Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước hiện nay đang đặt ra những yêu cầu mới cho nguồn lực con người. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng khẳng định: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và coi đây là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước”(1). Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người xã hội chủ nghĩa vào chiến lược nâng cao nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa là một nhiệm vụ quan trọng để thực hiện chiến lược đổi mới toàn diện đất nước tạo tiền đề đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa.

1. Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đường lối lãnh đạo, Đảng Cộng sản việt Nam xác định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”(2). Quan điểm này đã thể hiện nhận thức khoa học của Đảng ta về bản chất con người trong mối quan hệ biện chứng của sự phát triển. Đồng thời, khẳng định sự nhận thức rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất con người và con người xã hội chủ nghĩa sẽ là cơ sở lý luận về Đảng và Nhà nước ta coi trọng vai trò con người để từ đó hoạch định đúng Chiến lược con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

Con người là vốn quý của xã hội nên con người giữ vai trò vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của tiến trình cải biến tự nhiên và xã hội. Điều đó khẳng định, con người chính là mục tiêu phát triển cao nhất của mọi quá trình phát triển tự nhiên, xã hội, đồng thời cũng là động lực của quá trình phát triển đó.

Với ý nghĩa nêu trên, con người đã trở thành nhân tố then chốt và là nhân tố quyết định của sự phát triển lịch sử. Bởi vì, chỉ có con người mới có trí tuệ và năng lực sáng tạo theo chiều hướng tiến bộ. Nói một cách khác, nhân tố con người là một tiềm năng vô tận của sự phát triển. Điều đó đồng nghĩa với việc nhân tố con người là cơ sở để hình thành nên nguồn lực con người, nhất là nguồn lực con người có chất lượng cao.

“Nguồn lực con người (hay còn gọi là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên người) là nhân tố con người được xem xét, dự tính như một tiềm năng, một điều kiện cần và có thể phát huy thành động lực cho một quá trình phát triển xã hội, một chiến lược phát triển xã hội trong những thời gian, không gian xác định”(3). Nguồn lực con người được xem xét ở các tiêu chí: Số lượng và chất lượng con người (bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất); là tổng thể chất dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên và xã hội; là sự kết hợp sức lực và thể lực tạo nên năng lực sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng phát triển mới của con người; là kinh nghiệm sống, đặc biệt là kinh nghiệm được tích lũy qua sự nếm trải trực tiếp của con người tạo thành thói quen, kỹ năng tổng hợp của mỗi người, của cộng đồng. Điều kiện để nguồn lực con người đạt tới các tiêu chí đó khi: “người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại”(4).

2. Ngay từ những ngày hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã có nhận thức sâu sắc về con người và nhân tố con người. Ở Hồ Chí Minh, khái niệm con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng và cao cả của sự nghiệp cách mạng mà cả cuộc đời Người hằng theo đuổi. Tư tưởng về con người, về việc giải phóng và phát triển con người, coi con người là nhân tố quyết định thành công của cách mạng luôn quán xuyến trong tư duy, đường lối và phương pháp lãnh đạo cách mạng của Hồ chí Minh. Người đã bộc bạch ham muốn tột độ của Người là: Đất nước được hoàn toàn độc lập, tự do. Đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Vì sự ham muốn tột độ đó mà Hồ Chí Minh đã phải trải qua 30 năm bôn ba ở nước ngoài, phải sống xa gia đình, quê hương, đất nước, chịu đựng bao khó khăn, gian khổ, phải vượt qua vô vàn những gian truân, thử thách để tìm ra chân lý cách mạng, con đường cách mạng giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và hạnh phúc cho nhân dân.

Với tư duy biện chứng sâu sắc về phát triển cùng với tầm nhìn “vượt gộp”, trong tư tưởng, Hồ Chí Minh quan niệm: Đất nước được độc lập, tự do phải gắn liền với ấm no và hạnh phúc cho con người ở những hưởng thụ cụ thể: ăn, mặc, ở, học tập, việc làm… những điều kiện đó chỉ ở chế độ xã hội chủ nghĩa mới có. Người nói: “Chủ nghĩa xã hội là mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”(5), là “Được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ”(6). Mục đích của “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh”(7), là “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”(8).

Xác định được mục tiêu và bản chất của chủ nghĩa xã hội, trên cương vị lãnh đạo của mình, Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, giải phóng con người và chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển tất yếu của đất nước. Do đó, Người yêu cầu: “Muốn xã hội chủ nghĩa, phải có người xã hội chủ nghĩa. Muốn có người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa”(9). Những con người xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là những con người mới, những con người từ thân phận nô lệ vì mất nước vươn lên làm chủ xã hội, làm chủ sự phát triển của đất nước độc lập, tự do. Họ có vị trí và vai trò quan trọng trong quá trình phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để khẳng định được vị trí và vai trò then chốt này thì con người xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh phải là con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng được những yêu cầu và đòi hỏi của chủ nghĩa xã hội với đặc trưng cơ bản là phải vừa “hồng”, vừa “chuyên”.

“Hồng” và “chuyên” là quan điểm nổi bật và có tính bao quát trong tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất con người mới xã hội chủ nghĩa. Hồng là phẩm chất, là đạo đức của người cách mạng: yêu nước, trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; chống chủ nghĩa cá nhân và có tinh thần quốc tế trong sáng. Chuyênlà sự thể hiện trí tuệ, là tài năng, là năng lực của cá nhân con người gắn liền với sự khổ công học tập, rèn luyện để có tri thức, nâng cao tri thức và dùng chính những tri thức mình có được để phục vụ lợi ích cho sự phát triển của cộng đồng, của chủ nghĩa xã hội. Hồng và chuyên, hay cách gọi khác là đức và tài trong mỗi con người đều rất cần thiết. Đây là hai mặt cơ bản của con người mới nói riêng và được xem như nội hàm của khái niệm con người mới xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người nói: Đức là gốc nhưng tài là quan trọng và luôn dặn mọi người không được xem nhẹ mặt nào: có đức mà không có tài thì không khác ông Bụt trong chùa, không làm hại ai nhưng cũng không làm được gì có ích cho mọi người. Có tài mà không có đức thì sẽ trở thành kẻ phá hoại.

Lời nói của Người có ý nghĩa như một thông điệp để mong muốn mỗi con người hãy lấy cái thiện làm phương châm sống và rèn luyện cho chính mình để phấn đấu trở thành con người có ích cho cộng đồng, cho chủ nghĩa xã hội và cho nhân loại.

Như vậy, theo Hồ Chí Minh, hồng và chuyên của con người Việt Nam trong sự phát triển được hiểu là quá trình con người tự hoàn thiện bản thân theo yêu cầu của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và rèn luyện mình thành con người chủ nghĩa xã hội. Điều đó đòi hỏi trước hết sự phấn đấu vươn lên không ngừng của mỗi cá nhân con người theo hướng tự giác đấu tranh với những mặt lạc hậu, mặt xấu vốn tồn tại như bản năng tự nhiên của con người, đồng thời phải không ngừng học tập, tu dưỡng đạo đức cách mạng, lấy đạo đức cách mạng làm gốc “cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(10). Đồng thời, giữ gìn và phát huy những phẩm chất  đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa đạo đức của nhân loại. Sau đó, quan trọng  hơn là tham gia tích cực của con người vào sự cải tạo xã hội theo hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội mà cụ thể ở nước ta là thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc kết hợp với cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Sự kết hợp này, đòi hỏi con người Việt Nam phải có nhận thức mới về tư tưởng trong ý thức hệ. Từ ý thức cộng đồng, từ tinh thần yêu nước trong phạm vi dân tộc mang tính truyền thống phải được bổ sung và kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa vô sản. Để từ đó, động lực lớn nhất của đất nước là chủ nghĩa dân tộc đã mang nội hàm mới, kết hợp giữa truyền thống với hiện đại, dân tộc với quốc tế và từ đó con người xã hội chủ nghĩa vốn được hình thành trong cách mạng dân tộc dân chủ, cần phải vuơn lên tự rèn luyện phẩm chất đạo đức, có ý thức phấn đấu suốt đời vì mục tiêu cao cả của lý tưởng chủ nghĩa xã hội.

Song hành cùng với nhận thức về tư tưởng, Hồ Chí Minh luôn coi trọng và rèn luyện ý thức phục vụ con người, phụng sự Tổ quốc và coi đây là một trong những nhân tố then chốt trong bản chất con người xã hội chủ nghĩa. Để làm được điều đó, Người đòi hỏi mỗi cá nhân con người xã hội chủ nghĩa phải là người gương mẫu, có tinh thần vì nước, vì dân, có tình yêu thương con người và phải biết hi sinh cái tôi của cá nhân mình để cống hiến và coi việc phục vụ nhân dân là niềm hạnh phúc, là nghĩa vụ thiêng liêng của đời người.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Ở một khía cạnh khác, nói đến con người xã hội chủ nghĩa là nói đến những người có tinh thần sáng tạo, làm chủ được khoa học công nghệ, ham học hỏi, biết vươn lên trong cuộc sống, trong công việc, luôn bổ sung kiến thức, trí tuệ và năng lực bằng con đường học tập đáp ứng nhu cầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa: “Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học, chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận(11)”. Do đó, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, đề cao và nêu bật vai trò của giáo dục đào tạo trong tiến trình xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa và coi đó là một chiến lược lâu dài. “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”,Người luôn đặt niềm tin vào khả năng của giáo dục với mong muốn: có gì vẻ vang hơn là nghề giáo dục, đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản. Người gửi gắm ở thế hệ trẻ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không , dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(12).

3. Với bất cứ một quốc gia nào thì vấn đề con người và nguồn lực con người luôn giữ vị trí quan trọng. Đây là nhân tố có tính chất quyết định đến sự thành công hay thất bại trong sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Trong đường lối lãnh đạo, Đảng xác định: “Chúng ta cần hiểu sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh quốc gia… Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là nguồn động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”(13).

Ở giai đoạn văn minh hiện nay, loài người đã đạt tới một trình độ nhận thức mới về tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và phát triển con người. Trong đó, phát triển con người được xem là thước đo sự phát triển của mỗi quốc gia. Do đó, “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển  ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”(14).

