuận một sức mạnh, tiếp tục cuộc trường chinh chiến đấu cho đến ngày đất nước thống nhất.

Rời quân ngũ trở về quê hương, phát huy tinh thần người chiến sĩ xuất sắc trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa, cụ Thuận tiếp tục cống hiến công sức để xây dựng quê hương. Nhiều năm cụ là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc xã Đại Hợp, Hội trưởng Hội Bảo thọ, hoạt động tích cực trong Hội Cựu chiến binh và Hội Người cao tuổi…

Quốc Sĩ

Theo http://nguoicaotuoi.org.vn
Thu Hiền (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ với giai cấp công nhân

anh BH ve nha may det ND
Bác Hồ về thăm Nhà máy Dệt Nam Định

Trong sự nghiệp hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng đến giai cấp công nhân như là động lực mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tiến bộ. Do vậy, từ khi ra đi tìm đường cứu nước, Người đã nhận ra vai trò lịch sử to lớn của giai cấp công nhân, đó chính là lực lượng đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất, là giai cấp tiên phong trong công cuộc cách mạng làm thay đổi chế độ, giành độc lập và xây dựng đất nước.

Sau khi trở thành người cộng sản, trong nhiều việc lớn chuẩn bị cho dân tộc trên lộ trình cách mạng lâu dài, thì việc tìm kiếm những hình thức nhằm tập hợp, đoàn kết giai cấp công nhân Việt Nam hay đặt nền móng xây dựng những cơ sở đầu tiên cho tổ chức Công đoàn nước ta chiếm một phần không nhỏ trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.

Những ngày đầu chuẩn bị thành lập Đảng, Bác Hồ đã khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng của mình. Trong hoàn cảnh lịch sử nước ta thuở ấy là một nước thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế lạc hậu, chậm phát triển, lực lượng giai cấp công nhân còn nhỏ bé, song Bác vẫn khẳng định bản chất giai cấp của Đảng là bản chất của giai cấp công nhân thể hiện rõ tầm nhìn xa của một nhà tư tưởng lớn. Đây cũng là một trong những nguồn gốc sâu xa đưa đến những thắng lợi vẻ vang của Đảng ta trong công cuộc đấu tranh đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lấy độc lập tự do cho dân tộc. Và trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của mình, giai cấp công nhân Việt Nam được Bác và Đảng rèn luyện, giáo dục đã dần dần ý thức được trách nhiệm to lớn và nặng nề của mình đối với dân tộc và tự giác trở thành lực lượng lãnh đạo, nòng cốt trong khối liên minh công, nông và đội ngũ trí thức.

Từ những năm 1920, Bác Hồ đã rất chú ý đến chức năng bảo vệ quyền lợi cho người lao động, một chức năng quan trọng nhất của tổ chức Công đoàn. Từ những cơ sở Công hội đầu tiên trên đất Pháp, những hội tương tế mang nặng tính chất phường hội thị dân, từ những “đốm lửa” Công hội Đỏ đầu tiên của Tôn Đức Thắng ở Sài Gòn – Chợ Lớn đầu những năm 1920, cùng với sự xâm nhập của tư tưởng xã hội chủ nghĩa vào nước ta qua Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên; từ những năm 1926 phong trào công nhân phát triển như gió lốc, đặc biệt theo sáng kiến của Nguyễn Ái Quốc nêu ra ở Quảng Châu, những học trò ưu tú của Người như Nguyễn Đức Cảnh, Ngô Gia Tự đã phát động phong trào vô sản nổi tiếng, làm cho tổ chức Công hội ở Bắc và Trung Kỳ thực sự lan rộng, phát triển mạnh mẽ như nấm mọc sau cơn mưa rào. Đó cũng chính là bối cảnh để Đông Dương Cộng sản Đảng giao trọng trách cho đồng chí Nguyễn Đức Cảnh triệu tập Hội nghị thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ vào ngày 28/7/1929, tại số 15 Hàng Nón, Hà Nội – là tiền thân của tổ chức Công đoàn ngày nay. Đại hội còn quyết định ra Báo Lao động và Tạp chí Công hội Đỏ làm cơ quan ngôn luận của tổ chức mình.

Trong chuyến thăm và nói chuyện với cán bộ, giáo viên và học viên Trường Cán bộ Công đoàn vào ngày 19/01/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Công đoàn phải tuyên truyền đường lối, chính sách chung của Đảng, vì Đảng mình là Đảng của giai cấp vô sản. Đường lối chung là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Giai cấp mà không có Đảng lãnh đạo thì không làm cách mạng được, Đảng mà không có giai cấp công nhân cũng không làm được gì. Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc”.

Trong bài nói chuyện tại Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ II vào tháng 02 năm 1961, Bác Hồ khẳng định: “Phát minh, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật cũng là vấn đề quan trọng. Phải nhận rằng đại đa số công nhân ta đều cần cù, thông minh và có nhiều sáng kiến hay… Nếu Công đoàn biết khuyến khích, áp dụng, cải tiến và phổ biến rộng rãi những sáng kiến ấy thì năng suất lao động sẽ nâng cao không ngừng”. Người còn chỉ ra rằng: “Công đoàn phải có biện pháp thiết thực để nâng cao trình độ văn hóa và kỹ thuật của công nhân, phải tùy khả năng cộng với cố gắng mà nâng cao dần đời sống vật chất của họ; phải chú ý bảo vệ sức khỏe, bảo vệ an toàn lao động và tăng cường công tác vệ sinh…”.

Từ những lời dạy ấy, chúng ta nhận thấy rõ ràng, trách nhiệm của giai cấp công nhân ngày nay càng nặng nề hơn, những thành tựu về khoa học kỹ thuật đã giúp con người dần dần giải phóng sức lao động chân tay, phát huy hiệu quả của lao động trí óc, giai cấp công nhân, do vậy phải không ngừng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Tổ chức Công đoàn các cấp không ngừng đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, dấy lên nhiều phong trào thi đua lao động sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao góp phần làm giàu cho đất nước. Những thành quả về các ngành công nghiệp điện, khai thác dầu, chế biến nông lâm thủy hải sản, hàng tiêu dùng và công nghệ vi sinh, công nghệ thông tin… đã góp phần đóng góp không nhỏ của giai cấp công nhân. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò trách nhiệm của giai cấp công nhân.

Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách quan tâm thiết thực đến người lao động, nhất là đối với giai cấp công nhân như đã ban hành Luật và các văn bản dưới luật quy định về chế độ lao động, an toàn lao động, bảo hiểm xã hội… Đời sống của lực lượng công nhân không ngừng được cải thiện. Lực lượng công nhân của nước ta đã phát huy được tính cần cù, sáng tạo và thông minh, nhanh chóng tiếp thu được những tiến bộ của nhân loại khi tham gia các công trình lớn có sự chuyển giao khoa học công nghệ của các nước tiên tiến mang lại nhiều hy vọng và tự hào cho giai cấp mình, xứng đáng với sự quan tâm của Đảng và Bác Hồ.

Với bản chất cách mạng, sự kiên định, vững vàng về chính trị, giai cấp công nhân nước ta là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, là cơ sở chính trị – xã hội căn bản của Đảng, chỗ dựa vững chắc của Nhà nước, giữ vai trò nòng cốt trong khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đóng góp trực tiếp và to lớn vào sự phát triển chung của đất nước, góp phần tạo nên tầm vóc mới, thế và lực mới của đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế.

Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Đặng Ngọc Tùng đã nhận định: Trong những năm đổi mới, tổ chức và hoạt động của Công đoàn đã vận động, tập hợp ngày càng đông đảo công nhân, viên chức, lao động vào tổ chức Công đoàn, đi tiên phong trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, lao động; tích cực đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực, lãng phí, tham nhũng, các biểu hiện vi phạm pháp luật lao động. Các phong trào thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, “Sáng kiến, tiết kiệm”, “Phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn”… do Công đoàn phát động đạt nhiều hiệu quả cụ thể, thiết thực. Đặc biệt, tổ chức Công đoàn đã và đang triển khai thực hiện tốt các cuộc vận động do Mặt trận tổ quốc Việt Nam phát động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Ngày vì người nghèo”…

Có thể nói, tổ chức Công đoàn Việt Nam luôn kiên định: Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chủ tịch và quan điểm của Đảng, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến và đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn kết hữu cơ với xây dựng, phát huy sức mạnh của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, của tất cả các giai cấp, các tầng lớp xã hội trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời tăng cường quan hệ đoàn kết, hợp tác quốc tế với giai cấp công nhân trên toàn thế giới; chống lại mọi âm mưu chia rẽ tổ chức Công đoàn, chia rẽ giai cấp công nhân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nguyễn Thị Mỹ Phương
Theo
www.lđldct.org.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Công cuộc khai hoá giết người (1924)

Người da trắng khai hoá những người da đen như thế nào – Một vài sự việc mà những sách giáo khoa về lịch sử không nói đến.

Nếu lối hành hình theo kiểu Linsơ của những bọn người Mỹ hèn hạ đối với những người da đen là một hành động vô nhân đạo, thì tôi không còn biết gọi việc những người Âu nhân danh đi khai hoá mà giết hàng loạt những người dân châu Phi là cái gì nữa.

