Archive | 2012

Kiến nghị với Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Pháp (10-1922)

Nhận thấy rằng Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ IV sắp tới bàn đến vấn đề thuộc địa và việc đó phải là công tác hàng đầu của những người cộng sản Pháp, trong khi giai cấp tư sản hãm trong vòng áp bức rất nhiều nhân dân thuộc địa.

Quyết định rằng vấn đề thuộc địa sẽ được đưa vào chương trình nghị sự của Hội nghị toàn quốc của Đảng.

Trong khi chờ đợi, thông qua lời kêu gọi nhân dân thuộc địa do Ban nghiên cứu thuộc địa thảo và đề nghị đǎng lời kêu gọi đó trên báo L’ Humanité.

Yêu cầu các đảng bộ cộng sản ở thuộc địa tǎng cường công tác tuyên truyền và kết nạp đảng viên trong số người bản xứ và yêu cầu cử càng nhiều càng tốt những người bản xứ đi dự Hội nghị toàn quốc.

Viết vào tháng 10-1922. Đǎng báo
Nhân dân, số 7.695, ngày 30-5-1975.

———————

Theo bài đǎng báo.
cpv.org.vn

Đảng Cộng sản và vấn đề thuộc địa (1-11-1922)

Gửi người bản xứ các thuộc địa,

Hỡi những người lao động bản xứ ! Những người cộng sản ở chính quốc biết được nỗi khổ của các bạn. Họ biết rằng từ ngày các xứ sở của các bạn bị những quân nhân xâm chiếm, các bạn mất hết tự do, rằng người ta đã sử dụng những biện pháp tàn bạo để buộc các bạn phải lao động mà không được thu gặt thành quả. Những quan cai trị, dân sự hay quân sự, khủng bố các bạn, áp dụng những luật lệ tàn khốc với các bạn.

Chúng đã tạo nên hai loại toà án: một cho bạn thân của họ, hiền lành, khoan hoà, và toà án kia là cho các bạn, khắt khe và đẫm máu.

Các bạn bị bóc lột hai lần: trên tư cách là người lao động và trên tư cách là người bản xứ. Chủ của các bạn, xuất phát từ mẫu quốc, không hành động đơn độc. Những người có quyền lực ở nước các bạn, những nghiệp chủ lớn và các ông chủ muốn bảo vệ của cải và quyền thế của mình, liên minh với nhau để bóc lột các bạn, liên minh với chính quyền, với bọn thực dân và các công ty châu Âu.

Trong chiến tranh, thanh niên nước các bạn bị bứt ra khỏi nhà; hoặc bằng các lời hứa hão, hoặc bằng đe doạ và vũ lực, và người ta đã đưa chúng đến lò mổ tức là chiến tranh để bảo vệ lợi quyền và những hận thù của chính những kẻ giàu có đã chinh phục đất nước các bạn. Nhiều người đã bỏ mạng, những người khác bị thương tật suốt đời. Người ta không giữ lời hứa nêu ra trong chiến tranh, là nhượng lại cho các bạn những quyền trọn vẹn về con người và về công dân.

Ngoài ra, các ông chủ này tiếp tục ép các bạn cung cấp cho họ binh lính cho một cuộc chiến tranh nổ ra nay mai thôi mà lòng tham của các ông chủ đang chuẩn bị và với hy vọng dùng các bạn để đàn áp cách mạng mà chúng tôi chuẩn bị để giải phóng chung chúng ta.

Có lẽ các bạn tưởng rằng tất cả mọi người sống ở Pháp cũng đều có quyền lực cả và đều đồng tình để duy trì các bạn trong vòng nô lệ. Không. ở nước Pháp mẫu quốc cũng có và có nhiều những người khác chẳng có tài sản gì cả, phải lao động để sống, dưới quyền cũng những ông chủ ấy, và chịu để người giàu bóc lột.

Những người gây nên nỗi thống khổ của các bạn và duy trì nó vì điều đó có lợi cho họ, những người ấy là thiểu số ở mẫu quốc, nhưng họ có quyền lực vì họ rất giàu; và chúng tôi, là những người thuộc đa số, chúng tôi là nạn nhân của những bạo ngược của họ, chúng tôi đấu tranh chống lại họ. Họ cũng đưa chúng tôi – như các bạn – ra mặt trận và họ dùng bạo lực bứt con cái chúng tôi ra, biến chúng thành lính tráng để chúng bảo vệ những của cải không thuộc về chúng tôi.

Được tự do chút ít hơn các bạn, chúng tôi đã có thể liên hiệp lại để đấu tranh chống lại chủ của chúng tôi và chúng tôi chuẩn bị lật đổ họ để tổ chức, chỉ nhằm lợi ích của mọi người, một xã hội toàn cầu tự do hơn và công bằng hơn, ở đó lao động là tối cao. Vì thế chúng tôi đã thành lập, như ở mọi nơi trên thế giới, một Đảng cộng sản vĩ đại, đấu tranh để giải phóng mọi người lao động.

Đảng chủ trương nỗ lực để cứu vớt tất cả những anh em ở các thuộc địa, đảng yêu cầu các bạn thông tin cho đảng biết về tất cả những ngược đãi mà các bạn mỗi lúc lại là nạn nhân; đảng sẵn sàng để các bạn tuyên truyền trên báo chí của đảng và sẵn sàng để các nhân vật chính trị của đảng giúp đỡ các bạn. Đảng yêu cầu các bạn thân thiện với đảng và, ở trong các thuộc địa mà có tồn tại các chi nhánh của đảng chúng tôi, các bạn hãy coi các chi nhánh ấy là những cơ quan bảo vệ các bạn. Đảng yêu cầu nhất là các bạn đoàn kết lại, giữa lao động ở xí nghiệp, ở nông thôn… và duy trì những quan hệ anh em với những người lao động từ mẫu quốc đến – ngày càng nhiều – họ cùng giai cấp với các bạn: họ là công nhân, công chức, nông dân, tiểu viên chức, thuỷ thủ.

Vì hoà bình thế giới, vì tự do và sự no ấm của mọi người, những người bị bóc lột thuộc mọi nòi giống, chúng ta hãy đoàn kết lại và đấu tranh chống bọn áp bức!

Ban nghiên cứu thuộc địa của phân bộ pháp
của quốc tế cộng sản 120 phố Phayéttơ, Pari.

Báo Le Paria, số 8,
ngày 1-11-1922.
cpv.org.vn

Truyền đơn cổ động mua báo Le Paria (1923)

Dự kiến những sự kiện nghiêm trọng có thể xảy ra ngày một ngày hai, bạn đừng đợi gì mà chưa mua báo Le Paria và hô hào bạn bè mua nó. Tờ báo này là tờ báo của bạn, giúp bạn thoát khỏi cảnh nô lệ và sẽ phát hành rộng rãi trong tất cả các thuộc địa, nhằm dắt dẫn mọi người bị bóc lột thuộc mọi màu da đoàn kết lại dưới lá cờ đỏ búa liềm để trong một phong trào cách mạng quốc tế rộng lớn quét sạch mọi kẻ bóc lột mà chúng ta là những người cùng khổ.

Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hoà thế giới chân chính, xóa bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dài ngǎn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau.

Tất cả mọi người hãy đứng lên quanh lá cờ đỏ để chinh phục thế giới.

Lao động tất cả các nước, đoàn kết lại!

Viết vào đầu nǎm 1923.
Báo Nhân dân, số 7.695,
ngày 30-5-1975.
cpv.org.vn

Kỷ niệm báo Le Paria (5-1923)

Một nǎm đã trôi qua kể từ khi báo Le Paria ra đời. Các bạn quan tâm đến số phận của tờ báo ngay từ buổi đầu, nhân dịp kỷ niệm này, cảm ơn tất cả những ai đã can đảm với diễn đàn nhỏ bé này, bảo vệ nhân dân các thuộc địa.

Các bạn mua dài hạn, các bạn quyên góp cho báo đến số gần đây được 645 phrǎng (1) , hãy nhận lấy sự biết ơn chân thành của chúng tôi.