Trong tiến trình hội nhập theo xu thế phát triển chung toàn cầu, công cuộc đổi mới gắn liền với đường lối đẩy mạnh nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đất nước Việt Nam muốn phát triển nhanh, mạnh và bền vững thì đòi hỏi nguồn lực con người phải bảo đảm được cả yêu cầu về chất lượng cũng như số lượng. Trên cơ sở nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng của Người về bản chất con người xã hội chủ nghĩa nói riêng, ngoài công tác đẩy mạnh việc giáo dục đạo đức cho nhân tố con người Việt Nam, coi trọng, bồi dưỡng và tôn vinh nhân tài vì “hiền tài là nguyên khí quốc gia” thì cần coi trọng việc nâng cao chất lượng nguồn lực con ngươi gắn liền với Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo. Bởi vì, chỉ có phát triển giáo dục, đào tạo mới nâng cao chất lượng dân trí, đào tạo được nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, trang bị chuyên môn, nghiệp vụ, văn hóa, đạo đức, ý thức kỷ luật lao động cho con người…

Bản chất, hay nói cách khác chất lượng của nguồn lực con người, là sức mạnh trí tuệ và tay nghề. Muốn nâng cao chất lượng nguồn lực con người, đặc biệt là nhân lực có chất lượng cao thì phải coi trọng công tác giáo dục, đào tạo và khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu như sinh thời Hồ Chí Minh vẫn thường nhấn mạnh. Do đó, để đáp ứng được yêu cầu về nguồn lực con người với các tiêu chí đặt ra thì phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ thuật thực hành. Đẩy mạnh đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và tạo điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời. Đồng thời, đẩy mạnh công tác xã hội hóa, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục, mở rộng các hình thức đào tạo và thực hiện tốt yêu cầu bình đẳng về cơ hội học tập và các chính sách xã hội trong giáo dục; Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo nhằm phát huy tính tích cực và chủ động của con người v.v… Các trường chuyên nghiệp và đại học tập trung đào tạo nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến như trong Cương lĩnh phát triển kinh tế – xã hội đã được Đảng ta xác định phát triển khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững. Do đó, giáo dục và đào tạo phải bảo đảm tập trung đào tạo đội ngũ nhân lực cho công nghiệp hóa – hiện đại hóa đáp ứng được cả 2 tiêu chí đại trà và chuyên sâu, cả số lượng và chất lượng.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quá trình tất yếu mang tính quy luật phổ biến để xây dựng đất nước giàu mạnh. Quá trình này đòi hỏi bước chuyển về chất của xã hội nhất là ở nước ta chuyển từ nền văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp đòi hỏi phải có sự nỗ lực về trí tuệ, kỹ năng, bản lĩnh của cả dân tộc. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người xã hội chủ nghĩa vào chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện đảm bảo để đất nước Việt Nam phát triển bền vững, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chú thích:
bqllang.gov.vn

———————————-

  1. 1.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXBCTQG, Hà Nội – 2011, Tr.41
  2. 2.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, SĐD , Tr.76-77
  3. 3.Học viện CT-HC Quốc gia Việt Nam, Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, NXBCT-HC, Hà Nội-2010. Tr.235,236
  4. 4.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương hóa VIII, NXBCTQG, Hà Nội -1997, Tr.9
  5. 5.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T10, Tr.97
  6. 6.
  7. 7.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T8, Tr.226
  8. 8.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T10, Tr.271
  9. 9.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T9, Tr.296
  10. 10.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T9, Tr.253
  11. 11.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T9, Tr.131
  12. 12.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T4, Tr.33
  13. 13.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện HN tái bản lần thứ tư BCHTW khóa VII, NXBCTQG, HN – 1993, Tr.5
  14. 14.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, SĐD , Tr.130

Th.s Cao Hải Yến
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Kim Yến (st)

Đoàn đại biểu Tài năng trẻ khoa học, công nghệ Việt Nam năm 2012 báo công dâng Bác

Hôm nay ngày 08 tháng 11 năm 2012 giữa Quảng trường Ba Đình lịch sử, 141 đại biểu Tài năng trẻ khoa học công nghệ, các đại biểu đạt giải thưởng Khoa học kỹ thuật thanh niên Quả Cầu Vàng và 52 đại biểu là cán bộ phụ trách công tác tài năng trẻ của các tỉnh, thành Đoàn, Đoàn trực thuộc và Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam đã hội tụ về báo công dâng Bác.

BC  KHC3 Đồng chí Phạm Tấn Công thay mặt Đoàn báo công dâng Bác

Thấm nhuần lời dạy của Bác: “Ngày nay ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà. Muốn xứng đáng vai trò là người chủ thì phải học tập”, các thế hệ thanh niên luôn ghi nhớ, tích cực học tập, lao động, lĩnh hội tri thức của nhân loại, đóng góp công sức của mình vào công cuộc xây dựng đất nước và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và là động lực phát triển kinh tế – xã hội. Trong số các đại biểu Tài năng trẻ khoa học, công nghệ tiêu biểu về dự Gặp gỡ toàn quốc Tài năng trẻ khoa học, công nghệ Việt Nam năm 2012 lần này, có nhiều đại biểu là các nhà khoa học trẻ đang làm việc tại các viện nghiên cứu, các trường đại học lớn, các đại biểu là học sinh, sinh viên, là những nhà công nghệ trẻ, có nhiều sáng kiến, sáng tạo trong ứng dụng, đổi mới công nghệ, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có giá trị cao như người máy, thiết bị hỗ trợ thận nhân tạo, các giống lúa kháng bệnh v.v … Có các tài năng trẻ xuất sắc được giải thưởng khoa học kỹ thuật thanh niên Quả Cầu Vàng cùng các thành tích, giải thưởng quốc gia và quốc tế khác.

“Gặp gỡ toàn quốc Tài năng trẻ khoa học, công nghệ Việt Nam 2012″  là cuộc họp mặt quy mô toàn quốc lớn nhất của các nhà khoa học trẻ, tài năng công nghệ trẻ. Mỗi đại biểu tài năng trẻ tham dự gặp gỡ là một tấm gương tiêu biểu của tuổi trẻ Việt Nam dấn thân, sáng tạo, đam mê trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ. Mỗi đại biểu là một tài năng, đầy tâm huyết và quyết tâm chung sức, đồng lòng cùng hàng triệu thanh thiếu niên góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam yêu dấu, đưa nước ta sớm sánh vai các cường quốc năm châu như Bác kính yêu hằng mong đợi.

Trong giờ phút thiêng liêng tại buổi lễ, bằng tất cả tình cảm biết ơn sâu sắc, thay mặt những đại biểu Tài năng trẻ Đồng chí Phạm Tấn Công, Giám đốc Trung tâm Phát triển khoa học công nghệ và tài năng trẻ Trung ương Đoàn, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức “Gặp gỡ toàn quốc Tài năng trẻ khoa học, công nghệ Việt Nam năm 2012” kính dâng lên Người những thành tích học tập, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ mà tuổi trẻ đã nỗ lực phấn đấu trong thời gian qua.

Khắc sâu lời dạy của Bác và lý tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thế hệ trẻ hôm nay xin hứa với Bác sẽ phát huy những thành quả đã đạt được và quyết tâm học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, không ngừng phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện, góp sức trẻ thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

BC  KHC2Đoàn đại biểu Tài năng trẻ khoa học công nghệ toàn quốc năm 2012 vào Lăng viếng Bác

Kết thúc buổi lễ, Đồng chí Phan Văn Mãi, Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn làm Trưởng đoàn, đã dẫn đầu Đoàn đại biểu Tài năng trẻ khoa học công nghệ toàn quốc năm 2012, kính cẩn đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Trần Tiên Long
bqllang.gov.vn

Tổng thống nước Cộng hòa Hồi giáo Iran đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Ngài Mahmoud Ahmadinejad, Tổng thống nước Cộng hoà Hồi giáo Iran sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 9/11 đến 10/11/2012. Đây là chuyến thăm cấp cao nhất của lãnh đạo Iran tới Việt Nam kể từ năm 1995 nhằm tăng cường quan hệ hợp tác với Việt Nam, hướng tới kỷ niệm 40 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Ngoài ra, chuyến thăm của Tổng thống Ahmadinejad cũng nhằm thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực thương mại, nông nghiệp, thủy sản, văn hóa, thể thao và du lịch.

IranTổng thống Iran và các đại biểu trong Đoàn vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Việt Nam và Iran có quan hệ tốt đẹp. Hai bên đã thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 4/8/1973. Iran mở Đại sứ quán tại Hà Nội vào ngày 22/1/1991. Việt Nam mở Đại sứ quán tại Tehran tháng 12/1997. Tháng 9/2009, hai nước thành lập Hội hữu nghị Việt Nam – Iran. Hai bên cũng đã có các cuộc tiếp xúc và trao đổi nhiều đoàn cấp cao sang thăm lẫn nhau. Tháng 1/2012, hai nước đã tiến hành kỳ họp lần thứ VII Ủy ban Liên Chính phủ Việt Nam-Iran.

Trong khuôn khổ chuyến thăm của Đoàn, sáng 10/11/2012, Ngài Tổng thống và các đại biểu trong Đoàn đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam, đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Mahmoud Ahmadinejad, Tổng thống nước Cộng hoà Hồi giáo Iran kính viếng”./.

Lan Hương
cpv.org.vn

“Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”

Sinh thời, trái tim người con vĩ đại của dân tộc – Chủ tịch Hồ Chí Minh không đứng cao vời vợi tách khỏi cuộc sống bình thường của mọi tầng lớp nhân dân mà ngược lại luôn tỏa sáng ấm áp, bình dị mà vô cùng cao quý. Con người ấy, tình yêu ấy được hun đúc từ chính bản sắc, tình yêu quê hương đất nước và sự gắn bó với cuộc sống của chính nhân dân mình, luôn gắn quyện với nhịp đập của cuộc sống đất nước, nơi mà người ấy gửi gắm một “ham muốn, ham muốn đến tộc bậc” là làm sao đem lại cuộc sống ấm no cho con người, đem lại tự do và hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân. Tình yêu ấy còn là niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh lớn lao, sức sáng tạo vô cùng của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Hơn ai hết, Người khẳng định mọi nguồn lực cách mạng là ở nơi quần chúng, sức mạnh kiến thiết cũng là nơi quần chúng, trong đó có thế hệ trẻ. Người luôn dành muôn vàn tình thương yêu và gửi gắm niềm tin khi đặt trọn tương lai của cách mạng, của dân tộc vào họ.

tuoitre1Bác Hồ với thiếu nhi Liên Xô khi Bác thăm đất nước Lênin – 1957.

Bác của chúng ta là con người sống có lí tưởng cao cả, giàu tình nhân ái, ân nghĩa, sống khiêm tốn, giản dị và quên mình. Tình yêu bao la đó trong trái tim một con người vĩ đại không chỉ dành riêng cho các tầng lớp nhân dân Việt Nam, thế hệ trẻ Việt Nam mà còn là tình hữu nghị quốc tế trong sáng dành cho bạn bè bốn biển năm châu bởi “Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Và như một lẽ tất nhiên, trong đó tình cảm dành cho thế hệ trẻ các nước luôn trong nhịp đập trái tim bao la tình thương yêu của Hồ Chí Minh và để lại cho thanh niên Việt Nam, thanh niên thế giới những tình cảm quí báu và những lời dạy thiết thực.

Tháng 3 năm 1961, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam – nay là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Bác đã đến thăm và nói chuyện. Bác nói:

“ Nhà thơ Pháp, Vay-ăng Cu-tu-ri-ê viết: “ Chủ nghĩa cộng sản là mùa xuân của loài người”

Nhà thơ Xô-viết, Mai-a-cốp-xki viết: “Chủ nghĩa cộng sản là tuổi trẻ của thế giới do những người trẻ tuổi xây dựng nên”.

Bác thì nói một cách mộc mạc: Thanh niên Việt Nam, thanh niên thế giới! Hãy hăng hái tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng chủ nghĩa cộng sản!”

tuoi tre 2Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Tát-gi-ki-xtan, ngày 27/7/1959

Lới nói “mộc mạc” ấy chính là lới kêu gọi nóng bỏng từ tấm lòng của một nhà hoạt động quốc tế sôi nổi, suốt đời phấn đấu không chỉ vì nền độc lập, tự do của đất nước, vì hạnh phúc của dân tộc mình mà còn vì tương lai tươi sáng của toàn nhân loại. Bởi vậy, trải qua bao gian khổ, mất mắt và hy sinh, khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, Bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời đã đánh dấu chặng đường mới của đất nước, dân tộc ta. Cũng ngay sau đó là 30 năm gian khổ “Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mỹ/Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Tuy nhiên, trong bối cảnh kháng chiến chống Pháp, Mỹ và các thế lực tay sai, Người lại có những cuộc hành trình đầy tình hữu nghị tại nhiều nước anh em, bầu bạn, từng gắn bó với bao nhiêu con người thuộc mọi chủng tộc, màu da, tôn giáo, lứa tuổi với tư tưởng nhân văn“Giang sơn muôn dặm một nhà/Bốn phương vô sản đều là anh em”. Các bạn quốc tế cũng thân mật gọi Người là Cha, là Bác, là Anh. Năm 1946, khi sang thăm Pháp trên cương vị thượng khách của Chính phủ nước này, Bác có nhiều dịp tiếp xúc với đủ các giới chính khách, báo chí, văn nghệ, đảng phái, đoàn thể, quần chúng. Trên đất Pháp, Người đã trải qua cả một thời tuổi trẻ và kết bạn với nhiều chiến sĩ cách mạng cùng lứa tuổi. Sau này, chính Người tự nhận: “Tôi đã nhiều năm từng là dân Pa-ri”.