Từ ngày người da trắng đặt chân lên bờ biển lục địa của người da đen thì lục địa đó không lúc nào là không đẫm máu. ở đó, những cuộc tàn sát hàng loạt được Giáo hội cầu chúc phúc lành, được bọn vua chúa và nghị viện phê chuẩn một cách hợp pháp, được bọn buôn người da đen đủ mọi hạng – từ bọn buôn nô lệ xưa kia, cho đến bọn quan cai trị ngày nay ở thuộc địa – chǎm chú thi hành.

Tôn giáo

Chính là để gieo rắc những ơn lành của đạo Kitô, mà vào khoảng nǎm 1442, những tướng tá của đức vua Tây Ban Nha rất ngoan đạo đã đổ bộ lên bờ biển châu Phi. Việc truyền đạo của họ bắt đầu bằng những cuộc tàn sát. Theo lời những cuốn nhật ký hành trình của họ, thì: “… Và cuối cùng, Đức vua (là người vẫn hằng thưởng công huân những công cuộc làm rạng rỡ uy danh của Ngài), đã giúp cho những bầy tôi trung thành của Ngài chiến thắng được kẻ thù. Ngài đã ban danh vọng để đáp lại công lao của chúng ta, đã trả các khoản chi phí của chúng ta và nhờ Ngài chúng ta đã bắt được 165 người vừa đàn ông, đàn bà và trẻ con, chưa kể một số đông bị giết và bị thương”.

Những kẻ đi chinh phục(1) ngoan đạo đó đã tạo thành một thứ thói tục.

Trong bản kê những của cải tịch thu được của những người Giêduýt (2) Braxin, nǎm 1768 thì ngoài những cây thập tự cứu thế và những đồ thờ khác ra, còn có những con dấu bằng sắt dùng để đánh dấu lên mặt người nô lệ.

Trong một thời gian dài, các hội “truyền bá đạo Kitô” của người Anh đã lấy việc buôn nô lệ làm nguồn lợi cho việc thờ phụng truyền giáo của họ.

Ngày 12 tháng 2 nǎm 1835, giáo hội độc lập của Giáo khu Crít Sớcsơ (Nam Carôlin) đã đǎng báo quảng cáo rằng giáo hội sắp đem bán một món hàng từ 10 nô lệ đã quen việc trồng bông. Thật người ta có thể kể ra không biết bao nhiêu sự việc như thế.

Những giáo hội ở Bắc Mỹ đều là những kẻ thù kiên quyết nhất chống việc xoá bỏ chế độ nô lệ.

Bọn vua chúa

Từ Sáclơ Canh cho đến Lêôpôn đệ nhị, vua Bỉ, từ bà Nữ hoàng đức hạnh của nước Anh là Êlidabét cho đến Napôlêông, tất cả cái bọn người ngồi trên ngai vàng ấy đều buôn bán người da đen. Tất cả bọn vua chúa đi chiếm thuộc địa đều đã ký những hiệp ước và đã cho phép độc quyền kinh doanh thịt người da đen.

“Ngày 27-8-1701, Đức vua Tây Ban Nha rất ngoan đạo, và Đức

vua Pháp rất ngoan đạo đã cho Công ty hoàng gia ở Ghinê được độc quyền trong 10 nǎm chở những người da đen trong các thuộc địa châu Mỹ… để nhân đó mà cả bọn vua tôi đều kiếm được những món lợi lớn…”.

“Đức vua Anh nhận trách nhiệm đưa vào đất Mỹ thuộc Tây Ban Nha 144.000 người da đen, cả nam lẫn nữ, đủ các lứa tuổi, với giá tiền mỗi đầu người là 33 đồng êquy và 1/3 đồng…”.

Bọn buôn người da đen

Nǎm 1824, một chiếc tàu buôn người da đen vừa lấy những người da đen từ bờ biển châu Phi để đưa đi Ǎngtiơ, thì bị một tuần dương hạm đuổi theo. Trong khi đuổi theo, người ta thấy có nhiều chiếc thùng trôi lềnh bềnh gần tuần dương hạm. Người ta tưởng rằng chiếc tàu buôn người da đen đã vứt bỏ những thùng nước xuống cho nhẹ bớt để dễ chạy trốn. Nhưng khi đã cặp sát được chiếc tàu rồi, thì người ta nghe thấy tiếng rên rỉ trong một chiếc thùng để trên boong tàu: mở ra thấy hai người đàn bà da đen gần bị chết ngạt. Té ra chiếc tàu buôn người da đen đã nghĩ được cách đó để cho nhẹ bớt tàu.

Một chiếc tàu Anh cứu được một chiếc tàu buôn người da đen bị đắm. Người ta cứu cả những người da đen lẫn thuỷ thủ trên tàu. Nhưng đến khi thấy thiếu lương thực, người ta liền quyết định hy sinh những người da đen. Người ta bắt họ sắp hàng trên boong tàu, rồi dùng hai khẩu súng lớn bắn họ một cách không thương xót gì cả.

Tình cảnh những người nô lệ

Những người da đen bị bắt đều bị buộc cổ, buộc tay, buộc chân với nhau, thành từng đôi một. Rồi người ta lại dùng một cái xích dài buộc thành từng chuỗi 20 hay 30 người một. Trói như thế rồi, người ta dong họ ra tận bến tàu. Người ta nhét họ chồng chất vào trong hầm tàu chật chội, tối om và nghẹt thở. Để “bảo đảm vệ sinh”, người ta dùng roi quật họ tới tấp như mưa để bắt họ phải nhảy nháo lên mỗi ngày vài lần. Để hòng được rộng chỗ, thường thường là, đàn ông bóp cổ lẫn nhau, và đàn bà thì dùng đinh đâm thủng trán những chị bên cạnh. Những người ốm bị coi là hàng hoá đã hư hỏng không bán được, bị quẳng xuống biển. Khi biển động, người ta ném người da đen xuống biển để cho nhẹ tàu. Nói chung khi tàu cặp bến thì một phần tư chuyến hàng da đen đã chết gục vì bệnh truyền nhiễm hay chết ngạt. Những người nô lệ còn sống sót bị đem đóng dấu và đánh số bằng sắt nung đỏ như súc vật vậy, người ta đếm họ bằng tấn, bằng “kiện” chứ không phải bằng đầu người. Thí dụ như Công ty Bồ Đào Nha ở Ghinê, nǎm 1700 đã ký một hợp đồng là sẽ cung cấp 11.000 “tấn” người da đen.

Hơn 15 triệu người da đen đã bị chở sang Mỹ trong những điều kiện như vậy, độ 3 triệu đã chết dọc đường hay bị ném xuống biển. Còn những kẻ vì chống cự hay nổi loạn mà bị giết thì không kể… Lối buôn bán nhơ nhuốc đó chấm dứt vào khoảng nǎm 1850 để nhường chỗ cho một hình thức nô lệ khác phổ biến hơn là: chế độ thực dân.

Chế độ thực dân

Những hiện tượng tàn khốc mà chúng tôi sắp kể ra đây, nếu không phải là đã được chứng minh bằng những tài liệu không thể chối cãi được, nếu không phải chính những người Âu kể lại, thì người ta khó mà tin được.

Một nhà buôn Pháp ở Mađagátxca thấy trong két bạc của hắn bị mất trộm, đã dùng điện tra tấn nhiều người bản xứ làm cho hắn mà hắn ngờ là đã lấy trộm. Sau đó ít lâu, người ta phát hiện ra rằng chính con hắn đã lấy.

Một viên quan cai trị thuộc địa đã bắt một chị người da đen đội một hòn đá lớn đứng suốt ngày ngoài nắng chang chang. Rồi hắn sai đem trói chị lại và sai đổ cao su nóng bỏng vào bộ phận sinh dục của chị.

Một tên thực dân nọ nổi giận vì không thể bắt hai người đầy tớ bản xứ của hắn làm công không, đã đem trói hai người đó vào cọc, giội dầu hoả lên và thiêu sống.

Những tên thực dân khác đem nhét mìn vào mồm hay hậu môn những người da đen và đốt cho nổ.

Một viên chức kia khoe là một mình hắn đã giết 150 người bản xứ, chặt 60 bàn tay, đóng trên cây thập tự rất nhiều đàn bà và trẻ con, và treo rất nhiều xác người đã bị vằm lên tường các làng mà hắn được trao cho cai trị. Một công ty khai khẩn đồn điền nọ đã làm chết 4.500 người lao động bản xứ tại riêng một đồn điền của nó.

Trường hợp ngoại lệ, cá biệt ư? Không phải. Đó là tục lệ của họ. Nhưng chúng ta hãy kể một vài tội ác giết người hàng loạt mà người ta không thể đổ tại bản tính dã man của một vài cá nhân nào cả, nhưng là những tội ác mà toàn bộ chế độ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử.

Một nhà vǎn Pháp kể lại: “Trong xứ Angiêri của chúng ta ở sát bãi sa mạc, tôi đã thấy như sau: Một hôm, binh lính bắt những người Arập chẳng mắc tội tình gì ngoài cái tội đã trốn tránh sự tàn bạo của những kẻ đã chinh phục họ. Viên quan nǎm ra lệnh đem giết ngay không cần điều tra, xét xử gì cả. Và đây là điều đã xảy ra… Họ bị bắt tất cả là 30 người. Người ta đào 30 hố ở bãi cát rồi đem chôn họ xuống đến cổ, trần truồng, đầu cạo trọc, dưới trời nắng giữa trưa. Để giữ cho họ không chết ngay, thỉnh thoảng người ta lại đem nước tưới như tưới cải bắp… Nửa giờ sau, mi mắt họ sưng húp lên, con mắt lòi ra. Lưỡi sưng vù lên đầy cả cái miệng mở há hốc trông thật khủng khiếp… rồi da nứt ra, trán thì vàng lên như thịt lợn quay…”.