Chúng tôi đã không quá lạc quan đối với những điều dự đoán trước. Chúng tôi hiểu rõ sự nghiệp mà chúng tôi theo đuổi, đặt ra vô vàn khó khǎn. Một mặt, đông đảo dư luận châu Âu chưa được chuẩn bị để theo dõi đầy đủ quan điểm của chúng ta. Mặt khác, những người dân thuộc địa ở Pháp thường chưa quan tâm đến tình hình có quan hệ tới số phận đồng bào họ ở các thuộc địa đang phải đương đầu với mọi sự phiền nhiễu, với bạo lực của nhà cầm quyền ở địa phương, với sự bóc lột tư bản chủ nghĩa của những kẻ đi khai hoá. Cuối cùng, khoảng cách giữa Pari với châu Phi, châu á, châu Mỹ rất xa. Những cuộc tiếp xúc giữa chúng tôi với nhân dân các thuộc địa mà Le Paria có trách nhiệm bảo vệ lại luôn luôn bị cản trở bởi những kẻ thống trị thuộc địa gây ra.

Nhưng phải thừa nhận rằng, chúng tôi đang đứng trước một điều lo lắng rất lớn. Chúng tôi đã tính trước rằng nhiệm vụ khẩn thiết của một tờ báo như tờ báo của chúng tôi là phải bảo vệ các anh em bản xứ. Việc đón nhận lấy nhiệm vụ đó đã dành cho Le Paria là đúng với điều mong muốn của chúng ta.

Sang nǎm thứ hai, chúng tôi muốn thực hiện những việc làm tốt đẹp hơn. Phải làm cho Le Paria xuất hiện trong một thời kỳ với những kết quả rực rỡ, có nhiều người tìm đến báo, với số lượng bản in tǎng hơn và số trang nhiều hơn trước. Tất cả những điều đó chỉ có thể thành sự thật nếu có được những nguồn dự trữ thích đáng. Vậy mà, không thể đòi hỏi một sự cố gắng cao hơn nữa đối với 5, 6 bạn đã nhận nhiệm vụ ngay từ đầu, đã chịu đựng từ 12 tháng qua. Có thể nói rằng riêng những việc in và gửi đi, giá 3 phrǎng mỗi số trong một nǎm là vừa phải. Để thuận tiện cho việc tuyên truyền cho tờ báo, lúc này chúng tôi thấy rằng không thể nâng giá lên ngay được.

Đối với tất cả những ai đọc báo, muốn báo sống lâu và lớn mạnh, hiểu nhiệm vụ của nó, nên mua dài hạn cho mình và vận động nhiều người mua dài hạn báo Le Paria. Cần phải làm cho trong vòng 2 hay 3 tháng tới đây, chúng ta có trên 1.000 độc giả, trên 1.000 người mua báo dài hạn. Chúng tôi cũng không ngần ngại nói ra việc quyên góp rất khiêm tốn cũng là một sự giúp đỡ rất quý báu đối với chúng tôi. Chúng tôi nói những điểm cuối cùng về các cộng tác viên. Le Paria là tiếng nói của quần chúng bị áp bức. Tất cả đều cung cấp tư liệu cho chúng ta, đều viết về chúng ta.

Các bạn Pháp, các đồng bào ở thuộc địa cư trú trên đất Pháp, các anh em bản xứ ở các thuộc địa, hãy đáp lại lời kêu gọi của chúng tôi.

Hãy làm việc cho Le Paria, cho sự diệt trừ chế độ độc đoán chống lại bọn cá mập thực dân!

Sự nghiệp giải phóng những người bị ngược đãi muôn nǎm!

Sự nghiệp giải phóng nhân dân bản xứ muôn nǎm!

LE PARIA

Báo Le Paria, số 14,
tháng 5-1923.
cpv.org.vn

Bác Hồ và những phi công Mỹ đầu tiên có mặt tại Việt Nam

Có một thời, phi công Mỹ bị bắn rơi ở Việt Nam được coi là Đồng minh và là bạn của nhân dân Việt Nam. Sự kiện này mở đầu cho mối quan hệ bang giao Việt – Mỹ, khi cách mạng Việt Nam đang còn non trẻ trong trứng nước, với muôn vàn khó khăn… Nhờ thế, mà chúng ta đã tập hợp và tranh thủ được sự giúp đỡ của những người bạn Đồng minh chống phát – xít, góp phần vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

4 phicong1755-400aChủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng một số
thành viên nhóm tình báo “Con Nai” tại Hà Nội năm 1945.

Những phi công Mỹ đầu tiên có mặt tại Việt Nam đều xuất hiện trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt. Những bí mật về cuộc đời họ còn nhiều chi tiết chưa được tiết lộ.

Từ chuyện cứu phi công Mỹ William Shaw năm 1944…

Khoảng tháng 10 năm 1944, có một Trung uý phi công Mỹ tên là William Shaw trong khi làm nhiệm vụ lái máy bay trên vùng trời biên giới Việt Nam – Trung Quốc đã bị quân Nhật bắn rơi xuống xã Đề Thám (huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng) – Đó là vùng chiến khu của Mặt trận Việt Minh – một tổ chức do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập, không những tập hợp mọi lực lượng trong nước, mà còn liên kết với các tổ chức ngoài nước, với đại diện của các nước phe Đồng minh trong mặt trận chống phát – xít.

Bởi thế, Bác Hồ đã chỉ thị phải bảo vệ, chăm sóc Trung uý Shaw cẩn trọng và tìm cách đưa về Pác Bó: “Khi ở trên trời là người của họ, xuống đây là khách của ta, phải đón tiếp chu đáo”. Vậy là, sau khoảng 3 tuần trèo đèo, lội suối, băng rừng ròng rã, vượt qua sự lùng sục bao vây của quân Nhật, viên phi công Mỹ nêu trên đã được đưa về Pác Bó gặp Bác.

Sau này, Thượng tướng Phùng Thế Tài – người đầu tiên bảo vệ Bác từ khi Người về nước – đã kể lại tâm trạng của người phi công Mỹ ngày đó trong một hồi ký của mình:

“Sau gần một tháng trời có miệng như câm, có tai như điếc, được gặp Bác, được nghe tiếng nói của quê hương xứ sở, viên phi công Mỹ bàng hoàng sung sướng đến phát khóc. Anh ta hoàn toàn bất ngờ không hiểu tại sao giữa núi rừng của nước Việt Nam xa xôi này có cụ già trông rất giản dị lại nói tiếng Anh giỏi đến thế. Ngạc nhiên hơn, anh còn biết cụ già này đã từng đặt chân đến nước Mỹ ngay từ khi anh ta còn chưa sinh ra trên đời.

Tấm lòng nhân hậu của Người có tác dụng cảm hóa Trung uý Shaw mạnh mẽ. Bác còn tặng người phi công Mỹ này bản “Chương trình Việt Minh” đã được Người trực tiếp dịch ra tiếng Anh. Sau đó, Trung uý Shaw đã trở thành “cầu nối” để Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Tướng Claire Chennault (1893 – 1958), Tư lệnh Không đoàn 14, có biệt danh là đơn vị “Hổ Bay” của Mỹ, đại diện cho lực lượng Đồng minh tại vùng Hoa Nam (Trung Quốc).

Để có cuộc gặp “không hẹn trước” với viên Tướng Mỹ kể trên, Người đã phải đi giày cỏ, theo đường bộ, vượt hàng ngàn kilômét từ Pác Bó (Việt Nam) tới Côn Minh (Trung Quốc), trong sự kiểm soát gắt gao của các lực lượng thù địch.

Khi tới Côn Minh, với cái cớ cần trao trả phe Đồng minh viên Trung uý phi công Shaw được Việt Minh cứu sống khi máy bay bị quân Nhật bắn rơi trên chiến trường Bắc Đông Dương, Bác Hồ đã tìm gặp một số người Mỹ, để thăm dò và vận động sự công nhận đối với tổ chức Việt Minh như một thành viên trong lực lượng chống phát – xít. Trong số đó có Trung uý Charles Fenn – một Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ được phái đến Côn Minh, làm nhiệm vụ tại cơ quan Hỗ trợ cho không quân tại mặt đất (AGAS).

Với tài ngoại giao của mình Người đã chinh phục hoàn toàn Charles Fenn. Ông rất cảm tình với Mặt trận Việt Minh, đã nhất trí việc đưa một số thiết bị thông tin và đào tạo các báo vụ viên cho Việt Minh. Tiếp đó, Bác Hồ đã đề nghị Charles Fenn giúp đỡ để trực tiếp gặp và hội đàm với Tướng Chennault, Tư lệnh đơn vị mang biệt hiệu “Hổ Bay” của Mỹ, đang đóng bản doanh tại vùng Hoa Nam – Trung Quốc, cũng là người dại diện cao nhất của quân Đồng minh tại khu vực.