Bac ho voi thieu nhi bulgaryjpgChủ tịch Hồ Chí Minh với các cháu thiếu nhi Bungari trong dịp
Người 
 sang thăm Bungari năm 1957.

Có lẽ, mỗi chúng ta đa từng được nghe câu nói nổi tiếng của Người “Tất cả trẻ em trên thế giới là con tôi!”. Đó là câu nói của Người khi tiếp bố mẹ của cô bé Irina Đimitơriépna Đênia,là con của nhà báo X. Côlôxốp (X. Côlôxốp từng là phóng viên của Thông tấn xã Liên Xô APN) và vợ là bác sĩ Anna Xtaxia Vaxilépna, ở thành phố Giucốpxki, ngoại ô Mátxcơva được Bác Hồ nhận làm con đỡ đầu. Cuộc gặp gỡ ấy diễn ra vào tháng 11 năm 1960, Irasơca và bố mẹ đã được gặp Bác Hồ tại một ngôi nhà trên phố Alếchxây Tônxtôi, nhân dịp Người cùng Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam sang Mátxcơva dự lễ kỷ niệm lần thứ 43 Cách mạng Tháng Mười vĩ đại. Cuộc gặp gỡ đã diễn ra rất tình cảm và thân mật. Bác mời gia đình Irasơca cùng ăn trưa với Người. Trước đó, em bé có tên là Êlidabét, con gái ông Raymông Ôbrắc – cựu Ủy viên Cộng hoà ở Mácxây, nghị sĩ Quốc hội Pháp, được Bác Hồ đã đến bệnh viện thăm, tặng quà và nhận làm con đỡ đầu. Vào những dịp sinh nhật Êlidabét, Người thường gửi thư và quà tới và con gái đỡ đầu của mình. Quà của Bác là quả cầu nhỏ hay một con trâu bằng ngà, có khi là một bức ảnh chân dung của Người, hoặc một đồng tiền vàng có mang hình Bác và đặc biệt là tấm lụa vàng để may áo cưới. Hay em bé Knuth Wolfgang Walther Hartmann ở miền Nam nước Đức thì lại có vinh dự được làm con đỡ đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi có ngày sinh trùng với ngày sinh của Người: 19 tháng 5 năm 1951. Chính vì sự trùng hợp ngẫu nhiên này mà ông bà Walter R. Harlmann, cha mẹ của Knuth, đã gửi thư tới Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ cảm tình ủng hộ cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam và xin Người nhận Knuth Wolfgang Walther Hartmann làm con đỡ đầu. Việc Bác Hồ nhận những cháu bé người Pháp, Đức và Liên Xô làm con đỡ đầu đã thể hiện tấm lòng nhân ái và sự quan tâm của Bác dành cho thiếu nhi quốc tế, và cũng qua đó càng làm tăng thêm tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Pháp, nhân dân Cộng hoà dân chủ Đức và nhân dân Liên Xô anh em.

Bac ho voi thieu nhi rumaniCác cháu thiếu nhi Ru-ma-ni vui mừng chào đón Bác Hồ sang thăm hữu nghị, 
ngày 17/8/1957

Còn ở Trung Quốc, khi nói chuyện với nhân dân Trung Quốc qua Đài Phát thanh Bắc Kinh, Người bộc lộ: “Tính tôi rất yêu trẻ con cho nên vừa đến Bắc Kinh, tôi vội đi thăm nhà giữ trẻ và Trường Tiểu học, thấy cháu nào cũng ngoan, cũng xinh đẹp, vui vẻ, mạnh khỏe, tôi rất sung sướng và thầm nghĩ rằng các cháu ấy sẽ là những công dân của xã hội cộng sản mà chúng ta đang phấn đấu để xây dựng cho tương lai”.

Bac ho voi thieu nhi trung quocBác Hồ với các cháu thiếu nhi tỉnh Giang Tô, CHND Trung Hoa, ngày 19/5/1961

Đi thăm các nước ở Châu Âu cũng vậy. Đến trại hè “Hen-nút Giút”, tới thành phố Ai-den-huýt-then-xlát, thăm thành phố cảng Rô-xtốc, vào vườn thú Béc-lin,..Bác đã vui cười nắm tay và dạo chơi cùng các cháu thanh niên, nhi đồng. Ở Nam Tư (cũ), Bác đã mời nhiều cháu nhỏ vào thăm nơi Bác ở, cho ăn bánh và uống sữa. Một cháu bé lên 3 được Bác xúc bánh cho. Các phóng viên ảnh đi theo, chụp hình ảnh ấy gửi đăng báo đã gây xúc động trong lòng nhân dân Nam Tư và các nước Châu Âu. Năm 1959, trong một chuyến đi nghỉ ở Liên Xô (cũ), Người đã vượt ngót trăm cây số xe hơi đến dự cuộc liên hoan của trại hè thiếu nhi Lếch-cút. Có nhà báo cùng đi trong đêm ấy đã tả lại: “Giữa trời đêm, vầng trăng tha thẩn soi bong trên mặt hồ Bai-can cách không xa ngọn lửa trại rực hồng. Chung quanh đó, các em thiếu nhi đàn, hát, múa và biểu diễn vở ba-lê “Hồ Thiên Nga”. Các em ríu rít, quấn quít bên Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người cha hiền từ giản dị như môt ông tiên đem lại cho các em muôn vàn tình thân yêu…”

Có lẽ không có nhà hoạt động chính trị nào trên thế giới này đã đi hầu khắp thế giới như Bác kính yêu của chúng ta. Và ở đâu Người cùng chiến đấu cho nhân dân lao động, cũng yêu quý thế hệ trẻ như chính nhân dân và thanh, thiếu niên nước mình. Và, Người tiếp xúc, chuyện trò với mọi tầng lớp nhân dân ở những nơi Người có mặt, nhất là với thanh niên và thiếu niên, nhi đồng – những người đặc biệt kính yêu Bác và được Bác dành cho sự trìu mến vô bờ bến. Người vui mừng trước các thành tựu của tuổi trẻ các nước, luôn nêu những tấm gương sáng trong chiến đấu và xây dựng đất nước của họ để tuổi trẻ Việt Nam noi theo, từ chị thợ dệt Nga Gaganôva, người thiếu niên dũng cảm Trung Quốc Lưu Hồ Lan đến những thanh niên Pháp anh hùng, như Hăngri Máctanh, Rây mông Điêng, những anh hùng vũ trụ trẻ tuổi Liên Xô như Gagarin, Titốp… Người xúc động trước những đau thương, mất mát do chiến tranh, thiên tai, áp bức gây ra cho các dân tộc và thanh niên ở một nơi nào đó trên trái đất.

Và như thế, Bác của chúng ta đã suốt đời mưu cầu hạnh phúc cho tất cả các dân tộc trên trái đất, và vì thế Người càng yêu quí thế hệ trẻ của mọi đất nước, lớp người giàu sức sống, giàu niền tin trong sự nghiệp xây dựng tương lai của đất nước họ, cùng vun đắp cho tình hữu nghị trên toàn thế giới cho đến khi Người đi về cõi vĩnh hằng./.

Tâm Trang
chinhphu.vn

Chuyện từ cây hoa Bác Hồ ở Lũng Trò

Đúng dịp tỉnh Tuyên Quang long trọng tổ chức lễ đón nhận Bằng Di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào và kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9, tôi tình cờ được nghe kể về một loài cây có tên “cây hoa Bác Hồ” ở Lũng Trò, xã Trung Trực (Yên Sơn) – nơi Bác Hồ đã ở và làm việc từ 19-12-1948 đến 10-1-1949. Vậy là thực hiện ngay chuyến đi đến nơi có câu chuyện kể và được biết thêm nhiều điều thú vị mà thiêng liêng.

Cây hoa Bác Hồ

Từ trung tâm xã Trung Trực, chúng tôi đi chừng hơn cây số đến Thôn 5, Đồng Hon. Leo hết con dốc phía bên phải tỉnh lộ 185 rồi xuống đến Lũng Trò. Đây là thung lũng nhỏ, xanh mát cây rừng, lọt giữa núi Lũng Trò, đồi Mỏ Noọng, đồi Trai Ảnh. Một dòng suối nhỏ, nước róc rách, len lỏi lộ cả những viên cuội dưới đáy như lời reo chào khách lạ. Ngôi nhà sàn ngay bên suối của vợ chồng chị Triệu Thị Hòa và anh Nguyễn Văn Hùng nằm đúng trên mảnh đất năm xưa dựng lán Bác Hồ. Chị Hòa bảo, cả thung lũng hiện có 2 hộ đồng bào Tày sinh sống, chứ ngày đó (ngày Bác Hồ và bộ đội về làm lán ở để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp) tuyệt nhiên không có người ở, cây cối rậm rạp, rất nhiều cây Trò. Bà con gọi Lũng Trò là vì vậy.

Theo sách  “Di tích lịch sử – lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đất Tuyên Quang” (Sở VHTT&DL tỉnh phát hành năm 2010), lán Bác ở Lũng Trò được làm theo kiểu nhà sàn, tầng trên để ngủ ban đêm, tầng dưới làm việc ban ngày, vừa tránh được thú dữ, vừa tránh không khí ẩm thấp của núi rừng. Lán quay hướng Nam, nhìn xuống suối. Sáng sáng Bác thường xuống suối rửa mặt, tay cầm theo ống bương đựng nước để khi trở lên đến thềm nhà thì rửa chân. Trước cửa lán, Bác trồng khóm hoa vừa để ngụy trang, vừa có hoa đẹp để ngắm. Từ căn lán này, ngày 19-12-1948, Bác Hồ đã viết Lời kêu gọi nhân ngày kỷ niệm hai năm kháng chiến toàn quốc, Điện gửi nhân dân Pháp, gửi thư cho đồng bào Công giáo toàn quốc nhân ngày lễ Thiên Chúa giáng sinh… Cũng tại đây, Bác gửi thư chúc mừng năm mới đến toàn thể đồng bào chiến sỹ nhân Tết Dương lịch 1949, ký Sắc lệnh thành lập một Hội đồng giáo dục có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục ấn định chính sách và kế hoạch giáo dục, nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục nước nhà. Bác thường xuyên truyền tinh thần lạc quan cách mạng đến cán bộ và nhân dân, chú trọng công tác tư tưởng, nhắc nhở các đồng chí cảnh vệ, phục vụ, bộ đội phải làm tốt công tác dân vận, tổ chức dạy chữ quốc ngữ cho dân, hướng dẫn bà con ăn ở hợp vệ sinh, tham dự các buổi sinh hoạt với nhân dân.

cay hoa bh 1Anh Nguyễn Văn Hùng (ngoài cùng bên phải) đang
 giới thiệu về cây hoa Bác Hồ ở Lũng Trò.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, Lũng Trò không còn rậm rạp, hoang vu như ngày ấy. Theo chân anh chị chủ nhà và anh cán bộ văn hóa xã, chúng tôi đến khu vực năm xưa là lán Bác. Căn lán Bác ở và các lán của bộ đội, của cán bộ phục vụ từ lâu đã không còn dấu vết. Nhưng thật kỳ diệu, khóm hoa Bác trồng nơi cửa lán năm xưa giờ vẫn xanh tươi, dù khu vườn đã qua biết bao mùa phát cỏ, gieo trồng. Đây là loại cây dây leo, rễ cọc cắm rất sâu vào đất, lá to hơn lá hoa nhài, thường nở hoa màu đỏ vào những tháng cuối năm âm lịch. Hết mùa hoa cũng là mùa gieo trồng vụ mới, người dân phát dọn cả khu vườn, nhưng chồi cây lại nhú lên từ sâu trong lòng đất, lại nảy lộc, đơm hoa. Người già, người trẻ ở Trung Trực đều khẳng định vùng này không hề có loại cây nào như thế. Không một ai biết tên cây. Chỉ biết cây do Bác trồng, nên bà con đã đặt tên cây là cây hoa Bác Hồ. “Trông cây lại nhớ đến Người”, trước vạt cây lạ, đặc biệt xanh tốt giữa đám dong giềng đang nở hoa đỏ ối bên dòng suối Lũng Trò, tôi bỗng như thấy hình ảnh Bác tại Lũng Trò, lúc suy tư làm việc trong lán, lúc ân cần trìu mến chăm sóc khóm hoa. Xin phép đưa một nhánh hoa về trồng, tôi muốn được chăm sóc hoa như lưu giữ một kỷ vật thiêng liêng về Bác. Được biết, gần đây xã Trung Trực đã giao nhiệm vụ cho anh chị Hùng – Hòa trông coi, chăm sóc khóm hoa. Vợ chồng anh đã coi đó là vinh dự của gia đình. Khung ảnh trong nhà hiện treo những tấm hình chụp các đoàn khách đến Lũng Trò thăm cây hoa Bác Hồ nở đỏ rực rỡ.