Một bộ tộc ở Bǎngghi không thể cung cấp được đủ số cao su cho đồn điền. Đồn điền này muốn buộc họ phải nộp cho đủ số thiếu, liền bắt 58 phụ nữ và 10 trẻ em giữ làm con tin. Những con tin này bị nhốt vào chỗ thiếu không khí, thiếu ánh sáng, thiếu ǎn và ngay cả nước uống cũng thiếu nữa. Thỉnh thoảng người ta lại đến đánh đập họ. Theo bọn thực dân nói thì tiếng kêu la của họ dùng để thôi thúc công việc. Sau ba tuần chịu đau đớn khốc liệt, 58 phụ nữ và 2 trẻ em chết.

Nǎm đó hạn hán. Mùa màng mất cả. Toàn vùng đó ở châu Phi bị khốn khổ. Người ta phải ǎn cỏ và rễ cây. Các cụ già chết vì đói lả. Thế mà chính phủ khai hoá vẫn cứ bắt phải nộp thuế. Những người dân đang bị hạn hán bỏ lại cho chính phủ ruộng đất, vườn tược, nhà cửa và trốn vào núi. Viên quan cai trị đưa chó sǎn và lính vào truy nã và tìm thấy họ trong một cái hang. Người ta bèn hun cho họ chết.

Nǎm 1895, người Anh đã tàn sát 3.000 người Matabêlê (1) nổi loạn đã ra đầu hàng họ.

Từ 1901 đến 1906, người Đức ít ra cũng đã tàn sát đến 15.000 dân Hererô ở Tây Phi.

Nǎm 1911, người ý, trong có 3 ngày mà đã biến ngoại ô Masiya thành lò sát sinh, 4.000 người bản xứ bị giết ở đó.

Những cuộc tàn sát đại quy mô đó được nêu lên thành nguyên tắc chính trị. Đó là chính sách giết sạch. Một chính phủ ở Cáp đã tuyên bố: “Nếu người bản xứ mà đi vào con đường không tuân lệnh và nổi loạn, thì họ sẽ bị thẳng tay quét sạch khỏi nước họ, và sẽ có những dân tộc khác đến thay thế họ”.

Ngày nay, 10 nǎm sau cuộc chiến tranh đòi “quyền dân tộc tự quyết”, thì người Tây Ban Nha và người Pháp vẫn tiếp tục cuộc xâm chiếm đẫm máu nước Marốc, dưới con mắt bao che của những kẻ tai to mặt lớn ở Hội quốc liên (54)

Lịch sử việc người Âu xâm chiếm châu Phi – cũng như bất cứ lịch sử xâm chiếm thuộc địa nào – thì từ đầu đến cuối đều được viết bằng máu những người bản xứ.

Sau những cuộc tàn sát thẳng tay thì chính những chế độ lao

dịch, khuân vác, lao động khổ sai, rượu cồn, bệnh giang mai tiếp tục hoàn thành công cuộc tàn phá của sự nghiệp khai hoá. Kết quả tất nhiên của chế độ ghê tởm đó là sự tiêu diệt giống da đen.

Kể ra thì thêm vào những sự việc đó một vài con số, cũng tốt, nhưng cũng thật là đau đớn. Người ta sẽ thấy rằng một vài tên thực dân giàu có lên nhanh chóng thì cũng đúng vào lúc dân số những miền bị bóc lột giảm bớt đi không phải là không nhanh chóng. Từ 1783 đến 1793, Công ty Livécpôn đã kiếm được chừng 1.117.700 bảng bằng cách buôn bán nô lệ. Cũng trong thời gian đó, dân số trong vùng công ty đó đặt chân đến, đã mất đi 304.000 người. Trong 9 nǎm, vua Lêôpôn Đệ nhị đã bóc lột xứ Cônggô được 3.179.120 bảng.

Nǎm 1908, dân số xứ Cônggô thuộc Bỉ là 20 triệu, đến nǎm 1911, chỉ còn có 8.500.000 thôi. Trong xứ Cônggô thuộc Pháp, những bộ tộc gồm có 40.000 người mà trong 2 nǎm chỉ còn lại có 20.000 người, nhiều bộ tộc khác không còn lấy một người.

Nǎm 1904, dân số Hôtentô là 20.000 người, chỉ trong 7 nǎm bị đô hộ, còn lại có 9.700 người.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 69, nǎm 1924.
cpv.org.vn

——————————–

(1) Ngay sau khi Nguyễn ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : “Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ”. Nguyễn ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên. Tr. 1.

(2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp.

Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước. Tr.1.

54. Hội quốc liên: Tổ chức quốc tế, thành lập năm 1919 và tồn tại trong thời gian giữa Chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, với mục đích thực hiện những cam kết ký tại Hội nghị Hòa bình Pari (1919). Điều lệ của Hội nêu rõ mục đích đấu tranh cho hoà bình, chống chiến tranh. Tuy nhiên, trong thực tế, Hội quốc liên đã dung túng cho các thế lực đế quốc, cổ vũ chạy đua vũ trang và chuẩn bị chiến tranh thế giới. Tr.326.

Các nước đế quốc chủ nghĩa và Trung Quốc (24-9-1924) ‘1’

Những sự biến ở Trung Quốc có hai mặt: sự xung đột giữa các tướng lĩnh Trung Quốc và sự can thiệp của các cường quốc bên ngoài. Chính mặt sau này làm cho chúng ta quan tâm hơn cả, vì nó quyết định cuộc chiến tranh nồi da nấu thịt có thể đưa lại những hậu quả nghiêm trọng nhất.

Hãy thử tóm tắt lịch trình những cuộc can thiệp của nước ngoài trong quá khứ để tìm ra nguyên nhân thực tế, lý do chính của sự can thiệp hiện tại.

Một số ngày tháng

1635, vua Anh gửi thư yêu cầu cho phép buôn bán ở Trung Quốc.

1830, đại sứ Anh yêu cầu cho phép nhập khẩu thuốc phiện vào Trung Quốc. Yêu cầu bị Trung Quốc bác bỏ.

1836, người Anh nhập khẩu 20.280 hòm thuốc phiện lậu vào Trung Quốc.

1839, nước Anh tuyên chiến với Trung Quốc để bắt buộc nước này phải nhận thuốc phiện.

1841, Hương Cảng bị chiếm đoạt, Trung Quốc phải bồi thường 21.000.000 đồng đôla chiến phí, trong đó 6.000.000 đồng là đền vào giá trị số thuốc phiện bị phá huỷ.

1856, nước Anh gây ra một cuộc chiến tranh mới để buộc Trung Quốc phải hợp pháp hoá việc bán thuốc phiện và mở cửa biển cho nước ngoài vào buôn bán.

1860, quân đội Anh – Pháp chiếm Bắc Kinh. Nhượng bộ: Anh – Pháp được chiếm đóng đảo Víchtôria. Bồi thường: 800 triệu lượng (1) cho Pháp và 10 triệu bảng cho Anh.

1874, Nhật Bản tấn công Trung Quốc. Nhượng bộ: bãi bỏ chủ quyền của Trung Quốc ở Đài Loan, và đảo này thành thuộc địa của Nhật. Bồi thường: 50 triệu lượng.

1876, chiến tranh với Nga. Nhượng bộ: lãnh thổ bị chiếm đóng. Bồi thường: 900 triệu rúp.

1878, lại xung đột với Anh. Nhượng bộ: thừa nhận trị ngoại pháp quyền. Bồi thường: 20 triệu lượng.

1885, Pháp tấn công. Nhượng bộ: bãi bỏ chủ quyền Trung Quốc ở An Nam , nước này bị Pháp chiếm làm thuộc địa.

1895, Nhật tấn công. Nhượng bộ: Trung Quốc hết chủ quyền ở Triều Tiên. Nước này bị Nhật chiếm làm thuộc địa. Bồi thường: 20 triệu lượng.

1895, Nga, Pháp và Đức cùng tấn công. Nhượng bộ: thừa nhận quyền xây dựng đường sắt. Bồi thường: 3 tỷ lượng.

1897, Đức xâm lược. Kiều Châu bị chiếm đóng, phải thừa nhận quyền khai thác hầm mỏ.

1897, Nga xâm lược. Cửa Lữ Thuận bị chiếm.

1897, Anh xâm lược. Hải Xâm Uy bị chiếm đóng.

1898, Pháp xâm lược. Thừa nhận quyền thiết lập đường điện tín ở Hoa Nam.

1900, Can thiệp vũ trang của Anh, Nga, Đức, Pháp, Mỹ, ý, áo và Nhật (Cuộc khởi nghĩa của Nghĩa hoà đoàn (52) ). Quân

đội nước ngoài đóng ở Bắc Kinh và ở các cửa biển quan trọng. Bồi thường: 450 triệu lượng.