Tướng Chennault đã rất cảm động về sự giúp đỡ của Mặt trận Việt Minh đối với Trung uý phi công Shaw. Có lẽ, ông đã nhận thấy trong lời nói của Hồ Chí Minh là quyết tâm của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, đứng về phe Đồng minh chống phát – xít: “Hiện nay, phong trào du kích của chúng tôi tuy đang lên rất cao nhưng vũ khí, thuốc men rất thiếu thốn. Chúng tôi muốn các ngài tạo điều kiện giúp đỡ để hai nước chúng ta có thể mau chóng đánh bại phát – xít Nhật…”.

Thái độ chân tình, thẳng thắn của Bác cũng đã chinh phục được Chennault. Viên Tướng Mỹ này đã hoàn toàn ủng hộ ý kiến của Người và hứa sẽ sẵn sàng giúp đỡ. Hai bên đã thoả thuận: Phía Việt Nam sẽ tăng cường lực lượng du kích và mở rộng phạm vi hoạt động của lực lượng này; cung cấp những thông tin tình báo và khí tượng cho Không quân Mỹ hoạt động trên chiến trường chống Nhật ở miền Bắc Đông Dương… Ngược lại, phía quân Đồng minh có trách nhiệm đưa các phái đoàn quân sự sang giúp đỡ Việt Nam huấn luyện quân sự, đồng thời trang bị vũ khí, điện đài và các trang thiết bị khác.

Chennault kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh và tặng Người tấm ảnh của mình với dòng chữ: “Bạn chân thành của tôi”. Sau đó, viên Tướng Mỹ này đã chỉ thị cho Trung uý Charles Fenn thuộc cơ quan Chiến lược tình báo Mỹ tại Trung Quốc thực hiện hợp tác với Mặt trận Việt Minh.

Khi Người về nước, đã có hai người Mỹ là Frank Tan và Mac Shin cùng sang giúp chúng ta về điện đài. Về sau còn có John, một báo vụ viên OSS và một số người khác nữa. Những người bạn Mỹ được Việt Minh đón tiếp chu đáo, tạo mọi điều kiện để làm việc. Họ đã giúp Việt Minh một số điện đài, vũ khí và hướng dẫn người của ta sử dụng.

Căn cứ của Mặt trận Việt Minh sau đó cũng được chuyển từ Pác Bó (Cao Bằng) sang Tân Trào (Tuyên Quang) để thuận lợi hơn cho sự phát triển lực lượng với các hoạt động lớn sau này.

Đến nhóm đặc nhiệm “Con Nai” và quan hệ Việt – Mỹ năm 1945.

Theo thỏa thuận giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tướng Mỹ Chennault, tháng 7 năm 1945, một đơn vị Tình báo đặc nhiệm mang bí danh “Con Nai” (The Deer Team) thuộc tổ chức OSS (The Office of Strategic Services tiền thân của CIA Mỹ) đại diện cho quân Đồng minh đã nhảy dù xuống Tân Trào để phối hợp với Việt Minh chống phát – xít Nhật.

Lũng Cò (nay thuộc thôn Đồng Đon, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang) có một dải đất rộng khoảng 4 ha, nằm trong một thung lũng hẹp, bốn xung quanh được bao bọc bởi các ngọn núi và những quả đồi thấp cây cối um tùm, rậm rạp, rất phù hợp để xây dựng một sân bay dã chiến tiếp nhận máy bay chở hàng viện trợ của quân Đồng minh.

Giữa tháng 6 năm 1945, khoảng 200 người dân địa phương đã lao động với tinh thần cố gắng hết mình. Dự kiến công việc làm trong một tuần, nhưng với quyết tâm cao và nhiệt tình cách mạng, nên chỉ sau có hai ngày phát dọn, san gạt, đầm, một sân bay dã chiến đã hình thành. (Có lẽ, đó là một trong những “kỷ lục” xây dựng sân bay!).

Sân bay Lũng Cò có chiều dài 400 mét và rộng 20 mét, đường băng trải dài theo hướng Nam – Bắc. Các cán bộ ở đây đã cắm những lá cờ trắng ở hai bên làm hoa tiêu, loại máy bay vận tải hạng nhẹ L5 của Không quân Mỹ có thể hạ cánh và cất cánh an toàn. Đây là sân bay đầu tiên do chính bàn tay và khối óc của chúng ta làm nên và cũng có thể coi đây là “Sân bay quốc tế” đầu tiên của chính quyền cách mạng Việt Nam.

Sân bay Lũng Cò đã tiếp nhận thành công hàng chục chuyến bay của quân Đồng minh, do phi công Mỹ lái. Đó cũng là nơi Chính phủ ta thực hiện nhiệm vụ quốc tế là đưa những người Pháp bị Nhật cầm tù ở Tam Đảo trở về nước vào cuối tháng 7 năm 1945.

phi cong my 2Đại đội Việt – Mỹ làm lễ xuất quân.

Tiếp đó, nhóm đặc nhiệm “Con Nai”, đã cùng các chiến sỹ Việt Minh thành lập “Đại đội Việt – Mỹ” khoảng 200 người, do đồng chí Đàm Quang Trung (sau này là Thượng tướng, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu I, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước) làm Chỉ huy, Thiếu tá A.K.Thomas làm Cố vấn, nhằm chung mục tiêu chống phát – xít Nhật.

Chính đơn vị này đã tham dự lễ xuất quân từ cây đa Tân Trào sau khi Quốc dân Đại hội và Quân lệnh số 1 phát động khởi nghĩa. Họ đã cùng chúng ta hành quân qua Thái Nguyên, về tận Hà Nội. Cho dù sau đó những người lính Mỹ này đã được lệnh cấp trên “án binh bất động” (họ ngồi im xem Việt Minh và Nhật đánh nhau), thì đó vẫn là lực lượng nước ngoài duy nhất đứng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc Cách mạng Tháng Tám.

Trước khi trở về nước, những thành viên của của nhóm “Con Nai” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm một sứ mệnh đặc biệt: Chuyển giúp thư của Người đến Chính phủ Mỹ, đề nghị Tổng thống Truman công nhận độc lập của Việt Nam! Nhưng tiếc là thời điểm ấy, nước Mỹ chỉ tập trung quan tâm đến châu Âu, bỏ qua khu vực Đông Nam Á. Và lịch sử đã đi theo hướng khác: Hai nước trở thành đối thủ trong cuộc chiến 20 năm…

Nửa thế kỷ sau, vào ngày 12/10/1995, tại Hà Nội, có cuộc gặp với những người bạn Mỹ, Charles Fenn có mặt. Sau 50 năm, Charles Fenn đã ở tuổi gần 80 nhưng những ấn tượng sâu sắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh thì vẫn nguyên vẹn trong ông: “Chúng tôi gặp một người có vóc dáng mảnh khảnh, đi dép tại quán cà phê Đông Dương. Người này có đôi mắt sáng ngời, có sức hấp dẫn đặc biệt. Đó chính là Hồ Chí Minh. Tướng Chennault cảm ơn về việc Việt Minh cứu viên phi công Mỹ rồi hỏi: “Chúng tôi có giúp gì được các ông không?”. Hồ Chí Minh nói: “Tôi muốn có tấm hình của ông làm kỷ niệm. “Rồi hai người ngồi uống nước rất thân mật với nhau. Tôi nhớ lúc đó, Cụ Hồ đã nói với các cán bộ đi theo rằng: “Người Mỹ là bạn của chúng ta, như Tướng Chennault là bạn của tôi đây này”. Những ngày tháng bên cạnh Hồ Chí Minh đã để lại trong tôi một ấn tượng mạnh”

Đặng Vương Hưng
Theo cand.com.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Chương V : Những nhà khai hoá (H)

Một người An Nam, 50 tuổi, từng làm việc 25 nǎm ở sở xe lửa Nam Kỳ, đã bị một viên chức da trắng giết chết. Đầu đuôi như sau:

Ông Lê Vǎn Tài có bốn người An Nam khác giúp việc dưới quyền mình. Phận sự của họ là đóng cầu mỗi khi có xe lửa đi qua và mở cầu cho thuyền bè qua lại. Theo lệ thì phải đóng cầu mười phút trước khi xe lửa đi qua.