Khắc ghi lời Bác

Ông Ma Phúc Quý, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Trung Trực năm nay đã gần bảy mươi tuổi. Ông là con trai của Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến xã Ma Phúc Nghiêm ngày ấy. Trong căn nhà đơn sơ ngay cửa ngõ vào Lũng Trò, ông kể cho chúng tôi nghe chuyện cây hoa Bác Hồ, chuyện những ngày cha mẹ ông vinh dự được phục vụ Bác Hồ, phục vụ bộ đội. Hồi ấy ông còn nhỏ, nên những chuyện về Lũng Trò chủ yếu được biết qua lời kể của cha mẹ. Nào chuyện mỗi tuần, bộ đội trong lũng lại ra thôn dạy dân tập võ, vui văn nghệ; chuyện bà con trong thôn đóng góp tre nứa, lá cọ làm lán, đóng góp gà, gạo và các loại thực phẩm khác nuôi bộ đội.

cay hoa BH 2Trường THCS Trung Trực (Yên Sơn) mới được đầu tư xây dựng
 thu hút con em học sinh trong xã đến trường.    

Có gia đình đóng góp nhiều bạc trắng, có nhà đem đến con lợn 65 kg. Mẹ ông, bà Đào Thị Hồng vốn không biết chữ, nhưng được tổ chức phân công tiếp nhận đồ bà con ủng hộ Việt Minh, có cân đong cẩn thận, báo cáo Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến xã viết giấy biên nhận, ký tên hẳn hoi. Những ngày Ban Việt Minh xã và bộ đội làm lán đón Bác Hồ, mẹ ông ngày ngày nấu cơm, cha ông đưa cơm vào trạm gác, đánh kẻng cho bộ đội ra lấy. Có một chuyện cha kể làm ông nhớ mãi. Ấy là một lần đưa cơm vào lán, được gặp cụ già dáng cao, râu dài ở một căn lán bên kia suối. Cụ già dặn dò: Chú là người đứng đầu phải gương mẫu vận động, giác ngộ cách mạng cho bà con để kháng chiến sớm thắng lợi. Lời dặn dò ôn tồn, giản dị mà sâu sắc. Sau này, khi mọi người trong các lán ở Lũng Trò đã rút đi nơi khác, ông mới biết cụ già hôm ấy chính là Bác Hồ. Luôn đinh ninh lời Bác, vị Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến xã đã lãnh đạo Trung Trực thành căn cứ cách mạng thủy chung, giữ bí mật, bảo vệ cán bộ. Cậu bé Ma Phúc Quý mới ra đời năm ấy được nuôi dưỡng và trưởng thành  trong truyền thống cách mạng của gia đình, thôn xóm, sau này thành bộ đội tận chiến trường nước bạn Lào, rồi đảm nhiệm cương vị Bí thư Đảng ủy xã (1996 – 2000), Chủ tịch Mặt trận tổ quốc xã (2000 – 2004).

Trong số những người cao tuổi nhất ở Trung Trực hiện nay có cụ Đàm Văn Xuyên, cũng nguyên là Bí thư Đảng ủy xã, Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng, ở thôn Đồng Quảng. Cụ Xuyên năm nay đã ngoài chín mươi tuổi, dáng vẻ chậm chạp, nhưng đôi mắt còn tinh anh và tai nghe vẫn rõ. Cụ rành rọt kể cho chúng tôi về những ngày Bác Hồ và bộ đội về Lũng Trò. Ngày ngày tập luyện, tối lại sinh hoạt nghe cán bộ nói chuyện, vui văn nghệ, học chữ quốc ngữ. Nhắc đến Di tích lán Bác ở Lũng Trò và cây hoa Bác Hồ, cụ Xuyên tỏ ý day dứt vì lúc còn công tác chưa đề nghị cho Lũng Trò được công nhận là Di tích lịch sử cách mạng. Nay cụ đã ở tuổi gần đất xa trời, chỉ mong các thế hệ sau giúp tháo bỏ niềm day dứt bấy lâu.

Trong câu chuyện với chúng tôi, Bí thư Đảng ủy Nguyễn Văn Sáu không giấu niềm tự hào vì Trung Trực vinh dự được Bác Hồ từng ở và làm việc, vì Trung Trực hiện vẫn lưu giữ được cây hoa Bác Hồ là kỷ vật thiêng liêng của Bác. Anh cho biết xã đã làm hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền công nhận Lũng Trò là Di tích lịch sử quốc gia. Cây hoa Bác Hồ ở Lũng Trò đã được nhân gốc đem trồng trước cột cờ trụ sở xã để mỗi cán bộ, đảng viên ngày ngày chăm sóc như một lời tự nhắc nhở học tập và làm theo Bác. Đảng bộ Trung Trực nhiều năm liền trong sạch vững mạnh, được Tỉnh ủy tặng Bằng khen Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu (2009 – 2011). Trong Cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Trung Trực được huyện Yên Sơn chọn là xã điểm và được khen thưởng. Nhưng quan trọng hơn, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã đều nhận rõ những ưu khuyết điểm của mình để đề ra phương hướng khắc phục và đăng ký những việc làm theo Bác cụ thể, sát thực trong từng thời kỳ.

Năm 2012 này, mỗi tập thể, cá nhân ở Trung Trực đều chọn được nội dung làm theo Bác Hồ gắn với nhiệm vụ được giao. Đảng ủy xã chọn việc nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, quan tâm phát triển đảng viên. Ủy ban nhân dân xã đề cao thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gần dân, lắng nghe dân. Chi bộ Trường Trung học cơ sở xã giúp học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giúp đồng nghiệp sử dụng phần mềm tin học trong soạn giảng. Cá nhân đồng Chí chủ tịch Ủy ban nhân dân xã chọn thực hiện nội dung “nâng cao trình độ năng lực, nghiên cứu kỹ văn bản trước khi triển khai thực hiện, kiểm tra chặt giấy tờ trước khi ký”…

Nhớ lời Bác trong thư chúc mừng năm mới viết năm 1949 tại Lũng Trò “đồng bào sẽ xung phong thi đua tăng gia sản xuất về mọi nghề, mọi ngành, diệt giặc đói, giặc dốt…”, Trung Trực đã tìm được hướng phát triển từ chính đồng đất của xã. Cùng với cây lúa, xã đang phát triển hơn 200 ha cây dong giềng và cây chuối làm hàng hóa. Đã có những hộ đầu tư máy móc, nhà xưởng để thu mua dong củ, chế biến bột tại chỗ, giải quyết đầu ra cho cây dong. Dẫu đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, nhưng bà con vẫn tích cực tham gia các hoạt động vì cộng đồng, đóng góp làm đường bê tông đến các thôn được 2 km năm 2011, đóng góp xây dựng Tượng đài Bác Hồ với nhân dân các dân tộc Tuyên Quang được 10 triệu đồng, giải phóng mặt bằng xây dựng Trường Trung học cơ sở xã theo hướng chuẩn quốc gia, xây dựng hồ Khuôn Lù và các tuyến mương phục vụ sản xuất. Xã đã chỉ đạo việc củng cố các lớp học thôn bản, tạo mọi điều kiện để hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho 38 trẻ trong độ tuổi. Mức lương thực bình quân đạt 720 kg/người/năm  và 1,1 triệu đồng/người/tháng là kết quả đáng trân trọng đối với một xã vùng sâu, vùng xa.

Tạm biệt Trung Trực, trong tôi vẫn in đậm hình ảnh cây hoa Bác Hồ và những tâm sự của các đồng chí lãnh đạo xã về thực hiện lời dạy của Bác để phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Và mãnh liệt một niềm tin không lâu nữa, hồ sơ đề nghị Lũng Trò là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia (đã được Bảo tàng tỉnh trình Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) sẽ được phê duyệt, để nơi này là điểm đến giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ mai sau. Rồi đây, cây hoa Bác Hồ ở Lũng Trò với sức sống diệu kỳ từ hơn nửa thế kỷ qua sẽ được nhiều người biết đến, được nhân giống và chăm sóc ở nhiều nơi như giữ gìn một kỷ vật quý giá về Bác, như một cách để mỗi người tự nhắc mình thường xuyên học tập và làm theo Bác Hồ.

Theo baotuyenquang.com.vn
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Chuyện về Bác Hồ với Vua bếp huyền thoại Escoffier

Laura Lam tiếp tục có viết về quãng thời gian Bác Hồ – khi đó là chàng thanh niên Văn Ba, làm việc cùng đầu bếp huyền thoại người Pháp Escoffier, với những chi tiết ít người biết về vị lãnh tụ của chúng ta.

“Đứng trước tòa nhà mới xây trên nền đất cũ, tâm trí tôi lại trở về với Khách sạn Carlton, nơi chàng thanh niên Văn Ba (Hồ Chí Minh) đã làm việc. Tôi mường tượng ra khu bếp lớn của Vua bếp Auguste Escoffier với đội ngũ 60 nhân viên của ông ấy, tất bật chạy quanh trong những bộ áo choàng trắng cùng mũ vải trắng tinh tươm.

chuyen ve Bac Ho voi nguoi dau bep 1Khách sạn Carlton năm 1920

Trước khi chuyển đến khách sạn Carlton lộng lẫy, Escoffier đã từng làm việc cho khách sạn Savoy, nơi ông xây dựng được danh tiếng là cha đẻ của phong cách nấu ăn Pháp. Escoffier là người cung cấp thực phẩm cho nhà bếp Hoàng gia Anh, cho các phụ nữ quý tộc Châu Âu, cho những người nổi tiếng và những người siêu giàu. Được Hoàng tử xứ Wales đánh giá cao, nên khi Hoàng tử trở thành Vua Edward VII năm 1901, Escoffier được giao trọng trách chuẩn bị cho bữa tiệc đăng quang của nhà vua mới. Năm 1913, ông gặp Hoàng đế Wilhelm II tại bữa tiệc chiêu đãi cấp quốc gia dành cho 146 nhân vật quyền cao chức trọng Đức. Hoàng đế đã rất ấn tượng với phong cách nấu ăn của Escoffier và dành cho ông lời ca tụng: “Tôi là Hoàng đế của nước Đức, nhưng ông là ông vua của các đầu bếp”.

Thực đơn của Escoffier gồm những món xuất phát từ những ý tưởng chỉ có ở riêng ông. Như món thịt gà đông được làm từ ký ức của ông về con tàu Jeannette bị mắc cạn trên băng năm 1881; món bánh làm bằng quả đào là để tỏ lòng tôn kính danh ca người Australia, Nellie Melba; món làm từ dâu tây, dứa, kem chanh là món ăn tỏ lòng kính trọng với nghệ sĩ Pháp lừng danh Sarah Bernhardt. Nhiều món ăn của ông đã trở thành những món ăn kinh điển của người Pháp.