Từ khi nổ ra cuộc chiến tranh thế giới, bọn đế quốc chủ nghĩa thay thế việc ǎn cướp công khai và vũ trang bằng việc ǎn cướp che đậy và ngoại giao. Chúng thông qua những cuộc hội nghị, lặng lẽ cướp bóc Trung Quốc đang ở trong tình trạng chia rẽ và bị bó tay trước bọn chúng.

1919, Hiệp ước Vécxây chuyển giao tất cả những tô giới của Đức ở Trung Quốc cho Nhật, mặc dầu chính Trung Quốc cũng là một nước đồng minh.

1922, Hội nghị Oasinhtơn thông qua việc các nước Anh, Pháp, Mỹ và Nhật nắm lấy các khoản thu nhập ở Trung Quốc và nắm các độc quyền về rượu, muối, v.v..

1923, Thông điệp của các đại sứ đòi cho Pháp, Anh, Mỹ, Nhật, và Bỉ quyền quản lý các đường sắt Trung Quốc. Tháng 9 nǎm 1924, hạm đội của các cường quốc nói trên thao diễn trước Quảng Châu.

TìNH HìNH TRUNG QUốC

Chúng ta đã thấy rằng, dưới nhiều lý do khác nhau và bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, các nước tư bản chủ nghĩa can thiệp vào Trung Quốc trước sau cũng vẫn chỉ nhằm đi tới một kết quả là bắt nhượng đất và lấy tiền bồi thường.

Bây giờ hãy nhìn qua tình hình kinh tế và tài chính của cái nước lớn ấy, nước có một nền vǎn minh lâu đời và hiện đang là đối tượng dòm ngó của bọn chúng.

Từ nǎm 1895, Trung Quốc đã ký kết 16 hiệp ước vay mượn, mà tổng số lên đến:

902.000.000 phrǎng,

61.500.000 bảng Anh,

64.368.000 đôla,

115.000.000 yên,

1.763.000 cuaron Hà Lan.

Thuế quan, thuế chợ, tiền thu về đường sắt, lợi tức về công nghiệp, thuế rượu và thuế thuốc lá, tiền thu về bưu điện và ngân khố quốc gia, thuế muối, v.v. đều phải đem ra bảo đảm cho cái khoản vay mượn ấy.

Nhìn vào bản đồ Trung Quốc, ta thấy rằng hầu hết các hải cảng quan trọng, hầu hết các vị trí chiến lược, hầu hết các trung tâm sản xuất hiện đại đều bị nước ngoài chiếm đóng. Song bản đồ vẫn chưa nói được hết. Bản đồ vẫn chưa chỉ rõ được ảnh hưởng của tư bản nước ngoài lan rộng tới đâu, cũng chưa chỉ rõ được tầm đại bác của bọn đánh thuê của nước ngoài có thể bắn tới tận đâu.

Việc biến Trung Quốc Thành thuộc địa

Mặc dầu Trung Quốc rất suy nhược, mặc dầu nội bộ Trung Quốc bị chia rẽ, nhưng dẫu sao con số 11.139.000 km (2) của nó cũng vẫn là một miếng mồi quá to mà cái mõm của chủ nghĩa đế quốc thực dân không thể nuốt trôi ngay một cái được. Và không thể trong một ngày mà đẩy một cách tàn bạo 489.500.000 người Trung Quốc vào xiềng xích của chế độ nô lệ thuộc địa. Cho nên người ta cắt vụn Trung Quốc ra: cách này chậm hơn nhưng khôn hơn.

Một nguyên nhân khác làm chậm việc biến Trung Quốc thành một thuộc địa có tính chất quốc tế là sự tranh giành giữa các nước đế quốc chủ nghĩa.

Nước Pháp đã chiếm được Đông Dương, muốn xâm lược miền Nam Trung Quốc. Việc xây dựng tốn kém con đường sắt Bắc Kỳ – Vân Nam phủ là một bằng chứng về điều đó.

Nước Anh hiện chiếm được Hương Cảng, ít nhất lúc này cũng tạm vui lòng với lối nô dịch kinh tế, nó đã kiểm soát được hầu hết tất cả các nguồn sản xuất; vậy thì ích gì mà phải lúng túng về việc đóng quân trên một lãnh thổ vô cùng rộng lớn nữa? Nhưng không đời nào Anh lại chịu để cho Pháp trở thành một cường quốc thực dân thật sự ở châu á. Và bởi vì ấn Độ đã thức tỉnh đang bắt đầu gạt bỏ ách áp bức kinh tế của nước Anh, cho nên bọn hám lợi nước Anh phải tìm cách vớt bù lại ở Trung Quốc. Nước Nhật quá đông dân vẫn lǎm le chiếm lấy vài tỉnh của Trung Quốc, nhưng khi nào Mỹ lại chịu để như thế, vì nó sẽ là một mối nguy cho Mỹ. Đối với Mỹ, Trung Quốc là một thị trường và có thể là một đồng minh trong một cuộc xung đột với Nhật Bản.

Ý nghĩa của một cuộc can thiệp hiện nay

Trong một cuộc can thiệp hiện nay, bọn đế quốc nhằm hai mục đích. Trước hết, giành thêm những nhượng bộ mới, sau nữa – và tôi cho rằng đây là điều chủ yếu – lật đổ Tôn Dật Tiên. Chúng ta biết rằng các chính phủ lên thay nhau ở Bắc Kinh luôn luôn vẫn thực hiện có một chính sách là: bên trong thì chính sách hủ bại, bên ngoài thì khuất phục trước bọn đế quốc chủ nghĩa nước ngoài.

Trái lại, Tôn Dật Tiên, “người cha của cách mạng Trung Quốc”, người đứng đầu chính phủ Quảng Châu, thì luôn luôn trung thành với những nguyên lý của mình, ngay cả trong những lúc khó khǎn nhất. Cương lĩnh của đảng ông – Quốc dân đảng – là một cương lĩnh cải cách. Cương lĩnh đó gồm những điều khoản chống đế quốc và chống quân phiệt một cách rõ rệt. Đảng đó lớn tiếng tuyên bố đoàn kết với các dân tộc bị áp bức ở các nước thuộc địa và với giai cấp vô sản quốc tế. Đảng đó đồng tình với Cách mạng Nga: Thật là một tội lỗi không thể tha thứ được! Chủ nghĩa đế quốc Pháp, kẻ áp bức nhân dân Đông Dương, đang lo ngại về ông bạn láng giềng khó chịu ấy, vì những tư tưởng phá hoại của ông láng giềng cũng có thể xuyên qua biên giới và thâm nhập vào những người nô lệ An Nam của họ. Trung Quốc có biên giới chung với ấn Độ và Triều Tiên. Một nước Trung Hoa thống nhất, tự do và hùng mạnh sẽ là màn giáo đầu của một nước Triều Tiên độc lập và một nước ấn Độ giải phóng. Đế quốc Anh và đế quốc Nhật không thể không lo ngại về điều đó. Nguy cơ tuy còn xa, nhưng suy theo tính chất rộng lớn ấy, thì cũng đã là một mối nguy cơ thực tế rồi.

Chính vì thế mà ngày nay người ta đang tìm cách thanh toán Tôn Dật Tiên và đảng của ông, cũng như trước đây người ta đã tìm cách bóp chết nước Nga cách mạng vậy.

Những khả năng của một cuộc can thiệp vũ trang

Các cường quốc đế quốc chủ nghĩa theo nhau gửi tối hậu thư. Người ta huy động các hạm đội trên mặt biển Trung Quốc. Người ta tập trung tàu chiến vào cửa bể Thượng Hải và cửa sông Dương Tử. Có lẽ sẽ có một cuộc can thiệp trực tiếp chǎng? Điều đó không chắc chắn lắm. Trong cái âm mưu mới chống lại nhân dân Trung Quốc này, Anh nắm vai trò lãnh đạo. Mácđônan sẽ không dám liều lĩnh tiến hành một cuộc can thiệp ra mặt. Ông ta đành chỉ sẽ ra sức giúp cho những kẻ thù của Tôn Dật Tiên, và cái sách lược cổ truyền của chính sách nước Anh lại được tiếp tục thực hiện chờ đợi tình trạng đục nước béo cò.

Những hậu quả của việc can thiệp

Chủ nghĩa tư bản quốc tế đang điên cuồng tích luỹ. Kế hoạch của các nhà chuyên môn đang tổ chức việc nô dịch công nhân nước Đức. Ngoại giao đầy tính chất can thiệp – ngoại giao của các tuần dương hạm, như Tôn Dật Tiên nói – đang chuẩn bị nô dịch những người lao động da vàng. Việc nô dịch hoàn toàn giai cấp vô sản Đức chắc chắn sẽ dẫn tới việc nô dịch giai cấp vô sản châu Mỹ và châu Âu. Kế hoạch Đaoxơ (53) là một sự tấn công trực tiếp vào giai cấp công nhân. Việc biến Trung Quốc thành thuộc địa sẽ khiến cho chủ nghĩa tư bản kiếm được nhân công hết sức rẻ mạt, sẽ hạ thấp tiền lương ở châu Âu và châu Mỹ, sẽ củng cố thế lực tư bản. Việc can thiệp vào Trung Quốc là một cuộc tấn công trực tiếp vào giai cấp công nhân.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 67, ngày 24-9-1924.
cpv.org.vn

——————————

1) Ngay sau khi Nguyễn Ái Quốc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới trưởng đoàn các nước dự Hội nghị Vécxây, bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ Courrier Colonial ra ngày 27-6 có một bài nhan đề Giờ phút nghiêm trọng chỉ trích bản yêu sách : “Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân dân để công kích Chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được, phải kìm giữ chúng mãi mãi trong vòng nô lệ”. Nguyễn ái Quốc viết bài này là để trả lời bài báo sặc mùi thực dân trên. Tr. 1.