Ngày 2 tháng 4, hồi 16 giờ 30 phút, một người trong bọn họ vừa mới đóng cầu và treo tín hiệu xong thì một xuồng máy công đi đến; trên xuồng có một viên chức người Pháp của xưởng đóng tàu hải quân đi sǎn về. Chiếc xuồng kéo còi. Nhân viên bản xứ liền ra giữa cầu phất cờ đỏ báo cho những người trên xuồng biết xe lửa sắp chạy qua. Thế là chiếc xuồng cập vào một trụ cầu. Người viên chức Pháp nhảy lên bờ, hầm hầm đi về phía người An Nam. Anh này khôn ý chạy về phía nhà ông Tài là “xếp” của mình. Người Pháp đuổi bắt, lấy đá ném theo. Nghe tiếng ồn ào, ông Tài chạy ra, đón viên đại diện của vǎn minh, thì viên này sừng sộ mắng vào mặt ông: “Đồ súc sinh! Tại sao mày không mở cầu ra?”. Vốn không biết nói tiếng Pháp, ông Tài chỉ còn biết trả lời hắn bằng cách trỏ tay vào cái tín hiệu màu đỏ. Cử chỉ đơn giản ấy làm cho vị cộng sự của ngài toàn quyền Lông phát khùng lên. Không phân phải trái, hắn ta nhảy xổ vào ông Tài và sau khi đánh ông nhừ tử, hắn xô ông vào một đống than hồng gần đó.

Người An Nam gác cầu ấy bị bỏng một cách rùng rợn, phải chở đến nhà thương, và sau sáu ngày giãy giụa, ông đã chết.

Người viên chức kia vẫn được vô sự, không bị đòi hỏi gì cả.

Trong lúc ở Mácxây người ta trưng bày sự phồn vinh giả tạo của xứ Đông Dương, thì ở Trung Kỳ dân đang chết đói. ở đây, người ta ca ngợi lòng trung thành, thì ở bên kia, người ta đang giết người!

Trong khi tính mạng một con người An Nam bị rẻ rúng không đáng giá một trinh, thì ngài tổng thanh tra Rêna chỉ bị sướt một chút da ở cánh tay lại được lĩnh đến 120.000 phrǎng tiền bồi thường.

*

*     *

Công cuộc khai hoá người Marốc bằng đại bác vẫn tiếp diễn.

Một viên chỉ huy bộ binh Duavơ 1 đóng ở Xéttát, đã nói với binh sĩ như thế này: “Chúng ta phải diệt cho xong lũ man rợ này. Đất Marốc giàu khoáng sản và nông sản. Chúng ta, những người Pháp, những người vǎn minh, chúng ta đến đây với hai mục đích: khai hoá và làm giàu cho chúng ta”.

Viên chỉ huy ấy nói đúng đấy. Nhất là ông ta đã thành thật thú nhận rằng người ta sang thuộc địa là để cướp bóc người bản xứ. Bởi vì chỉ sau 10 nǎm đặt dưới chế độ bảo hộ, xứ Marốc đã bị người châu Âu cướp mất 379.000 hécta đất trồng trọt, trong đó 368.000 hécta đã lọt vào tay những người Pháp khai hoá. Diện tích Marốc có 815.000 kilômét vuông; nếu công cuộc khai hoá cứ tiếp tục với đà ấy thì chẳng mấy nǎm nữa, người dân Marốc khốn khổ sẽ không còn lấy một tấc đất tự do nào để trồng trọt và sinh sống trên Tổ quốc mình mà không phải chịu cái ách bóc lột và nô dịch của chủ nghĩa thực dân.

cpv.org.vn

Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ (1924)

Mátxcơva, 1924

Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây.

Về phía người lao động, đó là sự không giác ngộ, sự nhẫn nhục và vô tổ chức. Về phía bọn chủ, không có máy móc, ruộng đồng thuộc sở hữu của những địa chủ hạng trung và hạng nhỏ và những kẻ mà ở đó được coi là đại địa chủ thì chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở châu Âu và châu Mỹ; không có tỷ phú người An Nam. Những tên trọc phú ở đó thì ở đây chỉ là những kẻ thực lợi khá giả thôi.

Cho nên, nếu nông dân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có vốn liếng gì lớn; nếu nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa; nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc; người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng có tơrớt. Người thì nhẫn nhục chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam của mình. Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó, không thể chối cãi được.

Nhưng người ta sẽ bảo: thế là chúng ta ở thời Trung cổ à? ồ! Sẽ là quá đáng nếu so sánh người “nhà quê” (1) với người nông nô. An Nam chưa bao giờ có tǎng lữ và thuế mười phần trǎm. Hoàng đế trị vì nhưng chẳng lo cai trị gì. Tất nhiên là đã có quan lại rồi. Nhưng có thể so sánh họ với chúa phong kiến không? Không. Trước hết quan lại được tuyển lựa theo con đường dân chủ: con đường thi cử, mở rộng cho mọi người và mọi người có thể chuẩn bị thi mà chẳng tốn kém gì. Hơn nữa, quyền lực của quan lại được cân bằng bằng tính tự trị của xã thôn.

Xã hội ấn Độ – China (1) – và tôi có thể nói: ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội phương Tây thời Trung cổ, cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây.

Mai đây, khi chủ nghĩa tư bản phương Tây làm đổi thay phương Đông thì đấu tranh giai cấp có trở nên quyết liệt không ? Đại thể là có, nếu xét gương của Nhật Bản.

Thật ra là có, vì sự tây phương hoá ngày càng tǎng và tất yếu của phương Đông; – nói cách khác, chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó. Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được.

Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại.

Mác cho ta biết rằng sự tiến triển các xã hội trải qua ba giai đoạn: chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ tư bản; và trong mỗi giai đoạn ấy, đấu tranh giai cấp có khác nhau. Chúng ta phải coi chừng! Các dân tộc Viễn Đông có trải qua hai giai đoạn đầu không? Từ nhiều thế kỷ nay, họ chẳng hưởng được thái bình hay sao để đến mức làm cho người châu Âu khinh rẻ họ (lười nhác, mê muội hàng nghìn nǎm, v.v.)?

Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Đó chính là nhiệm vụ mà các Xôviết đảm nhiệm (ban thuộc địa của chúng tôi vừa nhận được thư mời chúng tôi tham gia công tác này). Và các Xôviết sẽ thành công; vì rằng, đứng lên trên các thành kiến chủng tộc, họ sẽ làm cho thế giới được miễn nghe các lời tầm phào của những Guýtxtavơ Lơbốp và những Hǎngri Coócđiê.

(…)

Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế nǎm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối, nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khoá, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa nǎm 1917 (1) .

Chiến tranh đã làm thay đổi chủ nghĩa dân tộc:

1. Chủ nghĩa dân tộc đã hiện đại hoá khi chuyển từ giới thượng lưu này sang giới thượng lưu khác. Chính thanh niên An Nam ngày nay đang chỉ đạo nó.

2. Chủ nghĩa dân tộc ǎn sâu vào quần chúng nhờ sự phát triển của các phần tử thành thị và nhất là nhờ sự tuyển mộ và trở về của “lính tình nguyện”.

3. Trong chủ nghĩa dân tộc có cả lòng cǎm ghét bọn xâm lược Trung Quốc và người ấn Độ sinh cơ lập nghiệp ở trên đất nước này.

4. Nó có xu hướng hợp pháp hoá các hình thức biểu hiện và yêu sách của nó. Một mặt, chính quyền nhượng bộ. Mặt khác, lớp thanh niên từ bỏ phương pháp tiến hành những cuộc nổi dậy bột phát của lớp người đi trước, và ngày nay, người ta thiên về chiến thuật của những nhà cách mạng châu Âu: tuyên truyền, tổ chức và khởi nghĩa quần chúng. Trong khi lớp người già muốn độc lập ngay thì lớp trẻ yêu sách những thiết chế chuẩn bị cho độc lập (tờ La Tribune indigène (62) : cơ quan của phái lập hiến).

(…)

Cương lĩnh của chúng tôi.
Phương hướng chung.

Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản. Khẩu hiệu này, do Mátxcơva tung ra, đánh vào các nhà tư sản như một nghịch lý táo bạo, nhưng thật ra điều đó có nghĩa gì? Một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời. Giờ đây, người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ. Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi, thì đã lâu lắm rồi, phần lớn thế giới sẽ xôviết hoá và lúc đó, nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế. Trong khi chờ đợi, chủ nghĩa dân tộc sẽ quấy rối chủ nghĩa đế quốc Pháp và bằng việc làm này, Quốc tế Cộng sản sẽ được lợi trực tiếp.

a/ Ở Đông Dương.