Bí quyết của người đầu bếp huyền thoại này là sử dụng những thành phần tươi nhất và nguyên chất nhất để làm nên những món ăn với kỹ thuật cao nhất cùng tính giản đơn. Ông cũng đề cao tiêu chuẩn vệ sinh trong khi chế biến. Năm 1919, Tổng thống Poincaré đã trao tặng Escoffier Bắc đẩu Bội tinh để ghi nhận tài năng đặc biệt cũng như công lao của ông quảng bá phong cách ẩm thực Pháp. Ba năm sau đó, ông được phong chức Sĩ quan Đội sĩ quan danh dự nhân một bữa tiệc quốc gia tại Palais d’Orsay.

chuyen ve Bac Ho voi 2Khách sạn Carlton bị phá hủy trong cuộc chiến Blitz ở London năm 1940

Khách sạn Carlton là nơi được Winston Churchill (sau này là Thủ tướng Anh) yêu thích. Ngày 4/8/1914, khi Churchill đang ngồi dùng bữa trong khách sạn này, Anh đã tuyên chiến với Đức và các đồng minh của Đức. Chiến tranh đã bùng nổ hai ngày trước đó, khi quân Đức tấn công lính Pháp. Escoffier và Văn Ba cũng có mặt tại khách sạn khi lời tuyên chiến được đưa ra. Văn Ba đã rất phấn chấn. Anh âm thầm hy vọng cuộc chiến này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Ở London, anh lặng lẽ chờ cơ hội để bộc lộ. Escoffier tiếp tục phụ trách công việc bếp núc của khách sạn Carlton cho đến hết Chiến tranh thế giới thứ I (8/1914 -11/1918).

Khi Văn Ba bắt đầu công việc của mình vào mùa Xuân năm 1913, anh chỉ là một chân trong nhóm rửa bát ở khu bếp của Escoffier. Với nhân viên này, không có gì hay ho khi chứng kiến những khách hàng giàu có và nổi tiếng để lại nhiều thức ăn trên đĩa sau mỗi bữa. Bất kỳ khi nào nhìn thấy một khoanh bít tết lớn hay miếng thịt gà to còn chưa được đụng đến, anh lại chuyển chúng sang một chiếc đĩa sạch và gửi trở lại nhà bếp. Một lần, Escoffier hỏi Ba “Tại sao anh không vứt những thức đó vào thùng rác như những người khác? Ba trả lời “Những thứ này không nên vứt đi. Ông có thể mang chúng cho người nghèo”.

Escoffier lấy làm thích thú và tỏ ý rất hài lòng với câu trả lời này. “Chàng trai trẻ thân mến ơi, hãy nghe ta. Giờ thì gạt ý tưởng mang tính cách mạng đấy của anh sang một bên và ta sẽ dạy cho anh nghệ thuật nấu nướng. Nó sẽ mang đến cho anh rất nhiều tiền”.

chuyen ve Bac Ho voi 3Tấm bảng treo trên tòa nhà mới. Không có tài liệu nào của Khách sạn Carlton thoát khỏi cuộc chiến tranh. Các nhà sử học Nga và Việt Nam cùng những nguồn khác cho rằng chàng thanh niên Văn Ba đã làm việc ở Khách sạn Carlton từ năm 1913 đến 1917

Ngay sau cuộc đối thoại này, Văn Ba được đưa lên khu vực làm bánh và Escoffier đã truyền cho anh nghệ thuật làm món tráng miệng của Pháp. Anh làm theo những hướng dẫn của vị vua bếp một cách siêng năng và với niềm thích thú thực sự. Ba học rất nhanh công thức làm các loại bánh ngọt của Pháp. Escoffier là người tiên phong trong kỹ thuật trộn các thành phần bánh, xử lý bột nhào và bí kíp nướng bánh sao cho ra lò được những chiếc bánh với lớp vỏ giòn và bóng mịn.

Ngay từ đầu, người thày thông thái của Ba đã chú ý đến sự thông minh nổi trội của cậu học trò và ông luôn đánh giá cao tính chín chắn, thái độ lịch thiệp của Ba. Năm 1917, Escoffier chuẩn bị cho sinh nhật lần thứ 71 của mình, ông đã nghĩ đến việc nghỉ ngơi sau khi tìm được người sẽ kế thừa tài sản vô giá là những công thức làm món ăn của ông. Văn Ba đã theo học ông được 4 năm và là một trong những đầu bếp được ông quý mến nhất. Escoffier không nghi ngờ về việc Ba có được một sự nghiệp đầy hứa hẹn trong thế giới của các đầu bếp Pháp.

Tuy nhiên, một buổi tối, Ba đã nói chuyện với Escoffier. Tin tức về phong trào Duy Tân bị Pháp đàn áp đã đến với Ba và anh cảm thấy rất bồn chồn. Anh thông báo với Escoffier tin sẽ rời London và bắt tay vào một sứ mệnh mới. Có thể quyết định này bắt nguồn từ sự kiện ở Đông Dương, mà cũng có thể là do cuộc Cách mạng Nga bất ngờ nổ ra. Escoffier biết hoài bão chính trị của Ba rất tốt. Nhưng ông cũng cảm thấy buồn bã khi chàng thanh niên có vẻ ngoài thư sinh kia lại từ bỏ bộ đồ trắng để bắt đầu một cuộc sống mà khi ấy, ông cho là đầy những nguy cơ và không có gì chắc chắn.

Khách sạn Carlton bị Đức Quốc xã phá hủy hoàn toàn trong cuộc chiến tranh chớp nhoáng vào London, thường được gọi là cuộc chiến London Blitz, trong những năm đầu 1940, sau 57 đêm Hitler ra lệnh không kích liên tục thành phố này. Đây là giai đoạn đầu của cuộc Chiến tranh thế giới thứ II (tháng 9/1939-tháng 8/1945).”

Theo Laura Lam (Việt Hà dịch)
Dantri.com.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Người thức trắng đêm vẽ tranh Bác Hồ

Ong Phan Thanh Tinh va buc anh Bac HoÔng Phan Thanh Tịnh và tác phẩm
“Bác Hồ bên cửa biển Nhật Lệ chiều 16-6-1957”

Chúng tôi tìm đến nhà ông Phan Thanh Tịnh ở Tiểu khu 5, phường Đồng Phú, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt chúng tôi đó là căn phòng khách treo trang trọng những bức tranh khổ lớn vẽ Bác Hồ. Đối với ông Tịnh, mỗi bức tranh là những kỉ niệm mà ông không thể nào quên. Năm nay đã bước sang tuổi 72 nhưng ông vẫn còn khoẻ mạnh và minh mẫn. Tiếp chuyện chúng tôi, ông say sưa kể về những kỉ niệm trong những lần vẽ ảnh chân dung Bác Hồ.

Những năm 50 của thế kỉ XX, khi đang còn là cậu học sinh phổ thông Trường Đào Duy Từ, Phan Thanh Tịnh đã bộc lộ khả năng hội hoạ của mình khi được tham dự cuộc thi vẽ tranh liên hoan của thiếu nhi hai miền Nam – Bắc tại Cửa Tùng (Quảng Trị). Đến nay, dù đã trải qua nhiều vị trí và lĩnh vực công tác khác nhau nhưng ông vẫn miệt mài theo đuổi niềm đam mê hội hoạ. Và trong suốt chặng đường sáng tạo đó, ông đã dành phần lớn thời gian và tâm huyết cho những bức tranh vẽ về đề tài Bác Hồ. Ông kể: Ông được vinh dự trông thấy Bác Hồ vào ngày 16-6-1957, khi Người về thăm và nói chuyện tại lễ đài sân vận động Đồng Hới với hơn 3 vạn cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Quảng Bình. Những hình ảnh, cử chỉ và giọng nói ấm áp, trìu mến của Người trong ngày hôm ấy mãi mãi đọng lại trong kí ức của ông. Nên sau đó, ý tưởng vẽ hình Bác luôn nung nấu trong trái tim ông. Bức tranh đầu tiên ông vẽ Bác vào năm 1967 với hình Bác to hơn người thật, được treo trang trọng tại Đại hội Quyết thắng của tỉnh tổ chức tại chiến khu Ba Rền.

Và tác phẩm đặc biệt thứ hai vẽ về Bác chính là bức chân dung được ông vẽ trong đêm 3-9-1969. Ông nhớ lại, đó là buổi chiều ngày 3-9-1969, khi ông đang bị ốm thì nhận được giấy triệu tập của đồng chí Trương Hoa – Chủ tịch thị xã Đồng Hới: “Bác Hồ kính yêu của chúng ta đang ốm nặng, nhỡ ra tình huống không qua khỏi, cậu (Phan Thanh Tịnh) phải nhanh chóng vẽ chân dung Bác để kịp hôm sau Đảng bộ và nhân dân tỉnh làm lễ truy điệu”. Khi được giao nhiệm vụ vẽ chân dung Người, tâm trạng ông rối bời bởi vừa lo tình hình sức khoẻ của Bác, vừa lo vì trọng trách được giao. Nhưng vì công việc quan trọng và khẩn cấp, ông bắt tay ngay vào công việc, ông chuẩn bị một tờ giấy rôki cỡ rộng, màu và bút vẽ.

Lúc đó, do ốm nên đầu óc ông cứ như bốc lửa, loay hoay mãi với những mảng màu, đường nét. Ông thật sự lúng túng thấy tay và mắt mình không làm chủ được nữa. Liền sau đó, khi nhận tin Bác Hồ không còn nữa, với niềm đau thương và kính yêu vô hạn đối với Bác, ông nhập hồn vào bức vẽ. “Tôi phải nén những giọt nước mắt để hoàn thành bức chân dung Bác cho kịp buổi Lễ Truy điệu ngày hôm sau. Đến gần 5 giờ sáng ngày 4-9-1969, tôi đặt bút xuống và báo cáo bức chân dung Bác Hồ đã hoàn thành, tất cả mọi người ngắm nhìn và oà lên khóc”… Kể đến đây, ông không kìm được cảm xúc, lấy khăn lau dòng nước mắt đang chảy dài trên gò má.

Cùng với bức tranh vẽ Bác ngày ấy, sau này ông Tịnh vẫn miệt mài vẽ tranh Bác Hồ. Trong đó phải kể đến những bức tranh ông vẽ chân dung Bác cùng Hôxê Macti – nhà tư tưởng, nhà văn hoá vĩ đại của Cu Ba – cùng lãnh tụ Phiđen Castro đã được tặng cho Đại sứ quán Cu Ba. Bức tranh vẽ Bác đứng cạnh Các Mác – Lênin được tặng cho Tỉnh uỷ Bình – Trị – Thiên. Hiện tại, trong căn phòng khách của ông treo đầy hình ảnh Bác. Trong đó, bức tranh “Bác Hồ bên cửa biển Nhật Lệ chiều 16-6-1957” được ông vẽ vào năm 1992, đã gây ấn tượng đối với nhiều người.

Cùng với niềm đam mê vẽ tranh về Bác, ông còn vẽ tranh cổ động, sáng tác thơ ca, hò vè và sưu tầm hàng ngàn câu tục ngữ, ngạn ngữ trong nước và thế giới… Nhiều bức tranh về đề tài chiến tranh cách mạng của ông hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Bình, đó là các tranh “Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Đồng Hới năm 1945”, “Lập chiến luỹ trên đường phố Đồng Hới” và “Lê Thành Đồng trên điểm cao 26”…

Theo Báo Đại đoàn kết
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Khu vườn Phủ Chủ tịch – nơi giáo dục sâu sắc ý thức bảo vệ môi sinh, môi trường

coi bac xua

Vào thăm nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, ấn tượng đầu tiên đối với khách tham quan đó là màu xanh của vườn cây nơi đây. Khu vườn mang lại cho du khách một cảm giác thư thái, trong lành ngay giữa lòng Thủ đô Hà Nội ngột ngạt. Và càng thú vị hơn khi du khách được tìm hiểu một số câu chuyện về các loài cây trong khu vườn gắn với những kỷ niệm về Bác. Chuyện về mỗi loài cây mang tình cảm ấm áp của Bác, có ý nghĩa giáo dục sâu xa về cuộc đời, về con người.

Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch nằm trong khuôn viên vốn là một phần của vườn Bách thảo cũ. Cuối thế kỷ thứ 19, sau khi xâm lược ba nước Đông Dương, thực dân Pháp đã chiếm khu đất này để quy hoạch về Phủ Toàn quyền Đông Dương. Mãi đến cuối năm 1954 sau khi Hà Nội được giải phóng, quân ta về tiếp quản Thủ đô thì khu vực này mới trở thành trung tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta. Trải qua nhiều biến cố, thăng trầm của lịch sử dân tộc, nhiều công trình kiến trúc đã bạc màu vì thời gian, tuy nhiên khu vực này vẫn giữ được vườn cây xanh tươi, phong phú về chủng loại. Theo nhận định của một số nhà khoa học thì nơi này giống như một bảo tàng sống về các loại cây trong đó có nhiều giống cây quý đến từ nhiều nước trên thế giới, nhiều cây cổ thụ có tuổi thọ hàng trăm năm.

Toàn bộ vườn cây có 1271 cá thể, thuộc 161 loài cây, 54 họ thực vật, 78 cây có nguồn gốc trong nước, 68 cây có nguồn gốc nước ngoài và một số cây còn chưa rõ nguồn gốc; nhiều loài cây ăn quả, nhiều loài cây bóng mát, nhiều loại hoa và cây cảnh. Khu vườn này càng phong phú hơn kể từ khi Bác Hồ về ở và làm việc tại khu vực này, Bác đã cho trồng nhiều loại cây mới, cải tạo ao nuôi cá, đường đi, lối lại và làm cho cảnh quan môi trường ở khu vực này thêm sạch và đẹp. Nhiều cây trồng ở khu vực này không chỉ có giá trị về mặt kinh tế mà còn mang lại ý nghĩa lịch sử văn hóa, gắn với quê hương đất nước, gắn với tình đồng chí, bè bạn quốc tế bởi vì trong khu vườn này có những cây do Bác tự tay trồng và chăm sóc, có cây Bác đặt tên, có cây Người mang từ nước ngoài về, có cây đồng bào trong nước gửi tặng… mỗi cây đều chứa đựng những kỷ niệm sâu sắc về Người.

Trên con đường đi từ Phủ Chủ tịch đến nhà 54, khách tham quan có thể chiêm ngưỡng cây đa có thế đứng độc đáo với ba thân cây phụ được tạo thành từ các nhánh rễ buông  từ trên cành xuống tỏa ra ba hướng, Bác đã dạy cho các đồng chí phục vụ cách đưa rễ đa từ trên cao xuống đất để chống đỡ cho cây trong những ngày mưa bão. Qua quá trình đưa được rễ đa xuống đất mất nhiều thời gian và công sức này, Bác muốn gửi bức thông điệp đến mọi người rằng: Con người hoàn toàn có thể chinh phục được tự nhiên, nếu có tính quyết tâm và lòng kiên trì. Để ghi nhớ lời Bác dạy, các đồng chí phục vụ đã đặt tên cho cây là: Cây đa kiên trì.

Bên cạnh ngôi nhà số 54, Bác cho trồng cây xanh bốn mùa với đặc tính rất ít khi rụng lá vào mùa đông. Loài cây này được Bác mang về từ Trung Quốc sau chuyến thăm hữu nghị của Người vào năm 1957 để trồng thử với mong muốn nếu cây thích ứng tốt với khí hậu Việt Nam sẽ cho trồng rộng rãi trên khắp các đường phố để đỡ phần nào cực nhọc cho những người lao công quét đường.

Quanh ao cá của Bác Hồ nhấp nhô những rễ cây dâm bụt mọc, loài cây Bác đã đặt tên sau một so sánh khá thú vị giữa hình dáng của rễ cây với những bức tượng của ông Bụt ở trong chùa. Khi Bác biết các đồng chí phục vụ có ý định chặt bỏ một cây bụt mọc đã bị mối xông quá nửa thân, Bác đã khuyên không nên chặt bỏ rồi sau đó Bác đã trực tiếp hướng dẫn các đồng chí phục vụ cách cứu chữa cho cây. Theo Bác: Chặt một cây thì rất dễ nhưng trồng thêm một cây mới để phát triển được như cũ thì mất rất nhiều thời gian. Sau này, khi đi nói chuyện tại một Hội nghị Cán bộ quản lý ở thị xã Sơn Tây, Bác đã kể lại câu chuyện cứu chữa cây bụt mọc để nhắc nhở về việc quản lý, giáo dục cán bộ. Bác dạy rằng, việc giúp đỡ một cán bộ phạm khuyết điểm cũng giống như cứu chữa một cây bị hư, không phải cứ thấy cán bộ phạm lỗi là đưa ra kỷ luật, bài trừ mà phải tạo điều kiện giúp đỡ họ để họ khắc phục khuyết điểm và trở thành người có ích. Qua câu chuyện về cây, Bác đã dạy cho chúng ta một bài học sâu sắc về cách ứng xử đầy vị tha, nhân hậu đối với con người. Tình yêu thương và lòng bao dung nhân ái chính là cách tốt nhất để cảm hóa được con người lầm lỗi, giúp họ trở thành người tốt. Đối với cây cỏ, thiên nhiên cũng vậy, chỉ có tình yêu thương, lòng quý trọng mới biến thiên nhiên thành những người bạn thực sự trong cuộc sống của chúng ta.

Bờ ao trước nhà sàn Bác cho trồng hai cây y lan với dáng đứng vươn thẳng lên bầu trời rồi Người đặt tên cho cây là cây vũ trụ để chúc mừng thành tựu của nhân dân Liên Xô sau khi được biết bạn vừa phóng thành công hai con tàu vũ trụ Phương Đông 5 và Phương Đông 6. Vào mỗi độ hè sang, khu vườn của Bác càng được tô điểm với những sắc màu rực rỡ của hoa phượng, hoa liễu đỏ, hoa bằng lăng tím, hoa phong lan đủ màu sắc quanh ao cá.

Thăm khu vực nhà sàn, khách tham quan sẽ được chiêm ngưỡng một khung cảnh vừa giản dị, vừa nên thơ với hàng rào dâm bụt gợi nhớ hình ảnh ngôi nhà ở Làng Sen quê hương Bác, vườn hoa trước nhà với các loài hoa mang nhiều hương thơm thường được trồng ở các vùng quê như hoa mộc, hoa sói, hoa nhài, hoa dạ hương. Mảnh vườn nhỏ phía sau nhà với những luống cam, bưởi mang đến cho ta một cảm giác bình yên và thật sự gần gũi như hình ảnh quê hương trong tâm khảm của mỗi con người. Ở góc cầu thang nhà sàn là cây vú sữa của đồng bào miền Nam mà Bác đã cho chuyển từ ngôi nhà số 54 về trồng tại đây sau khi nhà sàn được hoàn thành. Hằng ngày dù bận trăm công ngàn việc Bác vẫn dành thời gian để chăm sóc, tưới tắm cho cây như gửi gắm vào trong đó tất cả tình cảm Bác dành cho đồng bào miền Nam.

Trước khi ngôi nhà sàn được đưa vào xây dựng, Bác đề nghị hạn chế tối đa việc chặt cây nhằm duy trì đến mức tốt nhất vườn cây đã có sẵn từ trước. Chính vì vậy mà nhiều cây cổ thụ quý hiếm vẫn được gìn giữ và chăm sóc cho đến tận ngày hôm nay như: Những cây cơm nguội, cây đa, cây xoài, cây ngân hoa, cây hoàng lan,… Bác rất thích làm việc giữa khung cảnh thiên nhiên. Những nơi làm việc yêu thích của Người là dưới giàn hoa Phủ Chủ tịch và ngôi nhà sàn giản dị ở giữa vườn hoa xanh mát. Nơi đây giữa thiên nhiên hoa lá, dường như Bác cảm thấy minh mẫn và thư thái hơn để đưa ra nhiều suy nghĩ, nhiều quyết sách đúng đắn, phù hợp với tình hình đất nước. Đây còn là nơi Bác dành để tiếp đón các đoàn khách đặc biệt của mình. Bác thích trò chuyện, tiếp khách tại đây bởi không bị giới hạn bởi không gian và các nghi thức ngoại giao, con người dễ gần gũi với nhau hơn. Được Bác tiếp đón tại giàn hoa Phủ Chủ tịch hay ở tầng một nhà sàn là một kỷ niệm khó quên đối với những vị khách của Bác.

Những năm tháng cuối cùng của cuộc đời, nỗi nhớ miền Nam da diết trong lòng Bác. Không có dịp vào thăm miền Nam, Bác dành hết tình cảm của mình vào việc chăm sóc những cây dừa miền Nam trước ngôi nhà sàn hay cây vú sữa mà đồng bào miền Nam đã tặng Bác. Trước lúc đi xa Bác còn căn dặn đồng chí Vũ Kỳ tìm thêm các giống xoài miền Nam trồng xen kẽ giữa những cây xoài cổ thụ trên con đường xoài để cây có thời gian kịp phát triển thay thế những cây đã già cỗi.

Tham quan khu vườn Phủ Chủ tịch, tìm hiểu một số câu chuyện về những loài cây trong vườn Bác, chúng ta càng cảm nhận sâu sắc về tình cảm ấm áp của Bác không chỉ đối với con người mà còn lan tỏa sang cỏ cây hoa lá. Có thể nói, cây cỏ quanh nhà Bác không còn vô tri, vô giác mà như được thổi hồn vào nhờ tình yêu thương và bàn tay chăm sóc của Bác. Mỗi cây đều được Bác nâng niu, trân trọng và xem như những người bạn tri ân trong cuộc sống của mình. Mỗi buổi chiều sau giờ làm việc, khi những người phục vụ trở về với gia đình riêng của mình, Bác chỉ có thiên nhiên làm bầu bạn. Cỏ cây hoa lá rì rào quanh ngôi nhà xua đi sự tĩnh mịch, vắng vẻ, như tiếp thêm cảm hứng cho tâm hồn dễ rung cảm của Bác, giúp Người viết nên những áng thơ dạt dào tình yêu đất nước, quê hương.

Nơi Bác Hồ ở tràn ngập màu xanh của thiên nhiên, hoa lá, rộn tiếng chim ca. Cảnh sắc thật nên thơ trong sự hài hòa cân bằng sinh thái. Con người và thiên nhiên nơi đây tạo nên sự hoàn chỉnh, dung hòa trong mối quan hệ cộng sinh tự nhiên. Việc nước bộn bề với bao căng thẳng, lo toan nhưng mỗi khi trở về nơi này, Bác được hưởng những phút giây thư giãn, được tiếp thêm nguồn sinh lực mới để tiếp tục cống hiến cho Tổ quốc, cho nhân dân.

Được sống giữa môi trường thiên nhiên trong lành, Bác có thêm nhiều ý tưởng sáng tạo mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Cuối năm 1959, cũng từ nơi này, ngày Tết trồng cây đã được Bác phát động với mục tiêu “Trong mười năm, đất nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu sẽ điều hòa hơn, cây gỗ sẽ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”. Lời kêu gọi của Bác được sự hưởng ứng rộng rãi của các địa phương trong cả nước. Cũng từ sau Tết trồng cây đầu tiên, phong trào đã trở thành một nếp sống đẹp, một truyền thống gắn bó không thể thiếu trong mỗi người dân Việt Nam khi xuân về.

Không chỉ kêu gọi nhân dân tích cực tham gia trồng cây, Bác luôn trực tiếp tham gia, cổ động cho phong trào phát triển. Mỗi năm cứ khi Tết đến, xuân về Bác đều tự mình trồng cây trong Phủ Chủ tịch để làm gương. Bác thường xuyên tổ chức những chuyến công tác đến các địa phương để thăm hỏi, động viên, cùng trồng cây với nhân dân. Bác còn tặng cả huy hiệu của Người cho những gương người tốt, việc tốt, điển hình trong hoạt động trồng cây bảo vệ môi sinh, môi trường.