2) Bản Yêu sách của nhân dân An Nam: Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp). Hội nghị này (còn gọi là Hội nghị hoà bình Pari) nhằm xác định sự thất bại của Đức và các nước đồng minh của Đức, chia lại thị trường thế giới cho các nước đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp. Nhân danh nhóm người yêu nước Việt Nam, Nguyễn ái Quốc đã gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam. Nguyễn ái Quốc còn thuê in thành truyền đơn, đăng trên các báo, gửi đến các nhà hoạt động chính trị có tên tuổi, phân phát trong các buổi hội họp, mít tinh, gửi cho Việt kiều ở Pháp và gửi về nước

53) Kế hoạch Đaoxơ: Kế hoạch bắt nước Đức bồi thường chiến tranh cho các nước Đồng minh thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Kế hoạch này do Đaoxơ, giám đốc một ngân hàng lớn của Mỹ, lãnh đạo việc soạn thảo và được thông qua tại Hội nghị đại biểu các nước thắng trận họp ở Luân Đôn năm 1924. Mục đích chủ yếu của kế hoạch này là dọn đường cho tư bản nước ngoài, trước hết là Mỹ, đầu tư vào nước Đức, đẩy mạnh việc khôi phục tiềm lực công nghiệp quân sự của chủ nghĩa đế quốc Đức nhằm hướng nước Đức vào con đường chiến tranh chống Liên Xô, đồng thời tăng cường chính sách bóc lột, áp bức và đàn áp phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân nước Đức.

Đảng Ku Klux Klan 1924

Nguồn gốc – ý kiến của nguyên lão nghị viện Sécman (1871). – “Theo lối Mỹ 100 phần trǎm”.- “Hoàng đế” Ximmôn. – Những vụ hành hình theo kiểu Linsơ hồi 1919. – Tại sao, đảng K.K.K phải tiêu diệt.

Nguồn gốc đảng Ku Klux Klan là ở miền Nam nước Mỹ.

Tháng 5-1866, sau chiến tranh Nam – Bắc, một số thanh niên tụ tập nhau tại một địa phương nhỏ ở xứ Tennétxơ để tổ chức một câu lạc bộ. Để giết thời giờ, thế thôi. Người ta đặt tên cho tổ chức đó là Kuklos, một tiếng Hy Lạp nghĩa là câu lạc bộ. Muốn cho tiếng đó có vẻ Mỹ, người ta bèn đổi thành Ku Klux. Và cho độc đáo hơn, thành Ku Klux Klan.

Sau những cuộc đổi thay trong xã hội, tinh thần quần chúng dĩ nhiên là bị nao núng. Họ trở nên khao khát những cảm giác mới, thích những cái gì thần bí. Đảng K.K.K, với những lối ǎn mặc lố lǎng, những nghi thức quái lạ, những sự bí ẩn bí mật, nhất định là phải khêu gợi được óc tò mò của những người miền Nam nước Mỹ và được quần chúng rất ưa chuộng.

Ban đầu, đó chỉ là một nhóm những kẻ thích đua đòi mốt mới và những kẻ ǎn không ngồi rồi, chứ chẳng có mục đích chính trị, xã hội gì. Bọn láu cá đã nhận thấy đó là một lực lượng có thể lợi dụng để đạt những tham vọng chính trị của chúng.

Chính phủ liên bang thắng lợi vừa giải phóng những người da đen và làm cho họ trở thành những người công dân. Nông nghiệp miền Nam, thiếu nhân công người da đen, nên không có người làm. Bọn địa chủ cũ lâm vào nguy cơ phá sản. Giữa khi đó thì những đảng viên của Klan tuyên bố nguyên tắc quyền tối cao của giống người da trắng. Chống người da đen, đó là chính sách duy nhất của họ. Giai cấp tư sản nông thôn và chủ nô thấy ngay đảng Klan là một trợ thủ đắc lực, hầu như là một cứu tinh. Nó liền hết sức giúp đỡ đảng đó. Biện pháp hành động của đảng Klan đi từ doạ nạt đến ám sát. Chúng đã gây ra – trong 3 nǎm trời – cơ man nào là tội ác và thảm hoạ đến nỗi nhiều người vẫn ủng hộ chúng, cũng phải khủng khiếp mà xa lìa chúng.

Vào khoảng nǎm 1869, đảng Klan – trước áp lực của dư luận công chúng – đã bị “Hoàng đế” của nó giải tán. Đảng đó có một Hoàng đế, song ông ta chỉ có một uy quyền thuần tuý về danh nghĩa mà thôi. Những đảng Klan ở các địa phương tiếp tục tồn tại và gây ra những tội ác. Giáo sư Mếclin – người đã cung cấp cho chúng tôi những tài liệu này – nói rằng mỗi trang trong mười ba cuốn sách dầy cộp điều tra về những hành động của đảng Klan hồi 1871-1872, đều có ghi lại một vụ đánh đập người da đen hoặc người da trắng. Những việc tàn bạo đó, thường chỉ là do thói tàn bạo mà thôi. Đối với chúng, những hành động đó là một lối tiêu khiển thích thú.

Để biết rõ hơn, và phán đoán được đúng hơn về đảng Klan, thì không gì bằng là trích dẫn ngay bài diễn vǎn của nguyên lão nghị viện Sécman, ở Ôhaiô, đọc trước Thượng nghị viện hồi tháng 3-1871. Sécman hỏi: “Liệu có một nghị viên nào có thể nêu ra cho tôi biết- sau khi lục lại những tội ác trong tất cả các thời đại – một hội nào hoặc một bè đảng nào mà lại có những hành động và những ý định tàn khốc hơn, hung ác hơn đảng Ku Klux Klan không ? Đảng Ku Klux Klan là một hội kín: thành lập bằng cách tuyên thệ, đảng viên của nó đi ám sát, trộm cắp, cướp phá, hành hung, chửi bới, doạ nạt. Bọn chúng phạm những tội ác đó không phải là đối với những kẻ mạnh và kẻ giàu, mà là đối với những người nghèo, những người yếu đuối, những người hiền lành, những người không có khả nǎng tự vệ!”.

Tuy nhiên, đảng Klan cũng đã sống và “hoạt động” trong bốn chục nǎm trời một cách không vẻ vang gì cho lắm.

ĐẢNG KLAN MỚI

Tháng 10 nǎm 1915, trong tình hình mới của nước Mỹ, Uyliam Giôdép Ximmôn, “Hoàng đế” mới của đảng Klan, đã cùng với 34 người bạn phục hồi lại đảng K.K.K. Cương lĩnh của đảng đó là: theo lối Mỹ 100%, tức là chống Kitô giáo, chống người da vàng, chống công nhân, chống người da đen.

Cần chú ý là sau cuộc chiến tranh Nam – Bắc và việc giải phóng người da đen, đảng Ku Klux Klan cũ đã ra đời với mục đích cản bước đường hoạt động xã hội của những người được giải phóng. Trong cuộc chiến tranh thế giới, Mỹ tuyển mộ vào lục quân và thuỷ quân của mình hàng trǎm nghìn người da đen; người ta hứa với họ là sẽ thực hiện những cải cách về mặt xã hội và chính trị; sau khi đã cùng hy sinh như người da trắng, họ đã rụt rè yêu cầu được hưởng những quyền lợi như người da trắng. Tình hình đó cũng ngang như một phong trào “giải phóng lần thứ hai”. Thế là đảng Klan mới xuất hiện.

“Hoàng đế” Ximmôn cũng lại thành lập cái “vương quốc vô hình” ở miền Nam nước Mỹ – xứ sở của những tên chủ đồn điền lớn và những tên phản đối việc giải phóng nô lệ, quê hương của chế độ nô dịch và việc hành hình theo kiểu Linsơ, tổ quốc của đảng Klan cũ. Trả lời một người đến phỏng vấn, Uyliam Giôdép Ximmôn đã nói về những mục đích của mình như sau: “Chúng tôi thấy rõ rằng phải bảo đảm quyền tối cao của giống người da trắng, phải tước những quyền tự trị đã ban bố cho bọn da đen. ý trời muốn rằng giống người da trắng phải cao hơn; và lệnh trời đã định rằng người da đen sinh ra là để làm nô lệ”.

Ngay sau khi đảng Klan xuất hiện lại, thì chỉ riêng ở xứ Tếcdát, người ta đã đếm được hơn 80 vụ đánh đập, trong một nǎm, và 96 vụ hành hình theo kiểu Linsơ.

Đảng Klan đặc biệt thịnh hành ở Gioócgia, Mítxixipi, Tếcdát, Alabama và áccǎngdaxơ. Trong các xứ đó có nhiều nạn nhân bị hành hình theo kiểu Linsơ nhất.

Nǎm 1919, đảng Ku Klux Klan đã thiêu sống: 4 người da đen ở Gioócgia, 2 ở Mítxixipi, 1 ở Tếcdát.