Hành động hợp pháp phụ thuộc vào việc nước Pháp thừa nhận các Xôviết. Điều đầu tiên phải làm là sẽ thiết lập các lãnh sự quán Nga ở Sài Gòn, Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng. Những lãnh sự quán này tự nhiên sẽ là những trung tâm tuyên truyền chủ nghĩa bônsêvích và lựa chọn các chiến sĩ bản xứ để gửi sang Nga. Hoạt động bất hợp pháp sẽ là trợ cấp cho một tờ báo, rải truyền đơn và nhất là các bài đả kích bằng tiếng bản xứ và chữ Hán, là tổ chức những hội kín. Nhân viên tuyên truyền gồm có: người bản xứ, người Pháp và người Nga, nếu có thể được thì, biết tiếng nước này, và làm một nghề khiến họ tiếp xúc được với dân bản xứ (nữ hộ sinh, nữ giáo viên, thầy thuốc ở nông thôn, dân đồn điền. Một luật sư cho người bản xứ sẽ được mọi người biết tiếng ngay). Thành lập ra ở Chợ Lớn một phân bộ cộng sản Trung Quốc.

b/ Ở Nhật Bản, ở Trung Quốc và ở Xiêm.

Tiếp xúc với những nhóm người di tản. Thành lập một lãnh sự quán ở Vân Nam phủ, thành phố rất quan trọng nằm ở biên giới Bắc Kỳ, trung tâm tuyên truyền đặt ở vị trí đó rất tuyệt. Tranh thủ làm cho các Xôviết được công nhận ở Xiêm nơi mà Anh, Pháp và Mỹ luôn luôn có mưu đồ. Mỹ có 4 cố vấn trực thuộc Bộ Ngoại giao, Anh và Pháp có hai cố vấn trực thuộc Bộ Tư pháp. Tại sao nước Nga lại không có? Hơn nữa, một lãnh sự quán ở Bǎng Cốc sẽ tìm thấy các ngả đường đi ấn Độ thuộc Anh, Giava thuộc Hà Lan và Đông Dương thuộc Pháp.

c/ Ở Pháp.

Nhóm cộng sản ở Nghị viện sẽ có hai nhiệm vụ quan trọng:

1) Thừa nhận các Xôviết; 2) Xoá chế độ bản xứ. Trong nhiệm kỳ, sẽ yêu cầu bỏ thuốc phiện ở Đông Dương; nó sẽ tố giác các vụ bê bối như vụ bê bối của độc quyền ở Sài Gòn. Từ Pháp đến Đông Dương quá xa cách vì vậy sẽ không có vấn đề Nghị viện đi xem xét như có thể làm đối với Angiêri và Tuynidi.

Ban thuộc địa sẽ lo trước hết việc tổ chức công đoàn. Hội liên hiệp thuộc địa sẽ làm đúng với danh hiệu của mình. Tờ Le Paria sẽ ra mỗi tuần 2 lần.

Hoạt động thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp hẳn là còn yếu kém nhưng chút ít nó làm được thì chẳng có đảng nào làm được, còn nếu nó chưa quan tâm đến người bản xứ, đó là vì người bản xứ chưa đến với nó được mấy. Nhiệm vụ số một của nó là đào tạo những chiến sĩ bản xứ. Đào tạo không chỉ những nhà tuyên truyền mà cả những nhà cách mạng theo kiểu châu Âu.

d/ Ở Nga.

Muốn thế, đưa đến Mátxcơva hay đến các trung tâm khác, các sinh viên An Nam (còn sớm để có thể coi thường người trí thức). Cũng đưa cả những người lao động chân tay vì phải đào tạo những quân nhân, thuỷ thủ cho hồng quân bản xứ và các chi bộ xí nghiệp bản xứ, đủ sức thay thế các kỹ thuật viên của chủ nghĩa tư bản.

(…)

Kết luận: Khả nǎng khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương. Để có cơ thắng lợi, một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương:

1. Phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra trong thành phố, theo kiểu các cuộc cách mạng ở châu Âu, chứ không phải nổ ra đột ngột ở biên giới Trung Quốc, theo phương pháp của những nhà cách mạng trước đây.

2. Cuộc khởi nghĩa phải được nước Nga ủng hộ. Các Xôviết sẽ cung cấp vũ khí, tiền bạc và các kỹ thuật viên, các binh sĩ, các thuỷ thủ bản xứ được đào tạo trước đó ở Mátxcơva. Ngoài ra, nước Nga sẽ có một hạm đội khá mạnh ở Thái Bình Dương, để ngǎn cản sự can thiệp của một vài cường quốc có thoả thuận với Pháp trong việc chống người bản xứ.

3. Cuộc khởi nghĩa phải trùng hợp với cách mạng vô sản ở Pháp.

4. Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản toàn thế giới; mỗi khi chủ nghĩa cộng sản giành được chút ít thắng lợi trong một nước nào đó, nhất là trong một quốc gia đế quốc chủ nghĩa (nước Đức chẳng hạn) thì đó càng là thắng lợi cả cho người An Nam.

In trong sách Hồ Chí Minh,

Những bài viết 1914-1969
do Alain Ruscio biên soạn,
Pari, 1990, tr.69-74.

cpv.org.vn

Cam Ranh – thương cảng tiềm năng

Cái tên “Vịnh Cam Ranh” lần đầu tiên xuất hiện trên bản đồ quân sự quốc tế sau khi chiến hạm của Hải quân Nga hoàng dừng chân tại đây trong chuyến đi vòng quanh thế giới vào năm 1888. Sau đó, Hải quân Nga hoàng một lần nữa tập trung hơn 100 chiến thuyền thuộc Hạm đội Thái Bình Dương số 2 tại đây để chuẩn bị cho cuộc chiến Nga – Nhật vào năm 1905. Đó là những minh chứng đầu tiên và rõ ràng nhất cho vị trí địa chiến lược quan trọng của vịnh Cam Ranh, được chính các cường quốc quân sự thế giới khẳng định từ cách đây hơn một thế kỷ.

Vịnh Cam Ranh, thuộc tỉnh Khánh Hòa, nằm trên tọa độ 11 độ kinh Đông, 12,10 độ vĩ Bắc. Bán đảo Cam Ranh chạy từ Bắc xuống Nam, được bao quanh bởi hai nhánh đảo, ngoài cửa vịnh có các cù lao và đảo nhỏ chắn gió, biến nơi này trở thành một trong những vịnh lặng sóng nhất thế giới. Nhờ cấu tạo địa hình đặc biệt, vịnh Cam Ranh có điều kiện thủy văn, địa chất rất thuận lợi, thủy triều trong vịnh khá đều đặn, tương đối đúng giờ, đáy vịnh bằng phẳng, chủ yếu là cát pha bùn khá vững. Vịnh Cam Ranh có chiều rộng trung bình 8-10km, chiều dài ăn sâu vào đất liền từ 12-13km, có diện tích hơn 60km2, có độ sâu từ 18 đến 32m, tàu có trọng tải 100.000 tấn có thể ra vào dễ dàng. Bên cạnh đó, Cam Ranh chỉ cách đường hàng hải quốc tế khoảng một giờ tàu biển, có vị trí địa – chính trị chiến lược quan trọng trên các tuyến hàng hải quốc tế trong khu vực biển Đông như Singapore, Hong Kong, Thượng Hải, Yokohama. Với một loạt các điều kiện tự nhiên thuận lợi, Cam Ranh được đánh giá là một trong những cảng nước sâu có lợi thế hàng đầu thế giới.

Vị trí chiến lược quân sự

Từ xa xưa, các nhà quân sự đã nhận thấy vịnh Cam Ranh hội tụ đầy đủ các yếu tố thuận lợi để trở thành một quân cảng lớn trong khu vực. Chính vì vậy, ngay từ những năm 1900, hải cảng này đã nằm trong tầm ngắm của Nga hoàng, Pháp, Nhật Bản…

Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, quân đội Mỹ thậm chí đã chi tới hơn 300 triệu USD để mở rộng Cam Ranh, biến nơi đây trở thành một trong những căn cứ quân sự quan trọng nhất ở nước ngoài. Năm 1965, Mỹ quyết định xây dựng Cam Ranh thành căn cứ quân sự liên hợp hải-lục-không quân và khu hậu cần lớn nhất Đông Nam Á phục vụ chiến tranh Việt Nam, đồng thời khống chế hành lang phía tây Thái Bình Dương. Năm 1968, quân số của quân đội Mỹ ở Cam Ranh lên tới 30.000 người.

Từ năm 1979, theo hiệp định ký kết giữa Việt Nam với Liên Xô, cảng Cam Ranh được dùng làm căn cứ hậu cần của Hạm đội Thái Bình Dương với diện tích khoảng 100km2 trong thời hạn 25 năm. Vào thời kỳ cao điểm năm 1986, quân số cao nhất lên tới  6.000 quân nhân và kỹ sư, công nhân Liên Xô/Nga làm việc tại đây. Có thể nói, Cam Ranh trở thành căn cứ hậu cần lớn nhất của Hải quân Liên Xô ở nước ngoài vào thời điểm đó, làm đối trọng với căn cứ hải quân ở hải ngoại lớn nhất của Mỹ tại Subic, Philippines.