Nhờ có sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Bác, phong trào đã được phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn chiều sâu. Hàng ngàn héc ta rừng đã được phủ xanh, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao đời sống kinh tế và duy trì sự ổn định, bền vững cho môi trường sống của nhân dân ta. Mỗi người tham gia trồng thêm một vài cây xanh, đất nước ta có thêm hàng triệu cây xanh góp phần  làm cho môi trường sống càng thêm trong lành, thêm đẹp và thêm ý nghĩa.

Có thể nói ngày nay nhân loại đang đối diện với rất nhiều vấn đề bức xúc về môi trường. Sự phát triển kinh tế càng nhanh thì kéo theo nhiều hệ lụy lên môi trường sống của chúng ta. Môi trường sống ở các đô thị đang bị ô nhiễm, ngột ngạt vì khói bụi và chất thải đe dọa sức khỏe và chất lượng sống của con người. Nhiều khu công nghiệp với hàng ngàn nhà máy đang xả chất thải sản xuất trực tiếp ra môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước, đất đai và không khí. Nạn chặt phá rừng, buôn bán gỗ lậu, khai thác tài nguyên, khoáng sản diễn ra ngày càng tinh vi trên khắp các cánh rừng gây ra nhiều hậu qủa nặng nề như làm gia tăng nhiệt độ trái đất kéo theo lũ lụt, sạt lở đất… Rõ ràng nạn ô nhiễm môi trường do con người gây ra lại quay trở lại ảnh hưởng trực tiếp lên đời sống của con người. Giải quyết ô nhiễm môi trường ngày nay đã trở thành một vấn đề không chỉ của riêng một quốc gia, một dân tộc nào mà trở thành một vấn đề nóng bỏng của toàn cầu. Các quốc gia trên thế giới đều xem đây là một vấn đề ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển của mình. Trong số rất nhiều các giải pháp được đưa ra thì giải pháp trồng cây, gây rừng vẫn được xem là giải pháp hữu hiệu và thiết thực nhất. Song hành với các phương án phát triển kinh tế thân thiện với môi trường thì việc trồng cây, gây rừng và các biện pháp ngăn chặn chặt phá rừng cũng được nhiều quốc gia chú trọng đầu tư.

Nhìn nhận lại phong trào Tết trồng cây mà Bác đã phát động từ nhiều năm qua, chúng ta mới thấy hết được một tư tưởng vô cùng tiến bộ, một tầm nhìn xa trông rộng của Bác Hồ về việc bảo vệ môi sinh môi trường thể hiện qua một hành động trồng cây rất đơn giản và hiệu quả mà Người đã sớm nhận thức được trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều bộn bề với nhiều khó khăn của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Tham quan khu vườn của Bác tại Khu Di tích Phủ Chủ tich, chúng ta vẫn như cảm thấy hơi ấm tình thương của Bác còn hiện hữu nơi này. Giữa màu xanh cây lá, ta vẫn thấy hình bóng Bác nhân từ như ông Tiên trong câu chuyện cổ tích đang chăm chút, tưới tắm cho từng gốc cây, ngọn cỏ. Giữa lòng thủ đô Hà Nội náo nhiệt, ngột ngạt, vườn cây nơi đây cho ta cảm giác bình yên, thư thái, gợi mở những suy nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống. Màu xanh nơi đây chính là cội nguồn cuộc sống và cũng chính là một tương lai bền vững mà con người đang tích cực hướng tới. Vườn cây Khu Di tích Phủ Chủ tịch sẽ mãi là một bức thông điệp với các thế hệ hôm nay và mai sau: “Hãy giữ lấy màu xanh, đây chính là cuộc sống tương lai”.

Theo Lê Thị Thanh Loan
Phòng TT – GD
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Thủ tướng Vương quốc Đan Mạch đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Vương quốc Đan Mạch, Bà Helle Thorning Schmidt sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 7 đến ngày 8 tháng 11 năm 2012.

Đan Mạch và Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1971. Ở Bắc Âu nhưng Đan Mạch là nơi có phong trào nhân dân ủng hộ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Quan hệ hai nước thời gian qua ngày càng phát triển tốt đẹp. Hai bên thường xuyên trao đổi Đoàn cấp cao. Bà Helle Thorning Schmidt là Thủ tướng Đan Mạch đầu tiên tới thăm Việt Nam, khẳng định mối quan hệ song phương giữa Đan Mạch và Việt Nam ngày càng được củng cố vững chắc.

thu tuong dan machThủ tướng Helle Thorning Schmidt
cùng các đại biểu trong Đoàn vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong chuyến thăm Việt Nam lần này của Thủ tướng Helle Thorning Schmidt, hai bên sẽ trao đổi các biện pháp tăng cường hợp tác song phương trong các lĩnh vực chính trị – ngoại giao, kinh tế – thương mại – đầu tư, giáo dục đào tạo và văn hóa; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Đan Mạch tìm hiểu thị trường Việt Nam; thúc đẩy các dự án hợp tác đầu tư, kinh doanh với Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực mà Đan Mạch có thế mạnh như: Cảng biển, vận tải biển, công nghệ xanh, năng lượng tái tạo, công nghiệp ximăng…

Với tình cảm hữu nghị và thân thiết, sáng 8/11/2012, Thủ tướng Helle Thorning Schmidt cùng các đại biểu trong Đoàn đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 6)

“Muốn xây dựng một xã hội mới và tốt đẹp, thì cần phải tiêu diệt những thói hư, tật xấu của xã hội cũ còn sót lại. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải bồi dưỡng con người xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa là con người có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng”.

“Bài nói tại Hội nghị phổ biến Nghị quyết của Bộ Chính trị về cuộc vận động “Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”, 27-7-1963,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr. 110.

“Vì sao Cao Bằng, Lạng Sơn chỉ còn có được khoảng 50% số hộ vào hợp tác xã? Có phải vì đồng bào nông dân không thích Hợp tác xã không? – Không phải. Thế thì vì ai?

Các chú phải trả lời: Là vì tôi. Mỗi người phải nhận lấy phần trách nhiệm của mình, mà không nên nói lãnh đạo chung chung. Trung ương cũng lãnh đạo, Tỉnh ủy cũng lãnh đạo”.

“Bài nói tại Hội nghị truyên giáo miền núi”, 31-8-1963,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr. 131.

“Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí Bộ trưởng, Thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải gìn giữ tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hoà bình thống nhất nước nhà.

Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”.

“Nói chuyện tại phiên họp Hội đồng Chính phủ cuối năm 1963”, 26-12-1963,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.186.

“Cán bộ phải gương mẫu, chí công vô tư, cần, kiệm, liêm, chính, hết lòng vì dân, thực hành dân chủ, làm trọn công việc, tham gia lao động, luôn luôn rèn luyện lập trường, tư tưởng và đạo đức cách mạng, đi sâu vào nghiệp vụ, kỹ thuật”.

“Thư gửi Đại hội Hợp tác xã và đội sản xuất nông nghiệp tiên tiến vùng đồng bằng miền Bắc”, 13-1-1964,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.197.

“Hết lòng hết sức phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Đặt lợi ích của Đảng và lợi ích của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân.

… Luôn luôn thắt chặt quan hệ với quần chúng, học tập quần chúng, tìm hiểu, lắng nghe nguyện vọng và ý kiến của quần chúng để phản ánh cho Đảng và kịp thời giải quyết một cách thích đáng. Ra sức tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối, chính sách của Đảng trong quần chúng, tổ chức quần chúng thực hiện các chủ trương, chính sách và nghị quyết của Đảng; phát triển ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng.

… Gương mẫu trong lao động sản xuất, trong công tác, trong việc chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ, trong việc bảo vệ tài sản của Nhà nước và của tập thể; thực hành tiết kiệm, tích cực đấu tranh chống lãng phí, tham ô.

… Thực hành tự phê và phê bình; kiên quyết đấu tranh với mọi tư tưởng và hành động ở trong Đảng và ngoài Đảng có hại đến lợi ích chung của Đảng, của cách mạng”.

“Mừng Đảng ta 34 tuổi”, 3-2-1964,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.203.

“Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng. Đạo đức cách mạng là triệt để trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân”.

“Bài nói chuyện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”, 21-10-1964.
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.329.

“Biết bao đảng viên cộng sản là anh hùng, chiến sĩ trên mặt trận sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và trong các ngành hoạt động khác. Họ không đòi danh đòi lợi. Họ một lòng một dạ phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Họ là những đảng viên bình thường nhưng phẩm chất cách mạng của họ thật là cao quý. Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng ấy của giai cấp và của dân tộc”.

“Bài nói tại Hội nghị chỉnh huấn do Trung ương triệu tập”, 22-1-1965,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr.373.

“Các chú vẫn thường nói: Nhân dân ta rất anh hùng, ra ngõ gặp anh hùng. Điều đó rất đúng. Có thể nói trong mỗi nhà đều có anh hùng, như thế ra ngõ mới gặp anh hùng chứ! Nhìn lại lịch sử mấy nghìn năm của ông cha ta, ta cũng thấy điều đó. Cứ mỗi lần có những thử thách lớn thì nhân dân ta lại tỏ rõ khí phách, nêu cao phẩm chất tốt đẹp của mình”.

“Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt””, tháng 6 năm 1968,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.547.

“Từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc!”.

“Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt””, tháng 6 năm 1968,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.549.

“Chúng ta đánh giặc và xây dựng xã hội mới bằng những việc làm muôn hình muôn vẻ của hàng chục triệu con người như thế, chứ không phải chỉ bằng một vài việc làm nổi bật và vang dội của một số cá nhân anh hùng”.

“Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt””, tháng 6 năm 1968,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.550-551.

“Người cộng sản chúng ta không được phút nào quên lý tưởng cao cả của mình là: Suốt đời làm cách mạng phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thắng lợi hoàn toàn trên Tổ quốc ta và trên thế giới. Một ngày nào mà miền Nam ta chưa được giải phóng, Tổ quốc ta chưa được thống nhất, nhân dân ta chưa được sung sướng, yên vui thì tất cả chúng ta vẫn phải đem hết tinh thần và nghị lực mà phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng hoàn toàn thắng lợi”.

“Bài nói ở lớp huấn luyện đảng viên mới”, 14-5-1966,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.93.

“Các cán bộ và chiến sĩ Công an nhân dân phải ra sức trau dồi:

+ Đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân.

+ Tác phong phải thật khách quan, thiết thực, phải tăng cường công tác điều tra nghiên cứu tổng kết và trao đổi kinh nghiệm giữa các ngành công an”.

“Bài nói tại Đại hội thi đua lực lượng Công an nhân dân”, 12-10-1966,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.145-146.

“… đảng viên gương mẫu trong mọi công việc, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, nội bộ thực sự đoàn kết; chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng, lãnh đạo tốt sản xuất và chiến đấu; một lòng một dạ phục vụ nhân dân, thiết thực chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; đối với Đảng thì cũng cố tốt và phát triển tốt”.

“Bài nói tại Hội nghị tổng kết ba năm xây dựng chi bộ và đảng bộ cơ sở “bốn tốt””, tháng 4 năm 1966,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.77.

“1- Trung với nước, hiếu với dân, vì sự nghiệp chống Mỹ, vì chủ nghĩa xã hội, luôn luôn nêu cao tinh thần hy sinh chiến đấu, lao động quên mình.

2- Chấp hành triệt để đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, hăng hái thi đua yêu nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống.

3- Quyết tâm đi sâu vào khoa học- kỹ thuật và nghiệp vụ, phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ dám làm, ra sức học tập và vận dụng tốt sáng kiến và kinh nghiệm tiên tiến, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả chiến đấu.