Chúng đã hành hình: 22 người da đen ở Gioócgia, 12 ở Mítxixipi, 10 ở áccǎngdaxơ, 8 ở Alabama, 3 ở Tếcdát.

Chúng đã xông vào và phá huỷ các nhà tù để hành hình những người da đen bị giam ở đấy: 5 lần ở Gioócgia, 3 lần ở Alabama, 3 lần ở Mítxixipi, 3 lần ở Tếcdát, 2 lần ở áccǎngdaxơ.

Chúng đã hành hình: 12 phụ nữ ở Mítxixipi, 7 ở Alabama, 6 ở Tếcdát, 5 ở áccǎngdaxơ, 5 ở Gioócgia.

Chúng đã thiêu, treo cổ, dìm xuống nước cho chết hoặc bắn 9 cựu binh sĩ da đen.

Đảng Klan còn can phạm nhiều vụ hành hình theo kiểu Linsơ ở các xứ khác nữa, nhưng ở đây chúng tôi chỉ nêu những con số đã chắc chắn mà thôi.

SỰ SUY TÀN CỦA ĐẢNG KU KLUX KLAN

Đảng Klan nhất định phải bị tiêu diệt vì nhiều lẽ.

1. Trong chiến tranh, người da đen đã hiểu rằng họ là một lực lượng nếu họ đoàn kết lại; cho nên họ không để cho người khác tự do đánh đập, hoặc giết hại đồng bào của họ nữa. Họ chống lại mọi mưu toan hành hung của đảng Klan. Tháng 7-1919, ở Oasinhtơn, họ đã đương đầu với đảngKlan và đám đông cuồng loạn. Trong 4 ngày, cuộc chiến đấu sôi sục ở thủ đô. Tháng 8, họ đã đánh nhau trong 5 ngày với đảng Klan và đám đông ở Sicagô, 7 trung đoàn đã được huy động để lập lại trật tự. Tháng 9, chính phủ đã buộc phải gửi quân đội liên bang đến Omaha để chấm dứt một trận đánh nhau tương tự như thế. Tại các xứ khác, người da đen cũng đã tự vệ không kém phần cương quyết.

2. Cũng như đảng Klan trước kia, vì những hành động thái quá, nên đảng Klan mới đã vấp phải dư luận của công chúng đến nỗi những người ban đầu tán thành nó hoặc đi theo nó, nay cũng bắt đầu bỏ rơi nó. Những chuyện xô xát trong nội bộ, những việc quá xấu xa đồi tệ và những vụ gian lận về tài chính cuối cùng đã làm cho những người bàng quan nhất và dễ dãi nhất cũng phải đau lòng. Thượng nghị viện đã buộc phải truy tố đảng Klan.Ngay cả báo chí tư sản như tờ New York World, tờ Chicago Defender,v.v. cũng công kích chúng.

3. “Lối Mỹ 100 phần trǎm” và thái độ chống đối công nhân của chúng đã làm cho 20.000.000 giáo dân Mỹ, 3.000.000 người Do Thái, 20.000.000 ngoại kiều, 12.000.000 người da đen, tất cả những người Mỹ biết điều và toàn bộ giai cấp công nhân Mỹ, tập hợp lại phản đối chúng.

Tại Đại hội Liên hiệp người da đen vừa qua, người ta đã thông qua bản kiến nghị sau đây:

“Chúng tôi tuyên bố rằng đảng Ku Klux Klan là kẻ thù của loài người; chúng tôi tuyên bố quyết định đấu tranh với đảng đó đến cùng và kề vai sát cánh với tất cả những người lao động nước ngoài ở Mỹ cũng như với cả những người bị đảng đó hành hạ”.

Mặt khác, việc di cư của người da đen miền Nam nông nghiệp lên miền Bắc công nghiệp đã buộc những tên chủ đồn điền – bị nguy cơ phá sản vì thiếu nhân công – phải nới tay trong quan hệ đối xử với người lao động da đen, và do đó, ngày càng phải luôn luôn lên án những phương pháp và những sự bạo ngược của tay sai của chúng là đảng Klan.

4. Sau hết đảng Ku Klux Klan mang tất cả những cái xấu của các tổ chức bảo thủ, phản động, bí mật mà lại không có được những cái hay của các tổ chức đó. Đảng đó có tính chất thần bí của hội Phrǎng Maxonnơri, có những nghi thức kỳ dị của công giáo, có cái tàn bạo của chủ nghĩa phát xít, có tính chất bất hợp pháp của 568 hiệp hội khác nhau; nhưng nó chẳng có học thuyết, chẳng có cương lĩnh, sức sống và kỷ luật gì.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, Số 74, nǎm 1924
cpv.org.vn

Chủ nghĩa thực dân bị lên án (28-10-1924)

KINH NGHIỆM Ở CHÂU PHI XÍCH ĐẠO THUỘC PHÁP

Chế độ thực dân Pháp đã “thu được”… nhiều thất bại. Không phải chỉ có chúng tôi mới nhận thấy như thế. Nhân một cuộc thất bại đặc biệt thảm hại, tờ Le Temps, ngày 24 tháng 9 đã viết:

“Thật vậy, ai cũng biết rằng tình hình châu Phi xích đạo của chúng ta không phải là đúng như chúng ta đã hy vọng chút nào cả, khi mà… lá cờ của nước Pháp phấp phới trên những vùng rộng bao la mà chúng ta đã chiếm đoạt được chứ không phải là thu phục được cho nước Cộng hoà. Không phóng đại và cũng không cường điệu gì cả, ta có thể nói rằng… châu Phi xích đạo hiện nay đang ở vào tình trạng thật sự là tụt lùi. Việc khai thác miền đó thật là thô sơ, công cụ ở đó hình như không có gì cả. Hiện nay ngân sách thiếu hụt của miền đó chỉ thǎng bằng được là nhờ chính phủ trợ cấp. Cuối cùng – điều nghiêm trọng hơn – là dân cư miền đó mòn mỏi đi và chết dần, yếu tố dân số mà sự duy trì, sự cải thiện và tǎng lên là cơ sở cho mọi sự nghiệp, đang đi đến chỗ tiêu diệt”. (Do chúng tôi gạch dưới).

Và sau đó, tờ báo còn viết:

“Hơn nữa, chúng ta còn phạm nhiều sai lầm; nói dài dòng về những sai lầm này cũng vô ích, bây giờ không phải lúc ngồi hối tiếc một cách vô bổ về quá khứ, phải chuẩn bị cho một tương lai tốt đẹp hơn. Hành động của chúng ta ở châu Phi xích đạo đã bị tê liệt hay chệch hướng ngay từ đầu, vì những sai lầm về nguyên tắc… đến nay cũng vẫn còn tác hại một cách ghê gớm; ngoài ra, hoạt động của chúng ta còn mang hậu quả tai hại của những sai lầm về phương pháp cần phải gấp rút sửa chữa”.

Những sai lầm và khuyết điểm mà tờ Le Tempsthan phiền về những hậu quả tai hại mà không nêu ra những sự việc, là những sai lầm và những khuyết điểm nào? Đó là việc tước đoạt những người bản xứ, đó là việc bắt phu khuân vác, là chế độ lao dịch, đó là thuế khoá nặng nề, là việc tuyển mộ công chức và binh lính, là việc bắt con tin, là những sự tàn ác đối với nhân dân, đó là tất cả cái chế độ cướp bóc, giết chóc đáng ghê tởm đã làm cho thuộc địa này đi đến tình trạng thê thảm hiện nay.

Cách đây hơn 20 nǎm, ông Ôguyxtơ Sơvaliê, sau khi mô tả sự dã man của chế độ thực dân, tiên đoán như sau:

“Nếu người ta cứ tiếp tục làm như thế mãi, nếu người ta không ngừng việc đốt phá các làng mạc thì chẳng bao lâu… hai bờ sông Cônggô cũng như những vùng Ubanghi và Xanga sẽ hoàn toàn không cònmột bóng người… Nếu chính sách ấy cứ tiếp tục như thế mãi thì sau đây nửa thế kỷ, tất những giống người cần cù đó sẽ tiêu diệt hết (Morel)”.

Những cuộc tranh cãi trong nghị viện nǎm 1906 đã để lộ ra rằng một tờ thông tri của một công ty khai khẩn đồn điền đã viết: “Không được quên rằng các nhân viên của chúng ta phải đóng vai trò như là những tên kẻ cướp”. Và một viên toàn quyền đã viết cho các công chức dưới quyền y như sau: “Tôi không giấu các ông rằng, khi đề nghị thǎng thưởng, tôi đặc biệt cǎn cứ vào số thuế thu được của người bản xứ, điều mà các ông phải luôn luôn chú ý”.

Những dòng sau đây trích trong một quyển sổ chứng tỏ rằng những lệnh đó đã được chấp hành từng ly từng tý:

“Hành quân cànquét làng Côlôvô.

Càn quét dân Phǎng vùng thượng Cunô: đốt làng, phá vườn trại.

Càn qnét dân Bêcami: lại đốt làng, phá huỷ 3.000cây chuối (thức ǎn dự trữ duy nhất).

Càn quét làng Cuya: đốt làng, phá trụivườn trại.

Càn quét Ancoong: ném bom xuống làng, rồi phá trụi vườn trại.

Càn quét dân Examphami: phá sạch làng mạc.

Vùng Bôma đốt phá và giết người.