Nhiều nhà quân sự phương Tây đã gọi Cam Ranh là một “pháo đài tự nhiên lý tưởng”, “một đồn phòng vệ của Thái Bình Dương”. Bên cạnh lối ra vào hẹp, Cam Ranh còn được các dãy núi cao khoảng 400m vây quanh, biến cảng này trở thành một pháo đài vô cùng lợi hại, khó công, dễ thủ, có thể khống chế cả toàn khu vực biển Đông và là khu phòng thủ trọng yếu chiến lược trấn giữ giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Nếu bố trí tên lửa phòng không ở vịnh Cam Ranh và những cao điểm xung quanh thì toàn bộ eo biển Malacca và eo biển Singapore đều nằm trong tầm khống chế của hỏa lực những tên lửa đó. Ngoài ra, vịnh Cam Ranh còn có thể cho phép triển khai hệ thống giám sát điện tử để kiểm soát toàn bộ khu vực Bắc Ấn Độ Dương, vịnh Persia, biển Hoa Đông và Biển Đông.

Với tổng diện tích mặt nước rộng 98km2 và mực nước sâu phổ biến ở mức 16 – 25m, vịnh Cam Ranh có thể tiếp nhận đồng thời khoảng 40 tầu chiến cỡ lớn cùng neo đậu, kể cả tàu sân bay. Vừa có lợi thế tự nhiên rất có lợi cho quân sự, quốc phòng lại cận kề tuyến đường vận tải biển quốc tế trọng yếu nên vịnh Cam Ranh luôn được hải quân các cường quốc coi là “trung tâm dịch vụ hậu cần” quan trọng.

Đánh giá về lợi thế của Cam Ranh, các nhà quân sự Mỹ từng nhận định “ai làm chủ được Cam Ranh, sẽ giành được lợi thế ở biển Đông”.

Lợi ích kinh tế

Năm 2001, sau khi Nga quyết định rút khỏi Cam Ranh, Việt Nam từng bước xây dựng Cam Ranh thành một trung tâm cảng dịch vụ tổng hợp, phục vụ cho tàu hải quân của Việt Nam, đồng thời làm dịch vụ hậu cần kỹ thuật cho tàu hải quân, tàu kinh tế của các nước.

Quyết định xây dựng một trung tâm dịch vụ hậu cần kỹ thuật tại Cam Ranh có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội, du lịch của Cam Ranh, đồng thời thu hút sự chú ý của giới đầu tư quốc tế.

Trong xu thế toàn cầu hóa, các liên minh kinh tế khu vực ngày càng được củng cố và mở rộng, đặc biệt là ở châu Á – Thái Bình Dương, khu vực được đánh giá là có nền kinh tế năng động nhất thế giới. Hoạt động tích cực của Diễn đàn kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), đang đẩy nhanh tốc độ hội nhập của các nền kinh tế thành viên, tạo ra những mạng lưới kinh tế phát triển hiệu quả nhất thế giới. Chính vì vậy, trong mạng lưới kinh tế phát triển năng động này, tận dụng lợi thế tự nhiên để biến Cam Ranh trở thành một trong những thương cảng lớn nhất khu vực sẽ đem lại nguồn lợi kinh tế vô cùng lớn. Đối với giới đầu tư nước ngoài, Cam Ranh đang sở hữu một vị trí đắc địa, là điểm hội tụ của các tuyến đường biển quan trọng trong khu vực cũng như trên thế giới. Chính vì vậy, đặt chân được vào Cam Ranh sẽ là một bước tiến vào khu vực Đông Nam Á, một thị trường với hơn 500 triệu dân, có tiềm lực phát triển lớn.

Trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, Cam Ranh luôn giữ vai trò là một cảng quân sự quan trọng hàng đầu. Hội tụ đầy đủ những ưu thế mang tầm chiến lược về địa lý, hàng hải cũng như vị thế lịch sử quan trọng, Cam Ranh ngày nay hấp dẫn cả các nhà đầu tư quốc tế. Với kế hoạch đưa Cam Ranh trở thành một cảng dịch vụ tốt nhất khu vực, Chính phủ Việt Nam hy vọng sẽ khai thác có hiệu quả nhất những tiềm năng, lợi thế của Cam Ranh phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Anh Thư
daibieunhandan.vn

Trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Yi Chê Pao (20-9-1919)

Cuộc trao đổi giữa N.A.Q, Phan Vǎn Trường, 1 đại biểu Triều Tiên là Kim Tchong Wen và 1 phóng viên Mỹ tại nhà phóng viên:

PV: Ông đến Pháp với mục đích gì?

Đáp: Để đòi những quyền tự do mà chúng tôi phải được hưởng.

PV: Chương trình của ông là gì?

Đáp: Luôn luôn tiến lên phía trước, tuỳ theo sức mạnh của chúng tôi.

Hỏi về những công việc của đảng ở Đông Dương và những cuộc khởi nghĩa nổ ra từ đầu chiến tranh, Nguyễn Ái Quốc đáp:

“Mục đích của chính quyền Pháp hoàn toàn khác với mục đích của người Nhật ở Triều Tiên. Người Nhật muốn Nhật Bản hoá hoàn toàn người Triều Tiên. Còn nước Pháp, thì ngược lại, muốn duy trì vĩnh viễn sự bất bình đẳng giữa người An Nam và người Pháp, nó muốn, bằng cách lợi dụng lao động của người An Nam, bòn rút vô tận các sản phẩm đủ loại mà Đông Dương rất sẵn và cố gắng không cho người An Nam tự tạo cho mình một vị trí kinh tế độc lập. Các thứ thuế đủ loại cũng như những biện pháp hạn chế và chế độ giáo dục công cộng đều xuất phát từ những toan tính đó. Bằng cách cản trở vǎn minh và tiến bộ của dân tộc An Nam, người Pháp vĩnh viễn đặt dân tộc này ra ngoài lề của nền vǎn minh thế giới và buộc họ phải đáp ứng vô cùng tận những đòi hỏi không ngừng thay đổi của chúng. Trong những nǎm gần đây, điều kiện sống ở Đông Dương trở nên thảm hại chưa từng thấy”.

Hỏi về những hoạt động từ khi đến Pháp, Nguyễn Ái Quốc trả lời:

“Ngoài việc vận động các thành viên Nghị viện, tôi đã tìm cách nhen nhóm thiện cảm mỗi nơi một chút, trong đó Đảng Xã hội đã tỏ ra ít thoả mãn với các biện pháp của chính phủ và đã sẵn lòng ủng hộ chúng tôi. ở Pháp, đó là hy vọng duy nhất của chúng tôi. Về hoạt động của chúng tôi ở các nước khác, chính ở nước ông (Mỹ) chúng tôi có nhiều thành công hơn.Còn ở chỗ khác, ở đâu chúng tôi cũng chỉ gặp khó khǎn”.

Nguyễn Ái Quốc tiếp tục trình bày thật cảm động về tình hình kinh tế, tình trạng giáo dục, đời sống khổ sở của người An Nam ở Đông Dương. Ông Phan cũng kể rất tỉ mỉ về cuộc đời gian nan của ông trước mặt Kim Tchong Wen và mọi người trong hãng thông tấn của ông.

Báo Yi Chê Pao xuất bản ở Thiên Tân, Trung Quốc, ngày 20-9-1919.
In trong sách: Thu Trang: Ho Chi Minh
à Paris, Pari, 1993, tr. 69-70.

Dịch theo bài in trong sách Ho Chi Minh à Paris
cpv.org.vn

Tại Đại hội lần thứ I Đảng Cộng sản Pháp họp ở Mácxây (30-12-1921)

Từ ngày 25 đến 30-12-1921

Phiên họp sáng hôm qua đáng lẽ bắt đầu từ 8 giờ, nhưng đến giờ đó còn vắng nhiều đại biểu ở phòng họp. Vì vậy, đến 9 giờ, chủ toạ Giuynlơ Blǎng mới cho bắt đầu cuộc tranh luận về luận cương phòng thủ quốc gia.

Giuynlơ Blǎng có hai người trợ lý: Nguyễn ái Quốc (Đông Dương) và Raymông Oócliǎnggiơ (Coredơ) (1) .