4- Nêu cao ý thức tập thể và làm chủ tập thể, ý thức tổ chức và kỹ luật, đoàn kết đồng chí, đoàn kết nhân dân, đi đường lối quần chúng.

5- Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, khiêm tốn giản dị, gương mẫu về mọi mặt”.

“Nội dung chủ nghĩa anh hùng cách mạng của chúng ta”, tháng 4 năm 1966,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.90. 

“… đã là đảng viên thì phải cố thành một đảng viên “bốn tốt”, tức là phải hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, làm đúng chính sách của Đảng, nếu không thì vào làm gì? Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào.

Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên.

Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: Mình vào Đảng để làm đày tớ cho nhân dân, Bác nhấn mạnh: Làm đày tớ nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân.

Lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt”.

“Bài nói với cán bộ tỉnh Hà Tây”, 10-02-1967,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.12, tr.22”

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tuỵ, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 2)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 3)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 4)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 5)

Thủ tướng Liên bang Nga đặt vong hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Liên bang NgaDmitry Antolyevich Medvedev thăm chính thức Việt Nam ngày 7/11/2012. Tháng 10/2010, ông Medvedev từng có chuyến thăm chính thức Việt Nam trong vai trò Tổng thống Liên bang Nga. Cũng trong chuyến đi này, Ngài Thủ tướng cũng tham dự Hội nghị thượng đỉnh Nga – ASEAN tại Hà Nội.

Thu tuong nga.liet syThủ tướng D. Medvedev cùng các đại biểu trong Đoàn đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam

Chuyến thăm chính thức lần này của Thủ tướng Dmitry Antolyevich Medvedev diễn ra trong bối cảnh quan hệ hai nước có những bước phát triển mới. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tới thăm chính thức Nga hồi tháng 7 và hội đàm với Tổng thống Nga Vladmir Putin cũng như Thủ tướng D. Medvedev. Trong chuyến thăm của Chủ tịch nước, hai bên nhất trí nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện. Đây là sự kiện chính trị quan trọng, thể hiện tính phát triển liên tục của mối quan hệ song phương, khẳng định quyết tâm của lãnh đạo và nhân dân hai nước trong việc phát huy hiệu quả mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Liên bang Nga. Trong chuyến thăm của Thủ tướng Medvedev, Việt Nam – Nga sẽ cùng thảo luận các biện pháp nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực và trao đổi những vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm.

Thu tuong nga.langThủ tướng D. Medvedev cùng các đại biểu trong Đoàn vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân dịp này, sáng 7/11/2012, Thủ tướng D. Medvedev cùng các đại biểu trong Đoàn đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ Bắc Sơn, Hà Nội. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Thủ tướng Liên bang Nga D.A.Medvedev Kính viếng” và đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, người bạn và là người đồng chí thân thiết của nhân dân Liên xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Thủ tướng Liên bang Nga D.A.Medvedev Kính viếng.”

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 5)

63

“Chủ nghĩa xã hội là cái gì? Là mọi người được ăn no mặc ấm, sung sướng, tự do. Nhưng nếu muốn tách riêng một mình mà ngồi ăn no mặc ấm, người khác mặc kệ, thế là không tốt. Mình muốn ăn no mặc ấm, cũng cần làm sao cho tất cả mọi người được ăn no mặc ấm, như thế mới đúng. Muốn như vậy, phải ra sức công tác, ra sức lao động sản xuất.

Tiền đồ của mỗi người nằm trong tiền đồ chung của dân tộc”.

“Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục”, tháng 6-1957,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.8, tr.396.

…Đảng viên và cán bộ ta nói chung là trung thành, tận tụy, hăng hái. Nhưng một số đảng viên và cán bộ còn có bệnh công thần, suy tị, ỷ lại, tiêu cực không gương mẫu, đầy rẫy chủ nghĩa cá nhân.

Từ nay về sau, tất cả các đảng viên, cán bộ và chi bộ phải thường thường ôn lại, tự liên hệ và giữ đúng những tiêu chuẩn của người đảng viên:

1. Suốt đời kiên quyết phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

2. Rèn luyện tư tưởng vô sản, sửa chữa những tư tưởng sai lầm. Kiên quyết đứng hẳn trên lập trường giai cấp công nhân, không đứng chân trong chân ngoài.

3. Đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Biết đem lợi riêng, lợi ích của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng.

4. Tuyệt đối chấp hành nghị quyết và kỷ luật của Đảng.

5. Liên hệ chặt chẽ với quần chúng.

6. Luôn luôn cố gắng học tập, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình.

Phải giữ đúng những tiêu chuẩn đó mới xứng đáng là người đảng viên”.

Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ Kiến An”, 18-1-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 33-34.

Phải thấu suốt chính sách của Đảng và Chính phủ. Phải đi đúng đường lối quần chúng.

Phải thật sự gần gũi nhân dân, lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của nhân dân, học hỏi kinh nghiệm của nhân dân.

Phải biến quyết tâm của Đảng và Chính phủ thành quyết tâm của quần chúng.

Phải thiết thực quan tâm đến đời sống của nhân dân.

Phải cần, kiệm, liêm, chính. Phải gương mẫu. Phải có tinh thần trách nhiệm cao độ.

Phải chống quan liêu, mệnh lệnh, hình thức. Chống tham ô lãng phí.

Phải làm đúng những điều đó mới xứng là người đày tớ trung thành của nhân dân, người cán bộ tốt của Đảng và Chính phủ”.

Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ Kiến An”, 18-1-1960.
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 36.

“Những người được cử vào Quốc hội khóa II sẽ luôn luôn cố gắng để xứng đáng là những người đày tớ trung thành của đồng bào, những đại biểu cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội”.

Lời phát biểu tại Đại hội nhân dân Thủ đô
chào mừng các vị ứng cử đại biểu Quốc hội tại Hà Nội ra mắt cử tri”, 14-4-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 132.

“Đảng viên và cán bộ ta đều tốt, trung thành và hăng hái công tác, hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nhưng có một số ít đảng viên và cán bộ còn tư tưởng tiêu cực, suy tị, ỷ lại, ngại khó, ngại khổ, không gương mẫu. Đó là chủ nghĩa cá nhân, những đồng chí ấy phải quyết tâm sửa chữa”.

Bài nói tại Đại hội sản xuất tỉnh Hà Đông”, 7-6-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 143-144.

“Quốc hội khóa I của ta là Quốc hội kháng chiến. Quốc hội khóa II này là Quốc hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Vì vậy, để xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân, nhiệm vụ của mỗi vị đại biểu là phải:

– Thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư,

– Một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội,

– Làm gương mẫu trong việc thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô.

Nói tóm lại, phải lấy việc làm thực tế mà hướng dẫn nhân dân ta xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

“Quốc hội ta vĩ đại thật”, 10-7-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 172.

“Để xứng đáng với vinh dự to lớn là người đày tớ tuyệt đối trung thành của nhân dân, các đại biểu Quốc hội và cán bộ chính quyền cần phải:

Thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư.

Gương mẫu về mọi mặt: Đoàn kết, công tác, học tập, lao động.

Luôn giữ vững tác phong khiêm tốn, chất phác, và hòa mình với quần chúng thành một khối”.

“Nói chuyện tại buổi lễ bế mạc Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa II”, 15-7-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 175.

“Tất cả đại biểu Quốc hội hứa với đồng bào là được cử vào Quốc hội để làm đại biểu Quốc hội, không phải là để làm quan, không phải là để ngồi trên ăn trốc, mà làm người đày tớ tuyệt đối trung thành của đồng bào”.

“Nói chuyện với đồng bào Thủ đô nhân dịp mừng Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa II thắng lợi”, 15-7-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 177.

“Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân, đã lãnh đạo nhân dân phấn đấu dưới lá cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác – Lênin”.

“Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng của Đảng Lao động Việt Nam”, 5-9-1960, Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 197.

“Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân dân làm chủ. Tức là cán bộ và nhân viên từ cấp trên đến cấp dưới đều là đầy tớ của nhân dân, đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân”.

“Một lòng một dạ phục vụ nhân dân”, 18-1-1960,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 251.

“Cán bộ và đảng viên càng phải nâng cao tinh thần phụ trách trước Đảng và trước quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Phải yêu kính nhân dân. Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh ra oai. Phải nắm vững quan điểm giai cấp, đi đúng đường lối của quần chúng, thành tâm học hỏi quần chúng, kiên quyết dựa vào quần chúng, giáo dục và phát động quần chúng tiến hành mọi chủ trương, chính sách của Đảng và của Nhà nước. Phải thật thà ngay thẳng; không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm. Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo; phải thực sự cầu thị, không được chủ quan. Phải luôn luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải “chí công vô tư” và có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Đó là đạo đức của người cộng sản”.

“Xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội”, tháng 3-1961,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 311.

“Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào – đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân. Tất cả cán bộ đều phải một lòng một dạ phục vụ  nhân dân; đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân; đều phải theo đúng chính sách của Đảng và đi đúng đường lối của quần chúng.

Do đó mà lãnh đạo phải dân chủ, thiết thực, cụ thể và toàn diện. Phải tránh cách lãnh đạo đại khái, phiến diện, chung chung. Cán bộ phải tuyệt đối tránh bệnh quan liêu mệnh lệnh, phải hết sức chống bệnh hình thức, chống lãng phí tham ô.

Trong mọi công việc, đảng viên và đoàn viên thanh niên phải làm gương mẫu để lôi cuốn nhân dân cùng tiến bộ”.

“Bài nói chuyện với đồng bào dân tộc tỉnh Tuyên Quang”, tháng 3-1961, Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 323.

“Đảng ta là Đảng lãnh đạo cách mạng. Ngoài lợi ích của nhân dân Đảng ta không có lợi ích nào khác. Vì vậy, cán bộ và đảng viên phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phải là người đày tớ hết sức trung thành của nhân dân”.

Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Bắc Giang”, tháng 3 năm 1961,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 337.

“… bảo vệ Bác nên các chú không muốn để đồng bào đến gần, cho nên đã xô đẩy đồng bào. Thái độ thế là không tốt. Đồng bào và các cháu nhi đồng muốn đến gần Bác. Nhưng các chú thì lại không muốn. Nó có mâu thuẫn, nhưng phải làm thế nào? Mình là dân chủ, Bác cũng như các chú, đều nói là phục vụ nhân dân. Cho nên phải khéo tổ chức, nếu không khéo tổ chức thì xô đẩy cũng không được; cho nên, phải làm thế nào để vừa bảo vệ được Bác, vừa không xô đẩy đồng bào.

Tóm lại, các chú muốn bảo vệ tốt phải có kỹ thuật, phải giữ được bí mật và phải có thái độ tốt với đồng bào”.

“Bài nói chuyện với Hội nghị Tổng kết công tác cảnh vệ”,
Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, tr. 516-517.

“Nhân dân ta rất cần cù, thông minh và khéo léo. Trong sản xuất và sinh hoạt, họ có rất nhiều kinh nghiệm quý báu cán bộ ta cần tham gia tổng kết những kinh nghiệm quý báu ấy. Việc này các cô, các chú làm được còn ít, cần phải làm tốt hơn nữa. Cán bộ ta lại phải học tập những đức tính cần cù, giản dị và thiết thực của công nhân, nông dân để trau dồi thêm tư tưởng và tác phong của mình”.

“Bài nói tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam”, 18-5-1963, Hồ Chí Minh toàn tập, t.11, tr. 79.

“… cán bộ từ Trung ương đến xã đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân.

Cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần phải xung phong gương mẫu trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Đồng bào cần phải luôn luôn giúp đỡ và phê bình cán bộ để họ làm trọn nhiệm vụ”.

“Bài nói với nhân dân và cán bộ tỉnh Nam Định”, 22-5-1963.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, tr. 91.

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tuỵ, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn


>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 2)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 3)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 4)