Hợp pháp hoá việc cướp bóc, tiêu diệt có hệ thống dân cư, phá trụi một cách có tổ chức những làng mạc, phương pháp là như thế đó.

Mười sáu nǎm sau, những hành động bỉ ổi như thế lại được người ta nêu ra trước nghị viện Pháp.

Tháng 12 nǎm 1921, nghị sĩ da đen Boanớp đã nói trong một bài diễn vǎn cảm động như sau:

“Dân số bị lụi đi vì bệnh tật, và nhất là vì chế độ mà họ phải chịu đựng từ khi bị chiếm đóng… Chế độ bắt phu khuân vác, sự bóc lột nặng nề của các công ty khai khẩn đồn điền đã giết những người bản xứ…”.

Ngày 22 tháng 10 nǎm 1921, quyền Bộ trưởng thuộc địa đã ra một sắc lệnh quy định rằng một công nhân bản xứ đã được trả công để làm một công việc nào đó mà không làm tròn thì có thể bị bắt giam và truy tố về tội lừa đảo.

Ông Anbe Xarô – Bộ trưởng Bộ thuộc địa – đã phải thú nhận rằng dân cư khốn khổ của thuộc địa đã sắp diệt vong. Ông đã ra sức gán cho tình trạng dân cư bị diệt vong dần đi đó, là do thiếu vệ sinh, và ông viết:

“Việc sǎn sóc vụng vềvà bẩn thỉu đối với phụ nữ khi sinh nở… làm cho họ không sinh đẻ nữa; còntrẻ con lúc sơ sinh không được chǎm nom chu đáo nên đã chết nhiều… Trong số dân cư bản xứ đã bị bệnh ngủ làm cho chết mòn dần đi, thì bệnh cúm lại còn sát hại thêm hàng vạn người nữa”.

Để sửa chữa tình trạng đó, người ta đã làm được những gì? Người ta đã xây dựng được một nhà thương độc nhất, với 79 giường ở Bradavin, thủ đô của thuộc địa! Thế mà với các dân cư đang đi đến chỗ diệt vong đó, trong chiến tranh, người ta lại còn tìm được cách lấy đi 18.000 người – tất nhiên là những người lành mạnh nhất và vạm vỡ nhất – để làm mồi cho đại bác, 313.000 phrǎng tiền cưỡng bức lạc quyên để cứu giúp các miền bị tàn phá ở Pháp, 7.323.000 phrǎng tiền công trái cưỡng bức, 53.000 tấn hàng hoá, đấy là chưa kể không biết bao nhiêu là ngày đi phu để chuyên chở những đồ đã trưng thu.

Đó là những “sai lầm về nguyên tắc” đã biến thuộc địa trước kia thịnh vượng và dân cư đông đúc thành bãi sa mạc. Tuy những tài liệu này là những tài liệu chính thức, nhưng chúng tôi không tin rằng nó đã làm cho những bạn đọc dễ tính của Le Temps thấy rõ được sự thật.

Chú thích

Châu Phi xích đạo thuộc Pháp (Bradavin, Librơvin, Bǎngghi, Pho Lǎngnuy) rộng bằng bốn lần nước Phápvà chạy dài từ cửa sông Cônggô đến xứ Tơripôli. Dân số (theo điều tra nǎm 1921) là 2.850.868 người, trong số đó có 1.932 người Âu. Ngót hai nghìn kẻ bóc lột để bòn rút một nước gần 3 triệu người da đen và có nhiều của cải thiên nhiên. Sản xuất chủ yếu: cao su, gỗ, ngà voi, dầu thốt nốt, nhân thốt nốt, dừa, cà phê. Nǎm 1921, chỉ riêng xuất khẩu cao su không thôi cũng được gần 14 triệu phrǎng. Để trao đổi lại số của cải ấy, cũng nǎm đó, nước Pháp đã nhập khẩu sang thuộc địa đó 1.698.787 phrǎng lương thực, 1.732.336 phrǎng rượu vang và rượu mạnh, 1.394.500 phrǎng vải vóc, 826.000 phrǎng vật liệu và thiết bị. Độc giả hãy thử so sánh những của cải mà nước người da đen dân số đang thưa dần đi đó đã xuất khẩu, với nhữmg cái mà nước đó ngược lạiđã nhận được: rượu thì hai lần nhiều hơn thiết bị, còn kể về số lượng buôn bán thì rượu vang và rượu mạnh chiếm hàng đầu! Dân số bị làm mồi cho công cuộc khai hoá nhất là bằng rượu mạnhđang bị diệt vong. Ngược lại cao su và gỗ xuất khẩu thì cứ làm giàu cho một vài người kinh doanh ở chính quốc; nhưng để bù vào chỗ hụt trong ngân sách của cái chính phủ thuộc địa vừa siêng nǎng vừa tội lỗi ấy, nhân dân Pháp hằng nǎm đã phải nai lưng ra đóng thuế. Nǎm 1923, Chính phủ Pháp phải phụ cấp 8 triệu phrǎng cho châu Phi xích đạo thuộc Pháp, ngoài ra lại còn phải lấy ở quỹ dự trữ ra 2.905.866 phrǎng để phụ cấp thêm.

Trong cái thuộc địa rộng bao la gần 3 triệu dân đó, chỉ có ngót 8.000 trẻ em được học ở trường thế tục hay trường của Nhà chung.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 73, ngày 28-l0-1924.
cpv.org.vn

Những tội ác của chủ nghĩa quân phiệt

Theo phong tục cổ truyền thì người An Nam coi rẻ nghề nhà binh. Cho nên, cùng một cấp bậc như nhau mà quan võ lúc nào cũng bị xếp hạng sau quan vǎn. Sống trong trại lính Pháp, phải làm những công việc lao dịch nặng nề, phải tập luyện vất vả, học tập những lý thuyết ngu xuẩn với những tên chỉ huy tàn bạo, và phải chịu một thứ kỷ luật khắt khe, lúc nào cũng có thể bị trừng phạt và luôn luôn bị toà án binh đe doạ, thật không có gì hào hứng để có thể lôi kéo được thanh niên An Nam và khuyến khích họ tập tành cái nghề giết người ấy. Thanh niên bản xứ ghét cay ghét đắng việc bọn quân phiệt Pháp bắt họ phải đi lính. Họ tìm mọi cách để lẩn tránh: người giàu có thì đút lót còn người nghèo khó thì trốn tránh. Có thấy những kẻ khốn cùng không có tiền để đút lót và cũng không biết trốn đi đâu được, bị cưỡng bách dồn về trại lính buồn bã như những con vật mà người ta đem tới lò mổ; có thấy những người cha mẹ, chị em, những người vợ sắp cưới vừa khóc lóc vừa kêu van thảm thiết đi theo những người lính mộ về “cái đại gia đình” ấy như là đi theo những tội phạm bị đem lên máy chém, mới hiểu được cái vinh dự to lớn của người dân An Nam đi làm cái nghĩa vụ quân sự cay nghiệt kia. Cho nên họ tìm mọi cơ hội để tự cứu lấy mình.

Nhưng những tên chỉ huy Pháp lại rất xảo quyệt. Để đề phòng lính An Nam bỏ trốn, một viên tư lệnh chỉ huy quân đội ở Đông Dương cho thích số hiệu vào cánh tay mỗi người lính bằng nitơrát bạc. Những tên chủ đồn điền ngày xưa dùng sắt nung đỏ đánh dấu nô lệ thì những viên tướng tài ngày nay đánh dấu lính bản xứ bằng chất hoá học, thật là một tiến bộ của môn hoá học và của nền vǎn minh! Cách làm có khác, nhưng kết quả thì như nhau: Khi có một người lính đào ngũ người ta bắt tất cả đàn ông ở nơi nghi có người trốn, rồi đem lột trần để khám cánh tay. Nếu người đào ngũ lẩn trốn ở đây, thì bị tìm ra ngay; người ấy bị bắt đem về nhà lao và đưa ra toà án binh. Hầu hết các phiên toà án binh, không trừ một phiên nào, đều có những vụ đào ngũ bị đưa ra xét xử.

Khi ta đã biết người lính bản xứ bị đối xử như thế nào thì người ta không còn ngạc nhiên hỏi tại sao người lính mộ lại thích nhà lao hơn là trại lính. Tôi trích dẫn một đoạn trong bài báo mới viết gần đây:

“Thứ sáu vừa qua, một việc nghiêm trọng đã xảy ra ở trung đoàn pháo thủ người bản xứ thứ 5. Chiều ngày thứ sáu đó, trong khi duyệt một đội tân binh bản xứ cuối cùng, một viên hạ sĩ quan đã đánh người một cách dã man, hành động đó lại được nêu là gương mẫu trong trung đoàn. Tên đội đánh người ấy lại được cấp trên của nó xem là một hạ sĩ tốt nhất, hơn nữa, lại còn được đề nghị thǎng chức. Thật đáng tiếc rằng những người được nước Pháp gửi sang đây nhân danh là những người khai hoá kiên nhẫn, đã dạy nghề nhà binh cho đồng bào chúng tôi – mới sống chung chưa đầy hai tháng với những người bảo hộ cho mình – lại tự tiện “hành động một cách bỉ ổi” đánh đập bằng nòng súng và báng súng một người lính bản xứ đáng thương không hiểu qua một tiếng Pháp, viện cớ là người này không trả lời những câu hỏi bằng tiếng Pháp “giả cầy” của tên đao phủ. Người lính đáng thương ấy đã ngã chết ngất, không thở được nữa. Bác sĩ của trung đoàn đưa anh vào nhà thương, anh lính pháo thủ An Nam đã bị gãy một xương sườn vì bị đánh quá tàn nhẫn.