Đồng chí Nguyễn ái Quốc cảm ơn Đại hội đã dành một chỗ cho các đồng chí da màu, chứng tỏ rằng đó là chủ nghĩa quốc tế chân chính.

Phiên họp buổi chiều do Barabǎng chủ toạ.

Nguyễn ái Quốc yêu cầu Đảng nghiên cứu và tổ chức một chính sách thuộc địa có tính cộng sản. Người đề nghị thành lập một ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng. Ban sẽ trình bày một bản báo cáo trước Đại hội trong nǎm tới.

cpv.org.vn

Thǎm một chiến sĩ quốc tế cộng sản – Nguyễn Ái Quốc (23-12-1923)

Tại Đông Dương, ảnh hưởng phong trào Gǎngđi như thế nào? Tiếng vang, làn sóng của phong trào đó có lan đến đấy chút nào không ? – Tôi hỏi Nguyễn ái Quốc.

– Không. – Nguyễn ái Quốc trả lời – Nhân dân An Nam chúng tôi là những người nông dân bị nhấn chìm trong bóng đêm hết sức tối tǎm. Không một tờ báo nào, không ai hiểu bây giờ trên thế giới đương diễn ra những gì; đêm tối, thực sự là đêm tối.

Nguyễn Ái Quốc hiện là người An Nam duy nhất ở Mátxcơva, đại diện của chủng tộc Mã Lai cổ xưa. Đó là một thanh niên gầy gò, linh hoạt, mặc cái áo len đan. Đồng chí nói tiếng Pháp – tiếng của những kẻ áp bức, nhưng mà những chữ Pháp từ miệng đồng chí Nguyễn Ái Quốc nghe trầm trầm, lắng xuống như hồi âm của tiếng mẹ đẻ quê hương đồng chí.

Nguyễn Ái Quốc đã nói đến hai chữ “vǎn minh” một cách đầy khinh bỉ. Đồng thời đã đặt chân qua hầu hết các nước thuộc địa trên thế giới, đã tới miền Bắc và miền Trung châu Phi, đã thấy rất nhiều cảnh đau khổ. Khi nói chuyện, đồng chí thường hay dùng chữ “anh em”. Anh em của Nguyễn Ái Quốc ở đây là những người da đen, những người ấn Độ, những người Xyri, những người Trung Quốc…

Nguyễn Ái Quốc đã có lần gửi thư tới nhà vǎn Rơnê Marǎng, người da đen có quốc tịch Pháp, là tác giả cuốn tiểu thuyết Batualavà đã đặt một câu hỏi một cách thẳng thắn: “ông Marǎng, ông muốn hay không muốn giúp đỡ công cuộc giải phóng các nước anh em ở thuộc địa?”. Rơnê Marǎng, người được Viện Hàn lâm Pháp quàng cho một vòng hoa danh dự, đã trả lời Nguyễn Ái Quốc một cách dè dặt và quanh co.

– Tôi sinh ra trong một gia đình nhà nho An Nam. Những gia đình như thế ở nước chúng tôi không phải làm việc gì. Thanh niên trong những gia đình ấy thường học Khổng giáo, đồng chí chắc biết Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử. Và trên cơ sở đó người ta đưa ra khái niệm về “thế giới đại đông”. Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền vǎn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy. Nhưng trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người như dạy con vẹt. Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách của các nhà vǎn mới, mà cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì phải làm thế nào bây giờ ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài. Thân phận người An Nam chỉ là thân phận người nông nô. Chúng tôi bị cấm, không phải chỉ là bị cấm đi du lịch ra nước ngoài mà cả đi trong nước cũng không được. Đường sắt được xây dựng với mục đích “chiến lược” riêng. Theo con mắt của bọn thực dân, chúng tôi chưa đủ trình độ để sử dụng loại đường này. Tôi lang thang ra bờ biển và tôi đã vượt biển ra nước ngoài. Nǎm ấy tôi 19 tuổi. ở Pháp lúc đó đang có tổng tuyển cử. Bọn tư sản Pháp đã dùng những thủ đoạn bẩn thỉu nhất để bôi nhọ lẫn nhau.

Gương mặt Nguyễn Ái Quốc nhǎn lại một cách khinh bỉ. Đôi mắt nặng nề, u ám bỗng bừng lên. Trong đôi mắt mở to, ứa lệ, anh nhìn về xa xǎm:

– Khi bọn Pháp đến cướp nước tôi, những gia đình nền nếp, gia giáo đã bỏ chạy hết không cộng tác với chúng. Bọn vô lại quen thói xu nịnh đã chiếm hết nhà cửa và vườn ruộng, chúng trở nên những tên tư sản mới giàu sụ, và chúng có khả nǎng giáo dục con cái theo kiểu Pháp. Bên chúng tôi coi những người thanh niên đi học các trường dòng của bọn Pháp là bọn người bỏ đi, là những đồ cặn bã. Thế mà người ta đã trả tiền để làm việc đó. Và dù những kẻ học ở các trường đó có đần độn đến mức nào chúng cũng cố để được đi làm cảnh sát, làm sen đầm. Bọn cố đạo ở nước tôi chiếm tới một phần nǎm tổng số ruộng đất cả nước. Chỉ có những chủ đồn điền mới so sánh được với họ.

Thực dân Pháp là gì? ồ, đó là những kẻ bất tài và thiển cận. Việc quan tâm đầu tiên của chúng là hình thành nhóm người thân thuộc. Sau đó, là chiếm đoạt và cướp bóc thế nào cho thật nhiều và thật nhanh. Mục đích của toàn bộ chính sách này là có được một ngôi nhà nhỏ, “ngôi nhà nhỏ của mình” ở Pháp.

– Thực dân Pháp đầu độc nhân dân chúng tôi. Chúng bắt mọi người phải uống rượu. Chúng tôi có phong tục lấy gạo ngon làm ra rượu uống, khi có bạn tới chơi hoặc khi có ngày giỗ tổ tiên. Bọn thực dân Pháp đã lấy gạo xấu, rẻ tiền nấu rượu. Không ai thèm mua của chúng. Khốn thay rượu làm ra lại quá nhiều. Sau đó, người ta hạ lệnh cho các viên tỉnh trưởng cứ theo đầu người mà bắt buộc phải đi mua thứ rượu không ai uống.

Tôi đã hình dung ra được một cách rất cụ thể bọn thực dân đang dùng rượu đầu độc như thế nào dân tộc An Nam đáng yêu, một dân tộc rất lịch thiệp và độ lượng, rất ghét những gì thái quá. Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang toả ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị. Vǎn minh châu Âu trên đất nước ấy dùng lưỡi lê và rượu độc và che giấu tất cả những cái đó dưới tà áo dài đen của bọn cố đạo. Từ Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một thứ vǎn hoá, không phải vǎn hoá Âu châu, mà có lẽ là một nền vǎn hoá tương lai.

– Hiện nay, ở Pari, một nhóm các đồng chí từ các nước thuộc địa của Pháp, 5-6 người Nam Kỳ, Xuđǎng, Mađagátxca, Haiti đang xuất bản tờ báo Le Paria để chống lại chính sách thuộc địa của Pháp. Đó là tờ báo nhỏ. Các cộng tác viên phải bỏ tiền túi ra để xuất bản, thay cho việc nhận tiền nhuận bút.

Cây gậy tre với lời hiệu triệu in trên báo đã bí mật đến khắp các làng mạc. Nó được chuyển từ vùng này sang vùng khác, và đã có sự đồng tình với nhau. Nhưng người An Nam đã phải trả giá đắt cho việc đó, đã có những án tử hình và hàng trǎm người đã bị mất đầu.

– Người dân An Nam không có linh mục, không có tôn giáo, theo cách nghĩ của châu Âu. Việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn là một hiện tượng xã hội. Chúng tôi không có những người tư tế nào. Những người già trong gia đình hay các già bản là người thực hiện những nghi lễ tưởng niệm. Chúng tôi không biết uy tín của người thầy cúng, của linh mục là gì.

– Vâng, thật thú vị là chính quyền Pháp đã dạy cho những người nông dân chúng tôi biết những từ “bônsêvích” và “Lênin”. Chúng lùng bắt những người cộng sản trong dân chúng, trong khi chẳng có người cộng sản nào, hoàn toàn không có ngay cả trong ý niệm, và như vậy chính chúng đã tuyên truyền cho chủ nghĩa bônsêvích và Lênin.

Dân An Nam là một dân tộc giản dị và lịch thiệp. Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới.