“Khi báo sắp lên khuôn thì chúng tôi được tin khoảng hai mươi người lính An Nam đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của bọn vũ phu quân phiệt, đã bỏ trại ra đi, không bao giờ trở lại…”. Và những thí dụ như vậy không còn là hiếm.

Trong chiến tranh dù Nhà nước có tán dương và lừa bịp rất nhiều, những người An Nam cũng không hào hứng gì để đi thí mạng cho cái bả vǎn minh và cho nước mẹ. Không chút nào như vậy đâu! Sự thật khác hẳn và chẳng đẹp đẽ gì. Người ta ra lệnh cho các xã phải cung cấp đủ một số người nào đấy. Những người này bị bắt về nhốt ở các đình làng, rồi sau đó bị trói từng xâu đem lên tỉnh lỵ. Người ta đem nhét họ vào trong các trường học hay trong các trại giam có lính canh gác, lưỡi lê tuốt trần và súng nạp đạn sẵn. Tiếp đó người ta xếp họ xuống hầm tàu tối om và ngột ngạt như những con vật để chở sang Pháp.

Chính bằng những phương pháp ghê tởm ấy mà người ta đã biến mười vạn người An Nam thành những người “tình nguyện” bênh vực cho chính nghĩa, cho công lý, v.v.. Trong số đó, 51.000 người làm việc chế thuốc súng, đào hầm, vận chuyển, cứu thương và làm nhiều việc khác nữa.

49.000 người ra mặt trận ở Pháp, ở Xalôních và ở Xibêri. 20.000 người đã chết.

Cách “mộ lính tình nguyện” cưỡng bức ấy không phải đã làm được trôi chảy mà không gặp trở ngại gì. Khi có lệnh gọi tòng quân, số lính trù bị vắng mặt lên tới 30%, số đào ngũ 50%. Những cuộc biểu tình, nổi dậy, bạo động nổ ra ở hầu khắp các tỉnh. Đương nhiên là những cuộc đấu tranh ấy đều bị đàn áp không gớm tay. Tù đày, bắn giết, tàn sát, tất cả bộ máy đàn áp đều được huy động. Ai chống lại bị xử bắn ngay tại chỗ. Nạn nhân kể có đến hàng nghìn người.

Khi được giải ngũ, những người “anh hùng” An Nam được nước mẹ biết ơn ân cần đối đãi thật là cảm động. Trước khi lên tàu về nước, người ta đã lột lại tất cả của cải của họ: nào tiền để dành được, nào đồ đạc, nào quần áo mà họ tự sắm lấy. Cũng như khi đi, họ lại được xếp xuống hầm tàu tối tǎm, ǎn những bữa cơm thiếu thốn, khó nuốt trôi và bị ngược đãi. Người ta sợ những người lính này mang về những tư tưởng tiến bộ và những thói quen thích độc lập tiêm nhiễm được ở nước Pháp, nên người ta đã giao họ cho bọn thực dân đểu giả tàn bạo nhất kiểm soát. Bọn này dùng gậy đánh, đá người vô cớ. Về đến nước nhà, những người lính ấy đều bị ném ra đường một cách đơn giản thế thôi.

Trước khi đi chiến đấu, người ta hứa trời hứa biển với họ, thì đến nay trở về người ta lại rút bỏ hết mọi quyền lợi mà xưa nay những người An Nam đi tòng quân đều được hưởng, như miễn thuế thân, miễn sai dịch, v.v.. Nhiều người đã phải đi ǎn xin từ làng này qua làng khác, phải đi bộ hàng tuần lễ để trở về quê hương, nơi mà người ta đã dùng vũ lực buộc họ phải rứt ra đi.

Hiện nay người ta kéo dài thời hạn tòng quân của người bản xứ từ 2 đến 4 nǎm. Ngoài số 25.000 đến 30.000 lính khố đỏ đóng quân trong nước dùng để bắn giết đồng bào của họ, xứ Đông Dương còn phải cung cấp thêm 40.000 lính mộ để phụng sự ở chính quốc và ở các thuộc địa khác.

Các bạn đã thấy đấy, nước Pháp chẳng phải quân phiệt chút nào đâu!

——————————–

Bản thảo của Nguyễn ái Quốc, tiếng Pháp, lưu tại Kho lưu trữ
Quốc tế Cộng sản. Bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

Những thảm hoạ của nền vǎn minh

Bất lực không đánh nổi ông Đề Thám, không sao giết được ông bằng thuốc độc cũng không trừ được ông bằng cốt mìn, người ta bèn đào mả cha mẹ ông, đem hài cốt vứt xuống sông.

Sau những cuộc biểu tình ở miền Nam Trung Kỳ, nhiều nhà vǎn thân đã bị xử tử và bị đầy biệt xứ. Trong số đó có ông Nghè Trần Quý Cáp, một nhà nho thanh cao ai cũng mến phục. ông Cáp bị bắt trong khi còn dạy học; không xét hỏi gì cả, người ta đem chém ông hai mươi bốn giờ sau khi bị bắt. Chính phủ giết chết ông chưa đủ, còn hành hạ mãi, không chịu giao trả thi hài ông cho gia đình.

*

*     *

Khi hành hình những người lính khố đỏ ở Hà Nội(57), Chính phủ cho bắt giải cha mẹ, vợ con họ đến và bắt họ mục kích cuộc tàn sát rùng rợn những người thân yêu ruột thịt của mình. Để gây một ấn tượng lâu dài và để “dạy dân chúng”, người ta làm lại cái việc đã làm ở Anh hồi thế kỷ thứ XVIII tức là xóc đầu lâu những người Giacôbanh (1)bại trận lên mũi giáo rồi đem cắm dọc phố Xiti và dọc cầu Luân Đôn. Hàng tuần lễ người ta còn thấy đầu lâu những người lính, nạn nhân của nền vǎn minh Pháp, cau mày nhǎn mặt trên các cọc tre trên các đường phố chính ở Hà Nội.

Bây giờ nước An Nam đã “được bình định”, người ta ra sức sǎn bắt những “tên cướp” An Nam. Những tên cướp ấy là ai? Một viên sĩ quan giải thích:

Cũng có một óc tưởng tượng như nhau – ông ta nói – người Anh xem những người Bôe quyết tâm chống lại họ như là phiến loạn ngoài vòng pháp luật thì người Pháp chúng ta cũng coi những người An Nam yêu nước như kẻ cướp.

Một người Pháp khác nói: Bị cướp hết của cải, dân chúng nhiều làng đã trở thành “kẻ cướp” tất cả; nhưng họ chỉ là những người nổi dậy chống sự cướp đoạt bất công mà thôi.

Tìm ra những tên “cướp” ấy không phải khi nào cũng dễ dàng, bắt được họ càng khó hơn. Những viên chức phái đi lùng bắt họ, đã chém giết người vô tội để khỏi trở về tay không. Đây là một bằng chứng lấy của một người Pháp mà tôi đã trích dẫn nhiều chuyện:

Bảy người An Nam xấu số đang bơi một chiếc xuồng dài và mỏng manh. Đi xuôi dòng nước, lại có bảy tay chèo, xuồng đi vùn vụt như một chiếc xuồng máy. Thuyền của nhân viên nhà đoan khuất sau đám cây đước, có quốc kỳ Pháp phấp phới sau lái, vừa ở trong lạch bơi ra. Một thuỷ thủ gọi xuồng dừng lại. Người trên xuồng không hiểu cứ việc bơi đi. Thuyền nhà đoan bơi không kịp. Tên tây đoan cầm lấy súng bắn. Họ bơi lại càng nhanh. Tên đoan bắn vào họ. Một người đang chèo thét lên một tiếng rồi ngã gục xuống. Xuồng dừng lại, các bạn trong xuồng bèn ôm lấy người ngã. Có tiếng hô to: Dừng lại? Họ nhảy tới nắm lấy tay chèo vút đi. Đoàng! Một người nữa ngã. Một ít khói bay lên, một tiếng thét. Một người Pháp đi thuyền lảng vảng qua đó nghe thấy bèn lẩn chờ “những tên cướp” ở một chỗ ngoặt. Đoàng! Đoàng! Đoàng! Quả là một tay súng cừ. Ba viên đạn, ba người ngã theo. Chiếc xuồng chỉ còn hai người bơi đi chậm chạp và chìm lỉm trong con lạch.

Một viên chức nhà đoan khác, đi với sáu tên lính có đầy đủ vũ khí, bắt gặp một người đang trốn dưới ao. Anh này dấn mình dưới bùn, thở bằng một cái ống, ngậm vào miệng; lá sen kéo che kín mặt nước thật khéo léo. Tên đoan bèn chặt đầu “tên cướp” đem về toà sứ. Thật ra anh ta chỉ là một người nhà quê bình thường phải ẩn trốn vì quá sợ hãi thấy có nhiều người lạ vào làng, ai cũng mặt mũi hung tợn, mình đeo đầy súng lục, túi đạn và lǎm lǎm một khẩu súng trong tay.

cpv.org.vn