Trên bàn có một tập bản thảo, một bản báo cáo công tác rõ ràng, mang phong cách truyền tin của phóng viên. Anh đang tưởng tượng đến đề tài: Đại hội Quốc tế Cộng sản nǎm 1947. Anh như đang nhìn thấy, nghe thấy diễn biến của hội nghị, mà ở đó anh sẽ điều khiển chương trình nghị sự.

Lúc chia tay, Nguyễn Ái Quốc như nhớ điều gì.

– Vâng, chúng tôi còn có một cuộc “nổi dậy” nữa do vua An Nam trẻ tuổi Duy Tân phát động, chống lại việc đưa những người nông dân của chúng tôi đến chiến trường của Pháp. Vua Duy Tân đã chạy, bây giờ ông ấy đang sống lưu vong. Hãy kể về ông ấy nữa.

O. MANDENXTAM

Báo Ogoniok (Liên Xô),
số 39, ngày 23-12-1923.
cpv.org.vn

Trả lời phỏng vấn của phóng viên báo L’Unità (15-3-1924)

..

Tôi hỏi anh ở đâu đến.

– Tôi là người An Nam – bị Pháp cai trị, học sinh Trường đại học phương Đông ở Mátxcơva. Tôi tên là Nguyễn ái Quốc.

Anh kể cho nghe về đời học sinh được không?

– Được…

Trong nước, tôi lao động ở nông thôn, tôi rời Tổ quốc tôi cách đây ba nǎm.

Tại sao anh lại sang châu Âu?

– Trước đây tôi có đọc một số tờ báo phát hành sang nước tôi, một vài tờ có tính chống đối ở An Nam, có những người lính lê dương do Poǎngcarê (Poincaré) gửi sang để cải huấn. Những người lính lê dương này đọc đủ thứ. Họ là những kẻ chống đối về bản chất. Họ cho tôi đọc các báo Pháp. Vì thế tôi nảy ra ý muốn sang xem “mẫu quốc” ra sao và tôi đã tới Pari. Khi Trường đại học phương Đông ở Mátxcơva mở, tôi bèn xin học.

Trường có đông học sinh không?

– Tất cả có l.025 người học thuộc 62 xứ thuộc địa trong đó có 150 gái, 895 vào đảng cộng sản. Trong số l.025 người học 547 là nông dân, khoảng 300 là công nhân, còn là trí thức tư sản.

Anh nghĩ thế nào về sáng kiến bônsêvích này?

– Tôi rất phấn khởi đối với sáng kiến này. Tôi đã đọc nhiều tuyên bố ủng hộ và đoàn kết của những người chống đối nhưng không người nào đem lại cho chúng tôi một sự giúp đỡ thiết thực để thoát khỏi chế độ nô lệ mà những “người đi gieo rắc vǎn minh” đang giam hãm chúng tôi. Tôi cho rằng sáng kiến này sẽ đem lại những kết quả rất tốt. Nhiều người đã hiểu tình trạng kém cỏi của chúng tôi nhưng chưa có ai, trừ những người làm cách mạng Nga, chỉ cho chúng tôi con đường đi đến giải phóng. ở Bacu, nǎm 1921, lần đầu tiên trong lịch sử của giai cấp vô sản, đã họp một đại hội của các dân tộc phương Đông và chính Lênin, đồng chí Ilítsơ thân mến của chúng tôi, đã nêu lên những đề án và hướng dẫn chúng tôi đi những bước đầu để làm cho chúng tôi có khả nǎng cùng tiến bước với giai cấp vô sản thế giới.

Tay anh làm sao thế?

Không sao, anh trả lời. Tôi mang vòng hoa của học sinh viếng Lênin, vì thế hai ngón tay tôi bị tê cóng. Lênin thương tiếc!

Các anh có bao nhiêu giáo sư? Chương trình có những môn gì?

Chúng tôi có 150 giáo sư dạy các môn: khoa học xã hội, toán, duy vật lịch sử, lịch sử phong trào công nhân, khoa học tự nhiên, lịch sử cách mạng, kinh tế chính trị học, v.v.. Trường đại học có một phòng chiếu bóng, một thư viện 47.000 cuốn sách. Mỗi dân tộc có một thư viện riêng gồm sách, báo, tạp chí. Nên biết là chúng tôi thuộc 62 dân tộc mà đoàn kết với nhau như anh em ruột thịt. Người học tự viết lấy báo hằng tuần. Chúng tôi có một nhà an dưỡng ở Crimê và hai nhà nghỉ hè, một trong hai nhà đó trước cách mạng là lâu đài của một quận công.

Anh hãy hình dung là ở trên đỉnh ngọn tháp của lâu đài, gần con quạ, biểu tượng của đế chế, phấp phới lá cờ đỏ và ở trong phòng khách, thay vào ngài quận công, là những người nông dân Triều Tiên hoặc ácmêni nô đùa với nhau.

Ai nấu cho các anh ǎn?

– Chúng tôi thay phiên nhau làm bếp. Chúng tôi cũng thay phiên nhau làm việc ở thư viện, ở câu lạc bộ, giặt giũ. Chúng tôi tổ chức thành công xã. Công xã họp một tuần một lần để thảo luận chính trị , và tổ chức các buổi biểu diễn nghệ thuật, giải trí. Những sự sai phạm sẽ do một “toà án”, do công xã bầu ra nếu thấy cần thiết, xét xử.

Khi học xong, anh dự định làm gì?

– Dĩ nhiên là tôi sẽ trở về Tổ quốc tôi để đấu tranh cho sự nghiệp của chúng tôi. ở bên chúng tôi có nhiều việc phải làm lắm. Chúng tôi chẳng có quyền gì cả, trừ quyền đóng thuế cho “mẫu quốc” Pháp, cho bọn chủ bản xứ. Sự việc nổi bật nhất là như thế này: chúng tôi là những người bị đô hộ, như đồng chí biết, chúng tôi là những dân tộc “hạ đẳng”, và vì thế chúng tôi không có quyền ứng cử, bầu cử. ở nước Nga, ở cái nước của những người dã man – giai cấp tư sản dân chủ gọi các đồng chí Nga như thế -, chúng tôi có đầy đủ những quyền như công dân Nga. Thật vậy, những đại biểu của chúng tôi do Xôviết của chúng tôi bầu ra theo đúng kỳ hạn, đã cùng hội họp với các đại biểu công, nông, binh. Đó, anh đã thấy rõ sự đối xử khác nhau của chế độ dân chủ tư sản và chế độ dân chủ công nhân đối với chúng tôi!

Chúng tôi đã đau khổ nhiều và chúng tôi còn phải đau khổ nữa. Những người “khai hoá” các nước chúng tôi không để chúng tôi tự do. Nhưng chúng tôi tiếp tục đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười đã vạch ra, chúng tôi sẽ vận dụng vào thực tiễn những bài học đã học được. Các đồng chí của tôi làm việc phấn khởi, tin tưởng, nghiêm túc. Nhiều người còn rất trẻ đã có một trình độ mácxít ít có thể tưởng tượng là có thể có được vào tuổi đó. Chúng tôi hiểu rõ là chúng tôi có trách nhiệm rất nặng nề, và tương lai của các dân tộc thuộc địa tuỳ thuộc vào sự tuyên truyền và tinh thần hy sinh của chúng tôi.

ở phương Đông, từ Xyri đến Triều Tiên tôi chỉ nói các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, có một diện tích rộng mênh mông với hơn 1.200 triệu dân. Cả vùng rộng lớn này nằm dưới ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc tư bản chủ nghĩa. Các dân tộc ở đó không bao giờ có thể ngẩng đầu lên được nếu không gắn bó với giai cấp vô sản thế giới. Những nghị quyết của phái xã hội dân chủ tỏ cảm tình dù nồng nhiệt đến đâu cũng không có sức nặng.

Việc thành lập Trường đại học bônsơvích đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, và nhà trường đã dạy chúng tôi nguyên lý đấu tranh giai cấp, và nhà trường đã đặt mối liên hệ giữa chúng tôi với các dân tộc phương Tây và trang bị cho chúng tôi – những người nô lệ, khả nǎng hoạt động chặt chẽ.

Khí hậu nước Nga thế nào, có cực lắm không?

– Có… Tôi chưa quen tuy đã ở hai nǎm. Nhưng không sao, tôi sẽ khắc phục được.

Tôi đi thǎm một công xã nông nghiệp. Thôi chào anh.

Báo L’Unità, ngày 15-3-1924.

Đǎng báo Nhân dân,

số 6961, ngày 18-5-1973.

cpv.org.vn